1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Tiểu luận lịch sử việt nam Chiến dịch mùa xuân 1975 và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử

24 64 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 225,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN 1. KHÁI QUÁT CHUNG 1.1. Giới thiệu về chiến dịch Mùa xuân 1975 Chiến dịch mùa xuân năm 1975 với tên gọi chính thức là Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Đây là những cuộc Tổng tấn công quân sự cuối cùng của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trong Chiến tranh Việt Nam. Chiến dịch bắt đầu từ ngày 4 tháng 1 và kết thúc ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ngoài Trận Phước Long được coi là trận đánh trinh sát chiến lược, cuộc Tổng tấn công này gồm ba chiến dịch liên tiếp nhau: Chiến dịch Tây Nguyên (từ 4 tháng 3 đến 24 tháng 3), Chiến dịch giải phóng HuếĐà Nẵng (từ 21 tháng 3 đến 29 tháng 3) và cuối cùng là Chiến dịch Hồ Chí Minh (từ 26 tháng 4 đến 30 tháng 4). Ngoài ra, còn có những chiến dịch nhỏ hơn nhưng diễn ra trên những địa bàn chiến lược như Long Khánh – Xuân Lộc, Trường Sa và các đảo trên Biển Đông, các trận đánh trên các tuyến phòng thủ từ xa của QLVNCH như Tây Ninh – An Lộc – Dầu Tiếng, Phan Rang – Ninh Thuận. Những chiến dịch này được thực hiện sau khi Hoa Kỳ đã rút quân viễn chinh khỏi Việt Nam, chỉ còn duy trì viện trợ và lực lượng cố vấn. Cán cân lực lượng đã nghiêng hẳn sang phía lực lượng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Kết quả thắng lợi quân sự của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trong chiến dịch này đã dẫn đến sự kiện 30 tháng 4 năm 1975 kết thúc Chiến tranh Việt Nam. 1.2. Lực lượng các bên 1.2.1. Quân giải phóng miền Nam Việt Nam  Các đơn vị chủ lực của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam:  Quân đoàn 1 (Binh đoàn Quyết Thắng) tham gia giai đoạn cuối chiến dịch gồm: các sư đoàn bộ binh 312, 390, sư đoàn phòng không 367, lữ đoàn 202 tăng thiết giáp, trung đoàn pháo binh 45, Lữ đoàn công binh 299, trung đoàn thông tin.  Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang) tham gia từ đầu chiến dịch gồm: các sư đoàn bộ binh 304, 325, 324, sư đoàn phòng không 673, lữ đoàn xe tăng 203, lữ đoàn pháo binh 164, trung đoàn đặc công 116, trung đoàn thông tin.  Quân đoàn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên) tham gia từ đầu chiến dịch gồm: các sư đoàn bộ binh 2, 10, 316, 320A, trung đoàn xe tăng 273, các trung đoàn pháo binh 40 và 575, trung đoàn đặc công 198, các trung đoàn phòng không 232, 234 và 593, các trung đoàn công binh 7 và 576, trung đoàn thông tin.  Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long) tham gia từ đầu chiến dịch gồm: các sư đoàn bộ binh 5, 7, 9, các trung đoàn pháo binh 24, trung đoàn đặc công 429, trung đoàn phòng không 71, trung đoàn công binh 25, trung đoàn thông tin, trung đoàn 26 tăng thiết giáp. Quân đoàn này trước khi đánh Xuân Lộc có tổng quân số 35.112 người, trong đó, quân số trực tiếp chiến đấu 29.034 người  Đoàn 232 tham gia giai đoạn cuối chiến dịch gồm: sư đoàn bộ binh Phước Long, 3 trung đoàn chủ lực khu VIII, 2 trung đoàn chủ lực khu IX.  Các trung đoàn không quân vận tải 918 và 919.  Các hải đoàn 124, 125, 126 Hải quân.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

Trang 2

PHẦN 1 Khái quát chung 3

1.1 Giới thiệu về chiến dịch Mùa xuân 1975 3

1.2 Lực lượng các bên 3

1.2.1 Quân giải phóng miền Nam Việt Nam 3

1.2.2 Quân lực Việt Nam Cộng Hòa 6

1.3 Ý đồ, mục tiêu quân sự, chính trị của các bên 6

1.3.1 Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam 6

1.3.2 Phía Việt Nam Cộng hoà 10

PHẦN 2 Diễn biến Chiến dịch Mùa xuân 1975 13

2.1 Chiến dịch Đường 14 - Phước Long 13

2.2 Chiến dịch Tây Nguyên 14

2.3 Chiến dịch Huế-Đà Nẵng 16

2.4 Chiến dịch Hồ Chí Minh 18

PHẦN 3 Kết quả, ý nghĩa và nguyên nhân thắng lợi 21

3.1 Kết quả 21

3.2 Ý nghĩa lịch sử 21

3.2.1 Đối với dân tộc 21

3.2.2 Đối với quốc tế 21

3.3 Nguyên nhân thắng lợi 21

3.3.1 Chủ quan 21

3.3.2 Khách quan 22

Trang 3

Nguồn tài liệu

1 vi.wikipedia.org

2 doisongphapluat.com

3 baotintuc.vn

Trang 4

PHẦN 1.

Trang 5

PHẦN 2 KHÁI QUÁT CHUNG

2.1 Giới thiệu về chiến dịch Mùa xuân 1975

Chiến dịch mùa xuân năm 1975 với tên gọi chính thức là Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam Đây là những cuộc Tổng

tấn công quân sự cuối cùng của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trong Chiếntranh Việt Nam Chiến dịch bắt đầu từ ngày 4 tháng 1 và kết thúc ngày 30 tháng 4 năm

1975 Ngoài Trận Phước Long được coi là trận đánh trinh sát chiến lược, cuộc Tổngtấn công này gồm ba chiến dịch liên tiếp nhau: Chiến dịch Tây Nguyên (từ 4 tháng 3đến 24 tháng 3), Chiến dịch giải phóng Huế-Đà Nẵng (từ 21 tháng 3 đến 29 tháng 3)

và cuối cùng là Chiến dịch Hồ Chí Minh (từ 26 tháng 4 đến 30 tháng 4) Ngoài ra, còn

có những chiến dịch nhỏ hơn nhưng diễn ra trên những địa bàn chiến lược như LongKhánh – Xuân Lộc, Trường Sa và các đảo trên Biển Đông, các trận đánh trên cáctuyến phòng thủ từ xa của QLVNCH như Tây Ninh – An Lộc – Dầu Tiếng, Phan Rang– Ninh Thuận Những chiến dịch này được thực hiện sau khi Hoa Kỳ đã rút quân viễnchinh khỏi Việt Nam, chỉ còn duy trì viện trợ và lực lượng cố vấn Cán cân lực lượng

đã nghiêng hẳn sang phía lực lượng Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam

Kết quả thắng lợi quân sự của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trong chiếndịch này đã dẫn đến sự kiện 30 tháng 4 năm 1975 kết thúc Chiến tranh Việt Nam

2.2 Lực lượng các bên

2.2.1 Quân giải phóng miền Nam Việt Nam

Các đơn vị chủ lực của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam:

 Quân đoàn 1 (Binh đoàn Quyết Thắng) tham gia giai đoạn cuối chiến dịchgồm: các sư đoàn bộ binh 312, 390, sư đoàn phòng không 367, lữ đoàn 202tăng thiết giáp, trung đoàn pháo binh 45, Lữ đoàn công binh 299, trung đoànthông tin

 Quân đoàn 2 (Binh đoàn Hương Giang) tham gia từ đầu chiến dịch gồm: các

sư đoàn bộ binh 304, 325, 324, sư đoàn phòng không 673, lữ đoàn xe tăng

203, lữ đoàn pháo binh 164, trung đoàn đặc công 116, trung đoàn thông tin

 Quân đoàn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên) tham gia từ đầu chiến dịch gồm: các sưđoàn bộ binh 2, 10, 316, 320A, trung đoàn xe tăng 273, các trung đoàn pháobinh 40 và 575, trung đoàn đặc công 198, các trung đoàn phòng không 232,

234 và 593, các trung đoàn công binh 7 và 576, trung đoàn thông tin

 Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long) tham gia từ đầu chiến dịch gồm: các sưđoàn bộ binh 5, 7, 9, các trung đoàn pháo binh 24, trung đoàn đặc công 429,trung đoàn phòng không 71, trung đoàn công binh 25, trung đoàn thông tin,

Trang 6

trung đoàn 26 tăng thiết giáp Quân đoàn này trước khi đánh Xuân Lộc có tổngquân số 35.112 người, trong đó, quân số trực tiếp chiến đấu 29.034 người

 Đoàn 232 tham gia giai đoạn cuối chiến dịch gồm: sư đoàn bộ binh PhướcLong, 3 trung đoàn chủ lực khu VIII, 2 trung đoàn chủ lực khu IX

 Các trung đoàn không quân vận tải 918 và 919

 Các hải đoàn 124, 125, 126 Hải quân

Vũ khí và trang thiết bị quân sự

 Lực lượng tăng thiết giáp của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam là 320 xetăng, 250 xe bọc thép gồm các loại xe tăng T-34, T-54/55, pháo tự hành SU-

100 của Liên Xô; xe tăng lội nước PT-76 của Ba Lan, các loại xe thiết giápBTR-40/50/60/152 của Liên Xô, xe tăng chủ lực kiểu 59, xe thiết giáp K-63của Trung Quốc Ngoài ra còn có 679 xe ô tô các loại

 Pháo binh yểm hộ mặt đất là 88 pháo lớn, 1561 súng chống tăng gồm các loạipháo nòng dài 130 mm, 122 mm và 85 mm; lựu pháo 155 mm, 105 mm; súngcối các cỡ nòng 120 mm, 81 mm; các dàn pháo phản lực H-12, BM-21 và BM-13

 Lực lượng phòng không được trang bị tên lửa SAM-2; 343 súng phòng khônggồm súng cao xạ các cỡ 100 mm, 57 mm, và 37 mm; súng máy phòng khôngcác cỡ 14,5 mm và 12,7 mm

 Không quân (tham gia giai đoạn cuối) được trang bị 6 máy bay A-37 chiếmđược của Quân lực Việt Nam Cộng hoà tại các sân bay Đà Nẵng và ThànhSơn

 Hải quân có các tàu phóng lôi, tàu tuần duyên, tàu vận tải và xuồng chiến đấu

Sự ủng hộ của người dân

Trước ngày Tổng tấn công và nổi dậy, phong trào đấu tranh chính trị của côngnhân, học sinh, sinh viên, các tổ chức hòa bình đòi chấm dứt chiến tranh, đòi Thiệu từchức… nổ ra ở tất cả các thành phố lớn, diễn ra dưới nhiều hình thức, kết hợp bí mậtvới công khai và bán công khai, hợp pháp và bán hợp pháp… đã tập hợp ngày càngnhiều quần chúng ủng hộ quân Giải phóng, đẩy chính quyền Sài Gòn vào thế lúngtúng, hoang mang, bị động Các hạt nhân chính trị ở vùng ven và nội đô các thành phốđược tích cực xây dựng, với hàng chục vạn quần chúng có tổ chức sẵn sàng nổi dậy

Từ vùng rừng núi đến nông thôn đồng bằng và đô thị; trong nông dân, công nhân, tín

đồ các tôn giáo, lực lượng trí thức, sinh viên, học sinh… đều thành lập cơ quan chỉ huykháng chiến và nổi dậy, tổ chức học tập chính trị, phân công nhiệm vụ theo phương ánkết hợp tổng tiến công và nổi dậy, như: biểu tình đấu tranh, trinh sát, dẫn đường, tiếp

tế lương thực, thực phẩm, may cờ Cộng hòa miền Nam Việt Nam, làm công tác binh

Trang 7

vận và xuống đường phối hợp với các mũi tiến công quân sự giải phóng địa bàn Cùngvới đẩy mạnh hoạt động của lực lượng vũ trang địa phương nhằm diệt những binh línhViệt Nam Cộng hòa còn cố chống cự, phá vòng vây, khống chế và phá rã phòng vệdân sự, công tác binh vận cũng được tăng cường, nhằm tranh thủ lôi kéo binh lính,nhân viên chính quyền Sài Gòn, các phe phái trong nội bộ chính quyền Việt NamCộng hòa, mở rộng mặt trận đoàn kết, cô lập những kẻ còn ngoan cố, góp phần đánhsập ý chí chiến đấu, sức phản kháng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, tạo thêm thế

và lực cho Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và người dân vùng khác tiến hànhtổng công kích, hạn chế bớt đổ máu

Trên chiến trường miền Nam, khắp các tỉnh, thành phố, nhân dân miền Nam đãbao bọc cho Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam; tổ chức đào hầm bí mật để bảo vệcán bộ, cất giấu vũ khí, cùng binh sĩ Quân Giải phóng vận động lính Việt Nam Cộnghòa không đi càn Đặc biệt, để huy động lực lượng đến mức cao nhất, hàng vạn cán bộđược điều động để tăng cường cho thành phố Sài Gòn - Gia Định Riêng ở Quân khu

9, trong nửa đầu tháng 4-1975 đã có hơn 9.000 thanh niên gia nhập quân Giải phóng,đưa tổng số tiểu đoàn quân chủ lực của quân khu từ 14 lên 23 tiểu đoàn Quân khu 8tuyển hơn 5.000 thanh niên, thành lập thêm 7 tiểu đoàn chủ lực Nhiều tỉnh phát triển

từ 3 lên 6 tiểu đoàn Lực lượng khởi nghĩa được tổ chức thành đại đội, tiểu đoàn với sốlượng hơn 10.000 nam, nữ thanh niên… Chính sự đồng lòng, ủng hộ của nhân dân làđộng lực mạnh mẽ để quân Giải phóng quyết tâm mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậymùa Xuân 1975

Nhân dân địa phương đã vác những bó cây và dỡ nhà mình ra lót đường cho xetăng và pháo của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam vượt qua Nhân dân đã dẫnđường cho các mũi đột kích của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đánh chiếmnhiều mục tiêu khác nhau trên chiến trường miền Nam Trong ngày 30 tháng 4 năm

1975, những nơi chưa có bộ đội tiếp quản thì nhân dân, chủ yếu là công nhân, sinhviên, học sinh tiếp quản Chiến thắng trong Tổng tấn công và nổi dậy có phần đónggóp to lớn của nhân dân hai miền Nam-Bắc

Trang 8

2.2.2 Quân lực Việt Nam Cộng Hòa

22, Sư đoàn 23, Sư đoàn 25, Sư đoàn Dù, Sư đoàn Thủy quân lục chiến

 Liên đoàn 81 biệt kích dù

 18 liên đoàn biệt động quân

 65 tiểu đoàn pháo binh

 20 thiết đoàn, 3 lữ đoàn và 57 chi đội xe tăng thiết giáp

 6 sư đoàn không quân

 5 hải đoàn và 4 giang đoàn

 Lục quân Quân lực Việt Nam Cộng hoà có 2044 xe tăng, xe thiết giáp, trong

đó có gồm 383 xe tăng (M-48: 162 chiếc, M-41:221 chiếc); xe thiết giáp cácloại M-113, V-100 có 1.661 chiếc

 Pháo binh có 1.556 khẩu các cỡ 175mm, 155 mm, 105 mm

 Không quân có 1.683 máy bay các loại gồm: 699 trực thăng UH-1; 61 trựcthăng CH-47) 61 cường kích cánh quạt A-1; 202 cường kích phản lực A-37;

129 tiêm kích phản lực F-5; 30 máy bay vận tải C-130; 52 vận tải C-47; 62máy bay trinh sát các loại RC-47, RC-119 và RF-5; 167 máy bay quan sát-liênlạc O-1, 31 máy bay quan sát-liên lạc O-2, 89 máy bay liên lạc U-1 và U17; 46máy bay huấn luyện T-37 và T-41

 Phòng không Quân lực Việt Nam Cộng hoà có 167 khẩu cao xạ cỡ nòng 40mm

 Hải quân có 579 tàu chiến, tàu chở quân, tàu vận tải, tàu vớt mìn, tàu phónglôi trên biển; 1016 tàu xuồng chiến đấu, vận tải, vớt mìn trên sông

2.3 Ý đồ, mục tiêu quân sự, chính trị của các bên

2.3.1 Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam

Việt Nam

Tháng 4 năm 1974, Hội nghị lần thứ 21 của Ban Chấp hành Trung ương ĐảngLao động Việt Nam đã có Nghị quyết 21 yêu cầu các cơ quan chiến lược giúp TổngQuân uỷ chuẩn bị chủ trương và những giải pháp lớn về quân sự, trong đó, tập trungxây dựng Kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam Cuối tháng 8 năm 1974, Trung

Trang 9

ương Cục miền Nam và Quân uỷ miền cũng gửi ra Hà Nội bản Kế hoạch tác chiếnmùa khô 1974-1975 với dự kiến giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975-1976 Nộidung kế hoạch này cũng được bổ sung vào dự thảo kế hoạch của Quân uỷ Trung ương.Bản kế hoạch sau nhiều lần bổ sung, sửa đổi đã được Trung tướng Lê Trọng Tấn, PhóTổng Tham mưu trưởng, trình bày tại Hội nghị ngày 30 tháng 9 năm 1974 giữa BộChính trị và Quân uỷ Trung ương họp tại Hà Nội.

Bản dự thảo kế hoạch chiến lược vạch ra các bước, các đợt hoạt động quân sự,các hướng chiến lược và nhiệm vụ cụ thể của từng chiến trường; dự định hoàn thànhtrong 2 năm 1975-1976

Bước 1 (1975): Kế hoạch dự kiến phát động một cách bất ngờ các hoạt độngquân sự trên phạm vi toàn bộ chiến trường miền Nam với ba đợt:

+ Đợt 1 (từ tháng 12 năm 1974 đến tháng 2 năm 1975): Hoạt động quân sự cómức độ với mục tiêu thăm dò phản ứng của đối phương tại Đông Nam bộ và Đồngbằng sông Cửu Long

+ Đợt 2 (từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1975): Mở chiến dịch tấn công quy mô lớn

ở Nam Tây Nguyên và các chiến dịch phối hợp ở Đông Nam bộ, Bắc Khu V, TrịThiên, Đồng bằng sông Cửu Long

+ Đợt 3 (từ tháng 8 đến tháng 10 năm 1975): Phát triển tấn công ở Nam Bộ, mởrộng vùng giải phóng ở Trị Thiên, Khu V, tiếp tục chuẩn bị lực lượng, vũ khí, phươngtiện

Bước 2 (1976): Tiến hành tổng tiến công kết hợp với tổng khởi nghĩa, giải phónghoàn toàn miền Nam Việt Nam dựa vào thời cơ có thể xuất hiện trong những giai đoạnsau:

+ Phương án 1: Sau đợt 2 (đợt tấn công chủ yếu của năm 1975)

+ Phương án 2: Đầu đợt 3 (phát triển tấn công ở Nam Bộ trong mùa mưa)

+ Phương án 3: cuối năm 1975 (khi chính quyền Việt Nam Cộng hoà tổ chức bầu

cử Tổng thống)

Phương châm hành động là tiến công với cường độ tăng dần từ nhỏ đến lớn; hạnchế chiến tranh trong phạm vi chiến trường miền Nam Việt Nam; thăm dò và theo dõiphản ứng và tái can thiệp của Hoa Kỳ; sẵn sàng đối phó với các hành động phản ứngquyết liệt của Hoa Kỳ bằng không quân và hải quân, kể cả bằng lực lượng phản ứngnhanh trên bộ; khai thác khả năng nổi dậy của dân chúng tại các vùng, đặc biệt là SàiGòn - Gia Định

Trang 10

Các ý kiến bổ sung của Lê Duẩn, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp vào bản kếhoạch cũng chỉ rõ: "Mặc dù các năm 1975 và 1976 đều quan trọng nhưng năm 1975 lànăm bản lề tạo điều kiện quyết định để năm 1976 đạt mục tiêu cuối cùng Nếu thời cơđến vào năm 1975 thì lập tức tiến hành tổng tấn công, giải phóng hoàn toàn miền Namtrong năm 1975".

Mọi thành viên bộ chính trị của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Trung ương Cụcmiền Nam Việt Nam đều nhất trí rằng Mỹ đã rút thì khó quay lại, nếu đánh bằngkhông quân cũng không thể cứu nổi VNCH Họ đã giành được quyền chủ động chiếntrường, tạo thế chiến lược vững chắc Lực lượng quân sự, dự trữ vật chất được tăngcường, hệ thống đường chiến lược, chiến dịch đang hoàn chỉnh Ở các đô thị, phongtrào đấu tranh đòi lật đổ Thiệu đang phát triển Vai trò của Mặt trận giải phóng đượcnâng cao VNCH đã suy yếu nghiêm trọng toàn diện và họ khẳng định "Ở miền nam,

ta (quân Giải phóng Miền Nam) đã mạnh hơn địch (Việt Nam Cộng Hòa)

Tất nhiên mọi chuyện cũng không hoàn toàn thuận lợi cho Việt Nam Dân chủCộng hoà và Chính phủ Cách mạng Lam thời miền Nam Việt Nam Mặc dù Quân Giảiphóng miền Nam Việt Nam biết họ đã giành được thế chủ động chiến lược ở miềnNam Việt Nam, kế hoạch ban đầu của Bộ Tổng Tham mưu vẫn khá thận trọng, bởi họvẫn đang phải đương đầu với một số vấn đề nghiêm trọng So với đối phương, họ vẫnkém xa về trang bị hạng nặng, đặc biệt về xe tăng thiết giáp và đại bác - điều kiện cần

để tấn công vào các căn cứ ở cấp sư đoàn và trung đoàn vốn được trang bị rất đầy đủcủa quân VNCH

Viện trợ quân sự của Liên Xô và Trung Quốc, đặc biệt ở danh mục "vũ khí tấncông" (xe tăng và đại bác), đã giảm đáng kể từ sau Hiệp định Paris 1973 Trong 2 năm1973-1974, VNDCCH chỉ nhận được 330 triệu USD viện trợ, chỉ bằng 19% giai đoạn1971-1972 Trong khi đó, dù bị cắt giảm so với trước nhưng Việt Nam Cộng hòa vẫnnhận được 2,65 tỷ USD viện trợ từ Hoa Kỳ, tức là nhiều gấp 8 lần so với đối phương.Đầu năm 1975 khi biết VNDCCH chuẩn bị đánh lớn ở miền nam, Trung Quốc đãdừng viện trợ quân sự

Do thiếu về trang bị, nhiều đơn vị pháo binh của Quân Giải phóng miền NamViệt Nam, nhất là ở miền Nam, vẫn chỉ được trang bị súng cối hạng nhẹ, súng khônggiật (DKZ), hoặc súng chống tăng vác vai (B-40) Ở địa bàn hoạt động của Văn phòngTrung ương cục Miền Nam, tức là nửa phía nam của đất nước, bảy sư đoàn bộ binh (số

3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9) và khung quân đoàn 4 chỉ được yểm trợ bởi năm tiểu đoàn pháo(hai trong số đó trang bị pháo lấy được của Mỹ nhưng còn rất ít đạn) và ba tiểu đoàntăng thiết giáp thiếu tổ lái Cho đến năm 1974, toàn bộ kho đạn pháo và đạn tăng của

Trang 11

Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, bao gồm tất cả đạn dược của cả các đơn vịchiến đấu ở chiến trường lẫn của các kho dự trữ chiến lược, tổng cộng chỉ được100.000 viên, không đủ để đánh lớn quá 2 tháng Tình hình đạn dược nghiêm trọng tớimức các chỉ huy pháo binh phải thay pháo lớn ở một số đơn vị bằng các khẩu sơn pháolỗi thời 76,2mm và 57mm, lấy từ kho ra Trong khi đó, quân đội VNCH dù bị giảmviện trợ song vẫn có dự trữ vật tư chiến tranh dồi dào, lên tới 1.930.000 tấn với hàngtriệu viên đạn pháo.

Vì những vấn đề này, Bộ Tổng Tham mưu Quân Giải phóng miền Nam ViệtNam ban hành sắc lệnh rằng tất cả các vũ khí hạng nặng và đạn dược còn lại phải được

sử dụng thật tiết kiệm, để dành cho một đòn quyết định, chỉ tiến hành khi trận cuốicùng diễn ra Kế hoạch 1975-76 chỉ cho phép dùng hơn 10% kho đạn tăng-pháo cònlại của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam trong cả chiến dịch 1975 (tức khoảng10.000 viên) 45% được phân phối cho chiến dịch 1976, phần còn lại để dự trữ

Tuy nhiên, trong Chiến dịch Đường 14 - Phước Long, Quân Giải phóng miềnNam Việt Nam đã hoàn tất việc chiếm tỉnh Phước Long và thu được 17.000 viên đạnpháo Chiến lợi phẩm ngoài dự tính này làm các nhà chỉ huy Quân Giải phóng miềnNam Việt Nam rất vui mừng: 17.000 viên đạn pháo còn nhiều hơn tổng số đạn mà BộTổng Tham mưu có kế hoạch sử dụng trong suốt năm 1975 Quân Giải phóng miềnNam Việt Nam có thể kỳ vọng sẽ chiếm được thậm chí còn nhiều đạn dược hơn ở cáccăn cứ lớn hơn Do vậy, kế hoạch tấn công năm 1975 đã được điều chỉnh theo hướngtăng thêm cường độ và tốc độ tiến công, sẵn sàng đánh dứt điểm ngay trong năm 1975(kế hoạch ban đầu dự tính sẽ giành thắng lợi trong 2 năm 1975-1976) Trong quá trìnhdiễn ra chiến dịch, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam rất tích cực sử dụng chiếnlợi phẩm để khắc phục tình trạng thiếu đạn pháo Nhiều trung đoàn pháo của QuânGiải phóng miền Nam Việt Nam và đã sử dụng tới 75% đạn pháo chiến lợi phẩm đểchiến đấu như Trung đoàn Pháo binh 68 của Sư đoàn 3, Lữ đoàn 164 Quân đoàn 2…Trong chiến dịch Huế - Đà Nẵng, lực lượng pháo binh quân khu 5 đã sử dụng 79% sốđạn, pháo xe kéo chiến lợi phẩm Ngay trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Quân Giảiphóng miền Nam Việt Nam đã sử dụng 67 khẩu pháo 105mm, 155mm cùng 14.515viên đạn chiến lợi phẩm để đánh địch

Sau này, giới sử học phương Tây chủ yếu tìm hiểu xem tình trạng thiếu đạn dượctrong quân đội VNCH tác động như thế nào đến sự sụp đổ của nó, mà họ không biếtrằng chính Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam còn chịu thiếu hụt nghiêm trọng hơnnhiều Sự sụp đổ nhanh chóng của quân VNCH, thực tế không nằm ở hỏa lực, mà theođánh giá của Merle L Pribbenow thì "Đòn tiêu diệt mạnh nhất chính là tâm lý choáng

Trang 12

váng mà chiến lược tài ba và đầy bất ngờ của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam

đã nện vào tổng tư lệnh Việt Nam Cộng hòa."

2.3.2 Phía Việt Nam Cộng hoà

Trong giai đoạn 1973-1974, Mỹ dù rút quân nhưng vẫn tiếp tục viện trợ chochính quyền Sài Gòn Mỹ để lại 250.000 tấn vũ khí, bom đạn và 102 máy bay Từngày 29 tháng 1 năm 1973 đến ngày 30 tháng 12 năm 1974, Mỹ còn cung cấp thêm

694 máy bay, 580 xe tăng, 520 xe bọc thép, 800 pháo, 204 tàu xuồng chiến, 1.550.000tấn bom đạn và 2.530.000 tấn xăng dầu Nhờ lượng vũ khí dồi dào, Việt Nam Cộnghòa cố gắng tăng cường kiểm soát lãnh thổ Ngày 28 tháng 1 năm 1973, Nguyễn VănThiệu đưa ra kế hoạch "Tràn ngập lãnh thổ", sau đó là "Kiện toàn an ninh lãnh thổ",đẩy mạnh "Bình định đặc biệt" Quân đội Việt Nam Cộng hòa huy động toàn bộ quânđịa phương và 40% quân chủ lực tiến hành càn quét lấn chiếm Theo thống kê củaquân Giải phóng, trong thời gian từ ngày 28 tháng 1 năm 1973 đến 31-11-1974, ViệtNam Cộng hòa mở 58.082 cuộc càn quét, ném hơn 17 vạn quả bom, bắn hơn 6 triệuquả đạn pháo, giết và làm bị thương hơn 26.500 dân thường, buộc 1,6 triệu người didời vào trong 333 khu tập trung dân, trong đó có 163 khu mới lập sau ngày ký Hiệpđịnh Paris

Đầu tháng 8 năm 1974, tại Sài Gòn đã diễn ra phiên họp quan trọng của Hộiđồng An ninh quốc gia Việt Nam Cộng hoà dưới sự chủ trì của Tổng thống NguyễnVăn Thiệu Trung tướng Đặng Văn Quang, phụ tá đặc biệt của Tổng thống, đã trìnhbày bản Kế hoạch quân sự Lý Thường Kiệt 1975 do Bộ Tổng tham mưu Quân lực ViệtNam Cộng hoà soạn thảo Mục tiêu chiến lược của bản kế hoạch này không đề cập đếncác hoạt động tấn công rộng rãi để "tràn ngập lãnh thổ" như các kế hoạch Lý ThườngKiệt 1973 và 1974 mà tập trung vào nhiệm vụ giữ vững những vùng chiếm đóng, tiếptục xoá các điểm "da báo", xoá các "lõm" của quân giải phóng miền Nam

Một trong các nhiệm vụ lớn được bàn thảo là việc ngăn chặn tiếp tế của QuânGiải phóng miền Nam Việt Nam từ miền Bắc vào miền Nam Ý kiến của Phó đô đốcChung Tấn Cang, tư lệnh Hải quân, cho rằng tiếp liệu qua đường biển của đối phươnggần như đã bị Hải quân Việt Nam Cộng hoà cắt đứt hoặc ít nhất cũng bị gián đoạntrong thời gian dài; do đó, khả năng đối phương đánh lớn trong năm 1975 là hạn chế.Trung tướng Trần Văn Minh, tư lệnh Không quân, đưa ra những kết quả trinh sátđường không và cho biết đã có hàng chục vạn tấn tiếp liệu được đối phương đưa vàomiền Nam qua hàng vạn km đường hành lang Đông và Tây Trường Sơn Hệ thống ốngdẫn dầu đã vào đến Bến Giàng (Quảng Nam) và đang tiếp tục được nối qua Hạ Lào vàCao nguyên trung phần và đến địa đầu Quân khu III Như vậy, nếu không đánh lớntrong năm 1975, họ sẽ đánh lớn vào năm sau

Ngày đăng: 13/07/2021, 20:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w