1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của các laoif thức ăn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cua biển ( scylla serrata) nuôi lồng trong ao nước lợ luận văn thạc sỹ nông lâm ngư

78 617 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh Hưởng Của Các Loại Thức Ăn Đến Tăng Trưởng Và Tỷ Lệ Sống Của Cua Biển (Scylla Serrata) Nuôi Lồng Trong Ao Nước Lợ
Tác giả Nguyễn Quý Hiếu
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Quang Huy
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Nuôi Trồng Thủy Sản
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 13,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hình thức nuôi này có thể khắc phục được các nhượcước điểm của các phương thức nuôi cua truyền thống, như có thể nuôi cua kết hợp với các đối tượngường thủy sản khác như tôm, cá; dễ dàng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN QUÝ HIẾU

Trang 2

VINH - 2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn đến Ban giám hiệu Trường Đại học Vinh, Ban lãnh đạo Khoa Nông Lâm Ngư, các thầy, cô giáo

đã ủng hộ, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành khoa học này

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất tới TS Nguyễn Quang Huy,

người thầy đã tận tình định hướng, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suất quá trình thực hiện luận văn

Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám đốc cùng các cán bộ, nhân viên Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ Nghệ An, lãnh đạo, cán bộ và nhân viên UBND huyện Diễn Châu, Công ty TNHH Thủy sản Anh Dương đã tạo mọi điều kiện về thời gian và kinh phí để tôi hoàn thành luận văn này

Lời cảm ơn chân thành xin gửi tời gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, những người đã giúp đỡ và động viên tôi trong học tập cũng như trong cuộc sống

Vinh, tháng 12 năm 2011

Tác giả

Nguyễn Quý Hiếu

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

VINH - 2011 ii

L I C M N Ờ Ả Ơ i

M C L CỤ Ụ ii

DANH M C CÁC T VI T T TỤ Ừ Ế Ắ iv

DANH M C CÁC B NGỤ Ả iv

DANH M C CÁC T VI T T TỤ Ừ Ế Ắ vi

M Ở ĐẦ 1U Chương 1 T NG QUAN TÀI LI UỔ Ệ 3

1.1 Phân lo i v phân bạ à ố 3

1.1.1 Phân lo i.ạ 3

1.1.2 Phân b ố 4

1.2 Đặ đ ểc i m sinh h c c a cua Bi n S serrataọ ủ ể 4

1.2.1 Vòng đờ 4i 1.2.2 Đặ đ ểc i m dinh dưỡ 5ng 1.2.3 Đặ đ ểc i m sinh trưở 6ng 1.2.4 Đặ đ ểc i m v m u s c mai cua khi l t xác.à à ắ ộ 7

1.2.5 Đặ đ ểc i m sinh s nả 8

1.3 Tình hình nghiên c u cua bi n trên th gi i v Vi t Nam.ứ ể ế ớ à ệ 9

1.3.1 Trên th gi i.ế ớ 9

1.3.2 Vi t Nam.Ở ệ 10

1.3 M t s hình th c nuôi cua hi n nayộ ố ứ ệ 12

1.3.1 Nuôi trong đă 12ng 1.3.2 Nuôi cua trong ao đấ 13t 1.3.3 Nuôi cua trong l ngồ 13

1.4 Tình hình nghiên c u dinh dứ ưỡng cua bi n trong v ngo i nể à à ướ 13c 1.4.1 Trên th gi ii.ế ớ 13

1.4.2 Vi t NamỞ ệ 15

Chương 2 V T LI U VÀ PHẬ Ệ ƯƠNG PHÁP NGHIÊN C UỨ 17

2.1 Đố ượi t ng nghiên c uứ 17

2 2 Th i gian v a i m nghiên c uờ à đị đ ể ứ 17

2.3 Th c n thí nghi mứ ă ệ 18

2.4 B trí thí nghi m.ố ệ 19

2.5 Ch m sóc qu n lý.ă ả 20

2.6 Phương pháp xác nh các thông sđị ố 21

2.6.1 Xác nh các thông s sinh h cđị ố ọ 21

.21

2.6.2 Xác nh các y u t môi trđị ế ố ường nước trong ao thí nghi mệ 23

Trang 5

Hinh 2.5 Ki m tra các ch tiêu môi trể ỉ ường (v o ph l c)à ụ ụ 24

2.6.3 Phương pháp phân tích dinh dưỡ 24ng 2.7 Phương pháp phân tích x lý s li uử ố ệ 25

Chương 3 K T QU NGHIÊN C U Ế Ả Ứ 26

3.1 Di n bi n các y u t môi trễ ế ế ố ường nước trong th i gian thí nghi mờ ệ 26

3.2 nh h ng c a các lo i th c n Ả ưở ủ ạ ứ ă đế ăn t ng tr ng c a cuaưở ủ 28

3.2.1 T ng tră ưởng v chi u d iề ề à 28

3.2.2 T ng tră ưởng v chi u r ngề ề ộ 30

3.2.3 T ng tră ưởng v kh i lề ố ượ 32ng 3.3 nh h ng c a các lo i th c n lên t l s ng c a cua nuôi Ả ưở ủ ạ ứ ă ỷ ệ ố ủ 39

3.4 nh h ng c a các lo i th c n lên h s th c n Ả ưở ủ ạ ứ ă ệ ố ứ ă 41

K T LU N VÀ Ế Ậ ĐỀ XU T Ý KI NẤ Ế 43

TÀI LI U THAM KH OỆ Ả 45

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

14 NCNTTS Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản

DANH MỤC CÁC BẢNG

Hình 1.1 Cua S serrata 4

Hình 1.2 Vòng đời cua bi nể 5

B ng 2.1 Mô t các lo i th c n thí nghi m nuôi cua l ngả ả ạ ứ ă ệ ồ 18

B ng 2.2 Th nh ph n v t l (%) nguyên li u trong th c n t cch ả à ầ à ỷ ệ ệ ứ ă ự ế bi nbi n ế ế 18

B ng 2.3 K t qu phân tích dinh dả ế ả ưỡ ương ng th c n thí nghi mứ ă ệ 19

Hình 2.1 B trí thí nghi mố ệ 20

B ng 2.43 T n s o các y u t môi trả ầ ố đ ế ố ường trong ao nuôi 24

B ng 3.1 K t qu theo dõi m t s y u t môi trả ế ả ộ ố ế ố ường nước trong ao nuôi 26

B ng 3.2 T ng trả ă ưởng chi u d i mai cua ề à 29

Hình 3.1 T ng tră ưởng chi u d i mai cuaề à 30

B ng 3.3 T ng trả ă ưởng chi u r ng mai cua ề ộ 31

Trang 7

Hình 3.2 T c ố độ ă t ng trưởng chi u r ng mai cuaề ộ 32

B ng 3.4 T ng trả ă ưởng kh i lố ượng cua (gam/con) cua 32Hình 3.3 T ng tră ưởng kh i lố ượng cua theo th i gianờ 33

B ng 3.5 T c ả ố độ ă t ng trưởng bình quân ng ytuy t à ệ đố ềi v kh i lố ượng (AGRw) 34Hình 3.4 T c ố độ ă t ng trưởng bình quân ng ytuy t à ệ đố ềi v kh i lố ượ 36ng

B ng 3.6 T c ả ố độ ă t ng trưởng tương đối ng y v kh i là ề ố ượng- (SGRw) 37Hình 3.5 T c ố độ ă t ng trưởng tương đối ng y v kh i là ề ố ượ 38ng

B ng 3.7 T l s ng c a cuaả ỷ ệ ố ủ 40Hình 3.76 T l s ng c a cua khi cho n các lo i th c n khác nhauỷ ệ ố ủ ă ạ ứ ă 41

B ng 3.78 K t qu theo dõi h s th c n nuôi cuaả ế ả ệ ố ứ ă 42

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

14 NCNTTS Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản

Trang 9

MỞ ĐẦU

Cùng với các ngành kinh tế khác, nuôi trồng thuỷ sản nước ta trong mấy năm gần đây phát triển mạnh mẽ và đem lại hiệu quả kinh tế cao, trong đó nuôi trồng hải sản là thế mạnh

Cua biển (Scylla serrata) là loài hải sản có giá trị dinh dưỡng cao Nhiều

nước và lãnh thổ trên thế giới như: Nhật, Pháp, Hồngông Kông đã nhập khẩu số lượng lớn cua sống, cua ướp đông, cua chế biến để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng Theo FAO (1998), sản lượng cua khai thác trên thế giới khoảng 1.146.000 tấn, trong đó Trung Quốc đạt 528.000 tấn chiếm 46,5% sản lượng toàn thế giới, Mỹ 203.000 tấn, Nga 42.000 tấn, ở Ấn Độ trong những năm 1981- 1989 sản lượng tăng vượt bậc và đạt trung bình 22.104 tấn/năm Tổng sản lượng cua ở Indonesia tăng từ 2.074 tấn năm 1981 đến 4.157 tấn vào năm 1988, trong số này, sản lượng cua nuôi tăng gấp 3 lần, trong khi sản lượng cua khai thác chỉ tăng gấp 1,7 lần

Ở Việt Nam trong những năm gần đây phong trào nuôi cua xuất khẩu ngày càng phát triển, nhất là các tỉnh ven biển đồng bằng Sông Cửu Long Tiến bộ khoa học trong việc sinh sản nhân tạo cua giống đã góp phần thúc đẩy nghề nuôi cua thương phẩm phát triển Sản lượng cua nuôi năm 2000 là 5,084 tấn, năm 2005 đã tăng lên 22.082 tấn (Bộ Thuỷ sản năm 2006), năm 2006 sản lượng cua nuôi cả nước là 25.686 tấn (Bộ Thuỷ sản năm 2007)

Tuy nhiên nNghề nuôi cua biển ở nước ta đang đối mặt với nhiều thách thức để phát triển bền vững về cả thức ăn nuôi và hình thức nuôi cua Hiện nay nguồn thức ăn truyền thống để nuôi cua vẫn là cá tạp Tuy nhiên, nguồn thức ăn này có nhiều điểm hạn chế như dễ gây ô nhiễm môi trường nuôi và lan truyền dịch bệnh Mặt khác nguồn cung cấp cá tạp cho nuôi hải sản nói chung không ổn định về chất lượng, và số lượng và ngày càng trở nên đắt đdỏ

Trang 10

doo phải cạnh tranh với nhiều mục đích sử dụng khác Thêm vào đó, thức ăn công nghiệp chuyên cho nuôi cua hiện nay chưa có trên thị trường.

Hiện nay, ngoài hình thức nuôi cua chủ yếu là nuôi trong ao đất nước lợ, hình thức nuôi cua lồng trong ao đã được thử nghiệmiêm ở một số tỉnh như Hải Phòng, Quảng Ninh, huyện Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh… Hình thức nuôi này có thể khắc phục được các nhượcước điểm của các phương thức nuôi cua truyền thống, như có thể nuôi cua kết hợp với các đối

tượngường thủy sản khác như tôm, cá; dễ dàng chăm sóc, quản lý nên đảm bảo được tỷ lệ sống cao; chủ động kiểm soát được bệnh dịch trong quá trình nuôi; hạn chế sự ăn thịt lẫn nhau và hoàn toàn chủ động trong vấn đề thu hoạch sản phẩm Ngoài ra, có thể tạo ra một hình thức nuôi mới cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với hình thức nuôi cua trực tiếp trong ao đất

Trước tình hình đó, Trước tình hình đó, để xác định được loại thức ăn nào phù hợp và hoàn toàn chủ động cung cấp cho quá trình nuôi cua biển, cũng như góp phần thúc đẩy phát triển hình thức nuôi cua lồng,năm 2010 được sự đồng ý của UBND tỉnh Nghệ An, Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An cho phép thực hiện dự án “Ứ ng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ xây dựng mô

Diễn Châu” Trên cơ sở thực hiện dự án này, để xác định được loại thức ăn

nào phù hợp và hoàn toàn chủ động cung cấp cho quá trình nuôi cua biển, cũng như góp phần thúc đẩy phát triển hình thức nuôi cua lồng thương phẩm Với lý do đó, chúng tôi thực hiện đề tài “ Nghiên cứu ảẢ nh hưởng của các loại thức ăn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cua biển (Scylla serrata) nuôi

trong lồng trong ao nước lợ”.

Mục tiêu của đề tài:

Xác định được loại thức ăn thích hợp nhằm góp phần hoàn thiện quy trình

nuôi thương phẩm cua biển (Scylla serrata) trong lồng.

Trang 11

Nội dung của đề tài:

Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cua nuôi trong lồng giai đoạn từ cua giống lên cua thịt

Chương 1TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 Phân loại và phân bố

Keenan (1999) như sau :

Ngành động vật chân khớp: Arthropoda

Lớp giáp xác: Crustacea

Lớp phụ giáp xác lớn: Malacostraca

Bộ mười chân: Decapoda

Họ cua bơi: Portunidae

Giống: Scylla

Loài: S.serrata

Tên tiếng Aanh là mud crab

Trang 12

Hình 1.1 Cua S serrata

1.1.2 Phân bố.

Cua biển Scylla serrata phân bố ở các vùng ven biển nhiệt đới thuộc

biển Ấn Độ - Thái Bình Dương Đây là loài rộng muối, ngưỡng chịu đựng độ mặn của chúng từ 5 -đến 33,2%o, phát triển tốt nhất trong khoảng từ 13,7 -26,9%o Khi độ mặn xuống thấp dưới 7%o chúng thường đào hang để trú ẩn hay tìm cách trốn thoát khỏi điều kiện môi trường đó [5210]

1.2 Đặc điểm sinh học của cua Biển S serrata

1.2.1 Vòng đời

Ong (1964) lần đầu tiên đã mô tả các giai đoạn của ấu trùng cua biển

Scylla Serrata Theo Sivasubramaniam và Angell (1992), trứng cua nở thành

ấu trùng zoea 1 mất 16-17 ngày ở nhiệt độ 23-25oC Ấu trùng cua sau khi nở

là zoea 1 trải qua 4 lần lột xác để biến thái thành zoea 5 trong thời gian 17-20 ngày, mỗi giai đoạn mất 2-3 ngày Từ zoea 5 biến thái thành megalopa kéo dài trong khoảng thời gian 8-11 ngày Ấu trùng zoea có tính hướng quang và bơi ngược dòng Giai đoạn megalopa chỉ lột xác một lần và mất 7-8 ngày để biến thành cua 1 (cua con) Cua con trải qua 16-18 lần lột xác trước khi thành thục và ít nhất khoảng 328-523 ngày Trước mùa sinh sản, cua di cư ra vùng biển ven bờ lột xác tiền giao vĩ rồi di cư ra biển, trong quá trình di cư, trứng

Trang 13

sẽ phát triển và chín dần Cua ấp trứng trong khoang bụng, cho đến khi nở thành ấu trùng zoea 1 rồi tiếp tục lặp lại vòng đời.

Nhìn chung, chu kỳ sống của các loài cua biển theo Heasman (1980) (được trích dẫn bởi Lee (1992) gồm 4 giai đoạn: giai đoạn ấu trùng, giai đoạn cua con (chiều rộng mai 20-80 mm), giai đoạn tiền trưởng thành (chiều rộng mai 70 - 150 mm) và giai đoạn trưởng thành (chiều rộng mai 150 mm trở lên)

Đặc biệt, trong quá trình phát triển cùng với sự lột xác, cua có khả năng tái sinh những phần đã mất của cơ thể

Hình 1.2 Vòng đời cua biển 1.2.2 Đặc điểm dinh dưỡng

Thức ăn tự nhiên của cua chứa 50% nhuyễn thể, 21% giáp xác, 29% các mảnh vụn hữu cơ, ít khi có cá trong ống tiêu hóa của cua Sheen (2000) cũng cho rằng nhu cầu về thành phần cholesterol trong thức ăn nhằm cải thiện

Trang 14

tỉ lệ sống và tăng trưởng đối với cua Scylla serrata, vì thế nhu cầu cholesterol trong khẩu phần ăn tối ưu là 0,5%.

Tính ăn của cua sẽ thay đổi tuỳ từng giai đoạn phát triển:

- Giai đoạn ấu trùng: Cua thích ăn các loài thực vậnt và động vật phù

du Cua con chuyển dần sang ăn tạp như rong tảo, giáp xác, nhuyễn thể, cá hay cả xác chết động vật Trong điều kiện nuôi cho ăn với nhiều loại thức ăn khác nhau như: tảo, luân trùng, Artemia và cả thức ăn viên có kích thước nhỏ

- Giai đoạn cua con, tiền trưởng thành và trưởng thành: Cua con 2-7cm

ăn chủ yếu là giáp xác, cua 7-13cm thích ăn nhuyễn thể và cua lớn hơn thường ăn cua nhỏ, cá, xác động vật chết, nhuyễn thể Cua có tập tính trú ẩn vào ban ngày và kiếm ăn vào ban đêm Nhu cầu thức ăn của chúng khá lớn nhưng chúng lại có khả năng nhịn đói 10–15 ngày ở trên cạn trong điều kiện

1.2.3 Đặc điểm sinh trưởng

Cua có tuổi thọ trung bình từ 2–4 năm, trong vòng đời cua lột xác 13 –

24 lần, 7 lần trong thời kỳ sống dạng ấu trùng, 6-17 lần trong thời kỳ phát triển từ cua con đến cua trưởng thành Qua mỗi lần lột xác, khối lượng cua sẽ tăng lên 20 – 50%, kích thước tối đa mà cua có thể đạt được là 19 – 28 cm, với khối lượng 1-3 kg/con Thông thường trong tự nhiên cua có kích cỡ trong khoảng 7.,5-10.,5cm Với kích cỡ tương đương nhau về chiều dài hay chiều rộng carapace thì cua đực nặng hơn cua cái

Trang 15

Cua biển là loài sinh trưởng không liên tục, được đặc trưng bởi sự gia tăng đột ngột về kích thước và trọng lượng Quá trình cua lột xác để tăng kích thước, phụ thuộc rất lớn vào điều kiện dinh dưỡng, môi trường và giai đoạn phát triển của cơ thể Khi nuôi chung cua đực và cua cái thì cua đực tăng trưởng tốt hơn cua cái [467].

Từng loài có quá trình lột xác mang tính đặc trưng riêng biệt của từng loài cua, thông thường 2–3 ngày/lần Cua càng lớn thì chu kỳ lột xác càng kéo dài Đặc biệt, trong quá trình lột xác, cơ thể của chúng có thể tái sinh những phần phụ bộ đã mất Theo Trần Ngọc Hải và ctv., 1999, đối với những con cua bị tổn thương, khi mất phần phụ bộ thì cua có khuynh hướng lột xác sớm hơn

Quá trình tăng trưởng của cua biển còn chịu ảnh hưởng bởi nhiệt độ Theo Ong (1966), tăng trưởng trung bình của cua Scylla ở điều kiện tự nhiên nhanh hơn so với điều kiện ương nuôi trong phòng thí nghiệm, mặc dù chất lượng nước trong phòng thí nghiệm tốt hơn

1.2.4 Đặc điểm và màu sắc mai cua khi lột xác.

Trước khi lột xác, cua cần tích lũy nhiều chất dinh dưỡng làm cho thịt cua chắc lại, làm cho các vùng tiếp giáp với cơ quan vận động thường có biểu hiện trương phồng và đôi khi xuất hiện các khe nứt Màu sắc mai cua thường

khôong thay đổi so với màu sắc ban đầu, lúc này các sinh vật bám ở mai cua nhiều hơn

Trước khi lột xác cua tiết ra rất nhiều dịch tố để tách vỏ mềm ở bên trong ra khỏi vỏ cứng bên ngoài Sau đó tại chỗ giao tiếp giữa phần vỏ của phần đầu ngực và phần bụng xuất hiện vết nứt Khi vết nứt xuất hiện rộng, các tếề bào có biểu hiện tích nước và phá vở lớp vỏ cũ, cua chui ra ngoài

qQuá trình lột xác được mô tả như sau: Lúc đầu bộ phận đầu ngực nâng lên, vết nứt lớn ra, khối đầu ngực lộ ra ngoài Bụng co lại phía sau, các chân cử

Trang 16

động và co về giữa, đôi chân bơi thoát ra ngoài, sau đến phần bụng, chân càng được lột ra sau cùng Cua không chỉ lột vỏ bên ngoài mà vỏ cũ của mang ruột

dạ dày cũng được lột đi Sự lột xác diễn ra trong khoảng 30 – 60 phút Lớp vỏ mới bao ngoài của cua mới lột xác thường mềm, vỏ mới thường có màu

vàngằng nâu, sáng hơn màu của vỏõ cũ và có kích thước của cua có thể lớn gấp 1,5 lần kích thước ban đầu Sau thời gian khoảng 3-5 giờ sau khi cua lột xác, vỏ mai cua sẽ cứng lại Ở giai đoạn này, để bổ sung nhanh lượng can xi nhằm tạo cứng lớp vỏ, cua thườngướng ăn ngay bộ võ giáp cũ của mình Kích thước của cua tăng lên so với kích thước ban đầu vì các tếề bào tích đầy nước Sau khi lột xác, cua có lớp vỏ mới, ít có sinh vật bámn, nếu môi trường thuận

lợọi cua thường ăn nhiều nhằm tích lũy nhanh các chất trong tế bào để lớn lên

Sự lột xác của cua là kết quả của sự phát triển vừa để tăng khối lượng

và kích thước của nó vừa để thay đổi lớp mai cũ có nhiều sinh vật bánm Nếu nuôi cua cho ăn đủ các chất dinh dưỡng, thời gian giữa hai lần lôt xác càng ngắn Ấu trùng có thể lột xác trong vòng 2-3 hoặc 3-5 ngày /lần sau đó chu kỳ lột xác tăng dầnân từ 12 - 15 ngày/lần, khi cua đã lớn thời gian lột xác chậm hơn khoảng 15-30 ngày/lần Sự lột xác của cua có thể bị tác động bởi 3 loại kích thíchich tố: kích thích tố ức chế lột xác, kích thích tố thúc đẩy lột xác và kích thích tố điều khiển hút nước lột xác Quá trình lột xác giúp cho cua có thể tái sinh những phần đã bị mất như chân, càng Cua thiếuiêu bộ phụ có khuynh hướng lột xác sớm hơn cua bình thường [7]

1.2.5 Đặc điểm sinh sản

Theo Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, (2004), cua biển khoảng 1-1,5 tuổi bắt đầu thành thục sinh dục Lúc này chiều rộng của vỏ khoảng 10 cm và khối lượng thân trên dưới 150gam/con Theo Prasad (1989), cua Scylla chỉ tham gia sinh sản khi chiều rộng mai đạt từ 120-180 mm Thêm

Trang 17

vào đó, không như cua đực, cua cái không bao giờ đạt đến 100% độ thành thục ở bất cứ kích cỡ nào Sự thành thục của cua biển tuỳ theo từng loài khác nhau [398].

Theo Fielder và Heasman (1978), nhiệt độ có ảnh hưởng đến sự thành thục của cua Nếu nhiệt độ nước cao sẽ làm tăng tốc độ tăng trưởng, do đó sẽ rút ngắn thời gian thành thục của cua

Theo Hoàng Đức Đạt (2004) ở Việt Nam, mùa vụ sinh sản chính của cua từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau Cua biển là loài có tập tính di cư sinh sản Tới mùa sinh sản, cua di cư ra vùng biển ven bờ, lột xác tiền giao vĩ Trước khi đẻ trứng, cua đực và cua cái sẽ bắt cặp với nhau trong thời gian 3-4 ngày, sau đó cua cái lột xác và bắt đầu giao vĩ Túi tinh của con đực được đưa vào túi chứa tinh của con cái ở giữa gốc chân thứ tư và thứ năm Túi tinh này được giữ trong nhiều tuần để thụ tinh qua nhiều lần sinh sản, tức là một lần giao phối có thể thụ tinh cho cua cái từ 1-3 lần đẻ trứng Sau đó, khi con cái

đẻ trứng thì cùng lúc tinh trùng được giải phóng để thụ tinh cho trứng Cua đẻ rất khỏe Một con cái có thể đẻ từ vài trăm ngàn đến 2-3 triệu trứng mỗi năm.,

tTrong một năm cua đẻ từ 2-3 lần Trứng đẻ ra được ấp trong khoang bụng của cua mẹ cho đến khi nở Trứng cua được ấp ở nơi nước biển có độ mặn cao, nhiệt độ ổn định Thời gian ấp trứng phụ thuộc vào nhiệt độ nước Nhiệt

độ càng cao thời gian ấp trứng càng nhanh Trong điều kiện thuận lợi, trứng

có thể nở đồng loạt khoảng 3-6 giờ

1.3 Tình hình nghiên cứu cua biển trên thế giới và Việt Nam.

1.3.1 Trên thế giới.

Hiện nay cùng với khai thác tự nhiên, nghề nuôi cua biển thương phẩm

đã dần dần hình thành và ngày càng phát triển ở nhiều nước trên thế giới như Nga, Trung Quốc, Mỹ, Canađa, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc, Indonexia,

Trang 18

Australia, Nhật Bản, Philippines, Đài Loan… Đã có nhiều mô hình nuôi xen ghép với các đối tượng khác.

Cua biển (Scylla) là đối tượng nuôi quan trọng đới với nghề cá tại các

nước có rừng ngập măn ở Đông Nam Á [5] Người dân sống ven biển đã dùng các loại bẩy có mắc mồi cá thả quanh các khu rừng ngập mặn để đánh bắt cua Cua biển lớn đã đủ kích thước làm cua thương phẩm thì đem bán, còn cua nhỏ được chuyển tới các ao đầm nuôi tiếp, nhằm tăng kích thước và

tro ọ ng lượng cua để đạt giá trị cao hơn Đây là hoạt động góp phần làm tăng thu nhập cho ngư dân ven biển của các nước Đông Nam Á và dần hình thành nghề nuôi cua biển

Theo Keenam et al, (1999) cho rằng ngư dân địa phương đã biết một vài kỹ thuật đơn giản như ương nuôi cua nhỏ và cua giống thành cua có trong lượng

và kích thước lớn hơn vừa tăng giá trị vừa tạo thêm việc làm cho phụ nữ và trẻ nhỏ ở các vùng ven bờ nghèo khó

Cua biển được xếp vào nhóm Brachiura Nuôi cua biển có nguồn gốc

từ Trung Quốc là hoạt động nuôi trồng truyền thống cách đây hơn 100 năm Sau đó nuôi cua biển đã được phố biến và áp dụng rộng rãi sang các nước Nam Á khác từ hơn 50 năm đước đây, trong đó có Việt Nam

Hoạt động nuôi cua bằng ô lồng được nuôi thử nghiệm lần đầu tiên ở Thái Lan và đã được sử dụng nuôi thành công ở Philippines, Indonexia, Đài Lloan… thường được nuôi ở vùng cửa sông, vùng nước lợ, vùng vịnh kín Lồng được thiết kế chế tạo bằng tre, nứa, lưới ni lông, lưới sợi tổng hợp Lồng nuôi cua có kích thước lớn được chia thành những ô nhỏ, mỗi ô nuôi một con cua riêng biệt, nhằm hạn chế sự vận động, cạnh tranh và ăn thịt lẫn nhau Mỗi ô lồng lớn, có các phao nuôiuổi bằng xốp hay vỏ thùng nhựa giữ cho bè luôn nổi trên mặt nước

ở một vị trí nhất định, lưới chắn phía trên không cho cua bò ra ngoài

1.3.2 Ở Việt Nam.

Trang 19

Ở Việt Nam cua biển đã được nghiên cứu và nuôi với quy mô thương phẩm từ lâu Vào năm 1950 của thế kỷ 20, vấn đề này đã được nhà nghiên cứu Serene (1952), trên cơ sở các tư liệu đã nghiên cứu ở Miền Nam Việt Nam, ông tìm thấy 4 loài cua và xác định được ở Việt Nam có ít nhất 3 loài cua phân bố; năm 1972 nhà sinh học Starobogatov đã tiến hành nghiên cứu

đánh giá nguồn lợi “cua biển phân bố ở vùng triều Vịnh Bắc Bộ” đã xác định

được sự hiện diện của 4 loài cua biển hiện nay đã được phát hiện ở Miền Bắc Việt Nam với số lượng nhiều ít khác nhau

Nghiên cứu và nuôi cua biển ở Việt Nam đã được quan tâm từ cuối những năm 80 đầu năm 90 của thế kỷ 20 Từ những năm 1990, Viện nghiên cứu Hải sản, đã tiến hành nghiên cứu các đặc điểm sinh học và bước đầu đã đạt được các kết quả nhất định Cua biển còn được nhiều nhà khoa học nghiên cứu như: Phạm Ngọc Đăng và Phạm Ngọc Tuyên (1992); Đoàn Văn Đẩu và ctv (1998); Nguyễn Cơ Thạach và ctv (2002); Nguyễn Thị Bích Thủy và ctv (2003); Trần Văn Hải, Nguyễn Thanh Phương và Trần Văn Việt (2000); Trương Hoàng Minh (2001) các tác giả này tập trung nghiên cứu phân loại học, nghiên cứu đặc điểm sinh học, phân bố và điều tra nguồn lợi cua biển Năm 2000, công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh sản và sản xuất

giống cua bùn Scylla serrata được công bố do Nguyễn Cơ Thạch Viện nghiên

cứu thuỷ sản III

Với nhu cầu tiêu thụu cua thương phẩm ngày càng tăng dẫn đến giá cua trên thị trường cũng tăng đã tạo cơ sở cho việc nghiên cứu và nuôi cua phát triển tại nhiều vùng ven biển [5] Các nghiên cứu quan tâm vào thời điểm đó

là phân loại, nghiên cứu các đặc điểm sinh học, phân bố và điều tra nguồn lợi cua biển Trong nhân dân, chỉ giới hạn ở khai thác nguồn lợi cua biển tự nhiên, nuôi quảng canh hay nuôi xen canh nhờ vào việc lấy nước có nguồn giống sẵn có trong tự nhiên [6]

Trang 20

Trong 10 năm trở lại đây, do tình trạng khai thác chưa hợp lý ở vùng ven bờ cùng với sự suy giảm chất lượng môi trường, nguồn cua giống đã bị cạn kiệt, công tác nghiên cứu và tiến hành sinh sản nhân tạo cua biển đã bước đầu thu được kết quả khả quan [9], nhiều trại giống sản xuất cua lần lượt ra đời đã cung cấp một lượng cua giống nhất định cho việc phát triển nuôi cua ở một số địa phương [1] đáp ứng nhu cầu về con giống tại các tỉnh Hải Phòng, Ninh Bình, Nghệ An, Thừa Thiên Huế…

Cùng với việc nghiên cứu cho sinh sản nhân tạo giống cua biển thì việc nghiên cứu nuôi cua thương phẩm cũng đã được nghiên cứu, năm 2003, 2004 Phan Hồng Dũng và CTV, Viện Hải Sản Hải Phòng đã tiến hành nghiên cứu

xây dựng thành công mô hình nuôi cua biển (Scylla serrata) bằng ô lồng trong

đầm nước lợ ở Hải Phòng, sau 4 tháng nuôi cho đạt tỷ lệ sống 65,25%, cao ở Hải Phòngcó tốc độ tăng trưởng về chiều dài trung bình đạt 22,25mm/tháng, chiều rộng đạt 14,92mm/tháng, và mức độ gia tăng trong lượng đạt 81,4gam/tháng, việc thực hiện thành công mô hình này đã mở ra một hướng nuôi cua mới cho tỷ lệ sống và hiệu quả kinh tế cao trong nuôi trồng thủy sản vùng ven biển

1.3 Một số hình thức nuôi cua hiện nay

.

Ở Việt Nam hiện nay có nhiều hình thức nuôi cua như nuôi trong đăng, lồng, nuôi cua trong ao đất Với mỗicác hình thức nuôi, đều có các ưu nhược điểm khác nhau cụ thềể như sau:

1.3.1 Nuôi trong đăng

Đầm nuôi ở bãi triều có diện tích lớn (thường từ 2-10 ha) với biên độ thủy triều triều cao thuận lợi cho việc áp cấp nước và thoát nước khi cần Trước kia đây là hình thức nuôi phổ biến nhất và đơn gianản nhất Yêu cầu

Trang 21

các đầm nuôi theo hình thức nàyay phải gần nơi có nguồn giống tự nhiên phong phú và giàu các loại thức ăn tự nhiên.

1.3.2 Nuôi cua trong ao đất

Đốiôi với loại hình này, diện tích nuôi thường nhỏ từ 0,1-1ha, ao được thiết kế đúng kỹ thuật; chế độ thay nước thường xuyên; chất lượng và số lượng thức ăn đảm bảo; mật độ thả giống cao; thời gian nuôi ngắn; đòi hỏi người nuôi phải có kỹ thuật chăm sóc quản lý nuôi tốt

Ưu điểm của hình thức này là diện tích nuôi nhỏ nên dễ chăm sóc quản

lý, thời gian nuôi ngánắn, năng suất cao, kích thước cua thương phẩm khá đồng đều, kiểm soát được chất lượng sản phẩm, chủ động được thời gian thu hoạch

Nhược điểm: Đối với hình thức nuôi này người nuôi phải có vốn đầu tư lớn, yêu cầu kỹ thuật nuôi cao, chất lượng con giống phải đảm bảo, thường gây ruiủi ro lớn khi cua bị bệnh chết hàng loạt, thường gây ô nhiễm môi trường và lây lan dịch bệnh cho các đầm lân cận

1.3.3 Nuôi cua trong lồng

Là hình thức nuôi khá phổ biến ở các nước Philippin, Thái Lan được

du nhập vào nước ta trong vài năm gần đây Ưu điểm của cua lồng là có thể chủ động trong việc phòng trị dịch bệnh và thức ăn, hạn chế được sự ô nhiễm môi trường, địch hại, nuôi cua trong lồng cho tỷ lệ sống khá cao, chủ động được thời gian thu hoạch Nhượcước điểm là đầu tư lớn, người nuôi cần có kỹ thuật nuôi

1.4 Tình hình nghiên cứu dinh dưỡng cua biển trong và ngoài nước.

1.4.1 Trên thế giớii.

Catacutan (2002) khi nghiên cứu tăng trưởng của cua bùn ở giai đoạn cua giống với chế độ cho ăn thức ăn với thành phần Protein 32 % và 48 % nhận thấy rằng không có sự sai khác về tốc độ tăng trưởng Trino và

Trang 22

Rodriguez (2002) thử nghiệm nuôi cua S serrata ở khu vực bãi triều cùng với

thức ăn có mức Protein 32 % và 47 % thì cua tăng trưởng tốt Không có sự sai

khác về tăng trưởng của 2 loài cua S Paramamosain và S Olivacea khi nuôi

bằng thức ăn có thành phần Protein 38 % và 59 % [276]

Theo Marko Pavasovic (2004) thực hiện luận văn thạc sỹ tại trường đại học Qeenland – Úc Khi nghiên cứu các mức Protein trên thức ăn hỗn hợp 30%, 45%, 50% và thức ăn công nghiệp cho tôm thẻ (EBI Star) với mức

Protein 50% trên đối tượng cua bùn (S. ser rata) có trọng lượng trung bình đưa

vào nghiên cứu 58,6 g, cua được nuôi trong các lồng bằng nhựa và hệ thống nước chảy tuần hoàn Sau khi kết thúc thí nghiệm thì kết quả cho thấy rằng: thức ăn hỗn hợp 50% Protein và thức ăn công nghiệp (EBI Star) cho tỷ lệ tăng trưởng cao nhất so với 2 công thức còn lại, tỷ lệ sống của các công thức đạt ở mức cao từ 89 – 100 %

Nghiên cứu dinh dưỡng của cua biển S se r rata bằng các loại thức ăn

tươi sống và cua được nuôi ở trong rừng ngập mặn với điều kiện nuôi nhốt bằng lồng (30x30x30), kích cở thả 50 – 380 g/cá thể David Oersted mMirera (2009) đã chỉ rằng với 3 công thức thức ăn thí nghiệm: cá tạp, hàu sông, cho

ăn cả 2 loại thức ăn (cá tạp, hàu sông) thì thức ăn cho ăn kết hợp 2 loại thức

ăn cho tăng trưởng cao nhất 47,9 % so với cá tạp 33,4 % và hàu sông 43,2 % Tốc độ tăng trưởng theo ngày của cua nuôi bằng thức ăn phối kết hợp 1,29

gam/ngày cao hơn so với cua nuôi bằng cá tạp 0,96% và 0,97% so với hàu sông Tuy nhiên tỷ lềệ sống sau 120 ngày nuôi có sự khác nhau đáng kể, tỷ lệ cua sống cao nhất 61,5 % nuôi bằng thức ăn hàu sông, tỷ lệ cua sống thấp nhất nuôi bằng cá tạp 35 % và nuôi bằng thức ăn kết hợp 47,1 %

A.T.Trino (2001), nghiên cứu trên cua S.se r rata nhằm đánh giá của

việc sử dụng vitamin &và khoáng chất trong thức ăn của cua biển đã cho thấy rằng: trong điều kiện môi trường tự nhiên, cua nuôi ở ao với mật độ 1 con/m 22 , kích cở lúc thả 50 gam/cá thể, sử dụng 3 công thức thức ăn: cá tạp,

Trang 23

thức ăn có bổ sung vitamin và& khoáng chất, thức ăn không bổ sung vitamin

&và khoáng chất thì cho kết quả như sau: tỷ lệ sống của cua đạt từ 45 % - 49

% sau 156 ngày nuôi Thức ăn bằng cá tạp cho trọng lượng trung bình cao nhất 435 gam/ cá thể, thức ăn có bổ sung vitamin và& khoáng chất 410

gam/cá thể, thức ăn không bổ sung vitamin và& khoáng chất 395 gam/cá thể, điều này có thể nhận thấy rằng không có sự sai khác lớn về tăng trưởng của cua khi sử dụng 3 loại thức ăn nêu trên, v Vì vậy không cần thiết phải bổ sung vitamin &và khoáng chất nhằm giảm thiểu chi phí khi nuôi, ước tính giảm 14-15 %

1.4.2 Ở Việt Nam

Nghiên cứu dinh dưỡng cua biển ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào 2

loài cua phổ biến là S se r rata và S Paramamosain, đặc biệt các nghiên cứu

tập trung vào mô hình nuôi cua lồng và trong điều kiện thí nghiệm với các mức Protein khác nhau

Theo báo cáo của Nguyễn Minh Hường và Lê Vịnh (2006) - Viện NCNTTS III về ảnh hưởng các mức độ của Protein trên thức ăn tự chế với các mức 35 %, 43 % và 50 % với thức ăn đối chứng là cá tạp trên cua biển (S

se r rata) có kích thước (1gam/con) ở trong điều kiện thí nghiệm nuôi bể với việc khống chế các điều kiện môi trường như: nhiệt độ ddao động từ 27 – 31o

C và độ mặn 28 -32 %o đã cho kết quả sai khác Thức ăn hỗn hợp với mức

Protein 43 %, thức ăn cá tạp cho hiệu quả cao nhất với tốc độ tăng trưởng sau

3 tháng nuôi đạt trung bình 20,1 gam/cá thể và 19,4 gam/cá thể so với 10,91

gam/cá thể và 15,98 gam/cá thể ở 2 mức Protein 35 % Protein 50 % Và tỷ

lệ sống của cua đạt ở mức cao từ 81 - 95%

Ngoài việc nghiên cứu dinh dưỡng của cua biển ở các mức độ Protein nói trên Trần Ngọc Hải và ctv (2006) thuộc khoa thuỷ sản - Trường đại học Cần Thơ cũng đã nghiên cứu các mức độ Protein 25%, 35% và 45 % ở trên thức ăn công nghiệp với đối chứng là cá tạp và thực hiện ở đối tượng là cua

Trang 24

lột với hệ thống bể nuôi tuần hoàn Sau 23 ngày nuôi tỷ lệ sống của cua đạt 85 – 90%, tỷ lệ lột vỏ 75 – 90 %, và đặc biệt không có sự khác biệt giữa các công thức thức ăn Điều này được lý giải do thời gian nuôi ngắn và trong điều kiện môi trường được kiểm soát nên không thể đánh giá được sự khác nhau giữa các công thức thức ăn.

Dự án “Đánh giá tiềm năng việc sử dụng thức ăn chi phí thấp nhằm phát triển nghề nuôi cua ở Việt nam, Indonesia và úc” (2008) [189], đã có các

nghiên cứu dinh dưỡng ở trên cua bùn (S.se r rata), cua được nuôi trong ô lồng

cho ăn thức ăn công nghiệp loại (turbo, Thai lan) với các mức Protein 25 %,

35 %, 45 %, 55 % với kích thước cua thả ban đầu là (0,6 gam) và nuôi trong thời gian 70 ngày Kết quả chỉ ra rằng ở mức Protein 55 % cho tăng trưởng cao nhất, tuy nhiên sức sinh trưởng của cua qua các công thức thí nghiệm Protein là không có sự sai khác lớn

Nhưng Tuy nhiên khi nghiên cứu ở cua có kích thước thả ban đầu là (90 gam ) cùng với các mức Protein nêu trên thì chỉ ra rằng, ở mức Protein

45 % cho kết quả cao nhất so với các mức Protein khác Điều này rút ra kết luận rằng ở giai đoạn cua giống đòi hỏi thức ăn có mức Protein cao hơn so với cua trưởng thành

Nghiên cứu về dinh dưỡng của Trương Hà Phương (2008) ở trên đối

tượng là cua bùn (S se r rata) kích thước trung bình 0,65 gam với các mức protein 25 %, 35 %, 45 % và 55 % ở trong lồng bằng nhựa (10cm x 10cm x 13cm), số lượng cua thả 48 con (chia thành 4 công thức), thức ăn công nghiệp

CP Thái lan, cho ăn ngày 2 lần, ngày cho ăn 5% trọng lượng cơ thể Kết quả chỉ ra rằng khi cho ăn thức ăn công nghiệp có mức Protein 45 % và 50 % , cua phát triển nhanh hơn so với thức ăn có mức Protein 25 %, 35 % và ở mức Protein 25% cho kết quả tăng trưởng của cua thấp nhất

Trang 25

Vũ Anh Tuấn (2006), thí nghiệm về các loại thức ăn trên cua biển nuôi tại Bạc Liêu đã cho kết quả như sau: Sử dụng 5 công thức thức ăn gồm có: cá tạp, thức ăn công nghiệp (Vital), thức ăn tự chế (bổ sung tảo Spirula), thức ăn

tự chế (bổ sung CaP), thức ăn tự chế, thí nghiệm trên đối tượng cua biển S Paramamosain có trọng lượng trung bình lúc thả 1g và cua được nuôi trong

lồng bằng nhựa ở trong bể Sau thời gian nuôi 4 tháng Thức ăn công nghiệp cho tốc độ tăng trưởng lớn nhất 885,4 % so với các công thức thức ăn còn lại (dao động 334,6 – 383 %)., Hệ số thức ăn công nghiệp thấp nhất 0,8 so với các công thức còn lại 2,0 – 2,5, tỷ lệ sống của cua nuôi bằng thức ăn công nghiệp đạt 100% cao hơn so với các công thức còn lại 83 % - 85,7 % Điều đó chứng tỏ rằng cá tạp có thể thay thế được bàng các loại thức ăn đưa vào thí nghiệm Thức ăn công nghiệp cho hiệu quả tốt nhất

Chương 2VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Cua (Scylla serrata) giai đoạn cua giống cở 40-50gam/con lên cua thương phẩm cỡ 200 – 250gam/con

2 2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Trang 26

2.2.1 Thời gian nghiên cứu

- Thời gian triển khai, bố trí thíị nghiệm, quản lý và thu thập số liệu: Từ tháng 5 – 10/2011

- Thời gian xử lý số liệu và viết báo cáo: Từ tháng 10 – 12/2011

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu

Tại vùng nuôi cua huyện Diễn Châu, Nghệ An

Trang 27

Bảng 2.3 Kết quả phân tích dinh dưỡngương thức ăn thí nghiệm

Thức ăn (% /KL khô) Protein (%/KL khô) Lipid (%/KL khô) Tro

Thức ăn công nghiệp tôm

14,0±0,714,9±0,116,3±0,1

3,0±0,63,1±0211,2±0,5

2.4 Bố trí thí nghiệm.

Cua giống dùng trong thí nghiệm được lựa chọn có khối lượng tương đối đồng đều, trung bình 43,5 ± 0,01gam/con Cua mua từ người dân đánh bắt ngoài tự nhiên Cua thí nghiệm được chia làm 3 công thức, mỗi công thức 20 con, mỗi con được nuôi trong 1 lồng có kích cỡ lồng 30cm x 20cm x 40cm (dài x rộng x cao) Cho ăn bằng 3 loại thức ăn khác nhau là thức ăn công nghiệp, tôm, thức ăn tự chế biến biến và thức ăn cá tạp (Bảng 2.1) Các lồng được thả nuôi cùng 1 ao có diện tích 5000 m2, nguồn nước lấy từ sông Cầu Bùng có độ mặn từ 8-12 0 %o Tất cả các công thức thí nghiệm đều được

bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên

Sơ đồ nghiên cứu

Thức ăn tự chế biếnbiến

Các chỉ tiêu đánh giá

Tăng trưởng kích thước và khối lượng thân

Tỷ lệ sống

Cua giốngNuôi thuần trong lồng

19

Trang 28

Hình 2.1 Bố trí thí nghiệm 2.5 Chăm sóc quản lý.

Cho cua ăn lượng thức ăn từ 3 - 5% trọng lượng thân, mỗi ngày cho cua ăn 2 lần sáng vào lúc 7 giờ với 30% khẩu phần ăn hàng ngày, ; chiều vào lúc 17-18 giờ cho ăn 70% khẩu phần ăn Lượng thức ăn cho vào từng lồng nuôi căn cứ vào lượng thức ăn cua ăn hết hay dư thừa trong lồng và trạng

Trang 29

thái sinh lý của cua để tăng hay giảm lượng thức ăn của từng lồng Khi cua chuẩn bị lột xác thì giảm lượng thức ước ăn và có thể không cần cho cua ăn, nhưng trước và sau lột xác 1 - 2 ngày lại tăng thức ăn lên 20 - 30% trọ o ng lượng thân trong 4 ngày.

Thường xuyên vệ sinh sạch sẽ lồng nuôi cua, dùng bàn chải nhựa cọ nhẹ mặt ngoài lồng, tránh làm cua sợ và làm đục nước vùng nuôi cua

Thay nước ao đầm nuôi theo thủy triều: Mmỗi lần thay 20 - 30% lượng nước trong aolồng, t Thường xuyên kiểm tra độ mặn 8-12‰ hàng ngày

Hình 2.2 Vệ sinh lồng nuôi cua (cho vào phụ lục)

Để xác định tăng trưởng của cua thí nghiệm, định kỳ 15 ngày/lần đo mẫu cua, mỗi lần 10 con Các chỉ tiêu theo dõi tăng trưởng là kích thước cua (chiều dài và chiều rộng mai) và khối lượng cua

Trang 30

- Hình 2.3 Đo chiều dài mai cua nuôi thí nghiệm (hình này cho vào phụ

Trang 31

 W1 là khối lượng ban đầu (g)

 W2 là khối lượng ở thời điểm đo (g)

 t : thời gian nuôi giữa hai lần đo (ngày)

- Xác định tốc độ tăng trưởng tương đối ngày (Specific growth rate)–SGR (%/ngày) theo công thức :

SGRw (%/ ngày) = (Ln(W2) – Ln(W1)) x 100/ tTrong đó:

 W1 là khối lượng ban đầu (g)

 W2 à khối lượng ở thời điểm đo (g)

 t : thời gian nuôi giữa hai lần đo (ngày)

- Xác định tỷ lệ sống (SR) :

Số cua thu hoạch

SR (%) = - x 100

Số cua thí nghiệm

- Hệ số chuyển đổi thức ăn FCR (Feed Conversion Rate):

FCR =

2.6.2 Xác định các yếu tố môi trường nước trong ao thí nghiệm

Theo dõi các yếu tố môi trường: Định kỳ kiểm tra các yếu tố môi trường theo bảng 2.4

Khối lượng thức ăn đã sử dụng (g)Khối lượng cua tăng trưởng (g)

Trang 32

Bảng 2.43 Tần số đo các yếu tố môi trường trong ao nuôi

Thông số môi trường Tần số đo Thời điểm đo

Nhiệt độ nước (oC) 2 lần/ngày 7 và 15 Máy đo nhiệt độ

khúc xạ kế

Độ kiềm (mg CaCo3/l) 1 lần/3 ngày 6-7 Test độ kiềm

lượng Oxy

Hinh 2.5 Kiểm tra các chỉ tiêu môi trường (vào phụ lục)

2.6.3 Phương pháp phân tích dinh dưỡng

Thức ăn thí nghiệm được phân tích dinh dưỡng tại Trung Tâm phânất tích môi trường và thực phẩm - Trường Đại học Vinh Các chỉ tiêu phân tích gồm có vật chất khô, Protein thô, Lipid thô theo các phương pháp sau:

- Vật chất khô: Xác định theo phương pháp sấy khô, TCVN 4328 - 2001.

- Protein thô: Xác định theo phương pháp Kjeldahl, TCVN 4331 - 2001.

Trang 33

- Lipid thô: Xác định theo phương pháp phân đoạn Eete, TCVN 4331 - 2001.

2.7 Phương pháp phân tích xử lý số liệu

Số liệu thu được sẽ được xử lý, phân tích bằng phần mềm SPSS for Windows 16.0 Phân tích ANOVA và dùng tiêu chuẩn Duncan để xác định

sự sai khác có ý nghĩa thống kê (Pp < 0 , 05) về các chỉ tiêu đánh giá giữa các

nghiệm thức thức ăn thí nghiệm Dùng Microsoft Excel để vẽ đồ thị

Trang 34

Chương 3KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Diễn biến các yếu tố môi trường nước trong thời gian thí nghiệm

Các yếu tố môi trường trong ao nuôi cua thí nghiệm được trình bày trong bảng 3.1

Bảng 3.1 Kết quả theo dõi một số yếu tố môi trường nước trong ao nuôi Tháng

nuôi Nhiệt độ ( o C) pH Độ mặn ( o o / oo ) Oxy hòa tan

(mg/L)

Độ kiềm (mg/L)

NH3 (mg/L)

Trang 35

7.0- 8.0 8.16 ± 0.92 4.8±0.43 80 0,2 - 0,32

(xem lại)

(xem lại NH3 > 0.2 –là vượt ngưỡng an toàn đó !)

Trong 3 tháng thực hiện thí nghiệm nhiệt độ nước trung bình tháng thấp nhất vào tháng nuôi đầu tiên (từ 26,.89 ±1,.78oC) và cao nhất vào tháng nuôi cuối cùng (28,.5 ± 0.,74oC) Nhìn chung, nhiệt độ nước thích hợp cho thuỷ sinh vật phát triển từ 20 – 30oC [5] và phù hợp cho sinh trưởng của cua

Độ pH dgiao động trong khoảng 7 - 8,2, biên độ pH biến động theo ngày không quá 0,.5 (không gây nguy hiểm cho động vật thuỷ sản) và đặc biệt ngưỡng pH nằm trong tiêu chuẩn cho phép từ 6.,5 – 8.,5 [5]

Các đối tượng giáp xác trong đó có tôm, cua chịu ảnh hưởng của độ kiềm là rất lớn, nó tác động đến sự sinh trưởng bằng quá trình lột xác Trong quá trình thực hiện độ kiềm trong ao luôn được duy trì từ 80 mg/lít đên 95 mg/lít , đây là các chỉ số phù hợp với sinh trưởng của cua nói riêng và các đối tượng giáp xác nói chung

Độ mặn trong quá trình thí nghiệm biến động từ cao xuống thấp, trung bình tháng cao nhất vào giai đoạn đầu thí nghiệm (tháng 4) 9.,35 %o và thấp nhất vào cuối giai đoạn thí nghiệm 8,.16 %o Trung bình độ mặn cả đợt thí nghiệm 8.,7 ± 1.,06 %o Điều này phù hợp với đặc điểm phân bố và thích nghi

độ mặn của cua ở các khu vực cửa sông, bãi triều

Trang 36

Do thí nghiệm được thực hiện trên ao có diện tích 5000 m2, có bờ thoáng mát, nguồn nước vào ra dễ dàng nên hàm lượng oxy hòa tan đo được theo ngày nằm ở mức khá cao, dao động trung bình theo tháng có sự thay đổi

từ thấp đến cao, thấp nhất vào tháng nuôi đầu tiên 4,.56 ± 0.,2 mg/lít, và cao nhất vào tháng nuôi cuối 4.,8±0.,43 mg/lít, Ngưỡng oxy trong ngày cao nhất 6,6 mg/lít và thấp nhất 3,.0 mg/lit Nhìn chung ngưỡng oxy phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của cua

Hàm lượng NH3 ở trong nước là sản phẩm chất thải, sự bài tiết của cua

và phân giải vật chất hữu cơ của vi khuẩn Biến động NH3 theo chu kỳ thấp vào đầu thí nghiệm 0,.01 mg/lít và cao nhất vào cuối kỳ thí nghiệm 0,.32 mg/lít NH3 trung bình trong quá trình thí nghiệm là 0,0.125 ± 0,.091 mg/lít, nằm trong ngưỡng an toàn cho cua nuôi

3.2 Ảnh hưởng của các loại thức ăn đến tăng trưởng của cua

3.2.1 Tăng trưởng về chiều dài

Tăng trưởng về chiều dài mai của cua nuôi ở 3 loại thức ăn khác nhau thể hiện ở Bảng 3.2 và Hình 3.1

Trang 37

Bảng 3.2 Tăng trưởng chiều dài mai cua Ngày nuôi

Chiều dài trung bình mai cua (cm)

Kết quả thí nghiệm cho thấy chiều dài của cua ăn các loại thức ăn khác

nhau bắt đầu thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p< 0 , 05) sau 45 ngày

nuôi với sự vượt trội về chiều dài của cua được nuôi bằng thức ăn cá tạp (CT3), tiếp đến là cua được nuôi bằng ăn thức ăn tự ăn chế biến biến (CT2)

và cua được nuôi ăn thức ăn công nghiệp tôm (CT1) Khi kết thúc thí nghiệm cua được nuôi bằng ăn thức ăn cá tạp ở CT3 và thức ăn tự chế biến ở CT2 đạt chiều dài trung bình lần lượt là 8,3 ±0,79 cm và 8,9 ±1,01 cm, không khác

biệt nhau về mặt thống kê (p> 0 , 05) nhưng lớn hơn so với chiều dài của cua

được nuôi bằngăn thức ăn công nghiệp (CT1) 7,4 ±0,48 cm (p <0 , 05).

Kết quả nghiên cứu này phù hợp nghiên cứu của Đinh Quang Huy, Viện nghiên cứu thủy sản III, khi nghiên cứu dinh dưỡng trên đối tượng cua

Trang 38

xanh (Scylla paramamosain) tại Nha Trang Khánh Hòa từ giai đoạn 30 ngày

tuổi đến giai đoạn thương phẩm, với các loại thức ăn công nghiệp với các mức Protein 43%, 45%, 48% với thức ăn đối chứng là cá tạp, thì cho kết quả chiêu dài mai cua khi được nuôi bằng thức ăn cá tạp cho tăng trưởng nhanh hơn so với cua được nuôi bằng thức ăn công nghiệp ở các mức Protein Với kích thước chiều dài thả ban đầu 0,99 ± 0,25 cm/con, sau khi kết thúc thí nghiệm chiều dài cua được nuôi bằng thức ăn cá tạp đạt 9,14 ± 0,33 cm/con, trong lúc đó cua được nuôi bằng thức ăn công nghiệp cho chiều dài dao động

từ 8,27 ± 0,29 cm/con đến 8,99 ± 0,37 cm/con

Hình 3.1 Tăng trưởng chiều dài mai cua

3.2.2 Tăng trưởng về chiều rộng

Tăng trưởng về chiều rộng mai của cua nuôi ở 3 loại thức ăn khác nhau thể hiện ở Bảng 3.3 và Hình 3.2

Trang 39

Bảng 3.3 Tăng trưởng chiều rộng mai cua

ăn tự chế biến biến có đạt chiều rộng trung bình đạt 6,.1 ± 0,66 cm, lớn hơn

so với cua ăn được nuôi bằng thức ăn thức ăn tôm công nghiệp (5,3 ± 0,51

cm) nhưng không sai khác có ý nghĩa với chiều rộng mai của cua được nuôi bằng thứcủa ăn cá tạp (6.,6 ± 0,92cm)

Ngày đăng: 18/12/2013, 10:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Cua S. serrata 1.1.2. Phân bố. - Ảnh hưởng của các laoif thức ăn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cua biển ( scylla serrata) nuôi lồng trong ao nước lợ luận văn thạc sỹ nông lâm ngư
Hình 1.1. Cua S. serrata 1.1.2. Phân bố (Trang 12)
Hình 2.1. Bố trí thí nghiệm 2.5. Chăm sóc quản lý. - Ảnh hưởng của các laoif thức ăn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cua biển ( scylla serrata) nuôi lồng trong ao nước lợ luận văn thạc sỹ nông lâm ngư
Hình 2.1. Bố trí thí nghiệm 2.5. Chăm sóc quản lý (Trang 28)
Hình 2.2. Vệ sinh lồng nuôi cua (cho vào phụ lục) - Ảnh hưởng của các laoif thức ăn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cua biển ( scylla serrata) nuôi lồng trong ao nước lợ luận văn thạc sỹ nông lâm ngư
Hình 2.2. Vệ sinh lồng nuôi cua (cho vào phụ lục) (Trang 29)
Hình 2.4: Cân khối lượng cua và thức ăn thí nghiệm (hình này cho  vào phụ lục) - Ảnh hưởng của các laoif thức ăn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cua biển ( scylla serrata) nuôi lồng trong ao nước lợ luận văn thạc sỹ nông lâm ngư
Hình 2.4 Cân khối lượng cua và thức ăn thí nghiệm (hình này cho vào phụ lục) (Trang 30)
Bảng 2.43. Tần số đo các yếu tố môi trường trong ao nuôi Thông số môi trường Tần số đo Thời điểm đo - Ảnh hưởng của các laoif thức ăn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cua biển ( scylla serrata) nuôi lồng trong ao nước lợ luận văn thạc sỹ nông lâm ngư
Bảng 2.43. Tần số đo các yếu tố môi trường trong ao nuôi Thông số môi trường Tần số đo Thời điểm đo (Trang 32)
Bảng 3.2. Tăng trưởng chiều dài mai cua   Ngày nuôi - Ảnh hưởng của các laoif thức ăn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cua biển ( scylla serrata) nuôi lồng trong ao nước lợ luận văn thạc sỹ nông lâm ngư
Bảng 3.2. Tăng trưởng chiều dài mai cua Ngày nuôi (Trang 37)
Hình 3.1.  Tăng trưởng chiều dài mai cua 3.2.2. Tăng trưởng về chiều rộng - Ảnh hưởng của các laoif thức ăn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cua biển ( scylla serrata) nuôi lồng trong ao nước lợ luận văn thạc sỹ nông lâm ngư
Hình 3.1. Tăng trưởng chiều dài mai cua 3.2.2. Tăng trưởng về chiều rộng (Trang 38)
Hình 3.2. Tốc độ tăng trưởng chiều rộng mai cua - Ảnh hưởng của các laoif thức ăn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cua biển ( scylla serrata) nuôi lồng trong ao nước lợ luận văn thạc sỹ nông lâm ngư
Hình 3.2. Tốc độ tăng trưởng chiều rộng mai cua (Trang 40)
Hình 3.3. Tăng trưởng khối lượng cua theo thời gian - Ảnh hưởng của các laoif thức ăn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cua biển ( scylla serrata) nuôi lồng trong ao nước lợ luận văn thạc sỹ nông lâm ngư
Hình 3.3. Tăng trưởng khối lượng cua theo thời gian (Trang 41)
Bảng 3.6. Tốc độ tăng trưởng tương đối ngày về khối lượng- (SGRw) - Ảnh hưởng của các laoif thức ăn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cua biển ( scylla serrata) nuôi lồng trong ao nước lợ luận văn thạc sỹ nông lâm ngư
Bảng 3.6. Tốc độ tăng trưởng tương đối ngày về khối lượng- (SGRw) (Trang 45)
Bảng 3.7. Tỷ lệ sống của cua - Ảnh hưởng của các laoif thức ăn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của cua biển ( scylla serrata) nuôi lồng trong ao nước lợ luận văn thạc sỹ nông lâm ngư
Bảng 3.7. Tỷ lệ sống của cua (Trang 48)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w