Nhng đem cái " ngông" ấy là phô diễn trong mấy chục tờ giấy thì thực quả đáng vậy" Thiếu Sơn trong " Phê bình và cảo luận" đăng trên báo Nam Kỳ 1933 cũng đã nhận thấy ở Tản Đà " ngông h
Trang 1Lời cảm ơn
Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến Thầy giáohớng dẫn Lê Văn Tùng và các thầy cô giáo trong Bộ môn Văn học Việt Nam,khoa Ngữ văn - Trờng Đại học Vinh đã tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện
để tôi hoàn thành tốt luận văn này
Vinh, tháng 5/2003
Sinh viên
Lê Thị Dung Lê
Phần mở đầu I- Lý do chọn đề tài
1, Trong tiến trình vận động và phát triển của văn học Việt Nam, Tản
Đà giữ một vị trí đặc biệt quan trọng " Con ngời của hai thế kỷ ấy đã mở đầucho trào lu lãng mạn của văn học Việt Nam trớc 1930 Ông cũng là ngời cócông đầu trong việc bắc cây cầu giao nối đa thơ Việt Nam chuyển từ phạm trùthơ trung đại sang phạm trù thơ hiện đại
Tản Đà ( 1889 - 1939 ) đã sống trọn trong một thời kỳ lịch sử hết sức
đặc biệt : vừa là giao thừa của hai thế kỉ Vừa là giao thừa của hai thời đại vănhọc Cùng với tính chất quá độ đa dạng và phức tạp của văn học Việt Nam bamơi năm đầu thế kỷ XX, bản thân con ngời và tác phẩm của ông cũng trở
Trang 2thành hiện tợng phức tạp nhất trong lịch sử văn học nớc nhà, những phức tạpmang tính chất đặc trng của một giai đoạn văn học giao thời Chính vì thế Tản
Đà và thơ văn của ông đã trở thành đề tài cho rất nhiều những cuộc tranh luậnvăn học sôi nổi những năm 30, 60, 70 của thế kỷ trớc
Cho đến nay,có một khối lợng rất lớn những công trình nghiên cứu,những bài thảo luận , phê bình, bình luận đã viết về Tản Đà Quan thời gian,mọt số vấn đề đã đợc thống nhất, song còn rất nhiều vấn đề là ta đang đợc tiếptục nghiên cứu và tìm hiểu Bên cạnhđó cũng còn nhiều khía cạnh cha đợc bànluận một cách rộng rãi và thấu đáo
Với mong muốn tiếp tục đi sâu vào tìm hiểu, khám phá những nét độc
đáo, đặc sắc của con ngời và thơ văn Tản Đà Chúng tôi hi vọng rằng đề tàiluận văn " ảnh hởng cá tính con ngời Tản Đà trong thơ văn ông" có thể gópthêm một tiếng nói nhỏ trong việc tiếp cận thơ văn Tản Đà dựa trên mối quan
hệ biện chứng, hữu cơ giữa cá tính con ngời nhà văn và tác phẩm văn học
2,Trong lịch sử văn học nhân loại, hiện tợng " văn là ngời" là hiện tợngphổ biến, mang tính quy luật Nghĩa là văn chơng, tác phẩm của nhà nghệ sĩ
nh thế nào là phản ánh con ngời và văn nghệ sĩ nh thế ấy Nhng trong mệnh đềtrên chữ " ngời" là một khái niệm có ý nghĩa tổng hoà "Ngời" của nhà văn làtổng hoà tinh hoa những phẩm chất, tài năng và ý thức sáng tạo của nhà văn Cá tính con ngời nhà văn là một yếu tố tham gia vào sản phẩm tổng hoà ấy.Nhng cá tính của con ngời nhà văn không phải bao giờ cũng tác động và gây
ảnh hởng trực tiếp vào nghệ thuật và tác giả
Trong lịch sử văn học Việt Nam từng có những hiện tợng dờng nh cátính con ngời nhà văn không tham gia tích cực vào tác phẩm, không để lại dấu
ấn trực tiếp trên hình tợng Chẳng hạn trờng hợp nhà văn Vũ Trọng Phụng vàNam Cao, hai ngời thanh niên có cá tình hiền lành, ít nói, ngại đám đông, rụt
rè, thậm chí không gây ấn tợng gì đặt biệt với những ngời đã từng tiếp xúc,nhng tác phẩm của họ lại hết sức dữ dội Ngợc lại, có những nhà văn cá tínhcon ngời của họ lại ảnh hởng sâu sắc, trực tiếp, đóng một dấu ấn độc đáo vàonghệ thuật của tác phẩm Tản Đà là một trong những hiện tợng tiêu biểu nhất
Theo cách nhìn Thi pháp học, cá tính con ngời nhà văn là một yếu tốngoài văn bản nghệ thuật của tác phẩm Giá trị nghệ thuật của tác phẩm không
do các yếu tố ngoài văn bản mà do cấu trúc của văn bản mang lại ở trờng hợpTản Đà cũng vậy Tuy nhiên cá tính con ngời nhà văn lại có vai trò đặc biệttrong việc thai nghén cá tính sáng tạo của ông dẫn đến những đặc sắc nghệthuật trong tác phẩm Khảo sát cá tính con ngời Tản Đà ảnh hởng tới sáng tạo
Trang 3nghệ thuật là một con đờng tìm tới giá trị nghệ thuật đích thực của thơ văn
ông
II Lịch sử vấn đề
Lịch sử nghiên cứu Tản Đà là một lịch sử phong phú, đa dạng Ngời takhai thác tài năng này ở nhiều khía cạnh, nhiều phơng diện nhng hầu nh vẫncòn cha đầy đủ, cha thoả mãn Đã hơn 80 năm kể từ khi Tản Đà xuất hiện trênvăn đàn văn học Việt Nam đến nay việc nghiên cứu Tản Đà vẫn là một vấn đềmới mẻ và hấp dẫn không chỉ đối với riêng giới phê bình nghiên cứu mà còn
đối với nhiều thế hệ độc giả Việt Nam
Vấn đề mà luận văn đặt ra là " ảnh hởng của tính con ngời Tản Đàtrong thơ văn ông" thực ra đã đợc rất nhiều nhà nghiên cứu phê bình nói đến.Tuy vậy những bài viết này mới chỉ dừng lại ở một vài đặc điểm nổi bật nhấthoặc chỉ ở mức độ điểm qua sơ lợc chứ cha có một công trình nào nghiên cứumột cách thực sự có hệ thống, độc lập, công phu và toàn diện về vấn đề này
Phạm Quỳnh trong bài viết " Mộng hay mị" đăng trên Tạp chí NamPhong số 7 - 1918 đã nói cái "ngông" trong thơ văn của Tản Đà: " Mình đốivới mình thì muốn ngông thế nào cũng đợc, càng có cái đức tự tin mạnh lạicàng hay vì biết vậy mình mới làm nên sự nghiệp Nhng đem cái " ngông" ấy
là phô diễn trong mấy chục tờ giấy thì thực quả đáng vậy"
Thiếu Sơn trong " Phê bình và cảo luận" ( đăng trên báo Nam Kỳ 1933) cũng đã nhận thấy ở Tản Đà " ngông hơn hết thảy" và " đặc sắc trongcon ngời tiên sinh là cái "tình" … Đến Xuân Diệu với bài viết " Công của thi Đến Xuân Diệu với bài viết " Công của thi
-sĩ Tản Đà" ( in trên báo Ngày nay số 167 - 1939) đã khẳng định : " say,ngông và mộng, ba điều ấy Tản Đà làm cho thơ ông nhẹ nhàng, phóngkhoáng… Đến Xuân Diệu với bài viết " Công của thi"
Tiếp theo Xuân Diệu rất nhiều các nhà phê bình nghiên cứu khi viết vềTản Đà đều có nói đến ba nét tính cách trên Tuy có đi sâu vào chứng minh,phân tích song không phải để nghiên cứu sự ảnh hởng của cá tính con ngờiTản Đà vào thơ văn mà chủ yếu lại nhằm làm sáng tỏ một nhận định của ngờiviết đối với Tản Đà
Vũ Ngọc Phan cuốn " Nhà văn hiện đại: ( 1942) có nói đến những đặc
điểm nổi bật trong cá tính Tản Đà ảnh hởng vào thơ văn nh : Say, ngông, đatình … Đến Xuân Diệu với bài viết " Công của thi Tuy vậy ônglại xem đây là những dẫn chứng để chứng minh cho nhận
định của mình về Tản Đà : " Nếu đọc tất cả thơ của Tản Đà ta có thể thấy ông
có t tởng rất rõ rệt , ông theo chủ nghĩa khoái lạc, ông theo chủ nghĩa vật chất,thờ tình yêu, ham chơi, ham rợu, thích ăn ngon … Đến Xuân Diệu với bài viết " Công của thi"
Trang 4Một công trình nghiên cứu đầu tiên khá công phu về Tản Đà đó là cuốn
" Tản Đà khối mâu thuẫn lớn" của Tầm Dơng đã giành chơng 2 trong phần I
để nói về cá tính Tản Đà trong thơ văn với nhan đề " Thân thể và cá tính".Trong chơng này Tầm Dơng cũng nêu lên một số đặc điểm nh ngông, đa tình,thích ăn ngon, hay uống rợu, nhng Tầm Dơng lại cho rằng đây là những đặc
điểm của một Tản Đà " thi sĩ tiểu t sản đầu tiên của văn học Việt Nam"
Đáng lu ý là bài viết "Tản Đà, Nguyễn Khắc Hiếu thân thế và sự nghiệpvăn chơng" ( đăng trên báo Tân việt - 1958) của tác giả Hà Nh Chi Đây làmột bài viết tuy có dung lợng ít song tác giả đã khái quát gần nh đầy đủ về cátính Tản Đà trong đời và trong thơ, một Tản Đà đa tình, đa cảm, hay sầu, haymơ mộng , ngông và tôn thờ khoái lạc … Đến Xuân Diệu với bài viết " Công của thi? Trong bài viết này ông cũng phêbình nghiêm khắc cách nhìn cực đoan của Vũ Ngọc Phan về Tản Đà, ôngviết : " luận điệu của Vũ Ngọc Phan có hơi quá đáng, vì thật ra Tản Đà khôngphải sống ở đời chỉ cốt tìm sự thoả mãn cho vật dục … Đến Xuân Diệu với bài viết " Công của thi Tản Đà bi quan chán
đời rồi tìm đến "khoái lạc" nh tìm một lối thoát chứ không phải vì thiếu "khoái lạc" rồi mới bi quan chán đời … Đến Xuân Diệu với bài viết " Công của thi" Tuy những lời trên cha phải đã chínhxác hoàn toàn nhng nó đã chứng tỏ một cái nhìn tích cực, khách quan rất cầnthiết lúc bấy giờ Chỉ tiếc rằng trong khuôn khổ một phần bài viết , Hà Nh Chimới chỉ nêu lên mà cha đi sâu vào vấn đề này và cũng cha nói lên đợc sự ảnhhởng sâu sắc giữa cá tính con ngời Tản Đà với cái sáng tác của ông, tất cả mớidừng lại ở sự gợi mở
Đến Nguyễn Đình Chú trong bài " Thay lời giới thiệu" của cuốn " Thơvăn Tản Đà đã có sự so sánh đối chiếu thực sự giữa cá tính Tản Đà trong đời
và trong thơ Nguyễn Đình Chú nhận thấy ở Tản Đà " một cá tính độc đáo,một nhân cách thanh cao" trong đó cái ngông của Tản Đà là " cái ngông từngoài đời ngông vào trang sách", Tản Đà không chỉ là ông tuý trong đời màcon là ông tuý trong văn chơng" và " cái cảm hứng phong tình cũng đã trởthành một phơng diện của phong cách đậm đặc ở Tản Đà… Đến Xuân Diệu với bài viết " Công của thi" Tuy vậy nhữngnhận định của Nguyễn Đình Chú còn tản mạn trong bài viết cha có một hệthống lôgíc rõ ràng
Tựu chung lại có thể thấy: Các nhà nghiên cứu qua các thập niên củathế kỷ XX đã gặp nhau ở nhận định: cá tính con ngời Tản Đà ảnh hởng rõ rệt
và sâu sắc trong văn chơng ông Tuy vậy, các nhà nghiên cứu mỗi ngời chỉ tìm
đến một khía cạnh nhất định và phiến diện, vẫn còn những lý giải cực đoan
Đặc biệt vấn đề này trong lịch sử nghiên cứu Tản Đà cha trở thành một đối ợng nghiên cứu chuyên biệt Do đó cho đến nay " ảnh hởng của cá tình con
Trang 5t-ngời Tản Đà trong thơ văn ông" vẫn cần tiếp tục tìm tòi, nghiên cứu, tìm hiểumột cách khách quan, toàn diện và có hệ thống.
Với một đề tài tơng đối rộng mang tính tổng quát cộng với khuôn khổhạn hẹp của một luận văn và khả năng có hạn của ngời viết do vậy khôngtránh khỏi những hạn chế và thiếu sót nhất định Chúng tôi rất mong nhận đợc
sự chỉ bảo, những ý kiến đóng góp của ngời đọc để luận văn đợc đầy đủ vàhoàn thành hơn
III Nhiệm vụ nghiên cứu.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là giới thuyết về khái niệm " kháiniệm " cá tính" Đồng thời đi sâu vào khảo sát, phân tích xác định những nétcá tính con ngời Tản Đà trong cuộc sống và trong thơ văn Tìm hiểu và xác
định những đặc sắc riêng biệt của cá tính Tản Đà ảnh hởng vào thơ văn ônggóp phần vào những sáng tạo nghệ thuật độc đáo của Tản Đà
IV Phơng pháp nghiên cứu.
xuất phát từ nhiệm vụ của đề tài, luận văn sử dụng những phơng phápsau
Chơng 2: Dấu vết của cá tính con ngời Tản Đà trong thơ văn
Chơng 3: Cá tính con ngời Tản Đà ảnh hởng tới việc hình thành phongcách nghệ thuật độc đáo của ông
Trang 6Phần nội dung Chơng 1 :
Khái niệm "cá tính", sự ảnh hởng của cá tính con ngời nhà văn
trong sáng tác đến Tản Đà.
1.1 Khái niệm về " cá tính"
Cá tính là khái niệm Tâm lí học nhằm chỉ tính cách riêng của mỗi ngời
để phân biệt với ngời khác" [ 3]
* Khái niệm " cá tính" có sự gắn bó với tính cách nhng không đồngnhất với tính cách vì tính cách là khái niệm dùng để chỉ đặc điểm tâm lý củatừng ngời, mỗi ngời đều có một tính cách, có ngời hiền lành, có ngời thẳngthắn, mạnh mẽ, cũng có ngời nhút nhát, yếu đuối… Đến Xuân Diệu với bài viết " Công của thi
Nhng không phải ai cũng đợc gọi là ngời có cá tính Nói khác đi kháiniệm cá tính chỉ đợc giành cho những ngời có tính cách đặc biệt khônh chỉgiúp họ phân biệt với những ngời bình thờng khác mà còn tạo nên một dấu ấnriêng biệt, độc đáo, một sự sống khác biệt, cụ thể nhất định trong không gian
và thời gian :
Tuy vậy: cá tính của con ngời muốn đợc xã hội thừa nhận thì phải dựatrên tài năng, trí tuệ thực sự, phải có nhân cách cao đẹp khiến nhiều ngời cảmphục, phải là luôn biết đấu tranh cho lẽ phải Những ngời có cá tính thờng dễrơi vào cực đoan nhng cực đoan phải nằm trong khuôn khổ có thể chấp nhận
đợc ,nghĩa là sự cực đoan ấy nhằm thể hiện thái độ của chủ thể trớc những cáixấu của phi nghĩa và mong muốn hớng đến một tơng lai tốt đẹp hơn
Trong cuộc sống của con ngời, cá tính ảnh hởng, chi phối rất sâu sắc
đến tính cách, sở thích, t tởng, hành động, thái độ của chủ thể trong đời sống
Với văn học nghệ thuật (nói chung) cá tính con ngời nhà văn không chỉ
ảnh hởng chi phối ở phơng diện đời sống sinh hoạt của các nhà văn mà còn cóthể ảnh hởng vào tác phẩm văn chơng của họ Tuy vậy không phải nhà vănnào cũng có cá tính và không phải những nhà văn có cá tính thì cá tính ấy đều
ảnh hởng vào sáng tác thơ văn của họ Thực tế cho thấy có rất nhiều nhà vănngay cả những nhà văn lỗi lạc nh Nguyễn Trãi, Nguyễn Du thì dấu ấn của cátính con ngời các ông trong sáng tác văn rất mờ nhạt mặc dù có tính sáng tạocủa Nguyễn Trãi, nguyễn Du lại hết sức mạnh mẽ Nguyễn Trãi là ngời đầutiên đa vào văn chơng lý tởng nhân nghĩa mà sau này đợc phát triển đến đỉnhcao ở Nguyễn Đình Chiểu trong văn học trung đại
"Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân"
Nguyễn Trãi cũng là ngời đa vào văn học trung đại số phận của ngờidân vốn luôn bị coi thờng , kinh rẻ trong văn chơng
Trang 7"Nớng dân đen trên ngọn lửa hung tànVùi con đỏ xuống dới hầm tai vạ… Đến Xuân Diệu với bài viết " Công của thi"
Từ Nguyễn Trãi chữ Nôm mới có chỗ đứng chính thức trên văn đàn vàchứng minh đợc khả năng u việt của mình trong việc thể hiện những cung bậctình cảm tinh tế của tâm hồn con ngời (Với tập thơ"Quốc âm thi tập" gồm 254bài trong khi đó thơ viết bằng chữ hán: "ức Trai thi tập" chỉ có 105 bài) Lần
đầu tiên trong văn học trung đại những hình ảnh của cuộc sống thờng nhật nh
bè muống, cây chuối, giậu mồng tơi… Đến Xuân Diệu với bài viết " Công của thi đã đi vào thơ Nguyễn Trãi một cách tựnhiên, sinh động và tràn đầy sức sống
"Ao cạn vớt bèo hái muống Đìa thanh phát cỏ ơm sen"
Hơi thở của cuộc sống đời thờng tràn vào trong thơ của ông tạo nên mộtkhông khí văn chơng vừa mới mẻ vừa gần gũi Không dừng lại đó NguyễnTrãi còn là ngời tạo ra những biến thể độc đáo trong thơ ông Từ câu thơ bảychữ của thể thơ thất ngôn chúng ta bắt gặp những câu thơ sáu chữ
- "Rồi hóng mát tha ngày trờng"
Hay - "Gió nơi đâu gợng mở xem"
Có thể xem Nguyễn Trãi là ngời có công đầu trong việc rút ngắnkhoảng cách giữa văn học với đời sống
Đến Nguyễn Du cá tính sáng tạo của nhà thơ không chỉ trong nền vănhọc Việt Nam mà còn đợc cả thế giới thừa nhận Lần đầu tiên trong văn họctrung đại Việt Nam những ngõ ngách phức tạp trong đời sống nội tâm vốn vôcùng đa dạng phong phú của con ngời đợc phát hiện và miêu tả bằng ngônngữ nghệ thuật hết sức uyển chuyển, mềm mại Ngôn ngữ tiếng Việt đạt đến
độ tinh tế, điêu luyện trở thành mẫu mực của ngôn từ nghệ thuật "Không chỉvậy Nguyễn Du còn có biệt tài nắm bắt và miêu tả chính xác và tinh tế tâmtrạng, thần thái nhân vật chỉ qua vài nét " [ 3 ]
Miêu tả tâm trạng vừa đau đớn vừa tủi hổ của Thuý Kiều khi gặp lạiThúc Sinh ở nhà Hoạn Th, Nguyễn Du đã viết
"Cùng trong một tiếng tơ đồngNgời ngoài cời nụ ngời trong khóc thầm"
Chỉ với một từ "ngây" Nguyễn Du đã lộ tả một cách thần tình cáikhoảng khắc "xao lòng" thật hiếm hoi của tên quan vô lại Hồ Tôn Hiến kẻsẵn sàng dùng tới mọi thủ đoạn bẩn thỉu nhất để đạt đợc mục đích của mình:
kẻ không có lấy một chút tình ngời, không cần lòng tự trọng… Đến Xuân Diệu với bài viết " Công của thi Vậy mà khi
Trang 8nghe tiếng đàn của Thuý Kiều trong bữa tiệc mừng thắng lợi cũng phải "ngâyra" ngơ ngẩn thẩn thờ:
"Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình"
Đời sống nội tâm của nhân vật đợc Nguyễn Du thể hiện hết sức sinh
động và sâu sắc Cùng với những t tởng, quan niệm rất mới mẻ và tiến bộ vềcon ngời, tình yêu, cuộc sống, (ông ca ngợi tình yêu tự do, khẳng định sự bình
đẳng trong việc định đoạt hạnh phúc của bản thân, điều mà văn học Trung đạikhông bao giờ cho phép đợc nói tới), cảm quan hiện thực của Nguyễn Du lạithấm nhuần tinh thần nhân đạo cao cả Chính vì thế "Truyện Kiều" và Nguyễn
Du đã trở thành một đỉnh cao nghệ thuật mà cho đến ngày nay vẫn cha có mộtnhà văn nào, một tác phẩm nào có thể vợt qua
Nhng điều đáng nói ở đây là mặc dù cá tính sáng tạo của Nguyễn Trãi,Nguyễn Du rất mạnh mẽ, độc đáo… Đến Xuân Diệu với bài viết " Công của thi song để tìm thấy sự ảnh hởng của cátính con ngời vào tác phẩm của cả hai nhà văn nay quả thật không dễ dàng
Điều này không có nghĩa là Nguyễn Trãi hay Nguyễn Du là ngời không có cátính mà bởi vì cá tính và cả tính sáng tạo là hai khái niệm khác nhau, nó có thểliên quan , ảnh hởng, là chi phối lẫn nhau nhng không phải là một
Cá tính của con ngời hay cá tính sáng tạo đều là phẩm chất của con
ng-ời có ý thức về cá nhân một cách tự giác Con ngng-ời có cá tính là con ngng-ời có ýthức tự tách mình thành một thế giới, khẳng định mình theo một bản giá trịriêng ở những cá tính lành mạnh, cá tính của con ngời có thể độc lập nhngkhông đối với cộng đồng
"Cá tính sáng tạo là biểu hiện rực rỡ của cái phạm trù cái chủ quan cáicá biệt, cái đặc thù, cái không lặp lại trong tài năng nghệ sỹ"[ 3] Cá tính sángtạo là cơ sở của phong cách nghệ thuật do vậy nó chi phối thậm chí quyết định
đến nội dung, hình thức của tác phẩm Điều này có thể khẳng định rằng cátính con ngời nhà văn chỉ ảnh hởng sâu đậm và rõ nét vào tác phẩm văn họccủa nhà văn đó khi nó ảnh hởng, chi phối cá tính sáng tạo của ngời nghệ sĩ, trởthành một phơng diện, một đặc điểm nhất định trong cá tính sáng tạo Vì thế
có những nhà văn mà cá tính con ngời ảnh hởng một cách toàn diện vào tác
Trang 9phẩm, trở thành cá tính sáng tạo nh Tản Đà, Nguyễn Tuân… Đến Xuân Diệu với bài viết " Công của thi Ngợc lại cũng cónhững nhà văn mà cá tính con ngời và cá tính sáng tạo không gần gũi nhauthậm chí còn trái ngợc nhau nh Vũ Trọng Phụng, Nam Cao… Đến Xuân Diệu với bài viết " Công của thi
Vũ Trọng Phụng ở ngoài đời là một ngời sống rất nghiêm túc, khiêmtốn, bản tính hiền làng nhng trong tác phẩm của ông lại gay gắt nhiều khi đếncực đoan.Ông đi vào khai thác những đề tài ở mặt tăm tối nhất của xã hội t sảnthành thị với những đủ mọi sự đồi bại xâu xa Trớc đây cũng do cái nhìn phiếndiện một chiều, đồng nhất hai khái niệm " cá tính" và " cá tính sáng tạo" vớinhau, do đó nhiều nhà nghiên cứu đã kết luận rằng, một nhà văn viết về nhữngvấn đề ăn chơi truỵ lạc, lu manh, gái điếm … Đến Xuân Diệu với bài viết " Công của thi thì cũng phải là một ngời ănchơi truỵ lạc Chính vị nhận định một cách cảm tính, chủ quan nh vậy màtrong một thời gian dài ( từ sau 1954 đến 1986) Vũ Trọng Phụng và sự nghiệpsáng tác của ông đã bị hạ thấp, bị phủ nhận và trở thành một trong những vụ
án văn chơng phức tạp nhất trong lịch sử văn học Việt Nam
Cá tính và cá tính sáng tạo của nhà văn là hai khái niệm rất gần gũi vớinhau do đó để tạo ra sự nhầm lẫn, dễ bị đồng nhất vào nhau Việc nghiên cứu,xem xét, đánh giá vấn đề này dù ở tác giả nào cũng đòi hỏi một cái nhìnkhách quan, tỉnh táo, khoa học và công bằng
Nh vậy ảnh hởng của cá tính con ngời nhà văn vào văn chơng giữ mộtvai trò quan trọng tạo nên sự độc đáo trong cá tính sáng tạo và phong cáchnghệ thuật của nhà văn Ngời xa có câu " văn là ngời", Hàn Mạc Tử cũng từngnói :"ngời thơ phong vận nh thơ ấy" trên ý nghĩa đó chúng ta cùng đi vào tìmhiểu cụ thể sự ảnh hởng của cá tính nhà văn trong sáng tác đến Tản Đà
1.2 ảnh hởng của cá tính con ngời nhà văn trong sáng tác đến Tản
Đà.
Nền văn học trung đại Việt Nam đến Tản Đà trải qua gần mời thế kỷ.Khoảng thời gian ấy cùng với những bớc thăng trầm của lịch sử dân tộc, vănhọc trung đại đã đi hết chặng đờng của mình và hoàn thành sứ mệnh của mộtphạm trù văn học gắn liền với sự hình thành, phát triển và suy vong của chế độphong kiến
Tuy có một chặng đờng phát triển rất lâu dài nhng những nhà văn có cátính và dám sống với cá tính cuả mình trong thơ ca lại vô cùng ít ỏi Nguyênnhân chính là do nền văn học trung đại Việt Nam chịu sự thống trị của Nhogiáo và ý thức hệ phong kiến đã đặt ra những quy tắc, những định chế nghệthuật hết sức nghiêm khắc buộc nhà văn phải tuân theo khi sáng tác văn ch-
Trang 10ơng Do vậy trong một khoảng thời gian rất dài, nền văn học trung đại bịkhuôn mẫu hoá , công thức hoá trở nên khô cứng, khuôn sáo và thiếu tínhnăng động nghệ thuật Tiếng nói cá nhân của đời sống riêng t trở thành điềucấm kỵ, con ngời gồng mình lên với bổn phận và nghĩa vụ Đúng nh HoàiThanh trong lời nói đầu " Thi nhân Việt Nam" đã nhận xét: "
Một xã hội suốt mấy ngàn năm kéo dài một cuộc sống gần nh khôngthay đổi về hình thức cũng nh tinh thần Triều đại tuy bao lần hng vong giangsơn tuy bao lần đổi chủ, song mọi cuộc biến cố về chính trị ít khi ba động đến
sự sống nhân dân Từ đời này sang đời khác, đại khái chỉ có bấy nhiêu tập tục,bấy nhiêu ý nghĩa, bấy nhiêu tin tởng, cho đến những nỗi yêu, ghét, vui buồncơ hồ cũng nằm yên trong những khuôn khổ nhất định Thời gian ở đây đã ng-
ng lại và ngời ta chỉ sống trong không gian" (" Một thời đại trong thi ca - thinhân Việt Nam )
Tuy nhiên trong mấy ngàn năm đó đã xuất hiện những nhà văn mà conngời và tác phẩm của họ tuy cha làm nên một cuộc cách mạng thực sự có thểthay đổi căn bản lề thói cũ nhng đã tạo nên những xáo trộn nhất định trongnền văn học trung đại Việt Nam, thổi vào đó những luồng sinh khí mới, đa lạicho văn học trung đại các tác phẩm mang giá trị nghệ thuật đích thực Họchính là những nhà văn dũng cảm đã sống rất tự tin với cá tính của mình trongthơ văn bất chấp những ràng buộc khe khắt của văn học trung đại sự nghi kị,ghét bỏ của xã hội phong kiến
1.2.1 Những cá tính độc đáo trong văn học Việt Nam đến trớc Tản
Đà
Nền văn học trung đại cầm tù sức sáng tạo của nhà văn trong những môhình, khuôn mẫu cho trớc Nhng cá tính và cá tính sáng tạo của nhà văn lại làmột hiện tợng tất yếu là động lực của tiến bộ nghệ thuật Nó vợt ra ngoài tầmkiểm soát của lễ giáo phong kiến, vợt qua những khuôn thớc nghệ thuật giáo
điều của văn học trung đại để đi tìm các giá trị nghệ thuật mới
Song văn học trung đại luôn tìm cách ngăn cấm sự phát triển của cá tínhcon ngời nhà văn, do đó cá tính con ngời nhà văn không có cơ hội ảnh hởngmột cách toàn diện vào văn chơng nh trong văn học hiện đại sau này Chính vìvậy ảnh hởng cá tính con ngời nhà văn trong văn chơng trung đại mới chỉdừng lại ở một vài nét cá tính nổi trội nhất mà nhà văn vừa xem đó là cáchthức tự khẳng định bản lĩnh, khí phách, tài năng và nhân cách hơn đời của bảnthân lại vừa xem đó là một vũ khí để tuyên chiến với cái ác, cái xấu, cái phinghĩa trong xã hội đơng thời
Trang 11Trong khuôn khổ chơng I- chúng tôi chỉ xin đề cập đến một số nhà văntiêu biểu nhất trong đó sự ảnh hởng của cá tính nhà văn vào văn chơng đợc thểhiện tơng đối rõ nét và thống nhất.
Ngời đầu tiên phải nói tới là nữ sĩ Hồ Xuân Hơng Mặc dù cho đếnngày nay, chúng ta vẫn cha xác định một cách chính xác năm sinh, năm mấtcủa bà, nhng thông qua những giai thoại còn truyền tụng trong dân gian có thể
dễ dàng khẳng định rằng : Hồ Xuân Hơng là một hiện tợng văn học độc đáonhất không chỉ đối với văn học trung đại mà với cả nền văn học Việt Nam
Nổi bật trong con ngời Hồ Xuân Hơng là nét cá tính ngang tàng, mạnh
mẽ, sắc sảo, và đầy góc cạnh
Sống trong xã hội nam quyền mà thân phận ngời phụ nữ chỉ nh con sâu,cái kiến, Hồ Xuân Hơng là ngời phụ nữ đầu tiên, là ngời thứ nhất hay duy nhất
đã dõng dạc lên tiếng đòi quyền bình đẳng nam nữ, lên tiếng khẳng định vị trí,
vị thế và vai trò của mình một cách tự tin, kiêu bạc, và ngạo nghễ:
" Ví đấy đổi phận làm trai đợc Thì sự anh hùng há bấy nhiêu"
Những cuộc đối ứng thú vị với đám sĩ tử dốt nát đã khẳng định bản lĩnhngang tàng, thẳng thắn của Hồ Xuân Hơng khi không ngần ngại vạch trầnnhững ngu dốt, bịp bợm, giả tạo của những "hiền nhân quân tử" vốn đợc xem
là trụ cột, là giềng mối của xã hội phong kiến :
- "Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ
Lại đây cho chị dạy làm thơ"
- "Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông Chúng bảo nhau rằng : ấy … Đến Xuân Diệu với bài viết " Công của thi ái … Đến Xuân Diệu với bài viết " Công của thiuông"
Với Hồ Xuân Hơng một cái ngã cũng trở thành hành động phi thờng:
" Giơ tay với thử trời cao thấp Xoạc cẳng đo xem đất vắn dài"
Cùng với nét cá tính mạnh mẽ ngang tàng, Hồ Xuân Hơng còn là mộtnhà thơ của lòng yêu đời mãnh liệt Phải có một tình yêu đối với cuộc đời sâusắc và tha thiết lắm mới có thể viết nên những vẫn thơ tràn đầy lạc quan, tin t-ởng vào cuộc sống đến vậy cho dù bà đã phải nến trải rất nhiều những bi kịchcay đắng:
"Trớc nghe những tiếng thêm rền rĩ Sau giận vì duyên để mõm mòm Tài tử văn nhân ai đó tá
Thân này đâu đã chịu già tom"
Trang 12Bài thơ có lẽ đợc làm khi Xuân Hơng tuổi đã nhiều, mọi nỗi bất hạnhcủa cuộc đời đã trải qua, song dẫu bài thơ có sự bực tức, oán trách nhng vẫnthừa niềm tin tởng :
" Thân này đâu đã chịu già tom"
Niềm lạc quan tin yêu cuộc sống đã giúp mạch thơ Hồ Xuân Hơng luôntơi trẻ , khỏe khoắn và tràn đầy sức sống:
" Đêm ba mơi, khép cánh càn khôn, ních chặn lại kẻo
" Xiên ngang mặt đất rêu từng đám Đâm toạc chân mây đá mấy hòn"
Trớc một thiên nhiên nh vậy rõ ràng nhà thơ say mê Tấm lòng hồnnhiên yêu đời của Hồ Xuân Hơng mang đến cho thiên nhiên chất sống ngồnngộn nh nhựa mùa xuân :
"Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc Đầm đìa lá liễu giọt sơng reo "
Những sự vật hiện tợng vốn quen thuộc của cuộc sống đời thờng nh:
"Quả mít", " ốc nhồi", " Cái quạt" " Bánh trôi nớc" đi vào thơ bà đều chứa
đựng một quan niệm mới mẻ, hiện đại về thế giới nhân sinh và phẩm chất conngời, về lối sống và quan hệ nam nữ, về tình yêu và hôn nhân gia đình Trong
đó nổi bật lên là khát vọng yêu thơng và đợc yêu thơng, là ớc muốn về cuộcsống tự do, bình đẳng, một tình yêu thuỷ chung son sắt, là lời thức tỉnh haykêu gọi về lòng bao dung, độ lợng, nhân ái giữa ngời với ngời:
" Có phải duyên nhau thì thắm lại Đừng xanh nh lá bạc nh vôi"
Tất cả tạo nên cho Hồ Xuân Hơng một tiếng nói riêng, một cá tính độc
đáo giữa đời và thơ , giữa thơ và đời không thể lẫn với ai
Tiếp theo Hồ Xuân Hơng, nền văn học trung đại Việt Nam có thêm mộtcá tính độc đáo đó là Nguyễn Công Trứ Con ngời này không chỉ nổi tiếng bởi
Trang 13tài văn võ song toàn mà con nổi tiếng bởi cá tính ngang tàng ngông nghênhluôn tạo cho mình một lối sống khác biệt mà thời ấy không ít ngời đã xem ông
là ngông cuồng hay quái dị Ông cũng nổi tiếng bởi sự mâu thuẫn trong t tởng:vừa hào hứng nhập cuộc vừa bất mãn với thời cuộc; vừa muốn khẳng định vịthế vai trò của mình trong xã hội lại không thể vợt lên khỏi khuôn khổ một "tôi trung" nhiều khi đến cực đoan
Nguyễn Công Trứ bớc vào cuộc đời cũng nh trong văn chơng bằng mộtchữ " Ngông" Cái "ngông" dựa trên tài đức trí tuệ, thiên lơng hơn ngời Cái "ngông" của một con ngời ý thức đợc rất rõ tài năng và bản lĩnh của mình, do
đó luôn muốn khẳng định và đã dám khẳng định một cái " tôi" ngang tàng,lồng lộng với đất trời :
" Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc
Nợ tang bồng vay trả, trả vay Chí làm trai nam, bắc, đông, tây
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể"
" Ngông" nên luôn giữ một cách sống khác thờng nh muốn thách thức,muốn chọc tức thiên hạ khi cỡi bò vàng, cổ đeo lục lạc, sau lng dẫn theo mộtcô gái trẻ ung dung, ngất ngởng giữa muôn ngời Ông lại còn xem đó là một
điều thích thú nên khi họa lại cái t thế của mình vào thơ, chúng ta cứ thấy hiệnlên một nụ cời hóm hỉnh rất đắc ý :
" Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngởng
… Đến Xuân Diệu với bài viết " Công của thi Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì
Bụt cũng nực cời ông ngất ngởng"
" Ngông " còn là một cách để nhà thơ phản ứng lại với những ô trọc, bấtcông của xã hội đơng thời Vì thế đây là một cái " ngông" rất đáng trân trọng
Nét cá tình thứ hai ảnh hởng tơng đối rõ nét trong thơ Nguyễn Công Trứ
là niềm lạc quan, bay bổng với cuộc đời Sống trong hoàn cảnh nghèo khổ đếncay cực nhng Nguyễn Công Trứ vẫn luôn tin tởng :
" Còn trời, còn đất, còn ta mãi
Có lẽ ta đâu mãi thế này"
Liên tiếp thất bại trên con đờng thi cử nhng ông vẫn không một chút biquan chán nản ở ông luôn toát lên một phong thái ung dung, một nụ cời vuisống, rạng rỡ đầy niềm tin :
" Đã từng tắm gội ơn ma móc Cũng phải xênh xang hội gió mây
Trang 14Hãy quyết phen này xem thử đã
Song còn tuổi trẻ chịu đâu ngay
Với Nguyễn Công Trứ, mọi việc đều có thể thành công nếu con ngờibiết vợt lên hoàn cảnh:
- "Hữu trí sự cánh thành"
- "Hữu kỳ đức ắt trời kia chẳng phụ"
Nét cá tính thứ ba ở Nguyễn Công Trứ đó là: ông là con ngời của hành
động Nguyễn CôngTrứ đã hoạt động không biết mệt mỏi để thực hiện lý tởngcủa mình Tuổi trẻ thì say mê đèn sách, hăm hở đi thi, hăm hở vào đời nhữngmong đem cái "chí nam nhi" mà dọc ngang trời đất cho thoả chí tam bồng
Nguyễn Công Trứ cho rằng con ngời không phải sinh ra và chết đi màphải sống có ích cho đời, phải lu danh với đời:
"Đã mang tiếng ở trong trời đấtPhải có danh gì với núi sông"
Nguyễn Công Trứ đã nếm trải mọi vinh nhục trên đờng đời: bốn mơimốt tuổi đờng công danh mới mở nhng hai mơi tám năm làm quan có tới nămlần bị giáng chức Có lúc làm đến chức đại tớng nhng có khi phải làm anh línhthú ở biên thuỳ Nhng Nguyễn Công Trứ vẫn hoạt động hăng say không ngạigian lao vất vả Ông xin đi trấn áp các cuộc khởi nghĩa, dẹp giặc lân bang, đangời đi khai khẩn đất hoang lập nên các vùng dân c trù phú chính vì thế trongthơ ông luôn tiềm tàng một khát vọng đợc hành động, đợc đem tài mình phục
vụ cho giang sơn, xã tắc ông xem đó là nhiệm vụ của mọi "kẻ sỹ" đang đứngchân trong thiên hạ này:
"Sỹ làm cho bách thế lu phơng Trớc là sỹ sau là khanh tớng"
Nguyễn Công Trứ còn là một con ngời đa tình Ông nặng nợ với điệuphách trống chầu của thể ca trù, nhng cũng nặng nợ với những "Yến Yến H-ờng Hờng", "Hồng Hồng Tuyết Tuyết" ở chốn bình khang để rồi dệt nên biếtbao giai thoại thú vị của những cuộc tình gió trăng, những khoảng khắc xaolòng và hai mơi năm sau vẫn còn nhận ra một ngời trong câu hát:
"Giang sơn một gánh giữa đồng"
Cuộc đời Nguyễn Công Trứ không vợt ra ngoài phạm vi của chữ "trungquân" nhng thơ văn của ông đã thực sự tạo nên tiếng nói riêng biệt ghi lạidấu ấn một cá tính độc đáo trong văn học trung đại trên chặng đờng vận độngcủa nó
Trang 15Tuy sống cùng thời đại với Nguyễn Công Trứ nhng Cao Bá Quát lạikhông bị bó buộc vào quan niệm Nho giáo chính thống chính vì thế cá tínhcủa Cao Bá Quát đã vợt lên Nguyễn Công Trứ để toả sáng một khí phách anhhùng có thể xoay trời chuyển đất.
Chúng ta cũng bắt gặp ở Cao Bá Quát một cá tính ngang tàn mạnh mẽ.Nhng khác với Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát tài cao nhng chí không ở côngdanh Ông sống tự do phóng túng ngoài thế tục Cái "ngông" của Cao BáQuát là cái "ngông" của một ngời giám làm điều cấm kỵ tin vào chính mình
và dám hành động để thay đổi đời mình Ông xem thờng danh lợi, "coikhinh" cả bộ mặt của triều đình phong kiến :
"Ghé mắt coi khinh phờng mũ áo Cúi đầu làm ngựa bé nhi đồng"
Không khuất phục trớc những bất công, thối nát của xã hội phong kiến
đơng thời, ông lãnh đạo nông dân khởi nghĩa.Cái khát vọng tháo cũi sổ lồng,
đập tan ách áp bức bất công để xây dựng một xã hội công bằng nhân ái chonhững ngời lao khổ đã khiến ông đứng dậy chống lại cả triều đình phongkiến Cho đến lúc cuối đời, cái t thế bất khuất, kiên gan, không gì lay chuyển
ấy vẫn hiện lên kỳ vĩ, hiên ngang, uy nghiêm và đầy khí phách:
" Một chiếc cùm lim chân có đế
Ba vòng xích sắt bức thi vơng"
Không chỉ có thế, Cao Bá Quát còn là ngời sống rất phóng túng, tự do,không theo khuôn phép nào Ngay từ nhỏ thân sinh của Cao Bá Quát đã nhậnxét: "văn của Bá Quát hơn về tài tứ nhng kém về khuôn phép" vì vậy mặc dùtài học thức uyên thâm của ông lừng lẫy thiên hạ nhng ông thi mãi không đậu,
đậu rồi lại bị đánh trợt Thơ văn của ông chứa chở cái khát vọng tung hoànhcùng khí phách phi thờng ấy cho nên cũng bứt phá ra khỏi những niêm luật cố
định của văn học trung đại
Với Cao Bá Quát, trong tất cả những thứ có mặt giữa trời đất này ôngchỉ cúi đầu trớc một cành mai:
"Nhất sinh đê thủ bái mai hoa"
Tuy chặng đờng sáng tác của Cao Bá Quát không dài, tác phẩm lại bịmất mát sau khi ông mất, song với những gì còn lại cũng đủ để tạc vào nềnvăn học Việt Nam một nhân cách thanh cao,một cá tính độc đáo, một khíphách anh hùng
Ngời tiếp theo phải kể đến là nhà văn Nguyễn Đình Chiểu, một ngôi saosáng trên bầu trời văn học nớc nhà thế kỷ XIX Ông và sự nghiệp văn chơng
Trang 16của ông đã trở thành nơi hội tụ và phát sáng những tinh hoa của thiên nhiên vàcon ngời Nam Bộ.
Từ cuộc đời và thơ văn, có thể thấy cá tính Nguyễn Đình Chiểu thểhiện trớc hết ở lòng yêu đời tha thiết, luôn lạc quan tin tởng vào tơng lai
Lòng yêu đời của Nguyễn Đình Chiểu đáng trân trọng ở chỗ dẫu trongthực tại đen tối, đau buồn bao nhiêu ông cũng không bao giờ có cái nhìn biquan, yếm thế, luôn giữ niềm tin vững chắc vào một ngày mai tơi sáng sẽ đến.Khi liên tiếp ghánh chịu những bi kịch to lớn của cuộc đời: mẹ mất, ngời yêuphụ bạc, đờng công danh lỡ làng, bệnh tật hành hạ, Nguyễn Đình Chiểu trơtrọi giữa đời với hai bàn tay trắng và đôi mắt mù loà Nhng sóng gió cuộc đờikhông quật ngã nổi ông, trái lại càng làm cho nhân cách, bản lĩnh của ôngthêm chói sáng Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu là một quá trình đấu tranhkhông khoan nhợng với bệnh tật để tự vợt mình và khẳng định mình Dù khókhăn, vất vả, đói nghèo, Nguyễn Đình Chiểu vẫn lạc quan, vui sống Tiếng thơcủa ông luôn ngân vang lên tình yêu đối với cuộc đời, con ngời và thiên nhiênNam Bộ:
"Trên trời ma móc, gió mâyDới thời non nớc, cỏ cây muôn loài
Giữa thời nhà cửa đền đàiNăm hành tóm việc ba tài nhỏ to
Ví dầu tạo hoá mấy lòHoá công mấy thợ, một pho Ngũ hành"
Chính nhờ tâm hồn lạc quan, khoẻ khoắn cho nên nhà thơ đã gửi gắmnhững ớc mơ khát vọng mà mình cha đạt đợc vào những nhân vật mà ông rấtmực yêu mến: Lục Vân Tiên bị mù đã đợc tiên ông cho thuốc làm sáng mắt,trở về hạnh phúc bên Kiều Nguyệt Nga và đờng công danh hoạn lộ Vị KỳNhân S trong "Ng tiều y thuật vấn đáp" tự chọc mù mắt mình để không muốnthấy cuộc đời biến loạn Nhng dù sống trong mù loà tăm tối, Kỳ Nhân S vẫnnhìn thấy sau cơn bão táp của quê hơng là ngày mai tơi sáng:
"Sau trời Thúc Quý tan mâySông trong bể lặng mắt thầy sáng ra"
Đó cũng chính là niềm tin của Nguyễn Đình Chiểu Niềm tin ấy luôncháy sáng trong suốt cuộc đời ông Khi đất nớc chìm trong cơn biến loạn ,tiếng thơ của Nguyễn Đình Chiểu vẫn cất lên khảng khái, dứt khoát vớimộtniềm tin vững chắc, không gì lay chuyển:
"Ngày nào trời đất an ngôi cũ
Trang 17Mừng thấy non sông bặt gió tây"
Chính niềm tin ấy đã giúp Nguyễn Đình Chiểu đứng vững trong mọi thửthách nghiệt ngã của cuộc đời đồng thời thắp lên ngọn lửa hy vọng và lòngyêu nớc nồng nàn cho hàng triệu ngời dân Việt Nam (đặc biệt là những ngờidân Nam Bộ)
Cùng với lòng yêu đời mãnh liệt, Nguyễn Đình Chiểu còn là ngời thẳngthắn, trung thực, yêu ghét phân minh, chính tà rõ ràng
Nguyễn Đình Chiểu luôn đứng về phía lẽ phải, về cái đúng để kiênquyết lên án, phủ nhận cái xấu, cái ác, cái bất lơng ở ông có sự nhận thức rấtrạch ròi trong t tởng và thế giới quan Cá tính đó đi vào thơ văn trở thành lý t-ởng nhân nghĩa rất cao đẹp mà cốt lõi là tình yêu nớc thơng dân sâu sắc.Chính vì hiểu rõ bản chất của xã hội phong kiến lúc mạt vận cùng cuộc sốngkhốn quẫn của ngời nông dân, ông không ngần ngại nói lên chính kiến củamình Nhân vật ông Quán trong "Lục Vân Tiên" đã khẳng định lập trờng và ttởng của Nguyễn Đình Chiểu:
"Quán rằng ghét việc tầm phàohét cay ghét đắng ghét vào tận tâm
Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm
Để dân nên nỗi sa hầm sẩy hang
Ghét đời U, Lệ đa đoanKhiến dân luống chịu lầm than muôn phần"
Khi kẻ thù phơng Tây xâm phạm đến từng " tấc đất, ngọn rau, vùa
h-ơng, bát nớc" của quê hh-ơng, ông đã đứng hẳn về phía những nghĩa quân đánhTây dựng nên bức tợng đài bất tử về một tập thể nông dân anh hùng trong
"Văn tế nghĩa sỹ Cần Giuộc":
"Mời năm công vỡ ruộng cha ắt còn danh nổi nh phao Một trận nghĩa đánh Tây tuy là mất tiếng vang nh mỏ"Nguyễn Đình Chiểu là một trong những nhà thơ đầu tiên kêu gọi nhândân chống Pháp Ông trân trọng, yêu quý quê hơng bao nhiêu thì căm ghétthực dân xâm lợc bấy nhiêu Mà ông đã ghét là"ghét cay ghét đắng, ghét vàotận tâm", ghét muốn ra "ăn gan, cắn cổ" quân cớp nớc Ông đã yêu, đã thơng
là hết lòng ca ngợi bênh vực, bảo vệ, trân trọng:
"Làm ngời trung nghiã đáng bia son
Đứng giữa càn khôn tiếng chẳng mòn Cơm áo đền bồi ơn đất nớc
Râu mày giữ vẹn phận tôi con"
Trang 18Chính bởi lòng yêu nớc nồng nàn và sự rạch ròi trong t tởng cũng nhtrong thế giới quan, luôn đứng về phía lẽ phải,do vậy Nguyễn Đình Chiểu đãvợt qua đợc những định kiến của văn học trung đại để tạo nên môt tiếng nóiriêng - tiếng nói của lý tởng nhân nghĩa cao đẹp.
Văn học trung đại Việt Nam đến Tú Xơng đã đi đến chặng cuối củamình Con ngời sinh ra giữa thời kỳ bi thơng nhất của lịch sử dân tộc này đãgóp cho nền văn học nớc nhà một chân dung văn học đầy cá tính
Tú Xơng cũng đánh dấu con ngời mình trong văn chơng bằng một cái
"ngông" Nhng nếu nh Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát lấy cái "ngông" đểkhẳng định khí phách, tài năng của mình thì đến Tú Xơng - khi xã hội phongkiến đã đến hồi mạt vận, mọi giá trị bị đảo ngợc, đồng tiền lên ngôi, nhânphẩm và lơng tâm con ngời trở thành thứ yếu - do vậy cái "ngông" của Tú X-
ơng không còn bóng dáng khí phách nữa, tuy cũng có cái ngang tàng, cái pháphách nhng đã thấm rất sâu cái d vị cay đắng, chua chát, sự bi quan chán nản
có pha cả cái cời cợt, mỉa mai, cay cú:
"Đeo tiếng văn chơng cho thế mỉaCực lòng cha mẹ đẻ con ra"
Bên cạnh cái "ngông" Tú Xơng còn là một ngời rất đa tình Cốt cách đatình ở con ngời ông đợc thể hiện một cách mạnh bạo, phong phú, ở nhiều ph-
ơng diện với nhiều tâm trạng tình cảm khác nhau
Đa tình không có nghĩa chỉ thiên về tình yêu đôi lứa mà đa tình còn đểchỉ những ngời giàu tình cảm, dễ đồng cảm với mọi nỗi bất hạnh của con ngờitrong cuộc đời Chính vì đa tình nên thi sĩ thờng đa cảm, hồn thơ tú Xơng rấttinh nhạy với mọi biến thái của cuộc đời và con ngời Ông ý thức đến đau đớnthực trạng đời thừa của bản thân:
"Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
Có chồng hờ hững cũng nh không"
Ông nhìn thấy mọi sự đảo lộn trong thời đại mình: sông nên bãi, lànghoá phố, con khinh bố, vợ chửi chồng, kẻ dốt nát thì quyền cao chức trọng,
Trang 19ngời thực tài lại bị bỏ rơi , bị hắt hủi, vùi dập Trớc thực trạng ấy ông vừa đau
đớn, vừa day dứt, vừa bất lực:
"Đắp tai ngoảnh mặt làm ngơ
Rằng không cũng chịu, rằng khờ cũng xong"
Nhà thơ chỉ nghe một tiếng ếch trong đêm vắng cũng giật mình thảngthốt ngỡ nh nghe thấy tiếng non sông đang khản giọng gọi hồn nớc trở về:
"Vẳng nghe tiềng ếch bên taiGiật mình còn tởng tiếng ai gọi đò"
Thơ Tú Xơng cũng giành một số lợng không nhỏ cho những mối tơng t,những lần hò hẹn, những cuộc tao ngộ nhân duyên mang đậm cảm hứng trữtình bay bổng lãng mạn:
"Ước gì ta hoá ra da
Để cho ngời tắm nớc ma chậu đồng
Ước gì ta hoá ra hồng
Để cho ngời bế, ngời bồng trên tay"
Cũng say lòng với chốn bình khang nhng trong thơ Tú Xơng không cócái nhìn khinh miệt mà trái lại rất chân tình đằm thắm, thấp thoáng một nụ c-
ời hóm hỉnh nhng độ lợng và đầy nổi cảm thông mà "Đi hát mất ô"là mộtminh chứng cụ thể Bài thơ nói về một sự việc không mấy tốt đẹp (đi hát bị lấymất ô) nhng đã nâng lên thành một lời bày tỏ tình cảm chân tình mà xúc
Có thể cá tính của con ngời nhà văn còn ảnh hởng vào nhiều khía cạnhnữa trong sáng tác của các nhà văn đó nhng ở đây chúng tôi chỉ xin nêu lênnhững nét cá tính nổi bật nhất, có sự thống nhất tơng đối ở cả hai phơng diện:ngoài đời sống và trong văn chơng
1.2.2 Khái quát cá tính con ngời Tản Đà trong thơ ca.
Tản Đà là một nhà văn của buổi giao thời giữa hai chặng đờng của vănhọc Việt Nam từ trung đại sang hiện đại Nhng cũng từ Tản Đà chúng ta mớithấy ở ông có sự ảnh hởng một cách toàn diện của cá tính con ngời vào vănchơng
Trang 20Có thể nói Tản Đà đa cuộc đời mình, thân thế, cá tính mình vào văn
ch-ơng rất hồn nhiên và chân thực: chân thực đến từng niềm vui nổi buồn, chânthực trong từng u điểm nhợc điểm Do vậy cá tính độc đáo của con ngời ông
đã sống trọn vẹn trên mỗi trang văn
Tản Đà"sống ở thời thơ cổ tàn, thơ kim đơng phôi thai" thời kỳ mà tấtcả các hiện tợng văn học còn đang trong tình trạng vận động, cha đợc địnhhình một cách rõ ràng Chính vì vậy,trong thơ ông có sự đan xen giữa cái cũ
và cái mới, cái tích cực và tiêu cực, cái tiến bộ và lạc hậu Đó cũng là nét đặctrng của văn học Việt Nam trong giai đoạn giao thời - 30 năm từ thế kỷ XX
Nhà thơ Lu Trọng L trong bài viếng thi sĩ Tản Đà đã viết: " Con ngờiNguyễn khắc Hiếu chính là cái tác phẩm tuyệt xảo nhất, một bài thơ hay nhấttrong sự nghiệp của Tản Đà" (" Bây giờ đây khi nắp quan tài đã đậy lại")
Quả là một lời nhận xét thật chính xác, Tản Đà dù trong cuộc đời haytrong thơ văn vẫn là một cá tính thống nhất: tràn đầy nhiệt tình đối với cuộc sống, luôn lạc quan, tin yêu cuộc đời Cũng có lúc ông kêu lên rằng "Đời
đáng chán" nhng đó là lúc ông cảm thấy yêu đời hơn hết thảy Tản Đà là mộtngời đa tình một ông thần "ngông", một ngời khách giang hồ , xê dịch nay
đây mai đó, phóng khoáng, phiêu bồng Tản Đà cũng là ngời tự sáng tạo chomình một phong cách nghệ thuật ẩm thực rất độc đáo có một không hai
Tất cả điều ấy, nhà thơ cứ tự nhiên, thoải mái thể hiện trên trang văn.Cũng vì vậy mà văn học Việt Nam có thêm một Tản Đà - thi sĩ
Trang 21Chơng II:
Cá tính con ngời Tản Đà trong thơ văn ông
Hiếm có một nhà thơ nào trong nền văn học Việt Nam mà cá tính conngời lại ảnh hởng mạnh mẽ và chi phối sâu sắc đến các sáng tác thơ văn nhnhà văn Tản Đà Trong con ngời ông, cá tính và cá tính sáng tạo dờng nh đã
đồng nhất với nhau đến mức khó có thể tách biệt Ngoài ra ta bắt gặp Tản Đà
ở ngoài thì cũng bắt gặp trong thơ văn nh thế ấy
ảnh hởng của cá tính Tản Đà vào thơ văn ông đợc biểu hiện ở nhiềukhía cạnh khác nhau nhng tiêu biểu và nổi bật nhất ở những đặc điểm sau đây:
2.1 Nhà thơ của lòng yêu đời vợt lên hoàn cảnh.
Cuộc đời Tản Đà là một chuỗi các bi kịch mà bi kịch nào cũng đau
đớn, cũng dai dẳng, cũng giằng xé trong ông Bi kịch gia đình khi bô mất mẹ
đa em quay về chốn bình khang lúc ông mới tròn bốn tuổi Tuổi thơ đầy mặccảm đã hằn sâu vào tâm hồn ông một nỗi tủi hổ đeo đuổi đến hết cuộc đời Đó
là bi kịch công danh khi thi Hậu bổ trợt kèm theo bi kịch tình yêu khi tận mắtchứng kiến ngời yêu lên xe hoa về nhà chồng
Quá nhiều đổ vỡ và mất nát đã khiến ông tuyệt vọng Ông đã sốngnhững ngày bất bình thờng: tịch cốc ở chùa Hơng, làm thơ tế Chiêu Quân ởnúi Tiên Sơn … Đến Xuân Diệu với bài viết " Công của thi Nhng Tản Đà không gục ngã, từ trong đau đớn cùng quẫn
ông quay lại với chính mình, quay lại sống giữa cuộc đời bằng một tình yêuchân thành, tràn đầy lạc quan dù có lúc ông bị cuộc đời bạc đãi, hắt hủi
Tản Đà đến với văn chơng sau khi cuộc đời giành cho ông bao nhiêu d
vị cay đắng Thế nhng tiếng nói cất lên trong thơ ông vẫn lạc quan tơi tắn.Trong bài " Khối tình con thứ nhất" in 1916 Tản Đà đã viết
"Chữ nghĩa Tây - Tàu chót dở dang Nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng Nửa ngòi bút ngông ngông ba sinh liMột mối tơ tăm mấy đoạn vơng … Đến Xuân Diệu với bài viết " Công của thi"
Tản Đà giới thiệu nghề nghiệp của mình rất chân thực Vậy là từ đâyquan niệm văn chơng là một trò du hý trong lúc trà d tửu hậu đã thay thế bằngquan niệm thực nghiệp " bán văn buôn chữ kiếm tiền tiêu" Tản Đà là nhà văn
đầu tiên có can đảm sinh sống bằng ngòi bút Nhng xã hội thực dân phongkiến vốn xa nay cha bao giờ xem văn chơng là một nghề chân chính hẳnchẳng mấy mặn mà gì với thi nhân Và quả thực sinh sống bằng nghề văn, Tản
Đà đã nếm trải đầy đủ mọi nỗi cơ cực: cuộc sống khó khăn, văn chơng ế ẩm,
Trang 22gánh nặng cơm áo gia đình … Đến Xuân Diệu với bài viết " Công của thi Nhng tất cả những điều ấy không làm ông chánnản, ông vẫn nhìn cuộc đời với đôi mắt của một ngời dám làm, dám chịu, dámtin và đã tin vào tài năng vào con đờng mà mình lựa chọn.
"Có kẹo có câu là sách cỡ Chẳng lề, chẳng lối cũng văn chơngCòn non, còn nớc, còn trăng gióCòn có thơ ca bán phố phờng"
( Đề khối tình con thứ nhất)
Tàn Đà vợt lên những khốn khó của cuộc sống đời thờng để vui đời vàsay với thơ Mỗi một tác phẩm ra đời, nỗi chật vật của cuộc sống cơm áo càng
ám ảnh nặng nề hơn Nhng dẫu vậy, ngời đọc vẫn bắt gặp ở ông cái phong tháiung dung tự tại, cùng nét cời hóm hỉnh rất An Nam Tản Đà tự trào với chínhnhững khó khăn thiếu thốn của bản thân và gia đình trong một cái nhìn lạcquan, trẻ trung, không chút mặc cảm
Ngời ta hơn tớ cái phong lu
Tớ cũng hơn ai cái sự nghèo
( Sự nghèo)
" Thi sĩ lúc nào cũng nghèo Nhng quên hẳn cảnh nghèo đi, không biếtmình nghèo nữa Lúc nào cũng vui, cũng hùng hồn, cũng thích phóng khoáng,cao dật tự tôn, cho nên chẳng lúc nào là không rung đùi với cái thú:
" Chén rợu canh tàn Tiếng gà đêm vắng Công danh sự nghiệp Dẫu cho dọc nghìn thu, ngang tám cõi Không bằng cái thú ngâm câu thơ
( Tựa thơ Tản Đà )
Cũng có lúc Tản Đà thốt lên
" Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi Trần thế em nay chán nữa rồi … Đến Xuân Diệu với bài viết " Công của thi"
Nhng xét cho cùng, mỗi con ngời sống trong cuộc đời thì buồn, vui là lẽ
đơng nhiên, huống chi Tản Đà đã gánh chịu bao nỗi cay cực đến thế Cho nênnhững câu thơ dẫu có mang mặc cảm bi quan cũng không có gì đáng trách.Nhng không phải vì thế mà có thể phủ nhận lòng yêu đời sâu nặng vốn tiềmtàng trong ông Không có một tâm hồn rộng mở, phóng khoáng, không có mộttình yêu, niềm tin tởng mãnh liệt vào cuộc đời không thể viết nên những vầnthơ lạc quan nh thế bất chấp nghịch cảnh :
Trang 23"Trời sinh ra bác Tản Đà
Quê hơng thời có, cửa nhà thời không Nửa đời -Nam- Bắc - Tây - Đông Bạn bè sum họp, vợ chồng biệt lyTúi thơ đeo khắp ba kỳ
Lạ chi rừng biển, thiếu gì gió trăng… Đến Xuân Diệu với bài viết " Công của thi"
( Thú ăn chơi)
Đọc những vẫn thơ này mới thấy hết giá trị của lòng yêu đời ở Tản Đà
Đúng nh Hoài Thanh trong " Thi nhân Việt Nam" đã viết : " Tiên sinh đi qua giữa cái hỗn độn của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX với tấm lòng bình thản của một ngời đi trớc Những nỗi chật vật của cuộc sống hằng ngày, những cảnh đời éo le thờng phô bầy trớc mắt, không từng làm bợn đợc linh hồn cao khiết của tiên sinh… Đến Xuân Diệu với bài viết " Công của thi Cái buồn chán của tiên sinh cũng là cái buồn chán của ngời trợng phu Thở than có, nhng không bao giờ rên rỉ (" Cung chiêu linh hồnTản Đà")
2.2 "Ngông" trong đời đến "Ngông" trong văn chơng.
"Ngông" là một thuộc tính độc đáo, phong phú của nhân cách con ngời
"Ngông" đợc thể hiện bằng những hành động khác đời, gây đợc sự chú ý củanhiều ngời, nó vợt ra ngoài các khuôn khổ bình thờng của xã hội Ngời
"ngông" thờng khinh lễ, phép, ghét tục, ngạo đời, nói năng ngang tàng
"Ngông"có nhiều loại, có loại "ngông" trở nên quái dị, lập dị, nhng cónhững loại "ngông" lại chứng tỏ đợc bản lĩnh, cá tính sắc sảo, tài năng nổi bật,phẩm chất thanh cao của mình Muốn vậy, "ngông" phải dựa trên tài đức, trítuệ, thiên lơng hơn ngời của chủ thể Nghĩa là chỉ những ngời có tài, có bảnlĩnh, có cá tính mạnh mẽ mới có thế "ngông"
Không phải đến Tản Đà, cái "ngông" mới xuất hiện trong văn chơng,
mà trớc đó đã đợc thể hiện trong sáng tác của các nhà thơ: Hồ Xuân Hơng,Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Tú Xơng ( chúng tôi đã có dịp giới thiệu ởchơng I) Nhng đến Tản Đà, với một cá tính độc đáo, cái "ngông" của ông vẫntạo nên rất nhiều điều thú vị : Tản Đà "ngông" trong lúc tỉnh đã đành, ngờicòn "ngông" cả trong lúc say; "ngông" từ đời thực "ngông" vào trong mộng;
"ngông" với những "thú ăn chơi", "ngông" với cả sự nghèo nàn khốn khó
Tản Đà ngay từ khi bớc chân vào văn đàn Việt Nam đã xớng tên cho
đông đảo bạn đọc khắp cả nớc biết rằng:
"Văn chơng thời nôm naThú chơi có sơn hà
Trang 24Ba Vì ở trớc mặt Hắc Giang bên cạnh nhà"
là một sự "phi cuồng", ngời lại mặc nhiên chấp nhận nh một điều tất yếu
Nh-ng chẳNh-ng bao giờ Tản Đà bận tâm đến nhữNh-ng lời khen chê ấy, ôNh-ng vẫn uNh-ngdung sống giữa đời nh những gì mình muốn
Tản Đà tự hào về con ngời ông, về tài văn chơng của mình Ông khôngngần ngại khi cao giọng mà khẳng định rằng:
"Xuống ngọn bút ma sa, gió tápVạch câu thơ quỹ thảm, thần kinh"
Ông hãnh diện, tự đề cao mình ngay cả trong khi cái nghèo đeo đẳng
Thật khó tìm thấy ở một ngời nào có nhiều mộng tởng nh Tản Đà Phảithừa nhận rằng trí tởng tợng của nhà thơ vô cùng phong phú Hết "Giấc mộnglớn" lại đến "Giấc mộng con", hết những cuộc phiêu lu dới hạ giới là cuộcngao du trên thiên đình Nhng trong những cuộc ngao du ấy, có lẽ thú vị nhất
là lần đợc lên"Hầu trời", mà sở dĩ đợc lên tiên cũng bởi cái giọng ngâm thơcủa ông sang quá "tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà" làm kinh động tới cảNgọc Hoàng, các ch tiên, cùng Hằng Nga, mỹ nữ trên thiên đình
Trổ tài dới hạ giới cha đủ (bởi ngời hạ giới chẳng mấy ai là tri kỉ, nênvăn chơng của nhà thơ "rẻ nh bèo")Tản Đà còn trổ tài trên biên giới Và cáitài văn chơng của ông đã làm cho cả Thiên đình phải ngỡ ngàng, khâm phục
Đến nh Ngọc Hoàng mà cũng phải tấm tắc khen ngợi hết lời:
"Trời lại phê cho:"văn thật tuyệt!"
Trang 25Văn trần đợc thế chắc có ít Nhời văn chuốt đẹp nh sao băngKhí văn hùng mạnh nh mây chuyển
Êm nh gió thoảng! tinh nh sơng!
Đầm nh ma sa, lạnh nh tuyết … Đến Xuân Diệu với bài viết " Công của thi"
(Hầu trời)
Còn các ch tiên thì tranh nhau tranh nhau dặn ông lần sau gánh thơ lênchợ trời mà bán chắc sẽ không phải "lo văn ế"nữa Bởi trên thiên đình đều lànhững vị anh tú của trời đất, chỉ có họ mới có thể cảm hết đợc những cái hay,cái đẹp, cái tinh tuý trong thơ văn Tản Đà mà thôi
Tản Đà còn tự nhận mình là một "trích tiên" vì "ngông" quá mà bị đàyxuống hạ giới Tản Đà còn giám viết th lên trời, hỏi cới Hằng Nga làm vợkhiến Trời cũng phải bật cời:
"Say lắm vẻ: say mệt, say mê, say nhừ, say títTrong làng say ai biết nhất ai say"
Tản Đà xem tài văn chơng của mình đứng đầu thiên hạ, nay còn xemcái say của ông thiên hạ cũng chẳng ai bằng Trời đất hay con ngời trong mắt
ông đều nh nhau cả:
"Đất say đất cũng lăn quayTrời say mặt cũng đỏ gay ao cời
… Đến Xuân Diệu với bài viết " Công của thiSay tuý luý, nhỏ to đều bất kểTrời đất nhỉ, cái say là sớng thế"
(Lại say)
Tản Đà say sa, chuếnh choáng trong men rợu Tuy nhiên cái say củaTản Đà lại là cái say ngông ngênh, khác biệt Giọng Tản Đà là giọng say đểnói giọng "ngông" Nguyễn Công Trứ hay Cao Bá Quát thời trớc cũng đã saynhng trong say còn tỉnh:
Trang 26"Đánh ba chén rợu khoanh tay giấc"
(Nguyễn Công Trứ)
Tản Đà đã say là "say tuý luý", say đến muốn lôi cả trời đất vài cuộc
"đỏ mặt" "lăn quay", ngông đến thế quả là chỉ riêng Tản Đà mới có
Nh vậy, ngay cả trong cái "ngông" của Tản Đà cũng thể hiện khá rõphong cách, bản ngã, cái riêng trong cá tính của nhà văn
2.3 Ngời đa tình trong đời và trong thơ văn.
Nói đến Tản Đà không thể không nhắc đến nét cá tính này "Đa tình" làmột trong ba đặc trng cơ bản nhất cấu thành bản ngã có tự hiệu Tản Đà Nhànghiên cứu phê bình văn học Thiếu Sơn trong"Phê bình và cảo luận" (1933) đãkhẳng định: "Cái đặc sắc trong con ngời tiên sinh là cái "tình", cái tình nặng,cái tình sâu, cái tình mộng huyễn, cái tình nên thơ, cái tình cùng với nớc noncây cỏ mà dung hoà hoạ vận, cái tình cùng với thế đạo nhân tâm mà nên giọngchua cay"
Nh thế "đa tình" không có nghĩa chỉ thiên về tình cảm yêu đơng mà nócòn bao gồm cả tình yêu đất nớc, tình yêu giống nòi, tình yêu thơng, sẻ chia,
đồng cảm với mọi nỗi bất hạnh của con ngời trong đời sống Chính bởi vậyngời "đa tình" thờng đa cảm, dễ xúc động, "đa tình" nên phong tình, "đa tình"nên đa đoan Ngời xa có câu "Nhất phiến tài tình thiên cổ luỵ" (Một mảnh tàitình vẫn luôn là cái vị của muôn đời) cũng là vì nh vậy
Tản Đà xem đa tình nh một phẩm chất, một nét tính cách, một đặc trngtrong con ngời ông Nhà thơ tự xng mình là cái giống đa tình, thuộc loài tìnhchủng:
"Ngời đâu cũng giống đa tìnhTởng là ai lại là mình với ta"
(Nói chuyện với ảnh)
Ông tự trào một cách hóm hỉnh vừa nh một lời tự trách, tự răn mình:
"Cái giống yêu hoa cũng lạ đờiMắt xanh cha lọt đã mê tơi Chim trời cá nớc duyên ai đó Vía dại hồn khôn dễ chết chơi"
Thế nhng ngay sau đó nhà thơ lại tha thứ ngay, bởi lẽ xa nay những
ng-ời đã chót mang lấy cái gánh tài tình thì cũng đã vận vào mình cái cốt cáchhào hoa đa tình của ngời nghệ sĩ Cho nên:
"Cái mê vô ích là mê dại
Mê dại, mà mê mải chẳng thôi"
Trang 27(Cái giống yêu hoa).
Lời tự phê , tự trách ấy bỗng chốc lại hoá ra một lời khẳng định: đãthuộc vào gen di truyền ngấm trong máu thịt thì làm sao dứt bỏ đợc, âu đócũng là cái nghiệp, cái mệnh, cái số đào hoa mà tạo hoá đã dành sẵn cho Tản
Đà
Hiếm có một nhà thơ nào lại sống thật với mình trong thơ văn nh Tản
Đà Ông không dấu giếm một điều gì Những rung động của tình cảm dùmãnh liệt hay mơ hồ mỗi khi đặt lên trang văn đều chân thực và xúc động.Tản Đà thành thực trong từng câu thơ, từng ý thơ, ông viết cái ông nghĩ, cái
ông cảm đợc, ông diễn tả một cách hồn nhiên, vô t bằng một giọng thơ "dịudàng" "trong trẻo" "nhẹ nhỏm", và duyên dáng lạ lùng Nên ngay cả khi nhàthơ nhận mình là "ngông", là một "trích tiên", là "đa tình" chăng nữa, ngời đọcvẫn giành cho ông một tình cảm trìu mến Cũng vì vậy không mấy ai ngạcnhiên khi nhận ra trong thơ Tản Đà cái cảm hứng phong tình trở thành mộttrong những phơng diện đặc trng của phong cách nhà thơ Tản Đà thực thà đavào tác phẩm mình những cảm xúc, những rung động của con tim Cái "Tôi"trữ tình lãng mạn ấy cứ tự nhiên và bình thản giãi bày những say đắm, hạnhphúc, đau khổ, chờ mong, tơng t, sầu não… Đến Xuân Diệu với bài viết " Công của thi của tâm hồn vào thơ văn nh đanggiải bày với chính lòng mình
Đến Tản Đà, khát vọng yêu đơng và tình yêu đôi lứa mới hiện lên với
đầy đủ những cung bậc của sắc thái tình cảm."Tình yêu của Tản Đà đó là mộtthứ tình yêu rất đặc biệt, nó là thứ tình yêu đậm đà, lai láng, không bờ, khôngbến, có sức tràn lan, cần phải san sẻ" (Vũ Ngọc Phan) Tâm hồn đa cảm,phongtình của nhà thơ dễ rung động, dễ yêu thơng Bất cứ một bóng hình nào lọt vàothế giới tình cảm mông lung của ông mà để lại trong nhà thơ chút kỷ niệm êm
đềm ấm áp đều có thể trở thành đối tợng để nhà thơ yêu thơng , mong ngóng.Không cần phải đọc suốt bài thơ, chỉ cần nhìn qua đề bài cũng đủ nhận thấy
ông nhiều thơng, dễ nhớ, dễ xúc cảm: ông cảm kích tấm lòng của ngờitặng"Rau sắn chùa Hơng", ông "Nhớ bạn Hà Nội", "Nhớ độc giả Nam Kỳ",
"Nhớ bạn sông Thơng", ông nhớ những ngời quen biết và nhớ cả những ngờicha quen biết:
"Xa nhau xin hãy đợi chờ Gần nhau rồi cũng sớm tra có ngày"
(Nhớ bạn Hà Nội).
Nhìn cuộc đời qua "lăng kính phong tình ân ái", do vậy màu sắc ái ân inmàu lên tất cả: một cô hàng cau, một ngời đánh cá, một cô gái hái dâu, một