1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của ca dao đối với thơ hồ xuân hương

55 773 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của ca dao đối với thơ Hồ Xuân Hương
Trường học Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 192 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với việc sử dụng hình tợng nghệ thuật là những sự vật, đồ vật trong cuộc sống, với ngôn ngữ mộc mạc, dễ hiểu, gần với lời ăntiếng nói hàng ngày của nhân dân lao động và qua đó khẳng định

Trang 1

A Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Có thể nói, Hồ Xuân Hơng là một hiện tợng độc đáo trong nền văn học Việt Nam.Xung quanh vấn đề về Hồ Xuân Hơng còn có nhiều thắc mắc cha đợc rõ ràng:ngay cả Hồ Xuân Hơng có thực hay không và bà là ai ? Phần bia mộ bà giờ ở

đâu ? Cũng đang tốn bao giấy mực tìm câu trả lời Đặc biệt là những sáng tác của

Hồ Xuân Hơng đang có nhièu vấn đề đợc đặt ra: “dâm” hay “tục” ? Thơ Hồ Xuân Hơng là “thi trung hữu quỹ” hay là “nhà thơ cách mạng”, rồi việc xác định những

sáng tác nào là của Hồ Xuân Hơng, những sáng tác nào là của các nhà thơ cùngthời với bà cũng cha đợc rõ ràng

Từ đầu thế kỷ XX thơ Hồ Xuân Hơng đã trở thành đối tợng nghiên cứu củacác nhà khoa học trong và ngoài nớc Trong các công trình nghiên cứu khoa học,dới các hình thức: giáo trình Đại học và Cao đẳng, các chuyên luận khoa học, cácbài viết trên một số sách của các nhà xuất bản Giáo dục, các tạp chí, khoá luận Các nhà nghiên cứu đã khám phá đợc nhiều khía cạnh độc đáo và mới lạ trên ph-

ơng diện nội dung cũng nh hình thức nghệ thuật về thơ Nôm của Hồ Xuân Hơng

Đó là các vấn đề: “dâm” và “tục”, vấn đề nữ quyền, vấn đề phản phong, vấn đề trữ

tình và trào phúng

Trong quá trình nghiên cứu, các tác giả ít nhiều đã khẳng định tính dân tộc

trong thơ của “bà chúa thơ Nôm” Với việc sử dụng hình tợng nghệ thuật là những

sự vật, đồ vật trong cuộc sống, với ngôn ngữ mộc mạc, dễ hiểu, gần với lời ăntiếng nói hàng ngày của nhân dân lao động và qua đó khẳng định ít nhiều sự ảnhhởng của văn học dân gian đối với thơ Nôm của Hồ Xuân Hơng Chẳng hạn: Cáctác giả đã chú ý đến sự vận dụng yếu tố thành ngữ, tục ngữ trong thơ Hồ Xuân H-

ơng Còn vấn đề về sự ảnh hởng của ca dao đối với những sáng tác của bà còn ít

đ-ợc đề cập, có chăng chỉ là điểm sơ qua chứ không tìm hiểu một cách kỹ càng, có

hệ thống luận điểm, luận cứ và cha thực sự có một công trình hoàn chỉnh

Mặt khác, khi khẳng định sự ảnh hởng của văn học dân gian mà đặc biệt là

ca dao đối với thơ Hồ Xuân Hơng lại nảy sinh những ý kiến nghi ngờ một số bàithơ của Hồ Xuân Hơng là những sáng tác dân gian Chính vì vậy, khi lựa chọn đềtài này chúng tôi cố gắng làm sao tìm hiểu một cách có hệ thống, rõ ràng những

ảnh hởng của ca dao đối với thơ Hồ Xuân Hơng, khẳng định sự ảnh hởng đó làtrên tất cả các phơng diện Đồng thời khẳng định những sáng tác của Hồ Xuân H-

ơng là độc đáo và mới lạ Bởi vì, mặc dù chịu ảnh hởng cả ca dao, Xuân Hơng đãtiếp thu ca dao nhng không lặp lại ca dao, cái bà tiếp thu là những cái tinh hoa, cáihay, cái đẹp, để từ đó mà có những cách tân mới lạ và độc đáo, khẳng định đợccái riêng trong sáng tác của mình

Đi sâu tìm hiểu đề tài này sẽ giúp chúng ta hiểu đầy đủ hơn về giá trị đíchthực tỏng sáng tác của Hồ Xuân Hơng và khẳng định đóng góp to lớn của bà tỏngkho tàng thơ ca truyền thống của dân tộc, đồng thời giúp chúng ta giảng dạy tốtmột mảng thơ của Hồ Xuân Hơng tỏng nhà trờng hiện nay

Trang 2

Với tất cả những điều đã trình bày ở trên, chúng tôi tin tởng đề tài này vẫnmang tính chất mới mẽ và thực sự hấp dẫn.

2 Lịch sử vấn đề

Hồ Xuân Hơng xuất hiện trên thi đàng văn học Việt Nam với một phong cáchriêng và độc đáo Những năm cuối thập niên 50, đầu thập niên 60 của thế kỷ XX,giới nghiên cứu rộn lên với đề tài Hồ Xuân Hơng Nhng do những mục đích khácnhau, đối tợng khám phá và hớng tiếp cận không giống nhau, nên mỗi tác giả cócách nhìn nhận và đánh giá khác nhau dới đây chúng tôi xin giới thiệu một số bàiviết có liên quan hay đề cập đến thơ Nôm của Hồ Xuân Hơng với văn học dângian

2.1 Bài viết của tác giả Nguyễn Hồng Phong (theo Lịch sử Văn học Việt Nam sơ giản, NXB Khoa học, H 1963).

ở bài viết này tác giả đã đề cập đến mối quan hệ giữa văn học dân gian đốivới thơ Nôm Đờng luật của Hồ Xuân Hơng Từ đó khẳng định Hồ Xuân Hơng là

“nữ sĩ bình dân” - có đợc điều đó là do Xuân Hơng tiếp thu đợc những tinh hoacủa nền văn học dân gian Tác giả viết: “Trớc hết sự thành công của Hồ Xuân H-

ơng tỏng nghệ thuật là do nơi bà hấp thụ và phát huy đợc vốn văn nghệ dân gianphong phú Những gì là thành công là thành công, những gì là tinh tuý, là tuyệtdiệu của nghệ thuật thơ Xuân Hơng đều có liên quan đến tinh hoa của nền vănnghệ dân gian mà thi sĩ đã rất thấm nhuần”

Chẳng hạn, hai câu tục ngữ: “Đứt đuôi con nòng nọc” và “Lăn lóc nh cóc

bôi vôi ” Xuân Hơng đã đôit thành:

“Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé

Nghìn vàng khôn chuộc dẫu bôi vôi.”

Cuối cùng tác giả khẳng định: “Thành công của Xuân Hơng trong nghệthuật cũng nh trờng hợp của Nguyễn Du sau này, chứng tỏ các thiên tài lớn trớchết là những ngời biết tiếp thu tinh tuý vốn văn hoá dân gian, biết học tập và vậndụng đợc ngôn ngữ của nhân dân”

ở bài viết này, tác giả Nguyễn Hồng Phong đã nói một cách khái quát vềnội dung và nghệ thuật trong thơ Nôm Đờng luật của Hồ Xuân Hơng Trên phơngdiện nội dung, tác giả đã chứng minh và khẳng định thơ Xuân Hơng là thơ của ng-

ời phụ nữ bị áp bức Trên phơng diện nghệ thuật, tác giả đã chú ý nhiều đến ảnh ởng của văn học dân gian đối với th Nôm Đờng luật của Hồ Xuân Hơng nhng cha

h-đi cụ thể vào vấn đề nào: ca dao, tục ngữ hay thành ngữ mà nghiên cứu một cáchchung nhất

2.2 Bài viết của tác giả Nguyễn Đăng Na (Tạp chí Văn học số 2, 1991)

Trong bài viết “thơ Hồ Xuân Hơng với văn học dân gian” tác giả đã tìmhiểu mối quan hệ giữa thơ Hồ Xuân Hơng với văn học dân gian một cách khá baoquát và toàn diện Tác giả đặc biệt chú ý mối quan hệ trên hai phơng diện: HồXuân Hơng nghĩ cái nghĩ dân gian và cảm cái cảm dân gian

Trang 3

ở phơng diện thứ nhất: Hồ Xuân Hơng nghĩ cái nghĩ dân gian, tác giả nhậnthấy sự ảnh hởng trên ba hệ thống đề tài: về loại ngời “có học”, về nhà chùa và vềphụ nữ.

ở phơng diện thứ hai: “Hồ Xuân Hơng cảm cái cảm dân gian”, tác giảkhẳng định Hồ Xuân Hơng rất dân gian nhng cũng rất Xuân Hơng - có nghĩa làtác giả thừa nhận sự ảnh hởng nhất định của văn học dân gian đối với thơ Nôm HồXuân Hơng Hồ Xuân Hơng có vận dụng các thể loại của văn học dân gian trongsáng tác của mình nhng bà tiếp thu những cái hay, cái đẹp, cái tinh hoa của nềnvăn học dân gian, còn chỗ nào cha đúng thì bà uốn nắn, sửa chữa lại Trên cơ sở

đó, Hồ Xuân Hơng có những cách tân độc đáo và mới mẻ, bà ảnh hởng của vănhọc dân gian nhng không lặp lại nó, không đi trên lối mòn đó mà vẫn khẳng định

đợc cái riêng trong sáng tác của mình

Tác giả dẫn chứng: chẳng hạn trong cao dao khi nói về mình ngời phụ nữthờng xng hô ở địa vị thấp hơn so với ngời đàn ông: em, thiếp Hồ Xuân Hơng làngời đầu tiên làm cuộc “cách mạng” trong quạn niệm này Những kẻ bất tài,thiếu t cách, dù là “tu mi na tử” mặc, đối với Hồ Xuân Hơng chúng chỉ là “lũ ngẩnngơ”, “đàn thằng ngọng”, “phờng lòi choi” Bà khẳng định vị trí và tài năng củangời phụ nữ:

“Ví đây đổi phận làm trai đợc

Thì sự anh hùng há bấy nhiêu”

(Đề đền Sầm Nghi Đống)

ở bài viết này, tác giả đã chỉ ra đợc một cách khá đầy đủ, toàn diện về mốiquan hệ giữa văn học dân gian với thơ Nôm Hồ Xuân Hơng trên cơ sở khoa học.Nhng mang tính chất khái quát, chung chung

2.3 ở cuốn giáo trình “văn học Việt Nam nửa cuối thê kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX” tác giả Nguyễn Lộc cũng đã đề cập đến phong cách nghệ thuật độc đáo của

Hồ Xuân Hơng trong việc tiếp thu và sáng tạo các thể loại văn học dân gian

Tác giả khẳng định: “có thể nói ngôn ngữ trong thơ Hồ Xuân Hơng là ngônngữ thuần tuý Việt Nam Xuân Hơng có tài khai thác vốn ngôn ngữ súc tích, cô

đọng của ca dao, tục ngữ” Tác giả thừa nhận sự vận dụng các thể loại văn học dângian trong thơ Hồ Xuân Hơng nhng đồng thời khẳng định: Xuân Hơng không tiếpthu văn học dân gian một cách thụ động mà những yếu tố văn học dân gian đợcXuân Hơng vận dụng một cách sáng tạo, đúng chỗ, làm cho câu thơ tự nhiên

Chẳng hạn, ca dao viết:

“Không chồng mà chửa mới ngoan

Có chồng mà chửa thế gian sự thờng”

Xuân Hơng viết một câu thật rắn rỏi:

Trang 4

Ví nh thành ngữ: “cố đấm ăn xôi” và “làm mớn không công” đã đợc Xuân

Hơng nhấn mạnh nh xoáy sâu vào bi kịch của ngời đàn bà làm lẽ:

“Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm Cầm bằng làm mớn, mớn không công”.

2.4 ở một bài viết khác: “Thành ngữ và tục ngữ tiếng Việt đối với thơ Nôm

Đờng luật Hồ Xuân Hơng” - Tác giả Trơng Xuân Tiếu (Tạp chí văn hoá dân gian số 1, 1999).

Tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu sự vận dụng một cách đặc sắc, độc đáocác thành ngữ, tục ngữ của văn học dân gian vào trong thơ Nôm Đờng luật của

Hồ Xuân Hơng Tác giả viết: “Với thành ngữ tiếng Việt thì trong một số trờng hợp

Hồ Xuân Hơng đã tiếp thu nguyên vẹn và sử dụng trọn vẹn bằng cách đặt nó vào

vị trí một trong hai vế của câu bảy chữ: “bảy nổi ba chìm” trong câu thơ “bảy nổi

ba chìm với nớc non”(Bánh trôi nớc), “bạc nh vôi” trong câu “đừng xanh nh lá bạc nh vôi”(Mời trầu), “năm thì mời hoạ” trong câu “năm thì mời hoạ hay chăng chớ”(Làm lẽ)

Điều khá phổ biến trong quá trình tiếp thu và vận dụng thành ngữ vào sángtạo nghệ thuật của Hồ Xuân Hơng là có rất nhiều thành ngữ tiếng Việt đã đợc nhàthơ “bẻ vụn đan cài” vào trong hệ thống ngôn ngữ tác phẩm Có rất nhiều bài thơ

chỉ sử dụng một phần thành ngữ: “đỏ lòng xanh vỏ” và “đỏ nh son” trong bài thơ

“Bánh trôi nớc”, “phải duyên phải kiếp” và “xanh nh tàu lá” trong bài “Mời

trầu”, “đứt đuôi con nòng nọc” trong bài “Khóc Tổng Cóc”

Còn đối với tục ngữ tiếng Việt Hồ Xuân Hơng đã tiếp thu và vận dụng vàotrong hệ thống cấu trúc ngôn ngữ của những bài thơ Nôm Đờng luật viết về đề tàinhân sinh và xã hội là chủ yếu

“Con Vua Vua dấu, con Chúa Chúa yêu” với câu thơ “Chúa dấu, Vua yêu

một cái này” (Vịnh quạt I).

“Hang hùm ai dám mó tay” với câu thơ “Chốn ấy hang hùm chớ mó tay”

(Trách Chiêu Hổ)

2.5 Công trình nghiên cứu gần đây nhất là khoá luận năm 2000 của sinh viên Hoàng Thị Khánh Hoà với đề tài: “Mối tơng quan nghệ thuật giữa thơ

Nôm Đờng luật của Hồ Xuân Hơng với ca dao ngời Việt”

Nh vậy, nghiên cứu sự ảnh hởng của ca dao đối với thơ Nôm Hồ Xuân

H-ơng cha có tác giả nào đặt ra một cách cụ thể, đầy đủ và cha có một công trìnhchuyên biệt

Trên cơ sở tiếp thu những kinh nghiệm và kết quả nghiên cứu của nhữngngời đi trớc Khoá luận này, chúng tôi sẽ cố gắng trình bày một cách cụ thể, đầy

đủ và có hệ thống về sự ảnh hởng của ca dao đối với những sáng tác của Xuân

H-ơng, đồng thời chỉ ra đợc sự vận dụng sáng tạo và độc đáo của Xuân Hơng trongviệc sử dụng các yếu tố cac dao, khẳng định những sáng tác của Hồ Xuân Hơng

Trang 5

có sự kế thừa, tiếp thu vốn văn hoá dân gian nhng đồng thời cũng là những sángtác rất riêng, rất độc đáo và “rất Xuân Hơng”.

3 Phơng pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phơng pháp so sánh - đối chiếu, để tathấy đợc sự tơng đồng và sự vận dụng sáng tạo, có những cách tân mới lạ hơn củathơ Nôm Hồ Xuân Hơng so với ca dao về các giá trị nội dung cũng nh hình thứcnghệ thuật

Bên cạnh đó chúng tôi còn cử dụng phơng pháp phân tích - tổng hợp nhằmkhái quát hoá, cụ thể hoá từng vấn đề, đa ra những nhận xét, đánh giá xác thực, cócơ sở khoa học đúng đắn của nó để khẳng định sự ảnh hởng của ca dao đối với thơ

Hồ Xuân Hơng là trên tất cả các phơng diện

Mặt khác, đây là một vấn đề thời quá khứ nên chúng tôi còn sử dụng quan

điểm lịch sử để nghiên cứu

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

Về những sáng tác của Hồ Xuân Hơng, đến nay còn có những bài thơ khóminh định, cha đi đến thống nhất là của Hồ Xuân Hơng hay là của một tác giả nào

đó cùng thời với bà Do đó, trong quá trình thực hiện đề tài này chúng tôi chủ yếutìm hiểu 50 bài thơ khá phổ biến của Hồ Xuân Hơng do GS Nguyễn Lộc tuyểnchọn và giới thiệu của NXB Văn học, 1984

Về phạm vi nghiên cứu: Gần đây các nhà nghiên cứu phát hiện ra một số bàithơ chữ Hán của Hồ Xuân Hơng trích trong tập “Lu hơng ký” và do không hiểunhiều về ca dao của các dân tộc khác Vì vậy, ở khoá luận này chúng tôi đi vàotìm hiểu ảnh hởng của ca dao ngời Việt đối với thơ Nôm Hồ Xuân Hơng

Trang 6

A Phần nội dung

Chơng I ảnh hởng của ca dao đối với thơ Nôm Đờng luật

Trong lịch sử văn học Việt Nam, thơ Nôm Đờng luật có vị trí quan trọngbởi những đóng góp của nó đối với sự phát triển văn học dân tộc về cả hai phơngdiện: thực tiễn sáng tác và ý nghĩa lý luận Thơ Nôm Đờng luật là một hiện tợngvừa tiêu biểu vừa độc đáo Tiêu biểu ở chỗ nó phản ánh điều kiện, bản chất, quyluật của quá trình giao lu tiếp nhận văn học Độc đáo bởi thơ Nôm Đờng luật tuymô phỏng thể loại ngoại lai nhng nó lại có vị trí đáng kể bên cạnh các thể thơ dântộc Có đợc vị trí đó bởi thơ Nôm Đờng luật tiếp thu những tinh hoa của nề vănhọc dân tộc

Dới đây, chúng tôi sẽ trình bày một cách tóm lợc nhất sự ảnh hởng của cadao đối với thơ Nôm Đờng luật

1 ảnh hởng trên phơng diện nội dung

1.1 ảnh hởng trên hệ thống đề tài, chủ đề viết về thiên nhiên.

Thiên nhiên là nguồn đề tài phong phú và vô tận đối với các thi nhân xa vànay Có thể nói đề tài, chủ đề về thiên nhiên là hệ thống đề tài chủ đề quen thuộc,xuyên suốt và chiếm vị trí đáng kể trong dòng thơ Nôm Đờng luật

Trớc hết chúng ta cần phân biệt đề tài và chủ đề: Đề tài là “phạm vi nộidung nghiên cứu hoặc miêu tả trong tác phẩm”(1) Còn chủ đề là “vấn đề chủ yếu

đợc quán triệt trong nội dung một tác phẩm nghệ thuật, theo một khuynh hớng t ởng nhất định”(2) Cho nên, phạm vi phản ánh của tác phẩm là thiên nhiên nhngvấn đề chủ yếu, trung tâm đợc các nhà văn nêu lên lại hoàn toàn khác Những bàithơ có đề tài thiên nhiên có thể mang nhiều chủ đề: cuộc sống thanh cao, đạm bạc,phủ nhận danh lợi, tình yêu đôi lứa Nổi lên trong đề tài chủ đề này là hai tác giảNguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm Có thể nói, ở Nguyễn Trãi “lòng yêu thiênnhiên tạo vật là kích thớc để đo một tâm hồn”(3)

t-Những bức tranh thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi phong phú và nhiều

đến mức phòng tranh thiên nhiên không đủ chỗ trng bày và nhà thơ phải treo sangcả phòng tranh giành cho đề tài khác Nguyến Bỉnh Khiêm cũng phần nào nh vậy.Trạng Trình không đành cho thơ bài nào hoàn chỉnh viết về đề tài thiên nhiên, nh-

ng nguồn cảm xúc của thi sỉ vẫn chảy tràn giữa thiên nhiên, tạo vật Đến mức khimuốn phủ nhận danh lợi ông cũng phủ nhận bẳng thiên nhiên, muốn ca ngợi thúnhàn tản, ẩn dật ông cũng ca ngợi bằng thiên nhiên

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạn tắm ao Rợu đến cội cây ta sẽ uống Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”.

(Thơ Nôm bài 74)

Trang 7

Hay bà huyện Thanh Quan viết về cảnh Đèo Ngang với một không gian rộnglớn “trời, non, nớc”, nét bút của bà đã vẽ lên một bức tranh thuỷ mạc thật đẹp:

“Bớc tới Đèo Ngang bóng xế tà

Cỏ cây chen đá lá chen hoa Lom khom dới núi Tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà”

(Qua Đèo Ngang)

Nguyễn Trãi đã phát hiện ra vẽ đẹp trong những vật bình thờng, đơn sơ,mộc mạc:

“Một cày một cuốc thú nhà quê

áng trúc lan xen vãi đậu kê Khách đến chim mừng hoa xẩy động Chè tiên, nớc kín, nguyệt đeo về”

(Quốc âm thi tập - Thuật hứng - Bài 25)

Hay trong thơ Nguyễn Khuyến, bức tranh thiên nhiên là cảnh thật chân quê,mộc mạc:

“Trâu già gốc bụi thì phơi nắng

Chó bỏ bên ao cắn bóng ngời.”

Viết về đề tài, chủ đề thiên nhiên, quan niệm thẩm mỹ của các tác giả thơNôm Đờng luật rất gần gũi với quan niện thẩm mỹ của ngời bình dân trong thơ cadân gian Dới đây, chúng tôi sẽ đa ra một số dẫn chứng để thấy đợc ảnh hởngphần nào của ca dao đối với thơ Nôm Đờng luật

Thiên nhiên là nguồn đề tài vô tận đối với những sáng tác dân gian Các tácgiả dân gian thể hiện lòng yêu quê hơng, đất nớc của mình qua những bức tranhthiên nhiên của từng miền quê:

“Đờng vô xứ Nghệ quanh quanh,

Non xanh nớc biếc nh tranh hoạ đồ”.

Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xơng.

Tuyệt mù khói toả ngàn sơng, Nhịp chày Yên Thái, mặt gơng Tây Hồ”

(Ca dao)

Hay ngợi ca cảnh núi rừng hùng vĩ của Điện Biên, ca dao có câu:

“Đờng lên Mờng Lễ bao xa ?

Trăm bảy mơi thớc, trăm ba mơi ghềnh”.

Trang 8

Ca dao và thơ Nôm Đờng luật cùng viết về thiên nhiên, nhng nếu tác giảdân gian lấy thiên nhiên để tỏ lòng yêu quê hơng, xứ sở của mình thì các tác giảthơ Nôm Đờng luật còn lấy thiên nhiên để thể hiện tâm t, thái độ của mình trớccuộc sống Đó cũng chính là cái mới, cái sáng tạo của thơ Nôm Đờng luật khi viết

về đề tài quen thuộc

1.2 Sự ảnh hởng trên phơng diện đề tài, chủ đề phản ánh cuộc sống, con ngời.

Đề tài, chủ đề cuộc sống xã hội, đất nớc, con ngời thể hiện sự chiếm lĩnhnghệ thuật của thơ Nôm Đờng luật đối với hiện thực khách quan Có thể nói, đề

tài, chủ đề này trong thơ Nôm Đờng luật thật sự có vị trí bắt đầu từ “Hồng Đức

quốc âm thi tập” qua “Bạch Vân quốc ngữ thi tập” đến thơ Hồ Xuân Hơng,

Nguyễn Công Trứ, càng về sau đề tài chủ đề này càng đóng vai trò quan trọng

Hiện thực xã hội trong “Hồng Đức quốc thi tập” phong phú và đa dạng.

Tác phẩm đề cập đến nhiều mặt của đời sống xã hội, chủ yếu là cuộc sống nôngthôn, nh cảnh sinh hoạt:

“Tấp tễnh trời vừa mọc đẩu tinh,

Ban khi trống một mới thu canh.

Đầu nhà khỏi tỏ lồng sơng bạc, Sờn núi chim gù ẩn lá xanh.

Tuần điến kìa ai khua mõ cá, Dâng hơng nọ kẻ nện chày kình”

(Vịnh ngũ canh thi - Nhất canh).

Ca dao cũng nói về những cảnh sinh hoạt hàng ngày trong cuộc sống thôngqua lời yêu của nam, nữ thanh niên:

“Anh đi anh nhớ quê nhà,

Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tơng.

Nhớ ai dãi nắng dầm sơng, Nhớ ai tát nớc bên đờng hôm nao.”

Thơ Nôm Đờng luật cũng viết về những cảnh “túm năm tụm ba” của trai,

gái trong lúc rãnh rang sau giờ phút lao động mệt nhọc:

“Đêm rợu, ngày rồi họp bốn ngời,

Cũng bày sở thú bảo nhau chơi.

Con trâu tớ béo, cơm ngơi trắng, Đon củi ngơi nhiều, cá tớ tơi.

Gặp thuở thái bình ngời mến tớ,

Trang 9

Chứa lòng u ái tớ cùng ngơi.

(Cắp) cầm, con Tuyết tình cờ đến,

Bỏ nón, lùi chân khặc khặc cời”

(Tứ thú tơng thoại)Hoặc cảnh lao động với những công việc đồng áng sông nớc:

Ngời hái củi:

“Có thuở xa trông vầng áo xế

Dé chân nheo nhéo đứng đầu mom”

Ngời kiếm cá:

“Manh áo quang, mang lụp xụp,

Quai chèo xách, đứng lom khom”.

Ngời chăn trâu:

“Đầu ngàn êu ểu cỏ xanh om,

Thả thả, chăn chăn, ít lại nhom.

Mũi nghe lui chân đứng nhảy,

U trâu vị cật ngồi khom ”.

Ca dao cũng đã viết về những công việc nh thế

Ngời kiếm củi:

“Ngày nào trời nắng chang chang,

Mẹ em kiếm củi, đốt than no lòng”

(Ca dao)

Ngời đi cày:

“Trâu ơi ta bảo trâu này,

Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta”.

(Ca dao)

Viết về đề tài chủ đề này, ca dao và thơ Nôm Đờng luật có một sự gặp gỡ

-đó là cùng phản ánh cuộc sống xã hội, chủ yếu là cuộc sống nông thôn vớinhững sinh hoạt hàng ngày và công việc đồng áng, sông nớc

1.3 ảnh hởng trên phơng diện đề tài, chủ đề triết lý nhân sinh, răn dạy đạo lý.

Nhân dân ta có truyền thống đạo lý từ lâu đời Truyền thống ấy đã đợc kếttinh thành những bài học đạo đức cho nhiều thế hệ - đó là những bài học quý báu:

“Uống nớc nhớ nguồn Ăn quả nhớ ngời trồng cây” hay “Đói cho sạch, rách cho

thơm”

Đề tài, chủ đề triết lý nhân sinh, răn dạy đạo lý là một đề tài, chủ đề xuyênsuốt trong văn học - đó cũng là một mục đích mà văn học tiến tới Đề tài, chủ đềnày đợc biểu hiện rất nhiều trong các sáng tác dân gian

Trang 10

“Chớ còn chẳng chẳng chớ quyền quyền.

Lòng hãy cho bền đạo Khổng môn.

Tích đức cho con hơn tích của.

Đua lành cùng thế mựa đua khôn.

Một niền trung hiếu làm miều cả.

Hai quyển thi thơ ấy báu chôn”.

(Quốc âm thi tập - Tự thán - Bài 41)

Ca dao cũng từng dạy rằng:

“Muốn sang thì bắc cầu Kiều,

Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”

Hay:

“Nghèo nhân, nghèo nghĩa thì lo,

Nghèo tiền nghèo bạc, chã cho là nghèo”

Hay đó còn là việc ứng xử triết lý “dĩ hoà vi quý” một cách thích hợp trongcuộc sống:

“ở thế nhịn nhau muôn sự đẹp,

Cơng nhu cùng biết hết hai bên”

(Quốc âm thi tập - Bảo kính cảnh giới - Bài 55)

Dân gian cũng đã từng dạy chúng ta cách ứng xử sao cho hoà hợp trongcuộc sống:

“Lời nói chẳng mất tiền mua,

Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”

“Một lời nói, quan tiền thúng thóc,

Một lời nói, dùi đục cẳng tay”

Nội dung triết lý và giáo huấn trong ca dao cũng nh trong thơ Nôm Đờngluật, chịu ảnh hởng của tinh thần dân tộc và tử tởng nhân dân, truyền thống yêuthơng đoàn kết, coi trọng tình nghĩa của ngời Việt Nam Trên phơng diện văn họcthì nội dung triết lý và giáo huấn trong thơ Nôm Đờng luật là sự kế thừa truyềnthống, tiếp thu những tinh hoa của nền văn học dân gian

Một truyền thống khác của dân tộc cũng đợc các tác giả đa vào nội dunggiáo huấn, đó là đức tính cần cù, giản dị, thật thà, chất phác của ngời ViệtNam Giáo dục tình yêu thơng, đoàn kết giữa những ngời “cùng một bọc”,chung một nớc:

“Đồng bào cốt nhục nghĩa càng bền.

Cành Bắc, cành Nam một cội nên”

(Quốc âm thi tập - Bảo kính cảnh giới - bài 15)

Các tác giả dân gian cũng đã từng khuyên chúng ta:

Trang 11

“Nhiễu điều phủ lấy giá gơng,

Ngời trong một nớc thi thong nhau cùng”

(Ca dao)

Hay:

“Bầu ơi thơng lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhng chung một dàn”

(Ca dao)

Nếu tinh thần đẳng cấp Nho giáo thiết lập mối quan hệ quyền lợi và nghĩa

vụ một chiều giữa ngời trên và kẻ dới thì tính dân chủ vốn có trong dân tộc vànhân dân đã hớng tới mối quan hệ bình đẳng Nguyễn Bỉnh Khiêm đâu chỉkhuyên nàng dâu thờ cha mẹ chồng hiếu thảo mà ông còn “khuyến phu đại thê”lấy “tình nhân” nghĩa “tao khang” làm trọn Cũng chính bậc thầy “sông Tuyết”giáo huấn mọi ngời phải sống trong tình làng nghĩa xóm - một nét đẹp vốn cótrong cộng đồng ngời Việt Và phải chăng cũng do ảnh hởng của truyền thốngViệt Nam mà Nguyễn Trãi trong khi “Dạy con trai” đã không lấy “đạo thờ cha”,

“đạo làm con” của Nho giáo làm lời răn dạy mà lại lấy bài học vốn có trong dângian về đức cần, đức kiệm để khuyên nhủ một cách ân cần:

“Xa hoa lơ đãng nhiều hay hết.

Hà tiện đâu đang, ít hãy còn.

áo mặc miễn là cho cật ấm.

Cơm ăn chẳng lọ kém mùi ngon.

Xa đà có câu truyền bảo, Làm biếng hay ăn lở non”

(Quốc âm thi tập - Dạy con trai)

Đọc bài thơ của Nguyễn Trãi ta nhớ đến lời dạy của dân gian:

“Có làm thì mới có ăn,

Không dng ai dễ mang phần đến cho”

(Ca dao)

Tiếp thu những tởng của quần chúng, Nguyễn Trãi rất mực đề cao t tởng đó,

đồng thời biết uốn nắn những quan điển cha đúng của nhân dân

Chẳng hạn trong bài “Bảo kính cảnh giới”, số 15, Nguyễn Trãi viết:

“Chân tay dầu đứt bề khôn nối,

Sống áo chăng còn mo dề xin”

Hai câu thơ trên có cơ sở từ câu tục ngữ mang hình thức ca dao từng phổbiến trong dân gian:

“Anh em nh thể chân tay,

Vợ chồng nh áo cởi rày mặc mai”.

Đây là một quan niện sai Nó đề cao tính cốt nhục mà xem thờng nghĩa taokhang Nguyễn Trãi đã uốn nắn lại Ông rất quý trọng tình huynh đệ - nh chân tay

đứt rồi không thể nối, ông cũng đề cao nghĩa vợ chồng - nh áo mặc nhng nếu đểmất khó bề xin lại

Trang 12

Nội dung giáo huấn trong ca dao cũng nh trong thơ Nôm Đờng luật là mộtsợi chỉ đỏ xuyên suốt trong văn học, nó góp phần to lớn vào công việc bồi dỡngtâm hồn, xây dựng nhân cách con ngời Việt Nam.

2 ảnh hởng trên phơng diện hình thức

2.1 ảnh hởng về hình tợng nghệ thuật.

Trớc khi đi vào tìm sự ảnh hởng của ca dao đối với thơ Nôm Đờng luật trênphơng diện hình tợng nghệ thuật, chúng tôi đa ra khái niện hình tợng nghệ thuật

mà chúng tôi sẽ trình bày ở khoá luận này

Khái niệm về hình tợng nghệ thuật có nhiều cách hiểu Để có một kết luậnchung nhất, chính xác nhất về nội dung khái niệm là công việc của bộ môm Lýluận văn học Trong khoá luận này khi sử dụng khái niệm hình tợng nghệ thuật ,chúng tôi chú ý đến hai điểm: thứ nhất, không sử dụng theo nghĩa rộng: nh hình t-ợng cuộc sống, hình tợng tác phẩm, hình tợng tự sự, hình tợng trữ tình Thứ hai,không sử dụng theo nghĩa hẹp: đồng nhất hình tợng với hình ảnh, bởi ngôn ngữhình ảnh cha phải là hình tợng, nó chỉ là “phơng tiện để xây dựng hình tợng vănhọc”(1) Khái niệm hình tợng nghệ thuật đợc sử dụng trong khoá luận này với nộidung xác định: những hình ảnh cụ thể, cảm tính, đồng thời là những ớc lệ nghệthuật phản ánh bản chất của đối tợng miêu tả, khái quát hoá đối tợng miêu tả

Trên phơng diện này, ta thấy trong thơ Nôm Đờng luật cũng sử dụng nhữnghình tợng rất gần gũi với ca dao, với văn học dân gian

Ví nh trong thơ Nôm Đờng luật xuất hiện những hình tợng: tùng, trúc, mai:

“Quét trúc bớc qua lòng suối.

Thởng mai về đạp bóng trăng ”

(Ngôn Trí-Bài 15-Nguyễn Trãi)

Chúng ta thấy trong văn học dân gian hình tợng đào, mận, trúc, mai cũng

đ-ợc nói đến:

“Bây giờ Mận mới hỏi Đào

Vờn hồng đã có ai vào hay cha ?”

(Ca dao)

Hay:

“Em than cùng trúc, em thở cùng mai

Đông đào, tây liễu biết ai bạn cùng”

Trang 13

xây dựng hình tợng trên cơ sở những liên tởng giá trị, chú ý đến tính cao cả, phẩmchất đặc biệt của sự vật, hiện tợng.

Trong thơ Nôm Đờng luật có một loạt các hình tợng đợc bắt nguồn từ cuộcsống, đó là những hình tợng sức dân dã, gần gũi: ao bèo, bè muống, luống mùng,con lợn đặc biệt là hình tợng cây chuối, một sáng tạo tuyệt vời của Nguyễn Trãi:

“Tự bén hơi xuân tốt lại thêm

Đầy buồng lạ, màu thâu đêm.

Tình th một bức phong còn kín.

Gió nơi đâu, gợng mở xem”.

(Quốc âm thi tập-Cây chuối)

Những hình tợng lấy từ hiện thực cuộc sống dân dã, bình thờng ta cũng bắtgặp rất nhiều trong ca dao:

Trong thơ Nguyễn Khuyến, hình tợng trăng cũng xuất hiện nhiều:

- “Song tha để mặc ánh trăng vào” (Thu Vịnh)

- “Làn ao lóng lánh bóng trăng loe” (Thu ẩm)

- “Chiếc thuyền len lỏi bóng trăng trôi” (Nớc lụt Hà Nam)

Những hình tợng nghệ thuật trong thơ Tú Xơng, Nguyễn Khuyến chủ yếu

đợc tạo dựng từ chất liệu hiện thực Tú Xơng cũng có sự kết hợp giữa văn học dângian và những sáng tạo riêng của mình để viết lên những câu thơ:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo xèo mặt nớc buổi đò đông”

(Thơng vợ)

Ca dao cũng đã từng viết:

“Con cò lặn lội bờ sông

Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”

Hay Nguyễn Khuyến tring sáng tác ông cũng có sử dụng nhiều ý của cadao Ví nh ca dao viết:

Trang 14

luật có nội dung biểu đạt khác nhau-điều đó khẳng định những giá trị và đóng gópcủa thơ Nôm Đờng luật đối với nền văn học dân tộc.

2.2 ảnh hởng trên phơng diện ngôn ngữ

Khẳng định vai trò của thành phần ngôn ngữ dân tộc trong thơ Nôm Đ ờngluật, phải kể đến sự có mặt của thành ngữ, tục ngữ và ca dao - bộ phận ngôn ngữvăn học dân gian, bởi tính chất của bộ phận ngôn ngữ này thể hiện trí tuệ và tâmhồn dân tộc, góp phần làm nên đặc điểm dân tộc trong tác phẩm văn học Tấtnhiên, ngôn ngữ văn học dân gian có tính chất quan trọng khác: tính chất bình

dị, gần với đời sống Vì thế từ một khía cạnh khác, có thể xem ngôn ngữ văn họcdân gian trong sự đối lập với ngôn ngữ sách vở Dẫu vậy cũng không nên xếpngôn ngữ văn học dân gian vào thành phần ngôn ngữ đời sống Dù rất gần với

đời sống, ngôn ngữ văn học dân gian vẫn là ngôn ngữ văn học, khác về tính chất

so với khẩu ngữ

ý thức tìm về ngôn ngữ dân gian có từ thời Nguyễn Trãi, nhng việc sử dụngngôn ngữ này là cả một quá trình Nhìn chung trong sự phát triển ở thơ Nôm Đ-ờng luật, bộ phần ngôn ngữ văn học dân gian ngày càng tăng về số lợng, theothống kê của tác giả Lã Nhâm Thìn thì:

Trong thơ Hồ Xuân Hơng cứ 26,8 câu thơ thì có một câu có sử dụng thànhngữ tục ngữ, ca dao

Trong thơ Tú Xơng cứ 57,7 câu thơ thì có một câu có sử dụng thành ngữ,tục ngữ, ca dao

Trong thơ Nguyễn Khuyến cứ 54,4 câu thơ thì có một câu có sử dụng thànhngữ, tục ngữ, ca dao

Qua đó, ta thấy Hồ Xuân Hơng sử dụng ngôn ngữ dân gian với tỷ lệ caonhất, Xuân Hơng đúng là thi sĩ của dân gian

Nói sự ảnh hởng của ca dao đối với thơ Nôm Đờng luật có thể tính từ thời

Nguyễn Trãi Trong “Quốc âm thi tập” có một số câu thơ gợi cho chúng ta liên

(Ca dao)

Trong thơ Hồ Xuân Hơng, Tú Xơng, Nguyễn Khuyến bên cạnh từ ngữ, tụcngữ đã có ảnh hởng của ca dao Thơ Nôm Đờng luật đã tìm thấy một nội dung t-

ơng ứng, hình thức biểu đạt thích hợp không chỉ với thành ngữ, tục ngữ (có đặc

điểm ngắn gọn, cân đối về hình thức, hàm súc về nội dung, nội dung lại thiên vềtrí tuệ, rất phù hợp với thơ Nôm Đờng luật) mà cả ở ca dao Trên tất cả các phơngdiện ấy thì Hồ Xuân Hơng vẫn là ngời đánh một dấu mốc quan trong trong việc sử

Trang 15

dụng ngôn ngữ văn học dân gian Trong thơ bà không chỉ có thành ngữ, tục ngữ

mà cả ca dao cũng đợc vận dụng, trở thành ngôn ngữ của thơ Nôm Đờng luật Đến

Hồ Xuân Hơng, ngôn ngữ văn học dân gian không chỉ góp phần biểu đạt t duy, trítuệ mà còn góp phần biểu đạt tình cảm dân tộc

Nói tóm lại, sự ảnh hởng của văn học dân gian đối với văn học viết nóichung là một điều tất yếu và đơng nhiên Bởi văn học dân gian là nguồn văn họccủa quần chúng nhân dân lao động, là lời ăn tiếng nói, tâm t tình cảm, là suy nghĩcủa ngời dân trong cuộc sống xã hội Vậy nên, mối quan hệ giữa hai nền văn họcdân gian và văn học viết là mối quan hệ có tính chất quy luật, giữa chúng luôn có

sự tác động tơng hỗ với nhau, xuyên thấm lẫn nhau trong quá trình tồn tại và pháttriển Thơ Nôm Đờng luật cũng không nằm ngoài quy luật ấy Sự ảnh hởng của cadao đối với thơ Nôm Đờng luật có tính toàn diện, trên tất cả các phơng diện: đềtài, chủ đề, hình tợng nghệ thuật và ngôn ngữ Tuy nhiên, sự ảnh hởng đó là trêncơ sở kế thừa và phát huy những cái tinh hoa của nền văn học dân gian Điền này

đã đợc chứng minh ở trên và chúng ta sẽ hiểu sâu hơn ở phần sau - khi đi vào tìmhiểu ảnh hởng của ca dao đối với thơ Nôm Hồ Xuân Hơng

Trang 16

Chơng 2 ảnh hởng của ca dao ngời Việt đối với

thơ Nôm của Hồ Xuân Hơng

Đến với thơ Hồ Xuân Hơng, chúng ta không thấy những vần thơ mang dáng

vẻ của nền văn học bác học, mang phogn cách quý tộc, thợng lu mà ngợc lại đọcthơ bà, chúng ta thấy rất gần gũi, quen thuộc và dờng nh ở mỗi câu thơ có chứatừng nhịp đập, hơi thở của cuộc sống con ngời bình dân

Có đợc điều đó, Xuân Hơng đã dồn tất cả những nhịp đập của trái timmình cho cuộc sống với nhân dân và cùng nhân dân Có thể nói, môi tr ờng ấy

nh là một chiếc nôi đã nuôi dỡng và chắp cánh cho những vần thơ của bà Cũngchính vì thế mà trong sáng tác của Xuân Hơng, chúng ta thấy có gì đó gần gũivới nền văn học dân gian của dân tộc Quả đúng vậy, tâm hồn Xuân H ơng đợcnuôi dỡng từ cuộc sống nhân dân, cho nên những dòng thơ của bà cũng đ ợc uốngdòng sữa trong lành của nền văn học dân gian Những sáng tác của Xuân H ơngchịu ảnh hởng rất nhiều những sáng tác của dân gian Chẳng hạn việc sử dụngthành ngữ, tục ngữ, câu đối, chơi chữ mà đặc biệt là ca dao trong sáng tác củamình

Trớc hết, chúng ta cần nắm đợc khái niệm ca dao Ca dao “là một loại thơdân gian có thể ngâm đợc nh các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các điệudân ca”(1) Ca dao thờng ngắn, có từ hai, bốn, sáu đến tám câu, âm điệu lu loát vàphong phú Nói tới sự ảnh hởng của ca dao đối với thơ Nôm Hồ Xuân Hơng là nóitới sự tác động của ca dao đối với sáng tác của Hồ Xuân Hơng, ở đó có sự kế thừa,tiếp thu và phát huy những tinh hoa từ những sáng tác truyền miệng của quầnchúng lao động

Khi đi vào tìm hiểu sự ảnh hởng của ca dao đối với thơ Nôm của Hồ XuânHơng, chúng ta có thể khẳng định đó là một ảnh hởng toàn diện - trên tất cả cácphơng diện nh: đề tài, chủ đề, hình tợng, ngôn ngữ, phơng thức và phơng tiện biểuhiện

Trớc hết, chúng ta tìm hiểu sự ảnh hởng của ca dao đối với thơ Nôm của HồXuân Hơng trên phơng diện đề tài Bởi đây là vấn đề có tính chất bao quát nhất

mà chúng ta dễ nhận thấy

1 ảnh hởng trên phơng diện đề tài.

Trên phơng diện này, có thể nói Hồ Xuân Hơng đã chống lại hẳn khuynh ớng quý tộc, công thức, có tính chất mô hình, quy phạm Nừu nh trong nền vănhọc viết phong kiến (văn học Trung đại) thờng viết về đề tài phong, hoa, tuyết,nguyệt, cầm kỳ thi tửu, nh tiều canh mục hay những chuyện đời Hán, đời Đờnghay gần hơn là những đề tài có tính chất khuyên răn, dạy bảo, những đề tài mangtính chất đạo lý, lịch sử truyền thống, thế thái nhân tình thì đến Hồ Xuân Hơng -

h-bà không gò mình vào khuôn mẫu ấy mà Xuân Hơng học tập đợc rất nhiều từ dângian, những đề tài bà viết thờng đợc bắt nguồn từ những sự vật nhỏ mọn, hết sức

Trang 17

bình thờng, nó gần gũi với cuộc sống lao động hàng ngày của nhân dân, đó lànhững quả cau, miếng trầu, cái quạt, cái bánh trôi đến những công việc hàng ngàynh: dệt cửi, tát nớc và cả những phong cảnh thiên nhiên, danh lam thắng cảnhnh: cảnh Hơng Tích, cảnh Chợ Trời hay hang Cắc Cớ

Qua đó, ta thấy đợc sự ảnh hởng của ca dao đối với những sáng tác củaXuân Hơng trên phơng diện đề tài rất sâu sắc

Chẳng hạn nh trong ca dao, hình ảnh “quả cau”, “miếng trầu” đợc nói đến

rất nhiều - đây là một hình ảnh quen thuộc, gắn liền với tục ăn trầu của nhân dân

ta Hình ảnh đó đã trở thành một nguồn đề tài trong các sáng tác dân gian và nó

đ-ợc diễn tả bằng những hình ảnh khác nhau nh:

“Quả cau nho nhỏ,

Cái vỏ vân vân.

Nay anh học gần, Mai anh học xa”.

Hay là:

“Miếng trầu thật tay em têm,

Trầu phú, trầu quý, trầu nên vợ chồng.

Trầu này khấn nguyện tơ hồng, Trầu này hết nghĩa loan phòng từ đây”

(Ca dao)

Đến Hồ Xuân Hơng, hình ảnh “quả cau”, “miếng trầu” cũng có mặt trong

thơ bà Xuân Hơng đã vận dụng hình ảnh này của ca dao để bày tỏ nỗi lòng mìnhthông qua việc giới thiệu về miếng trầu và mời khác ăn trầu theo nghĩa của dân

gian: “miếng trầu là đầu câu chuyện”.

“Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi.

Này của Xuân Hơng mới quệt rồi

Có phải duyên nhau thì thắm lại Đừng xanh nh lá, bạc nh vôi”

(Mời Trầu)

Hình ảnh “quả cau”, “miếng trầu” của Hồ Xuân Hơng bắt gặp hình ảnh

quen thuộc này trong ca dao Nhng điều đáng nói là cũng hình ảnh ấy nhng trongthơ Hồ Xuân Hơng lại mang một “nghĩa ngầm” khác Nếu ở ca dao, đó là hình

ảnh “quả cau nho nhỏ”, những miếng trầu cánh phợng thật đẹp do “tay em têm”

mà dân gian đã dùng để làm “đầu câu chuyện” để mở đầu cho những chuyện hệ trọng nh: giao duyên, tình nghĩa mà nh ca dao đã nói “trầu nên vợ chồng” Đến

Hồ Xuân Hơng, vẫn hình ảnh ấy nhng khi đi vào thơ bà thì thật là đặc biệt và độc

đáo Miếng trầu của Xuân Hơng không phải là miếng trầu quế thơm ngon, mộtmiếng trầu têm cánh phợng đạp nh trong ca dao mà trầu của Xuân Hơng chỉ là

một miếng “trầu hôi” - một miếng trầu hết sức bình thờng, dân dã, nếu cha muốn

nói là nhỏ mọn Nhng chúng ta đừng vội nghĩ rằng với miếng trầu hôi và quả caunhỏ là vì Xuân Hơng đãi bôi hay không tôn trọng khách mà phải thấy rằng đó làcách đối xử thật khiêm tốn, bình dị của Xuân Hơng và điều quan trọng hơn là

đằng sau “miếng trầu hôi” ấy là một tấm lòng hết sức chân thành và lời mời đó

Trang 18

phải chăng còn là tiếng lòng tha thiết, đằm thắm mà cũng không kém phâng dụcgiã Xuân Hơng khát khao một tình yêu thắm thiết, trung hậu và bà ghét cay ghét

đắng những thói sở khanh của bọn văn nhân chỉ tìm cách lợi dụng

Xuân Hơng đã không dè dặt ngần ngại giãi bày thái độ của mình trớc mộtchuyện hệ trọng: chuyện nhân duyên Nếu phải duyên số thì hãy đằm thắm, sắt

son, nên đôi lứa, nói nh dân gian: “Đã thơng thì thơng cho chắc; bằng trục trặc

thì trục trặc cho luôn ” (Dân ca Nghệ Tĩnh) Xuân Hơng muốn ai đó hãy tỏ rõ

thái độ, đừng nhập nhèm lẫn lộn trắng đen, cho nên bà đã nói những lời vừa có

tính chất nhắn nhủ vừa có tính chất phê phán: “Đừng xanh nh là bạc nh vôi” Vì

thế, có thể nói “Mời Trầu” là một sự thẳng thắn, chủ động trong tình yêu.

Đọc bài thơ ta cứ tởng nh đó là một lời choà bình thờng trong giao tiếpquen thuộc của nhân dân Nhng cái âm vang mà bài thơ để lại nh một khúc nhạcbuồn về số phận không mấy suôn sẽ của ngời phụ nữ, sống trong chế độ xã hộibấy giờ họ không có quyền bình đẳng nam nữ, mà đặc biệt là không có quyền tự

do yêu đơng, cuộc đời vẫn phủ phàng dẫm đạp lên số phận họ Nhng không vì thế

mà họ hạ mình, lùi bớc mà họ vẫn luôn có bản lĩnh vững vàng trong cuộc sống.Xuân Hơng đã thể hiện đợc điều đó, bài thơ là tiếng lòng, tiếng nói chân thành đ-

ợc chắt lọc ra từ trái tim Xuân Hơng

Bên cạnh hình ảnh “quả cau”, “miếng trầu” thì hình ảnh “chiếc bánh trôi”

cũng đợc xuất hiện trong văn học dân gian cũng nh trong thơ Hồ Xuân Hơng.Bánh trôi là một loại bánh truyền thống, thờng đợc nhân dân ta làm cúng trongmột số dịp lễ hội Loại bánh này đợc làm bằng bột lọc, bên trong có nhân là mẩu

đờng đen, ngời ta thả vào nớc sôi luộc chín Phong tục truyền thống ấy đã đợcnhân dân lao động đa vào sáng tác của mình Ca dao viết:

“Bánh này bánh lọc bánh trong

Ngoài tuy xám mỏng trong lòng có nhân

Ai ơi xin chớ tần ngần Lòng son em vẫn giữ phần dẻo dang”.

Hồ Xuân Hơng cũng viết về hình ảnh “chiếc bánh trôi” nh trong ca dao và

Xuân Hơng đã bắt gặp ở ca dao ý nghĩa nhân bản cao đẹp của chiếc bánh Cũng

nh ca dao Xuân Hơng giới thiệu về chiếc bánh “vừa trắng lại vừa tròn” và điều

quan trọng mà tác giả dân gian và Xuân Hơng muốn nói ở đây là lòng thuỷ chung,

son sắt của ngời phụ nữ Cho dù cái bề ngoài “tuy xám mỏng” hay phận nó lênh

đênh (“bảy nổi ba chìm”) nhng “trong lòng có nhân” nó vẫn “giữ tấm lòng son”

-ngời phụ nữ ấy dù gió cuốn, mây đa nhng họ vẫn một lòng son sắt, vẫn giữ đợctấm lòng trinh bạch của minh trớc cuộc đời

Xuân Hơng viết:

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nớc non.

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son.”

Cái đặc biệt của Xuân Hơng ở đây là hai chữ “thân em” Cái bánh trôi ấy lại chính là “thân em” - một thân em cụ thể đặt trong một hoàn cảnh cụ thể, một cuộc

Trang 19

đời cụ thể - đó là một hoàn cảnh “đảo điên” Xã hội ấy muốn ngời phụ nữ phải thế này, thế khác, nên “Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn”, cái thân em xem chừng cơ cực

ấy, bị sự tàn bạo, phũ phàng của cuộc đời nhng “mà em vẫn giữ tấm lòng son” Hai chứ “thân em” sao mà xót xa vậy ! Xuân Hơng muốn tố cáo cái xã hội, mà ở

đó thân phận con ngời, đặc biệt là ngời phụ nữ - không hề đợc làm chủ chínhmình, họ hành động nh một cấi máy, trong một khuôn khổ mà ở đó đã có sự sắp

đặt, có quy trình buộc họ phải thực hiện Họ phó thác cuộc đời mình cho số phận,cho định mệnh

Điều đáng khẳng định ở đây, Xuân Hơng đã ý thức về mình, về cái Tôi của

mình, bản lĩnh cá nhân trớc cộng đồng Dù cho số phận có xô đẩy và “thân em”

có thể “rắn nát”, có thể tròn méo nhng “em vẫn giữ tấm lòng son” - câu thơ nh

chính tiếng lòng của Xuân Hơng ở đây, ta thấy Xuân Hơng đã bắt gặp ý trong

câu ca dao: “Nhị vàng bông trắng lá xanh Gần bùn mà chẳng hơi tanh mùi bùn”.

Hay hình ảnh “chiếc quạt giấy” - đây là một sự vật hết sức quen thuộc trong

đời sống hàng ngày của ngời dân Việt Nam Những vật dụng thờng ngày ấy cũng

đợc đi vào những sáng tác dân gian - ca dao đã diễn tả rất hay, rất có hình ảnh:

“Cái quạt mời tám cái nan

ở giữa phất giấy, hai nan hai đầu.

Quạt này em để che đầu Đêm đi ngủ chung nhau quạt này”

Hay:

“Quạt em mời tám cái xơng,

Mợn thợ phất giấy mà nơng lấy màu.

Nắng thì em lấy che đầu, Khi bức em quạt, đi dâu em cầm.

Ra đờng gặp bạn tri âm Quạt che lấy miệng lầm rầm nhỏ to”

Đến Hồ Xuân Hơng, hình ảnh “chiếc quạt giấy” trong ca dao cũng đợc

Xuân Hơng nhắc đến, bà đã vận dụng hình ảnh này của ca dao một cách rất độc

đáo và tài tình Điều này đợc Xuân Hơng thể hiện rất rõ qua hai bài thơ: “Vịnh

quạt 1” và “Vình quạt 2”.

Nếu nh chiếc quạt giấy trong ca dao đợc tác giả dân gian miêu tả rất rõ:

“m-ời tám cái nan”, “m“m-ời tám cái xơng” với một dụng ý hết sức nhẹ nhàng và tinh tế,

nó nh một vật để làm duyên của các cô gái thì đến Hồ Xuân Hơng, chiếc quạt ấylại mang một “nghĩa ngầm” khác:

“Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa.

Duyên em dính dáng tự bao giờ.

Trang 20

thái độ của mình, chiếc quạt độc đáo của Xuân Hơng sẵn sàng đặt lên đầu các “tu

mi nam tử”:

“Mát mặt anh hùng khi tắt gió.

Che đầu quân tử lúc sa ma”

Xuân Hơng muốn nói to với mọi ngời rằng, bọn hiền nhân quân tử chẳng cóthanh cao gì hết mà rất thô tục Xuân Hơng chỉ trích cái tham lam ích kỷ của phái

mạnh “Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa”, Xuân Hơng đã dìm sâu lòng kiêu hãnh của

đàn ông bằng cách bày lòng dạ tham lam, ích kỷ, đen bạc và thô bỉ của họ Đóchính là dụng ý kín đáo của Xuân Hơng qua cái bông đùa cời cợt của bà Câu hỏi

của Xuân Hơng ở cuối bài thơ thể hiện thái độ mỉa mai, khinh bỉ: “Phì phạch

trong lòng đã sớng cha ?”.

Đặc biệt hơn là ở bài “Vịnh quạt 2”, Xuân Hơng dùng lối nói nôm na cửa

miệng của dân gian:

“Mời bảy hay là mời tám đây ?”

Cách nói thì có vẻ bông đùa, nhng Xuân Hơng đã ném thẳng vào mặt ngời tamột câu trả lời phũ phàng, câu trả lời vạch trần “tim đen” của bà “chí tôn”:

“Hồng hồng má phấn duyên vì cậy.

Chúa dấu Vua yêu một cái này”.

Câu kết thật đột ngột, bất thình lình, đã tớc bỏ đi cái vỏ “thiêng liêng caoquý” bên ngoài, làm trơ cái bộ mặt hởng lạc, hủ hoá của đấng “con trời” Xuân H-

ơng đã không ngần ngại gì khi vạch trần bộ mặt của chúng: “Chúa dấu Vua yêu

một cái này” Vua Chúa chỉ yêu “cái này” thôi và không yêu cái gì khác nửa.

Xuân Hơng còn viết về những công việc hết sức quen thuộc trong cuộcsống sinh hoạt hàng ngày của nhân dân lao động ở đề tài này, Xuân Hơng cũnghọc tập đợc ca dao rất nhiều Trong ca dao, tác giả dân gian vẫn thờng nói đếncông việc của nhà nông, nh: tát nớc, dệt cửi chẳng hạn nh hình ảnh “tát nớc” đã

đợc ca dao phác hoạ bằng những câu thơ:

“Nửa đêm trăng sáng mây cao,

Triệu trời nắng gắt, nắng gào chẳng ai.

Lúa khô, nớc cạn, ai ôi,

Rủ nhau tát nớc, chờ trời còn lâu.”

Hoặc:

“Hôm qua tát nớc đầu đình

Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen.”

Xuân Hơng cũng viết về công việc “tát nớc” giữa ban ngày hết sức độc đáo:

“Đang cơn nắng cực chửa ma tè.

Rủ chị em ra tát nớc khe.

Lẽo đẽo chiếc gàu ba góc chụm.

Lênh đênh một ruộng bốn bờ be.

Xì xòm đáy nớc mình nghiêng ngửa.

Nhấp nhổm bên ghềnh đít vắt ve.

Ham việc làm ăn quên cả mệt, Dạng hang một lúc đã đầy phè”

Trang 21

động tác của một việc có tính chất thú tính Đây gần nh là một sự xuyên tạc, một

sự báng bổ.”(1)

Theo chúng tôi, bài thơ này chẳng có gì là “xuyên tạc” và “báng bổ” cả.Cũng nh ca dao Xuân Hơng lấy đề tài từ cuộc sống lao động của nhân dân Nhngnếu nh ca dao viết về công việc tát nớc - đó là một công việc cụ thể, là cái nhìnthấy đợc thì cái đặc sắc của Xuân Hơng ở đay là, Xuân Hơng không chỉ nói lêncái nhìn thấy đợc mà Xuân Hơng còn nói đợc cái ngời ta cảm thấy Với cách nói

lái của dân gian: “nắng cực”, rồi các từ ngữ: “ba góc chụm”, “mình nghiêng

ngửa”, “đít vắt ve” Xuân Hơng đã đi từ việc tát nớc đến chuyện tế nhị trong tình

cảm nam nữ Đọc thơ Xuân Hơng, có thể làm cho ngời đọc bật ra một tiếng cời,nhng đó không phải là tiếng cời vì tục tĩu hay chê bai mà đó là một tiếng cời ý vị,rất tế nhị bên trong suy nghĩ của mỗi ngời Cái độc đáo và tài tình của Xuân Hơng

là ở đó Xuân Hơng là một phụ nữ bình dân, thơ bà cũng toát ra từ tiếng nói củanhân dân, từ những công việc hàng ngày trong cuộc sống Tất cả đều bắt nguồn từthực tại Thơ Nôm của Hồ Xuân Hơng không phải là sản phẩm của “bệnh hoạnthần kinh vì dục tình không đợc thoả mãn” (Trơng Tửu) cũng không phải là hiệntợng “linh quái” (Tản Đà) mà Hồ Xuân Hơng có sự kế thừa của thơ ca dân gianrất rõ, Xuân Hơng chịu ảnh hởng của nền văn học dân gian Mặc dù vậy, nhngXuân Hơng không lặp lại văn học dân gian, mà trên cơ sở đó, Xuân Hơng sáng tạo

ra cái riêng của mình, rất mới và rất độc đáo

Đến công việc “dệt cửi” - một công việc hết sức quen thuộc, bình thờng củangời dân quê, chúng ta không chỉ gặp trong những sáng tác dân gian mà gặp cảtrong thơ Nôm của Hồ Xuân Hơng Nhng nếu ca dao nhắc đến công việc ấy mộtcách bình thờng, quen thuộc thì đến Hồ Xuân Hơng, đọc bài thơ “dệt cửi” ta thấy

Hồ Xuân Hơng rất thành thạo và có nhiều kinh nghiệm trong công việc Cũng có

ý kiến cho rằng bài thơ này “tục tĩu” Chúng tôi đồng ý rằng, đọc bài thơ dờng nhthấy Xuân Hơng chỉ nói về một chuyện, đó là chuyện tình dục, chứ ngoài ra chẳng

có chuyện gì khác Nhng chúng ta phải thấy rằng, cái tục ở đây là một phơng diệnnghệ thuật, bởi đằng sau cái chuyện đó là một quan niệm nghệ thuật, vấn đề t tởngcủa tác giả

Rõ ràng thể hiện cái tục ở đây, nhằm nói tới cái “nghĩa ngầm” của côngviệc “dệt cửi” Trớc hết công việc dệt cửi đợc miêu tả hết sức chân thật, sinh động

nh nó vốn có trong thực tế Nhng đọc lên ta vẫn nghĩ đến một chuyện khác - cáitài của Xuân Hơng là ở đó, bà đã có một cái nhìn hết sức độc đáo trong công việcquen thuộc Xuân Hơng đã thể hiện sự hoà hợp trong quan hệ nam nữ, đó làchuyện thờng tình và hết sức tự nhiên của con ngời, thế thì có gì phải lãng tránh,nhắm mắt, bịt tai khi nghe ngời ta nói đến và nh thế thì có gì là tục tĩu ?

Trang 22

Tuy nhiên, cái “chuyện ấy” là một vấn đề tế nhị, ngời ta không phải lúcnào, ở đâu cũng cứ thao thoa nh bao chuyện khác Chính vì thế mà ta thấy XuânHơng cũng rất tế nhị, bà đã gửi gắm nó dới hình thức của công việc thờng ngày,với lời thơ hết sức ngọt ngào và sắc sảo.

Xuân Hơng là nh thế, thơ Xuân Hơng luôn thể hiện tiếng nói của riêngmình - hết sức tài tình và độc đáo Ta có thể bắt gặp trong thơ bà những hình ảnhquen thuộc trong đời sống hàng ngày đã đợc tác giả dân gian ghi nhận và phản

ánh Nhng với Xuân Hơng bà luôn có một cái nhìn độc đáo và mới mẻ, đặc biệtnhững gì là sâu sắc, tế nhị lại đợc Xuân Hơng giấu dới một hình thức bông đùa, c-

ời cựt, với một giọng thơ sac sảo và tinh tế

Cũng nh ca dao Xuân Hơng không chỉ viết về những đề tài lấy từ cuộc sốngsinh hoạt đời thờng mà Xuân Hơng còn viết về phong cảnh thiên nhiên, những

danh lam thắng cảnh của quê hơng đất nớc, nh: “Động Hơng Tích”, “Hang

“Đờng vô xứ Nghệ quanh quanh,

Non xanh nớc biếc nh tranh hoạ đồ.”

Trong văn học viết, chúng ta cũng gặp một bài thơ khá nổi tiếng viết về

cảnh đẹp của đất nớc, đó là bài “Côn Sơn Ca” - Nguyễn Trãi:

“Côn Sơn suối chảy rì rầm,

Ta nghe nh tiếng đàn cầm bên tai.

Cô Sơn có đá rêu phơi,

Ta ngồi trên đá nh ngồi đệm êm.”

Cũng đề tài ấy viết về cảnh đẹp quê hơng đất nớc, nhng ở Xuân Hơng có sự

đặc biệt hơn trong ca dao Cũng từ địa danh ấy - một địa danh cụ thể, Xuân Hơng

đã nâng ý thơ lên một bình diện mới mang một ý vị sắc sảo, độc đáo, với một bútpháp miêu tả hết sức mới mẽ Chẳng hạn khi nói về hang Cắc cớ, ca dao thể hiện:

“Nhớ ngày mồng bảy tháng ba,

Trở về hội láng, trở ra hội Thầy.

Hội chùa Thầy có hang cắc cớ, Trai cha vợ nhớ hội chùa Thầy.”

Hang cắc cớ đợc ca dao giới thiệu nh là một địa danh có thực trên đất nớcViệt Nam, chúng ta không biết gì thêm nữa Phải đợi đến thơ Hồ Xuân Hơng tamới biết về một hang cắc cớ cụ thể, với đầy đủ hình thù, đờng nét qua cách miêutả tỷ mỹ:

“Trời đất sinh ra đá một chòm,

Nứt ra hai mãnh hỏm hòm hom.

Kẻ hầm rêu mốc trơ toen hoẻn,

Trang 23

Luồng gió thôn reo vỗ phập phòm.

Giọt nớc hữu tình rơi lõm bỏm, Con đờng vô ngạn tối om om.

Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc, Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm.”

(Hang cắc cớ)

ở bài thơ này, trớc hết Xuân Hơng tả cảnh một cái hang - hang Cắc cớ, rất

thực và rất đúng Nhng với việc sử dụng một loạt từ ngữ độc đáo: “nứt ra hai

mãnh”, “kẻ hầm rêu mốc”, “giọt nớc hữu tình” làm cho ta nghĩ đến một cái khác,

đó là những bộ phận kín đáo trong cơ thể Chính vì thế mà khi hạ bút viết hai câucuối, một lần nữa Xuân Hơng lại ngầm phê phán những kẻ tham lam, ích kỷ

Hay khi viết về Đèo Ba Dội - ở Tống Sơn - Thanh Hoá, với vài ba nét chấm

phá, Xuân Hơng đã vẽ lên hình khe thế núi, cỏ cây hang hốc, về một “Đèo Ba

Dội” cụ thể và chân thực:

“Một đèo, một đèo, lại một đèo,

Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo.

Của son đỏ loét tùm hum nóc, Bậc đá xanh rì lún phún rêu.

Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc, Đầm đìa lá liễu giọt sơng gieo ”

(Đèo Ba Dội)

Đọc hai câu đầu, chúng ta tởng nh đứng trớc một đèo có ba bậc dốc: “Một

đèo, một đèo, lại một đèo” - từ ngữ của Xuân Hơng thật khéo gợi hình, làm cho ai

cũng thấy trớc mắt nh có một “Đèo Ba Dội” sừng sững và cheo leo giữa cảnh núinon hiểm trở Cảnh đó lại đợc Xuân Hơng tô điểm bằng những màu sắc rất đậm,với một nét bút rất bạo:

“Cửa son đỏ loét tùm hum nóc,

Bậc đá xanh rì lún phún rêu”.

Cách tô màu của Xuân Hơng thật độc đáo: “đỏ” thì “đỏ loét”, mà đã xanh thì

“xanh rì”, cả đến ngọn gió cũng làm cho cảnh vật cứ run lên những tiếng răng rắc

“Đèo Ba Dội” không chỉ là một bài thơ tả cảnh thực Xuân Hơng đã gửi vào

đó cả một tấm lòng sôi nổi và có lẽ vì thế mà những vần điệu, những chữ, những

âm thanh tiết tấu trong đó đều mang một sức sống dạt dào, làm rung rinh cả cốtcách điềm đạm của bài thơ Đến hai câu kết:

“Hiền nhân quân tử ai là chẳng ?

Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo”

Xuân Hơng lại có ý chế giễu bọn “hiền nhân quân tử” dâm ô mà giả dối,nhng đồng thời cũng nói lên một tấm lòng trìu mến của tác giả đối với cảnh đất n-

ớc Đó là một thứ tình cảm lành mạnh, chân thành của một tâm hồn yêu cuộcsống, yêu quê hơng đất nớc

Hay khi viết về Kẽm Trống - một địa danh ở Kim Bảng - Phủ Lý Nhân - HàNam (nay thuộc tỉnh Nam Hà), Xuân Hơng viết:

“Hai bên thì núi giữa thì sông,

Trang 24

Có phải đây là Kẽm Trống không ?”

Đến những câu sau, với những âm thanh “lắc cắc”, “long bong” làm chocảnh vật ở đây nh cựa quậy Những câu thơ vừa tả thực, lại vừa gửi gắm một nổiniềm, một sự mong đợi xa xôi:

“Qua cửa mình ơi ! nên ngắm lại,

Nào ai có biết nỗi bng bồng.”

Nhng khi đứng trớc cảnh “Động Hơng Tích” (Chùa Hơng) thái độ của

Xuân Hơng lại hoàn toàn khác Xuân Hơng không tìm vẻ đẹp của thiên nhiên màchú ý đến những cảnh ngợc đời của bọn sùng đạo:

“Ngời quen cõi Phật chen chân xọc,

Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm.”

Chùa Hơng vốn đợc xem là “Nam thiên đệ nhất động”, nhng đối với Xuân

ơng cha bao giờ là cảnh đẹp (đọc “Chùa Quán Sứ”), Xuân Hơng không thể ca

ngợi nó nh bất cứ nhà thơ nhàn tản nào Xuân Hơng không thể chấp nhận bất cứ

điều gì liên quan đến sự thoái hoá của con ngời Hơn thế, Xuân Hơng còn phêphán nó, mà “Xuân Hơng phê phán bao giờ cũng gay gắt, với bà không thể có mộtthái độ khoan nhợng, nửa vời, mà phải đánh một cái ngã gục ngay tức khắc”

Viết về cảnh thiên nhiên của quê hơng, đất nớc ca dao và thơ Nôm của HồXuân Hơng đã đa ngời đọc đến nhiều cảnh đẹp của đất nớc Nhng nếu ca dao chỉgiới thiệu nó nh là một địa danh thì Xuân Hơng không chỉ thế, thơ Xuân Hơng làmcho chúng ta tởng nh đang đợc đứng trớc cảnh đẹp đó và bên ta còn có cả một hớngdẫn viên - đó chính là Xuân Hơng Chúng ta phải cảm ơn Xuân Hơng vì bà đã chochúng ta những cuộc du ngoạn lý thú đầy bổ ích, để thởng thức những danh lamthắng cảnh hữu tình của đất nớc Và điều đáng nói là Xuân Hơng không chỉ giớithiệu về bức tranh thiên nhiên mà đằng sau đó luôn gửi gắm tâm sự của mình, mộtnỗi niềm sâu lắng và một thái độ rõ ràng

Xuân Hơng thể hiện tất cả điều đó qua một bút pháp tả cảnh thật độc đáo,với những ngôn ngữ giàu âm thanh, nhạc điệu Khác với ca dao, tác giả dân gianviết bằng thể thơ lục bát thì Hồ Xuân Hơng lại viết bằng thể thơ Đờng luật - mộtthể thơ có niêm luật khá chặt chẽ, nhng điều đó không hề làm cho ngòi bút củaXuân Hơng bị gò bó, xơ cứng và ngợc lại nó càng làm cho câu thơ súc tích, cô

đọng và diễn đạt đợc nhiều ý nghĩa hơn

2 ảnh hởng trên phơng diện chủ đề.

Ca dao là những sáng tác dân gian, những sáng tác đó thuộc nhiều ngời viếtvới nhiều nội dung khác nhau Do vậy, mà trên phơng diện này những sáng tácdân gian sẽ phong phú hơn những sáng tác của Xuân Hơng Tuy nhiên, giữa cadao và thơ Nôm của Hồ Xuân Hơng vẫn có những điểm gặp gỡ tinh tế Qua đó,

Trang 25

chúng ta có thể khẳng định đợc sự kế thừa, tiếp thu có sáng tạo của Xuân Hơng

đối với nền văn học dân gian

2.1 ảnh hởng trên chủ đề chống phong kiến.

Có thể nói, chủ đề chống phong kiến trong ca dao đợc đặt ra trên tất cả cácphơng diện, nhng trong thơ Hồ Xuân Hơng chỉ trên những phơng diện cơ bản,giữa ca dao và thơ Nôm của Hồ Xuân Hơng có sự gặp gỡ trên những phơng diệncơ bản đó

Trớc hết là viết về tầng lớp nho sĩ - những con ngời “có học” Chúng ta biếtrằng, nhân dân ta có truyền thống “tôn s trọng đạo”, rất hiếu học và quý trọngnhững ngời có học Chính vì vậy mà học dốt không phải là đối tợng để dân gian

đã kích Họ ghét là ghét những kẻ “xấu nói tốt, dốt nói chữ”, mở miệng ra là nóichữ nhng trong đầu rỗng tuếch, thà dốt đặc còn hơn lộng chữ Nh vậy, đối tợngphê phán của dân gian là bọn đạo đức giả: dốt nát nhng hay hợm mình khoekhoang, đạo đức đồi bại lại hay lên mặt cao ngạo, nói vẻ đạo đức Hồ Xuân Hơng

đã bắt đợc cái cảm nghĩ đó của dân gian và thể hiện bằng thơ Xuân Hơng gọichúng là “đàn thằng ngọng”, “lũ ngẩn ngơ”:

“Khéo khéo đi dâu lũ ngẩn ngơ

Lại đây cho chj dạy làm thơ.

Ong non ngứa nọc châm hoa rữa.

Dê cỏn buồn sừng húc dậu tha.”

(Mắng học trò dốt 1)

Với một giọng thơ giễu cợt, Xuân Hơng đã biểu hiện đợc sự khinh bỉ đối

với bọn quân tử bột khoe khoang, hợm hĩnh Xuân Hơng gọi chúng là “lũ ngẩn

ngơ”, chính vì vậy mà hành động của chúng chẳng khác gì “Ong non ngứa nọc”

và “Dê cỏn buồn sừng ” Đặc biệt ở đây là thái độ của Xuân Hơng, đó không phải

là thái độ của một ngời ngang bằng chê bai, Xuân Hơng đặt mình cao hơn lũ học

trò cụ Khổng Xuân Hơng không chịu đợc bọn thi sĩ “đòi học nói” nhng không biết lợng sức mình, những kẻ “nói không nên” mà còn hay nói, mở miệng ra là nói chữ, Xuân Hơng gọi chúng là “phờng lòi tói” :

“Dắt díu nhau lên đến cửa chiền,

Cũng đòi học nói, nói không nên.

Ai về nhắn bảo phờng lòi tói, Muốn sống đem vôi quét trả đền.”

(Mắng học trò dốt 2)

Vẫn giữ thái độ ấy, Xuân Hơng coi chúng nh một đàn, một lũ cứ tranh nhau

mà bộc lộ “tài” chữ nghĩa của mình Vì thế mà chúng dắt díu nhau đi, lại còn vịnhthơ trên vách Xuân Hơng bằng thái độ của ngời trên đã thẳng thắn bảo với chúng

rằng: “Muốn sống đem vôi quét trả đền”.

Nhng nh thế đâu đã hết, bọn chúng đâu chỉ là loại mạt hạng trong giới “cóhọc”, mà đó còn là bọn đạo đức giả, đồi bại Nhân cách của bọn “hiền nhân quân

tử”, “anh hùng” cũng chẳng khác gì “phờng lòi tói”.

Ca dao đã từng viết:

Trang 26

“Ai xui em có má hồng,

Để ngời quân tử cha trông đã thèm”.

Hay:

“ở chàng quân tử kia ơi,

Cửa song loan sớm mở tối gài.”

Xuân Hơng bốp chát ngay vào mặt bọn chúng một câu hỏi chế giễu:

“Hỡi ngời quân tử đi đâu đó

Thấy cảnh sao mà đứng lợm tay.”

Vạch trần bản chất của chúng, Xuân Hơng muốn nói to với mọi ngời rằng:

“bọn hiền nhân quân tử” ấy chẳng có thanh cao gì hết mà rất thô tục, chỉ có điều

là bọn chúng đã nguỵ trang bằng những lời giả đạo đức bề ngoài mà thôi XuânHơng đã khẳng định điều đó và kết lại bằng một câu rằng đó là tình trạng có tínhchất phổ biển:

“Hiền nhân quân tử ai là chẳng ?

Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.”

(Đèo Ba Dội)

Xuân Hơng đã hạ bệ bọn chúng, đặt chúng vào vị trí thật xấu xa Xuân

H-ơng đã sáng tạo ra một cấi quạt hết sức đặc biệt để đặt lên đầu chúng:

“Chành ra ba góc da còn thiếu

Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa.

Mát mặt anh hùng khi tắt gió, Che đầu quân tử lúc sa ma.”

(Vịnh quạt 2)

Ngay cả Vua Chúa - những nhân vật có địa vị tối cao của chế độ phongkiến, đại diện cho tất cả những gì là mẫu mực, hoàn mỹ Nhng trong thơ Hồ XuânHơng thì vị Chúa tể ấy cũng chẳng hơn gì bọn “hiền nhân quân tử” mà có khi lạicòn thô tục hơn nữa là đằng khác ở điểm này, Xuân Hơng cũng có sự gặp gỡ với

ca dao Trong ca dao, tác giả dân gian đã lên tiếng phê phán sự dâm ô, đồi bại củaVua Chúa, nh:

“Vua Lê ba sáu tán vàng,

Thấy gái đi đàng ngó ngó nom nom.

Cô nào óng ả son son, Vua đóng củi hòm đem trảy về kinh.”

Trang 27

Xuân Hơng đã vạch rõ cái thô tục ấy của bọn chúng trong bài “Vịnh quạt 2”:

“Hồng hồng má phấn duyên vì cậy

Chúa dấu Vua yêu một cái này.”

Xuân Hơng không nhằm vạch trần những hành vi xấu xa, truỵ lạc, hủ hoá

về sinh hoạt của bọn chúng, mà Xuân Hơng nhằm vạch trần bản chất dâm ô, giảdối, đạo đức giả của chúng Ta thấy, t tởng phong kiến đề cao Vua, rằng Vua yêudân hơn yêu con, lúc nào cũng vì trăm họ mà suy nghĩ Xuân Hơng đã nói rõ, bọnchúng chỉ yêu “cái này” thôi và không yêu cái gì khác nữa Đó là lời tố cáo củaXuân Hơng đối với giai cấp thống trị Lối đã kích nh thế ta gặp nhiều trong cadao Và cũng nh ca dao, Xuân Hơng đã khéo léo khuyên bảo “lũ dâm ô” với mộtcách nói hết sức tự đắc:

Ca dao viết:

“Hang hùm ai dám mó tay,

Chuột nào lại muốn cắn dây buộc mèo.”

Xuân Hơng nói một cách thẳng thắn và đanh thép:

“Này này chị bảo cho mà biết,

Chốn ấy hang hùm chớ mó tay.”

(Trách Chiêu Hổ 1)

Bọn Vua Chúa nh thế, bọn quan lại cũng một khuôn ấy Xuân Hơng đã lôihết bọn chúng ra Bọn quan trị chỉ vì “không có ấy” mà đợc làm quan, có khi lạilàm quan to, Xuân Hơng đã vặt trụi họ ra:

“Rúc rích thây cha con chuột nhắt

Vo ve mặt mẹ cái ong bầu.

Đố ai biết đợc vông hay trốc Còn kẻ nào hay cuống với đầu.”

(Quan Thị)

Dỗu cho đời có “rúc rích”, “vo ve” hấp dẫn đến đâu, cái chuyện buồng the với Quan Thị thì cũng “thây cha”, “mặt mẹ” Xuân Hơng đã rất tế nhị trong khi gọi “cái ấy” là “cái xuân tình” và đây là đặc điểm hình dạng của “cái xuân tình”:

“Đố ai biết đợc vông hay trốc

Còn kẻ nào hay cuống với đầu.”

Rõ ràng là “hình dạng” mà chẳng ra hình dạng nào cả Trớc cảnh nh vậycòn biết tính sao:

“Thôi thế thì thôi, thôi cũng đợc”

Một câu thơ có ba từ “thôi” mà vẫn trôi chảy, còn diễn đạt đợc từng nấc của

suy nghĩ, đắn đo và quyết định Giá là s hay vãi, Xuân Hơng đã kích may ra họcòn trở lại với đời, vì giờ các vị ấy còn hơn hẳn các Quan Thị vì các bà mụ khôngquên Đằng này các Quan Thị có gì đâu mà nhập thế ? Xuân Hơng buông lời an

ủi: “Ngàn năm càng khỏi tiếng nơng dâu”.

Hay thái độ của Xuân Hơng khi đứng trớc cái đền của vị Thái thú Sầm Nghi

Đống:

“Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo,

Kìa đền Thái thú đứng cheo leo !”

Ngày đăng: 18/12/2013, 10:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w