1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh khi thành lập doanh nghiệp

14 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 98,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái quát chung về doanh nghiệp và thành lập doanh nghiệp Định nghĩa doanh nghiệp đã được pháp luật nước ta làm rõ tại Khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 như sau: “Doanh nghiệp là

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

I Khái quát chung về doanh nghiệp và thành lập doanh nghiệp 1

1 Doanh nghiệp: 1

2 Thành lập doanh nghiệp 1

II Quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh khi thành lập doanh nghiệp 3 1 Điều kiện về chủ thể 3

2 Điều kiện về vốn 6

3 Một số điều kiện khác 8

KẾT LUẬN 11

TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 2

MỞ ĐẦU

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, nhu cầu thành lập các doanh nghiệp vì mục đích kinh doanh phát sinh ngày càng nhiều và khiến doanh nghiệp trở thành một trong những chủ thể chính của hoạt động kinh doanh trên thị trường Thành lập doanh nghiệp và đăng ký thành lập doanh nghiệp là quyền của các nhà đầu tư, tuy nhiên, để được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, họ phải thỏa mãn những yêu cầu mà pháp luật đề ra: những điều kiện khi thành lập doanh nghiệp Vậy, pháp luật hiện hành đã có những quy định như thế nào về vấn đề điều kiện khi đăng ký thành lập doanh nghiệp? Để góp phần giải đáp câu hỏi trên, tôi

xin phép được lựa chọn đề tài: “Phân tích quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh khi thành lập doanh nghiệp”

Trang 3

NỘI DUNG

1 Khái quát chung về doanh nghiệp và thành lập doanh nghiệp

Định nghĩa doanh nghiệp đã được pháp luật nước ta làm rõ tại Khoản 7 Điều

4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 như sau: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng,

có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.”

Theo đó, doanh nghiệp được biết đến là một tổ chức và tổ chức đó muốn trở thành doanh nghiệp phải đáp ứng được tất cả các điều kiện sau: thứ nhất, có tên riêng; thứ hai, có tài sản để duy trì hoạt động của doanh nghiệp; thứ ba, có trụ sở giao dịch; thứ tư, mục đích hoạt động là để kinh doanh, tức là liên tục thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi (theo Khoản 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014); thứ năm, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật

2 Thành lập doanh nghiệp

2.1 Định nghĩa thành lập doanh nghiệp

Thành lập doanh nghiệp là một khái niệm đa dạng, có thể được soi chiếu và nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau

Đăng ký thành lập doanh nghiệp là tổng hợp các thủ tục do pháp luật quy định bắt buộc các tổ chức muốn thành lập doanh nghiệp phải thực hiện để tiến hành

“khai sinh ra doanh nghiệp mới”_một chủ thể của hoạt động kinh doanh trên thị trường

2.2 Ý nghĩa của thành lập doanh nghiệp

Việc thành lập doanh nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về nhiều mặt, cụ thể như sau:

Trang 4

Về phía các cơ quan nhà nước, việc đăng ký thành lập doanh nghiệp giúp nhà nước dễ dàng, thuận tiện hơn trong việc điều chỉnh, quản lý các chủ thể chính của hoạt động kinh doanh trên thị trường Nhờ có các thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước sẽ nắm được rõ rành các thông số trên thị trường, nắm bắt được bước tiến của thị trường, các nhà lãnh đạo đất nước sẽ tìm ra được những đường hướng mới, chính sách phù hợp, tiến bộ hơn với nền kinh tế thị trường, giúp các doanh nghiệp nói riêng cũng như nền kinh tế nói chung ngày một phát triển theo hướng tích cực

Về phía các tổ chức đăng ký thành lập doanh nghiệp, sau khi được cấp giấy chứng nhận thành lập doanh nghiệp, các doanh nghiệp này sẽ được sự bảo hộ của pháp luật nên sẽ thuận lợi hơn trong việc tiến hành các hoạt động kinh doanh trong

và ngoài nước Bên cạnh đó, việc đăng ký thành lập doanh nghiệp cũng là cơ sở pháp lý vững chắc để các doanh nghiệp được phép yêu cầu sự hỗ trợ, bào vệ từ phía các cơ quan nhà nước trong quá trình hoạt động kinh doanh trên thị trường

2.3 Điều kiện đăng ký thành lập doanh nghiệp

Điều kiện đăng ký thành lập doanh nghiệp là những yếu tố chủ quan và khách quan mà một tổ chức phải đáp ứng được nếu muốn được tiến hành các thủ tục thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về vấn đề này Theo đó, các điều kiện chủ yếu về các mặt chủ thể, vốn, tên gọi, trụ sở,… mà pháp luật yêu cầu các doanh nghiệp phải có được nếu muốn được công nhận là doanh nghiệp về mặt pháp lý

II Quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh khi thành lập doanh nghiệp

1 Điều kiện về chủ thể

Việc thành lập doanh nghiệp và đăng ký thành lập doanh nghiệp là sự tự nguyện, là ý chí, mong muốn và là quyền của các nhà đầu tư Điều này được pháp luật nước ta công nhân và bảo vệ Tuy nhiên, không phải mọi chủ thể đều có đủ tư cách để được phép thành lập doanh nghiệp Họ phải đáp ứng được những điều kiện luật định (như đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi) để có thể được phép

Trang 5

đăng ký thành lập doanh nghiệp một cách hợp pháp Thực tế cho thấy cũng có một

số đối tượng có đầy đủ năng lực để thành lập doanh nghiệp, song vì tính chất đặc biệt về công việc, nghề nghiệp, chức vụ mà pháp luật đã hạn chế quyền được thành lập doanh nghiệp của họ để tránh tình trạng tiêu cực không đáng có Điều kiện về chủ thể được phép thành lập doanh nghiệp được quy định tại Khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp năm 2014 Theo đó, nếu rơi vào một trong những trường hợp sau, các nhà đầu tư sẽ bị cấm thành lập doanh nghiệp:

Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước

để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình:

Theo Khoản 3 Điều 14 Nghị định 102/2010/ND-CP, thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình là việc sử dụng thu nhập dưới mọi hình thức có được từ hoạt động kinh doanh, từ góp vốn, mua cổ phần vào ít nhất một trong các mục đích sau: Chia dưới mọi hình thức cho một số hoặc tất cả các cán bộ, nhân viên cơ quan, đơn vị; Bổ sung vào ngân sách hoạt động của cơ quan, đơn vị trái với quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước Việc pháp luật quy định chủ thể này là một trong những chủ thể bị cấm thành lập doanh nghiệp nhằm tạo một môi trường kinh doanh công bằng, minh bạch cho các chủ thể khác không bị hiện tượng lợi dụng chức vụ cũng như biển thủ ngân sách nhà nước gây cản trở sự phát triển Bên cạnh đó, việc cấm các chủ thể này thành lập doanh nghiệp cũng là một cách nhà nước thực hiện chính sách minh bạch các nguồn ngân sách nhà nước, không muốn đem đến một nguồn thu ngân sách nhà nước bất chính, đảm bảo quyền lợi cho người dân kinh doanh

Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức:

Cán bộ, công chức là những cá nhân được quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 4 Luật Công chức, viên chức năm 2008 và viên chức được quy định tại Điều 2 Luật Viên chức năm 2010 Theo Điều 20 Luật Cán bộ công chức năm 2008 quy

định về những việc cán bộ, công chức không được làm thì “Ngoài những việc

Trang 6

không được làm quy định tại Điều 18 và Điều 19 của Luật này, cán bộ, công chức còn không được làm những việc liên quan đến sản xuất, kinh doanh, công tác nhân

sự quy định tại Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và những việc khác theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền.” Khoản 6 Điều 19 Luật Viên chức năm 2010 cũng quy định về những điều viên chức không được làm như sau: “Những việc khác viên chức không được làm theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và các quy định khác của pháp luật có liên quan.” Từ những quy

định trên có thể thấy pháp luật nước ta nghiêm cấm các cán bộ, công chức, viên chức đang làm việc tại các cơ quan nhà nước cũng như các đơn vị sự nghiệp công lập, những người đang trực tiếp thực hiện chức năng quản lý của nhà nước được phép thành lập doanh nghiệp Pháp luật cũng mong muốn các chủ thể này có thể toàn tâm toàn ý thực hiện trách nhiệm của mình, tránh sự nhập nhằng công, tư gây ảnh hưởng xấu tới nhiều mặt, đặc biệt là quyền lợi của người dân

Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ

sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác

Việc pháp luật hạn chế tuyệt đối quyền được thành lập doanh nghiệp của những chủ thể này cũng nhằm đảm bảo sự minh bạch của nguồn thu ngân sách nhà nước, đảm bảo quyền lợi của các doanh nghiệp, ngăn ngừa sự lạm dụng chức quyền cũng như các mặt tiêu cực phát sinh Tuy nhiên, pháp luật cũng đưa ra một ngoại lệ

cho các chủ thể này “trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản

lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp” Như vậy, trong trường hợp chịu

sự ủy thác của nhà nước tại doanh nghiệp, các chủ thể nêu trên vẫn được phép tham gia vào các hoạt động kinh doanh và quản lý doanh nghiệp, song với tư cách là

Trang 7

người đại diện nhà nước, chịu sự chi phối, điều chình của nhà nước chứ không phải với tư cách cá nhân đi thành lập doanh nghiệp nên vẫn đảm bảo tính thông suốt của các quy định cũng như ý chí của nhà nước nói trên

Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc

bị mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân:

Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ năng lực hành vi dân

sự (do đặc tính về thể chất, nhận thức,…); người bị hạn chế năng lực hành vi dân

sự là những người bị nghiện các chất kích thích dẫn đến năng lực hành vi dân sự không còn được đầy đủ như trước; người bị mất năng lực hành vi dân sự là người mắc các bệnh tâm thần dẫn đến mất đi hoàn toàn khả năng làm chủ và điều khiển hành vi; tổ chức không có tư cách pháp nhân là tổ chức không có tài sản riêng và không thể nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật Tất cả những chủ thể nêu trên đều không có đủ năng lực để có thể chịu trách nhiệm khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự, vì vậy, họ không thể duy trì được hoạt động lâu dài của một doanh nghiệp Việc pháp luật cấm họ có quyền thành lập doanh nghiệp là hoàn toàn hợp lý, tránh tình trạng “sớm nở tối tàn” của các doanh nghiệp cũng như tránh sự lợi dụng các chủ thể trên thành lập doanh nghiệp để trục lợi

Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng.

Đây là những chủ thể do có hành vi vi phạm pháp luật nên đã bị quyền lực nhà nước tước đi hoặc làm hạn chế các quyền dân sự của mình, tương tự với người

bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự, họ cũng không có đủ điều kiện để duy trì sự tồn tại và hoạt động lâu dài của các doanh nghiệp Khi có tranh chấp hay

nợ nần phát sinh, họ sẽ không thể đứng ra giải quyết do đang bị áp dụng hình phạt Đối với người bị Tòa án tuyên cấm hành nghề kinh doanh, đây là hình phạt đối với

Trang 8

người đã từng hành nghề kinh doanh, từng đảm nhiệm chức vụ hoặc làm các công việc liên quan đến kinh doanh nhưng đã có những hành vi vi phạm pháp luật về kinh doanh, nếu để họ tiếp tục được phép thành lập doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh thì sẽ trở thành mối nguy hại lớn Về các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng, pháp luật nghiêm cấm những đối tượng này vì muốn bảo vệ sự tồn tại và hoạt động của các doanh nghiệp

Khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp năm 2014 cũng quy định: “Trường hợp

Cơ quan đăng ký kinh doanh có yêu cầu, người đăng ký thành lập doanh nghiệp phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh.” Quy định này được đặt ra để đảm bảo rằng các đối tượng bị pháp luật cấm sẽ không thể thực hiện được các thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp Tuy nhiên, các đối tượng chỉ phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh trong trường hợp được các Cơ quan này yêu cầu

2 Điều kiện về vốn

Vốn của doanh nghiệp là cơ sở vật chất, tài chính quan trọng nhất, là công cụ

để chủ doanh nghiệp triển khai các hoạt động kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác

Khi thành lập doanh nghiệp các chủ thể cần lưu ý quy định của pháp luật về vốn:

Theo pháp luật hiện hành, cụ thể là theo Luật doanh nghiệp 2014 đã bỏ việc xác định vốn pháp định với mục đích hiện thực hóa quyền tự do kinh doanh tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm theo quy định tại Hiến pháp 2013 Tuy nhiên, đối với từng ngành nghề cụ thể vẫn quy định rõ về vốn pháp định để thành lập doanh nghiệp Vốn pháp định ở Việt Nam được xác định theo từng ngành, nghề kinh doanh cụ thể, không áp dụng cho từng loại hình doanh nghiệp Các ngành nghề cụ thể này được quy định rải rác trong các Nghị định của Chính phủ

Trang 9

Việc quy định mức vốn vốn pháp định cụ thể ở Việt Nam chủ yếu được xác định thông qua các văn bản dưới luật do cơ quan hành pháp ban hành Trong khi hầu hết các nước trên thế giới đang có xu hướng giảm bớt vai trò và ảnh hưởng của vốn pháp định đối với doanh nghiệp thì ở Việt Nam vốn pháp định lại đang có chiều hướng gia tăng trở lại trong nhiều ngành nghề

Đối với những ngành nghề pháp luật không có quy định về mức vốn pháp định thì khi thành lập doanh nghiệp các chủ thể chỉ cần đảm bảo vốn điều lệ của doanh nghiệp khi đăng kí thành lập Khoản 29 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2014

quy định: “Vốn điều lệ là tổng giá trị tài sản do các thành viên đã góp hoặc cam kết góp khi thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán hoặc đã được đăng ký mua khi thành lập doanh nghiệp đối với công ty cổ phần.”

Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công

ty Pháp luật không quy định mức vốn điều lệ tối thiểu/ tối đa khi thành lập công ty Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ

sở hữu chung của công ty Tổ chức, cá nhân được mua cổ phần của công ty cổ phần, góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của Luật doanh nghiệp, trừ những trường hợp luật quy định

Nhìn chung, khi các nhà đầu tư kinh doanh muốn thành lập doanh nghiệp thì cần phải có được số vốn pháp định (nếu muốn hoạt động kinh doanh các ngành nghề theo luật định phải có vốn pháp định) hoặc vốn điều lệ Tất cả những số vốn này phải được khai báo một cách rõ ràng, minh bạch cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi tiến hành các thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp Việc pháp luật nước ta có những quy định cụ thể về điều kiện về vốn đối với các nhà đầu tư khi muốn thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam nhằm muốn đảm bảo một cơ sở tài chính vững chắc, cần thiết cho các doanh nghiệp để họ có thể duy trì hoạt động kinh doanh lâu dài, bền vững

Trang 10

3 Một số điều kiện khác

3.1 Điều kiện về hồ sơ đăng ký kinh doanh

Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp là một trong những bước cơ bản quan trọng nhất

về mặt thủ tục khi một nhà đầu tư muốn nhà nước công nhận mình là một doanh nghiệp hợp pháp Đáp ứng yêu cầu này, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã có những quy định cụ thể về hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp để tạo điều kiện cho các nhà đầu tư hoàn thành và dễ dàng hơn khi muốn thành lập doanh nghiệp Theo đó, tại các Điều 20, 21, 22, 23, Luật Doanh nghiệp 2014 lần lượt quy định cụ thể, rõ ràng về những yêu cầu đối với hồ sơ đăng ký thành lập các loại hình doanh nghiệp như doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty

cổ phần Nhìn chung, để đăng ký thành lập doanh nghiệp, nhà đầu tư cần phải chuẩn bị một bộ hồ sơ có các thành phần chủ yếu sau: giấy đề nghị kinh doanh, điều lệ công ty, danh sách các thành viên của doanh nghiệp đối với công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc danh sách cổ đông sáng lập và cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài đối với công ty cổ phần theo mẫu do Bộ kế hoạch và đầu tư ban hành, bản sao hợp lệ các giấy tờ có liên quan

Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp theo đó là những khai báo về mặt nhân thân, danh tính của bản thân các chủ đầu tư và do chính họ lập ra do đó pháp luật quy định cho họ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của nội dung hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp và trong suốt thời gian doanh nghiệp này hoạt động Nếu có các hành vi gian lận, lừa dối nhà nước trong việc hoàn tất các thủ tục trên, các chủ đầu tư sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về vấn đề này

3.2 Điều kiện về ngành nghề kinh doanh

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 7 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì doanh

nghiệp có quyền “tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm”,

tức là pháp luật sẽ không thừa nhận quyền kinh doanh của doanh nghiệp nếu ngành

Ngày đăng: 13/07/2021, 19:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w