1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÓM TẮT LUẬN VĂN ĐỀ TÀI: Cơ chế tạo sinh ngôn ngữ trong thơ “Lời và Không lời” của Trần Dần

12 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 350,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lí do lựa chọn đề tài Trong một buổi trò chuyện về thơ ca tại Trung tâm Văn hóa Pháp trong những ngày đầu xuân Bính Thân, nhà thơ người Pháp Andre Velter đã chia sẻ về tầm quan trọng củ

Trang 1

TÓM TẮT LUẬN VĂN

ĐỀ TÀI: Cơ chế tạo sinh ngôn ngữ trong thơ “Lời và Không lời” của Trần Dần

MỞ ĐẦU

1 Lí do lựa chọn đề tài

Trong một buổi trò chuyện về thơ ca tại Trung tâm Văn hóa Pháp trong những ngày đầu xuân Bính Thân, nhà thơ người Pháp Andre Velter đã chia sẻ về tầm quan trọng của ngôn ngữ đối với cuộc sống nói chung và nghệ thuật nói riêng: “Hơn lúc nào hết chúng ta cần những từ ngữ đúng đắn từ những con người đứng đắn.” Ngôn ngữ ra đời cùng sự khởi sinh của xã hội loài người, không chỉ đóng vai trò là một phương tiện giao tiếp và tư duy, ngôn ngữ đang dần trở thành một cấu trúc độc lập kiến tạo thế giới quan nhân sinh quan của con người.Các nhà khoa học, các nghệ sĩ chân chính đang không ngừng cải thiện cấu trúc đó cho rộng rãi hơn những phương cách nói năng và cái nhìn

Trần Dần – nhà thơ tiền phong luôn tâm niệm một cách thế sống và viết: “Làm thơ tức là làm Tiếng Việt.” Mỗi bài thơ của ông đều là một cuộc thí nghiệm mà ông chấp nhận, đôi khi phải “bỏ rẻ cả một cuộc đời” để thử nghiệm một phương cách làm giàu làm đẹp thêm cho ngôn ngữ dân tộc Di cảo thơ

còn lại đến nay của ông vẫn để ngỏ biết bao dấu hỏi nơi người đọc khi tiếp cận những sáng tạo ngôn từ vô tận trên cả ba phương diện: âm thanh – chữ viết – ngữ nghĩa thông qua hành vi “làm thơ”

Vì những lẽ trên, chúng tôi nhận thấy vấn đề ngôn ngữ trong thơ Trần Dần là một vấn đề khoa

học vừa thú vị vừa cấp thiết nên cần được đầu tư nghiên cứu Chúng tôi mạnh dạn thực hiện đề tài “Cơ chế tạo sinh ngôn ngữ trong thơ “Lời và Không lời” của Trần Dần” với mong muốn đề xuất và góp

vun một góc nhìn, một kiến giải của bản thân để đi tìm một lối vào vườn thơ – vườn sáng tạo của một trong những nhà cách tân thơ số một Việt Nam

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Lịch sử nghiên cứu về Trần Dần với tư cách một nhà thơ

- Giai đoạn 1945 – 1960: Sự xuất hiện của Trần Dần với bản tuyên ngôn thơ Tượng trưng gây được ấn tượng Tuy vậy, đây là giai đoạn những sáng tạo và cách tân thơ ca của ông không được đánh giá cao, thậm chí bị lên án Nhiều bài viết của các tác giả Hoài Thanh, Hồng Cương, Hữu Mai,… căn cứ trên lập trường giai cấp đã đả kích gay gắt về mặt tư tưởng, kết tội ông (cùng với nhóm các văn sĩ Nhân văn giai phẩm) là kẻ tội nhân chính trị, đồng nghĩa với phán quyết khai tử những sáng tác cũng như sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ trong hệ giá trị đương thời

- Giai đoạn 1961 – 1988: Đây là quãng thời gian Trần Dần hoàn toàn đứng ngoài mọi sinh hoạt văn nghệ chính thống và bị các nhà nghiên cứu hoàn toàn lãng quên

- Giai đoạn 1988 – 1994: Sau đổi mới, Trần Dần trở lại tham gia sinh hoạt văn nghệ và tên tuổi ông lác đác xuất hiện trên tạp chí Sông Hương Tuy vậy, các nghiên cứu trong giai đoạn này về Trần Dần còn

lẻ tẻ, rời rạc, ít có những đột phá trong diễn giải về các cách tân nghệ thuật của ông và còn tồn tại một tâm lý e dè, ngần ngại khi đánh giá và định vị Trần Dần trên bản đồ lịch sử văn học Việt Nam

- Giai đoạn 1995 – nay: Sau sự kiện xuất bản cuốn “Bài thơ Việt Bắc”(1991) và “Cổng tỉnh” (1994)

giành giải thưởng của Hội Nhà văn, tên tuổi Trần Dần thu hút được sự quan tâm của công chúng cũng như giới nghiên cứu phê bình

Trang 2

+ Năm 2003, trang báo mạng tienve.org xây dựng chuyên đề về Trần Dần tập hợp 14 tác phẩm nghiên cứu phê bình của các tác giả: Dương Tường, Nguyễn Tư Liên, Đoàn Cầm Thi, Thuận, Nguyễn Như Huy…và tạo ra một kênh trao đổi đa chiều về những thành tựu thơ ca của Trần Dần: hình tượng “Phố”,

“mùa thu”, chất họa, những dấu ấn của nghệ thuật ý niệm trong các thực hành thơ ca, nỗ lực làm Tiếng Việt thông qua khai thác những tiềm năng biểu nghĩa từ tính chất thị giác của con chữ…

+ Trên thuykhue.free.fr, nhà nghiên cứu – phê bình Thụy Khuê thể hiện góc nhìn sâu sắc về nhiều tác

phẩm của Trần Dần qua công trình “Trần Dần – mỹ học của khổ đau”

+ Năm 2008, NXB Đà Nẵng và Nhã Nam xuất bản cuốn sách Trần Dần – thơ gần 600 trang, công bố hầu

hết phần di cảo tiêu biểu cho những dòng thể nghiệm cách tân thơ trong suốt 45 năm sáng tác nhọc nhằn, thầm lặng và bền bỉ của Trần Dần, cùng với đó là hàng loạt bài nghiên cứu phê bình của giới học giả

trong và ngoài nước: “Cấu trúc của CON TRẮNG”, “Giả thiết cho 36 thở dài” – Vũ Văn Kha, “Để đến với JỜ JOẠCX” – Đặng Đình Ân, “Thủ lĩnh trong bóng tối” – Phạm Thị Hoài,… gợi ý những cách đọc –

hiểu thơ Trần Dần thông qua khám phá các kĩ thuật copy, kĩ thuật lặp lại, kĩ thuật “nguyên bản và không nguyên bản”, thủ pháp một bè đệm,…

+ Tại khoa Ngữ Văn ĐH Sư phạm Hà Nội, kể từ năm 2003, chúng tôi nhận thấy Trần Dần bắt đầu nhận được nhiều sự quan tâm (theo khảo sát và thống kê của chúng tôi gồm 7 luận văn) từ các tác giả nghiên cứu về hướng vận động tư duy thơ thời kì đổi mới Thông qua đó, các nghiên cứu đã mở ra một quan

niệm mới mẻ về thơ: chuyển từ quan niệm “thơ biểu ý” sang quan niệm“làm thơ tức là làm tiếng Việt”

(Trần Dần), đồng thời đề xuất những phương cách mới trong đọc – viết và ứng xử với ngôn ngữ trong thơ

2.2 Lịch sử nghiên cứu về ngôn ngữ trong thơ Trần Dần

Vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ trong thơ Trần Dần đã sớm được lưu tâm trong các công trình về

những cách tân thể loại trong thơ ca đương đại nói chung, ngoài ra trong các công trình “Trần Dần – từ quan niệm nghệ thuật đến những thể nghiệm thơ” (2008), “Thơ Trần Dần – nhìn từ lý thuyết diễn ngôn của Michel Foucault”(2010) của tác giả Đinh Minh Hằng,“Cách tân thơ của Trần Dần nhìn từ góc độ thể

loại”(2010) của tác giả Nguyễn Thị Thanh Tâm, “Cổng tỉnh” của Trần Dần và những cách tân thể

loại”(2012) của tác giả Vũ Hồng Nhung, các tác giả đã phân tích cụ thể về những sáng tạo trong cách sử

dụng ngôn từ của Trần Dần trên các phương diện:

- tạo ra những giao thoa giữa ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ kịch; ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ âm nhạc – hội họa, tập trung làm rõ sự sáng tạo của Trần Dần trên phương diện từ và âm

của ngôn ngữ

- khai thác yếu tố thị giác của Chữ bằng cách đặt chữ vào “bố cục chữ”, ứng dụng kỹ thuật copy, cắt dán; khai thác yếu tố tạo hình của Chữ bằng cách “dùng sự tương tác để làm sự vật, hình tượng phái sinh thêm ý nghĩa mới”; khai thác tính nhạc của Chữ trong các kết cấu giao hưởng, khúc biến tấu của

nhạc Rock,…

Nhìn chung chưa có công trình nào trực tiếp và tập trung đi sâu vào giải mã riêng từng dòng thể nghiệm đổi mới và sáng tạo ngôn ngữ thơ trong các sáng tác của Trần Dần, để qua đó khái quát lên những

Trang 3

hướng/dòng/mạch chính trong tư duy thơ của tác giả, có thể dựa vào đó làm cơ sở cho những hiểu biết

sâu hơn hay những gợi ý phát triển hơn (về và cho) khuynh hướng “Dòng chữ”

3 Mục tiêu nghiên cứu

- Giải mã những cách thức sáng tạo ngôn ngữ (mà cụ thể ở đây là phương diện “chữ”) trong thơ

“Lời và Không lời” của Trần Dần

- Đề xuất một vài gợi ý về cách hiểu các quan niệm ngôn ngữ thơ ca và thể loại thơ của tác giả

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là ngôn ngữ và cơ chế tạo sinh ngôn ngữ trong thơ “Lời

và Không lời” của Trần Dần

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu phần thơ “Lời và Không lời” trong cuốn Trần Dần – thơ, NXB Đà

Nẵng và Nhã Nam, H, 2008

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp khảo sát, thống kê

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp liên ngành

- Phương pháp so sánh

6 Cấu trúc Luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, cấu trúc Luận văn bao gồm ba chương:

Chương 1: Ngôn ngữ trong mối tương quan với thơ ca

Chương 2: “Lời và Không lời” – một thực hành thơ thử nghiệm cơ chế tạo sinh ngôn ngữ Chương 3: Tạo sinh ngôn ngữ - một nỗ lực kiến tạo quan niệm về thơ

NỘI DUNG Chương 1: Ngôn ngữ trong mối tương quan với thơ ca 1.1 Hai quan niệm về sự định danh ngôn ngữ

1.1.1 Ngôn ngữ như là một hệ thống kí hiệu thực hiện chức năng giao tiếp

Quan niệm “ngôn ngữ như là một hệ thống kí hiệu thực hiện chức năng giao tiếp” lần đầu tiên

được đưa ra bởi Saussure trong công trình Đại cương ngôn ngữ học xuất bản năm 1916, được mô phỏng

thông qua mô hình 2 thành phần của kí hiệu ngôn ngữ như sau:

CBĐ

Ý nghĩa

Âm thanh

CĐBĐ

=

Trang 4

Trong đó, âm thanh và ý nghĩa là hai thành tố cốt yếu tạo nên hệ thống ngôn ngữ, chữ viết tồn tại bên ngoài chỉnh thể ngôn ngữ đó, như một hệ thống phái sinh, “hệ thống kí hiệu thứ hai” bên cạnh “hệ thống kí hiệu thứ nhất”

Vào những năm 60 của thế kỉ XX, các công trình nghiên cứu của Derrida đã chỉ ra những hạn chế trong mô hình ngôn ngữ của Saussure, ông chứng minh chữ viết tất yếu phải là một thành tố của mô hình ngôn ngữ toàn vẹn và khẳng định: chính quá trình dụng chữ mới là quá trình sinh nghĩa

1.1.2 Ngôn ngữ như là một cấu trúc biểu nghĩa và sinh nghĩa

Cách hiểu mới về ngôn ngữ được đưa ra bởi IU.Lotman khi ông chỉ ra tính “lịch sử của mã” hay

“cấu trúc có kí ức” của ngôn ngữ Theo đó, ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp không ổn định, tĩnh tại mà luôn vận động tạo sinh nghĩa trong các không gian ngữ nghĩa giao nhau giữa các nhân vật giao tiếp

1.2 Ngôn-ngữ-thơ-ca

1.2.1 Ngôn ngữ thơ ca có nguồn gốc từ ngôn ngữ tự nhiên

Ngôn ngữ thơ ca trong giai đoạn đầu thành hình thể loại chính là sự bắt chước lời ăn tiếng nói của

nhân dân nhưng có sự chọn lọc và được làm cho đẹp hơn, mượt mà, trau chuốt hơn, chứa đựng trong nó tất cả đặc tính của ngôn ngữ tự nhiên: tính võ đoán trong mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt; tính hình tuyến của cái biểu đạt, đặc biệt, tính nhạc là một đặc điểm nổi bật làm nên đặc trưng của ngôn ngữ thơ ca giai đoạn đầu (khi chữ viết chưa thực sự được nhìn nhận như một thành tố làm nên tính toàn vẹn của hệ thống ngôn ngữ)

1.2.2 Tính “thơ” như là bản chất của ngôn ngữ

Mỗi hệ thống ngôn ngữ ra đời khu biệt cho mỗi phạm vi đời sống một tập hợp những đối tượng bắt đầu có tên gọi, bắt đầu một tồn tại thông qua phương thức định danh Từ khi nào, chúng ta bắt đầu gọi tên các đối tượng như một phương thức nhận diện thế giới quanh mình? Và từ khi nào, từ cõi hỗn mang, thế giới bắt đầu thành hình, trong một sự khác biệt từ chuỗi âm thanh phân tách, tạo sinh những hình dung vừa trừu tượng mơ hồ vừa cụ thể cảm tính trong nhận thức của con người về vũ trụ bao la?

Câu hỏi này hẳn là không phải đến tận bây giờ mới được đặt ra Bởi lẽ, trong kho tàng truyện dân gian Việt Nam đã chứa đựng câu trả lời cho câu hỏi đó, từ cách đây hàng ngàn năm, được mã hóa trong

câu chuyện về sự tích nguồn gốc cái tên của một loài thực vật: cây “thì là” – “Sự tích cây thì là”

Bằng một phút chớp lóe thần hứng, những âm tiết bật ra một hình dung từ trong trí tưởng tượng

CBĐ

= CĐBĐ

Chữ viết/ kí tự

CBĐ

Nghĩa (1)

Âm thanh

Nghĩa (2)

CĐBĐ CBĐ

=

Trang 5

bay bổng chỉ có thể hiện hữu nơi tâm hồn một nhà thơ, thêm cho đời đâu chỉ là một cái tên, mà là cả một

hiện hữu, một tồn tại, một kí ức

Thơ ca chính là tóm lấy cái bí mật “không lời” của âm thanh để tạo sinh ngữ nghĩa Tính thơ của ngôn ngữ hiện diện trong chính cái bí ẩn không thể lí giải nổi giữa những khoảng chông chênh, những dặm dài miên man, những mờ mịt hư vô của các xung động ngữ âm để lóe sáng một từ, một chữ, một con

âm, để người đời mê mải đi tìm cái hiện hữu mơ hồ đầy chân thực ấy

1.2.3 Ngôn ngữ là đối tượng của thơ ca

Ngôn ngữ là một sinh thể độc lập bình đẳng trong mối tương quan với thơ ca, là đối tượng thứ nhất và duy nhất tương tác trực tiếp với thơ thông qua những hành vi – thực hành (làm) thơ

1.3 Trần Dần: “Làm thơ tức là làm Tiếng Việt”

1.3.1 Ý thức mới về đối tượng của thực hành thơ ca

Bắt đầu từ những năm 60 – 70 của thế kỉ trước, trong những thử nghiệm hình thức thơ bậc thang (có sự học tập nhất định từ Mayakovsky), Trần Dần đã thể hiện ý thức cách tân thơ ca theo hướng giải phóng nó khỏi chức năng xã hội, kiên quyết từ giã lối thơ nặng về truyền tải và diễn giải nội dung, coi thơ chỉ như cái bình chứa tư tưởng và khai thác khả năng của ngôn ngữ chủ yếu từ phương diện ngữ nghĩa Trần Dần hướng tới một lối thơ có khả năng giải phóng con chữ khỏi chức năng chuyên chở nghĩa Thông qua những thực hành thơ ca triệt tiêu nghĩa tự vị của con chữ, Trần Dần muốn nhìn ngắm ngôn ngữ từ trong tính tồn tại độc lập của nó, rũ bỏ hoàn toàn những định kiến những dự phòng những khế ước xã hội

và quán tính sử dụng ngôn ngữ để tìm kiếm ở con chữ những tiềm năng tự sinh nghĩa

1.3.2 Nỗ lực mở rộng biên giới các khả năng của ngôn ngữ Tiếng Việt

1.3.2.1 Khai thác tiềm năng của yếu tố ngữ âm

Tiếng Việt là một ngôn ngữ rất giàu tính nhạc, phong phú về thanh điệu, vần, âm sắc,…và đó là một trong những ưu điểm về mặt ngữ âm làm nên đặc trưng của ngôn ngữ dân tộc

Trần Dần ý thức rất sâu sắc về vấn đề này, và ngay từ những năm đầu thử nghiệm cách tân thơ ca, ông đã lựa chọn trường phái thơ Tượng trưng chủ trương thực hành thơ ca khai thác khía cạnh ngữ âm của chữ

Nhà thơ thực hành giải phẫu chữ thành những bộ phận riêng lẻ và tiến hành biến tấu âm trên đơn

vị mỗi chữ cái để tự trong âm vang của từng con chữ đã tạo dựng được cho riêng mình một trường âm thanh đặc thù gợi những liên tưởng hữu hình hóa đối tượng biểu hiện trong kinh nghiệm đọc – viết của mỗi cá nhân

1.3.2.2 Khai thác tiềm năng trong tính chất thị giác của con chữ

Chữ Việt có nguồn gốc từ chữ Latinh, được xem là kiểu chữ viết khó tìm thấy các yếu tố tạo hình thuận lợi và có cách sắp chữ tương đối đơn điệu, bởi vậy để tìm kiếm và khai thác tiềm năng trong tính

chất thị giác của con chữ thật là thách thức lớn đối với các nhà thơ Dòng chữ

Trong hành trình sáng tạo của mình, Trần Dần đã thử nghiệm nhiều kĩ thuật ứng dụng lên con chữ: kĩ thuật cắt dán, copy, phóng to, nhân bản… từ cấp độ câu, từ tới chữ cái để giải phóng con chữ khỏi

sự kiềm tỏa của những quy tắc ngữ pháp và chính tả đã làm xơ xác, héo mòn, trơ lì con chữ

Trang 6

Chương 2: “Lời và Không lời” – một thực hành thơ thử nghiệm cơ chế tạo sinh ngôn ngữ 2.1 Đối tượng và các nguyên lý thực hành thơ

2.1.1 Đối tượng

Đối tượng trung tâm của thực hành thơ “Lời và Không Lời” là chữ ở cấp độ đơn vị cơ sở: chữ cái; và cụ thể ở đây là chữ I – i, mà nhà thơ gọi bằng cái tên: con I – ẩn dụ cho một sự sống, một vận động nội tại luôn tiềm ẩn trong mỗi con chữ chờ cơ hội được hiển hiện, được phát triển, được biến cải

2.1.2 Các nguyên lý thực hành thơ

2.1.2.1 Xác lập tính chất của những mối quan hệ giữa các thành tố trong mô hình ngôn ngữ

- Cấp độ thứ nhất: mối quan hệ giữa âm thanh và nghĩa là mối quan hệ có tính lí do

- Cấp độ thứ hai gồm hai mối quan hệ cần xét tới ở đây:

+ mối quan hệ giữa chữ và âm thanh: quan hệ võ đoán

+ mối quan hệ giữa hình thể kí tự và nghĩa mang tính có lí do

- Cấp độ thứ ba là mối quan hệ giữa toàn bộ cái biểu đạt của từ (chữ viết + âm thanh + nghĩa) và cái được

biểu đạt của từ (ý nghĩa) là mối quan hệ mang tính có lí do

2.1.2.2 Phá bỏ quy tắc về tính hình tuyến của CBĐ

Chữ viết được thừa nhận như một thành tố chính trong mô hình ngôn ngữ hai thành phần và làm nên một đơn vị của CBĐ Chữ viết không chỉ tồn tại trong mối quan hệ ngữ đoạn, trên trục lựa chọn và kết hợp, mà còn tồn tại trong những hệ không gian đa chiều

Khi xác định đơn vị hạt nhân cơ sở của các thực hành thơ là chữ cái trong sự tồn tại độc lập tự thân của nó, Trần Dần thậm chí xóa bỏ hoàn toàn các mối quan hệ ngữ đoạn hay kết hợp giữa các đơn vị ngôn ngữ ở cấp độ tương đương hay cao hơn, và chỉ đặt chữ cái – con i trong không gian đa chiều để tự

nó trình diễn các khía cạnh biểu lộ tiềm năng phát nghĩa của chính nó

2.1.2.3 Xây dựng các hệ quy chiếu để đưa đối tượng vào trong các tạo lập trường nghĩa mới

Với “Lời và Không lời”, Trần Dần đã đưa con i vào các hệ ngôn ngữ phi thơ để khai thác chính tính thơ của con chữ (đó là tính bất định, bất khả đoán và liên tục tự tái sinh), cụ thể nhà thơ đã soi chiếu con i trong các hệ quy chiếu: ngôn ngữ khoa học vật lý, ngôn ngữ khoa học thiên văn, ngôn ngữ khoa học địa lý,…

2.2 Cơ chế tạo sinh ngôn ngữ trong thơ “Lời và Không lời” của Trần Dần

2.2.1 Lựa chọn đơn vị hạt nhân

Đơn vị hạt nhân được lựa chọn ở đây là con I – i trong hệ thống bảng chữ cái Latinh, tồn tại ở hai dạng: viết hoa – I và viết thường – i

Con i trong hệ thống bảng chữ cái Latinh có thể xem là một kí tự có hình thể giản tiện nhất với chỉ hai bộ phận: nét chính là nét sổ thẳng và dấu chấm trên đầu Được tạo thành từ những đường nét cơ bản nhất trong hình họa, đóng vai trò như những yếu tố cơ sở trong phác thảo hình ảnh về thế giới tự nhiên và con người, con i cũng là một đơn vị chứa đựng năng lực nội tại có thể biến hóa trong các dạng thức đa dạng và thích nghi với sự thay đổi môi sinh để kiến tạo các sinh thể ngôn ngữ mới

Từ hình thể kí tự i đưa tới cho chúng tôi những liên tưởng về hình ảnh thần Atlas trong thần thoại

Hi Lạp, hình ảnh Sisyphus vần tảng đá lên đỉnh núi, thần trụ trời và cột đá trụ trời trong thần thoại Việt

Trang 7

Nam Những tương đồng hình thể trong một liên tưởng thị giác đã dẫn chúng tôi tới những liên hệ về một tính chất đặc thù của cả hai đối tượng/ hiện tượng nêu trên để có thể tạm đưa ra một giả thiết về nguồn gốc tạo sinh hình thể của con i: đó là sự khởi sinh vũ trụ Nếu như hai hình ảnh về thần Atlas và cột đá của thần trụ trời đều gợi nhắc chúng ta nhớ về sự khởi nguyên của vũ trụ, sự bắt đầu của một thời đại mới, thì chính tính chất giản thể và cốt yếu của các yếu tố trong hình dạng của kí tự i cũng đưa chúng ta tới những liên tưởng về sự hình thành vũ trụ từ các hạt cơ bản Hai đặc điểm này đã trở thành những cơ sở đầu tiên để chúng tôi nhận diện một vài ý nghĩa nội tại của con i từ phương diện lịch sử phát sinh của nó

Đó là biểu tượng cho một thân phận, một kiếp đời nhiều cay đắng, nhẫn nhục, cam chịu, cả một đời sống chỉ để mang trên vai một gánh nặng không thể chối bỏ, và cuộc đời ấy không hơn gì một sự sám hối để chuộc lại lỗi lầm, một thứ “tội tổ tông”; ở một góc nhìn khác, có thể đọc thấy ở hành động này một

ý nghĩa của sự hi sinh cao cả khi một cá nhân chấp nhận gánh lấy một trọng trách nhọc nhằn để tránh cho cuộc đời khỏi những xáo trộn và tai ương

Hình ảnh con i với một dấu chấm trên đầu cũng có thể tựa như một tảng đá nặng nề đeo đẳng trong tồn tại bất diệt của nó và sẵn sàng rơi xuống đè chết chính nó trong một phút lí trí lơ là hay buông

bỏ, nhưng cũng chính nó lại có thể giống như một vòng nguyệt quế vinh quang dành riêng cho người chiến thắng, cái khoảnh khắc mong manh, hư vô và diệu kì đó khi khoảng cách giữa sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc, lựa chọn là kẻ thất bại hay người đứng trên đỉnh vinh quang, điều đó phụ thuộc vào quyết định vấn đề cái nhìn/ tầm nhìn của mỗi cá nhân chúng ta, chứ không phải một thứ điển chế hay quy tắc, hoặc một vị thần nào đó!

Thứ ba, hóa thân con i trong hình ảnh thần trụ trời và cột đá chia tách trời và đất khỏi một vùng hỗn độn là những ẩn dụ cho sự khởi sinh của thế giới loài người, khẳng định sức mạnh cải tạo thiên nhiên, kiến tạo thế giới

2.2.2 Kỹ thuật tạo lập các biến thể

2.2.2.1 Biến 1 – vi mô i

Nhà thơ tiến hành giải phẫu thành tố đầu tiên của đơn vị hạt nhân là dấu chấm tròn trên đầu con i,

nó được mô hình hóa trong ba dạng vật thể: đồng hồ, mặt cắt quả địa cầu, và quả đất – cái mặt mày, qua

đó thể hiện những ý niệm đầu tiên của nhà thơ về hai phạm trù cơ bản của vũ trụ: không gian và thời gian

Phạm trù thời gian và không gian đều được quy chiếu trong phạm vi ngữ nghĩa của một đơn vị chỉ số lượng: số 4 tượng trưng cho một nền tảng vững chắc và ổn định, tính khuôn khổ, mực thước trong

ý thức, tinh thần

Hình ảnh thứ ba: quả đất – cái mặt mày vừa là một sự biểu hiện cho ý niệm về không gian vũ trụ, vừa là một liên tưởng cụ thể hóa cho sự sống bên trong và của chính trái đất Nhà thơ tạo hình vô số khuôn mặt quả đất khác nhau với những nét biểu cảm rất đa dạng, sự biến dạng của các đặc điểm trên khuôn mặt quả đất trong cái nhìn của nhà thơ vừa mang nét hài hước như góc nhìn thơ ngây con trẻ vừa mang tính trừu tượng như góc nhìn của một đầu óc hội họa chuyên nghiệp Đó là sự thống nhất biện chứng trong những nét khác biệt vừa hài hòa vừa đối kháng trong nhau, cũng là một quy luật tất yếu của mọi vận động mọi tồn tại trong vũ trụ

2.2.2.2 Biến 2 – vi mô i

Trang 8

Biến 2 tiếp tục là một hình ảnh vi mô của đơn vị gốc mô phỏng các sơ đồ: jản đồ tâm thơ, jản đồ

vũ trụ, mô hình mô phỏng hiện tượng “tán bóng kí tự”, mô hình vận động của đồng hồ thế gian (thời gian)

Thông qua giản đồ tâm thơ, Trần Dần bộc lộ một quan niệm về thơ: cái sáng của tâm thơ phát lộ trên những con chữ làm nên tuệ tâm của lời không cách gì có được ngoài những kiếm tìm nơi tận sâu trong vô thức, trong cõi lý trí phải chịu thua, đó là nơi thơ phát sáng nhất, rực rỡ nhất, sinh động nhất và thực là thơ nhất

2.2.2.3 Biến 3 – ek-xtra mini vi mô i

Biến 3 là biến phức tạp nhất gồm mười kí họa khám phá mini vi mô i trong hai dạng thức tồn tại: dạng tồn tại độc lập và dạng tồn tại trong lời

Toàn bộ biến 3 là những chất vấn của Trần Dần về tồn tại và tính nguyên bản của con i trong hệ quy chiếu “đề fi Hamlet”: con i tóm bóng, con i phóng chiếu mô hình trăng sao, con i ẩn ngụ giọt lệ - giọt mưa.…

Con i trong những hóa thân của mình, tức bóng của nó, vừa sinh nghĩa vừa tự triệt tiêu nghĩa, ngay khi nó thừa nhận một ý nghĩa tạo sinh nhờ vào sự tồn tại trong thoáng chốc của bóng cũng tức là nó

tự thỏa hiệp để ẩn đi một đặc tính tự thân của chính nó nhằm nhường chỗ cho ảo ảnh hiện diện Khai thác tính chất lưỡng thể, đa bội của đối tượng, nhà thơ đã đưa tới những hoài nghi về bản nguyên của những tồn tại, truy vấn con người về lẽ sống và tính thực tồn của cuộc đời Chúng ta đang sống với bản thể chân thật hay chỉ là trong ảo ảnh, trong những cái bóng của mình?

2.2.2.4 Biến 4

Biến 4 là hình ảnh con i đã thắp thành lời Vố số con i trong hình dạng những ngọn tháp cao vút lên trời xếp xen kẽ nhau thắp lên một vùng ánh sáng được gọi tên “vùng rao Juliet thắp”, và vùng rao đó

trình bày một “Légende”

Đó là một huyền thoại, một diễn ngôn về sự thất bại, thua cuộc, đầu hàng được mô phỏng bằng hình ảnh những con i vứt lả tả cờ đen rủ xuống xen kẽ giữa mạng nối chi chít trăng sao và phần lời tựa như những lời ú ớ tuyệt mệnh

Câu hỏi được đặt ra ở cuối phần biến 3 có vẻ đã tìm được lời đáp trong biến 4 Những dạng thức tồn tại của bóng, hư ảnh của con i đang chếnh choáng trong môi sinh này Con i in đậm và phóng to như hình ảnh một con người cô độc đang quan sát sự tha hóa của mình và tìm kiếm một giải pháp để thoát khỏi “bóng rợp của mình”, thoát khỏi “ngục tù larves trăng sao”, và cuối cùng cũng tập hợp lại được cùng nhau ở nhóm 3 con i đứng kề sát bên nhau, ngắm nhìn những lá cờ bại trận và lời khẳng định: “Tôi không phải thổ zân quả đất.”

Biến 4 kết thúc hành trình hóa thân của con i bằng một lời phủ định thay vì một kết luận quả quyết

Sự khép lại những thể nghiệm đưa con i vào các môi trường sinh nghĩa lại mở ra những hoài nghi

và thôi thúc những nỗ lực tìm kiếm một dạng thức tồn tại nào khác đi ngược lại với lời phủ định kia: tôi không phải thổ zân quả đất Vậy thì “tôi là ai?

2.3 Đề xuất một số nguyên tắc đọc/hiểu thơ

Trang 9

Thực hành thơ “Lời và Không lời” của Trần Dần dựa trên căn cứ lý luận về vai trò của yếu tố chữ viết trong chỉnh thể ngôn ngữ, khai thác những tiềm năng biểu nghĩa của chữ cái dựa trên những liên tưởng thị giác, thông qua đó, làm giàu có thêm cho Tiếng Việt

Bởi vậy, đọc thơ “Lời và Không lời” của Trần Dần, nguyên tắc quan trọng hàng đầu có lẽ chính

là phải xóa bỏ hoàn toàn quán tính đi tìm chữ, tìm từ diễn giải cho hình hay nói khác đi hình là minh họa cho chữ

Cần xác định một tâm thế tiếp cận thơ ca từ một đối tượng thứ nhất và duy nhất mà thôi, ấy là hình thể của chữ viết, mà cụ thể trong trường hợp này là chữ cái, con i

Những liên tưởng thị giác sẽ đưa trí tưởng tượng của chúng ta bay bổng để tìm kiếm những ý nghĩa biểu hiện của chữ như một cấu trúc năng sản, luôn luôn ẩn chứa những bí mật kích thích tính hiếu

kì của những kẻ mê thơ

Chương 3: Tạo sinh ngôn ngữ - một nỗ lực biểu hiện quan niệm về thơ 3.1 Thơ ca từ chối/giải trừ ngôn ngữ

Một đặc điểm chủ chốt làm nên đặc trưng của thơ ca trong tư duy thơ của người Việt trong rất nhiều năm qua, ấy là tính mục đích trở thành nguyên tắc sống còn của mọi thực hành thơ ca Thơ ca đã luôn được nhìn nhận và soi chiếu trong các mối quan hệ vị lợi và thực dụng, sự tồn tại phi lợi ích dường như lại trở thành một nỗi hổ thẹn đối với thơ ca, trong khi chính điều đó khiến thơ ca càng ngày càng trở

nên xa lạ với bản thể của nó; hay nói như Cao Hành Kiện, “người ta cần nó (nghệ thuật, văn chương) chỉ

để cảm thấy mình đang sống, thế thôi”

Đặc điểm thứ hai trong tư duy về thể loại thơ của người Việt là trọng tâm của các thực hành thơ vẫn là hành vi sáng tạo hình tượng nhân vật trữ tình và khai thác các yếu tố biểu hiện thông qua sự độc đáo của ý, tứ, hệ thống thi ảnh, nhạc tính, thông qua hành vi tạo ra các khoảng trống, khoảng trắng, độ nhòe mờ của ngôn ngữ để kích thích các liên tưởng ngữ nghĩa, tức là, ngôn ngữ đã luôn chỉ được nhìn nhận từ phương diện chất liệu – phương tiện cho sự biểu hiện của hình tượng nhân vật trữ tình, mà thành

tố trung tâm làm nên bài thơ và tính thơ hay sự định giá về giá trị của một bài thơ lại chủ yếu căn cứ dựa trên sự độc đáo trong nội dung và hình thức tạo tác nên hình tượng thơ

Đặc điểm thứ ba là quan niệm về tính thơ – chất thơ còn tản mạn, thiếu nhất quán Trong một diễn biến có phần “hỗn độn” của các thực hành nghệ thuật, sự va đập, giao thoa giữa các thể loại đang dần dần xóa nhòa các ranh giới chặt chẽ và cố định, các đường biên khu biệt sự phân loại được mở ra đến

vô cùng, câu hỏi: “Sự gặp gỡ nhạc – họa – sắp đặt vật thể - trình diễn hình thể trong “thơ” hay “tính thơ trong văn xuôi” có phải chỉ dừng lại ở cấp độ là một tương tác hẹp để rộng rãi thêm nghĩa cho “thơ” hay thực sự là một nỗ lực giải phóng/đưa “thơ” vượt qua cái ranh giới “ngôn từ” vốn xác lập một phạm vi dù rộng dài và phong phú đến đâu cũng vẫn không tránh khỏi tồn tại tính áp chế và những lối mòn cho tư duy “thơ” để đưa “thơ” thoát ra ngoài quán tính và sự quen thuộc đến cũ kĩ nhàm chán của chính nó?”

“Thơ ca đang có xu hướng tìm về với tính nguyên hợp của nghệ thuật thuở sơ khởi hay nỗ lực mở rộng phạm vi tác động trong những tương tác với các loại hình nghệ thuật cũng như các bộ môn khoa học khác

có chăng sẽ làm mất đi “bản chất” của thơ ca?” tiếp tục là những hối thúc đối với các nhà nghiên cứu

Trang 10

nhằm định nghĩa lại thơ ca

Ngôn ngữ - yếu tố thứ nhất của thơ ca phải chăng chưa được các tác giả khai thác đúng hướng và triệt để trong các thực hành thơ ca, cũng như chưa được các nhà nghiên cứu đánh giá đúng mực về vai trò của nó trong hỗ trợ công tác nghiên cứu thể loại? Trong một số nỗ lực làm ngôn ngữ, thực hành thơ mới chỉ dừng lại ở cấp độ làm nghĩa của từ, phát huy tính nhạc của ngôn ngữ trong những kết hợp âm, vần, thanh điệu, trong khi lại lãng quên vô số những phương diện đầy tiềm năng khác của đối tượng

Thơ ca đang từ chối ngôn ngữ hay chính nó cũng đang cảm thấy quá lạ lẫm trong những tương tác với ngôn ngữ - đối tượng thứ nhất và duy nhất của mình?

3.2 Thơ là một hành vi thể hiện một nỗ lực ứng xử với chữ

Thuật ngữ “thể loại” ra đời đã đánh dấu một bước phát triển trong tư duy phân tích, so sánh, tổng hợp và định loại của con người Mỗi một thể loại từ phát sinh đã là sự phản ánh một hệ hình tư duy, nhận thức, chiếm lĩnh và mô phỏng thế giới Thơ ca là thể loại lấy ngôn ngữ làm yếu tố thứ nhất và duy nhất cho những thực hành nghệ thuật của mình

“Thơ là nơi kéo chúng ta về với những bí ẩn của ngôn từ.” (Mallarme)

Giống như màu sắc đối với hội họa, đường nét hình khối đối với điêu khắc, âm thanh tiết tấu nhịp điệu đối với âm nhạc,… ngôn ngữ đối với thơ ca trước tiên cũng được hiểu là một chất liệu đặc thù cho một dạng thực hành nghệ thuật đặc thù, ấy là “làm thơ” để cho ra một sản phẩm nghệ thuật mang hai đặc trưng cơ bản là tính hình tượng và tính thẩm mỹ, ấy là “bài thơ, đoạn thơ, câu thơ…”, và thứ chúng ta vẫn dùng để phân tích và phân định một tác phẩm nghệ thuật thuộc thể loại nào chính là cái sản phẩm đã ở dạng hoàn kết đó, bất động, tĩnh tại và bất biến với những nét đặc trưng ổn định không thể mất đi không thể biến đổi

Tuy nhiên, quan niệm mới về khái niệm tác phẩm nghệ thuật như một chu trình – một kế hoạch

đã đưa tới những đòi hỏi cần phải có những nhận thức mới về thể loại “thơ ca” Thơ không đứng yên, thơ không ổn định, mà thơ cũng luôn luôn xoay xở, quẫy đạp, động cựa trong những va chạm và tương tác với chất liệu của mình Thơ không chỉ là một phạm trù tĩnh tại – “thể loại” với những đặc điểm mang tính quy chuẩn, như một bộ khuôn mẫu mực chỉ chực đổ ụp xuống bất cứ sinh thể nghệ thuật nào vừa vặn để chỉ nhằm mục đích gọi tên và phân loại, thơ là tên gọi cho một hành vi, một cách lối ứng xử với ngôn ngữ

vừa tinh tế vừa táo bạo

3.3 Thơ là một cấu trúc năng sản

“Cũng như một phát kiến khoa học mới luôn phát lộ một thức gì đó vốn dĩ đã tiềm tàng trong trật

tự của tự nhiên, cùng lúc đó lại có một quan hệ logic với cấu trúc tổng thể của lĩnh vực khoa học ấy, bài

thơ mới bao giờ cũng biểu hiện một cái gì đó đã tiềm tàng trong trật tự ngôn từ.” (Northrop Frye, Anatomy of Criticism, 1957)

Thơ không phải chỉ là nỗ lực khai thác nghĩa của chữ để biểu đạt tiếng nói của tình cảm, cảm xúc, tiếng nói tâm tình

Thơ không phải chỉ là nỗ lực khai thác những tiềm năng thanh âm của chữ để tạo những ấn tượng

về mặt cảm giác thông qua đó bày tỏ một năng lực biểu nghĩa

Nếu coi các hệ thống – mã giao tiếp là một mạng lưới rộng lớn không ngừng mở rộng đường

Ngày đăng: 13/07/2021, 18:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w