1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn THẠC sĩ văn học tâm THỨC văn hóa LÀNG TRONG tôi và LÀNG tôi của lê bá THỰ

122 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tâm Thức Văn Hóa Làng Trong Tôi Và Làng Tôi Của Lê Bá Thự
Tác giả Lê Bá Thự
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Văn Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 8,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • MỞ ĐẦU

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài

  • 2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

  • 3. Đối tượng và mục đích nghiên cứu

  • 3.1. Đối tượng nghiên cứu

  • 3.2. Mục đích nghiên cứu

  • 4. Phạm vi nghiên cứu

  • 5. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu

  • 5.1. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • 5.2. Phương pháp nghiên cứu

  • 5.2.1. Phương pháp nghiên cứu liên ngành

  • 5.2.2. Phương pháp hệ thống

  • 5.2.3. Phương pháp so sánh, đối chiếu

  • 6. Cấu trúc của luận văn

  • 7. Đóng góp của luận văn

  • NỘI DUNG

  • Chương 1

  • CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

  • 1.1. Văn hóa và văn hoá làng

  • 1.1.1. Đi tìm một định nghĩa về văn hóa

  • 1.1.2. Văn hóa làng

  • 1.1.3. Tâm thức văn hóa làng

  • 1.1.4. Vấn đề tâm thức văn hóa làng trong văn xuôi đương đại

  • 1.2. Văn học từ góc nhìn văn hóa

  • 1.2.1. Văn học - Thành tố trọng yếu của văn hóa

  • 1.2.2. Văn học - Tấm gương phản chiếu của văn hóa

  • 1.2.3. Văn hóa - Một yếu tính của văn học dân tộc

  • 1.3. Lê Bá Thự - Cuộc đời và văn nghiệp

  • 1.3.1. Cuộc đời

  • 1.3.3. Tác phẩm Tôi và làng tôi

  • Tiểu kết chương 1

  • Chương 2

  • TÂM THỨC VĂN HÓA LÀNG TRONG TÔI VÀ LÀNG TÔI NHÌN TỪ NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG

  • 2.1. Hình ảnh làng Nguyệt Lãng trong tâm thức người con xa xứ

  • 2.1.1. Tên gọi và cảnh quan văn hóa

  • 2.1.3. Dấu ấn văn hóa vật chất và tinh thần

  • 2.2. Chân dung tự họa của tác giả - một người con mang “tâm thức” làng quê

  • Tiểu kết chương 2

  • Chương 3

  • NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN

  • TÂM THỨC VĂN HÓA LÀNG TRONG TÔI VÀ LÀNG TÔI

  • 3.1. Không gian nghệ thuật

  • 3.2. Nhân vật

  • 3.2.1. Tên riêng

  • 3.2.2. Ngoại hình, ngôn ngữ, hành động, tính cách

  • 3.3. Phương thức trần thuật

  • 3.3.1. Lối kể tỉ mỉ, rành rọt, thiên về tiểu tiết, đôi khi dài dòng nhưng lôi cuốn

  • 3.3.2. Kết hợp linh hoạt các phương thức biểu đạt: tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh

  • 3.3.3. Lời kể sinh động, hấp dẫn với chú thích văn hóa và bình luận ngoại đề

  • 3.4. Ngôn ngữ nghệ thuật

  • 3.4.1. Ngôn ngữ sinh hoạt giản dị, tự nhiên

  • 3.4.2. Ngôn từ đậm chất làng quê

  • 3.4.3. Ngôn ngữ đặc trưng cho giai đoạn lịch sử

  • 3.5. Giọng điệu nghệ thuật

  • 3.5.1. Giọng điệu ngây thơ, hồn nhiên, trong sáng

  • 3.5.3. Giọng điệu lãng mạn, ngợi ca, mang tinh thần lạc quan cách mạng

  • 3.5.4. Giọng điệu trầm ngâm, trải nghiệm, giàu xúc cảm và chất thi ca

  • Đại diện cho văn học miền núi, Cao Duy Sơn - nhà văn đến từ một vùng đất cổ đầy trầm tích văn hóa của Cao Bằng gạo trắng nước trong - đã đem đến cho làng văn nét khỏe khoắn mà duyên dáng của những “ngôi nhà xưa bên suối” dưới “chân núi Vục Vèn” hay trong “lũng Cô Sầu”. Một trong những sự đồng điệu giữa Cao Duy Sơn và Lê Bá Thự là ý thức giữ gìn hơi thở văn hóa bản địa quan việc gợi nhắc phong tục và ngôn ngữ truyền thống. Bàn về truyện ngắn Cao Duy Sơn, nhà nghiên cứu Bùi Như Hải nhấn mạnh: “Chính sự phối kết hợp thuần thục, linh hoạt song ngữ Tày và Việt trong tác phẩm đã góp phần giúp người đọc hiểu sâu hơn về cuộc sống, về con người, về bản sắc văn hóa của dân tộc Tày. Để người đọc hiểu được ý nghĩa to lớn về phong tục Khai vài xuân trong đời sống tinh thần của dân tộc mình; đồng thời để duy trì, phát triển và giữ gìn vốn ngôn ngữ truyền thống của dân tộc, Cao Duy Sơn đã sử dụng song ngữ để miêu tả một cách chi tiết về tục khai vài xuân. Và để hiểu hết ý nghĩa nhân văn trong điệu hát khai vài xuân, nhà văn họ Cao đã chuyển tải điệu hát này bằng chính ngôn ngữ Tày chứ không phải bất kỳ một ngôn ngữ nào khác. Qua điệu hát khai vài xuân bằng tiếng Tày, người đọc dẫu không hiểu nghĩa của tiếng Tày nhưng vẫn cảm nhận được những lời cầu chúc ấy đều xuất phát từ trái tim giàu nhân ái của người dân nơi đây; đồng thời qua đó thể hiện được tấm lòng sâu nặng, gắn bó keo sơn với cuộc sống và con người miền núi Tây Bắc của Cao Duy Sơn” [22]. Hơi thở văn hóa và thi ca, âm nhạc dân gian ấy rất giống với Tôi và làng tôi của Lê Bá Thự. Tuy nhiên, giữa hai nhà văn, vẫn có những nét khác biệt dễ nhận thấy. Nếu như tuổi thơ của chú bé Thự ở làng Nguyệt Lãng trong sáng hồn nhiên và kí ức của nhà văn xa xứ Lê Bá Thự đầy những niềm nhớ thương trong trẻo thì các nhân vật trong truyện ngắn Cao Duy Sơn vẫn mang đậm nỗi day dứt của nhà văn về số phận nhiều éo le, cơ khổ nơi núi cao sông rộng: “con người vùng cao trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn đầy “những gian truân số phận. Bất hạnh cứ như những giọt sương từng ngày giăng giăng qua cuộc đời họ. Những phận người sống nghèn nghẹn trong sự chờ đợi dai dẳng và vô vọng; tình yêu của họ sâu thăm thẳm nhưng lại mịt mùng, không lối thoát vì những tập tục cổ hủ, những luật lệ hà khắc ngàn đời; cuộc đời của họ cứ như một dòng sông trôi, chậm và bất tận. Mỗi câu chuyện là một nỗi đau lăn dài; in dấu lên những cuộc đời đầy sóng gió trong miền yên tĩnh ngỡ là thanh bình giữa chốn núi rừng” [22].

  • Tiểu kết chương 3

  • KẾT LUẬN

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • PHỤ LỤC 

  • MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ NHÀ VĂN LÊ BÁ THỰ

  • VÀ TẬP TRUYỆN “TÔI VÀ LÀNG TÔI”

Nội dung

Nhiều thế hệ nhà văn, nhà thơ đi suốt chiều dài lịch sử của đất nước cũng đã không ngừng khai thác những giá trị văn hóa dân tộc trong sáng tác của mình. Đó là bức tranh văn hoá dân gian trong thơ Hồ Xuân Hương, là vẻ đẹp của làng quê Việt qua những vần thơ nức tiếng của Nguyễn Khuyến, là cảnh sắc thiên nhiên đất nước và những nét văn hóa truyền thống trong tuỳ bút Nguyễn Tuân hay những tín ngưỡng, phong tục độc đáo trong sáng tác của Tô Hoài… Thế hệ các nhà văn hiện đại cũng luôn tìm tòi, khai thác giá trị văn hóa dân tộc để đưa vào các sáng tác của họ những “chất liệu” văn hóa dân gian ngọt thắm như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Xuân Khánh, Y Ban, Nguyễn Ngọc Tư, Võ Thị Hảo, Đỗ Bích Thúy, Cao Duy Sơn… Trong bảng màu đa sắc ấy, Lê Bá Thự cũng một nét vẽ ấn tượng với tập hồi ức tuổi thơ mang tên Tôi và làng tôi.

Tính cấp thiết của đề tài

Văn học, với vai trò là một thành tố quan trọng của văn hóa, phản ánh quan niệm và lối ứng xử của con người đối với thế giới một cách sinh động Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học rất sâu sắc, với văn hóa không chỉ hiện diện trên bề mặt mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến tư duy sáng tạo của nhà văn Do đó, tác phẩm văn chương thường mang những dấu ấn văn hóa đặc trưng Nghiên cứu văn chương từ góc nhìn văn hóa giúp khám phá bức tranh văn hóa của các thời đại và giai đoạn lịch sử, đồng thời đáp ứng nhu cầu bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.

Nhiều thế hệ nhà văn, nhà thơ đã khai thác giá trị văn hóa dân tộc trong sáng tác của mình, từ bức tranh văn hóa dân gian trong thơ Hồ Xuân Hương đến vẻ đẹp làng quê Việt qua thơ Nguyễn Khuyến Các tác giả hiện đại như Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Xuân Khánh, và Võ Thị Hảo cũng không ngừng tìm tòi những “chất liệu” văn hóa dân gian Lê Bá Thự nổi bật với tập hồi ức "Tôi và làng tôi", không chỉ tái hiện phong tục, tín ngưỡng của người nông dân Việt mà còn gìn giữ ký ức sâu sắc về ngôi làng Nguyệt Lãng Tác phẩm 300 trang này được coi là nơi lưu giữ “dòng sinh mệnh” văn hóa dân tộc Việt.

Làng xã Việt Nam, với 70% dân số sinh sống ở nông thôn, là hồn cốt của dân tộc, phản ánh đặc trưng về địa lý, nghề nghiệp và phong tục tập quán Nghiên cứu văn hóa làng không bao giờ hết hấp dẫn, vì mỗi chi tiết nhỏ đều chứa đựng ký ức và thực tại, chạm đến tâm linh của hơn hai phần ba người Việt Những hiện tượng văn hóa, dù đã xuất hiện từ năm mươi năm trước, vẫn liên quan đến cuộc sống hiện tại Trong bối cảnh công nghiệp hóa, khi văn hóa nông thôn đang thay đổi, tác phẩm như "Tôi và làng tôi" trở thành tiếng gọi hồn làng, nhắc nhở chúng ta về giá trị văn hóa truyền thống.

Tập truyện "Tôi và làng" không chỉ phác họa vẻ đẹp văn hóa của làng Nguyệt Lãng, xã Thiệu Lý, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, mà còn khái quát những đặc trưng tiêu biểu về văn hóa làng quê Bắc Bộ Việt Nam trong quá khứ Tuy nhiên, đến nay, những giá trị văn hóa làng trong tác phẩm vẫn cần được gìn giữ và phát huy.

Lê Bá Thự vẫn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, vì vậy chúng tôi đã chọn vấn đề Tâm thức văn hóa làng trong tác phẩm "Tôi và làng tôi" để tiến hành nghiên cứu toàn diện Mục tiêu là cung cấp một cái nhìn mới và lý giải khoa học về những giá trị trong sáng tác của Lê Bá Thự, từ đó khẳng định những đóng góp quan trọng của ông đối với văn xuôi Việt Nam đương đại.

Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Tính đến nay, khoảng 40 tờ báo và tạp chí đã đăng bài giới thiệu và bình luận về tập truyện "Tôi và làng tôi" Các bài viết xuất hiện trên nhiều nền tảng như Báo Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Thanh Hóa hàng tháng, Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam, Nhà văn và Tác phẩm, VanVn.net, Văn Nghệ Quân Đội, Văn nghệ Công an, Vnexpress, Người Hà Nội, Tiền phong chủ nhật, Sức khỏe & Đời sống, tạp chí “Xứ Thanh”, Thái Nguyên, Dân Việt và “Quê Việt”.

Cuối tuần qua, nhiều tạp chí và báo chí như tạp chí Sông Hương, Báo Sở hữu trí tuệ, và báo Văn hóa đã đăng tải những ý kiến của các nhà văn, nhà thơ, và nhà lý luận phê bình văn học về tác phẩm "Tôi và làng tôi" Các tác giả như Hữu Thỉnh, Hỏa Diệu Thúy, và Nguyễn Quang Thiều đều ghi nhận những đóng góp mới của tác phẩm này cho văn xuôi đương đại Việt Nam Nhiều bài viết đã đưa ra những đánh giá tích cực, nhấn mạnh sự đổi mới trong nội dung và hình thức của tác phẩm.

Trần Đăng Khoa trong bài viết "Nhà văn Lê Bá Thự - người 'gọi hồn' làng," đăng trên tạp chí Văn nghệ quân đội tháng 7 năm 2018, đã nhận định rằng tác phẩm này là một cuốn sách quý, như một bảo tàng nhỏ lưu giữ vẻ đẹp của quê hương Việt Nam trong những năm 50, 60 Ông mô tả bầu không khí trong trẻo của nông thôn, nơi mà người đọc có thể cảm nhận được những giá trị văn hóa và cảnh sắc của làng quê Bài viết chủ yếu tập trung vào việc nhìn nhận tác phẩm "Hồi ức Tôi và làng tôi" từ góc độ cảm nhận của độc giả, phản ánh hình ảnh chân thực của làng quê Việt Nam trong bối cảnh lịch sử của thế kỷ XX.

Nguyễn Thanh Tâm đã chia sẻ cảm xúc của mình khi đọc tác phẩm "Tôi và làng tôi" của Lê Bá Thự, nhấn mạnh rằng giọng quê trong ký ức mang lại sự kết nối sâu sắc với quê hương Ông cảm nhận được sự chân thật trong những câu chuyện, cho phép người đọc nhận ra quê hương qua giọng nói đặc trưng của vùng Thanh Tương tự, Nguyễn Hữu Sơn cũng khẳng định rằng mỗi người đều có một làng quê và những ký ức về nó, thể hiện tầm quan trọng của quê hương trong đời sống tinh thần của mỗi cá nhân.

Nguyệt Lãng là tác phẩm của Lê Bá Thự, nơi nhân vật "Tôi" sống trong "làng tôi", nơi gom góp tuổi thơ, từng con chữ và lời nói của cha chú, bà con Qua đó, nhân vật trưởng thành và cảm nhận sâu sắc về quê hương Cả hai nhà phê bình đều đồng ý rằng hồn quê "máu thịt nhất" chính là "giọng quê trong kí ức".

Trong bài viết "Chuyện cũ không bao giờ cũ" đăng trên báo Văn nghệ số 28 vào ngày 14/7/2018, Văn Đắc đã nhận định về nhà văn Lê Bá Thự như một người làm mới những câu chuyện cũ Nhà phê bình đã chỉ ra rằng Lê Bá Thự không chỉ có hình ảnh trẻ thơ dí dỏm mà còn là một người làm văn hóa sinh động, một nhà sử học giàu tư liệu và một đầu bếp tài ba Lối viết thật thà nhưng không nhàm chán của tác giả họ Lê đã giúp ông tái hiện những câu chuyện cũ một cách mới mẻ và hấp dẫn.

Những ý kiến sắc sảo từ các nhà nghiên cứu văn học như Nguyễn Quang Thiều và Bùi Việt Thắng đóng góp quan trọng vào việc hiểu giá trị của tác phẩm "Tôi và làng tôi" Nguyễn Quang Thiều nhấn mạnh tính khái quát của tác phẩm, cho thấy sự đồng điệu trong đời sống và phong tục tập quán của nông dân Bắc Bộ: “Tôi cũng có một làng riêng, nhưng khi đọc cuốn sách này, tôi thấy hình như tôi đã sống ở ngôi làng đó.” Bùi Việt Thắng lại đánh giá cao sự giản dị trong văn phong của Lê Bá Thự, cho rằng đó là biểu hiện của tâm hồn thiện lương và căn tính Việt bền vững, không bị ảnh hưởng bởi văn minh phương Tây: “Căn tính Việt của ông rất bền chắc Không bị đồng hóa bởi văn minh, văn hóa Tây theo hướng ‘cũ người mới ta’.”

Nhiều tác giả đã bày tỏ cảm xúc chân thành về Tôi và làng tôi, đặc biệt là tác giả Lê Bá Thự Một số bài viết đã khám phá và khẳng định giá trị của tập hồi ức trong văn xuôi đương đại, đặc biệt liên quan đến đề tài nông thôn.

Mặc dù có nhiều nghiên cứu và đánh giá về tác phẩm "Tôi và làng tôi," nhưng vấn đề tâm thức văn hóa làng trong tác phẩm này vẫn chưa được khai thác một cách độc lập và hệ thống Luận văn này hy vọng kế thừa những thành tựu khoa học trước đó để khám phá và giải thích những giá trị đặc sắc của tập truyện, đồng thời khẳng định vị trí của Lê Bá Thự trong văn xuôi đương đại Việt Nam.

Đối tượng và mục đích nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về tâm thức văn hóa làng trong tác phẩm "Tôi và làng tôi" của nhà văn Lê Bá Thự, được xuất bản bởi Nhà xuất bản Hội Nhà văn tại Hà Nội năm 2018.

Mục đích nghiên cứu

Với đề tài này chúng tôi hướng đến mục đích nghiên cứu sau:

Bài viết nghiên cứu khái quát cuộc đời và sự nghiệp văn học của dịch giả - nhà văn Lê Bá Thự, giúp độc giả hiểu rõ hơn về tài năng và tâm huyết của ông đối với quê hương, đất nước Qua đó, bài viết khuyến khích mọi người trân trọng và gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

Bài viết này nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về tâm thức văn hóa làng trong hồi ức "Tôi và làng tôi" của Lê Bá Thự, từ cả nội dung lẫn nghệ thuật Qua những biểu hiện của tâm thức văn hóa làng, tác phẩm thể hiện rõ giá trị nhân bản và nhân văn Luận văn cũng nhằm khẳng định nét độc đáo trong phong cách sáng tác của Lê Bá Thự ở thể loại hồi ức, đồng thời ghi nhận những đóng góp quan trọng của ông trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu

Nhiệm vụ nghiên cứu

Bài viết tổng hợp tài liệu và thu thập ngữ liệu nhằm làm rõ các biểu hiện của tâm thức văn hóa làng trong tác phẩm "Tôi và làng tôi" của Lê Bá Thự Qua việc phân tích các yếu tố văn hóa đặc trưng, tác giả khắc họa sâu sắc mối liên hệ giữa con người và không gian sống, từ đó phản ánh những giá trị văn hóa truyền thống của làng quê Việt Nam.

- Phân tích, làm rõ các giá trị về văn hóa làng thể hiện qua nội dung và nghệ thuật.

Lê Bá Thự nổi bật với khả năng khai thác các giá trị văn hóa độc đáo, thể hiện tài năng và phong cách văn xuôi đặc sắc của mình Ông không chỉ là một nhà văn mà còn là một nhà văn hóa tiêu biểu của dân tộc, góp phần làm phong phú thêm bức tranh văn hóa Việt Nam Qua các tác phẩm, Lê Bá Thự mang đến một cái nhìn mới mẻ về văn hóa, tôn vinh những giá trị truyền thống và hiện đại, khẳng định vị trí quan trọng của ông trong nền văn học Việt Nam.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau:

5.2.1 Phương pháp nghiên cứu liên ngành

Liên ngành giữa văn học và văn hóa giúp nhận diện và phân tích dấu ấn tâm thức văn hóa làng trong hồi ức của Lê Bá Thự Đây là phương pháp nghiên cứu chủ đạo mà chúng tôi áp dụng xuyên suốt luận văn, nhằm khai thác một cách hệ thống và toàn diện các biểu hiện của tâm thức văn hóa làng trong tập Hồi ức.

Tôi và làng tôi trên bình diện nội dung và nghệ thuật thể hiện.

Hệ thống các giá trị văn hóa trong tác phẩm của Lê Bá Thự trên hai bình diện văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.

5.2.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Bài viết này so sánh các khía cạnh văn hóa làng trong tác phẩm "Tôi và làng tôi" của Lê Bá Thự với những tác phẩm khác cùng chủ đề, nhằm làm nổi bật sự khác biệt trong phong cách sáng tác của ông Để làm rõ tâm thức văn hóa làng, luận văn áp dụng phương pháp văn hóa – lịch sử, kết hợp với các thao tác phân tích, tổng hợp, khảo sát, thống kê và miêu tả.

Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2 khám phá tâm thức văn hóa làng qua các giá trị văn hóa truyền thống, nhấn mạnh tầm quan trọng của di sản văn hóa trong việc hình thành bản sắc cộng đồng Chương 3 phân tích nghệ thuật thể hiện tâm thức văn hóa làng trong tác phẩm "Tôi và làng tôi", cho thấy sự kết nối sâu sắc giữa con người và quê hương, cùng với những biểu hiện sinh động của đời sống văn hóa làng.

Đóng góp của luận văn

Luận văn nghiên cứu sâu sắc tâm thức văn hóa làng trong tác phẩm "Tôi và làng tôi" của Lê Bá Thự, qua đó khẳng định giá trị đặc sắc của tác phẩm và vai trò của Lê Bá Thự trong văn xuôi đương đại Việt Nam, đặc biệt ở thể loại hồi ký.

Luận văn không chỉ là tài liệu tham khảo cho những người nghiên cứu tiếp theo, mà còn có thể được áp dụng vào công tác phê bình và giảng dạy văn học.

Văn hóa và văn hoá làng

1.1.1 Đi tìm một định nghĩa về văn hóa

Văn hóa là một khái niệm phức tạp và khó có thể định nghĩa một cách đầy đủ Thuật ngữ này lần đầu tiên được sử dụng bởi Lưu Hướng vào khoảng năm 77 – 76 trước Công nguyên, trong bối cảnh của triều đại Tây Hán, với ý nghĩa là phương thức giáo hóa con người, hay còn gọi là văn trị giáo hóa.

Theo chiết tự của chữ Hán, "văn" có nghĩa là đẹp và "hóa" là trở nên, biến cải, từ đó văn hóa được hiểu là làm cho cái gì đó trở nên đẹp đẽ và có giá trị Tại phương Tây, thuật ngữ "văn hóa" được thể hiện qua các ngôn ngữ như tiếng Anh là "Culture", tiếng Đức là "Kultur", và tiếng Pháp là "Cultura", tất cả đều có nguồn gốc từ chữ Latin "cultus", mang ý nghĩa "gieo trồng" hay "trồng trọt".

Văn hóa, được hiểu bởi cả người phương Tây và phương Đông, là sự giáo dục con người, trái ngược với tự nhiên Từ đầu thế kỷ XX, Đào Duy Anh nhấn mạnh rằng văn hóa gắn liền với sinh hoạt của con người, phát sinh trong quá trình lao động và các hoàn cảnh địa lý nhất định Ông cho rằng, "Các điều kiện địa lý có ảnh hưởng lớn đối với cách sinh hoạt của con người, nhưng con người có khả năng điều chỉnh và biến đổi những điều kiện đó để phù hợp với nhu cầu của mình." Do đó, cách sinh hoạt và văn hóa cũng thay đổi theo thời gian Nghiên cứu sự biến chuyển của hoạt động sinh hoạt trong các khía cạnh của một dân tộc là để tìm hiểu văn hóa lịch sử của dân tộc đó.

Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật và các công cụ sinh hoạt hàng ngày đều là những sáng tạo của con người nhằm phục vụ cho sự sinh tồn và mục đích của cuộc sống Định nghĩa này giúp chúng ta có cái nhìn cụ thể và đầy đủ hơn về văn hóa.

Theo Trần Quốc Vượng, văn hóa được hiểu là sự biến đổi tự nhiên do con người tạo ra, bao gồm kỹ thuật, kinh tế và hình thành lối sống, thái độ, và cách ứng xử của con người đối với vũ trụ Nó cũng bao hàm hệ thống chuẩn mực, giá trị, biểu tượng và quan niệm, từ đó tạo nên phong cách diễn đạt tri thức và nghệ thuật của con người.

Trần Ngọc Thêm định nghĩa văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị, bao gồm cả vật chất và tinh thần, tĩnh và động, vật thể và phi vật thể Những giá trị này được con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của họ.

Theo UNESCO, văn hóa là tổng thể các hoạt động và sáng tạo của con người qua các thời kỳ, hình thành nên hệ thống giá trị, truyền thống và thị hiếu đặc trưng cho mỗi dân tộc Định nghĩa này nhấn mạnh vai trò của sự sáng tạo trong cộng đồng, phản ánh quá trình phát triển lịch sử kéo dài, tạo ra những giá trị nhân văn phổ quát và bản sắc riêng của từng dân tộc.

Văn hóa được hiểu là tổng thể các yếu tố tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm, hình thành nên tính cách của một xã hội hoặc nhóm người trong xã hội Đây chính là động lực phát triển, giúp cộng đồng có được bản sắc độc đáo riêng.

Theo nghiên cứu của Nguyễn Duy Quý, sự hình thành làng Việt không phải ngẫu nhiên mà là kết quả của quá trình lịch sử dài lâu và sự phát triển của cộng đồng nhằm ứng phó với thiên tai và địch họa Làng Việt là sản phẩm tiến triển tự nhiên từ tổ chức công xã, thường bao gồm nhiều chòm, xóm.

Chòm, xóm là những từ thuần Việt, nhưng chúng không có những đặc trưng văn hóa độc lập Do đó, chòm, xóm chỉ đóng vai trò là những thành phần trong cộng đồng làng.

Về mặt hành chính, xã là một thiết kế có tính pháp lý, nhưng đối với người dân, đặc biệt là nông dân, khái niệm làng vẫn là chủ yếu Các chỉ thị và luật pháp của triều đình, cũng như các quy định của xã và thôn, đều thể hiện sức mạnh thông qua làng Tập tục và truyền thống của làng là yếu tố gắn kết các thế hệ thành viên, tạo nên sự cố kết cộng đồng đặc sắc Dù trong bất kỳ triều đại nào hay phải đối mặt với các quyền lực khác nhau, làng vẫn tồn tại tự nhiên với bản sắc văn hóa riêng biệt.

Văn hóa được xem như khuôn thước ứng xử sâu sắc trong đời sống cộng đồng, là hệ thống giá trị đặc thù quy định các quan hệ xã hội Nó là sự tổng hợp kinh nghiệm sống qua lịch sử của các cộng đồng Mỗi người Việt Nam, dù sinh ra ở đâu hay làm nghề gì, đều khó có thể thoát khỏi tâm thức, lề thói và giá trị của làng, điều đã ăn sâu vào văn hóa cá nhân.

Văn hóa làng chỉ thực sự được hiểu rõ khi so sánh với các dạng thức văn hóa vùng và cộng đồng khác Trong cộng đồng làng, tính tự lập và tự quản được thể hiện rõ nét, với mối quan hệ vừa gia trưởng vừa dân chủ giữa các cá nhân Quan hệ huyết thống và vị trí của người bản quán và người ngụ cư cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định nghĩa vụ và quyền lợi của các thành viên đối với làng.

Văn hóa làng là tổng thể các đặc trưng, giá trị tinh thần và vật chất, phản ánh bản sắc của cộng đồng làng qua lịch sử Nó giúp nhận diện làng Việt Nam và văn hóa nông thôn Làng truyền thống Việt Nam có ba đặc điểm chính: ý thức cộng đồng, ý thức tự quản và tính độc đáo của từng làng Văn hóa Việt Nam được hình thành từ nền văn minh nông nghiệp, nơi cuộc sống người dân gắn bó sâu sắc với làng xã và quê hương Tập tục, truyền thống và văn hóa làng đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối các thế hệ Mặc dù nguồn gốc của làng vẫn chưa được xác định rõ, nhưng văn hóa làng phát triển mạnh mẽ nhất vào thế kỷ XVI-XVIII Đặc biệt, mô hình làng và văn hóa làng chỉ tồn tại ở Việt Nam, trong khi nhiều quốc gia khác không có tổ chức làng tương tự.

1.1.3 Tâm thức văn hóa làng

Theo từ điển điện tử Voer.edu, tâm thức bao gồm các khía cạnh của trí tuệ và ý thức, thể hiện qua tư duy, tri giác, trí nhớ, cảm xúc, ý muốn và trí tưởng tượng Tâm thức được coi là dòng ý thức, bao gồm tất cả các quá trình có ý thức của bộ não Trong một số ngữ cảnh, tâm thức còn liên quan đến hoạt động của tiềm thức con người.

Lê Bá Thự - Cuộc đời và văn nghiệp

Lê Bá Thự, sinh năm 1942, lớn lên tại làng Nguyệt Lãng, xã Thiệu Lý, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa Từ khi còn học cấp III, ông đã bộc lộ niềm đam mê văn học và đạt danh hiệu học sinh giỏi văn trong suốt 3 năm liền tại Trường cấp III Lam Sơn, Thanh Hóa Năm 1963, sau khi tốt nghiệp, ông đỗ vào Khoa Văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, nhưng sau đó được cử đi du học tại Đại học Bách khoa Warszawa, Ba Lan, và tốt nghiệp năm 1970 Về nước, ông làm việc tại trường Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội, thời điểm đó sơ tán ở Phổ Yên, Thái Nguyên, trước khi chuyển công tác giữa những năm 70 của thế kỷ XX.

Từ năm 1996 đến 2000, ông Lê Bá Thự làm việc tại Đại sứ quán Việt Nam ở Vác-sa-va với vai trò Bí thư thứ I Trong thời gian này, ông đã chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng trong quan hệ Việt Nam - Ba Lan Nhờ vào năng khiếu văn chương và những trải nghiệm thực tế, ông đã trở thành một dịch giả nổi tiếng về văn học Ba Lan.

Năm 2002, Lê Bá Thự nghỉ hưu để tập trung vào việc dịch văn học Ba Lan, nổi bật với tác phẩm "Pharaon" của Boleslaw Prus (NXB Kim Đồng, 2018, 1350 trang) Ông đã dịch nhiều tác phẩm của các tác giả lớn như H Sienkiewicz, S Reymont, T Rozewicz, Wislawa Szymborska, và Czeslaw Milosz, cùng nhiều tác giả đương đại như Olga Tokarczuk Ngoài việc dịch văn học, ông còn tham gia thuyết minh cho một số bộ phim Ba Lan tại Việt Nam trong những năm 80 Lê Bá Thự cũng là tác giả của hai tập thơ: “Hoa giẻ” (NXB Văn học, 2002) và “Đi về ngày xưa” (NXB Phụ nữ, 2016) Ông giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Văn học dịch Hội Nhà văn Việt Nam khóa VIII và XIX, cũng như Phó Chủ tịch Hội đồng Văn học dịch Hội Nhà văn Hà Nội khóa XII, và tham gia Ban Chấp hành Hội hữu nghị Việt Nam – Ba Lan.

Lê Bá Thự đã đóng góp quan trọng trong việc quảng bá văn hóa Ba Lan tại Việt Nam, nhờ đó ông đã hai lần nhận huân chương công trạng từ Tổng thống Ba Lan vào năm 2012 và 2017, cùng với Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa.

Lê Bá Thự là một nhà văn, nhà thơ và dịch giả nổi bật, với hơn 30 tác phẩm đã được xuất bản Trong số đó, ông đã dịch 28 tác phẩm và sáng tác 4 tác phẩm riêng.

Cần mẫn trên từng con chữ với niềm đam mê văn học Ba Lan, dịch giả Lê

Bá Thự được ví như một người thợ ong tận tụy trong lĩnh vực dịch thuật, góp phần quan trọng vào việc mang đến cho độc giả Việt Nam bộ sưu tập tác phẩm văn học đương đại Ba Lan phong phú và đa dạng Nhờ có Lê Bá Thự, nhiều tiểu thuyết nổi bật như Pharaon, Hoang thai, Xin cạch đàn ông và Quà của Chúa đã có mặt trên kệ sách, giúp người đọc tiếp cận những giá trị văn hóa và nghệ thuật đặc sắc.

Ông đã in bốn cuốn truyện cười và dịch nhiều tác phẩm của các nhà văn cổ điển Ba Lan như Henryk Sienkiewicz, Bolesław Prus, và W Reymont Ngoài ra, ông cũng đã dịch hàng trăm truyện ngắn của Slawomir Mrozek, Olga Tokarczuk, và Hanna Sámon, cùng với thơ của các nhà thơ nổi tiếng như Tadeusz Różewicz, Czesław Miłosz, và Wisława Szymborska Bên cạnh đó, ông còn khám phá nhiều thể loại văn học khác nhau như truyện cực ngắn, truyện ngắn, truyện vừa và phê bình văn học.

Nghề dịch thuật là một công việc vất vả và đòi hỏi nhiều công sức, theo chia sẻ của dịch giả Lê Bá Thự Người dịch phải làm việc chăm chỉ, cẩn trọng với từng con chữ để truyền tải ý nghĩa chính xác.

Việc dịch thuật là một hành trình đầy tâm huyết và trăn trở, khi mà mỗi câu chữ đều mang ý nghĩa sâu sắc Tôi tin rằng, tác giả viết từ những gì họ biết, trong khi dịch giả cần nắm vững mọi khía cạnh của tác phẩm May mắn là hiện nay có nhiều công cụ hỗ trợ tìm kiếm, giúp quá trình này trở nên dễ dàng hơn Trong quá trình dịch, tôi cảm nhận được niềm vui khi khám phá từng chi tiết của tác phẩm văn học mà tôi yêu thích Mỗi tác phẩm tôi chọn không chỉ là một khám phá cá nhân mà còn là sự kết nối với văn học Ba Lan phong phú Khi những tác phẩm tôi dịch được độc giả đón nhận và tái bản nhiều lần, đó là động lực lớn lao cho tôi tiếp tục đam mê với nghề dịch thuật.

Lê Bá Thự nổi bật trong lĩnh vực dịch thuật với nhiều tác phẩm thành công từ các nữ nhà văn đương đại Ba Lan như Dorota Terakowska, Katarzyna Grochola, Olga Tokarczuk và Hanna Samson Dịch giả cho biết, ông chọn những tác giả này vì các tác phẩm của họ không chỉ đáp ứng tiêu chí cá nhân mà còn phù hợp với tâm lý độc giả Việt Nam Những nữ nhà văn này đều mang tinh thần nữ quyền mạnh mẽ, bảo vệ và bênh vực quyền lợi của phụ nữ, đồng thời thể hiện sự thay đổi rõ rệt trong tư duy và vai trò của phụ nữ Ba Lan so với trước đây.

Năm 2016, cuốn sách “Lê Bá Thự 25 năm dịch và viết” được xuất bản, tổng hợp các tác phẩm của dịch giả nổi tiếng với văn học Ba Lan Cuốn sách bao gồm hai tập với hàng chục bài giới thiệu và bài viết từ chính dịch giả cùng nhiều nhà văn, nhà thơ, và nhà lý luận phê bình Trong phần mở đầu, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ca ngợi Lê Bá Thự về khối lượng tác phẩm dịch đồ sộ và tinh thần sáng tạo, nghiêm túc của ông Ông đã dấn thân vào con đường dịch thuật đầy thách thức, mang đến những tác phẩm chứa đựng tư tưởng lớn và khám phá sâu sắc về con người trong nền văn học Ba Lan, một trong những nền văn học vĩ đại của nhân loại.

Lê Bá Thự đã chọn dịch nhiều tác phẩm văn chương Ba Lan có giá trị, được các nhà bình luận văn học công nhận và được độc giả Ba Lan yêu thích.

Lê Bá Thự là một dịch giả nổi bật trong lĩnh vực văn học dịch, với hàng loạt tác phẩm được chuyển ngữ sang tiếng Việt, bao gồm tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, truyện cười, thơ và phê bình tiểu luận Ông đã xuất bản 11 tiểu thuyết, trong đó có tác phẩm lịch sử "Pharaoh" dày 1250 trang, cùng với 7 tập truyện ngắn và 4 tập truyện cười Năm 2010, ông nhận Bằng khen của Hội Nhà văn Việt Nam cho bản dịch "Quà của Chúa", và năm 2014, tác phẩm "Hy vọng" của ông được trao Giải thưởng văn học bởi Hội Nhà văn Hà Nội Ngoài ra, ông còn nhận nhiều giải thưởng khác như từ tạp chí Văn nghệ Quân Đội và các cuộc thi thơ, viết khác, khẳng định tài năng và đóng góp của ông cho nền văn học Việt Nam.

1.3.3 Tác phẩm Tôi và làng tôi

Không chỉ được biết đến là một dịch giả chuyên dịch về văn học Ba Lan, Lê

Nhà văn Bá Thự, nổi tiếng với thể loại truyện ngắn, đã ra mắt cuốn sách "Tôi và làng tôi" vào năm 2018, ghi lại hồi ức tuổi thơ của ông Cuốn sách này chia sẻ những kỷ niệm sống động từ hơn 50 năm trước tại làng quê Nguyệt Lãng, xã Thiệu Lý, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, và được xuất bản bởi NXB Hội Nhà văn.

Cuốn sách dày 300 trang của dịch giả Lê Bá Thự như một "từ điển" về làng quê, đưa người đọc trở về những năm 1950-1960 tại làng Nguyệt Lãng, Thanh Hóa Tác giả khắc họa cuộc sống nghèo khó nhưng lạc quan của dân làng, từ việc ăn khoai độn, trồng lúa đến chăn nuôi gia súc, thể hiện qua ngòi bút chân thực và dí dỏm Hình ảnh tác giả là một cậu bé chăn bò tinh nghịch, am hiểu nhiều công việc nhà nông, góp phần tạo nên bức tranh sinh động về nếp quê Việt Nam cách đây hơn nửa thế kỷ Trong bối cảnh đổi mới hiện nay, cuốn sách trở thành tài liệu quý giá, giúp người lớn tuổi hoài niệm và giới trẻ khám phá những phong tục tập quán thú vị như úp nơm, cắm câu hay soi ếch.

Có người còn khẳng định tập sách “Tôi và làng tôi” của Lê Bá Thự là một

Ngày đăng: 13/07/2021, 16:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2004, tái bản), Việt Nam văn hóa sử cương, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Nhà XB: NXB Thế giới
2. Nguyễn Nhật Ánh, (2012), Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ
Tác giả: Nguyễn Nhật Ánh
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2012
3. Toan Ánh (2005), Nếp cũ - Làng xóm Việt Nam, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ - Làng xóm Việt Nam
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2005
4. Toan Ánh (2005), Nếp cũ - Tín ngưỡng Việt Nam, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ - Tín ngưỡng Việt Nam
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2005
5. Lại Nguyên Ân (2014), 150 Thuật ngữ Văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 Thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2014
6. M. Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, (Phạm Vĩnh Cư tuyển chọn, dịch và giới thiệu), Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Năm: 1992
7. Phan Kế Bính (1990), Phong tục Việt Nam, NXB Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục Việt Nam
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: NXB Đồng Tháp
Năm: 1990
8. Lê Nguyên Cẩn (2013), Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hoá, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hoá
Tác giả: Lê Nguyên Cẩn
Nhà XB: NXB Đại họcQuốc gia Hà Nội
Năm: 2013
9. Nguyễn Từ Chi (1984), Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1984
10. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Khoahọc Xã hội
Năm: 2004
11. Chu Xuân Diên (1999), Cơ sở văn hoá Việt Nam, NXB TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hoá Việt Nam
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: NXB TP. HCM
Năm: 1999
12. Phan Đại Doãn (2004), Mấy vấn đề về văn hoá làng xã Việt Nam trong lịch sử, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về văn hoá làng xã Việt Nam trong lịchsử
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
13. Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học như là một quá trình, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học như là một quá trình
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: NXBKhoa học Xã hội
Năm: 2004
14. Nguyễn Đăng Duy (2001), Văn hoá Việt Nam đỉnh cao Đại Việt, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Việt Nam đỉnh cao Đại Việt
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2001
15. Nguyễn Đăng Duy (2005), Văn hoá tâm linh, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá tâm linh
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin
Năm: 2005
16. Bùi Xuân Đính (1984), Lệ làng phép nước, NXB. Pháp lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lệ làng phép nước
Tác giả: Bùi Xuân Đính
Nhà XB: NXB. Pháp lý
Năm: 1984
17. Bùi Xuân Đính (2012), Các tộc người ở Việt Nam, NXB Thời đại, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tộc người ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Xuân Đính
Nhà XB: NXB Thời đại
Năm: 2012
18. Nguyễn Đăng Điệp (2003), Vọng từ con chữ, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vọng từ con chữ
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 2003
20. Pierre Gourou (2004), Người nông dân Châu thổ Bắc Kì, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người nông dân Châu thổ Bắc Kì
Tác giả: Pierre Gourou
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2004
19. Linh Đồng (10/01/2020), Nguyễn Nhật Ánh - người dẫn lối cho những năm tháng tuổi thơ, https://revelogue.com/tac-gia-nguyen-nhat-anh Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w