Tư duy Tư duy là hạt nhân của hoạt động trí não, kỹ năng này bắt đầu phát triển từ giai đoạn ấu thơ Khi trẻ trong độ tuổi tiểu học, khả năng tư duy đã khá phát triển, trẻ đã có ý th
Trang 1Trí nhớ
Đặc điểm
Đặc điểm trí nhớ của trẻ tiểu học được chia thành hai giai đoạn:
Giai đoạn đầu lớp 1,2: khả năng ghi nhớ của trẻ còn rất máy móc
Trẻ thường ghi nhớ bằng cách khôi phục nguyên văn các sự kiện của tài liệu
Giai đoạn cuối tiểu học (lớp 4,5): ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ
ngữ được tăng cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển và mang lại hiệu quả trong học tập hơn là trí nhớ không chủ định
- Hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định phụ thuộc nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các trẻ
Giáo viên cần chọn lọc nội dung quan trọng cần ghi nhớ, các từ ngữ dung diễn đạt phải đơn giản dễ hiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức
• 3 Cách rèn luyện trí nhớ cho trẻ
Rèn luyện trực tiếp
- Cách học thuộc bài
+ Cũng có thể tạo một chỗ dựa trí nhớ cho trẻ bằng cách ghi bảng, hay ra
giấy, hay nhắc một vài từ đầu của đoạn thơ, đoạn văn để trẻ dễ nhớ khi đọc lại cả đoạn văn, đoạn thơ Khi trẻ
đã đọc tương đối thuộc, xóa dần
các từ dùng để nhắc, để trẻ tự nhớ
và đọc thuộc lòng
Tri giác
a) Tri giác của học sinh tiểu học vẫn mang tính không chủ định
Trong quá trình tri giác trẻ thường tập trung vào chi tiết nào đấy, dễ bỏ sót các chi tiết khác Ngoài ra, vì tri giác không chủ định nên hay bị ngoại cảnh chi phối
Tạo ra sự chú ý có chủ định bằng cách treo thưởng, âm thanh, màu sắc,…
b) TRI GIÁC MANG TÍNH ĐẠI THỂ, ÍT PHÂN HÓA
Trang 2Khi tri giác trẻ thường “thâu tóm” đối tượng về cái toàn thể, còn các
bộ phận, các chi tiết thì hỗn hợp với nhau; tình cảm, hứng thú cũng hỗn hợp với cái ý nghĩa và tính chất khách quan của đối tượng Trẻ khó phân biệt chính xác những đối tượng giống nhau, như tre với trúc,…
c) TRI GIÁC MANG TÍNH TRỰC QUAN VÀ XÚC CẢM
Trẻ thích quan sát các sự vật, hiện tượng trực quan sinh động và tri giác chúng tốt hơn hình ảnh tượng trưng sơ lược.
Tổ chức các trò chơi học tập lý thú, sử dụng đồ dùng dạy học sinh động.
d) TRI GIÁC THƯỜNG GẮN VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG TRỰC QUAN VÀ THỰC TIỄN
Những sự vật được cầm nắm, sờ mó,… hay những hoạt động được tham gia trực tiếp sẽ giúp trẻ dễ dàng tri giác về sự vật f) TRI GIÁC CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC PHÁT TRIỂN
TRONG QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
Sự phát triển này diễn ra theo hướng càng chính xác hơn, đầy
đủ hơn, phân hóa rõ ràng và chọn lọc hơn Người giáo viên có vai trò rất lớn trong sự phát triển ấy.
Tư duy
Tư duy là hạt nhân của hoạt động trí não, kỹ năng này bắt đầu
phát triển từ giai đoạn ấu thơ
Khi trẻ trong độ tuổi tiểu học, khả năng tư duy đã khá phát triển, trẻ
đã có ý thức, ghi nhớ, tư duy tổng hợp, phát tán và đánh giá đối với các tranh vẽ, ký hiệu, ngữ nghĩa và hành vi…
2 ĐẶC ĐIỂM:
Theo Tâm lý học, tư duy của trẻ tiểu học mang tính đột biến, chuyển
từ tư duy tiền thao tác sang tư duy thao tác
Tư duy của trẻ ở giai đoạn này thường thiên về cảm tính
2.1 Khó khăn:
Giai đoạn 1 (6 – 7 tuổi): Tư duy trực quan hành động
Trẻ học chủ yếu bằng phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu dựa trên các đối tượng hoặc những hình ảnh trực quan
Tư duy còn chịu ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố tổng thể
Giai đoạn 2 (8 – 12 tuổi): Tư duy trực quan hình tượng
Trang 3 Trẻ nắm được các mối quan hệ của khái niệm.
Những thao tác về tư duy như phân loại, phân hạng tính toán, không gian, thời gian, được hình thành và phát triển mạnh
Trẻ gặp khó khăn trong tư duy trừu
tượng
Chú ý/ 115
I Khái niệm
Khả năng chú ý là năng lực tập trung sự chú ý vào chính công việc đang làm Đó có thể là đọc sách, nghe nhạc, chuyện trò, học tập
Sự tập trung đòi hỏi hội tụ nhiều yếu tố bao gồm tập trung cả mắt và trí óc
II Phân loại chú ý
Ở người, chú ý được chia thành 3 loại:
Chú ý không có chủ định: là loại chú ý không có mục đích tự giác,
không có biện pháp nào mà vẫn chú ý vào đối tượng được
Chú ý có chủ định: là sự định hướng hoạt động do bản thân chủ thể
đặt ra Do bản thân xác định mục đích hành động nên chú ý có chủ định phụ thuộc vào chính mục đích và nhiệm vụ hành động => Mang tính bền vững cao hơn
Chú ý sau chủ địn h
-Là sự tập trung ý thức tới một đối tượng mà đối tượng đó có ý nghĩa nhất định đối với cá nhân
Trang 4-Chú ý sau chủ định xuất hiện sau khi đã hình thành chú ý có chủ định.Đối tượng mà chú ý này hướng tới gây nên cho cá nhân những hứng thú đặc biệt Vì thế, chú ý được duy trì không cần có sự tham gia của ý chí Loại chú ý này giúp cho con người giảm được căng thẳng thần kinh, giảm được tiêu hao năng lượng Bộc lộ ở trạng thái say xưa công việc của con người rất có lợi cho hoạt động tư pháp, hoạt động học tập của học sinh, sinh viên,…
Ví dụ: Trong giờ học, mới đầu có thể chú ý có chủ định, nhưng sau
đó, do sự hấp dẫn của nội dung bài học, ta không cần sự cố gắng vẫn
có thể tập trung chú ý Như vậy, chú ý có chủ định đã chuyển thành chú ý sau chủ định
III Đặc điểm chú ý của trẻ tiểu học:
1) Giai đoạn đầu tuổi tiểu học
Sự chú ý còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế
Chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định
Trẻ chỉ quan tâm chú ý đến những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiều tranh ảnh…
Sự tập trung chú ý còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán
2) Giai đoạn cuối tiểu học:
Trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình.
Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế.
Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn về thời gian.
Dần dần học được cách điều khiển chuyển và duy trì chú ý một cách bền vững đến những đối tượng cần thiết chứ không phải là những đối tượng có sự hấp dẫn bề ngoài…
IV Phát triển khả năng tập trung chú ý cho trẻ tiểu học
Tôn trọng khả năng và mức độ trưởng thành của trẻ
Có những trẻ phát triển hơn về tinh thần và ngôn ngữ, nhưng lại kém hơn các bạn đồng trang lứa về mặt hoạt động và ngược lại
Không nên vội thất vọng, hay sốt ruột khi thấy trẻ có chậm hơn các bạn cùng trang lứa
Không nên bắt buộc trẻ phải luyện tập quá nhiều hay theo một
khuôn khổ nào mà hãy tôn trọn khả năng của trẻ
Thay vào việc ép buộc trẻ làm những hoạt động trẻ không thích, bạn
có thể lựa chon những hoạt động phù hợp với khả năng và sở thích của trẻ
Trang 5 Vì trẻ chỉ có thể tập trung và chú ý làm tốt , và có hiệu quả khi bé có hứng thú
Nghĩ ngơi thích hợp
Thời gian tập trung của trẻ tiểu học thường chỉ tập trung và duy trì liên tục trong khoảng: 30 đến 35 phút
Cần có thời gian cho trẻ giải lao
Không nên:
Bắt trẻ hoạt động quá tải
Không nên tranh thủ bắt trẻ học ở các thời gian trống
Điều này sẽ làm cho trẻ bị căng thẳng mệt mỏi, không tập trung mà thậm chí còn ảnh hưởng đến sức khỏe
Cần:
Cho trẻ tham gia các trò chơi vận động, tập thể dục, hoặc cùng chơi với trẻ môn thể thao nào đó mà trẻ yêu thích
giúp cho máu luân chuyển đều khắp cơ thể và các hormone phản ứng, làm gia tăng hoạt động trí não, tăng độ nhạy bén
Chế độ ăn uống:
Dùng trứng trong bữa ăn sáng sẽ giúp cải thiện não bộ và duy trì khả năng tập trung, chú ý cao cho trẻ
Nếu không ăn sáng hoặc bữa ăn không đầy đủ, trẻ rất dễ bị hạ đường huyết làm giảm khả năng tập trung chú ý khi học
Ngoài ra, các chế phẩm từ sữa, cá, đậu nành, các loại đậu như đậu đen, đậu đỏ, carbohydrate trong trái cây, nước ép trái cây cũng giúp tăng khả năng tập trung
Cho trẻ tham gia vào các công việc nhà
Mục đích của mỗi một công việc đều phải đơn giản
Việc dạy trẻ cách sắp xếp đồ dùng và dọn dẹp bàn học có thể tăng khả năng tập trung, tính tự giác, tự lập của trẻ
Tôn trọng sự tập trung, giúp trẻ tăng thêm hứng thú
Ở trẻ sự chú ý vô thức luôn chiếm vai trò chính, chỉ cần có chút thay đổi là sự chú ý vô thức sẽ lấn át sự chú ý có ý thức
Không nên làm phiền hay cản trở, hãy để trẻ chuyên tâm vào hoàn tất công việc
Nhân cách
Nhu cầu và tính cách
Nhu cầu
Trang 6• Vui chơi: Nội dung trò chơi gắn với hoạt động học tập như: viết vẽ , hát
• Vận động: Gắn liền với các trò chơi có cường độ vận động mạnh như: nhảy dây, lò cò, đá banh
• Những ấn tượng bên ngoài: Được chuyển dần thành nhu cầu nhận thức
Bên cạnh đó, ở tiểu học đã xuất hiện các nhu cầu mới liên quan đến cuộc sống nhà trường và hoạt động học tập
Phương hướng phát triển nhu cầu của học sinh tiểu học:
- Nhu cầu ở các em phát triển mạnh theo các hướng:
• Nhu cầu tinh thần chiếm ưu thế so với nhu cầu vật chất
• Nhu cầu ngày càng mang tính xã hội cũng như tính được nhận thức
- Trong sự phát triển này, hoạt động của trẻ trong tập thể có vai trò rất lớn
- Xu hướng của các nhu cầu:
• Cá nhân hẹp hòi xã hội rộng rãi
- Nhu cầu ngày càng được ý thức và được tự điều chỉnh
- Sự phát triển nhu cầu của học sinh tiểu học phụ thuộc trực tiếp vào việc tổ chức các hoạt động của các em, đặc biệt là hoạt động học tập Một số tính chưa tốt
• Tính xung động: phản ứng ngay, bộc phát với các kích thích.
• Tính bướng bỉnh: phản ứng lại các yêu cầu của người lớn, chống đối,
luôn cho là mình đúng
• Tính độc lập chưa có: hay dựa dẫm, hành vi tự phát còn nhiều, thiếu
kiên nhẫn
• Tính hiếu động cao: dễ hưng phấn, tích cực vận động, có xu hướng
thay đổi đột ngột tâm trạng và biểu hiện cảm xúc thái quá: leo trèo, chạy nhảy,…
Kết luận sư phạm
Trang 7Giao tiếp và mối quan hệ liên nhân cách
Trang 8Tự ý thức và YTXH
Trang 9Tình cảm và ý chí
1 Khái lược về tình cảm
a) Khái niệm :
- Tình cảm là thái độ thể hiện sự rung cảm của con người đối với sự vật , hiện tượng có liên quan tới nhu cầu , động cơ của con người
- Tình cảm phản ánh hiện thực dưới hình thức rung cảm
- Tình cảm được hình thành và biểu hiện qua xúc cảm
Tình cảm vừa được xem là điều kiện , phương tiện giáo dục, vừa được xem là nội dung giáo dục nhân cách.
2 Đặc điểm tình cảm của học sinh tiểu học
♥ Mang tính cụ thể, trực tiếp Đối tượng là các sự vật, hiện tượng, việc làm, con người cụ thể, sinh động mà trẻ đã nhìn thấy hoặc đã tiếp xúc Học sinh tiểu học rất dễ xúc cảm (thể hiện ở tính dễ xúc động) Trẻ thường bộc lộ tình cảm của mình một cách hồn nhiên ,chân thật, chưa biết ngụy trang
Trong quá trình học ở trường tiểu học , đời sống tình cảm các em có nhiều biến đổi
Ở trẻ lớp 1, tính xung động hành vi thường xuất hiện trong
các biểu hiện tình cảm của trẻ
Ở trẻ lớp 2, 3 , bắt đầu thể hiện sự kiềm giữ trong biểu hiện
tình cảm
Trong môi trường giáo dục ở tiểu học ,các tình cảm cấp cao được hình thành và phát triển trẻ:
Tình cảm đạo đức : tình cảm đặc biệt đối với những
nguời thân, thầy cô và bạn bè…
Tình cảm trí tuệ : ham hiểu biết , ngạc nhiên , nghi
ngờ, hài lòng khi hoàn thành các bài tập…
Tình cảm thẩm mỹ : thích cái đẹp trong tự nhiên, yêu
động vật, ham thích văn học, hội họa, âm nhạc
Muốn giáo dục tình cảm cho học sinh tiểu học phải đi từ
những hình ảnh trực quan, sinh động Vì thế có thể dễ gây xúc cảm và tác động mạnh mẽ lên cảm xúc của các em
Ứng dụng :
Giáo viên cần sử dụng đồ dùng dạy học đẹp, sinh động hấp dẫn
Trang 10 Dùng những hình ảnh trực quan gần gũi chính là tấm gương thầy cô giáo và cha mẹ …
Tình cảm của học sinh phải luôn luôn được củng cố trong những hoạt động cụ thể Quá trình hình thành hay xóa bỏ 1 tình cảm nào đó phải công phu, lâu dài Muốn hình thành tình cảm nào đó phải tạo ra những xúc cảm tích cực đồng loại
Ứng dụng :
Giáo viên phải tìm cách gợi lại những xúc cảm cũ làm cơ sở tạo nên những xúc cảm mới , đưa các em vào những hoạt động khác nhau, học tập vui chơi, giải trí, với các hoạt động tập thể
II Ý CHÍ CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC
1 Khái lược về ý chí
Ý chí là mặt năng động của ý thức, biểu hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có sự nổ lực khắc phục khó khăn
Ý chí đuơc biểu hiện trong cuộc sống và mang tinh chủ thể rõ rệt, nên người ta thường nói : “ người này có ý chí, người kia thiếu ý chí”…
Ý chí là sự phản ảnh hiện thực khách quan của não dưới hình thức các mục đích hành động
2 Đặc điểm về ý chí
Học sinh tiểu học chưa có khả năng tự lập chưa có khả năng tự đặt ra mục đích cho hành động của mình và chưa biết lập chương trình (kế hoạch) trẻ không thể tập trung sức lực và kiên trì theo đuổi mục đích vì vậy các em dễ gặp thất bại và dễ mất lòng tin vào sức lực
và khả năng của minh
Các phẩm chất ý chí như: Tính độc lập, tính kìm chế và tự chủ còn thấp
Trẻ dễ bắt chước hành động của người khác, kể cả những hành động vượt quá sức trẻ, đôi lúc tính bột phát, ngẫu nhiên được thể hiện trong hành động của trẻ
SỰ PHÁT TRIỂN Ý CHÍ CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC
- Giai đoạn đầu : trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào yêu cầu
của người lớn Vd: học sinh được cô giáo khen
-
Giai đoạn cuối : các em có khả năng biến yêu cầu của người lớn
thành mục đích hành động của mình Vd : tự ý thức làm bài tập
về nhà.
Rèn luyện
Trang 11 Tổ chức hoạt động cho học sinh một cách rõ ràng có mục đích, để học sinh nhìn thấy rõ mục đích hành động của mình
Giúp trẻ xác định được mục đích có độ khó tương ứng với sức lực, khả năng của các em
Thuyết học tập
1.5.1 Thuyết phản xạ có điều kiện của PavlovSửa đổi
Năm 1889, nhà sinh lý học người Nga Pavlov là người đầu tiên đã nghiên cứu những dữ liệu khách quan về các quá trình học tập Pavlov nghiên cứu
hệ thống tiêu hóa của chó Một hôm, ông ngạc nhiên nhận thấy rằng tuyến nước bọt ở con chó của ông đã hoạt động cho dù nó vẫn hoàn toàn chưa có thức ăn Nguyên nhân chỉ là do những người trợ lý của ông trong phòng khua khoắng lạch cạch khi chuẩn bị thức ăn cho chó
Pavlov đã tự hỏi, liệu những quá trình luyện tập thông qua những kích thích được lặp lại nhiều lần có thể là nguyên nhân giải thích cho phản ứng của con chó hay không Pavlov đã thí nghiệm để trả lời câu hỏi này
Pavlov đã dạy cho những con chó của mình tiết nước bọt không chỉ khi nhìn thấy một miếng thức ăn, mà cả khi nghe tiếng chuông kêu Để làm việc này thì chỉ cần nhiều lần cho con chó thấy thức ăn và ngay sau đó bấm cho chuông kêu Trong não con chó, miếng thức ăn và tiếng chuông kêu đã được liên kết với nhau mạnh đến mức là sau nhiều lần lặp lại thì con chó tiết nước bọt cả khi chỉ nghe thấy tiếng chuông mà không cần có thức ăn Thí nghiệm này cũng được thực hiện khi dùng ánh đèn thay cho tiếng chuông Phản xạ tiết nước bọt của con chó khi nhìn thấy thức ăn là phản xạ bẩm sinh Nhưng phản xạ tiết nước bọt khi nghe tiếng chuông hoặc thấy ánh đèn không phải phản xạ bẩm sinh mà được hình thành qua
quá trình luyện tập với các kích thích, đó là phản xạ có điều kiện.
Trên cơ sở thí nghiệm này Pavlov đã xây dựng lý thuyết "phản xạ có điều kiện" Với lý thuyết này, lần đầu tiên người ta có thể giải thích cơ chế của
việc học tập một cách khách quan, đó là cơ chế kích thích – phản ứng
Tuy nhiên lý thuyết phản xạ có điều kiện chỉ giải thích cơ sở sinh lý cơ chế của việc học tập, chưa phải một lý thuyết tâm lý học dạy học Các nghiên cứu của Pavlov đã trở thành cơ sở của các lý thuyết hành vi
1.5.2 Thuyết hành vi : Học tập là sự thay đổi hành viSửa đổi
Dựa trên lý thuyết phản xạ có điều kiện của Pavlov, năm 1913 nhà tâm lý học Mỹ Watson đã xây dựng lý thuyết hành vi (Behavorism) giải thích cơ chế tâm lý của việc học tập Thorndike (1864-1949), Skinner (1904-1990)