Lí do chọn đề tài Trải qua 15 năm với chính sách thí điểm lần đầu tiên áp dụng tại cửa khẩu Móng Cái Quảng Ninh, đến nay, khu kinh tế cửa khẩu KKTCK đã trở thành một loại hình KKT có v
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS VŨ VÂN ANH
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN i http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, dựa trên các nguồn thông tin tư liệu chính thức với độ tin cậy cao và chưa từng được ai công nhận trong bất cứ một công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015
Trang 4
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN ii http://www.lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu, thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của Ban Giám hiệu, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, các thầy giáo, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng biết ơn sâu sắc tới:
TS Vũ Vân Anh, đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo – Bộ phận Sau Đại học, Khoa Địa lí và các thầy giáo, cô giáo giảng dạy chuyên ngành của Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này
Các phòng, ban, cơ quan chuyên môn của khu KTCK vùng Đông Bắc đặc biệt và ban quản lý KKTCK Lạng Sơn, Lào Cai đã cung cấp những tư liệu có giá trị trong thời gian tác giả làm đề tài
Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn, bản thân tôi đã có nhiều cố gắng nhưng không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy, cô và các bạn đồng nghiệp để đề tài luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015
Học viên
Nguyễn Thị Thuần (Khóa học 2013 - 2015)
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN iii http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục viết tắt iv
Danh mục các bảng v
Danh mục các hình vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 2
3 Mục tiêu, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu 4
4 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu 5
5 Những đóng góp của đề tài 7
6 Bố cục của luận văn 7
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KHU KINH TẾ CỬA KHẨU 8
1.1 Cơ sở lí luận 8
1.1.1 Một số khái niệm 8
1.1.1.1 Cửa khẩu 8
1.1.1.3 Khu kinh tế 8
1.1.1.4 Khu kinh tế cửa khẩu 9
1.1.2 Đặc điểm, vai trò của khu kinh tế cửa khẩu 9
1.1.2.1 Đặc điểm của Khu kinh tế cửa khẩu 9
1.1.2.2 Vai trò của Khu kinh tế cửa khẩu 12
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởn đến sự phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới 12
1.1.4 Tiêu chí đánh giá phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới 16
1.2 Cơ sở thực tiễn 17
1.2.1 Phát triển khu kinh tế cửa khẩu của Trung Quốc 18
1.2.2 Phát triển khu kinh tế cửa khẩu ở Thái Lan 19
1.2.3 Phát triển các KKTCK ở Việt Nam 21
Tiểu kết chương 1 24
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN iv http://www.lrc.tnu.edu.vn
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC KHU KINH TẾ CỬA
KHẨU Ở VÙNG ĐÔNG BẮC VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ 25
2.1 Khái quát chung về các tỉnh biên giới vùng Đông Bắc Việt Nam 25
2.1.1 Vị trí địa lí và lãnh thổ 25
2.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 27
2.1.2.1 Địa hình, địa mạo 27
2.1.2.2 Tài nguyên khí hậu, đất và nước 27
2.1.2.3 Tài nguyên khoáng sản 28
2.1.2.4 Tài nguyên du lịch 29
2.1.3 Dân cư và lao động 30
2.1.3.1 Dân số và dân tộc 30
2.1.3.2 Trình độ của lực lượng lao động 30
2.1.4 Điều kiện kinh tế - xã hội 31
2.1.5 Cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội 32
2.1.5.1 Giao thông 32
2.1.5.2 Phát triển thông tin liên lạc, giáo dục y tế 34
2.1.5.3 Nguồn vốn đầu tư 35
2.2 Nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động KKTCK tiểu vùng Đông Bắc 35
2.2.1 Xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa 35
2.2.2 Quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam -Trung Quốc 36
2.2.3 Nhân tố tự nhiên 36
2.2.4 Trình độ phát triển kinh tế - xã hội và cơ sở hạ tầng 37
2.2.5 Chính sách phát triển biên giới 38
2.2.5.1 Chính sách phát triển biên mậu của Trung Quốc 38
2.2.5.2 Chính sách phát triển biên mậu của Việt Nam 41
2.3 Thực trạng phát triển các khu kinh tế cửa khẩu và tác động của nó đến sự phát triển kinh tế ở vùng Đông Bắc 42
2.3.1 Quá trình hình thành các khu kinh tế cửa khẩu ở vùng Đông Bắc 42
2.3.2 Thực trạng các KKTCK và tác động của nó đến kinh tế - xã hội ở vùng Đông Bắc 44
2.3.2.1.Tình hình phát triển không gian lãnh thổ về kinh tế và dân cư tại khu kinh tế cửa khẩu vùng Đông Bắc 45
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN v http://www.lrc.tnu.edu.vn
2.3.2.2 Khái quát về phát triển không gian lãnh thổ kinh tế và dân cư của các
KKTCK ở vùng Đông Bắc: 46
2.3.2.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội tại khu kinh tế cửa khẩu ở vùng Đông Bắc trong tương quan vành đai biên giới Việt - Trung 49
2.3.2.3 Đánh giá chung về các khu KTCK ở tiểu vùng Đông Bắc 54
2.3.2.4 Tác động của KKTCK đối với sự phát triển kinh tế - xã hội vùng Đông Bắc 59
Tiểu kết chương 2 72
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KHU KINH TẾ CỬA KHẨU VÙNG ĐÔNG BẮC ĐẾN NĂM 2020 74
3.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển 74
3.1.1 Quan điểm phát triển 74
3.1.2 Mục tiêu phát triển 77
3.2 Định hướng phát triển KKTCK vùng Đông Bắc đến năm 2020 77
3.3 Một số giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục phát triển KKTCK vùng Đông Bắc Việt Nam 80
3.3.1 Hoàn thiện công tác quy hoạch không gian lãnh thổ kinh tế -xã hội các khu kinh tế cửa khẩu biên giới 80
3.3.2 Tiếp tục hoàn thiện chính sách xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh tại các khu kinh tế cửa khẩu 83
3.3.3 Tạo bước đột phá về xây dựng và nâng cấp chất lượng kết cấu hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho phát triển kinh tế tại các khu kinh tế cửa khẩu 85
3.3.4 Tăng cường công tác vận động xúc tiến đầu tư và đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư vào khu kinh tế cửa khẩu 85
3.3.5 Nâng cao tính chủ động, đẩy mạnh cải tiến ứng dụng tiến bộ công nghệ và tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam 88
3.3.6 Tăng cường củng cố an ninh quốc phòng ở các khu kinh tế cửa khẩu 88
3.3.7 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường bảo vệ môi trường nhằm phát triển các khu kinh tế cửa khẩu theo hướng bền vững 89
Tiểu kết chương 3 91
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN iv http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
KKTCK Khu kinh tế cửa khẩu
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN v http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Đặc điểm các mô hình phát triển không gian của KKTCK 11
Bảng 1.2: Các CKQT và Khu KTCK của Việt Nam 22
Bảng 1.3: “Vành đai” CKQT khu vực biên giới Việt - Trung 23
Bảng 2.1 Diện tích và dân số các tỉnh biên giới vùng Đông Bắc Việt Nam năm 2013 25
Bảng 2.2 Tình hình sử dụng đất các tỉnh biên giới vùng Đông Bắc Việt Nam năm 2013 28
Bảng 2.3 Sự thay đổi cơ cấu lao động đã qua đào tạo của một số tỉnh biên giới vùng Đông Bắc Việt Nam giai đoạn 2008 – 2012 31
Bảng 2.4 Số cán bộ ngành y và ngành dược của 4 tỉnh biên giới Đông Bắc năm 2013 34
Bảng 2.5 Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp giấy phép năm 2013 35
Bảng 2.6 GDP bình quân đầu người năm 2003 – 2010 38
Bảng 2.7: Số KKTCK tiếp giáp với Trung Quốc ở vùng Đông Bắc được thành lập đến năm 2010 44
Bảng 2.8 Phát triển không gian lãnh thổ kinh tế và xã hội các KKTCK biên giới Việt - Trung năm 2010 48
Bảng 2.9 Tình hình xuất nhập cảnh tại KKTCK biên giới Việt - Trung 51
Bảng 2.10 Tình hình huy động vốn đầu tư tại các KKTCK biên giới Việt - Trung 52
Bảng 2.11 Giá trị GDP của KKTCK tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2006 – 2013 65
Bảng 2.12 Tình hình thu ngân sách thông qua hoạt động XNK trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 66
Bảng 2.13 Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh lào Cai giai đoạn 2005 – 2013 68
Bảng 2.14 Bảng 2.13 Tình hình thu ngân sách thông qua hoạt động XNK trên địa bàn tỉnh Lào Cai 70
Bảng 3.1: Dự báo một số chỉ tiêu phát triển kinh tế chủ yếu của các KKTCK biên giới Việt - Trung đến năm 2020 80
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN vi http://www.lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1 Một số mô hình không gian của KKTCK 10
Hình 2.1 Bản đồ hành chính vùng Đông Bắc 26
Hình 2.2 Bản đồ nguồn lực ảnh hưởng đến sự phát triển KTCK vùng Đông Bắc 33
Hình 2.3 Kim ngạch XNK tại các KKTCK biên giới Việt - Trung 50
Hình 2.4 Mức đóng góp cho NSNN của các KKTCK biên giới 53
Hình 2.5 Bản đồ tình hình phát triển KKTCK vùng biên giới Đông Bắc 58
Hình 2.6 Biểu đồ GDP bình quân đầu người của Lào Cai so với vùng và cả nước 69
Hình 2.7 Bản đồ định hướng phát triển KKTCK vùng Đông Bắc 72
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 1 http://www.lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trải qua 15 năm với chính sách thí điểm lần đầu tiên áp dụng tại cửa khẩu Móng Cái (Quảng Ninh), đến nay, khu kinh tế cửa khẩu (KKTCK) đã trở thành một loại hình KKT có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh biên giới nói riêng và của cả nước nói chung
Kinh tế cửa khẩu (KTCK) là một trong các nhân tố quan trọng tác động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi địa phương Việc trao đổi kinh tế qua biên giới giữa các nước bất kể nước lớn hay nước nhỏ, nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu hay nghèo, chế độ chính trị xã hội nào, cuối cùng đều nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế Thực tế ngày nay cho thấy, KTCK đã và đang trở thành động lực trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển của các quốc gia có nền kinh tế mở
Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia láng giềng có quan hệ hữu nghị, truyền thống và giao lưu kinh tế - thương mại lâu đời Triển vọng quan hệ kinh tế giữa hai nước trong thời gian tới là rất lớn, phù hợp với xu thế hội nhập của các quốc gia trên thế giới cũng như chiến lược phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam và Trung Quốc Vì vậy, việc phát triển các khu KTCK biên giới Việt – Trung là một tất yếu khách quan
Cùng với xu thế hội nhập lan tỏa mạnh mẽ trên toàn thế giới, mọi vùng đất của Việt Nam cũng dần chuyển mình để tiến những bước dài trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế Được xác định là vùng có vị thế kinh tế - chính trị thuận lợi vùng Đông Bắc có các khu KTCK: Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai, Hà Giang nơi đây trở thành đầu mối giao lưu giữa Việt Nam với các địa phương Trung Quốc cũng như các nước vùng Trung Á, từ đó kết nối với các khu vực khác Trên thực tế, việc hình thành khu KTCK đã đem lại hiệu quả rõ rệt không chỉ bản thân các địa phương biên giới
mà còn là động lực thúc đẩy sản xuất trong tỉnh, mở đường cho hàng hóa Trung Quốc tiến sâu vào nước ta và ngược lại, tạo đà phát triển các vùng kinh tế trọng điểm
Đông Bắc có 10 tỉnh thì trong đó có 4 tỉnh có KKTCK đó là: Lạng Sơn, Hà Giang, Lào Cai, Cao Bằng giáp với Trung Quốc Nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò quan trọng của việc phát triển KKTCK các tỉnh nói riêng và vùng Đông Bắc nói
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 2 http://www.lrc.tnu.edu.vn
chung trong công cuộc đổi mới, cần làm rõ cơ sở lí luận, thực tiễn của việc phát triển kinh tế cửa khẩu của vùng Đông Bắc, qua đó chỉ rõ tác động của KKTCK đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh, đồng thời đề ra những giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển KKTCK vùng Đông Bắc là vấn đề cấp thiết hiện nay Tuy vậy, việc phát triển các KKTCK ở Việt Nam nói chung và các KKTCK vùng Đông Bắc Việt Nam nói riêng trong những năm qua vẫn còn nhiều tồn tại, yếu kém, đặc biệt những vấn đề đang đặt ra trong giai đoạn hiện nay khi mà nước ta đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới Để đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới, khai thác triệt để tiềm
năng, lợi thế của các KKTCK, thì việc lựa chọn đề tài " Nghiên cứu khu kinh tế cửa khẩu ở vùng Đông Bắc và tác động đến sự phát triển kinh tế” là hết sức cần thiết
trong giai đoạn hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
* Trên thế giới
Nghiên cứu về phát triển các KKT, KKTCK nói chung, KKTCK biên giới Việt - Trung được nhiều tác giả nước ngoài quan tâm, nhất là các nhà kinh tế học Trung Quốc Có thể nêu lên một số công trình đã công bố của các tác giả sau đây:
Tác giả Mã Tuệ Quỳnh trong bài “Tăng cường vai trò lan tỏa của thương mại biên giới, thúc đẩy bước phát triển mới trong quan hệ kinh tế Trung – Việt” đã đề cập đến
thực trạng phát triển kinh tế thương mại biên giới của tỉnh Quảng Tây sau hơn 15 năm, kể từ khi Trung Quốc và Việt Nam bình thường hóa quan hệ năm 1991; thực trạng phát triển KTCK của tỉnh Quảng Tây; những vấn đề tồn tại trong quá trình phát triển kinh tế thương mại biên giới và đối sách áp dụng để phát huy ưu thế thương mại biên giới, mở rộng quan hệ giao lưu thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam Mặc
dù tài liệu mới chỉ đề cập chủ yếu đến phát triển thương mại biên giới của tỉnh Quảng Tây, song cũng đã giúp ích rất nhiều cho tác giả trong quá trình tham khảo để phân tích đánh giá vai trò của các cửa khẩu biên giới trong quá trình phát triển các KKTCK cũng như tạo sự gắn kết, lan tỏa giữa các vùng, miền khác nhau để phát triển thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam
Ngoài ra còn nhiều bài viết đã đăng tải trong các kỷ yếu hội thảo, hội nghị của
hai nước như: “Phương pháp nghiên cứu chính sách cho các đặc khu hợp tác kinh tế
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 3 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trung - Việt”, báo cáo Hội nghị lần thứ nhất Uỷ ban chỉ đạo hợp tác xuyên biên giới
Trung - Việt, Cơ quan phát triển Liên hợp quốc, tổ chức tại Côn Minh tháng 6 năm
2008 Tài liệu đã nêu bật được ý nghĩa quan trọng của việc xây dựng các đặc khu hợp tác kinh tế Trung – Việt; đề xuất tư duy tổng thể cho việc xây dựng các đặc khu hợp tác kinh tế Trung –Việt; đưa ra những trở ngại chủ yếu của việc xây dựng đặc khu hợp tác kinh tế Trung – Việt; kiến nghị một số chính sách mang tính chiến lược đối với các đặc khu hợp tác kinh tế…
* Ở Việt Nam
Từ khi thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 53/2001/QĐ – TTg ngày 19 tháng 4 năm 2001 về “chính sách đối với khu kinh tế cửa khẩu biên giới” đã có một
số nhà nghiên cứu, quản lí, báo chí viết bài xung quanh vấn đề này:
Các khu kinh tế cửa khẩu biên giới Việt – Trung và tác động của nó tới sự phát triển kinh tế hàng hóa ở Việt Nam TS Phạm Văn Linh, NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội năm 2001; đã đề cập đến nhiều nội dung về phát triển các KKTCK biên giới phía Bắc Việt Nam, phân tích vị trí, tầm quan trọng của KKTCK trong quá trình phát triển kinh tế hàng hóa, hội nhập và mở cửa kinh tế, thực trạng quá trình hình thành, phát triển và tác động của các KKTCK đến sự phát triển kinh tế hàng hóa ở Việt Nam; trên cơ sở đó đề xuất các quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy tác dụng tích cực của các KKTCK
Khu kinh tế - quốc phòng trên địa bàn Tây Bắc nước ta hiện nay của Trần Thanh Quang, 2006 Tác giả đã đánh giá tình hình các khu kinh tế cửa khẩu Việt
Nam nằm tại các vùng tiếp giáp 3 nước láng giềng Trung Quốc, Lào, Campuchia Và nhận định: Từ áp dụng các chính sách thí điểm trước đây, đặc biệt là Quyết định 53/2001/QĐ – TTg, các khu kinh tế cửa khẩu đã có những tác dụng tích cực, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh cũng như của cả nước Bên cạnh đó tác giả còn nhận định: Hạn chế lớn nhất khu kinh tế cửa khẩu hiện nay do vị trí các khu kinh tế cửa khẩu Việt Nam – Trung Quốc ở xa các trung tâm kinh
tế và hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn kém, đòi hỏi nhu cầu đầu tư lớn
Một số chính sách và giải pháp chủ yếu cấp bách nhằm phát triển quan hệ thương mại khu vực biên giới Việt - Trung Đây là đề tài nghiên cứu cấp bộ, của Bộ
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 4 http://www.lrc.tnu.edu.vn
thương mại, hoàn thành năm 2000; đã tập trung đi sâu nghiên cứu thực trạng các hoạt động thương mại tại khu vực biên giới Việt – Trung, đánh giá hệ thống chính sách mậu dịch biên giới của Trung Quốc và ảnh hưởng của nó tới môi trường thương mại khu vực biên giới Việt –Trung; trên cơ sở đó đã đưa ra các quan điểm và đề xuất các giải pháp chủ yếu để thúc đẩy sự phát triển thương mại khu vực biên giới Việt - Trung
Qua đánh giá sơ bộ về tình hình nghiên cứu có thể thấy rằng, các công trình nghiên cứu đã được thực hiện chỉ mới đề cập sơ bộ đến một khía cạnh khu KTCK mà chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu khu KTCK và tác động của nó đối với
sự phát triển vùng Đông Bắc Tuy nhiên các nghiên cứu này sẽ là tiền đề quan trọng định hướng và bổ sung cho hướng nghiên cứu của đề tài
3 Mục tiêu, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục tiêu của đề tài
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lí luận và thực tiễn về KKTCK, đề tài phân tích thực trạng phát triển của KKTCK và tác động của nó đối với sự phát triển kinh tế vùng Đông Bắc, từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển một
số khu kinh tế cửa khẩu ở vùng Đông Bắc
3.2 Nhiệm vụ
- Tổng quan cơ sở lí luận và thực tiễn về khu KTCK
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển khu KTCK của vùng Đông Bắc, thực trạng hoạt động giai đoạn 2006 – 2013 và tác động của KKTCK đến vùng Đông Bắc
- Đề xuất giải pháp phát triển KKTCK ở vùng Đông Bắc
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung, vì phát triển KKTCK có phạm vi rộng, trong luận văn này sẽ tập
trung nghiên cứu phát triển KKTCK về không gian lãnh thổ kinh tế -xã hội và phát triển kinh tế tại các KKTCK trong đó nhấn mạnh đến các hoạt động giao lưu thương mại, du lịch, dịch vụ
Về không gian: Hiện nay các tỉnh Việt Nam có biên giới đất liền tiếp giáp với
Trung Quốc gồm 7 tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Điện Biên và Lai Châu Tại 7 tỉnh này đã có 8 KKTCK Trong phạm vi đề tài nghiên cứu
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 5 http://www.lrc.tnu.edu.vn
về vùng Đông Bắc nên lựa chọn 4 KKTCK đã và đang hoạt động tại 4 tỉnh vùng ĐB
để nghiên cứu Cụ thể là: KKTCK Đồng Đăng, tỉnh Lạng Sơn; KKTCK Lào Cai, tỉnh Lào Cai; KKTCK Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; KKTCK Thanh Thủy, tỉnh Hà Giang
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu phát triển các KKTCK Việt Nam tiếp giáp
với Trung Quốc từ khi nhà nước ta mở cửa biên giới đến nay, số liệu chủ yếu từ năm
2006 đến 2013; đưa ra quan điểm, định hướng phát triển các KKTCK biên giới phía Bắc Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc giai đoạn đến năm 2020
4 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Các quan điểm chủ yếu
4.1.1 Quan điểm hệ thống – cấu trúc
Mỗi đối tượng nghiên cứu là một chỉnh thể thống nhất hay bộ phận của ột hệ thống nào đó Vì vậy, khi nghiên cứu phải đặt đối tượng trong hệ thống để có cách nhìn nhận sâu sắc, toàn diện Việc nghiên cứu về khu KTCK vùng Đông Bắc luôn phải đặt trong mối tương quan với hệ thống các khu KTCK biên giới Việt – Trung Trong mối quan hệ này khu KTCK vùng Đông Bắc là đơn vị phân vị cấp thấp hơn Đồng thời khu KTCK này có đặc điểm, quy luật vận động, phát triển riêng nhưng luôn có mối quan hệ qua lại, chặt chẽ với các hệ thống khác và phải vận động theo quy luật của toàn hệ thống
4.1.2 Quan điểm lãnh thổ
Khu KTCK là hình thức tổ chức lãnh thổ sản xuất được tạo thành bởi các thành tố: tự nhiên, lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, chính sách đối ngoại và quan hệ kinh tế chính trị có mối quan hệ mật thiết gắn bó với nhau một cách hoàn chỉnh Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá các nguồn lực phát triển KTCK thường được nhìn nhận trong mối quan hệ về mặt không gian hay lãnh thổ nhất định, phù hợp với đường lối, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của vùng nói riêng và nước ta nói chung để đạt được những giá trị đồng bộ về mặt kinh tế - xã hội và môi trường
4.1.3 Quan điểm sinh thái
Tất cả các hoạt động giao lưu, buôn bán đều diễn ra trong môi trường tự nhiên Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tác động trực tiếp đến sự phát triển khu kinh
tế cửa khẩu Bên cạnh nhưng thuận lợi thì hoạt động của KKTCK đã làm ảnh hưởng
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 6 http://www.lrc.tnu.edu.vn
đến môi trường tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Hoạt động của KKTCK không thể tách rời môi trường tự nhiên nhưng phải có giải pháp hiệu quả để không làm ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên
4.1.4 Quan điểm lịch sử, viễn cảnh
Mọi sự vật, hiện tượng không ngừng vận động và biến đổi theo không gian
và thời gian Vận dụng quan điểm lịch sử và viễn cảnh khi nghiên cứu đề tài: Nghiên cứu những thay đổi trong hoạt động của các khu KTCK từ năm 2006 đến năm 2013 (hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, du lịch, thu hút đầu tư kinh doanh, thu ngân sách trên địa bàn…) Từ đó đánh giá đúng thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động của các khu KTCK ở vùng Đông Bắc
4.1.5 Quan điểm phát triển bền vững
Hoạt động kinh tế tại KKTCK góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển,
tuy nhiên các hoạt động đó lại tác động đến môi trường, gây ô nhiễm môi trường xung quanh Vì vậy, vận dụng quan điểm phát triển bền vững thể hiện việc phát triển kinh tế ở các khu vực cửa khẩu phải kết hợp hài hòa với việc giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường, sử dụng tài nguyên hợp lý Đó là mục tiêu phát triển khu KTCK nói riêng và nền kinh tế của vùng nói chung một cách bền vững, hiệu quả
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp thu thập và xử lí sô liệu
Cơ sở tài liệu về khu kinh tế cửa khẩu, các mô hình…là tư liệu quan trọng cho việc nghiên cứu đề tài Để có được những tư liệu đó tác giả sưu tầm từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau, báo cáo và các niên giám thống kê, tính toán trên bản đồ…Trên cơ
sở đó xử lí các tư liệu liên quan đến đề tài
4.2.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
Trên cơ sở tư liệu thu thập được tác giả phân tích tổng hợp so sánh theo yêu cầu nội dung đề tài để làm nổi bật khu kinh tế cửa khẩu và tác động của nó đối với sự phát triển vùng Đông Bắc Phân tích đánh giá khu kinh tế cửa khẩu rồi so sánh với các khu kinh tế khác
4.2.3 Phương pháp bản đồ
Bản đồ là nơi bắt đầu và nơi kết thúc của địa lý Phương pháp bản đồ được
sử dụng để thể hiện trực quan và khoa học sự phân bố theo không gian và các phương
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 7 http://www.lrc.tnu.edu.vn
án quy hoạch và khu kinh tế cửa khẩu Dự kiến tác giả biên tập một số bản đồ: Bản
đồ hành chính các tỉnh Đông Bắc, bản đồ nguồn lực phát triển KKTCK vùng Đông Bắc, bản đồ thực trạng KKTCK vùng Đông Bắc
4.2.4 Phương pháp GIS
Trong quá trình thực hiện đề tài máy vi tính là công cụ đắc lực giúp cho tác giả thu thập, lưu trữ, xử lý và phân tích tài liệu Các phần mềm được ứng dụng như: Microsoft Excel, Wold, tra cứu website trên Internet, đặc biệt là phần mềm biên tập bản đồ Mapinfo phần mềm đặc trưng trong nghiên cứu địa lý
- Trình bày có hệ thống về các vấn đề lý luận cơ bản về KKTCK
- Đưa ra những đặc thù của KKTCK vùng Đông Bắc
- Đánh giá đúng thực trạng phát triển của KKTCK của vùng Đông Bắc, sự tác động kinh tế - xã hội của KKTCK vùng Đông Bắc
- Luận văn góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho các cơ quan ban ngành của các tỉnh Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang trong việc hoạch định các chính sách phát triển KKTCK của các tỉnh nói riêng và vùng Đông Bắc nói chung
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, phụ lục, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về khu kinh tế cửa khẩu
Chương 2: Thực trạng phát triển các khu kinh tế cửa khẩu vùng Đông Bắc và
tác động của nó đến sự phát triển kinh tế giai đoạn 2006 – 2013
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển khu kinh tế cửa khẩu vùng
Đông Bắc đến năm 2020
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 8 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Theo Nghị quyết số 32/2005/NĐ – CP ngày 14/3/2005 về Quy chế cửa khẩu
biên giới đất liền “Cửa khẩu biên giới đất liền (CK biên giới) bao gồm: cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu quốc gia (CK chính) và cửa khẩu địa phương (CK phụ), được
mở trên các tuyến đường bộ, đường sắt, đường thuỷ trong khu vực biên giới theo Hiệp định về Quy chế biên giới đã được ký kết giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Chính phủ nước láng giềng để thực hiện việc xuất, nhập và qua lại biên giới quốc gia” Cửa khẩu Việt Nam được hiểu như là những
nơi tại Việt Nam diễn ra các hoạt động xuất cảnh, nhập cảnh, xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh và qua lại biên giới quốc gia đối mới người, phương tiện, hàng hoá
và các tài sản khác[12]
+ Cửa khẩu quốc tế được mở cho người, phương tiện, hàng hoá của Việt
Nam, nước láng giềng và nước thứ ba xuất, nhập qua biên giới quốc gia
+ Cửa khẩu chính (cửa khẩu quốc gia) được mở cho người, hàng hoá của
Việt Nam, nước láng giềng xuất, nhập khẩu qua biên giới quốc gia
+ Cửa khẩu phụ được mở cho người, phương tiện, hàng hoá của Việt Nam
và nước láng giềng ở khu vực biên giới, vùng biên giới qua lại biên giới quốc gia
1.1.1.3 Khu kinh tế
Theo Nghị định số 29/2008/NĐ – CP của Chính phủ ban hành ngày 13/3/2008
quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế: “Khu kinh tế là khu vực
có không gian kinh tế riêng biệt thuận lợi cho các nhà đầu tư, có ranh giới địa lí xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ” [15]
Khu kinh tế được tổ chức thành các khu chức năng gồm: khu phí thuế quan, khu bảo thuế, khu chế xuất, khu công nghiệp, khu giải trí, khu du lịch, khu đô thị, khu dân cư, khu hành chính và các khu chức năng khác phù hợp với đặc điểm của từng khu kinh tế
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 9 http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.1.1.4 Khu kinh tế cửa khẩu
Cho đến nay, nhiều cơ sở lý thuyết liên quan đến KKTCK được đề cập những khái niệm KKTCK vẫn chưa có sự thống nhất cao từ các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước vì tùy thuộc vào điều kiện hình thành và phát triển đặc thù của nước mình
Theo Nghị định số 29/2008/NĐ – CP của Chính phủ và Quyết định số
33/2009/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã xác định: “Khu kinh tế cửa khẩu là khu kinh tế hình thành ở khu vực biên giới đất liền có cửa khẩu quốc tế hoặc cửa khẩu chính của các quốc gia, có dân cư sinh sống và được áp dụng những
cơ chế, chính sách phát triển đặc thù, phù hợp với đặc điểm từng địa phương sở tại nhằ mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất dựa trên việc quy hoạch, khai thác,
sử dụng, phát triển bền vững các nguồn lực, do đó Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập”[15;13]
Như vậy, khu KTCK đặt lên hàng đầu là các hoạt động về thương mại – dịch
vụ, gắn với cửa khẩu và chịu tác động mạnh mẽ của chính sách biên mậu của các nước láng giềng có đường biên giới chung Đó là nguồn hàng hóa, dịch vụ tại chỗ và
từ các nơi khác (các vùng kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất) là rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả hoạt động của nó Trên thực tế khu KTCK có mối quan hệ qua lại với các hình thức và mô hình kinh tế khác
Cách hiểu này nêu rõ hai vấn đề cốt lõi của KKTCK biên giới:
- KKTCK biên giới là một không gian lãnh thổ về kinh tế, đồng thời cũng
là không gian lãnh thổ về dân cư;
- KKTCK lấy hoạt động giao lưu kinh tế qua cửa khẩu biên giới làm hoạt động chính
1.1.2 Đặc điểm, vai trò của khu kinh tế cửa khẩu
1.1.2.1 Đặc điểm của Khu kinh tế cửa khẩu
- Các KKTCK cách xa trung tâm kinh tế chính trị nước mình
- Dân cư tại các khu kinh tế ở các nước láng giềng có sự tương đồng về văn hóa, truyền thống, tín ngưỡng tôn giáo ;
- Có sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế - xã hội - môi trường và chất lượng cuộc sống ;
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 10 http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Hợp tác và cạnh tranh là đặc trưng chủ yếu ;
- Hợp tác và giao lưu kinh tế dựa trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của nhau, bình đẳng cùng có lợi
1.a Mô hình đường thẳng 1.b Mô hình quạt giao nhau ở cán
1.c Mô hình quạt giao nhau ở cánh 1.d Mô hình lan tỏa
Hình 1.1 Một số mô hình không gian của KKTCK
Nguồn: Theo nghiên cứu của PGS.TS Phạm Văn Linh
Chú thích: - khu kinh tế cửa khẩu
- Đường biên giới
- Đường giao thông đô thị
- Đô thị, KCN
Trang 21
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 11 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Bảng 1.1 Đặc điểm các mô hình phát triển không gian của KKTCK
Mô hình Đường thẳng Quạt giao
Cạnh biên giới
có các khu đô thị, KCN tập trung
Các khu đô thị
và KCN, các vùng sản xuất không tập trung
ở gần biên giới như các mô hình trên
dân cư qua lại sau đó
do nhu cầu trao đổi
tăng, giao thông phát
triển thành cửa khẩu
Việc trao đổi hàng hóa tập trung về khu kinh tế theo đường giao thông gần nhất
Hàng hóa hai bên trao đổi phân tán ở nhiều cặp chợ biên giới
Hàng hóa được trao đổi phát tán
ở nhiều cặp chợ, thị trấn biên giới
Đặc điểm - Là mô hình có nhiều
ưu điểm: vừa giảm
tập trung cao về biên
do
- Thích hợp với biên giới có địa
phẳng đông dân
cư
- Mang tính tự phát do tập quán sinh hoạt dân cư, phát triển theo yêu cầu, lợi dụng các yếu tố tự nhiên
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 12 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Như vậy, mô hình đường thẳng là mô hình có nhiều ưu điểm: vừa giảm tập
trung cao về biên giới, cũng có thể sử dụng kênh hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu với lợi thế về giao thông Đây là mô hình cơ sở cho các mô hình khác
1.1.2.2 Vai trò của Khu kinh tế cửa khẩu
Kinh tế cửa khẩu từ lâu đời đóng góp rất lớn đối với nền kinh tế đất nước, nó
tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội cả nước nói chung và các tỉnh biên giới nói riêng
- Tạo điều kiện phát huy tiềm năng, ưu thế các địa phương biên giới nhằm tăng cường giao thương giữa các nước có chung đường biên giới, đẩy mạnh phát triển du lịch, công nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các tỉnh có cửa khẩu
- Thu hút mạnh mẽ nguồn vốn đầu tư từ nhiều nguồn khác nhau để xây dựng
cơ sở hạ tầng, mở rộng sản xuất kinh doanh, phát triển có hiệu quả nhiều lĩnh vực của hoạt động kinh tế cửa khẩu
- Góp phần mở rộng các hoạt động giao lưu buôn bán, mở rộng thị trường, tìm đầu ra cho sản phẩm, tăng kim ngạch xuất nhập khẩu, tạo lợi thế cạnh tranh trước mắt
và lâu dài cho các sản phẩm, ngành chủ lực; ngành xây dựng các hệ thống, mạng lưới phân phối, cung cấp các dịch vụ đi kèm
- Hạ tầng cơ sở vật chất kĩ thuật được cải thiện đáng kể, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương, cải thiện chất lượng cuộc sống người dân địa phương
và các khu vực lân cận
- Tạo việc làm cho nhiều lao động địa phương và thu hút nhiều cá nhân , doanh nghiệp, người lao động đến kinh doanh, làm việc trong các ngành của KTCK
- Thiết lập quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam với các nước láng giềng
và các nước trong khu vực, mở rộng và nâng cao hơn nữa quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại giữa nước ta với những nước có chung đường biên giới; góp phần giữ vững hòa bình và an ninh quốc phòng, ổn định xã hội ở vùng biên giới hai nước
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởn đến sự phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới
Về đại thể, có rất nhiều nhân tố và nhóm nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển các KKTCK bao gồm cả nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài bởi lẽ đây là mô hình kinh tế được hình thành và phát triển từ lâu đời (dưới các
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 13 http://www.lrc.tnu.edu.vn
hình thức và quy mô khác nhau nhưng tính chất và đặc điểm vẫn giữ nguyên bản chất vốn có của nó), chịu nhiều yếu tố ảnh hưởng và chi phối dưới nhiều chiều, hướng tác động Trong đó nổi lên các nhóm nhân tố chủ yếu sau:
* Nhân tố bên ngoài
- Thứ nhất, các yếu tố tự nhiên (vị trí địa lí, khí hậu, địa hình, môi trường…)
Việc lựa chọn xây dựng các KKTCK trước hết phải căn cứ vào điều kiện tự nhiên,
đó phải là nơi có những thuận lợi về vị trí địa lí “đắc địa”, phù hợp với giao lưu kinh
tế - thương mại biên giới, là cầu nối kinh tế trong và ngoài nước, bởi đây là đầu nối phát triển không gian kinh tế mở nước ta
- Thứ hai, yếu tố lịch sử Quan hệ giao lưu kinh tế giữa nước ta với các nước
láng giềng có lịch sử từ lâu đời, xuất phát từ các chuyến cống phẩm bàn giao giữa các nước cũng như hình thành từ các phiên chợ biên giới trao đổi các vật phẩm địa phương phục vụ nhu cầu hàng ngày và sản xuất tại chỗ Cứ như thế, các tuyến đường mòn biên giới hình thành là cơ sở phát triển các tuyến, các hành lang kinh tế - giao thông sau này, các phiên chợ ba hay bảy ngày, ngày xưa giờ nâng lên thành chợ thường nhật, chợ biên giới, chợ cửa khẩu được tổ chức quy mô với cơ sở hạ tầng khang trang, rộng rãi hiên nay
- Thứ ba, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, trình độ dân trí, các vấn đề giáo
dục, y tế, phong tục tập quán…cũng ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển KTCK Kinh
tế càng phát triển, lượng hàng hóa luân chuyển trên thị trường càng tăng cao nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản và ngày càng của người tiêu dùng Muốn thế, các dòng vật chất đầu vào, sản phẩm đầu ra phải đủ lớn để đáp ứng nhu cầu đó Kinh tế trong nội địa phát triển, các dòng hàng hóa, dịch vụ được vận chuyển nhanh với quy mô ngày càng lớn ra các vùng biên, thông qua cửa khẩu đến thị trường các nước Bán kính tiêu thụ càng mở rộng với những hạt nhân và các trung tâm thương mại có tiềm lực về kinh tế sẽ phát triển càng nhanh Bán kính tiêu thụ càng mở rộng với những hạt nhân
là các trung tâm thương mại có tiềm lực về kinh tế sẽ phát triển càng nhanh, từ đó hình thành nên các cực, tuyến điểm trong giao thương các nước
- Thứ tư, chính sách đối ngoại và quan hệ kinh tế - chính trị Bầu không khí
chính trị của các nước trong khu vực mà trực tiếp là quan hệ giữa các nước láng giềng
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 14 http://www.lrc.tnu.edu.vn
có chung đường biên ảnh hưởng rất nhiều đến sự hình thành và phát triển KTCK nước ta không chỉ trong quá khứ, hiện tại mà cả trong tương lai Lịch sử nước ta đã chứng kiến nhiều thời kì, khi trong quan hệ hai nước lắng xuống, khu vực biên giới trở thành điểm nóng về an ninh, trính trị, phải đóng cửa hàng loạt các cửa khẩu biên giới và khi đó trao đổi thương mại hầu như không diễn ra Chính vì thế, nhóm nhân tố này không chỉ ảnh hưởng mà còn chi phối đến các nhân tố khác, điều này thể hiện qua sự uyển chuyển, linh hoạt trong phân tích, xử lí và ban hành các chính sách phát triển kinh tế cửa khẩu, nhất là khi nước ta hội nhập kinh tế khu vực và thế giới với mức độ cạnh tranh gay gắt hơn
* Nhân tố bên trong
Thứ nhất, cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật và kinh tế - xã hội ở khu vực biên giới
phải phát triển đến trình độ nhất định
KKTCK là khu kinh tế được xác định trong phạm vi nhất định, có thể xem đó
là không gian kinh tế mở Khác với các khu công nghiệp, khu chế xuất, vị trí của KKTCK ở các cửa khẩu trên đường biên giới với các nước và phạm vi của KKTCK không có ranh giới rõ ràng, trong hàng rào và ngoài hàng rào như khu công nghiệp, khu chế xuất
Vị trí địa lý của các cửa khẩu ở xa các trung tâm kinh tế, kinh tế kém phát triển, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp canh tác truyền thống, địa hình hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn Do đó, để hình thành các KKTCK phải quan tâm tới phát triển
cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống đường giao thông Quá trình hình thành các KKTCK là do nhu cầu phát triển của nền kinh tế của mỗi quốc gia, trước hết là nhu cầu về trao đổi hàng hóa ngày càng tăng Cùng với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, các hoạt động kinh tế, hoạt động xuất nhập khẩu tăng nhanh về quy mô, tốc độ,
cơ cấu chủng loại hàng hóa KTCK phát triển đòi hỏi phải xây dựng hệ thống kết cấu
hạ tầng kỹ thuật và xã hội tương ứng Hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường không, bến bãi, kho tàng với các phương tiện vận tải bảo quản hiện đại, công suất lớn Hệ thống mạng thông tin với các đường truyền đáp ứng yêu cầu thông tin chính xác, kịp thời, bảo mật an toàn cho doanh nghiệp về tình hình thông tin, giá cả, giao dịch, hợp đồng với đối tác…
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 15 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Như vậy, hệ thống kết cấu hạ tầng, kinh tế đồng bộ được xem là tiền đề vật chất cho sự phát triển của KKTCK Nó nối kết các vùng kinh tế trọng điểm, kinh tế động lực, kinh tế trong nước với nước ngoài hình thành các hành lang kinh tế Đồng thời với hoàn thiện kết cấu hạ tầng, kinh tế diễn ra quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng
xã hội Các khu dân cư, đô thị mới mọc lên đáp ứng nhu cầu đời sống về ăn, ở, khám chữa bệnh, học hành, giải trí của các tầng lớp dân cư trong KKTCK
Thứ hai, sự phát triển hoạt động thương mại ở khu vực cửa khẩu biên giới
ngày càng tập trung quy mô lớn tất yếu dẫn đến việc phân công, chuyên môn hóa và hình thành KKTCK
Như chúng ta đã biết sản xuất hàng hóa là hình thức tổ chức kinh tế mà các quan hệ kinh tế được thực hiện dưới hình thức quan hệ hàng hóa – tiền tệ, nó là loại hình kinh tế có tính lịch sử, tồn tại gắn liền với với một số phương thức sản xuất Sự phát triển của sản xuất hàng hóa có thể chia thành các giai đoạn:
Giai đoạn đầu ở trình độ thấp gọi là sản xuất hàng hóa giản đơn Giai đoạn sản xuất hàng hóa phát triển ở trình độ cao, khi mà các quan hệ hàng hóa – tiền tệ trở thành phổ biến và các quy luật kinh tế của sản xuất hàng hóa đã phát huy đầy đủ tác dụng của nó, gọi là kinh tế thị trường Sản xuất hàng hóa giản đơn tồn tại trong nền kinh tế nông nghiệp, sản xuất phân tán quy mô nhỏ dựa trên lao động thủ công, việc sản xuất ra sản phẩm để trao đổi nhằm mục đích giá trị sử dụng khác Quan hệ hàng hóa – tiền tệ chưa trở thành hình thái thống trị phổ biến và các quy luật kinh tế của sản xuất hàng hóa tác động ở phạm vi hẹp và mức độ còn hạn chế
Quá trình phát triển của kinh tế thị trường dựa trên sự phát triển của phân công, chuyên môn hóa theo ngành – lĩnh vực và theo lãnh thổ – vùng kinh tế Trong điều kiện hội nhập quốc tế, hội nhập thị trường dân tộc, quốc gia với thị trường thế giới, hoạt động buôn bán ở các cửa khẩu gia tăng mạnh mẽ về mọi mặt cả quy mô, tốc độ và cơ cấu chủng loại hàng hóa Lúc đầu các hoạt động trao đổi hàng hóa được thực hiện ở các chợ truyền thống ở vùng biên giới Mặt khác, hoạt động buôn bán qua biên giới đòi hỏi phải có những dịch vụ phục vụ cho nó, các bộ phận cung cấp dịch vụ
có xu hướng liên kết với nhau Có thể nói đó là tổng thể các quan hệ kinh tế phức tạp đan xen nhau mang tính đặc thù của KTCK, cần được tổ chức quản lý theo phương
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 16 http://www.lrc.tnu.edu.vn
pháp, hình thức, cách thức riêng KKTCK ra đời là kết quả tất yếu của quá trình phân công lao động theo ngành và phân công – chuyên môn hóa theo vùng lãnh thổ
Thứ ba, trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện đại, việc hình thành và
phát triển KKTCK biên giới đòi hỏi phải có sự quản lý của Nhà nước
Hiện nay thế giới đang trong quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa và hội nhập quốc tế Đây là là xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới hiện nay Quá trình này
đã lôi cuốn hầu hết các nước vào một hệ thống kinh tế thế giới trên cơ sở phân công, hợp tác lao động Quốc tế Các quốc gia khác vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tài nguyên khoáng sản… là tiềm năng có thể phát huy lợi thế so sánh trong các quan hệ kinh tế quốc tế Một mặt xét trên bình diện thế giới và khu vực, các quốc gia ngày càng phụ thuộc vào nhau, mỗi quốc gia tham gia vào những phân khúc của thị trường thế giới trong chuỗi giá trị gia tăng Mặt khác, quốc gia độc lập, có chủ quyền và thể chế chính trị, thể chế kinh tế riêng Mỗi quốc gia đều có lợi ích kinh tế của mình, tức
là có sự khác biệt về lợi ích kinh tế, thậm chí là xung đột với nhau
Rõ ràng KKTCK là hình thức tổ chức kinh tế thực hiện các quan hệ kinh tế quốc tế tất yếu cần phải có sự quản lý của Nhà nước Đó là quá trình có tính quy luật hình thành và phát triển của KKTCK Song ở đây về nhận thức cần phân biệt giữa yêu cầu khách quan của quản lý nhà nước với quản lý của Nhà nước được thực hiện bằng những phương thức, các biện pháp như thế nào là mang tính chủ quan Về vấn
đề này C.Mác đã chỉ ra: khi tiến hành các hoạt động chung tất yếu phải có sự chỉ huy phối hợp từ một trung tâm… và Nhà nước thực hiện chức năng của người nhạc trưởng điều phối hoạt động chung đó
Tóm lại, quá trình hình thành và phát triển KKTCK đòi hỏi Nhà nước trực tiếp can thiệp các quá trình kinh tế – xã hội bằng việc ban hành cơ chế, chính sách riêng cho KKTCK Chất lượng, hiệu quả hoạt động của KKTCK phụ thuộc vào tính khoa học và thực tiễn của cơ chế, chính sách đó
1.1.4 Tiêu chí đánh giá phát triển khu kinh tế cửa khẩu biên giới
Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển KKTCK phản ánh kết quả về mặt số lượng và chất lượng hoạt động của KKTCK Chính vì thế, việc xác định tiêu chí đánh giá phát triển KKTCK cần phải dựa vào những căn cứ sau:
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 17 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Một là, căn cứ vào nội dung của phát triển KKTCK Theo đó, các tiêu chí đánh
giá sự phát triển KKTCK phải phản ánh được nội hàm của khái niệm này
Hai là, căn cứ vào trình độ phát triển của KKTCK, bởi lẽ sự phát triển các
KKTCK là một quá trình từ thấp đến cao Do đó, số lượng các tiêu chí đánh giá cũng
có sự phát triển từ ít đến nhiều
Xuất phát từ đó, các tiêu chí đánh giá sự phát triển KKTCK chủ yếu là:
- Các tiêu chí phản ánh không gian lãnh thổ về kinh tế: Các tiêu chí này phản
ánh quy mô diện tích của KKTCK, các ngành nghề chủ yếu hoạt động trong KKTCK
- Các tiêu chí phản ánh sự phát triển xã hội tại KKTCK: Các tiêu chí này phản
ánh quy mô dân số, quy mô lao động, tỷ lệ dân số đô thị; thu nhập, đời sống của dân
cư tại KKTCK
- Các tiêu chí về phát triển kinh tế trong KKTCK, bao gồm:
+ Mức độ tăng trưởng thương mại và dịch vụ (phản ánh sự gia tăng về số lượng): Thể hiện khối lượng và giá trị hàng hoá được trao đổi tại KKTCK; tổng kim
ngạch xuất nhập khẩu hai chiều qua các cửa khẩu tại KKTCK; quy mô, tốc độ đầu tư tại KKTCK; số lượng người và phương tiện xuất nhập cảnh qua các cửa khẩu tại KKTCK; các loại hình dịch vụ phục vụ phát triển thương mại và du lịch tại KKTCK;
1.2 Cơ sở thực tiễn
Trong số các nước hiện nay đang áp dụng chính sách tăng cường giao lưu kinh
tế qua các cửa khẩu biên giới, kinh nghiệm của Trung Quốc, Thái Lan và Lào đáng được chú ý Chẳng những vì hoạt động giao lưu kinh tế qua biên giới ở những nước này đang diễn ra sôi động, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao mà còn vì đây là các nước nằm trong khu vực châu Á, là đối tác thương mại lớn của Việt Nam và có những điều kiện gần gũi, tương đồng
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 18 http://www.lrc.tnu.edu.vn
1.2.1 Phát triển khu kinh tế cửa khẩu của Trung Quốc
Sau hơn 20 năm mở cửa, tuy đã bắt đầu được khai thông một cách tích cực, khu vực biên giới Trung Quốc (gồm 8 tỉnh và khu tự trị) nhìn chung vẫn lạc hậu và
có khoảng cách xa với các vùng ven biển Việc kiên trì theo đuổi đường lối mở cửa
và những biến đổi trong phát triển kinh tế ở Trung Quốc và thế giới đã buộc nước này phải điều chỉnh và hoàn thiện chính sách này theo hướng đẩy nhanh mở cửa vùng biên giới nội địa để phối hợp với các vùng Duyên hải Chính vì vậy, đã có một số chính sách phát triển mới ra đời: chính sách cho phép một số nơi được làm giàu trước; chính sách cải cách mở cửa không chỉ dựa vào nguồn tài chính của Chính phủ Trung ương mà còn “nới quyền, nhường lợi” cho các địa phương, doanh nghiệp; và các chính sách ưu đãi khác để phát triển kinh tế tại các khu vực lãnh thổ khác nhau Các chính sách này được thực hiện với các nội dung không giống nhau, tùy thuộc vào đặc thù của từng khu vực
Về cơ bản, Chính phủ Trung Quốc tạo dựng được khuôn khổ pháp lý, môi trường, điều kiện khá đầy đủ để phát triển KTCK Các quy định đó cụ thể như sau:
Về hình thức, có 2 loại hình KTCK là chợ biên giới và mậu dịch tiểu ngạch:
Chợ biên giới: Là khu vực biên giới nằm trên tuyến đường biên giới khoảng
20 km, điểm mở cửa hoặc chợ biên giới do Chính phủ phê chuẩn hoặc chỉ định, thực hiện hoạt động trao đổi hàng hoá trong phạm vi số lượng, kim ngạch không vượt quá quy định
Mậu dịch tiểu ngạch biên giới: Chỉ các xí nghiệp thuộc các huyện biên giới
nằm trên tuyến đường biên giới của Trung Quốc, được Chính phủ Trung Quốc phê chuẩn cho phép mở cửa đối ngoại Các xí nghiệp này có quyền kinh doanh mậu dịch tiểu ngạch biên giới, thông qua các cửa khẩu biên giới đã được Chính phủ Trung Quốc chỉ định, hoạt động mậu dịch được tiến hành với các xí nghiệp thuộc khu vực biên giới các nước láng giềng hoặc các cơ quan mậu dịch khác
Các chính sách ưu tiên phát triển KTCK thể hiện ở các nội dung sau:
- Miễn giảm thuế: bao gồm các loại thuế xuất nhập khẩu, thuế VAT, thuế thu
nhập doanh nghiệp, tiền thuê đất cho các doanh nghiệp kinh doanh tại các KKTCK
- Phân quyền cho các địa phương biên giới: Căn cứ vào chính sách ưu tiên cho
thành phố huyện, thị xã biên giới mở cửa mà Chính phủ Trung Quốc đã phân cấp thu thuế biên giới, toàn bộ số tiền thu được để lại cho địa phương đầu tư cơ sở hạ tầng Chính quyền địa phương tự định ra các mức thuế suất phải thu theo nguyên tắc: Mức
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 19 http://www.lrc.tnu.edu.vn
thuế mặt hàng cùng chủng loại cấp tỉnh quy định phải thấp hơn mức thuế của Trung ương; cấp huyện, thị xã quy định phải thấp hơn mức thuế của cấp tỉnh và chỉ được thu
ở các cửa khẩu địa phương, còn các cửa khẩu quốc tế do Hải quan thu và nộp về ngân sách Trung ương
- Hàng năm, Nhà nước trung ương cấp một khoản tiền tương ứng để xây dựng,
tu bổ các cửa khẩu Ngoài ra, địa phương còn được sử dụng số tiền thu lệ phí hàng hoá qua biên giới để xây dựng, tu bổ cơ sở hạ tầng ở vùng biên giới
Ngoài những quy định chung rõ ràng, chính quyền Trung ương còn có những chỉ đạo linh hoạt cho địa phương về quản lý KTCK, có nhiều rào cản pháp lý ít thể hiện bằng văn bản Chẳng hạn như hiện nay đối với hàng hoá nhập khẩu qua các cửa khẩu huyện Bằng Tường vào Trung Quốc thì không được hưởng ưu đãi thuế nhập khẩu và VAT đối với biên mậu tiểu ngạch, nhưng nếu nhập khẩu qua các cửa khẩu tại
Hà Khẩu thì vẫn được hưởng các ưu đãi về thuế nhập khẩu và VAT đối với biên mậu tiểu ngạch
1.2.2 Phát triển khu kinh tế cửa khẩu ở Thái Lan
Thái Lan có hoạt động thương mại biên giới với các nước láng giềng là Campuchia, Myanma, Lào và Malaysia Nhìn chung, các hoạt động này được thực hiện dưới hai hình thức chủ yếu là thương mại chính thức, các hoạt động giao lưu buôn bán được thực hiện thông qua các thủ tục hải quan tại biên giới theo các quy định của pháp luật (các quy chế, hoặc các hiệp định, thỏa thuận đã được hai Chính phủ ký kết) Các hoạt động này thường phải chịu những khoản thuế quan nhất định, được ghi chép trong hệ thống sổ sách của cơ quan có thẩm quyền về xuất nhập khẩu
Phần lớn các hàng xuất khẩu theo đường phi chính thức từ Thái Lan là các hàng tiêu dùng, các dụng cụ dùng trong gia đình, thuốc tây, các loại xe gắn máy và phụ tùng Hàng nhập khẩu phi chính thức vào Thái Lan là đá quý, các hàng lương thực thực phẩm sơ chế hoặc chưa chế biến, các dụng cụ điện gia dụng, rượu, thuốc lá, gia súc và các hàng nông sản Theo ước tính hiện nay, kim ngạch thương mại phi chính thức chiếm khoảng từ 1/3 đến trên 1 lần so với thương mại chính thức giữa Thái Lan và Lào, lớn gấp đôi thương mại chính thức giữa Thái Lan với Myanma và giữa Thái Lan với Malaysia
Về quản lý KTCK, Thái Lan không có những quy định cụ thể rõ ràng mà được quản lý khá linh hoạt Ở đây, chính quyền Trung ương (Bộ Nội vụ) vẫn có sự giám sát nhưng về cơ bản do các chính quyền địa phương tự quản lý trên cơ sở khuôn khổ chung cho phép Mục tiêu chủ yếu là giúp hoạt động thương mại biên giới sôi động,
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 20 http://www.lrc.tnu.edu.vn
vừa tạo điều kiện phát triển kinh tế cho cư dân biên giới vừa tạo nguồn hàng cho sản xuất trong nước và xuất khẩu Hoạt động giao lưu kinh tế của Thái Lan với các nước láng giềng được thực hiện chủ yếu dưới 4 hình thức sau đây:
- Các chợ tạm biên giới: Thống đốc tỉnh biên giới có thể cấp phép cho các chợ
tạm hai bên biên giới nhóm họp, (có sự tham kiến Bộ Nội vụ, trước hết thường dựa vào các lý do mang tính nhân đạo), nhằm đẩy mạnh việc trao đổi buôn bán các mặt hàng tiêu dùng và tăng cường mối quan hệ giữa hai địa phương của hai nước Thống đốc các tỉnh biên giới được ủy quyền đưa ra các quy tắc, quy chế đối với việc sắp đặt địa điểm và vận hành chợ biên giới, cho phép những người buôn bán được vào, ra chợ, quy định các mặt hàng được buôn bán trong chợ, quy định giờ đóng mở cửa chợ
- Các trạm kiểm soát tạm thời: Bộ Nội vụ có thể ra lệnh thành lập các trạm
kiểm soát tạm thời để kiểm soát việc vào ra của một số nhà xuất nhập khẩu trong một khoảng thời gian đã định sẵn Biện pháp này thường được sử dụng trong các trường hợp có lượng hàng hóa xuất nhập khẩu lớn, vận chuyển trong một thời gian tương đối dài Đây là những thương vụ không hoàn toàn chỉ nằm trong phạm vi thương mại biên giới
Các hoạt động xuất nhập khẩu qua các trạm kiểm soát tạm thời thường không liên tục Thông thường đó là những thương vụ cụ thể với số lượng hàng hóa lớn vận chuyển qua biên giới trong một khoảng thời gian đã được xác định trước do một số nhà xuất nhập khẩu cụ thể thực hiện
Đối với các hàng nhập khẩu, khi hàng đã mang đến khu vực đặt trạm kiểm soát biên giới, cán bộ Hải quan có thể yêu cầu vận chuyển số hàng đó đến trạm hải quan địa phương Tại đó chủ hàng phải trình danh sách đơn mua hàng, danh sách các kiện hàng và các giấy tờ liên quan khác và nộp thuế nhập khẩu Sau đó, hàng hóa sẽ được kiểm duyệt và cho phép nhập khẩu
- Các trạm kiểm soát chính thức (hay các cửa khẩu chính thức): được Chính
phủ của cả hai bên đồng ý, phục vụ mục đích thương mại, thăm thân nhân và phát triển quan hệ hữu hảo giữa nhân dân hai nước Thông thường ngay tại (hoặc gần) các cửa khẩu (trạm kiểm soát) này, ở cả 2 bên biên giới thường có một thị trấn nhỏ hoặc một làng, bản có dân cư trú ngụ và những người dân này tạo nên những chợ biên mậu
- Các điểm buôn bán ở biên giới (các cửa khẩu phi chính thức): có điều kiện
địa lý thuận lợi cho nhân dân sinh sống hai bên biên giới qua lại làm ăn buôn bán, mặc dù đó không phải là những cửa khẩu được phê chuẩn một cách chính thức Các hoạt động mậu dịch phi chính thức và buôn lậu thường được thực hiện qua các điểm này
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 21 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Các hàng hóa được vận chuyển qua các cửa khẩu phi chính thức thường là hàng không hợp pháp và không được ghi vào giấy tờ sổ sách theo dõi như các hoạt động buôn bán chính thức Các hàng hóa được mua bán tại các chợ tạm biên giới và tại các điểm có đặt trạm kiểm soát phải qua các thủ tục hải quan và phải chịu thuế nhập khẩu Các hàng hóa được khách du lịch đưa vào Thái Lan với số lượng ít và không nhằm mục tiêu buôn bán thì được miễn khai báo, miễn nộp thuế nhập khẩu và miễn các thủ tục hải quan Trên thực tế, các cửa hàng miễn thuế là yếu tố quyến rũ nhất đối với khách du lịch tại các địa điểm biên giới có trạm kiểm soát, hoặc các chợ tạm biên giới nói trên
Các thủ tục hải quan tại biên giới Thái Lan cũng rất đơn giản Một nhà xuất khẩu chỉ cần trình danh sách đơn hàng gửi, danh sách các kiện hàng và các giấy tờ liên quan khác tại trạm hải quan địa phương, sau khi kiểm tra các giấy tờ này, hải quan có thể cử cán bộ của mình đến kiểm tra số hàng được khai báo và theo dõi việc vận chuyển số hàng đó qua cửa khẩu biên giới
Các chính sách ưu đãi cụ thể dành cho thương mại biên giới được cụ thể như sau: Đối với hàng hóa trao đổi thương mại qua biên giới giữa Thái Lan và nước láng giềng, về cơ bản được hưởng mức thuế suất thuế xuất nhập khẩu ưu đãi hơn so với thông thường Về phát triển cơ sở hạ tầng, đối với các cửa khẩu chính thức, Nhà nước trung ương đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, còn đối với các điểm KTCK biên giới khác phát sinh từ nhu cầu giao thương thực tế sẽ do chính quyền địa phương tự đầu tư
từ ngân sách của mình
1.2.3 Phát triển các KKTCK ở Việt Nam
Việc hình thành các khu KTCK ở vùng biên giới Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với đường lối kinh tế đối ngoại, phù hợp với yêu cầu mở cửa thị trường, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, mang lại nhiều lợi thế cho nước ta:
- Tận dụng ưu thế gần gũi về vị trí địa lí (liền núi, liền sông, liền đường) nhằm giảm chi phí giao thông vận tải và liên lạc Thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cao bộ mặt địa phương
- Tạo bước đột phá cho sự phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy các ngành nghề dịch vụ khác ở địa phương phát triển, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực Khai thác lợi thế về nguồn nhân lực nhằm tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người dân vùng biên giới
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 22 http://www.lrc.tnu.edu.vn
- Trên thực tế, nguồn lợi lớn nhất mà khu KTCK mang lại đó là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và cải thiện đời sống dân cư trong khu vực cửa khẩu nói riêng
và cả nước nói chung
Việt Nam có đường biên giới chung với 3 quốc gia láng giềng: Trung Quốc, Lào và Cam-pu-chia với tổng chiều dài đường biên giới trên 4000 km, hình thành 21 Khu KTCK và CKQT (đường bộ và đường sắt)
Bảng 1.2: Các CKQT và Khu KTCK của Việt Nam
STT Tên cửa khẩu Việt Nam Tên cửa khẩu Trung Quốc
1 Móng Cái (Quảng Ninh) Đông Hưng (Quảng Tây)
4 Thanh Thủy (Hà Giang) Thiên Bảo (Vân Nam)
6 Tây Trang (Điện Biên) Sop Hun (Phong Xa Lỳ)
11 Lao Bảo (Quảng Trị) Huội Ka Ky (Sa-va-na Khẹt)
Tên cửa khẩu Việt Nam Tên cửa khẩu Cam-pu-chia
14 Xa Mát (Tây Ninh) Trapeang-Plon (Công Pông Chàm)
15 Vĩnh Xương (An Giang) Ca-om-Sno (Pray Veng)
16 Tịnh Biên (An Giang) Phơ-Nông-Đơn (Kri Vông)
17 Thường Phước (Đồng Tháp) Coc-Rô-Ca (Pray Veng)
18 Dinh Bà (Đồng Tháp) Bon-tia Chắc Cray (Pray Veng)
20 Lệ Thanh (Gia Rai) An Đông Pếch (Ratana Kiri)
[Nguồn: www.tailieu.vn ]
“Vành đai” cửa khẩu biên giới Việt - Trung có tổng chiều dài 1.449 km, qua 7 tỉnh của Việt Nam (Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn,
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 23 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Quảng Ninh) và 2 tỉnh của Trung Quốc (Vân Nam, Quảng Tây) với hệ thống cửa khẩu đường sắt, đường bộ và đường biển
Bảng 1.3: “Vành đai” CKQT khu vực biên giới Việt - Trung
STT CKQT của Việt Nam CKQT đối đẳng của Trung Quốc
1 Móng Cái (Quảng Ninh) Đông Hưng (Quảng Tây)
2 Hữu Nghị (Lạng Sơn) Hữu Nghị Quan (Quảng Tây)
3 Đồng Đăng (Lạng Sơn) Bằng Tường (Quảng Tây)
4 Thanh Thủy (Hà Giang) Thiên Bảo (Vân Nam)
Nguồn :[5]
Đây là vị trí hết sức quan trọng của khu vực TDMN phía Bắc về các mặt kinh
tế, chính trị, an ninh quốc phòng, văn hóa xã hội và đặc biệt là về kinh tế Đây là cửa ngõ giao lưu giữa các tỉnh phía Bắc, các tỉnh khác trong nước và các tỉnh láng giềng (Lào, Cam-pu-chia) với Trung Quốc
Nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực biên giới, năm 2007, Chính phủ đã quyết định phê duyệt thành lập 8 khu KTCK ở khu vực biên giới Việt Nam - Trung Quốc
Với tổng diện tích là 1.342 km2, dân số khoảng 143,4 nghìn người, chiếm 3% diện tích và 3,7% dân số các tỉnh biên giới Việt - Trung (2009) Việc phát triển và phân bố các khu KTCK ở khu vực này tương đối hợp lí, có một số khu KTCK phát huy có hiệu quả như: khu KTCK Móng Cái, Khu KTCK Lạng Sơn, khu KTCK Lào Cai Các khu KTCK ở khu vực này là đầu mối giao thông quan trọng giữa Việt Nam
và Trung Quốc, trong đó khu KTCK Lào Cai, Lạng Sơn và Móng Cái - Quảng Ninh
là những điểm quan trọng nhất trên toàn tuyến biên giới Việt - Trung [9]
Các KKTCK đều phát triển theo hướng phát huy ưu thế của Thương mại và
Du lịch, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh có khu KTCK cũng như của các tỉnh ở bên trong nội địa Tổng kim ngạch X-NK qua 8 khu KTCK biên giới Việt - Trung năm 2006 đạt 2,2 tỉ USD (khoảng 59,8% kim ngạch X-NK qua các khu KTCK của cả nước), chiếm 85,4% (khoảng 4.648 tỉ đồng) tổng thu ngân sách Nhà nước của các khu KTCK toàn quốc Trong đó thuế X-NK đạt trên 1.200 tỉ đồng (chiếm 80% tổng thu ngân sách qua các khu KTCK cả nước), thu hút 4.928,5 tỉ đồng vốn đầu tư
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 24 http://www.lrc.tnu.edu.vn
khác nhau vào khu vực này (chiếm khoảng 86,8% tổng số vốn đầu tư vào các khu KTCK của cả nước)
Với lợi thế về phát triển sớm và sự hình thành các khu KTCK ở đây đều có mạng giao thông kết nối với hậu phương qua các trục quốc lộ liên vùng như: 18, 1A, 1B, 70,… các khu KTCK góp phần nâng cao hiệu quả công tác của các cấp, các ngành, cải thiện đời sống nhân dân, làm thay đổi bộ mặt kinh tế của tỉnh sở tại, có tác dụng lan tỏa thúc đẩy sự phát triển các vùng lân cận
Tiểu kết chương 1
Phát triển KKTCK biên giới là một vấn đề mới nảy sinh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Sự phát triển ngày càng cao của nền kinh tế thị trường, xu hướng giao lưu kinh tế giữa các nước tăng lên, các địa phương có cửa khẩu biên giới
đã tận dụng lợi thế của cửa khẩu đẩy mạnh hoạt động XNK, XNC với nước láng giềng Đồng thời với quy mô giao lưu hàng hóa ngày càng tăng lên, nhu cầu mở rộng hoạt động kinh tế tại các cửa khẩu biên giới dẫn đến việc xây dựng các KKTCK Vì thế, từ chỗ là nơi kiểm soát dân cư đi lại hai nước, tại các cửa khẩu biên giới phát triển mạnh giao lưu thương mại, du lịch dịch vụ, đầu tư và sản xuất phục vụ phát triển kinh tế trước hết của các địa phương biên giới, và thông qua đó, thúc đẩy sự phát triển kinh tế các địa phương khác trong cả nước Qua nghiên cứu cơ sở khoa học hình thành và phát triển khu KTCK Đông Bắc, có thể nói rằng, việc phát triển khu KTCK Đông Bắc là một yêu cầu tất yếu khách quan trong quá trình phát triển kinh tế thị trường ở tỉnh nói riêng và cả nước nói chung Đây là mô hình kinh tế mới hứa hẹn khả năng phát triển mạnh trong thời gian tới, đòi hỏi các nhà quản lý từ Trung ương đến địa phương phải tổng kết, rút kinh nghiệm, đặc biệt là những cơ chế, chính sách phù hợp để triển khai thực hiện có hiệu quả, mang lại những lợi ích thiết thực
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 25 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC KHU KINH TẾ CỬA KHẨU Ở VÙNG ĐÔNG BẮC VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
2.1 Khái quát chung về các tỉnh biên giới vùng Đông Bắc Việt Nam
2.1.1 Vị trí địa lí và lãnh thổ
Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế - xã hội là nhân tố quan trọng tác động đến sự phát triển hoạt động biên mậu của các tỉnh Đông Bắc Việt Nam, trong đó vị trí địa lí được coi là nguồn tài nguyên của quốc gia Do đó cần phải nắm rõ các đặc điểm này để khai thác chúng một cách có hiệu quả Không gian lãnh thổ vùng biên giới Đông Bắc Việt Nam bao gồm 4 tỉnh: Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai với tổng diện tích là 29.327,5 km2 (10,6% diện tích cả nước) Số dân
là 2.697,2 nghìn người (2013) chiếm khoảng 4,3% dân số cả nước
Bảng 2.1 Diện tích và dân số các tỉnh biên giới vùng Đông Bắc Việt Nam năm 2013
(km 2 )
Dân số (nghìn người)
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Tổng cục thống kê của vùng Đông Bắc năm 2013
Lãnh thổ vùng biên giới Đông Bắc Việt Nam có khoảng 1000 km đường biên giới tiếp giáp với các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây (Trung Quốc) ở phía Bắc, phía Đông giáp biển, phía Tây và phía Nam tiếp giáp với các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Yên Bái, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Phòng Đây là khu vực có vị trí chiến lược quan trọng về an ninh quốc phòng, kinh tế, chính trị và văn hóa xã hội, đối ngoại, đặc biệt là về kinh tế của vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ nói riêng và cả nước nói chung Vùng có tiềm năng lợi thế về nông – lâm nghiệp, khoáng sản, du lịch, kinh tế cửa khẩu và kinh tế biển Đây cũng là vùng có nhiều dân tộc anh em sinh sống với bản sắc văn hóa riêng và độc đáo, có mối quan hệ mật thiết với thủ đô Hà Nội với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
Vị trí địa lí mang đến những thuận lợi cơ bản nhưng cũng đặt ra không ít những thách thức
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 26 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 27 http://www.lrc.tnu.edu.vn
2.1.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
2.1.2.1 Địa hình, địa mạo
Đây là vùng núi và trung du với nhiều khối núi và dãy núi đá vôi hoặc núi đất Phần phía tây, được giới hạn bởi thung lũng sông Hồng và thượng nguồn sông Chảy, cao hơn, được cấu tạo bởi đá granit, đá phiến và các cao nguyên đá vôi
Phần phía bắc sát biên giới Việt - Trung là các cao nguyên (sơn nguyên) lần lượt từ tây sang đông gồm: cao nguyên Bắc Hà, cao nguyên Quản Bạ, cao nguyên Đồng Văn Hai cao nguyên đầu có độ cao trung bình từ 1000 - 1200 m Cao nguyên Đồng Văn cao 1600m Sông suối chảy qua cao nguyên tạo ra một số hẻm núi dài và sâu.Cũng có một số đồng bằng nhỏ hẹp, đó là Thất Khê, Lạng Sơn, Lộc Bình, Cao Bằng
Phía đông, từ trung lưu sông Gâm trở ra biển, thấp hơn có nhiều dãy núi hình vòng cung quay lưng về hướng Đông lần lượt từ Đông sang Tây là vòng cung Sông Gâm, Ngân Sơn, Bắc Sơn, Đông Triều… Các dãy núi vòng cung này hầu như đều chụm đuôi lại ở Tam Đảo
Các tỉnh biên giới Đông Bắc Việt Nam đều là các tỉnh miền núi có địa hình núi cao và phức tạp, hệ thống sông suối nhỏ khá dày đặc làm cho địa hình bị chia cắt,
ở các xã vùng sâu đi lại tương đối khó khăn nhất là vào mùa mưa Điều này gây khó khăn cho việc cư trú tập trung của dân cư, hoạt động sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng
và hoạt động xuất nhập khẩu theo đường mòn Tình trạng lợi dụng đường mòn lối tắt
ở những nơi địa hình hiểm trở để vận chuyển hàng lậu vẫn diễn ra phức tạp
2.1.2.2 Tài nguyên khí hậu, đất và nước
Các tỉnh biên giới vùng Đông Bắc Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa song do yếu tố vị trí địa lí và địa hình chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên khí hậu của vùng mang tính chất á nhiệt đới, khí hậu có sự phân hóa thành 2 mùa
rõ rệt : mùa đông và mùa hạ Mùa hạ có gió mùa Tây Nam kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9 thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều Mùa đông có gió mùa Đông Bắc kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau thời tiết lạnh khô và ít mưa Nhiệt độ trung bình tháng
I từ 12 – 150C, tháng VII khoảng 250C Lượng mưa trung bình năm dao động từ
1500 – 2000mm/năm; độ ẩm không khí trung bình 80 – 85%
Khí hậu của vùng có sự phân hóa theo đai cao Từ khí hậu nhiệt đới chân núi đến khí hậu á nhiệt đới ở độ cao 600 -1800m và khí hậu ôn đới núi cao ở độ cao trên 1800m Thuận lợi phát triển đa dạng các loại cây trồng như cây ăn quả nhiệt đới, á
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 28 http://www.lrc.tnu.edu.vn
nhiệt đới, ôn đới, cây dược liệu Tuy nhiên, ở những nơi núi cao cũng hay xảy một số hiện tượng thời tiết cực đoan như băng giá, sương muối, tuyết rơi ảnh hưởng đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, sức khỏe và hoạt động sản xuất của con người
Tổng diện tích đất tự nhiên của vùng là 2.933,8 nghìn ha, gồm 3 nhóm chính: đất feralit ở các miền núi thấp; đất feralit mùn trên núi cao và đất phù sa do các con sông bối đắp
Đất lâm nghiệp
Đất chuyên dùng Đất ở
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Tổng cục thống kê của vùng Đông Bắc năm 2013
Vùng Đông Bắc có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc với mật độ 0,6 – 1,2 km/km2 Nguồn nước mặt chủ yếu là hệ thống sông, suối, hồ với nhiều hệ thống sông lớn chảy qua như sông Hồng, sông Chảy sông Lô, sông Kỳ Cùng, sông Mã,… Nhìn chung, nguồn nước tương đối dồi dào,chất lượng nước đảm bảo tiêu chuẩn cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất
2.1.2.3 Tài nguyên khoáng sản
Vùng có tài nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng với nhiều chủng loại khác nhau Nhóm khoáng sản kim loại bao gồm: sắt, mangan, nhôm, chì, kẽm và vàng; kim loại hiếm thì có thiếc, môlipđen và thủy ngân Khoáng sản phi kim loại có than antranxit chất lượng tốt, dồn ép thành tảng rất cứng có tỉ lệ cacbon ổn định 80 - 90% với nhiệt lượng cao từ 7350 – 8200kcal/kg và trữ lượng than lớn nhất ở mỏ than nâu
Na Dương với diện tích 150km2, trữ lượng khoảng 96,6 triệu tấn phục vụ cho nhà máy nhiệt điện Na Dương, than bùn ở Nà Nò huyện Lộc Bình Các loại khoáng sản phục vụ cho xây dựng rất phong phú bao gồm: các loại đá cacbonat, đá sét, cát cuội, sỏi, cao lanh, cát kết, sét vôi, đá maific
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 29 http://www.lrc.tnu.edu.vn
Đây là vùng duy nhất ở nước ta có mỏ apatit đang khai thác với trữ lượng lớn
và tập trung, đặc biệt là ở Lào Cai với trữ lượng 1,4 tỉ tấn đáp ứng nhu cầu sản xuất lân phục vụ nông nghiệp ở nước ta và xuất khẩu
Vùng biên giới Đông Bắc Việt Nam là vùng có nhiều tiềm năng khoáng sản, đây là lợi thế để phát triển tổng hợp ngành công nghiệp Những mỏ này đang ở dạng tiềm năng và mới chỉ được khai thác với quy mô nhỏ nhưng có vai trò rất quan trọng đối với ngành công nghiệp nước ta nói chung và các tỉnh biên giới nói riêng
và vực thẳm Lào Cai có nhiều danh lam, thắng cảnh như các hang động, đền, chùa, đặc biệt la khu nghỉ mát Sa Pa, Bắc Hà Phát triển tốt về du lịch sẽ tạo ra công ăn việc làm cho nhân dân, góp phần thực hiện xóa đói giảm nghèo Nhiều loại hình du lịch và đầu tư tại Lào Cai trong những năm gần đây được phát triển mạnh; đó là du lịch sinh thái, du lịch văn hoá thôn bản, du lịch mạo hiểm Sa Pa là thị trấn du lịch nổi tiếng nằm ở độ cao 1.500m thuộc tỉnh Lào Cai đẹp và thơ mộng, khí hậu quanh năm mát
mẻ Sapa huyền diệu với những rặng sa mu xanh ngát, cảnh đẹp tự nhiên như Thác Bạc,cầu Mây, cổng trời,…Các địa danh khác như cao nguyên Mẫu Sơn (Lạng Sơn), Đồng Văn, Quản Bạ (Hà Giang), Bắc Hà (Lào Cai), được ví như bức tranh tuyệt tác vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng của núi rừng, có đầy đủ mọi điều kiện tự nhiên thuận lợi
để xây dựng các khu du lịch miền núi
Mặt khác, nơi đây còn có thêm những hệ thống hang động của địa hình Karst thuộc vùng núi đá vôi Các nhà khoa học đã phát hiện hơn 20 hang có giá trị khảo cổ Thời kỳ đồ đá, tập trung chủ yếu ở các tỉnh Lạng Sơn Ngoài giá trị thiên nhiên, các hang động này còn có các sự tích hoặc gắn với các sự kiện lịch sử như Hang Pắc Bó (Cao Bằng) Du lịch sinh thái tập trung chủ yếu ở các vườn quốc gia, khu bảo tồn
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 30 http://www.lrc.tnu.edu.vn
thiên nhiên vốn rất phong phú với nhiều khu bảo tồn tự nhiên, vườn quốc gia và khu rừng văn hóa - lịch sử - môi trường, với những danh lam thắng cảnh như hồ Thác Bà, Thác Bản Giốc, Thác Bạc
Đặc biệt, vùng rất có ý nghĩa về lịch sử cội nguồn, nhiều di tích gắn bó với truyền thuyết và lịch sử dân tộc, di tích lịch sử gắn với từng giai đoạn cách mạng như Hang Pắc Bó (Cao Bằng), đang tạo điều kiện cho đồng bào các dân tộc trên vùng đất này phát triển mạnh về du lịch để xóa nghèo vươn lên làm giàu bền vững
2.1.3 Dân cƣ và lao động
2.1.3.1 Dân số và dân tộc
Theo số liệu của Tổng cục thống kê dân số của các tỉnh biên giới vùng Đông Bắc Việt Nam là 2.697,2 nghìn người (2013) chiếm khoảng 4,3% dân số cả nước, trong đó nam chiếm 50,2%, nữ chiếm 49,8% Mật độ dân số trung bình là 112 người/km2, nơi có mật độ cao nhất là Lào Cai 102 người/km2, nơi có mật độ thấp nhất
là Cao Bằng 77 người/km2 Phần lớn dân cư sống ở nông thôn (80%), dân thành thị chiếm tỉ lệ thấp (20%) Dân cư thưa thớt, có sự phân bố không đều, tập trung ở các thành phố, thị xã,thị trấn, càng lên vùng núi cao dân cư càng thưa thớt Giao thông đi lại ở các xã vùng sâu vùng xa còn khó khăn do địa hình hiểm trở và chia cắt sâu lớn gây khó khăn cho hoạt động sản xuất, sinh hoạt và phát triển kinh tế của người dân
Đây là địa bàn có nhiều dân tộc sinh sống, một nửa số dân là đồng bào các dân tộc Ở đây có trên 20 dân tộc sinh sống trong đó chủ yếu là dân tộc Tày, Nùng, Dao, Mông, Hoa, Sán Chay, Sán Chỉ,…còn lại là các dân tộc ít người khác Mỗi dân tộc có bản săc văn hóa và truyền thống, kinh nghiệm riêng trong sản xuất và chinh phục tự nhiên Các dân tộc Tày, Nùng chủ yếu là sản xuất nông nghiêp Đặc biệt là gần 1 triệu người Hoa đang sinh sống ở Việt Nam, sẽ là chiếc cầu nối tốt cho sự hợp tác kinh tế hai bên và sẽ góp phẩn phát triển buôn bán qua biên giới hai nước trong thời gian tới
2.1.3.2 Trình độ của lực lượng lao động
Vùng có kết cấu dân số trẻ, số dân trong độ tuổi lao động chiếm trên 50% tổng
số dân nên đây là vùng có nguồn lao động dồi dào, năng động và có sức sáng tạo nhưng đồng thời cũng là sức ép đối với vấn đề giải quyết việc làm, phá rừng làm nương rẫy và đặc biệt là buôn lậu qua biên giới, đặc biệt là các xã giáp biên và các vấn đề xã hội khác Số lượng lao động dồi dào nhưng chất lượng lao động chưa cao, còn hạn chế, chủ yếu là lao động chưa qua đào tạo, lao động đã qua đào tạo không