Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài luận văn
Luật Quản lý thuế có hiệu lực từ ngày 01/7/2007 đã thay đổi cơ chế quản lý thuế, trao quyền chủ động cho người nộp thuế với hình thức “tự khai, tự tính, tự nộp” Tuy nhiên, điều này cũng dẫn đến việc gia tăng gian lận thuế với những thủ đoạn tinh vi, phức tạp, nhiều trong số đó chưa được phát hiện và xử lý kịp thời Do đó, cần tăng cường các biện pháp quản lý, trong đó thanh tra, kiểm tra thuế đóng vai trò quan trọng Hoạt động này không chỉ giúp chống thất thu thuế mà còn đảm bảo công bằng và động viên các chủ thể kinh tế phát huy nguồn lực, nâng cao năng suất lao động Thanh tra, kiểm tra thuế cung cấp căn cứ và bằng chứng cụ thể, phục vụ cho việc hoàn thiện và bổ sung các chính sách phù hợp.
Hoạt động kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật thuế nếu được thực hiện nghiêm túc sẽ tăng cường tính tự giác tuân thủ pháp luật của người nộp thuế Ngược lại, sự lỏng lẻo trong công tác này sẽ dẫn đến sự gia tăng vi phạm, gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước và bất công cho những người chấp hành tốt nghĩa vụ thuế Thông qua thanh tra và kiểm tra, cơ quan quản lý có thể kịp thời phát hiện và ngăn chặn hành vi trái pháp luật, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý Tuy nhiên, công tác kiểm tra, thanh tra thuế hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế cần được nghiên cứu và cải tiến để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Trong những năm qua, Cục Thuế tỉnh Bắc Kạn đã chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp, tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề cần khắc phục Công tác kiểm tra hồ sơ khai thuế tại Cơ quan Thuế còn mang tính hình thức, chủ yếu tập trung vào số lượng mà chưa đảm bảo chất lượng, thể hiện qua số thuế phát hiện tăng thêm và hồ sơ sai phạm còn thấp Thời gian tiến hành thanh, kiểm tra còn kéo dài và việc phát hiện gian lận thuế của người nộp thuế vẫn gặp nhiều hạn chế Các vụ án lớn về thuế, đặc biệt là tội phạm chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng, chưa được làm rõ Hơn nữa, nhiều doanh nghiệp giải thể, sáp nhập hoặc được hoàn thuế trước kiểm tra sau nhưng chưa được Cơ quan Thuế kiểm tra theo quy định.
Công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Bắc Kạn đang gặp phải một số hạn chế, làm giảm hiệu quả tích cực đối với doanh nghiệp Để khắc phục những vấn đề này, cần thực hiện nghiên cứu toàn diện về lý luận và thực tiễn của công tác thanh tra, kiểm tra thuế, nhằm xác định nguyên nhân và đề xuất các giải pháp cải cách dựa trên cơ sở khoa học Nhằm đóng góp vào việc giải quyết các nhiệm vụ này, tác giả đã chọn đề tài “Hoàn thiện thanh tra, kiểm tra thuế các doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Bắc Kạn” cho luận văn thạc sỹ của mình.
Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Nhiều tác giả đã nghiên cứu về việc hoàn thiện thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp qua nhiều cấp độ khác nhau, bao gồm giáo trình, luận án tiến sĩ, báo cáo nghiên cứu khoa học, và luận văn thạc sĩ Các công trình này cũng được công bố trong các tạp chí khoa học và kỷ yếu hội thảo quốc gia, quốc tế, với một số tác phẩm tiêu biểu đáng chú ý.
Nguyễn Thị Phương Thảo (2017) đã thực hiện luận văn Thạc sỹ tại Trường Đại học Thương mại, tập trung vào việc hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục Thuế thành phố Hà Nội Luận văn hệ thống hoá lý luận về thanh tra, kiểm tra thuế, đồng thời phân tích thực trạng công tác này tại Cục Thuế Tác giả đã chỉ ra những kết quả đạt được cũng như những hạn chế còn tồn tại trong công tác thanh tra, kiểm tra thuế Dựa trên những phân tích đó, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục Thuế thành phố Hà Nội.
Hà Thanh Tùng (2015), Hoàn thiện công tác kiểm tra thuế tại thành phố Hà
Luận văn Thạc sỹ kinh tế của Giang tại Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã hệ thống hóa và phân tích các vấn đề lý luận về kiểm tra thuế và hiệu quả của nó Tác phẩm nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ pháp luật và quy trình trong kiểm tra thuế để đảm bảo hiệu quả Nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác kiểm tra thuế tại Chi cục giai đoạn 2009–2013, chỉ ra những kết quả đạt được cùng với các hành vi sai phạm của người nộp thuế và biện pháp xử lý đã thực hiện Luận văn cũng đề xuất các giải pháp mới nhằm nâng cao hiệu quả kiểm tra thuế trong tương lai, bao gồm cải tiến kế hoạch kiểm tra, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung về người nộp thuế, tất cả đều có cơ sở lý luận và thực tiễn phù hợp với Chi cục Thuế TP Hà Giang.
Trịnh Xuân Nguyên (2015) đã thực hiện một nghiên cứu về việc hoàn thiện công tác kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế Yên Định, Thanh Hoá trong luận văn Thạc sỹ kinh tế của mình tại Đại học Kinh tế - Đại học Nghiên cứu này tập trung vào việc nâng cao hiệu quả và tính chính xác của công tác kiểm tra thuế, từ đó góp phần cải thiện quản lý thuế tại địa phương.
Luận văn này tập trung vào việc phân tích và đánh giá thực trạng công tác kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế Yên Định trong thời gian qua Từ đó, tác giả chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của công tác này, đồng thời nêu rõ nguyên nhân dẫn đến các vấn đề tồn tại ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm tra thuế Cuối cùng, luận văn đề xuất các giải pháp và điều kiện cần thiết để cải thiện công tác kiểm tra thuế tại Chi cục Thuế Yên Định.
Luận văn của Nguyễn Cảnh Bảy (2014) về công tác kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Hà Tĩnh đã đạt được những kết quả quan trọng Đầu tiên, nghiên cứu đã phân tích lý luận cơ bản về kiểm tra, thanh tra thuế, cùng với kinh nghiệm quốc tế và thực trạng thanh tra tại Hà Tĩnh Thứ hai, thông qua việc đánh giá thực trạng, luận văn chỉ ra những thành tựu và tồn tại trong hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế hiện nay Cuối cùng, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm tra, thanh tra thuế, tập trung vào mục tiêu hiện đại hóa hoạt động này theo chiến lược phát triển ngành thuế giai đoạn 2011-2020.
Nguyễn Thanh Hoài (2013) trong bài viết "Tăng cường công tác thanh tra thuế ở Việt Nam" đăng trên Tạp chí Tài chính số 5-2013 đã chỉ ra các nội dung cơ bản của công tác thanh tra thuế, bao gồm việc kiểm tra sự tuân thủ các quy định về đăng ký kê khai nộp thuế, chế độ lưu giữ số liệu và nghĩa vụ nộp thuế của người nộp thuế Tác giả cũng nêu rõ một số hạn chế trong công tác thanh tra như thiếu quy trình phân loại kiểm tra hệ thống, dẫn đến hiệu quả thanh tra chưa cao, cùng với trình độ cán bộ thanh tra và quy trình xử lý sau thanh tra còn yếu Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả công tác thanh tra thuế.
Tác giả đã tổng hợp các nghiên cứu trước đó để xác định các luận cứ khoa học hỗ trợ cho các luận điểm của mình, đồng thời phát hiện những hạn chế và khoảng trống chưa được nghiên cứu Các công trình này đã cung cấp lý luận về thanh tra, kiểm tra thuế, bao gồm khái niệm, đặc điểm của thuế và quy trình thanh tra, kiểm tra; mục đích, vai trò, nguyên tắc và nội dung của công tác này; cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thanh tra, kiểm tra thuế Cuối cùng, tác giả đã đánh giá thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế và đề xuất giải pháp cải tiến cho các địa phương khác nhau.
Các nghiên cứu về vấn đề kiểm tra, thanh tra thuế cho thấy rằng hầu hết các tác giả chưa chú trọng đến tính chuyên sâu và hiệu quả trong việc áp dụng kỹ năng thanh tra vào quản lý thuế Họ chưa lượng hóa chi phí thực hiện các cuộc thanh tra, kiểm tra và chưa đánh giá kết quả đạt được theo các tiêu chí hiệu quả đã nêu Hơn nữa, các luận văn không so sánh kết quả kiểm tra, thanh tra thuế của các cơ quan thuế địa phương khác để xác định vị trí hiệu quả của ngành thuế địa phương trong tổng thể Các giải pháp được đề xuất thường thiếu sự phân biệt giữa các giải pháp trực tiếp và gián tiếp, chủ yếu tập trung vào đổi mới quy trình kiểm tra, thanh tra Cuối cùng, các luận văn chỉ dừng lại ở việc đề xuất áp dụng một số tiêu chí về hiệu quả mà chưa chỉ rõ cách tính toán và trường hợp áp dụng cụ thể.
Chưa có nghiên cứu nào về công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Bắc Kạn, điều này đặt ra nhu cầu cấp thiết trong bối cảnh kinh tế hiện nay Sự biến động của thị trường, khó khăn kinh tế và thủ đoạn tránh thuế của người nộp thuế đã làm nổi bật tầm quan trọng của công tác này Tác giả sẽ kế thừa một số lý luận và thực tiễn từ các nghiên cứu trước đó, đồng thời đi sâu vào các vấn đề chưa được đề cập và đề xuất giải pháp định hướng phù hợp với thực trạng thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Bắc Kạn.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu: Tìm ra giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Bắc Kạn
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra bao gồm việc hệ thống hoá các vấn đề lý luận liên quan đến thanh tra và kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp.
Trong giai đoạn 2017-2019, công tác thanh tra và kiểm tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Bắc Kạn đã gặp nhiều khó khăn và thách thức Bài viết phân tích thực trạng công tác này, chỉ ra những tồn tại và hạn chế như thiếu nguồn lực, quy trình chưa hiệu quả và sự phối hợp giữa các cơ quan chưa chặt chẽ Đồng thời, nguyên nhân của những vấn đề này cũng được làm rõ, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp trong tương lai.
+ Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế các doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Bắc Kạn trong thời gian tới.
Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Phương pháp thu thập dữ liệu
Luận văn được xây dựng dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo của Cục Thuế tỉnh Bắc Kạn, bao gồm báo cáo tổng kết công tác thuế, tình hình đăng ký và kê khai của người nộp thuế, báo cáo tổng kết công tác thanh tra, kiểm tra thuế, cùng với số liệu về cán bộ và các tài liệu nghiên cứu liên quan.
Phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu
Phương pháp thống kê mô tả được áp dụng để phân tích số liệu thực tế thu thập, nhằm khái quát công tác thanh tra và kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Bắc Kạn.
Phương pháp so sánh được áp dụng để phân tích số liệu liên quan đến công tác thanh tra và kiểm tra thuế của các doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Bắc Kạn qua các năm Qua đó, chúng ta có thể rút ra nhận định và minh họa cho các mô tả thực tế về tình hình thuế trong khu vực này.
Phương pháp phân tích tổng hợp cho phép đánh giá thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Bắc Kạn dựa trên các số liệu đã phân tích Qua đó, chúng ta có thể nhận diện những kết quả đạt được và những hạn chế trong quá trình này, từ đó tìm ra nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thuế cho các doanh nghiệp.
Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 03 chương:
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về thanh tra, kiểm tra thuế các doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế các doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Bắc Kạn
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế các doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Bắc Kạn.
MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ CÁC DOANH NGHIỆP
Những vấn đề chung về thuế và công tác thanh tra, kiểm tra thuế các
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế
Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze, thuế được định nghĩa là khoản trích nộp bằng tiền, không hoàn trả trực tiếp, do công dân đóng góp cho Nhà nước qua quyền lực, nhằm bù đắp chi tiêu của Nhà nước Khái niệm này đã được bổ sung và hoàn thiện, nhấn mạnh rằng thuế không chỉ nhằm bù đắp chi tiêu mà còn hỗ trợ cho việc thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước.
(Gaston Jeze (2016), Tài chính công, NXB Tài chính)
Theo tác giả Đặng Văn Dân (2018) trong cuốn Giáo trình thuế, NXB Tài chính thì thuế được định nghĩa trên 3 góc độ:
Thuế đóng vai trò quan trọng trong việc phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội cũng như thu nhập quốc dân, tạo ra quỹ ngân sách nhà nước lớn nhất Quỹ này giúp Nhà nước đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho các chức năng và nhiệm vụ của mình, theo Đặng Văn Dân (2018) trong Giáo trình thuế, NXB Tài chính.
Theo Đặng Văn Dân (2018), thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà tổ chức và cá nhân phải thực hiện theo quy định của pháp luật, nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước Người nộp thuế có quyền hợp pháp hưởng phần thu nhập còn lại sau khi đã đóng thuế.
Theo Đặng Văn Dân, thuế được xem là một công cụ đặc biệt mà Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển giao một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công Điều này nhằm mục đích thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của Nhà nước.
(2018), Giáo trình thuế, NXB Tài chính)
1.1.1.2 Đặc điểm của thuế Để hiểu rõ bản chất của thuế, khi nghiên cứu khái niệm về thuế cần chú ý các đặc điểm sau:
* Thứ nhất, thuế mang tính bắt buộc
Thuế là khoản chuyển giao tiền bắt buộc từ người này sang người khác, khác với hầu hết các khoản chuyển giao tài chính khác, vốn thường mang tính tự nguyện.
Thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao cho Nhà nước mà không kèm một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho NNT
Việc đóng thuế cho Nhà nước là một nghĩa vụ hợp pháp được xã hội tôn vinh, không mang tính chất hình sự và không phải là kết quả của hành vi phạm pháp.
* Thứ hai, thuế mang tính không hoàn trả trực tiếp
Trước khi thu thuế, Nhà nước không cam kết cung cấp dịch vụ công cộng nào cho người nộp thuế (NNT), và sau khi nộp thuế, NNT cũng không nhận được sự bồi hoàn trực tiếp Do đó, NNT không thể biện minh cho nghĩa vụ thuế bằng việc không được hưởng lợi ích trực tiếp từ Nhà nước Thay vào đó, lợi ích từ việc nộp thuế được hoàn trả gián tiếp thông qua các dịch vụ công cộng mà Nhà nước cung cấp cho cộng đồng và xã hội.
Thuế khác biệt với các hình thức động viên như phí, lệ phí và tín dụng Nhà nước, bởi vì thuế không có tính chất đối ứng rõ rệt và không mang tính tự nguyện như các khoản phí này Trong khi phí và lệ phí thường liên quan đến việc trao đổi ngang bằng giữa khoản phải trả và lợi ích dịch vụ nhận được, thuế chủ yếu phục vụ cho lợi ích chung mà không yêu cầu sự tương xứng trực tiếp.
* Thứ ba, tính pháp lý cao
Tính pháp lý của nghĩa vụ nộp thuế được xác định bởi quyền lực chính trị của Nhà nước, thể hiện qua các quy định về phạm vi, hình thức và thủ tục pháp lý liên quan Điều này bao gồm các yếu tố như đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, mức thuế phải nộp, thời hạn cụ thể, cùng với các chế tài cưỡng chế cần thiết.
Đánh thuế là quyền lực của Nhà nước, thể hiện sức mạnh trong xã hội và được sử dụng để tái phân phối thu nhập cũng như điều chỉnh kinh tế vĩ mô Trong xã hội dân chủ, người dân không nhận lợi ích trực tiếp từ thuế nhưng hưởng lợi gián tiếp từ các dịch vụ công Do đó, Chính phủ cần thực hiện thu thuế công bằng, minh bạch và công khai chương trình hành động, đồng thời tăng cường giáo dục ý thức công dân về nghĩa vụ nộp thuế từ bậc tiểu học Điều này giúp người dân nhận thức được tầm quan trọng của thuế và xem việc nộp thuế là cần thiết cho cuộc sống cộng đồng.
1.1.1.3 Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường
Lịch sử phát triển của thuế cho thấy thuế đóng ba vai trò cơ bản: đầu tiên, thuế giúp huy động nguồn lực tài chính cho ngân sách nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của chính phủ; thứ hai, thuế thực hiện vai trò phân phối lại thu nhập; và cuối cùng, thuế góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
* Thứ nhất, thuế có vai trò huy động nguồn lực tài chính cho NSNN
Thuế là nguồn thu chủ yếu và quan trọng nhất cho ngân sách nhà nước (NSNN) ở hầu hết các quốc gia, thường chiếm trên 80% tổng thu Tại Việt Nam, nếu không tính các khoản thu từ dầu thô, thuế cũng chiếm trên 90% tổng thu NSNN trong suốt một thập kỷ qua.
* Thứ hai, thuế có vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Thuế có thể đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát lạm phát và ổn định giá cả, đồng thời khuyến khích đầu tư để phát triển bền vững Khi lạm phát do cầu cao làm giá tăng, Nhà nước có thể điều chỉnh tăng thuế để giảm áp lực cầu giả tạo, từ đó cân bằng quan hệ cung cầu Ngược lại, nếu lạm phát do chi phí đẩy, việc giảm thuế cho các yếu tố đầu vào là cần thiết để giảm áp lực chi phí và hạ giá bán sản phẩm, giúp ổn định giá cả thị trường.
Trong bối cảnh nền kinh tế phát triển quá nóng, Nhà nước có thể tăng thuế để hạn chế đầu tư Ngược lại, khi nền kinh tế trì trệ, việc giảm thuế sẽ kích thích đầu tư và tiêu dùng, từ đó giúp nền kinh tế phục hồi nhanh chóng.
Chính sách thuế của nhà nước phân biệt giữa các ngành nghề và vùng lãnh thổ nhằm phân bổ lại nguồn lực, tạo ưu thế cho những khu vực cần phát triển Điều này giúp duy trì và lập lại trạng thái phát triển hài hòa, cân đối cho toàn bộ nền kinh tế.
* Thứ ba, vai trò phân phối lại thu nhập
Nội dung thanh tra, kiểm tra thuế các doanh nghiệp
1.2.1 Xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế các doanh nghiệp
Lãnh đạo ngành Tài chính và ngành Thuế đặc biệt chú trọng đến việc xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế hàng năm cũng như các kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế theo chuyên đề.
Trước ngày 15 tháng 10 hàng năm, Tổng cục Thuế sẽ ban hành văn bản hướng dẫn lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra ngành Thuế dựa trên chỉ đạo của Bộ Tài chính và yêu cầu quản lý thuế Sau đó, Cục Thuế địa phương phải hoàn thành văn bản hướng dẫn lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra cho bộ phận của mình trước ngày 30 tháng 10 hàng năm.
Khi Cơ quan Thuế có từ hai bộ phận thanh tra trở lên, lãnh đạo sẽ phân công một bộ phận thanh tra làm đầu mối để xây dựng kế hoạch thanh tra, tổng hợp và báo cáo công tác thanh tra Tương tự, nếu Cơ quan Thuế có hai bộ phận kiểm tra trở lên, lãnh đạo cũng sẽ chỉ định một bộ phận kiểm tra làm đầu mối thực hiện việc xây dựng kế hoạch kiểm tra, tổng hợp và báo cáo công tác kiểm tra.
Kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế được xây dựng dựa trên nguyên tắc phân tích và đánh giá rủi ro, sử dụng phần mềm phân tích thông tin rủi ro của NNT (TPR) do Tổng cục Thuế ban hành Đồng thời, kế hoạch còn căn cứ vào thực tiễn quản lý thuế tại địa phương để lựa chọn NNT có rủi ro, từ đó đưa vào kế hoạch thanh tra thuế.
Kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế hàng năm của Tổng cục Thuế được xây dựng theo các chuyên đề cụ thể Để áp dụng phần mềm phân tích thông tin rủi ro của người nộp thuế (NNT), các bộ phận thanh tra, kiểm tra thuế cần xây dựng cơ sở dữ liệu đầy đủ và chính xác về NNT Thông tin này được thu thập từ nhiều nguồn, bao gồm hồ sơ khai thuế, hồ sơ hoàn thuế, báo cáo hóa đơn, báo cáo tài chính, và thông tin về tình hình tài chính, sản xuất kinh doanh của NNT Ngoài ra, còn có thông tin về việc chấp hành pháp luật thuế của NNT thông qua tình hình kê khai, nộp thuế, kết quả kiểm tra thuế và thanh tra thuế từ năm trước, cũng như tình hình miễn, giảm thuế và các thông tin liên quan khác.
Bộ phận lập kế hoạch cần thu thập thông tin dữ liệu về người nộp thuế từ nhiều nguồn ngoài ngành Thuế, bao gồm Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Chính phủ, các cơ quan quản lý thuộc bộ, ngành, hiệp hội ngành nghề, cũng như từ các cơ quan truyền thông như phát thanh, truyền hình và báo chí Thêm vào đó, thông tin từ các đơn tố cáo liên quan đến trốn thuế và gian lận thuế cũng rất quan trọng.
1.2.2 Tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm tra thuế
1.2.2.1 Kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở Cơ quan Thuế
Kiểm tra thuế tại trụ sở Cơ quan Thuế diễn ra thường xuyên nhằm đánh giá tính đầy đủ và chính xác của các thông tin, chứng từ trong hồ sơ thuế, cũng như sự tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế (NNT).
Cơ quan Thuế tiến hành kiểm tra và đối chiếu nội dung kê khai trong hồ sơ thuế với cơ sở dữ liệu của người nộp thuế và các thông tin liên quan Qua đó, cơ quan đánh giá tính tuân thủ theo quy định pháp luật về thuế, nhằm phát hiện các trường hợp kê khai thiếu, dẫn đến thiếu thuế, trốn thuế hoặc gian lận thuế.
Khi hồ sơ thuế có thông tin cần làm rõ về số tiền thuế phải nộp, miễn, giảm, hoặc hoàn, Cơ quan Thuế sẽ yêu cầu người nộp thuế (NNT) giải trình và bổ sung tài liệu Nếu NNT cung cấp thông tin đầy đủ và chứng minh số thuế đã khai là đúng, hồ sơ sẽ được chấp nhận Ngược lại, nếu không đủ căn cứ để chứng minh, Cơ quan Thuế sẽ yêu cầu NNT khai bổ sung.
Nếu người nộp thuế (NNT) không giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu theo thời hạn của Cơ quan Thuế, hoặc không thực hiện khai bổ sung hồ sơ thuế đúng cách, thì thủ trưởng Cơ quan Thuế sẽ ấn định số tiền thuế phải nộp hoặc quyết định kiểm tra thuế tại trụ sở của NNT.
1.2.2.2 Thực hiện thanh tra, kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế
- Kiểm tra thuế tại trụ sở của NNT bao gồm các trường hợp:
Trong trường hợp kiểm tra tại Cơ quan Thuế, nếu người nộp thuế (NNT) không cung cấp thông tin, tài liệu bổ sung, không thực hiện khai bổ sung hồ sơ thuế, hoặc có khai bổ sung nhưng không chứng minh được tính chính xác của số thuế đã khai, thì Cơ quan Thuế sẽ không có đủ căn cứ để ấn định số thuế phải nộp.
+ Trường hợp kiểm tra theo kế hoạch, theo chuyên đề;
+ Trường hợp kiểm tra khi phát hiện ra dấu hiệu vi phạm pháp luật
- Thanh tra tại trụ sở của NNT gồm các trường hợp:
+ Đối với doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng thì thanh tra định kỳ một năm không quá một lần
+ Khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế
+ Để giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng Cơ quan Thuế các cấp hoặc Bộ trưởng Bộ Tài chính
Ngoài các trường hợp trên, Cơ quan Thuế còn tiến hành thanh tra, kiểm tra tại trụ sở NNT trong các trường hợp sau:
+ Trường hợp kiểm tra trước khi hoàn thuế, thanh tra, kiểm tra sau khi hoàn thuế theo quy định;
Trường hợp thanh tra và kiểm tra bao gồm việc chia tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản, cổ phần hóa, đóng mã số thuế, chuyển địa điểm kinh doanh, cùng các trường hợp kiểm tra đột xuất và kiểm tra theo chỉ đạo của cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Dựa vào quyết định thanh tra thuế, đoàn kiểm tra cần thu thập và phân tích rủi ro thông tin tại cơ quan thuế để xác thực hồ sơ khai thuế và báo cáo tài chính Quá trình này bao gồm việc yêu cầu doanh nghiệp cung cấp thêm thông tin về các vấn đề nghi ngờ như thông tin chung về doanh nghiệp, tổ chức sản xuất kinh doanh, hạch toán, liên doanh liên kết, đối tác kinh doanh, hợp đồng mua bán, biến động tài sản, và công nợ Việc kiểm tra và đối chiếu số liệu tổng hợp sẽ được thực hiện dựa trên phạm vi và quy mô của cuộc thanh tra.
* Các nội dung khi tiến hành thanh tra, kiểm tra tại trụ sở NNT gồm:
Đăng ký thuế là bước đầu tiên trong việc thực hiện nghĩa vụ pháp luật thuế của người nộp thuế (NNT) Trong quá trình thanh tra, kiểm tra, các cơ quan chức năng cần xem xét kỹ lưỡng tính pháp lý của đăng ký thuế, đồng thời kiểm tra tính trung thực của các tài liệu và số liệu kê khai liên quan đến vốn, địa điểm, ngành nghề kinh doanh, hình thức kế toán áp dụng và tài khoản giao dịch Việc này nhằm phát hiện và xử lý các hành vi gian lận trong đăng ký thuế.
Thanh tra và kiểm tra việc chấp hành sổ sách kế toán, chế độ hóa đơn, chứng từ là nhiệm vụ quan trọng theo yêu cầu của Luật Kế toán Mọi nghiệp vụ kinh tế tài chính trong doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp, và hộ cá thể phải được ghi chép đầy đủ vào chứng từ kế toán, sổ sách kế toán và báo cáo tài chính Dựa trên hạch toán kế toán, người nộp thuế (NNT) thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước Do đó, công tác thanh tra, kiểm tra này có liên quan chặt chẽ đến việc tính thuế và nộp thuế, bao gồm nhiều nội dung quan trọng.
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả thanh tra, kiểm tra thuế
1.3.1 Các chỉ tiêu định lượng
Kết quả thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế được đánh giá qua các chỉ tiêu sau:
Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thanh tra, kiểm tra là tỷ lệ phần trăm giữa số cuộc thanh tra, kiểm tra thực hiện và kế hoạch được giao hàng năm.
Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thanh tra, kiểm tra
Số cuộc thanh tra, kiểm tra thực hiện trong năm/quý/tháng x 100 (%)
Số cuộc thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch năm/quý/tháng phản ánh mức độ hoàn thành kế hoạch thanh tra, kiểm tra, cho thấy hiệu quả công tác này qua khối lượng công việc đã thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định Nếu kế hoạch được xây dựng phù hợp với thực tiễn và thực hiện đúng thời gian, tỷ lệ hoàn thành sẽ cao, chứng tỏ công tác thanh tra, kiểm tra thuế hiệu quả Ngược lại, tỷ lệ thấp có thể chỉ ra rằng kế hoạch thanh tra, kiểm tra không sát thực tế hoặc công tác thực hiện kém hiệu quả, gây tốn thời gian cho cả Cơ quan Thuế và Người nộp thuế.
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh mức độ phát hiện vi phạm pháp luật thuế qua thanh tra, kiểm tra, cụ thể là:
(i) Tỷ lệ số người nộp thuế vi phạm pháp luật thuế so với tổng số người nộp thuế được lựa chọn thanh tra, kiểm tra
Tỷ lệ NNT vi phạm pháp luật thuế so với tổng số NNT được lựa chọn thanh tra, kiểm tra
Tỷ lệ số NNT vi phạm pháp luật thuế trong kỳ được tính bằng cách lấy số NNT vi phạm chia cho tổng số NNT được lựa chọn thanh tra, kiểm tra thuế trong kỳ, sau đó nhân với 100 (%) Tỷ lệ này phản ánh chất lượng lựa chọn đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế và cho thấy độ chính xác trong công tác xây dựng kế hoạch Một tỷ lệ đạt 100% là lý tưởng, chứng tỏ việc lựa chọn đối tượng thanh, kiểm tra là đúng đắn Ngược lại, tỷ lệ thấp cho thấy kết quả lập kế hoạch chưa tốt và chưa phù hợp.
(ii) Số tiền thuế truy thu bình quân một Người nộp thuế qua thanh tra, kiểm tra
Số tiền thuế truy thu bình quân một NNT qua thanh tra, kiểm tra
Tổng số thuế truy thu được của NNT qua thanh tra, kiểm tra trong năm/quý/tháng
Trong năm/quý/tháng, tổng số cuộc thanh tra, kiểm tra đã hoàn thành phản ánh chất lượng lựa chọn đối tượng thanh tra, kiểm tra, xác định đúng đối tượng có gian lận Số thuế truy thu bình quân cao cho thấy việc lựa chọn đối tượng thanh tra là hiệu quả, nhưng cũng chỉ ra rằng mức độ tuân thủ pháp luật của người nộp thuế còn rất thấp.
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh chi phí của hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế:
(i) Thời gian bình quân một cuộc thanh tra, kiểm tra thuế:
Thời gian bình quân cho một cuộc thanh tra, kiểm tra thuế là chỉ số quan trọng phản ánh chi phí về mặt thời gian để tổ chức thực hiện quy trình này Tổng thời gian thực hiện thanh tra, kiểm tra thuế trong năm/quý/tháng và tổng số cuộc thanh tra, kiểm tra đã hoàn thành trong cùng khoảng thời gian giúp đánh giá hiệu quả công tác thanh tra thuế Chỉ tiêu này càng thấp càng tốt, cho thấy sự hiệu quả và tiết kiệm trong quá trình thanh tra, kiểm tra thuế.
(ii) Tỷ lệ chi phí tài chính sử dụng cho hoạt động thanh tra, kiểm tra so với số thuế truy thu, tiền phạt, tiền chậm nộp NSNN:
Tỷ lệ CPTC sử dụng cho hoạt động thanh, kiểm tra thuế so với số tiền thuế truy thu, tiền phạt, tiền chậm nộp
Tổng chi phí tài chính đã sử dụng cho hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế trong năm
Tổng số tiền thuế truy thu, tiền phạt và tiền chậm nộp NSNN trong năm phản ánh mức độ tiêu tốn tài chính cho hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế Chỉ tiêu này càng thấp cho thấy công tác thanh tra, kiểm tra thuế càng hiệu quả.
Mặc dù có thể tính toán một số chỉ tiêu liên quan đến hiệu quả kinh tế của công tác thanh tra, kiểm tra, nhưng thực tế cho thấy hầu hết các chỉ tiêu này không phản ánh rõ ràng hiệu quả thực tế Để đánh giá chính xác hơn, cần so sánh các chỉ tiêu này với những năm trước nhằm nhận diện xu hướng biến động, từ đó làm rõ sự thay đổi trong từng khâu công tác.
1.3.2 Các chỉ tiêu định tính
Các chỉ tiêu định tính thường xuất phát từ hoạt động thanh tra, kiểm tra và khó có thể tính toán hay đo đếm chính xác Những chỉ tiêu này thường liên quan đến các hiệu quả mang tính xã hội và chính trị.
Sự chuyển biến trong ý thức tuân thủ pháp luật có thể được đánh giá qua tỷ lệ tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế (NNT) qua các năm, đặc biệt là ở những đối tượng đã trải qua thanh tra, kiểm tra, nhằm xác định mức độ tái phạm.
Việc ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật thuế không chỉ tạo ra sự công bằng giữa các người nộp thuế mà còn góp phần xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh Tác dụng này có thể được đánh giá thông qua tỷ lệ đối tượng vi phạm bị xử lý truy thu thuế và các hình thức xử phạt hành chính thuế, được phân chia theo mức độ xử phạt.
Phòng chống tham nhũng trong nội bộ cơ quan thuế đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng lòng tin của người nộp thuế (NNT) vào hoạt động kiểm tra Đánh giá hiệu quả của công tác này có thể dựa trên các chỉ tiêu như tỷ lệ công chức thuế vi phạm pháp luật trong quá trình kiểm tra, tỷ lệ công chức thuế vi phạm bị xử lý theo từng hình thức, cùng với việc phát hiện và xử lý các vụ việc vi phạm quan trọng và nhạy cảm.
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kiểm tra được thực hiện định kỳ (quý, năm) và phân loại theo nhiều sắc thuế, hình thức kiểm tra, loại người nộp thuế (NNT) và từng nội dung kiểm tra tương ứng.
Các nhân tố ảnh hưởng đến thanh tra, kiểm tra thuế các doanh nghiệp
Các nhân tố khách quan là những yếu tố không thuộc về Cơ quan Thuế, mà liên quan đến các cơ quan và tổ chức khác trong xã hội.
Hành lang pháp lý là yếu tố quan trọng và thiết yếu cho hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế, cung cấp cơ sở pháp lý rõ ràng và vững chắc Tuy nhiên, chính sách thuế tại Việt Nam thường xuyên thay đổi và có nội dung phức tạp, dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, gây khó khăn trong quá trình thực hiện thanh tra, kiểm tra thuế.
Sự hiểu biết và tuân thủ pháp luật của người nộp thuế (NNT) đóng vai trò quan trọng trong công tác thanh tra, kiểm tra thuế Khi NNT nắm vững chính sách và pháp luật thuế, tỷ lệ vi phạm sẽ giảm, đồng thời cải thiện sự hợp tác giữa NNT và đoàn kiểm tra Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả kiểm tra mà còn giảm chi phí, khối lượng công việc và thời gian trong việc cung cấp hồ sơ, cũng như ký biên bản thanh tra Hơn nữa, sự hiểu biết của NNT còn giúp hạn chế những tiêu cực trong quá trình thanh kiểm tra của cán bộ thuế.
NNT hiểu luật thuế sâu hơn, dẫn đến các vi phạm pháp luật thuế trở nên tinh vi và khó phát hiện Trong bối cảnh hành lang pháp lý chưa hoàn thiện, NNT có thể lợi dụng các kẽ hở để trốn thuế, gây thất thu lớn cho ngân sách nhà nước, như việc thành lập doanh nghiệp "ma" hay mua bán hóa đơn bất hợp pháp Do đó, đội ngũ cán bộ thanh tra và kiểm tra thuế cần có trình độ chuyên môn cao và nắm vững quy trình, chính sách, pháp luật thuế.
Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước là rất quan trọng trong công tác thanh tra, kiểm tra thuế Để đảm bảo hiệu quả, cần nắm bắt đầy đủ và toàn diện thông tin về người nộp thuế (NNT) Do đó, bên cạnh việc sử dụng thông tin từ hệ thống dữ liệu hiện có, việc chia sẻ và cập nhật thông tin giữa các cơ quan là cần thiết.
Cơ quan Thuế và cán bộ thanh, kiểm tra thuế cần tăng cường phối hợp và trao đổi thông tin thường xuyên với các cơ quan như công an, tòa án, kho bạc, ngân hàng, địa chính và UBND để nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế.
Hoạt động phối hợp đóng vai trò quan trọng trong việc xác định thông tin về kinh doanh và tình hình chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế Trong nhiều trường hợp, sự phối hợp này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi vi phạm pháp luật thuế và mức độ vi phạm Do đó, một sự phối hợp hiệu quả sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thanh tra, kiểm tra thuế.
Các nhân tố chủ quan là các nhân tố thuộc về Cơ quan Thuế Chủ yếu là các nhân tố sau đây:
Chất lượng công tác lập kế hoạch và chuẩn bị cho thanh tra, kiểm tra thuế đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn đối tượng và thời điểm thích hợp Việc lập kế hoạch chính xác giúp nâng cao hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra, trong khi sự chuẩn bị kỹ lưỡng càng gia tăng tính hiệu quả của quá trình này.
Đội ngũ cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế đóng vai trò trung tâm trong hệ thống quản lý, vì hiệu quả công tác này phụ thuộc vào số lượng và trình độ của họ Để đối phó với những chiêu trò tinh vi của người nộp thuế trong việc trốn thuế, việc nâng cao chất lượng và số lượng cán bộ là điều cần thiết Kỹ năng chuyên môn, kinh nghiệm làm việc, khả năng xử lý tình huống, làm việc nhóm và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của cán bộ cũng là những yếu tố quyết định đến hiệu quả thanh tra, kiểm tra thuế.
Cơ sở vật chất và phương tiện làm việc của Cơ quan Thuế đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả và chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra thuế Sự đầu tư của nhà nước vào cơ sở vật chất hiện đại giúp cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế nâng cao hiệu suất làm việc, từ đó cải thiện kết quả công tác thuế.
Chế độ đãi ngộ cho cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế là một phần quan trọng trong tổng thể tiền lương và thu nhập của công chức Việc thiết lập một chế độ đãi ngộ hợp lý không chỉ tạo động lực làm việc cho cán bộ mà còn góp phần đảm bảo đời sống của họ, từ đó giảm thiểu động cơ tham nhũng trong lĩnh vực này.
Hệ thống cơ sở dữ liệu và ứng dụng công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc khai thác và phân tích thông tin về người nộp thuế (NNT) Thông tin là yếu tố quyết định trong quản lý, đặc biệt trong thanh tra và kiểm tra thuế, giúp lựa chọn đúng đối tượng và phương pháp thanh tra Độ chính xác và kịp thời của cơ sở dữ liệu thông tin ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của các hoạt động thanh tra, kiểm tra Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quy trình này là cần thiết để tổng hợp và xử lý thông tin một cách hiệu quả Do đó, cơ sở dữ liệu về NNT và trình độ ứng dụng công nghệ thông tin là rất quan trọng trong công tác thanh tra, kiểm tra thuế.
Công tác tổ chức và chỉ đạo của thủ trưởng Cơ quan Thuế đóng vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý thuế Tài năng, đạo đức và uy tín của người lãnh đạo ảnh hưởng lớn đến chất lượng và hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra thuế.
Sự nghiêm minh trong xử lý vi phạm là yếu tố then chốt trong việc thực hiện quy phạm pháp luật, với chế tài đóng vai trò áp dụng hình phạt cho hành vi vi phạm Nếu việc tổ chức thực hiện pháp luật không nghiêm túc, chức năng này sẽ không đạt hiệu quả Việc xử lý vi phạm không nghiêm minh sẽ dẫn đến tình trạng cán bộ thanh tra, kiểm tra và người nộp thuế không tuân thủ luật, làm giảm tác động cảnh báo và ngăn ngừa của công tác thanh tra, kiểm tra thuế.
Mỗi nhân tố đều có tác động hai mặt, bao gồm cả tích cực và hạn chế Do đó, Cơ quan Thuế cần triển khai các giải pháp nhằm giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực và tối ưu hóa tác động tích cực, từ đó nâng cao hiệu quả và chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra thuế.
Kinh nghiệm của một số Cục Thuế về thanh tra, kiểm tra thuế đối với
1.5.1 Kinh nghiệm của Cục Thuế tỉnh Hà Nam về thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp
Năm 2019, Cục Thuế tỉnh Hà Nam đã triển khai công tác thanh tra, kiểm tra với sự tham gia của 02 Phòng Thanh tra, Kiểm tra thuế, 01 Phòng Quản lý Hộ kinh doanh cá nhân – Thu khác và 8 Đội Kiểm tra thuế tại 4 Chi cục Thuế, tổng cộng có 102 cán bộ công chức Lãnh đạo Cục đã chú trọng chỉ đạo tăng cường kiểm tra doanh nghiệp ngay từ đầu năm, dựa trên việc đánh giá, phân loại rủi ro từ dữ liệu kê khai và thông tin quản lý hồ sơ thuế Sự kết hợp này đã giúp công tác kiểm tra thuế trở nên thuận lợi, cho phép các bộ phận chủ động xây dựng nhiệm vụ kiểm tra, góp phần đưa công tác kiểm tra đi vào nề nếp, ổn định và đạt kết quả tích cực.
Tổng số hồ sơ kiểm tra tại cơ quan thuế đạt 25.458 hồ sơ, tăng 21% so với cùng kỳ năm trước Số thuế điều chỉnh tăng thêm đạt 19,8 tỷ đồng, tương đương 58% so với cùng kỳ.
Tổng số hồ sơ kiểm tra tại doanh nghiệp đạt 1.975 hồ sơ, tăng 28% so với cùng kỳ, với số truy thu và phạt quy đổi đạt 702 tỷ đồng, tăng 24% so với cùng kỳ Trong đó, số giảm lỗ là 405 tỷ đồng và số giảm khấu trừ là 32,5 tỷ đồng Để đạt được kết quả này, Cục Thuế tỉnh Hà Nam đã triển khai nhiều giải pháp hiệu quả.
Để nâng cao hiệu quả quản lý thuế, cần hoàn thiện các tiêu chí rủi ro và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin Việc sử dụng cơ sở dữ liệu người nộp thuế một cách hiệu quả sẽ hỗ trợ trong công tác kiểm tra và phân tích hồ sơ thuế, giúp lựa chọn doanh nghiệp có rủi ro cao để đưa vào kế hoạch kiểm tra từ đầu năm Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh nguồn nhân lực hiện tại chưa đáp ứng đủ với số lượng người nộp thuế ngày càng tăng.
Xây dựng các chuyên đề thanh tra và kiểm tra dựa trên thực tiễn nhằm rút ra kinh nghiệm chung, từ đó tạo điều kiện cho việc trao đổi học tập và nâng cao trình độ năng lực cho cán bộ làm công tác thanh tra kiểm tra thuế.
Để nâng cao hiệu quả công tác thanh tra kiểm tra, cần tăng cường đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ Đồng thời, việc bổ sung lực lượng cán bộ thanh tra có phẩm chất đạo đức, tâm huyết với nghề và trình độ chuyên môn cao là rất cần thiết.
- Tăng cường công tác kiểm tra giám sát các đoàn kiểm tra thông qua việc tuân thủ các quy trình kiểm tra, luật pháp thuế
Cơ cấu lại lực lượng và tăng cường công tác kiểm tra tại doanh nghiệp theo hướng chuyên đề, tập trung vào những lĩnh vực trọng tâm theo kế hoạch công tác năm của Lãnh đạo Cục.
Mỗi công chức kiểm tra đã nỗ lực nâng cao chuyên môn trong việc phân tích hồ sơ kiểm tra, đồng thời mở rộng quá trình xác minh để chuẩn bị tốt nhất trước khi thực hiện kiểm tra tại doanh nghiệp.
1.5.2 Kinh nghiệm của Cục Thuế thành phố Hà Nội về thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp
Năm 2019, Cục Thuế TP Hà Nội đã hoàn thành nhiệm vụ kiểm tra thuế trong bối cảnh kinh tế khó khăn nhờ sự chỉ đạo của lãnh đạo ngành và sự phối hợp hiệu quả giữa các cấp Cục Thuế đã tập trung nguồn lực và triển khai các giải pháp đồng bộ để chống thất thu thuế, quản lý hơn 100.000 doanh nghiệp với các hành vi vi phạm ngày càng tinh vi Trong năm, Cục đã kiểm tra 195.268 hồ sơ, điều chỉnh 2.756 hồ sơ với thuế tăng 120 tỷ đồng, hoàn thành 5.545 cuộc kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế và ban hành 4.471 quyết định xử lý với tổng số tiền truy thu, truy hoàn và phạt lên đến 925 tỷ đồng Các biện pháp kiểm tra đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng công tác thuế và giảm lỗ cho doanh nghiệp.
Hà Nội đã chỉ đạo công tác thuế một cách thường xuyên và sát sao, gắn liền với việc giám sát hoạt động Cục Thuế chủ động xây dựng kế hoạch phân tích sâu các dấu hiệu rủi ro tại trụ sở, đồng thời tăng cường phối hợp với các cơ quan điều tra Hoạt động thanh, kiểm tra thuế được thực hiện đồng bộ giữa các bộ phận, cùng với việc nâng cao ứng dụng công nghệ thông tin và đào tạo cán bộ thanh, kiểm tra thuế.
1.5.3 Bài học rút ra cho Cục Thuế tỉnh Bắc Kạn
Dựa trên kết quả thanh tra, kiểm tra thuế năm 2019 tại Cục Thuế tỉnh Hà Nam và Cục Thuế thành phố Hà Nội, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm quý báu cho công tác quản lý thuế trong tương lai.
Thứ nhất, công tác chỉ đạo điều hành phải thường xuyên, sát sao và gắn với việc giám sát hoạt động kiểm tra
Việc tuân thủ chỉ đạo của Tổng cục Thuế trong công tác thanh tra, kiểm tra thuế là cần thiết, đặc biệt đối với các ngành nghề có rủi ro cao Cần linh hoạt trong việc bổ sung nhiệm vụ kiểm tra dựa trên diễn biến rủi ro và tăng thu của doanh nghiệp trong các lĩnh vực ít bị ảnh hưởng bởi suy thoái kinh tế Đồng thời, cần thường xuyên báo cáo và đề xuất với các cơ quan có thẩm quyền để xử lý kịp thời những vướng mắc về chính sách trong quá trình kiểm tra Đối với các trường hợp quan trọng liên quan đến số thu lớn hoặc các giao dịch phức tạp, cần có quy định cụ thể từ Cục.
Cơ quan thuế đã tổ chức các buổi trao đổi ý kiến với các bộ phận chuyên môn, lãnh đạo cấp trên và các bên liên quan nhằm tìm kiếm phương án giải quyết phù hợp.
Việc giám sát hoạt động kiểm tra cần được tiến hành từ giai đoạn chuẩn bị quyết định kiểm tra cho đến khi hoàn tất, bao gồm lưu trữ hồ sơ, nhập báo cáo kết quả và đôn đốc thu nộp sau kiểm tra thông qua các biểu mẫu chuẩn hóa.
Công tác xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục Thuế thành phố Hà Nội được thực hiện thông qua phương pháp tính điểm rủi ro, với trách nhiệm gán điểm rủi ro cho 100% doanh nghiệp trên địa bàn Sau khi phân loại rủi ro, danh sách người nộp thuế sẽ được công khai để lấy ý kiến từ các bộ phận liên quan, nhằm thu thập thông tin bổ sung và sàng lọc kỹ lưỡng đối tượng thanh tra Khi kế hoạch đã được lựa chọn, dữ liệu tính điểm rủi ro tiếp tục được sử dụng để xác định doanh nghiệp trong kế hoạch kiểm tra, giúp tối ưu hóa quy trình và hạn chế tối đa việc lựa chọn không chính xác Việc kết hợp công nghệ thông tin và kinh nghiệm quản lý của cán bộ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra thuế.