Được tách ra từ khoa học nghiên cứu về tâm lý con người nói chung, tâm lý học xã hội, so với nhiều khoa học khác, hãy còn rất non trẻ. Tuy chưa phát triển tới mức hoàn chỉnh về mặt lý luận, cũng như còn phải phấn đấu nhiều về mặt thực nghiệm, nhưng với đối tượng đã được xác định rõ ràng, với những nhiệm vụ nghiên cứu riêng biệt và với những ứng dụng đã có hiệu quả cụ thể trong nhiều lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, nó cũng tự khẳng định được như một khoa học độc lập. Tâm lý học xã hội nghiên cứu nhiều vấn đề của đời sống tâm lý con người và xã hội. Trong đó có vấn đề về nhân cách.
Trang 1MỤC LỤC
Trang
I Nhân cách và cấu trúc nhân cách trong tâm lý học xã hội 04
1 Nhân cách như là đối tượng nghiên cứu của tâm lý 04 học xã hội
II Những yếu tố quy định sự hình thành nhân cách Vận dụng 08
trong giáo dục nhân cách quân nhân hiện nay
1 Những yếu tố quy định sự hình thành nhân cách 08 1.1 Các đặc điểm sinh lý cá nhân 08
1.3 Các đặc điểm tâm lý của cá nhân 12 1.4 Các đặc điểm về môi trường sống
2 Vận dụng trong giáo dục nhân cách quân nhân hiện nay 14
Trang 2MỞ ĐẦU
Được tách ra từ khoa học nghiên cứu về tâm lý con người nói chung, tâm lý học xã hội, so với nhiều khoa học khác, hãy còn rất non trẻ Tuy chưa phát triển tới mức hoàn chỉnh về mặt lý luận, cũng như còn phải phấn đấu nhiều về mặt thực nghiệm, nhưng với đối tượng đã được xác định rõ ràng, với những nhiệm vụ nghiên cứu riêng biệt và với những ứng dụng đã có hiệu quả
cụ thể trong nhiều lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, nó cũng tự khẳng định được như một khoa học độc lập Tâm lý học xã hội nghiên cứu nhiều vấn
đề của đời sống tâm lý con người và xã hội Trong đó có vấn đề về nhân cách
Nhân cách là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học và đối với mỗi ngành khoa học khác nhau nhân cách lại được nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau Trong tâm lý học xã hội vấn đề nhân cách cũng mang một số nét đặc trưng riêng, được nghiên cứu trong sự giao tiếp của cá nhân này với cá nhân khác, nhân cách phải được đặt trong hoàn cảnh cụ thể của một nhóm xã hội nào đó
Một trong những nhiệm vụ chính của tâm lý học xã hội là nghiên cứu các yếu tố quy định sự hình thành nhân cách, để từ đó tìm ra cách thức, biện pháp giáo dục nhân cách phù hợp Trong nhiệm vụ giáo dục nhân cách quân nhân hiện nay, nghiên cứu những yếu tố quy định sự hình thành nhân cách có ý nghĩa rất
to lớn trong tìm ra hệ thống các giải pháp giáo dục nhân cách quân nhân mang tính toàn diện đáp ứng mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa Xuất phát từ những vấn đề trên tác giả lựa chọn vấn đề “Những yếu tố quy định sự hình thành nhân cách trong Tâm lý học xã hội Vận dụng trong giáo dục nhân cách quân nhân hiện nay” làm chủ đề thu hoạch.
Trang 3NỘI DUNG
I Nhân cách và cấu trúc nhân cách trong tâm lý học xã hội
1 Nhân cách như là đối tượng nghiên cứu của tâm lý học xã hội
Nhân cách là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như triết học, xã hội học, đạo đức học, luật học, giáo dục học, y học v v trong đó có tâm lý học xã hội Đối với mỗi một nhà tâm lý họ có một định nghĩa tương đối độc lập về nhân cách riêng Có thể dẫn ra ở đây khái niệm nhân cách của S.Freud: Nhân cách đó là những tình cảm, những cố gắng và những tư tưởng phát sinh từ những mâu thuẫn của tính hiếu chiến của chúng
ta, động cơ thúc đẩy việc tìm kiếm để thoả mãn nhu cầu một cách sinh học và
sự kiềm chế xã hội chống lại chúng Theo S.Freud, nhân cách hình thành do những cố gắng giải quyết mâu thuẫn cơ sở này, nổ bày tỏ những sự thúc đẩy của cá nhân tiến tới sự thoả mãn trong phạm vi không phạm tội và bị trừng phạt Với quan niệm này S.Freud tựa hồ đã coi nhân cách như là khả năng kiềm chế bản năng của con người
Một số các nhà tâm lý học Liên Xô (cũ) như: Miashiev, Smirnốv, Malưsév , đã giải thích nhân cách như là hệ thống của các mối quan hệ Một
số khác, như Ananhiev, Platônnốp, Merlin , khẳng định rằng nhân cách không phải là tất cả con người mà chỉ là những phẩm chất xã hội Họ không coi nhân cách là chủ thể của hoạt động phương hướng này đã đưa đến việc hiểu tính xã hội và tính sinh học của con người là các thành phần tương đối độc lập kết hợp với nhau theo những tỷ lệ khác nhau
Dựa trên quan điểm của Rubinshtein, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nhân cách là tập hợp các điều kiện bên trong, qua chúng các tự động bên ngoài được khúc xạ Theo định nghĩa này, các yếu tố bên trong, như nhu cầu, kinh nghiệm, động cơ, đóng vai trò các yếu tố gây ra sự trả lời khác nhau của chủ thể đối với những kích thích giống nhau từ thế giới bên ngoài Từ đó, nhân cách chưa bộc lộ được những đặc thù của chính nó, bởi vì định nghĩa
Trang 4này còn có thể áp dụng đối với mọi sinh vật sống khác nữa Ý thức được nhược điểm này Platônnốp đưa ra khái niệm: nhân cách là con người có nhận thức Mặc dù tính đặc thù của con người đã được nhấn mạnh ở khái niệm trên, Platônnốp vẫn mắc sai lầm, cụ thể là đã lảng tránh bản chất hoạt động xã hội của nhân cách; sự tác động tương đối của con người và thế giới xung quanh Hai nhà tâm lý học Predvetmưi và Sherkhôvina cho rằng nhân cách là con người - chủ thể của hoạt động là nhân tố cải tạo thế giới, là chủ thể có nhận thức và tự nhận thức; Reivalđ, một nhà tâm lý học Xôviết khác, cho rằng hoạt động là biện pháp để hình thành và tồn tại nhân cách, nhân cách được thể hiện
ra cũng trong hoạt động Khi nghiên cứu các tổ chức tâm lý của nhân cách qua hoạt động, ông coi chúng là các hành vi có mục đích của hoạt động và tạo nên các giai đoạn trong cuộc sống của nhân cách
Dựa vào nguyên tắc hoạt động, các nhà tâm lý học Xôviết đã đưa ra một định nghĩa chung về nhân cách Theo họ, nhân cách là con người - chủ thể của hoạt động xã hội và nhờ hoạt động mà con người có được một vị trí nhất định giữa những người khác Các đặc điểm tâm lý của nhân cách thể hiện
ở chỗ nhân cách tiến đến cái gì và chạy khỏi cái gì, cũng như mức độ nhận thức, tổ chức, cường độ và kết quả của tính tích cực giải quyết các nhiệm vụ sống thiết thực
Trong từ điển tâm lý do bác sĩ Nguyễn Khắc Viện chủ biên có định nghĩa về nhân cách như là tổng hoà tất cả những gì hợp thành một con người, một cá nhân, với bản sắc và cá tính rõ nét, với các đặc điểm thể chất (tạng), tài năng, phong cách, ý chí, đạo đức vai trò xã hội Nhân cách là một cá nhân
có có ý thức về bản thân, đã tự khẳng định được, giữ được phần nào tính nhất quán trong mọi hành vi Mặc dầu đây là một định nghĩa khá đầy đủ về nhân cách, nó cũng vẫn chưa thoát ra khỏi khái niệm về các đặc điểm tâm lý của cá nhân Nói tóm lại các khái niệm và định nghĩa về nhân cách thì có nhiều, nhưng nội dung của chúng chưa hẳn đã thật chính xác và mô tả được đầy đủ
Trang 5các đặc tính và những yếu tố đặc thù cho nhân cách Hy vọng rằng với sự phát triển của tâm lý học nói chung và tâm lý học nhân cách nói riêng, chúng ta sẽ
có những nghĩa chính xác hơn về nhân cách
Nhìn chung, các nhà tâm lý học cũng như các nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác hầu như đều cho rằng nhân cách là tập hợp các phẩm chất, đặc điểm sinh lý, các đặc tính xã hội, các thuộc tính tâm lý của mỗi cá nhân Nhân cách chính là những chủ thể đại diện cho các mối quan hệ xã hội Tâm lý học xã hội nghiên cứu nhân cách trong các nhóm xã hội nhất định Tại
đó, mỗi cá nhân mang những đặc điểm chung, đặc trưng cho nhóm xã hội cụ thể và được gọi là nhân cách xã hội Điều đó có nghĩa là, nhân cách xã hội tham gia vào một nhóm xã hội nhất định, mang những đặc điểm chung, đặc trưng cho nhóm xã hội đó và chính quá trình hoạt động và giao tiếp của nhóm chi phối các hành vi của nhân cách - đối tượng mà chúng ta quan tâm
Để hiểu rõ hơn về khái niệm nhân cách, chúng ta sẽ xem xét cấu trúc của nó Cũng như khái niệm nhân cách, cấu trúc nhân cách là một vấn đề được mỗi nhà khoa học hiểu theo một cách riêng và có những lý giải riêng, dựa trên những cơ sở lý luận khác nhau
2 Cấu trúc nhân cách
Mặc dù còn nhiều tranh cãi xung quanh khái niệm cấu trúc nhân cách,
nó cũng đã được các nhà tâm lý học quan tâm và số lượng các thực nghiệm về vấn đề này chiếm một vị trí không nhỏ trong tâm lý xã hội cũng như nhiều phân ngành tâm lý học khác nữa, như tâm lý học cá nhân, tâm lý học trị liệu, tâm thần kinh học, v v
Dựa trên quan điểm của trường phái hoạt động, đi từ sự phân tích các cấu trúc nhân cách của các nhà tâm lý học Xôviết, Rievalđ đã đưa ra một sơ
đồ chung về trúc tâm lý nhân cách
Theo Rievalđ, các hiện tượng tâm lý thực hiện các chức năng đa dạng trong hoạt động như: chức năng kích thích, chức năng định hướng, chức năng
Trang 6kiểm tra, chức năng đánh giá và chức năng điều khiển Để hiểu cấu trúc của nhân cách, ông cho rằng trước hết cần phải biết rõ các động cơ hiện tại của
nó Khi xem xét sự khác nhau của nhân cách, Reivald cho rằng bản chất xã hội cho phép đưa ra các kiểu định hướng chính của nhân cách Những định hướng giá trị khác nhau đã tạo nên các kiểu loại nhân cách thể hiện các bản chất xã hội khác nhau, các phẩm chất tâm lý khác nhau và các quan điểm sống khác nhau Ông ta cho rằng kiểu định hướng giá trị là đặc điểm tâm lý
xã hội chính của nhân cách
Từ hướng khác, Aphanashev khẳng định: tính cá nhân không chỉ có đặc điểm riêng tồn tại ở một con người, mà còn có cả những đặc điểm chung và các thuộc tính của loài người Từ đó mỗi tính chất và cấu trúc nhân cách nói chung cần phải được tiếp tục phân tích theo ba tham số: 1- tính nhận thức hoặc là mức độ định hướng; 2- tính tổ chức; 3- Năng lực (cường độ, sự căng thẳng, phạm vi thể hiện) Như vậy, nhân cách phải được phân tích từ quan điểm về các đặc điểm của nhận thức, ý chí và cảm xúc Sự phân chia này tương tự như sự phân chia các hiện tượng tâm lý thành trí tuệ, tình cảm và ý chí Nhân cách còn được phân chia thành khí chất, tính cách và năng lực xã hội Các yếu tố hợp thành nhân cách thì được chia ra thành các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài v.v Có thể nói, mỗi khái niệm nhân cách thường phác hoạ ra một cấu trúc nhân cách tương ứng với nó Chính vì vậy,
sự đầy đủ của khái niệm về cấu trúc nhân cách chỉ có thể có được khi có khái niệm chính xác về nhân cách
Một vấn đề được đặt ra sau khi xem xét khái niệm và cấu trúc nhân cách chính là quá trình hình thành và phát triển nhân cách Nói cách khác, từ một cá thể, để trở thành một nhân cách cần trải qua một quá trình xã hội hoá
cá nhân, cá nhân tự phát triển về cả tâm lý và sinh lý trong mối quan hệ tương
hỗ với môi trường xung quanh, với các nhóm mà nó là thành viên Đó chính
là quá trình phát triển và tự hoàn thiện của nhân cách
Trang 7Quá trình xã hội hoá cá nhân và các đặc điểm tâm lý của cá nhân trong nhóm đã được nói tới ở các phần khác của cuốn sách Tiếp theo, nhiệm vụ của chúng ta sẽ giới hạn ở việc làm sáng tỏ các yếu tố chính, qui định sự hình thành và tự hoàn thiện của nhân cách
II NHỮNG YẾU TỐ QUY ĐỊNH SỰ HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH VẬN DỤNG TRONG GIÁO DỤC NHÂN CÁCH QUÂN NHÂN HIỆN NAY
1 Những yếu tố quy định sự hình thành nhân cách
1.1 Các đặc điểm sinh lý cá nhân
Các đặc điểm sinh lý của cá nhân chính là đối tượng nghiên cứu của một phân ngành quan trọng trong tâm lý học, đó là tâm sinh lý học Ta có thể dẫn ra ở đây một sơ đồ khá đầy đủ các đặc điểm sinh lý con người do nhà bác học Nga Anhiev đưa ra như sau: Các đặc điểm sinh lý của con người bao gồm hai nhóm lớn: thứ nhất là các đặc điểm về lứa tuổi và tình dục; thứ hai là những đặc điểm cá thể đặc trưng Nhóm thứ nhất bao gồm các quá trình phát triển và thay đổi về lứa tuổi trong sự lớn lên và trưởng thành của cá thể, cũng như quá trình phát triển tình dục của nó
Nhóm các đặc điểm thứ hai chia thành ba nhóm nhỏ: 1- các đặc điểm
về thể chất (cơ địa, các đặc điểm sinh hoá của cơ thể v.v…); 2- quá trình phát triển và hoàn thiện của hệ thần kinh, cùng với các đặc tính của nó; 3- các chức năng và sự bất đối xứng của hai bán cầu đại não
Các đặc điểm sinh lý nói trên chính là những điều kiện cơ sở để hình thành các quá trình tâm sinh lý nảy sinh và giải quyết những nhu cầu sống Một trong những dạng cao nhất, liên kết các đặc điểm sinh lý của cá nhân là khí chất và năng khiếu
Khí chất - đó là những nét đặc trưng, mang tính chất bẩm sinh, trong các đặc tính hoạt động của mỗi cá nhân như: cường độ, vận tốc, nhịp độ, nhịp điệu của các quá trình cũng như các trạng thái tâm lý Hai yếu tố quan trọng nhất của khí chất là hoạt độ và độ cảm xúc Hoạt độ biểu hiện qua mức độ của
Trang 8nghị lực xu hướng và tốc độ của hoạt động nhanh, linh hoạt; hay ngược lại, chậm chạp bảo thủ Độ xúc cảm được dùng để chỉ các tính chất của quá trình tình cảm, cảm xúc và trạng thái tâm lý, cũng như là nội dung của chúng, cụ thể là vui hay buồn, đau khổ hay sợ hãi, giận dữ hay tuyệt vọng v.v…
Năng khiếu được coi là những đặc tính bẩm sinh về giải phẫu và sinh lý học của hệ thần kinh và não Nó tạo nên cơ sở cho sự phát triển tài năng, năng lực con người nói chung
Về năng khiếu, cũng như về khí chất hiện chưa có một học thuyết nào xác định được rõ ràng nội dung cũng như cấu trúc của chúng Hơn nữa các học thuyết tâm sinh lý học cũng chưa chỉ rõ được việc cầu tạo hệ thần kinh ảnh hưởng cụ thể như thế nào tới khí chất và năng khiếu con người
Về bản chất mà nói các khái niệm nêu trên đều mang tính trực giác và kinh nghiệm, nhiều hơn là tính khoa học Tuy vậy, một điều không thể phủ nhận được là các đặc tính sinh lý của cá nhân ảnh hưởng rất lớn đến nhân cách Nhiều nghiên cứu và thực nghiệm trong tâm lý học đã chứng minh những ảnh hưởng đó
Rõ ràng nhất, có thể nhận thấy là các tính chất sinh lý quyết định hình thức hoạt động của cá nhân cũng như mặt năng lượng của các quá trình tâm
lý Việc bỏ qua nhận định này đã dẫn tới sai lầm của nhiều nhà khoa học tự nhiên, khi cho rằng có thể điều khiển hành vi cá nhân một cách tuyệt đối theo
ý muốn, nhờ vào sự tác động của một số yếu tố bên ngoài nhất định Việc thất bại của một số cha mẹ học sinh muốn nhồi nhét kiến thức một cách áp đặt cho con cái mà không tính đến các đặc điểm nhận thức cũng như các đặc điểm tư duy của chúng cũng là một chứng minh nữa cho nhận định trên
Bên cạnh đó, các đặc tính sinh lý của cá nhân còn ảnh hưởng tới sự lựa chọn hoạt động của con người Trở thành vận động viên, trở thành hoạ sĩ, nhà thơ, người lao động chân tay hay người lao động trí óc, một phần do các tác động ra xã hội, lòng mong muốn cũng như hướng dẫn đào tạo của môi trường
Trang 9khách quan, nhưng phần quan trọng hơn lại là những tố chất, năng khiếu, khí chất - những yếu tố bẩm sinh của con người Chúng ta có tự dạy thể dục, thể thao cho một em bé tật nguyền để bằng cách đó nâng cao sức khoẻ thể chất cũng như tinh thần của em, nhưng chúng ta không thể biến em thành vô địch điền kinh hay nhà thể thao chuyên nghiệp nào khác Tương tự như vậy, một
em bé mù bẩm sinh không thể trở thành hoạ sĩ hay nhạc sĩ
Mặc dù vậy, đối với những đứa trẻ tật nguyền, chúng vẫn có thể mơ ước và thực sự chưa tự giới hạn phạm vi hoạt động của mình (dù là trong ý nghĩ) cho tới khi người ta nói với chúng về thể trạng cũng như các hạn chế của chúng Việc thông tin ngược lại các đặc điểm sinh lý của các cá nhân với
họ đã biến các đặc điểm đó trở thành những dấu hiệu mang tính tượng trưng Chính những dấu hiệu đó đóng vai trò điều chỉnh hành vi và nhân cách
Chiều ngược lại của thông tin về các đặc điểm sinh lý chính là cơ sở để con người học cách tự điều khiển các quá trình bên trong cơ thể mình Mặt khác, việc con người sử dụng các đặc điểm sinh lý của mình như những dấu hiệu hay phương tiện để tư điều chỉnh, tạo nên những nét đặc trưng hình thành một phong cách cá nhân riêng trong các hành vi cũng như ý thức hay tiềm thức
Với những nhận định trên, một lần nữa chúng ta có thể khẳng định vai trò của các đặc điểm sinh lý đối với sự hình thành và phát triển nhân cách Tuy nhiên, việc nhấn mạnh một cách cực đoan các yếu tố sinh lý có thể làm
mờ nhạt bản chất xã hội của nhân cách
Trong các điều kiện xã hội và lịch sử cụ thể, các đặc điểm sinh lý nhất định có thể có tác động khác nhau tới sự phát triển của nhân cách Ví dụ đơn giản nhất ta có thể thấy là: nếu như đối với phụ nữ thời hiện đại, sự mảnh mai mang lại danh hiệu hoa khôi, thì đối với phụ nữ thời phục hưng, sự đầy đặn, tròn trĩnh của các đường nét mới mang lại cho họ sắc đẹp hoàn mỹ Tuy đó chỉ là cái đẹp có tính tương đối, nhưng nó có ảnh hưởng không nhỏ tới định
Trang 10hướng giá trị, ý thức về bản thân cũng như hành vi ứng xử của nhiều phụ nữ, tạo nên những nhân cách khác nhau Đó chính là một trong những ảnh hưởng của yếu tố xã hội, quan hệ xã hội lên nhân cách
1.2 Yếu tố xã hội
Các thành viên của các nhóm xã hội, các dân tộc thường mang một số đặc tính riêng trong hành vi và cách ứng xử đặc trưng cho nhóm, cho dân tộc của mình, mà nhiều khi chính họ không ý thức được điều đó Trong đời thường, cũng như trong ngôn ngữ khoa học, chúng ta thường gặp những nhận xét như: người Nhật rất cần cù, yêu lao động, người Đức ưa chính xác và tiết kiệm, v.v… Những nhận xét này có thể đúng, hoặc sai Nhưng một khi những nhận xét đó đã được nghiên cứu và chứng minh bằng các phương pháp khoa học thì chúng được gọi là tính cách xã hội khi nói về một nhóm xã hội, hoặc tính dân tộc khi nói về một dân tộc
Như vậy nhân cách hình thành trong một nhóm, trong một xã hội hay trong một dân tộc, nhất định sẽ có những hành vi và những đặc tính rập khuôn theo một số chuẩn mực của nhóm, của xã hội hay dân tộc đó Mặt khác, trong quá trình phát triển của nhân cách ở môi trường xã hội luôn thay đổi, nhân cách buộc phải đối diện với những bước ngoặt lớn và điều đó sẽ thúc đẩy quá trình hình thành những chuẩn mực giá trị mới, những phong cách sống mới, những tâm thế mới, những phương thức hành vi mới v.v…
Trong số những thay đổi mang tính chất bước ngoặt đối với nhân cách,
có ba thay đổi đáng được nhắc tới nhất Thứ nhất là sự thay đổi về lứa tuổi, ví
dụ, từ trẻ con qua dậy thì sang tuổi thanh niên, từ thanh niên trở thành người đứng tuổi và từ người đứng tuổi bước sang tuổi già Chúng ta thường gặp những hành vi, ứng xử bị coi là không phù hợp với lứa tuổi
Bước ngoặt thứ hai đáng nói tới trong quá trình phát triển nhân cách là việc thay đổi vị trí và cương vị xã hội Khi các quyền hành, nghĩa vụ cùng các quyền lợi gắn liền với cương vị cũ đã thay đổi, nhân cách buộc phải làm quen