1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN - HỌC THUYẾT MÁC VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI LÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG XÂY DỰNG NỀN TÂM LÝ HỌC MÁCXÍT. Ý NGHĨA CỦA VẤN ĐỀ

23 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 126 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau khi ra đời với tư cách là khoa học độc lập vào năm 1879, tâm lý học thế giới đi vào cuộc khủng hoảng. Đó là cuộc khủng hoảng về phương pháp luận. W. Wundt đã đóng góp công lao to lớn cho sự ra đời của Tâm lý học với tư cách là một khoa học độc lập, nhưng tâm lý học của Wundt thực chất là tâm lý học duy tâm. Bằng phương pháp nội quan trong việc nghiên cứu tâm lý, nền tâm lý học này cũng đã đi vào bế tắc.

Trang 1

VẤN ĐỀ TRONG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN TÂM LÝ HỌC

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Năm 1879 Tâm lý học ra đời ở Đức với tư cách là một khoa học độclập gắn liền với vai trò của W.Wundt khi ông tổ chức ra phòng thực nghiệmtâm lý đầu tiên trên thế giới Nhưng do những hạn chế về thế giới quan vàphương pháp luận trong việc nghiên cứu tâm lý người nên cuối thế kỷ XIX,đầu thế kỷ XX tâm lý học rơi vào tình trạng khủng hoảng trên con đường xâydựng tâm lý học trở thành một khoa học thực sự khách quan phục vụ cho cuộcsống của con người Trong hoàn cảnh đó, một loạt các trường phái tâm lý họckhách quan ra đời như: Tâm lý học Gestalt; Tâm lý học hành vi; Phân tâmhọc… với nguyện vọng chung là đưa tâm lý học thế giới thoát khỏi cuộckhủng hoảng đó Tuy nhiên, các trường phái tâm lý học đó đều không dựatrên một cơ sở lý luận và phương pháp luận đúng đắn nên không có cách nhìnbiện chứng về con người, về hoạt động của con người, từ đó dẫn đến quanniệm không đúng về đối tượng và sử dụng các phương pháp nghiên cứu theo

tư duy siêu hình, cơ học của chủ nghĩa thực chứng Do đó, các trường pháinày cũng không đảm nhiệm được sứ mệnh đưa tâm lý học thoát khỏi cuộckhủng hoảng, trở thành một khoa học thực sự khách quan, đáp ứng đượcnhững đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống Từ hoàn cảnh lịch sử đó, nhu cầu xâydựng lại tâm lý học từ cơ sở nền tảng của nó là một đòi hỏi tất yếu Chính từtình hình đó đã tạo điều kiện cho sự ra đời của Tâm lý học Mác xít – nền tâm

lý học dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của triết học Mác Trong

đó học thuyết Mác về con người, về hoạt động của con người và về ý thứcđược coi là ba tiền đề tư tưởng quan trọng nhất để xây dựng nền tâm lý họcMác xít Trong phạm vi bài tiểu luận này, xin được đề cập, làm rõ học thuyếtMác về hoạt động của con người, với tư cách là nền tảng tư tưởng, xuất phátđiểm để xây dựng nền tâm lý học Mác xít Việc nghiên cứu làm sáng tỏ vấn

đề này có giá trị to lớn cả về mặt lý luận và thực tiễn, góp phần làm rõ tínhkhách quan, khoa học, chiều hướng phát triển của tâm lý học Mác - xít; là cơ

Trang 2

sở vận dụng, xây dựng và phát triển nền tâm lý học Việt Nam nói chung, nềntâm lý học quân sự nói riêng

1 Khái quát tình hình của tâm lý học sau năm 1879

Sau khi ra đời với tư cách là khoa học độc lập vào năm 1879, tâm lýhọc thế giới đi vào cuộc khủng hoảng Đó là cuộc khủng hoảng về phươngpháp luận W Wundt đã đóng góp công lao to lớn cho sự ra đời của Tâm lýhọc với tư cách là một khoa học độc lập, nhưng tâm lý học của Wundt thựcchất là tâm lý học duy tâm Bằng phương pháp nội quan trong việc nghiêncứu tâm lý, nền tâm lý học này cũng đã đi vào bế tắc Từ đó xuất hiện nhiềudòng phái tâm lý học chống lại tâm lý học nội quan của Wundt và đề xuấtnhững con đường phát triển mới cho tâm lý học Tiêu biểu phải kể đến cáctrường phái tâm lý học khách quan như: tâm lý học hành vi, tâm lý họcGestalt, phân tâm học Những thành tựu mà các trường phái tâm lý học nàyđạt được đã để lại dấu ấn to lớn trong lịch sử phát triển của khoa học tâm lý

Tâm lý học hành vi ra đời vào năm 1913 ở Mĩ từ một bài báo có tínhchất cương lĩnh do J.Watson (1878-1958) viết với tiêu đề “Tâm lý học từnhững quan điểm của nhà hành vi” Tâm lý học hành vi tuyên bố không quantâm đến việc mô tả giảng giải các trạng thái tâm lý của ý thức mà chỉ quantâm đến hành vi của tồn tại người Đối tượng của tâm lý học hành vi là hành

vi Hành vi được xem như là tổ hợp các phản ứng của cơ thể trước các kíchthích của môi trường bên ngoài Quan sát cũng như giải thích hành vi đềuphải tuân theo công thức S - R (Stimulant: Kích thích; Reaction: Phản ứng).Điều đó có nghĩa là bất kỳ một hành vi nào của người và động vật đều có thểquan sát, nghiên cứu, phân tích một cách khách quan Có thể nhận thấy, côngthức S - R của tâm lý học hành vi cổ điển do J.Watson đưa ra rõ ràng có mộtkhiếm khuyết bởi có thể cùng một kích thích S như nhau nhưng lại có thể thu

về các R khác nhau ở các con người hoặc ở cùng một con người trong nhữngđiều kiện hoàn cảnh khác nhau Điều này liên quan đến yếu tố thuộc về chủthể phản ứng Vì vậy, dẫn đến sự phân hóa của dòng phái tâm lý học này.Những nhà tâm lý học chủ trương đưa vào công thức cổ điển S - R một biến

số trung gian gọi là những nhà hành vi mới mà tiêu biểu là C.Hall

Trang 3

(1884-1952), E.Tolman (1886-1959), E.Garơđi (1886-1959) Nổi bật trong các tácgiả của thuyết hành vi mới là E.Tolman E.Tolman và các cộng sự của ông đãđưa vào giữa S và R yếu tố trung gian liên quan đến điều kiện môi trường.Khi kích thích S tác động đến cơ thể thì điều kiện môi trường ra sao Đồngthời, tại thời điểm kích thích S phát huy tác dụng thì trạng thái, nhu cầu cơ thểdiễn ra như thế nào? Tuy nhiên, việc bổ sung này của E.Tolman và nhữngcộng sự của ông đã không thay đổi và khắc phục được thiếu sót căn bản củatâm lý học hành vi là loại bỏ ý thức, xem hành vi với tư cách là tổng các phảnứng của cơ thể trước các kích thích bên ngoài là đối tượng nghiên cứu củatâm lý học Trong những người kế tục những quan điểm tư tưởng của thuyếthành vi do J.Watson đề xướng từ những năm 1913 một cách trung thành nhất,phải kể đến B.F.Skinner Skinner công khai chủ trương tuân thủ nghiêm ngặtcác nguyên lý của thuyết hành vi cổ điển đồng thời gia công, phát triển thêmtạo nên chủ nghĩa hành vi bảo thủ, đặc biệt phải kể đến các luận điểm về hành

vi xã hội và tạo tác của ông

Như vậy, luận điểm cơ bản của thuyết hành vi coi con người chỉ là cơthể riêng lẻ chỉ có khả năng phản ứng Vì vậy, cơ thể này hoàn toàn phụ thuộcvào các kích thích tác động vào cơ thể Mục đích của con người chỉ còn lại làlàm sao sống còn được, mà muốn vậy thì chỉ cần thụ động thích nghi với môitrường xung quanh Vấn đề hình thành và phát triển hành vi trong lý thuyết nàychỉ còn là vấn đề tạo ra một hệ thống kích thích để tạo ra các phản ứng theo ýmuốn của một ai đó Đó là một hình thái hành vi thấp kém Điều đó chứng tỏrằng trong lý thuyết này không còn phạm trù hành vi nữa chỉ còn lại phạm trùphản ứng Con người trong thuyết hành vi là con người không có ý thức, chỉnhư một cái máy Đây là quan điểm tự nhiên chủ nghĩa, quan điểm thực dụng,phi lịch sử về con người Vì vậy, toàn bộ sự phấn đấu trong suốt gần bảy mươinăm qua của Watson và những người kế nghiệp ông đã không hoàn thành sứmệnh lịch sử, không làm được cuộc cách mạng vứt bỏ xiềng gông của tâm lýhọc truyền thống Nhiều lắm là họ mới chỉ làm được một cuộc khởi nghĩa mởđầu cuộc đấu tranh mãnh liệt vì một nền tâm lý học khách quan Đó là sự đónggóp to lớn của các nhà nhà vi Mỹ vào sự nghiệp xây dựng tâm lý học

Trang 4

Tâm lý học Gestalt ra đời vào năm 1913, thời kỳ khủng hoảng của tâm

lý học thế giới, do các nhà tâm lý học cấu trúc người Đức là M Wertheimer(1880-1943), V.Kohler ( 1887-1967), K Koffka (1886-1941) lập ra Đây làmột trường phái chuyên nghiên cứu về tri giác, ít nhiều nghiên cứu về tư duycon người nhằm chống lại tâm lý học nội quan, đồng thời chống lại cả tâm lýhọc liên tưởng, tham vọng xây dựng một nền tâm lý học khách quan theo kiểumẫu của vật lý học Tâm lý học Gestalt phát triển chủ yếu trong những năm

20 của thế kỷ XX, hiện nay nó không còn tồn tại là một trường phái độc lập,

có quan điểm, phương pháp luận và hệ phương pháp nghiên cứu riêng Tuyvậy tâm lý học Gestalt đã có những đóng góp tích cực, có vị trí nhất địnhtrong việc phát hiện và xây dựng nền tâm lý học khách quan Các qui luật màcác nhà Gestalt tìm ra hiện nay vẫn được tiếp tục nghiên cứu và vận dụng vàothực tiễn cuộc sống Sự xuất hiện của tâm lý học Gestalt đã đáp ứng đòi hỏikhách quan của khoa học tâm lý học: phải trở thành một khoa học khách quanthực sự Trường phái Gestalt cũng để lại nhiều hiện tượng khoa học và một sốqui luật cho đến nay vẫn được nhắc tới và được vận dụng trong thực tiễn cuộcsống, nhất là trong lĩnh vực hội hoạ, nghệ thuật, sân khấu, điện ảnh, thờitrang

Phân tâm học là một dòng phái tâm lý học đi sâu vào nghiên cứu hiệntượng vô thức trong con người, coi vô thức là mặt chủ đạo của đời sống tâm

lý người, là đối tượng thực sự của tâm lý học Người sáng lập ra Phân tâm học

là nhà tâm lý học, bác sỹ thần kinh và tâm thần người Áo gốc Do TháiS.Freud (1856-1939) Học thuyết phân tâm của Freud được xây dựng trênkhái niệm vô thức Freud quan niệm, tất cả các hiện tượng tâm thần người vềbản chất là hiện tượng vô thức Vô thức là phạm trù chủ yếu trong đời sốngtâm lý con người Mọi hoạt động trong tâm trí đều bắt nguồn trong vô thức vàtuỳ theo tương quan của những lực lượng thôi thúc và ngăn cản được biểuhiện ra theo những qui luật khác hẳn với ý thức Trong các loại vô thức thìđam mê tính dục có một vị trí đặc biệt quan trọng trong toàn bộ đời sống tâm

lý con người Đam mê tính dục rạo ra nguồn năng lực cực kỳ mạnh mẽ gọi làlibiđô, đó là cội nguồn của mọi cội nguồn tinh thần, là nguyên nhân của mọi

Trang 5

bệnh tâm thần cũng như các khả năng lao động sáng tạo ở con người Vai tròquan trọng của cái vô thức trong đời sống tâm lý người được S.Freud làm rõtrong các công trình nghiên cứu về bệnh Hystêri, về giấc mơ và về lý thuyếttính dục cũng như về nhiều vấn đề khác trong các nghiên cứu cụ thể của ông.Trên cơ sở của chữa trị bệnh Hystêri, phân tích lý giải các giấc mơ Freud đã

đi đến xác định bộ máy tâm thần con người bao gồm: cái nó, cái tôi và cáisiêu tôi Trên cơ sở đó, ông xây dựng lý thuyết tổng quát về các chứng nhiễutâm và đề xuất phương pháp trị liệu bệnh tâm thần bằng “tự do liên tưởng”nhằm “giải toả tâm lý” Có thể thấy rằng, do quá nhấn mạnh đến mặt vô thứctrong con người, Freud đã không thấy được mặt bản chất ý thức của conngười, không thấy được bản chất xã hội - lịch sử của các hiện tượng tâm lýngười Luận điểm, động lực của mọi hoạt động tâm lý người là cái vô thứcgắn liền với các đam mê tính dục là một luận điểm không đúng Quan niệm

về con người và nhân cách con người trong phân tâm học Freud cũng bộc lộnhững khía cạnh không đúng đắn Con người trong học thuyết phân tâm làcon người cơ thể, con người sinh vật bị phân ly ra nhiều mảng, con người vớinhững mong muốn chủ yếu là thoả mãn các đam mê tính dục, con người đốilập với xã hội

Do những quan niệm sai lầm như ở trên, một số học giả kế tục Freud

đã cố gắng tìm cách khắc phục các hạn chế của phân tâm học, mong muốnxây dựng một phân tâm học mới Đó là một trào lưu triết học và tâm lý học tưsản hiện đại xuất hiện vào cuối những năm 30 của thế kỷ XX do các đồ đệ củaFreud thực hiện như Jung (1897-1961) - người có công phát triển học thuyếtFreud, người tuyên truyền phổ biến Freud; Adler (1870-1937); K.Horney vàngười nổi bật trong số này là Erich Fromm (1900-1980) nhằm khắc phục một

số hạn chế của phân tâm học của Freud Họ định đem những yếu tố xã hộicộng một cách máy móc với các yếu tố bản năng để lý giải thế giới tinh thần,tâm lý của con người Nhưng trong phép cộng máy móc ấy, các yếu tố bảnnăng vẫn giữ vai trò chủ đạo Do đó, họ không vượt qua được giới hạn, bế tắccủa tâm lý học Freud Như vậy, mặc dù còn có những hạn chế nhất đinh song

sự xuất hiện của phân tâm học một cách khách quan đã làm cho tâm lý học

Trang 6

phát triển Những thành tựu mà Freud mang đến cho khoa học loài người nóichung, tâm lý học nói riêng là một khám phá vô cùng lớn về một mảng hiệntượng vô thức ở con người mà cho đến nay trên lĩnh vực này chưa có ai vượtqua được Freud

Tóm lại, các trường phái tâm lý học khách quan đã có đóng góp khôngnhỏ trong việc tìm kiếm con đường phát triển mới cho tâm lý học Nhữngthành tựu mà các trường phái này đạt được có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với

sự phát triển của khoa học tâm lý Tuy nhiên, do điều kiện xã hội lịch sử, dothiếu những cơ sở lý luận và phương pháp luận đúng đắn, các dòng phái tâm

lý học này còn có những hạn chế nhất định, không thực hiện được cuộc cáchmạng để đưa tâm lý học trở thành một khoa học thực sự khách quan, đúngnhư GS, VS Phạm Minh Hạc đã viết trong tác phẩm “Hành vi và hoạt động”:

“tâm lý học phân tâm mới bước lên đường xây dựng tâm lý học khách quan,nhưng với các quan điểm cơ bản về con người và tâm lý người còn chưa thoátkhỏi phạm vi của thuyết sinh vật hóa con người và tâm lý người, chưa thấyđược bản chất xã hội – lịch sử của con người và tâm lý người Cho nên tâm lýhọc phân tâm, cũng như tâm lý học hành vi và tâm lý học Gestalt đều khôngđạt tới đích thực sự nghiên cứu thế giới tâm lý trong cuộc sống thực của conngười” Chính vì vậy đã dẫn đến cuộc khủng hoảng lần thứ hai trong tâm lýhọc thế giới hay còn gọi là cuộc khủng hoảng của tâm học tư sản hiện đại màthực chất là sự bế tắc trong việc xác định phương hướng cho sự phát triển tâm

lý học cụ thể là là bế tắc trong việc xác định cơ sở phương pháp luận, phươngpháp tiếp cận để nghiên cứu tâm lý và quan niệm về bản chất tâm lý cũng nhưđối tượng nghiên cứu của tâm lý học Chính trong hoàn cảnh đó, tâm lý học

Xô Viết hay còn gọi là nền tâm lý học Mác-xít ra đời

2 Học thuyết Mác về hoạt động của con người và quá trình hình thành nền tâm lý học Mác xít

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tâm lý học rơi vào tình trạng bế tắc,không đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống Từ hoàn cảnhlịch sử đó, nhu cầu xây dựng một nền tâm lý học thực sự khách quan khoahọc là một đòi hỏi tất yếu Các nhà tâm lý học Liên Xô (cũ) thời kỳ này như

Trang 7

K.N.Coocnhilôp, L.X Vưgôtxki, P.P Bơlônxki…nhận thấy các dòng pháitâm lý học trước đó có nhiều khiếm khuyết và đã cố gắng cải tổ nền Tâm lýhọc Liên xô trên cơ sở triết học Mác - xít Năm 1920, trong tác phẩm “Cảicách khoa học”, P.P.Blônxki đã viết: Tâm lý học phải hướng theo chủ nghĩaMác Tiếp thu chiều hướng suy nghĩ đó, năm 1923, trong Báo cáo “Chủ nghĩaMác và Tâm lý học” đọc tại hội nghị toàn quốc về Tâm lý học thần kinh,K.N.Coocnhilôp đưa ra tuyên bố: Tâm lý học phải đoạn tuyệt với triết học nhịnguyên, phải đoạn tuyệt với Tâm lý học kinh nghiệm chủ nghĩa, phải từ bỏkhoa học tư biện, siêu hình Muốn trở thành một khoa học thực sự kháchquan, tâm lý học phải là tâm lý học Mác - xít Tư tưởng đó đã trở thành ngọn

cờ tập hợp những nhà tâm lý học Liên Xô tập trung nghiên cứu xây dựng mộtnền Tâm lý học kiểu mới - nền tâm lý học Mác - xít

Sự ra đời của tâm lý học Mác xít gắn liền với tên tuổi của nhà tâm lý học

người Nga L.X Vưgốtxki Năm 1925, ông đã viết bài báo “Ý thức như một

vấn đề của tâm lý học hành vi” trong đó, ông đã phân tích sự khủng hoảng

của tâm lý học và đưa ra khuyến cáo nhằm xây dựng một nền tâm lý học kiểumới: tâm lý học theo chủ nghĩa Mác Đây được coi là cương lĩnh mở đầu xâydựng nền tâm lý học Mác xít Theo Vưgốtxki, tất cả các dòng phái tâm lý học

cũ, các dòng phái tâm lý học khách quan đều không thể dùng làm khởi điểm xâydựng nền tâm lý học kiểu mới nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng trong tâm lýhọc Muốn xây dựng một nền tâm lý học kiểu mới thực sự khách quan khoa họcthì phải bắt tay xây dựng lại từ những cơ sở nền tảng của nó Bằng các lập luậnsắc sảo thuyết phục Vưgốtski đã đưa ra các nhận xét, đánh giá và đề xuất cáchtháo gỡ tình trạng khủng hoảng trong tâm lý học hiện thời, khẳng định sự cầnthiết phải xây dựng một nền tâm lý học thực sự khách quan khoa học, trong

đó: Nền tâm lý học mới phải nghiên cứu cả hành vi lẫn ý thức Nhưng cả

hành vi lẫn ý thức đều là vấn đề vô cùng phức tạp Ý thức và hành vi đềucùng tồn tại một cách khách quan có thực, đều có vai trò quan trọng trong

cuộc sống của con người Muốn hiểu được ý thức thì phải hiểu hành vi và

ngược lại khi xét đến hành vi, không thể không xét đến ý thức Với phạm trù

Trang 8

hành vi, không được hiểu như tâm lý học hành vi đã hiểu trong đó quan niệmhành vi là tổ hợp của các phản xạ, là phản ứng máy móc nhằm giúp cơ thểthích nghi với môi trường Hành vi theo ông đó là “cuộc sống”, là “lao động”,

là “thực tiễn” Hành vi chính là hoạt động thực tiễn của con người Cần phảinghiên cứu hành vi ở chỗ làm rõ cơ chế, thành phần và cấu trúc của nó Phạmtrù phản xạ là cần thiết nhưng không thể lấy phản xạ là khái niệm cơ bản củatâm lý học Với con người, ông quan niệm không thể nghiên cứu hoàn toànbằng chìa khoá phản xạ có điều kiện Tâm lý học không được loại bỏ ý thứctrong nghiên cứu tâm lý mà cần phải vật chất hoá nó, không được coi ý thức

là một loại hiện tượng thứ yếu Muốn nghiên cứu ý thức thì phải nghiên cứucấu trúc của hành vi “Ý thức là một vấn đề của cấu trúc hành vi” Hành vicủa con người khác hành vi của con vật ở chỗ trong hành vi của con người có

sự kế thừa các kinh nghiệm: kinh nghiệm lịch sử, kinh nghiệm xã hội và kinhnghiệm đã được tăng cường Thông qua bài báo đã nêu trên và qua nhiềucông trình nghiên cứu khác Vưgốtxki xác định phương pháp nghiên cứu tâm

lý: Nghiên cứu tâm lý người bằng phương pháp hoạt động Tâm lý con người

được tồn tại thể hiện trong hoạt động

Đến năm 1934, X.L Rubinstêin (1889 –1960) viết tác phẩm “ Nhữngvấn đề Tâm lý học trong các tác phẩm của C.Mác” Tác phẩm này có ýnghĩa quan trọng về mặt phương pháp luận và tạo tiền đề xây dựng nền tâm

lý học mới đáp ứng nhu cầu lý luận và thực tiễn phát triển của nền Tâm lýhọc Liên Xô lúc đó Ông viết: “Trong toàn tập của C.Mác không thấy có bàinào bàn về tâm lý học Nhưng trong nhiều tác phẩm khác nhau của Ông,dường như là đồng thời trí tuệ thiên tài ấy đã nêu ra một loạt những nhậnđịnh về các vấn đề tâm lý học khác nhau”1 Trên cơ sở phân tích sâu sắcnhững ý kiến của C.Mác về các vấn đề tâm lý học, các nhà tâm lý học XôViết nhận thấy nhiệm vụ hàng đầu trong khi cải tổ tâm lý học là nhiệm vụxây dựng cơ sở triết học mới cho khoa học tâm lý theo lập trường Mác – xít.Triết học Mác chính là cơ sở lý luận và phương pháp luận để xây dựng một

1 X.L Rubinstêin, Những vấn đề Tâm lý học trong các tác phẩm của C.Mác,Học viện CTQS, 1984, tr 25.

Trang 9

nền tâm lý học mới khách quan khoa học Trong đó những quan điểm, tưtưởng của Học thuyết Mác về hoạt động của con người được coi là mộttrong ba tiền đề tư tưởng nền tảng quan trọng nhất để xây dựng nền tâm lýhọc Mác – xít

Trước C.Mác, đã có nhiều nhà triết học, tâm lý học, tôn giáo quan tâmnghiên cứu, lý giải về hoạt động của con người ở nhiều mức độ khác nhau.Nhưng do ảnh hưởng của thế giới quan duy tâm và phương pháp luận siêuhình máy móc nên không chỉ rõ được bản chất hoạt động của con người, từ

đó dẫn đến bế tắc trong nghiên cứu tâm lý con người

Kế thừa có chọn lọc thành tựu của triết học trong lịch sử mà trực tiếp làtriết học của Hêghen, C.Mác đã xây dựng học thuyết duy vật biện chứng vềhoạt động của con người Học thuyết này được tóm tắt vào một trong các luậncương của C.Mác về Phơbách (1804 -1872) C.Mác phê phán toàn bộ triết họctrước đó, kể cả Phơbách, nhà triết học lớn nhất thời ấy là chỉ thấy sự vật nhưmột khách thể, như cái có thể quan sát được mà không thấy chính trong sự vật

có hoạt động thực tiễn của con người Các vật thể, hay nói rộng ra cả thế giớiđối tượng là sản phẩm của lao động của cả loài người, đó chính là hoạt độngcủa con người ở thể tĩnh Tức là vật thể, thế giới đối tượng chứa đựng nănglực của con người bao gồm suy nghĩ về công dụng, tri thức về vật liệu, về quátrình công nghệ… Và ở đó có cả khiếu thẩm mỹ nữa Nói cách khác, việc làm

ra sản phẩm là quá trình con người vật chất hoá (đối tượng hoá) các suy nghĩ,tri thức, quan niệm của mình Về vấn đề này C.Mác viết: “Sự vĩ đại của “hiệntượng học” của Hêghen và của kết quả cuối cùng của nó - phép biện chứngcủa tính phủ định coi như nguyên lý đang vận động và đang sản sinh là ở chỗHêghen xem xét sự tự sản sinh của con người như là một quá trình, xem xét

sự đối tượng hoá như là sự đối lập hoá và sự tước bỏ sự tự tha hoá ấy, do đóÔng ta nắm lấy bản chất của lao động và lý giải con người đã được đối tượnghoá, con người chân chính, do đó có tính chất hiện thực, như là kết quả của

lao động của bản thân con người”2 Luận điểm này của C.Mác có ý nghĩa to

2 C.Mác, Bản thảo Kinh tế – Triết học năm 1844, Nxb Sự Thật, H.1962, tr194.

Trang 10

lớn cho tâm lý học ở chỗ cần phải nhìn thấy sự vật, hiện tượng xung quanhcon người chính là kết quả hoạt động thực tiễn của con người, chứa đựng lựclượng bản chất người Khi phân tích về các luận điểm, trào lưu chủ nghĩa duyvật hiện có, C.Mác chỉ ra khuyết điểm chủ yếu của toàn bộ chủ nghĩa duy vậttrước Mác là chỉ xem xét sự vật dưới hình thức khách thể trực quan chứkhông phải với tính cách là hoạt động cảm tính, hoạt động thực tiễn của conngười Đối với C.Mác, toàn bộ hoạt động của con người là sự đối tượng hoácủa bản thân con người, hay nói cách khác, là quá trình bộc lộ ra khách quancủa những lực lượng bản chất của con người Trong tác phẩm Tư bản, khi

phân tích lao động C.Mác đã nói giản đơn rằng, trong lao động “chủ thể di

chuyển vào khách thể” Như vậy hoạt động của con người không phải là phản

ứng của cơ thể đối với kích thích bên ngoài như tâm lý học hành vi quanniệm, cũng không phải là một việc làm theo lối thao tác bên ngoài của chủ thểđối với khách thể, mà nó là sự di chuyển của chủ thể vào khách thể Bản thânquan niệm về hoạt động như là sự đối tượng hoá đã chứa đựng tư tưởng đó.Đồng thời C.Mác cũng có ý tưởng về chủ thể C.Mác nhấn mạnh: “Hoạt động

và đối tượng thâm nhập lẫn vào nhau” Bởi vì hoạt động của con người là sựđối tượng hoá, là sự khách thể hoá con người, hoặc là sự di chuyển chủ thểvào khách thể, là sự phát lộ ra trong các đối tượng của hoạt động những lựclượng bản chất của con người, trong đó có tình cảm và ý thức C.Mác viết:

“Sự tồn tại đối tượng hoá đã hình thành của công nghiệp là quyển sách đã mở

ra của những lực lượng bản chất của con người, là tâm lý con người bày ratrước mắt chúng ta một cách cảm tính:”3 Vì vậy C.Mác viết tiếp: “Tâm lý học

- quyển sách ấy, nghĩa là chính cái bộ phận dễ cảm thấy nhất, dễ tiếp xúc nhấtcủa lịch sử không mở ra cho tâm lý học này- không thể trở thành khoa họcthực sự có nội dung phong phú và hiện thực”4 Như vậy, theo luận điểm củaC.Mác về hoạt động của con người thì mối quan hệ qua lại giữa con người với

môi trường xung quanh được xác định là sự tác động qua lại có nội dung hoạt

động Tác động là cái thứ nhất, tâm lý là cái thứ hai Sự tác động giống như

3 C.Mác, Bản thảo Kinh tế – Triết học năm 1844, Nxb Sự Thật, H.1962, tr139.

4 C.Mác, Bản thảo Kinh tế – Triết học năm 1844, Nxb Sự Thật, H.1962, tr139,140.

Trang 11

nhu cầu ở ngoài con người cần được thoả mãn Trong quá trình hiện thực hoámối quan hệ này, con người cải tạo tự nhiên bằng hoạt động của mình và sảnxuất ra thế giới đối tượng Do đó, sản phẩm đối tượng là do con người tạo ra,

là “những lực lượng bản chất” của con người được đưa ra ngoài thành sản

phẩm Sản phẩm là sự khẳng định của một trong những lực lượng bản chấtcủa con người

Đó là hoạt động lao động và có thể coi đó là một mặt, một chiều củahoạt động nói chung trong hoạt động của con người Theo C.Mác, hoạt độngcủa con người còn có một mặt khác, một chiều khác - đó là chiều ngược lại vớichiều vừa mô tả Ở trên ta có chiều đối tượng hoá năng lực, tâm lý, ý thức conngười thành sản phẩm của hoạt động lao động Còn ở đây ta có chiều tâm lý, ýthức đã được đặt vào sản phẩm, tách ra khỏi sản phẩm và chuyển thành nănglực, tâm lý, ý thức C.Mác chỉ ra do sự nối liền sợi dây liên hệ từ chủ thể đếnkhách thể mà trong hoạt động của con người lại bộc lộ ra một quan hệ phụ

thuộc khác từ khách thể đến chủ thể Nói cách khác, trong quá trình chủ thể di

chuyển vào khách thể thì bản thân chủ thể cũng đã tự hình thành C.Mác viết:

“Chỉ có thông qua sự phong phú đã được phát triển về mặt vật chất của bảnchất con người thì sự phong phú của cảm giác chủ quan của con người mớiđược phát triển và một phần thậm chí lần đầu tiên mới được sản sinh ra: lỗ taithính âm nhạc, con mắt cảm thấy cái đẹp của hình thức, nói tóm lại là nhữngcảm giác có khả năng về những sự hưởng thụ có tính chất người và tự khẳngđịnh mình như là những lực lượng bản chất của con người”5 Như vậy sự đốitượng hoá bản chất con người là tất yếu – xét về phương diện lý luận cũngnhư phương diện thực tiễn, như C.Mác nói: “để một mặt nhân loại hoá cảmgiác của con người, và mặt khác sáng tạo cảm giác con người tương ứng vớitoàn bộ sự phong phú của bản chất nhân loại và tự nhiên”6 Theo cách nói củaC.Mác thì “bằng cách biến đổi tự nhiên bên ngoài con người, đồng thời conngười biến đổi bản tính của chính mình” Có nghĩa là tâm lý, ý thức conngười hình thành không phải theo cách âm thầm, tự hiểu, không bộc lộ ra,

5 C.Mác, Bản thảo Kinh tế – Triết học năm 1844, Nxb Sự Thật, H.1962, tr137

6 C.Mác, Bản thảo Kinh tế – Triết học năm 1844, Nxb Sự Thật, H.1962, tr138.

Ngày đăng: 13/07/2021, 14:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w