Để tìm ra phương hướng khắc phục và giúp cho hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên ngày một hoàn thiện hơn, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động ngh
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghiên cứu khoa học của sinh viên trong trường Đại học là một hoạt động trí tuệ giúp sinh viên vận dụng phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học trong học tập vào trong thực tiễn, trong đó sinh viên bước đầu vận dụng một cách tổng hợp những tri thức đã học để tiến hành hoạt động nhận thức có tính chất nghiên cứu, bước đầu góp phần giải quyết những vấn đề khoa học do thực tiễn cuộc sống và nghề nghiệp đặt ra để từ đó có thể đào sâu, mở rộng và hoàn thiện vốn hiểu biết của mình
Trong các trường đại học yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục đại học chính là lòng say mê học hỏi, năng lực sáng tạo, năng lực tự nghiên cứu của sinh viên Mục đích giáo dục đại học là đào tạo ra những sinh viên có tri thức, biết sử dụng và làm chủ được những thành tựu của khoa học công nghệ hiện đại đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội Chất lượng giáo dục đại học phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức nghiên cứu khoa học của sinh viên
Thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm phát huy năng lực trí tuệ vốn có của mỗi người, hình thành kỹ năng mềm, phương pháp nghiên cứu khoa học cho người học và giúp người học có được thói quen làm việc độc lập để củng cố chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao trình độ và sáng tạo những giá trị mới cho xã hội
Trường Đại học Lạc Hồng luôn coi công tác nghiên cứu khoa học của giáo viên và sinh viên là sự sống còn và là cơ sở để nâng cao chất lượng giáo dục Nhà trường quyết tâm không để hoạt động nghiên cứu khoa học dậm chân tại chỗ mà phải ngày càng phát triển cả về chất và lượng Tuy nhiên, do còn một số nguyên nhân khách quan và chủ quan nên hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên tại trường hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế Để tìm ra phương hướng khắc phục và giúp cho hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên ngày một hoàn thiện hơn, tác giả
đã mạnh dạn chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Khối kinh tế Trường Đại học Lạc Hồng” làm đề tài
nghiên cứu bởi nó mang tính thiết thực và cần thiết đối với nhà trường hiện nay
Trang 22 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Ngày nay nghiên cứu khoa học là một lĩnh vực có tốc độ phát triển rất nhanh Các thành tựu của nghiên cứu khoa học đã được ứng dụng vào nhiều lĩnh vực của cuộc sống Vấn đề nghiên cứu khoa học là một hoạt động trọng tâm của sinh viên ở các trường Đại học, Cao đẳng Cùng với quá trình hội nhập kinh tế thế giới, hội nhập về giáo dục và đào tạo, xây dựng và phát triển phong trào nghiên cứu khoa học trong sinh viên là một yêu cầu bức thiết nâng cao chất lượng đào tạo và giáo dục, nâng cao tính tự chủ sáng tạo và năng động, một tố chất rất cần thiết nhưng lại rất hạn chế trong trình độ sinh viên Việt Nam hiện nay
Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học đã có một số tác giả nghiên cứu như: Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, hiện công tác tại Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan - Úc,
đã viết nhiều bài đăng trên các tờ báo trong nước như: Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Tuổi Trẻ, Thanh Niên… nói về chất lượng nghiên cứu khoa học hiện nay, với một
số bài như: “Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục”; “Chất lượng nghiên cứu
khoa học ở Việt Nam qua chỉ số trích dẫn”… trên cơ sở cung cấp các kiến thức cũng như những kinh nghiệm làm nghiên cứu khoa học trong nhiều năm của tác giả Ngoài ra, tác giả Vũ Cao Đàm cũng đã có nhiều nghiên cứu về phương pháp luận nghiên cứu khoa học và tác giả Trần Khánh Đức với đề tài “Nghiên cứu khoa học gắn với đào tạo trong hệ thống sư phạm kỹ thuật” Trong những nghiên cứu này, các tác giả đã nghiên cứu về hoạt động nghiên cứu khoa học, cách xác định đề tài nghiên cứu, về phương pháp nghiên cứu khoa học, vấn đề đạo đức khoa học, văn hóa khoa học… Từ đó giúp tác giả sẽ có cái nhìn khái quát hơn về hoạt động nghiên cứu khoa học, làm cơ sở tiền đề cho tác giả nghiên cứu về hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Khối kinh tế Trường Đại học Lạc Hồng
3 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nhằm đạt được mục tiêu như sau:
- Phân tích thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Khối kinh tế Trường Đại học Lạc Hồng
Trang 3- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Khối kinh tế Trường Đại học Lạc Hồng
- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Khối kinh tế Trường Đại học Lạc Hồng Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Khối kinh tế Trường Đại học Lạc Hồng
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên
Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Khối
kinh tế Trường Đại học Lạc Hồng
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01 năm 2012 đến tháng 07 năm 2012 Đối tượng khảo sát:
- Các chuyên gia Khối kinh tế Trường Đại học Lạc Hồng;
- Sinh viên nghiên cứu khoa học Khối kinh tế Trường Đại học Lạc Hồng
5 Phương pháp nghiên cứu
* Trong phạm vi đề tài này, tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với nghiên cứu định lượng, cụ thể:
- Nghiên cứu định tính được sử dụng để khám phá và bổ sung những tiêu chí đánh giá các nhân tố quan trọng tác động đến hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Khối kinh tế Trường Đại học Lạc Hồng Tham khảo các tài liệu thứ cấp kết hợp với thảo luận nhóm để xác định các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt động nghiên cứu khoa học, điều chỉnh thang đo và xây dựng bảng câu hỏi phục vụ cho quá trình nghiên cứu định lượng
- Nghiên cứu định lượng được sử dụng để đánh giá, kiểm định các thang đo
về hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Khối kinh tế Trường Đại học Lạc Hồng
Tác giả thực hiện khảo sát thực tế, phát bảng câu hỏi khảo sát đến các bạn sinh viên Khối kinh tế Trường Đại học Lạc Hồng để tìm hiểu và thu thập các thông tin về thực trạng sự chuẩn bị của sinh viên đối với hoạt động nghiên cứu khoa học
Trang 4Sau khi thu thập được các dữ liệu, tác giả tiến hành kiểm định với phần mềm SPSS 16.0 qua các bước sau:
Thống kê mô tả mẫu khảo sát;
Kiểm định độ tin cậy của biến đo lường bằng hệ số Cronbach Alpha;
Đánh giá độ giá trị (Factor Loading) bằng phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis);
Kiểm định lại độ tin cậy của biến đo lường sau khi phân tích EFA;
Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến: Xác định sự tác động của các biến độc lập đến biến phụ thuộc Từ đó xác định mối liên hệ và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên Khối kinh tế Trường Đại học Lạc Hồng
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Nghiên cứu khoa học trong sinh viên có ý nghĩa vô cùng to lớn, giúp cho sinh viên tiếp cận với cách học mới và tập làm quen với hoạt động nghiên cứu khoa học Nghiên cứu khoa học là một trong những hoạt động trọng tâm bên cạnh nhiệm
vụ học tập của sinh viên
Đề tài nghiên cứu này sẽ góp phần để đẩy mạnh cho hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Khối kinh tế Trường Đại học Lạc Hồng ngày một hoàn thiện hơn
Cố gắng để có cái nhìn đúng và đủ nhất về hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên, thấy được tầm quan trọng của hoạt động nghiên cứu khoa học
Đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh
viên Khối kinh tế Trường Đại học Lạc Hồng
Thông qua kết quả khảo sát các giáo viên và sinh viên sẽ một phần nào đó giúp cho nhà trường có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Khối kinh tế, từ đó giúp trường có thể hoạch định mục tiêu, chiến lược mới nhằm cải thiện, khắc phục nhược điểm trong hoạt động nghiên cứu khoa học tại Khối kinh tế Trường Đại học Lạc Hồng
Trang 57 Kết cấu của đề tài
Bố cục của đề tài ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục còn bao gồm 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên
Chương 2: Thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Khối kinh tế Trường Đại học Lạc Hồng
Chương 3: Một số kiến nghị về hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Khối kinh tế Trường Đại học Lạc Hồng
Trang 6CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN
CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN 1.1 Nghiên cứu khoa học
1.1.1 Khái niệm nghiên cứu khoa học
Có khá nhiều khái niệm khác nhau khi đề cập đến nghiên cứu khoa học, sau đây là một số khái niệm tiêu biểu:
Nghiên cứu khoa học là cách thức con người tìm hiểu các hiện tượng khoa học một cách có hệ thống Trong thế giới này, để hiểu biết một sự việc, chúng ta có hai cách đó là chấp nhận và nghiên cứu Chấp nhận là cách thức con người hiểu biết
sự việc thông qua việc thừa nhận các nghiên cứu hay kinh nghiệm của người khác Trong khi đó, nghiên cứu là cách thức con người tìm hiểu sự việc thông qua việc thực hiện các nghiên cứu hay kinh nghiệm của chính mình (Nguyễn Đình Thọ, 2011)
Dương Thiệu Tống (2005) nêu rõ nghiên cứu khoa học là một hoạt động tìm hiểu có tính hệ thống đạt đến sự hiểu biết được kiểm chứng Nó là một hoạt động nổ lực có chủ đích, có tổ chức nhằm thu thập những thông tin, xem xét kỹ, phân tích xếp đặc các dữ kiện lại với nhau rồi đánh giá các thông tin ấy bằng con đường quy nạp và diễn dịch
Cũng theo những quan điểm trên, Vũ Cao Đàm cho rằng nghiên cứu khoa học nói chung là nhằm thỏa mãn về nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới đó là:
- Khám phá những thuộc tính bản chất của sự vật và hiện tượng;
- Phát hiện quy luật vận động của sự vật và hiện tượng;
- Vận dụng quy luật để sáng tạo giải pháp tác động lên sự vật hiện tượng Như vậy, nghiên cứu khoa học là một quá trình sử dụng những phương pháp khoa học, phương pháp tư duy, để khám phá các hiện tượng, phát hiện quy luật để nâng cao trình độ hiểu biết, để giải quyết những nhiệm vụ lý luận hay thực tiễn, các
đề xuất trên cơ sở kết quả nghiên cứu (Vũ Cao Đàm, 2007)
Trang 7• Trình tự logic của nghiên cứu khoa học (Đồng Thị Thanh Phương,
Sơ đồ 1.1: Các bước trình tự trong nghiên cứu khoa học
* Bước 1: Phát hiện vấn đề nghiên cứu
Đây là giai đoạn tìm kiếm câu hỏi cần được giải đáp trong quá trình nghiên cứu nên cần phải xác định:
- Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu: tính cấp thiết thể hiện ở mức độ ưu tiên giải đáp những vấn đề mà lý luận và thực tiễn đặt ra
Bước 1: Phát hiện vấn đề nghiên cứu
Bước 4: Tìm luận cứ lý thuyết và luận cứ
thực tiễn
Bước 6: Tổng hợp kết quả; Kết luận; Kiến nghị
Bước 2: Xây dựng giả thuyết nghiên cứu
Bước 5: Xử lý thông tin, phân tích và bàn luận kết quả xử lý thông tin
Bước 3: Xây dựng luận chứng
Trang 8- Có đầy đủ điều kiện đảm bảo cho việc hoàn thành đề tài không? Điều kiện nghiên cứu bao gồm cơ sở thông tin, tư liệu; phương tiện, thiết bị; quỹ thời gian, năng lực, sở trường của những người tham gia
* Bước 2: Xây dựng giả thuyết nghiên cứu
Đây là những nhận định sơ bộ về bản chất sự vật, do người nghiên cứu đưa
ra, theo đó người nghiên cứu sẽ thực hiện các quan sát hoặc thực nghiệm
* Bước 3: Xây dựng luận chứng
Là cách thức thu thập và sắp xếp các thông tin thu được Nội dung cơ bản của xây dựng luận chứng là dự kiến kế hoạch thu thập và xử lý thông tin, lên phương án chọn mẫu khảo sát, phương tiện và phương pháp quan sát hoặc thực nghiệm
* Bước 4: Tìm luận cứ lý thuyết và luận cứ thực tiễn
Tìm luận cứ lý thuyết là xây dựng cơ sở lý luận của nghiên cứu Khi xác định được luận cứ lý thuyết, người nghiên cứu biết được những bộ môn khoa học nào cần được vận dụng để làm chỗ dựa cho công trình nghiên cứu
Thu thập dữ liệu để hình thành các luận cứ thực tiễn Dữ liệu cần thu thập bao gồm những sự kiện và số liệu cần thiết cho việc hoàn thiện luận cứ để chứng minh giả thuyết Nếu các sự kiện và số liệu không đủ thoả mãn nhu cầu chứng minh giả thuyết, phải có kế hoạch thu thập bổ sung dữ liệu
* Bước 5: Xử lý thông tin, phân tích và bàn luận kết quả xử lý thông tin Đánh giá mặt mạnh, mặt yếu, chỉ ra những sai lệch đã mắc phải trong quan sát, thực nghiệm, đồng thời đánh giá ảnh hưởng của những sai lệch ấy, mức độ có thể chấp nhận trong kết quả nghiên cứu
* Bước 6: Tổng hợp kết quả; Kết luận; Kiến nghị
Tổng hợp để đưa ra bức tranh khái quát về kết quả; Đánh giá điểm mạnh và điểm yếu; Kiến nghị khả năng áp dụng kết quả và kiến nghị việc tiếp tục nghiên cứu hoặc chấm dứt sự nghiên cứu
Trang 91.1.2 Chức năng của nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học có chức năng mô tả, giải thích, tiên đoán và sáng tạo ra cái mới
Mô tả là tiến hành trình bày sự vật bằng ngôn ngữ hình ảnh chung nhất, làm
rõ cấu trúc trạng thái, sự vận động của nó trong hiện thực khách quan… để phản ánh xem nó đang tồn tại như thế nào Mô tả có tác dụng xây dựng được bức chân dung của đối tượng nghiên cứu làm công cụ cho sự nhận thức của con người về thế giới Đây là một chức năng quan trọng của nghiên cứu khoa học Có thể tiến hành
mô tả về mặt định tính, định lượng hoặc cả hai
Giải thích được thực hiện nhằm làm rõ nguyên nhân dẫn đến sự hình thành, phát triển của sự vật với các quy luật của nó Mục đích của giải thích là đưa ra những thông tin về thuộc tính bản chất của sự vật để có thể nhận thức được đầy đủ
về hình thức và nội dung của nó đồng thời có thể lý giải rõ sự hình thành, phát triển
và quy luật vận động của đối tượng Giải thích có tác dụng giúp quá trình nhận thức của con người có đầy đủ các thông tin về bản chất của sự vật để lý giải được tại sao
Trang 10Sáng tạo là tiến hành tạo ra cái mới thuần khiết, những đối tượng sự vật mới chưa từng có trong thực tại Đây là chức năng quan trọng bậc nhất của nghiên cứu khoa học Nó sáng tạo ra sự vật mới, sản phẩm mới, giải pháp mới chưa từng tồn tại Nhờ chức năng này mà thế giới khách quan ngày càng được phát triển phong phú, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người (Nguyễn Văn Tuấn, 2011)
1.1.3 Các đặc điểm của nghiên cứu khoa học
Đặc điểm chung nhất của nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi những sự vật, hiện tượng mà khoa học chưa hề biết đến Đặc điểm này dẫn đến hàng loạt đặc điểm khác nhau của nghiên cứu khoa học, mà người nghiên cứu cần quan tâm khi xử lý những vấn đề cụ thể về mặt phương pháp luận nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu
(Vũ Cao Đàm, 2007)
* Tính mới: nghiên cứu khoa học là quá trình khám phá thế giới của những
sự vật, hiện tượng mà khoa học chưa biết, cho nên quá trình nghiên cứu khoa học luôn là quá trình hướng tới những phát hiện mới hoặc sáng tạo mới Trong nghiên cứu khoa học không có sự lặp lại như cũ những phát hiện hoặc sáng tạo mà các đồng nghiệp đi trước đã thực hiện
* Tính tin cậy: một kết quả nghiên cứu đạt được nhờ một phương pháp nào
đó phải có khả năng kiểm chứng lại nhiều lần trong những điều kiện quan sát hoặc thí nghiệm hoàn toàn giống nhau Để chứng tỏ độ tin cậy trong đề tài người nghiên cứu khi trình bày kết quả nghiên cứu cần phải làm rõ những điều kiện, các nhân tố
và phương tiện thực hiện Tính tin cậy còn thể hiện ở tài liệu tham khảo
* Tính khách quan: tính khách quan vừa là một đặc điểm của nghiên cứu khoa học, vừa là một tiêu chuẩn về phẩm chất của người nghiên cứu khoa học Một nhận định vội vã theo tình cảm, một kết luận thiếu các xác nhận bằng kiểm chứng chưa thể xem là một phản ánh khách quan về bản chất của sự vật, hiện tượng
Để đảm bảo tính khách quan, người nghiên cứu cần phải luôn đặt các câu hỏi ngược lại những kết luận đã được xác nhận Ví dụ: kết quả có thể khác không? nếu kết quả là đúng, thì đúng trong những điều kiện nào? còn phương án nào cho kết quả tốt hơn?
Trang 11* Tính rủi ro: quá trình khám phá bản chất sự vật và sáng tạo sự vật mới hoàn toàn có thể gặp phải thất bại Đó là tính rủi ro của nghiên cứu Sự thất bại trong nghiên cứu khoa học có thể do nhiều nguyên nhân, chẳng hạn thiếu thông tin cần thiết và đủ tin cậy, trình độ kỹ thuật của thiết bị quan sát hoặc thí nghiệm thấp, năng lực xử lý thông tin của người nghiên cứu còn hạn chế
Tuy nhiên, trong khoa học thất bại cũng được xem là một kết quả Kết quả đó cũng mang ý nghĩa là một kết luận của nghiên cứu khoa học, mà nội dung là các giả thiết đã đặt ra không được xác nhận về mặt khoa học, nghĩa là trong sự vật không tồn tại quy luật hoặc giải pháp như đã dự kiến Xét về ý nghĩa khoa học, đây là một kết quả quan trọng Nó giúp cho các đồng nghiệp đi sau khỏi dẫm chân lên lói mòn, lãng phí các nguồn lực nghiên cứu
* Tính kế thừa: ngày nay hầu hết không còn một công trình khoa học nào bắt đầu từ chỗ hoàn toàn trống không về kiến thức Mỗi nghiên cứu phải kế thừa các kết quả nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học khác nhau rất xa Tính kế thừa có một ý nghĩa quan trọng về mặt phương pháp luận nghiên cứu
* Tính cá nhân: dù là một công trình nghiên cứu khoa học do tập thể thực hiện thì vai trò cá nhân trong sáng tạo cũng mang tính quyết định Tính cá nhân được thế hiện trong tư duy cá nhân, nỗ lực cá nhân và chủ kiến riêng của cá nhân
1.1.4 Phân loại nghiên cứu khoa học
Có nhiều cách phân loại nghiên cứu, dựa vào mục đích sử dụng kết quả của nghiên cứu, nghiên cứu khoa học có thể chia thành hai dạng cơ bản, đó là nghiên cứu hàn lâm và nghiên cứu ứng dụng
Nghiên cứu hàn lâm trong một ngành khoa học nào đó là nghiên cứu nhằm mục đích mở rộng kho tàng tri thức của ngành khoa học đó Kết quả nghiên cứu hàn lâm chủ yếu nhằm vào mục đích trả lời cho các câu hỏi về bản chất lý thuyết của khoa học Hay nói cách khác, nghiên cứu hàn lâm có mục đích xây dựng và kiểm định các lý thuyết khoa học
Nghiên cứu ứng dụng: là các nghiên cứu nhằm ứng dụng các thành tựu khoa học của ngành đó vào thực tiễn của cuộc sống Kết quả nghiên cứu ứng dụng nhằm vào mục đích trực tiếp hỗ trợ cho việc ra quyết định (Nguyễn Đình Thọ, 2011)
Trang 121.2 Hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên
1.2.1 Khái niệm hoạt động nghiên cứu khoa học
Hoạt động nghiên cứu khoa học là quá trình thực hiện nghiên cứu Một họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt được từ các thí nghiệm nghiên cứu khoa học để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn Người muốn làm nghiên cứu khoa học phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp từ lúc ngồi trên ghế nhà trường (Dương Thiệu Tống, 2005)
Hoạt động nghiên cứu khoa học có những yêu cầu riêng và phải tuân theo quy trình nhiều bước với những tiêu chuẩn cho từng bước thực hiện để đi đến kết quả cuối cùng Mỗi công trình nghiên cứu khoa học thường xuất phát từ yêu cầu cuộc sống, từ những giả định ban đầu Muốn giải quyết các vấn đề đó, người nghiên cứu phải đi từng bước một, từ cách tiếp cận vấn đề (đặt vấn đề, mục đích và mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, cơ sơ lý thuyết, phương pháp luận,…) cho đến phương thức thực hiện, kiểm chứng các giả định ban đầu (thông qua việc thu thập tài liệu, đặt giả thiết, tiến hành các nghiên cứu thí nghiệm, tính toán các kết quả từ thí nghiệm…) và cuối cùng là báo cáo kết quả thực hiện công trình nghiên cứu (báo cáo kết quả bằng các sản phẩm cụ thể, các đề xuất rút ra từ kết luận của công trình nghiên cứu)
Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên có một số đặc điểm riêng như sau: phải phục vụ mục đích học tập, nhận thức khoa học là những động cơ chủ yếu của hoạt động nghiên cứu khoa học, hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên phải đặt dưới sự hướng dẫn của giảng viên
Trang 131.2.2 Vai trò của hoạt động nghiên cứu khoa học trong giáo dục đại học 1.2.2.1 Vai trò của hoạt động nghiên cứu khoa học đối với sinh viên
Nghiên cứu khoa học giúp sinh viên củng cố, hệ thống hóa mở rộng kiến thức đã học, giúp sinh viên vận dụng các kiến thức đã học để đề xuất, giải quyết các vấn đề thuộc phạm vi chuyên môn
Nghiên cứu khoa học là cách thức rèn luyện cho sinh viên làm quen với phương pháp luận nghiên cứu khoa học, kích thích tính chủ động sáng tạo, hạn chế
và đẩy lùi từng bước tính thụ động, giúp cho sinh viên hình thành phong cách học tập gắn liền với thói quen tìm tòi đặt vấn đề “tại sao?”, “như thế nào?” và nghiên cứu giải quyết vấn đề đó Theo như Almeida Junior , “Cái mục tiêu cao nhất mà nhà trường đại học phải nhắm tới và có nhiệm vụ đào tạo cho sinh viên của mình đạt tới
đó là sự nghiên cứu khoa học, là sự khám phá mở đường và có hiệu quả trên những địa bàn kỹ thuật và lý luận chưa được khám phá” Vì vậy học đại học phải gắn liền với đọc nhiều tài liệu, đồng thời làm quen dần với nghiên cứu khoa học Nếu không đọc nhiều sách tư liệu thì không thể hiểu sâu bài học và không thể viết thành công một đề tài khoa học có tính thuyết phục Cũng không phải chỉ đọc một vài tư liệu
mà phải đọc rất nhiều tư liệu mới đủ dữ liệu giúp ích cho bài nghiên cứu của mình Nghiên cứu để viết thành công một công trình khoa học dù ở phạm vi rộng hay hẹp người viết phải biết chọn lọc tư liệu, sắp xếp dữ liệu và biến những dữ liệu đó thành tri thức của mình Đó chính là bước đầu quan trọng đối với con đường nghiên cứu khoa học của sinh viên
Ngoài ra, nghiên cứu khoa học còn tạo điều kiện cho sinh viên thực hiện việc kết hợp chặt chẽ học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn Hoạt động nghiên cứu khoa học trong nhà trường giúp sinh viên bổ sung những kiến thức có phần lạc hậu hay lỗi thời của hệ thống giáo trình đã biên soạn trước đây Do vậy, nghiên cứu khoa học không chỉ giúp sinh viên củng cố và cập nhật tri thức, tích lũy kinh nghiệm trong thời gian được đào tạo ở trường, mà còn tạo cho sinh viên phong cách làm việc khoa học, có khả năng tư duy, nhận xét vấn đề một cách khoa học
Có một thực tế là hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên ở các trường Đại học hiện nay chưa phát triển mạnh Số sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học
Trang 14so với tổng số sinh viên ở mỗi trường còn quá ít, nên nhiều sinh viên khi tốt nghiệp
ra trường mà vẫn chưa có phương pháp tự học, tự nghiên cứu, tức là chưa có những
kỹ năng nghiên cứu khoa học cơ bản để có thể tự nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nghề nghiệp của bản thân cũng như tự mình giải quyết những vấn đề mang tính thời sự của thực tiễn nghề nghiệp
Khi đánh giá tình hình nghiên cứu khoa học trong sinh viên, cái cần chú ý chính là chất lượng của hoạt động nghiên cứu khoa học, phong trào nghiên cứu khoa học của sinh viên đến mức độ nào hay khả năng của sinh viên nói chung trong việc hình thành các ý tưởng và phương hướng triển khai quá trình nghiên cứu một cách khoa học
1.2.2.2 Nghiên cứu khoa học gắn với việc nâng cao chất lượng đào tạo của các Trường Cao đẳng, Đại học
Nghiên cứu khoa học trong sinh viên không còn là một hoạt động mới mẻ trong các trường Đại học, cao đẳng ở nước ta Tuy nhiên hoạt động này vẫn chưa thực sự trở thành một nhu cầu thiết yếu của sinh viên, bởi vì phần lớn sinh viên vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng và giá trị của công tác nghiên cứu khoa học đối với họ
Hoạt động khoa học công nghệ được coi là một trong những nhiệm vụ chính của các trường Đại học Các trường Đại học phải là trung tâm nghiên cứu khoa học, công nghệ, chuyển giao và ứng dụng công nghệ vào sản xuất, đời sống Hoạt động nghiên cứu khoa học là hoạt động gắn bó chặt chẽ, không thể tách rời với hoạt động đào tạo, là hoạt động nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động đào tạo
“Nghiên cứu khoa học là sức sống của một trường Đại học” là khẩu hiệu mà mọi trường đại học trên thế giới đều lấy làm phương châm hành động Vậy một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng của một trường Đại Học chính là sự kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo và phục
vụ xã hội Do đó, việc tăng cường, bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học đối với sinh viên trong giai đoạn hiện nay là một việc làm cần thiết đối với tất cả các trường Đại học và cao đẳng
Trang 151.2.3 Quy định hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên Trường Đại học Lạc Hồng
Để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, giúp sinh viên tiếp cận và vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học nhằm giải quyết một số vấn đề của khoa học và thực tiễn xã hội, Trường Đại học Lạc Hồng cũng đã có Quy định về hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên (Ban hành kèm theo Quyết định số 267
ngày 05/05/2012 của Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng (Phụ lục 1)
Quy chế đã quy định rất rõ yêu cầu, nội dung, hình thức nghiên cứu khoa học cũng như trách nhiệm, quyền lợi đối với sinh viên tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học Theo đó, nghiên cứu khoa học của sinh viên phải:
- Phù hợp với khả năng và nguyện vọng của sinh viên
- Phù hợp với nội dung của chương trình đào tạo và một số đòi hỏi thực tiễn của xã hội
- Phù hợp với định hướng và kế hoạch hoạt động khoa học công nghệ của Trường Đại học Lạc Hồng
Quy chế cũng quy định hàng năm dành một khoản kinh phí thích hợp để hỗ trợ hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên, trách nhiệm của Phòng (Ban) nghiên cứu khoa học, trách nhiệm và quyền lợi của cán bộ hướng dẫn sinh viên,…
1.2.4 Tình hình hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên ở các trường Cao Đẳng, Đại học
Theo số liệu thống kê của Bộ GD&ĐT, cả nước hiện có hơn 2,2 triệu sinh viên Cao Đẳng, Đại Học Tuy nhiên, số lượng sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học còn quá ít và kết quả đạt được về cơ bản còn hạn chế
Trong năm vừa qua, Bộ GD&ĐT xét chọn và khen thưởng 305 công trình nghiên cứu khoa học do 716 sinh viên thực hiện, trong đó có 15 giải nhất, 27 giải nhì, 130 giải ba và 133 giải khuyến khích Con số này quả đáng báo động về công tác dạy học và hướng dẫn sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học ở trường Đại học trong khi các trường Đại học đang tiến tới mô hình trường Đại học nghiên cứu, đào tạo gắn kết với các doanh nghiệp, tổ chức xã hội
Trang 16Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận nghiêm túc về thực trạng nghiên cứu khoa học của cả thầy và trò, những nghiên cứu khoa học của sinh viên hiện nay vẫn chưa
có tính ứng dụng cao Trước hết, các nghiên cứu khoa học trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải xuất phát từ thực tiễn và mang tính mở chứ không thể là đóng khuôn trong các giáo trình của nhà trường
Các trường Đại học Kinh tế - Quản trị kinh doanh, nguồn thu từ hoạt động khoa học và công nghệ vô cùng khiêm tốn Các kết quả nghiên cứu của các đề tài khối kinh tế đạt loại giỏi, loại xuất sắc không có tính triển khai ứng dụng, nên không được các doanh nghiệp mua, thậm chí không được đăng tải trên các tạp chí khoa học Một thực tế, vẫn có nhiều đề tài nghiệm thu đạt kết quả tốt thậm chí có tính ứng dụng cao nhưng hầu hết không được triển khai ứng dụng, không có cơ sở kinh doanh nào mua để triển khai vào thực tế, do vậy lại được xếp vào các ngăn tủ của phòng quản lý khoa học của trường Điều này tạo ra nhiều lãng phí
Có thể nói, trong bối cảnh mà khoa học công nghệ đang phát triển chóng mặt như hiện nay thì các trường Đại học cần phải có những chính sách để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học của cả giáo viên và sinh viên ngày một lớn mạnh hơn
Để làm được việc này, ngoài vai trò của các tổ chức trong nhà trường, của cả thầy
và trò… thì rất cần có sự tham gia, xúc tiến, hỗ trợ của các tổ chức, các doanh nghiệp ngoài nhà trường để kết nối với các nhu cầu thực tiễn cùng những nguồn lực đầu tư có thể
1.2.5 Những khiếm khuyết trong hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên
Giáo dục Đại học ở Việt Nam hiện nay đã có nhiều thành quả đáng trân trọng, tuy nhiên chất lượng sinh viên khi ra trường vẫn chưa thật sự đáp ứng yêu cầu to lớn của thực tiễn cuộc sống, của công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội, nhất là việc kết hợp giữa đào tạo và nghiên cứu khoa học vẫn còn hạn chế Tuy số cán bộ
có trình độ cao của cả nước tập trung nhiều ở các trường đại học nhưng số cán bộ giảng dạy tham gia nghiên cứu khoa học còn rất khiêm tốn Lượng sinh viên tăng nhanh, trong khi đó số giảng viên tăng không nhiều dẫn đến mâu thuẫn giữa quy mô
và chất lượng đào tạo Thực tiễn cho thấy, chính sự không quan tâm đúng mức đến hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên, xem nhẹ hoạt động này hoặc định hướng không phù hợp đã làm cho chất lượng giáo dục Đại học Việt Nam thấp,
Trang 17không đáp ứng được những đòi hỏi về khoa học kỹ thuật và công nghệ, về nhân lực cho các lĩnh vực kinh tế - xã hội Do đó, để nâng cao chất lượng giáo dục Đại học, một đòi hỏi bức thiết đặt ra là phải đẩy mạnh hơn nữa hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên, cần phải có những giải pháp mới nhằm góp phần đẩy mạnh cho hoạt động này ở các trường Cao đẳng, Đại học ngày một phát triển hơn nữa
1.3 Các yếu tố chính tác động đến hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên
1.3.1 Mô hình 3P trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu của sinh viên (Nguyễn Đình Thọ, 2009)
Mối quan hệ giữa các yếu tố về giảng dạy, sinh viên và kiến thức thu nhận đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đầu tư nghiên cứu trong nhiều thập kỷ qua (ví dụ, Dunkin & Biddle 1974; Biggs 1999) Có nhiều mô hình về mối quan hệ này
và một trong những mô hình phổ biến là mô hình 3P của Biggs (1999) Mô hình này bao gồm tiên liệu đầu vào (P1: Presage), quá trình học tập (P2: Process) và sản phẩm của quá trình học tập, những công trình nghiên cứu khoa học của sinh viên (P3: Product)
Tiên liệu đầu vào (P1) bao gồm các yếu tố về đặc điểm sinh viên (kiến thức
đã có, khả năng và động cơ học tập, ) và môi trường giảng dạy Môi trường giảng dạy thể hiện những gì sẽ dạy (mục tiêu), dạy chúng như thế nào (phương pháp giảng dạy, cách thức đánh giá), môi trường học tập và các yếu tố về trường đại học, Quá trình học tập (P2) thể hiện cách tiếp cận của sinh viên (learning – focused activities) Hai cách tiếp cận chính trong học tập là phương pháp học sâu (deep approach) – tập trung vào việc đào sâu và diễn giải để hiểu ý nghĩa cơ bản của vấn
đề và ứng dụng chúng trong thực tế, và học nông (surface approach) – học để biết
và đạt yêu cầu qua các kỳ thi với đầu tư thấp nhất, không cần phải hiểu biết ý nghĩa
và ứng dụng của vấn đề, thường là học thuộc lòng (Biggs 1987) Cuối cùng là sản phẩm (P3) của quá trình học hỏi như kiến thức thu nhận được của sinh viên, kết quả
là các công trình nghiên cứu khoa học của sinh viên Các yếu tố này tác động qua lại với nhau được thể hiện trong sơ đồ sau:
Trang 18Sơ đồ 1.2: Mô hình 3P về giảng dạy, học tập và nghiên cứu của sinh
viên (Nguyễn Đình Thọ, 2009)
Mô hình trên đây đã được nhiều nhà nghiên cứu dùng làm cơ sở cho các nghiên cứu cụ thể của mình Lấy ví dụ, Duff (2004) nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc điểm của sinh viên (P1: Tiên liệu), cách thức học tập (P2: Quá trình) và kết quả học tập (P3: Sản phẩm) của họ Yourng & ctg (2003) nghiên cứu mối quan hệ cách thức học tập (P2: Quá trình), phương pháp và công nghệ giảng dạy (P1: Tiên liệu)
và kết quả học tập (P3: Sản phẩm của) sinh viên Ginns & ctg (2007) nghiên cứu về chất lượng giảng dạy (P1: Tiên liệu),…
Trong đề tài nghiên cứu này tác giả chỉ tập trung nghiên cứu mối quan hệ về những nhân tố tác động đến hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Khối kinh
tế như: sự hướng dẫn của giáo viên, sinh viên, môi trường học tập, cơ quan thực tập
sẽ tác động ảnh hưởng đến hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên
1.3.2 Đội ngũ giáo viên hướng dẫn
Trong hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên giáo viên hướng dẫn có vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn, định hướng đề tài nghiên cứu cho sinh viên Việc lựa chọn và tham khảo ý kiến giáo viên hướng dẫn sẽ giúp sinh viên có định hướng trong quá trình nghiên cứu khoa học
Năng lực giảng viên được xây dựng gồm ba thành phần chính Thành phần thứ nhất là kỹ năng giảng dạy của giảng viên bao gồm kiến thức của giảng viên về môn học, khả năng truyền đạt và mức độ đầu tư của giảng viên cho môn học Thành phần thứ hai thể hiện cách thức tổ chức môn học Thành phần thứ ba phản ánh mức
Trang 19độ kích thích tương tác giữa giảng viên với sinh viên với nhau Năng lực giảng viên đóng vai trò quan trọng trong giảng dạy và nghiên cứu giúp sinh viên hiểu biết được giá trị và lợi ích của việc học tập, nghiên cứu khoa học của họ Từ đó sẽ làm gia tăng sự thích thú của sinh viên trong quá trình học tập, nghiên cứu, nghĩa là làm gia tăng động cơ và kiến thức thu nhận của sinh viên
Người giảng viên có thể định hướng cho sinh viên ngay trong quá trình giảng dạy Bằng nội dung môn học, bằng việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, bằng các hoạt động khoa học trong và ngoài trường…, người cán bộ, giảng viên có thể giúp sinh viên tiếp cận với nghiên cứu khoa học Việc giảng dạy nêu vấn đề tạo cho sinh viên ý muốn tìm tòi chân lý, hướng các em tới phân tích, phê phán, làm sáng tỏ một cách độc lập các nội dung khoa học Giảng viên cần khuyến khích và tạo điều kiện để sinh viên tiếp cận các nguồn thông tin nghiên cứu mới ở thư viện, Internet…; giao các bài tập có tính chất nghiên cứu cho cá nhân cũng như cho nhóm sinh viên; tổ chức cho sinh viên tự tìm đọc tài liệu Đó là những cách hiệu quả nhằm định hướng, góp phần hình thành lòng say mê, ham muốn nghiên cứu khoa học trong sinh viên
1.3.3 Năng lực nghiên cứu khoa học của sinh viên
Bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học cho sinh viên là giúp sinh viên phát hiện vấn đề, xây dựng đề cương, tổ chức thực hiện (tìm kiếm tài liệu, thu thập thông tin, thí nghiệm, quan sát, phân tích số liệu, thử nghiệm kết quả, viết báo cáo và trình bày báo cáo)
Trong hoạt động nghiên cứu khoa học nhân tố sinh viên có vao trò quan trọng, những đề tài nghiên cứu khoa học có tính ứng dụng vào thực tiễn của sinh viên góp phần thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học tại các trường Đại học ngày một hiệu quả hơn
1.3.4 Cơ sở vật chất cho hoạt động nghiên cứu khoa học
Cơ sở vật chất cho hoạt động nghiên cứu khoa học là thư viện, internet, môi trường nghiên cứu và kinh phí Đây là những điều kiện không thể thiếu cho hoạt động nghiên cứu khoa học ngày nay, rất cần sự quan tâm của các cấp lãnh đạo trong
và ngoài trường
Thư viện có nhiều sách và tài liệu tham khảo, đặc biệt có nhiều sản phẩm nghiên cứu khoa học phong phú, đa dạng Sinh viên có thể chọn lọc những khóa
Trang 20luận tốt nghiệp, những tiểu luận môn học có giá trị, mang tính khoa học cao để tham khảo
Hệ thống máy tính hòa mạng internet cần hoàn thiện và bổ sung trong các khu thư viện, ký túc xá, lớp học…, tạo điều kiện cho sinh viên thuận tiện truy cập thông tin
1.3.5 Cơ quan thực tập
Trong quá trình nghiên cứu khoa học sinh viên phải thực tập tại các doanh nghiệp Đây là dịp cho sinh viên tìm hiểu, tiếp xúc với công việc và giúp sinh viên biết cách ứng xử với các đồng nghiệp, các phòng ban khác trong tổ chức, với khách hàng, với đối thủ Đây là dịp rất tốt cho sinh viên phát triển các kỹ năng như: Kỹ năng giao tiếp, Kỹ năng đàm phán và hiểu được các tình huống trong công việc mà trong những bài giảng chưa đề cập đến Do vậy, trong quá trình thực tập sinh viên tham gia làm việc tại các tổ chức có tác động rất lớn đến việc hình thành và phát triển các kỹ năng cá nhân
1.4 Mô hình nghiên cứu
Từ các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Khối kinh tế Tác giả đề xuất mô hình các nhân tố tác động đến hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Khối kinh tế trường Đại học Lạc Hồng phụ thuộc vào các nhóm nhân tố sau: nhân tô sinh viên, giáo viên hướng dẫn, cơ quan thực tập
và môi trường học tập được trình bày ở sơ đồ 2.1:
+ H1 (b 1 )
+ H2 (b 2 )
+ H3 (b 3 )
+ H4 (b 4 )
Sơ đồ 1.3: Mô hình nghiên cứu cơ bản
X2: Giáo viên hướng
dẫn
X3: Cơ quan thực tập
X4: Môi trường học tập
Y: Hoạt động Nghiên cứu khoa học của sinh viên Khối kinh tế X1: Sinh viên
Trang 21Để đo lường một thuộc tính (gọi là biến tiềm ẩn), chúng ta thường phải cần nhiều biến để đo lường nó Các biến này được gọi là các biến quan sát Tập hợp các biến quan sát cùng đo lường một thuộc tính được gọi là thang đo Thang đo Likert là thang đo mức độ đồng ý của người trả lời về các phát biểu đưa ra, nếu hoàn toàn đồng ý thì trả lời là 5 và hoàn toàn phản đối thì trả lời là 1.
Với b0, b1, b2, b3, b4 là các thông số ước lượng của mô hình Các hệ số này tác giả kì vọng là dương
Đặt giả thuyết các thông số ước lượng
H1 (hệ số b1 ): Sinh viên đánh giá càng cao thì sự hài lòng của sinh
viên đối với hoạt động nghiên cứu khoa học càng lớn và ngược lại Hay nói cách khác, nhân tố đánh giá của sinh viên và sự hài lòng về hoạt động nghiên cứu khoa học có quan hệ cùng chiều
H2 (hệ số b2 ): Giáo viên hướng dẫn được sinh viên đánh giá càng
cao thì sự hài lòng của sinh viên đối với hoạt động nghiên cứu khoa học càng lớn
và ngược lại Hay nói cách khác, nhân tố giáo viên và sự hài lòng của sinh viên về nghiên cứu khoa học có quan hệ cùng chiều
H3 (hệ số b3 ): Cơ quan thực tập được sinh viên đánh giá càng cao
thì sự hài lòng của sinh viên đối với hoạt động nghiên cứu khoa học càng lớn
và ngược lại Hay nói cách khác, nhân tố cơ quan thực tập và sự hài lòng của sinh viên về nghiên cứu khoa học có quan hệ cùng chiều
H4 (hệ số b4 ): Môi trường học tập được sinh viên đánh giá càng cao
thì sự hài lòng của sinh viên đối với hoạt động nghiên cứu khoa học càng lớn và ngược lại Hay nói cách khác, nhân tố môi trường học tập và sự hài lòng của sinh viên về nghiên cứu khoa học có quan hệ cùng chiều
Trang 22KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua chương 1 bằng việc tham khảo và tổng hợp lại cơ sở lý thuyết tác giả đã bước đầu khái quát và trình bày được các vấn đề liên quan đến đề tài như: về hoạt động nghiên cứu khoa học, nhận thấy vai trò quan trọng của hoạt động nghiên cứu khoa học đối với sinh viên, chức năng của nghiên cứu khoa học, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nghiên cứu khoa học và tình hình nghiên cứu khoa học của sinh viên Khối kinh tế ở các trường Cao đẳng, Đại học hiện nay Ngoài ra, tác giả
đã xây dựng mô hình nghiên cứu sự hài lòng của sinh viên về hoạt động nghiên cứu khoa học khối ngành kinh tế trường Đại Học Lạc hồng Từ những cơ sở lý luận của chương 1 cũng là cơ sở để tác giả phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp góp phần giúp cho hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Khối kinh tế Trường Đại học Lạc Hồng ngày một hoàn thiện hơn
Trang 23CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN KHỐI KINH TẾ TRƯỜNG
ĐẠI HỌC LẠC HỒNG 2.1 Tổng quan về Trường Đại học Lạc Hồng
2.1.1 Sự ra đời, đặc điểm và nhiệm vụ của Nhà trường
Từ những năm 1993 – 1994 lãnh đạo tỉnh Đồng Nai thấy nhu cầu bức thiết phải thành lập một trường Đại học tại Biên Hoà, Đồng Nai, nhằm đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng kịp thời đà phát triển kinh tế xã hội Hội nghị Đảng Bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam tỉnh Đồng Nai lần thứ V và các đại hội tiếp theo điều có nghị quyết về xin thành lập trường Đại học tại Biên Hòa
Trường Đại học Lạc Hồng được thành lập theo quyết định số 790QĐ/TTg, ngày 24/9/1997 của Thủ Tướng Chính Phủ và hoạt động theo quyết định số 3678 BGD – ĐT ngày 13/11/1997
Trường Đại học Lạc Hồng là một cơ sở giáo dục đa ngành, đa cấp học, đào tạo và nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ trong các lĩnh vực kỹ thuật – công nghệ, kinh tế và xã hội nhân văn Nhà trường đảm bảo cung cấp và chăm lo những điều kiện học tập có chất lượng cho mọi người có nhu cầu đào tạo và đào tạo lại; mặt khác đảm bảo cung cấp nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn và hiểu biết chính trị cho thị trường lao động của tỉnh Đồng Nai nói riêng, cả nước nói chung
Trường Đại học Lạc Hồng là trường đào tạo nhân lực cung cấp trực tiếp cho các Khu Công nghiệp, Khu chế xuất của tỉnh Đồng Nai và các khu vực lân cận Bên cạnh đào tạo nhân lực Nhà trường chú trọng vườn ươm nhân tài Những sinh viên
có học lực từ Khá trở lên phải tự chịu trách nhiệm với điểm số của mình và phải tham gia nghiên cứu khoa học Nhà trường luôn có một niềm tin vững chắc đó là mỗi sinh viên đều có một tiềm năng và nhà trường có nhiệm vụ phải khơi dậy những tiềm năng ấy cho sinh viên bằng hoạt động nghiên cứu khoa học Với chương trình đào tạo như vậy sinh viên sẽ nhanh chóng kiếm được việc làm sau khi tốt nghiệp
Trang 24Nhà trường có xu hướng đưa trường học gần với các khu chế xuất, khu công nghiệp, tạo điều kiện cho các cán bộ nhân viên học thêm chuyên môn nghiệp vụ và phục vụ cho nhu cầu học tập suốt đời của các giảng viên, cán bộ công nhân viên, sinh viên trong nhà trường
* Quá trình phát triển
Hiện nay, trường có 24 ngành đào tạo Đại học và Cao đẳng gồm các ngành
về khoa học công nghệ (Tin học, Điện tử Viễn thông, Công nghệ Tự động hoá, Công nghệ Điện - Điện tử, Xây dựng dân dụng, Công nghiệp và Cầu đường, Điện dân dụng, Điện công nghiệp, Công nghệ Hoá học, Công nghệ Thực phẩm, Khoa học Môi trường, Công nghệ Sinh học, Công nghệ cắt may, Nông nghiệp), Tài chính – Ngân hàng, Quản trị Kinh doanh (Quản trị Doanh nghiệp, Quản trị Thương mại Điện tử), Kế toán – Kiểm toán, Ngoại thương, Đông Phương học (Nhật Bản học, Hàn Quốc học, Trung Quốc học, Việt Nam học), Ngữ văn anh và Hoa văn
Sau 15 năm, từ 5 ngành đào tạo Đại học chính quy ban đầu tới nay trường đã
có các bậc đào tạo: Công nhân kỹ thuật 3/7, Trung học chuyên nghiệp, Cao đẳng, Đại học, Sau đại học
Từ năm học 2009 – 2010, Đại học Lạc Hồng tiến hành đào tạo Cao học hai ngành Công nghệ Thông tin và Quản trị Kinh doanh và hiện nay Trường đã đào tạo thêm các ngành: Kế toán - Kiểm toán, Tài chính - Ngân hàng… Bên cạnh đó, trường cũng tiến hành mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế dưới nhiều hình thức như: gửi sinh viên, giảng viên đi học ở nước ngoài theo các chương trình hợp tác đào tạo
* Nhiệm vụ của Trường
Đào tạo đội ngũ Kỹ sư, Cử nhân và Sau đại học Bồi dưỡng nguồn nhân lực lao động kinh tế - kỹ thuật có trình độ cho các công ty, xí nghiệp… thuộc các khu công nghiệp, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động của xã hội
Kết hợp việc giảng dạy, học tập với nghiên cứu khoa học cho giáo viên và sinh viên phục vụ cho sản xuất – dịch vụ đa ngành
Quan hệ hợp tác với các tổ chức, các trường đại học, viện nghiên cứu của các nước trong khu vực và thế giới
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Trường Đại học Lạc Hồng
Sơ đồ tổ chức của Trường Đại học Lạc Hồng được trình bày ở sơ đồ 2.1:
Trang 25Nguồn: Phòng tổ chức hành chính Trường Đại học Lạc Hồng
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức của Trường Đại học Lạc Hồng
PHÓ HIỆU TRƯỞNG
PHÓ HIỆU TRƯỞNG
PHÓ HIỆU TRƯỞNG
PHÓ HIỆU TRƯỞNG
Phòng Quan hệ Quôc tế
Phòng Đào tạo
Khu nội trú sinh viên
Phòng Quản trị thiết
Ban Khảo thí
Phòng Thực hành thí nghiệm &
CGCN
Phòng Công tác sinh viên
Phòng Sau ĐH, NCKH &
KĐCL
Trung tâm Ngoại ngữ &
Tin học
T.tâm Quan hệ Doanh nghiệp và
KHOA CÔNG NGHỆ SINH HỌC- MÔI TRƯỜNG
KHOA CÔNG NGHỆ HÓA- THỰC PHẨM
KHOA
CƠ ĐIỆN
KHOA ANH VĂN ĐẠI CƯƠNG
KHOA NGÔN NGỮ ANH
KHOA QUẢN TRỊ KINH TẾ- QUỐC TẾ
KẾ TOÁN -KIỂM TOÁN
KHOA TÀI CHÍNH -NGÂN HÀNG
CÁC CƠ SỞ, THƯ VIỆN, CÁC PHÒNG THÍ NGHIỆM THỰC HÀNH, CÁC BỘ MÔN VÀ CÁC LỚP HỌC
Phòng Thanh tra Giáo dục
: Tuyến quan hệ : Đoàn thể
Trung tâm CISCO
Đảng Bộ Công Đoàn Đoàn TNCS
Trang 262.1.3 Chức năng nhiệm vụ của các đơn vị Khoa, Phòng, Ban chức năng
Chức năng nhiệm vụ của phòng Đào tạo
- Lập kế hoạch đào tạo, tuyển sinh cho các khóa đào tạo của trường, kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất để phục vụ đào tạo
- Tổng hợp kế hoạch giảng dạy toàn khóa, từng học kỳ, năm học, kế hoạch thi học kỳ, thi tốt nghiệp các khóa trên cơ sở kế hoạch chi tiết của từng khoa
- Thực hiện những quyết định của Hiệu trưởng trong quá trình đào tạo theo đúng kế hoạch của trường với các hình thức và phương pháp thích hợp nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ đào tạo
Chức năng nhiệm vụ của phòng Nghiên cứu khoa học – Sau đại học và kiểm định chất lượng
- Giúp Hiệu trưởng đăng ký và quản lý các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường, cấp Bộ và cấp Nhà nước Triển khai các thông tin nghiên cứu khoa học đến từng khoa, từng bộ môn theo từng lĩnh vực quy định
- Tổ chức các buổi hội thảo bảo vệ đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường, cấp Bộ và cấp Nhà nước Giúp các khoa hoàn chỉnh đề cương nghiên cứu theo quy định của Bộ giáo dục và Đào tạo về nghiên cứu khoa học
- Cập nhật thông tin mới nhất về các công trình khoa học có liên quan đến lĩnh vực đào tạo của Nhà trường, phổ biến các khoa để tham khảo và học hỏi kinh nghiệm trong giảng dạy và nghiên cứu
- Triển khai công tác nghiên cứu khoa học và ứng dụng thực tế trong sinh viên
- Thực hiện công tác kiểm định chất lượng trong toàn trường
Chức năng của trung tâm quan hệ doanh nghiệp và hỗ trợ sinh viên
Tham mưu cho Ban Giám hiệu, đề xuất, lập kế hoạch, tổ chức triển khai, quản lý chương trình lao động thực tế của sinh viên tại Doanh nghiệp của trường
Tham mưu cho Ban Giám hiệu, đề xuất, lập kế hoạch, tổ chức, phối hợp triển khai và quản lý các hoạt động trong lĩnh vực quan hệ với doanh nghiệp về một số nhiệm vụ sau đây:
Trang 27- Thỏa thuận và ký kết biên bản ghi nhớ với việc Doanh nghiệp về việc tiếp nhận sinh viên lao động thực tế hàng năm Triển khai việc bố trí sinh viên đến địa điểm lao động thực tế, giám sát, hướng dẫn và giúp đỡ sinh viên trong thời gian lao động thực tại Doanh nghiệp
- Tìm hiểu nhu cầu về tuyển dụng lao động của Doanh nghiệp (số lượng, ngành nghề, trình độ chuyên môn) Tiến hành ký kết các thỏa thuận giữa hai bên
về hợp tác đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực cho tương lai, là cơ sở để trường xây dựng kế hoạch đào tạo một cách hợp lý, phù hợp nhu cầu lao động của Xã hội
- Xây dựng ngân hàng dữ liệu về mạng lưới Doanh nghiệp trên địa bàn Đồng Nai và các tỉnh lân cận với những thông tin cơ bản được cập nhật thường xuyên, làm cơ sở cho việc định hướng đào tạo và lập kế hoạch hợp tác toàn diện giữa Trường và Doanh nghiệp
- Liên hệ với các doanh nghiệp và định kỳ tổ chức các buổi tham quan thực
tế cho sinh viên Tham gia tổ chức hội thảo, gặp gỡ giao lưu, trao đổi kinh nghiệm giữa Doanh nghiệp với sinh viên, nhân viên của Trường
- Vận động Doanh nghiệp xem xét khả năng cấp học bổng cho sinh viên tài năng, sinh viên nghèo vượt khó, hoặc tài trợ cho các chương trình nghiên cứu khoa học có tính khả thi cao, các hội thảo, cuộc thi do Trường Lạc Hồng tổ chức nhằm động viên, khích lệ sinh viên và quảng bá thương hiệu Doanh nghiệp
- Tìm hiểu và đáp ứng nhu cầu của Doanh nghiệp về việc đào tạo các chuyên ngành ngắn hạn, nghiên cứu và ứng dụng những giải pháp kinh tế - kỹ thuật tiến bộ mà việc sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp đang cần Hỗ trợ trong việc tìm kiếm nguồn lao động phổ thông và công nhân kỹ thuật từ các địa phương trên toàn quốc theo nhu cầu tuyển dụng của Doanh nghiệp
Chức năng của Thư viện
Tổ chức khai thác, lưu trữ và cung cấp thông tin tư liệu trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kinh tế, xã hội và nhân văn phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu, học tập của cán bộ, giảng viên và sinh viên trong trường
Vốn tài liệu thường xuyên được bổ sung, hiện có hơn 16.000 cuốn sách và
200 tên báo, tạp chí, trong đó có gần 12 ngàn cuốn sách tiếng Việt, còn lại chủ yếu
là sách tiếng Anh, một số sách tiếng Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc…
Trang 28Bên cạnh đó, thư viện cũng tập trung xây dựng và phát triển kho tài liệu, giáo trình điện tử và đã bổ sung được gần 9000 tài liệu số hóa và cập nhật nhiều
cơ sở dữ liệu
Chức năng của phòng thực hành thí nghiệm và chuyển giao công nghệ
- Thực hành kỷ năng nghề nghiệp cho sinh viên
Hướng dẫn cho sinh viên một số công việc thực tế như thực hành kế toán,
khai báo thuế, thủ tục xuất nhập khẩu và khai báo hải quan …
Cung cấp các tài liệu thực tế của doanh nghiệp, giúp sinh viên làm quen với
các điều kiện làm việc thực tế của doanh nghiệp
- Xúc tiến chuyển giao công nghệ
Phối hợp với các Khoa đặt hàng cho sinh viên các công nghệ ứng dụng, các
mô hình giảng dạy mang tính phổ biến trong các trường học, các cơ quan, doanh
nghiệp
Liên hệ với các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước để nhận các đơn đặt hàng
về công nghệ ứng dụng, chuyển giao cho các Khoa đảm nhận thực hiện
Phối hợp với Phòng Nghiên cứu khoa học – Sau đại học – Kiểm định chất lượng rà soát nâng cấp các đề tài khoa học của Trường để đang ký thành đề tài khoa học cấp tỉnh, cấp bộ Triển khai cho các đơn vị thực hiện phối hợp nghiệm thu
Chức năng nhiệm vụ phòng Tổ chức - Hành chánh
- Phối hợp với phòng Đào tạo giúp Hiệu trưởng các công tác về tổ chức cán
bộ, sắp xếp, tổ chức bố trí giảng viên, cán bộ, viên chức theo đúng chức năng, nhiệm vụ công tác Quy hoạch đội ngũ giảng viên, cán bộ, viên chức của trường
- Giúp Hiệu trưởng trong việc phối hợp với công đoàn trong việc tổ chức thực hiện công tác thi đua khen thưởng, thực hiện các chính sách, chế độ với giảng viên, cán bộ viên chức; tổ chức các phong trào văn thể trong giáo viên, cán bộ viên chức
- Tổ chức thực hiện các mặt công tác về hành chính tổng hợp của trường, làm công tác văn thư lưu trữ, công tác giao dịch, lễ tân, khánh tiết
Trang 29 Chức năng của phòng Quản trị thiết bị
- Tổ chức thực hiện các chỉ thị của Hiệu trưởng về xây dựng, phân phối, sử dụng, tu sửa, cải tạo và bảo trì phòng làm việc, lớp học, giảng đường, xưởng thực tập, ký túc xá sinh viên, nhà ăn tập thể…
- Giúp Hiệu trưởng tổ chức thực hiện việc mua sắm, cấp phát các phương tiện phục vụ sinh hoạt và làm việc
- Tổ chức quản lý và bảo trì các thiết bị kỹ thuật khi có yêu cầu của các Khoa
- Tổ chức kiểm kê hằng năm, và kiểm kê đột xuất khi có yêu cầu; ghi chép
sổ sách tăng giảm tài sản; thường xuyên trình Ban Giám hiệu duyệt thanh lý tài sản hư hỏng không còn sử dụng; theo dõi việc cập nhật, ghi chép và định kỳ đối chiếu sổ sách quản lý tài sản tại đơn vị; tin học hoá việc quản lý tài sản trong trường thông qua phầm mềm quản lý tài sản mới
- Phối hợp với các đơn vị trong Trường lập kế hoạch và thực hiện mua sắm máy móc thiết bị ở tất cả các nguồn vốn theo đúng quy định của Nhà nước và nhà trường
- Bảo quản tốt các phương tiện dạy học, trang thiết bị nội thất Thường xuyên theo dõi và kịp thời báo cáo cho đơn vị chức năng đến sửa chữa, bảo trì những tài sản bị hư hỏng hoặc trang bị thay thế
Chức năng của phòng Công tác sinh viên
- Giúp Hiệu trưởng trong việc quản lý sinh viên về giờ lên lớp, sĩ số sinh viên trong lớp học, số sinh viên vắng, bỏ học trong từng học kỳ
- Thực hiện các công tác sinh viên như: quản lý sinh viên ở ký túc xá, nhận
và phản hồi thông tin kiến nghị của sinh viên về công tác đào tạo của Nhà trường
- Phối hợp với Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tổ chức các hoạt động văn hóa thể thao lành mạnh cho sinh viên
- Giáo dục công tác chính trị tư tưởng, văn hóa, xã hội được quy định trong Nhà trường cho sinh viên; đảm bảo môi trường lành mạnh, an ninh trong trường học
- Phối hợp chặt chẽ giữa gia đình sinh viên và Nhà trường Thông báo kịp thời đến gia đình sinh viên những trường hợp vi phạm kỷ luật của Nhà trường,
Trang 30cùng gia đình tìm biện pháp giải quyết giúp sinh viên tiếp tục đến trường Đề nghị khen thưởng, kỷ luật sinh viên
Chức năng của các Khoa
Thực hiện đào tạo, giảng dạy, nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng kiến thức các chuyên ngành; quản lý công tác chuyên môn và quản lý sinh viên thuộc trách nhiệm và thẩm quyền
Hội đồng khoa học cấp khoa là đơn vị tham mưu tư vấn về nội dung chương trình đào tạo, nghiên cứu khoa học và ứng dụng, thành phần và số lượng thành viên Hội đồng khoa học do Trưởng khoa đề nghị, Hiệu trưởng phê duyệt
2.2 Tình hình về hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Khối kinh tế Trường Đại học Lạc Hồng
2.2.1 Giới thiệu sơ lược về Khối kinh tế
Khối kinh tế của trường Đại học Lạc Hồng đào tạo những cử nhân có khả năng nghiên cứu, có năng lực tự học để tiếp tục nâng cao và mở rộng kiến thức nhằm phát triển kinh tế đất nước Đây sẽ là nguồn nhân lực với kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ cao, khả năng phán đoán, quan sát, nắm bắt được diễn biến tình hình kinh tế - xã hội, nắm bắt được những biến chuyển trong đời sống kinh tế thị trường, từ đó biết phân tích, nhận định và ứng dụng những hiểu biết, kiến thức kinh tế vào nghiệp vụ sản xuất, kinh doanh đạt hiệu quả cao trên thương trường trong nước và quốc tế
Sau khi tốt nghiệp sinh viên không những có trình độ chuyên ngành mà còn được trang bị khả năng tin học, ngoại ngữ theo chuẩn Toeic để có khả năng thích ứng ngay với yêu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp hoặc học chuyển tiếp lên trình độ cao hơn (Thạc sĩ, Tiến sĩ ) ở các trường đại học trong và ngoài nước hoặc
đi du học
Khối Kinh tế hiện tại của Trường Đại học Lạc Hồng gồm: Khoa Quản trị - Kinh tế Quốc tế, Khoa Tài chính – Ngân hàng, Khoa Kế toán – Kiểm toán
* Khoa Quản trị - Kinh tế Quốc tế
Khoa Quản Trị - Kinh tế Quốc tế là một trong các khoa được thành lập sớm nhất của trường Đại học Lạc Hồng
Trang 31Trong những năm 1997 đến 2002, sĩ số sinh viên vào Khoa tăng liên tục, niên khóa 2001 đã có đến 540 sinh viên đậu vào Khoa, năm 2002 có 654 sinh viên vào Đây là giai đoạn Trường Đại học Lạc Hồng được mọi người trong nước biết đến, số lượng học sinh đăng ký thi tuyển vào ngày một tăng
Niên khóa 2008 đến nay, Khoa được phép đào tạo thêm chuyên ngành Luật Kinh tế nằm trong chương trình Quản trị Kinh doanh, năm 2009 đào tạo thêm chuyên ngành Quản trị Du lịch, thực hiện đa dạng hóa chương trình đào tạo Năm
2009 tại Khoa có hơn 3000 sinh viên chính quy ngành Quản trị Kinh doanh và Ngoại thương, đồng thời Khoa cũng được phép của Ban Giám hiệu tiếp tục mở các lớp Quản trị Kinh doanh chương trình văn bằng II, tại chức, liên thông v.v…với gần 1000 sinh viên đang theo học
* Khoa Tài chính - Ngân hàng
Khoa Tài chính - Ngân hàng có tiền thân là Khoa Tài chính - Kế toán được thành lập theo Quyết định số 298 ngày 17/9/2005 của Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng Ngay từ khi thành lập, Khoa Tài chính - Kế toán được phép đào tạo 02 ngành chính là Tài chính Ngân hàng và Kế toán
Xuất phát từ nhu cầu lao động ngày càng tăng đối với các ngành Kinh tế, Khoa Tài chính Ngân hàng được thành lập trên cơ sở tách ngành Tài chính - Ngân hàng ra khỏi Khoa Tài chính - Kế toán theo Quyết định số 1030/QĐ-ĐHLH ngày 01/9/2010 của Hiệu trưởng Trường Đại Học Lạc Hồng
Hiện nay, Khoa Tài chính Ngân hàng được giao nhiệm vụ đào tạo bậc Đại học chính quy ngành Tài chính - Ngân hàng
* Khoa Kế toán - Kiểm toán
Khoa Kế toán - Kiểm toán mới được tách ra từ Khoa Tài chính – Kế toán từ tháng 9/2010, và trước đây có tiền thân là Khoa Kinh tế được thành lập theo Quyết định 790 TTg ngày 24/09/1997 của Thủ tướng Chính phủ Ngay từ khi thành lập, Khoa Kinh tế được phép đào tạo ba ngành chính là Quản trị Kinh doanh, Tài chính - Kế toán và Kinh tế Thương mại
Xuất phát từ nhu cầu lao động ngày càng tăng đối với các ngành Kinh Tế, Khoa Tài Chính - Kế Toán được thành lập trên cơ sở tách ngành Kế toán – Kiểm
Trang 32toán và ngành Tài chính – Ngân hàng ra khỏi Khoa Kinh tế theo Quyết định số
298 ngày 17-09-2005 của Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng
2.2.2 Tình hình về hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Khối kinh tế Trường Đại học Lạc Hồng
2.2.2.1 Tình hình về hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Khoa Quản trị - Kinh tế Quốc tế
Với việc thực hiện các văn bản đã được ban hành về công tác nghiên cứu khoa học, Khoa Quản trị - Kinh tế Quốc tế đã tiến hành công tác đăng ký, triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên một cách nghiêm túc và được giám sát theo đúng quy định Qua các năm số lượng đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên ngày càng tăng và có nhiều đề tài được đánh giá cao tại hội đồng báo cáo cấp Trường
Năm 2007 có 41 đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên khóa 2003 Ngày
& Đêm, có 11 đề tài được báo cáo hội đồng cấp Trường Kết quả có 02 giải nhì, 03 giải ba, 06 giải khuyến khích Trong đó có 01 đề tài đã đạt giải khuyến khích cấp
Bộ
Năm 2008 có 82 đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên khóa 2004 Ngày
& Đêm, có 18 đề tài được báo cáo hội đồng cấp Trường Kết quả có 01 giải nhất,
02 giải nhì, 05 giải ba, 10 giải khuyến khích Trong đó có 02 đề tài đã đạt giải khuyến khích cấp Bộ
Năm 2009 có 85 đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên khóa 2005 Ngày
& Đêm, có 18 đề tài được báo cáo hội đồng cấp Trường Kết quả có 03 giải nhất,
04 giải nhì, 11 giải ba Trong đó có 02 đề tài đã đạt giải khuyến khích cấp Bộ
Năm 2010 có 135 đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên khóa 2006 Ngày & Đêm, có 17 đề tài được báo cáo hội đồng cấp Trường Kết quả có 01 giải nhất, 02 giải nhì, 06 giải ba và 08 giải khuyến khích Trong đó có 01 đề tài đã đạt giải ba cấp Bộ
Trong năm 2011 đã có tới 247 đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên các lớp 2007 Ngày & Đêm, có 28 đề tài xuất sắc được đưa ra Hội đồng báo cáo toàn trường Kết quả có 01 giải nhất, 02 giải nhì, 06 giải ba và 19 giải khuyến
Trang 33khích toàn trường Trong đó có 01 đề tài đã đạt giải khuyến khích cấp Bộ Đây là một kết quả đáng khích lệ cho hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Khoa
2.2.2.2 Tình hình về hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Khoa Tài chính - Ngân hàng
Hoạt động nghiên cứu khoa học của Khoa Tài chính - Ngân hàng ngày càng được đề cao và phát triển mạnh thông qua số lượng ngày một tăng các công trình nghiên cứu khoa học của sinh viên Trong năm 2011, Khoa đã có 149 đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên, trong đó có 01 đề tài đạt giải nhất, 03 đề tài đạt giải nhì, 02 đề tài đạt giải ba và 17 đề tài đạt giải khuyến khích trong hội nghị báo cáo cấp Trường
Trong năm 2008 – 2009 Khoa Tài chính – Ngân hàng có 04 đề tài đạt giải khuyến khích cấp Bộ, năm 2010 – 2011 có 01 đề tài đạt giải nhì cấp Bộ Đây là
một kết quả đáng khích lệ cho hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Khoa
Hàng năm, Khoa Tài chính - Ngân hàng đều tổ chức Hội nghị nghiên cứu khoa học cấp Khoa Hội nghị không chỉ dành cho các sinh viên trong Khoa mà còn
là diễn đàn mở đối với các sinh viên tại các Khoa khác trong trường
2.2.2.3 Tình hình về hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên Khoa
Kế toán – Kiểm toán
Hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên của Khoa phát triển nhanh cả về
số lượng lẫn chất lượng, năm 2005 chỉ có 02 đề tài nhưng đến năm 2011 riêng khóa 07 ngày và đêm có 259 đề tài Trong đó có 01 đề tài đạt giải nhất, 02 đề tài đạt giải nhì, 02 đề tài đạt giải ba và 14 đề tài đạt giải khuyến khích cấp Trường và
có 01 đề tài đạt giải khuyến khích cấp Bộ
Song song với sự phát triển về quy mô, chất lượng các đề tài cũng ngày càng tăng, đội ngũ cán bộ quản lý nghiên cứu khoa học cũng chuyên nghiệp hơn
Cụ thể là phần cơ sở lý luận của đề tài được đầu tư và chú trọng hơn, kết quả nghiên cứu được lượng hóa bằng số liệu thống kê, các giải pháp được cụ thể hóa, hình thức trình bày ngày càng được chuẩn hóa
Trang 342.2.3 Thống kê số lượng các đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên Khối kinh tế qua các năm
Bảng 2.1: Số lượng đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên qua các năm
số 2.757 đề tài)
Điều này cho thấy Khối kinh tế đang chiếm một vị thế quan trọng về quy mô trong hoạt động nghiên cứu khoa học của toàn trường Chính vì thế, Nhà trường cần phải có những giải pháp để phát huy hơn nữa năng lực nghiên cứu khoa học của sinh viên Khối kinh tế
0 100
Đề tài NCKH
Năm
Biểu đồ 2.1: Số lượng đề tài nghiên cứu khoa học sinh viên
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Trang 35Bảng 2.2: Kết quả nghiên cứu khoa học sinh viên cấp Trường giai
đoạn 2003 - 2011 Giải thưởng
Khối ngành Nhất Nhì Ba
Khuyến khích Tổng Tỉ trọng
Nguồn: Phòng Nghiên cứu khoa học - Sau đại học - Kiểm định chất lượng
Ở bảng 2.2 cho ta một số nhận xét sau: qua 17 Hội nghị nghiên cứu khoa học cấp Trường, thì Khối kinh tế đạt được một số thành tích nhất định như: có 21 đề tài đạt giải nhất, 38 đề tài đạt giải nhì và 71 đề tài đạt giải ba, chiếm 41,9% trên tổng số
đề tài đoạt giải nghiên cứu khoa học cấp Trường
41.9%
45.1%
13.0%
Khối Kinh tế Khối Kỹ thuật Khối xã hội
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Biểu đồ 2.2: Kết quả nghiên cứu khoa học sinh viên cấp Trường
giai đoạn 2003-2011
Không chỉ dừng lại ở mức độ nghiên cứu khoa học cấp Trường, một số đề tài khoa học của Khối kinh tế đã được Trường gửi tham gia cuộc thi sinh viên nghiên cứu khoa học cấp Bộ và đã đạt được một số thành tích đáng kể: 01 đề tài đạt giải nhì,
Trang 3601 giải ba và 14 đề tài khuyến khích, chiếm 59,3% trên tổng số đề tài đoạt giải nghiên cứu khoa học cấp Bộ, được thể hiện ở bảng 2.3
Bảng 2.3: Kết quả nghiên cứu khoa học sinh viên cấp Bộ giai đoạn 2007 - 2011 Giải thưởng
Nguồn: Phòng Nghiên cứu khoa học - Sau đại học - Kiểm định chất lượng
Nhận xét: Trong các năm học vừa qua, để chất lượng đề tài nghiên cứu khoa học Khối kinh tế ngày càng tăng hơn nữa, Nhà trường đã tiến hành đổi mới trong hoạt động nghiên cứu khoa học bằng cách quy định các đề tài đăng ký phải số hóa, thực hiện điều tra khảo sát, xử lý số liệu bằng các phần mềm chuyên dụng, như phần mềm Eviews, SPSS, Amos,… Các kết luận của đề tài mà không dựa trên kết quả xử
lý số liệu thì sẽ không được công nhận
59.3%
29.6%
11.1%
Khối Kinh tế Khối Kỹ thuật Khối xã hội
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Biểu đồ 2.3: Kết quả nghiên cứu khoa học sinh viên cấp Bộ giai
đoạn 2007 – 2011
Trang 37Bảng 2.4: Bảng số lượng đề tài nghiên cứu khoa học so với số lượng giáo
viên hướng dẫn Khối kinh tế giai đoạn 2004 -2011
Nguồn: Phòng Nghiên cứu khoa học - Sau đại học - Kiểm định chất lượng
Qua bảng 2.4 tác giả có một số nhận xét như sau: số lượng đề tài nghiên cứu khoa học và số lượng giáo viên hướng dẫn từ năm 2004 đến năm 2011 tăng nhanh (số lượng đề tài tăng từ 12 đến 655 đề tài, số lượng giáo viên hướng dẫn tăng từ 7 đến 62 giáo viên hướng dẫn) Điều này cho thấy hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên đang phát triển nhanh về quy mô
- Tuy nhiên, xét từ năm 2004 (năm gốc) đến hết năm 2011, tốc độ tăng của
số lượng đề tài nghiên cứu khoa học cao hơn rất nhiều so với tốc độ tăng của giáo viên hướng dẫn (5358% so với 786%) Chính vì thế, quy mô của đề tài tăng rất nhanh và gần như tỷ lệ sinh viên trên một giáo viên hướng dẫn ngày càng cao Điều này sẽ làm cho chất lượng hướng dẫn có xu hướng không tăng (thậm chí có khả năng giảm trên từng sinh viên)
Năm
Số lượng đề tài NCKH sinh viên khối Kinh
tế
Chênh lệch Số lượng
giáo viên tham gia hướng dẫn
SV NCKH
Chênh lệch
Số chênh lệch
Trang 38Mỗi giáo viên sẽ hướng dẫn ngày càng nhiều sinh viên hơn, tuy nhiên phần lớn các giáo viên ngoài công việc giảng dạy còn phải thực hiện các công trình nghiên cứu khoa học của giảng viên, soạn bài giảng Lượng sinh viên nghiên cứu tăng nhanh, trong khi đó số giảng viên tăng không nhiều dẫn đến mâu thuẫn giữa quy mô và chất lượng nghiên cứu khoa học Đây là một thực trạng cần phải quan tâm, vì một đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên cần phải có sự hỗ trợ của giáo viên rất nhiều
2.3 Tiến hành nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu: được thể hiện chi tiết trong sơ đồ 2.2 Quy trình này mở đầu bằng việc đặt vấn đề nghiên cứu và kết thúc bằng việc trình bày báo cáo nghiên cứu Đặc biệt, 2 phương pháp chính trong quy trình này gồm có:
- Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng trong giai đoạn nghiên cứu ban đầu, được thực hiện thông qua cuộc thảo luận phỏng vấn ý kiến các chuyên gia Khối kinh tế Trường Đại học Lạc Hồng Nghiên cứu định tính dùng để khám phá, điều chỉnh và bổ sung cho các nhân tố chính ảnh hưởng đến hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên
- Phương pháp nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua việc tiến hành khảo sát các sinh viên Khối kinh tế Trường Đại học Lạc Hồng, để nhằm kiểm định các nhân tố của thang đo và đưa ra kết luận để đề xuất các giải pháp phù hợp cho đề tài
Trang 39Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ quy trình nghiên cứu
Phát triển thang đo
Nghiên cứu định lượng (khảo sát sinh viên) n=258
Đề xuất giải pháp đẩy mạnh hoạt động NCKH sinh viên Khối kinh tế