Hoạt động hành nghề y tế tư nhân nói chung và hoạt động hành nghề y tế tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng đã và đang phát triển nhanh chóng về số lượng và chất lượng, tạo t
Trang 1HUỲNH TRẦN THU HUYỀN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỆ THỐNG BỆNH VIỆN
TƯ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Đà Nẵng – Năm 2018
Trang 2HUỲNH TRẦN THU HUYỀN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỆ THỐNG BỆNH VIỆN
TƯ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 60.34.04.10
Người hướng dẫn khoa học: TS TRƯƠNG SỸ QUÝ
Đà Nẵng – Năm 2018
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu, kết luận nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình khoa học này
Đà Nẵng, ngày … tháng … năm 2018
Tác giả luận văn
Huỳnh Trần Thu Huyền
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu chính đã tham khảo: 5
8 Bố cục đề tài 8
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỆ THỐNG BỆNH VIỆN TƯ NHÂN TRONG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG BỆNH VIỆN 9
1.1 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ Y TẾ 9
1.1.1 Quản lý nhà nước về y tế 9
1.1.2 Vai trò của quản lý nhà nước về y tế 10
1.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về y tế 11
1.1.4 Phương thức quản lý nhà nước về y tế 14
1.1.5 Quản lý nhà nước về y tế tư nhân: 21
1.2 VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG BỆNH VIỆN TƯ NHÂN TRONG HỆ THỐNG Y TẾ NƯỚC TA 23
1.2.1 Hệ thống y tế Việt Nam 23
1.2.2 Hệ thống y tế tư nhân 24
1.2.3 Hệ thống bệnh viện tư nhân 24
1.3 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỆ THỐNG BỆNH VIỆN TƯ NHÂN 26
Trang 51.3.2 Vai trò của quản lý nhà nước đối hệ thống bệnh viện tư nhân 27
1.3.3 Nội dung quản lý nhà nước đối với hệ thống bệnh viện tư nhân 28
1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về hệ thống bệnh viện tư nhân 34
1.3.5 Kinh nghiệm một số nước trong quản lý hệ thống bệnh viện tư nhân 38
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỆ THỐNG BỆNH VIỆN TƯ NHÂN Ở ĐÀ NẴNG 45
2.1 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG BỆNH VIỆN tư nhân TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 45
2.1.1 Quy mô phát triển về số bệnh viện và giường bệnh 45
2.1.2 Tình hình khám, chữa bệnh của hệ thống bệnh viện tư nhân 48
2.1.3 Hệ thống bệnh viện tư nhân trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng 51
2.2 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỆ THỐNG BỆNH VIỆN TƯ NHÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG THỜI GIAN QUA 57
2.2.1 Hệ thống các chính sách về y tế đối với bệnh viện tư nhân ở Việt Nam nói chung và trên địa bàn TP Đà Nẵng nói riêng 57
2.2.2 Các hoạt động quản lý giá đối với dịch vụ y tế trong hệ thống bệnh viện tư nhân 58
2.2.3 Đào tạo trình độ chuyên môn, nghiệp vụ kỹ thuật cho người lao động trong hệ thống bệnh viện tư nhân 60
2.2.4 Tổ chức chỉ đạo công tác thi đua khen thưởng trong công tác hành nghề tại các bệnh viện tư nhân 60
2.3 KẾT LUẬN 61
2.3.1 Kết quả đạt được 61
2.3.2 Những vấn đề tồn tại và nguyên nhân 61
Trang 664 3.1 CƠ SỞ CHO CÁC PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI HỆ THỐNG BỆNH VIỆN TƯ NHÂN TẠI ĐÀ NẴNG 64 3.1.1 Quan điểm, định hướng của Đảng và nhà nước về y tế nói chung64 3.1.2 Quan điểm, định hướng của nhà nước đối với quản lý hệ thống bệnh viện tư nhân đà nẵng trong thời gian đến 66 3.2 MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG BỆNH VIỆN TƯ NHÂN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 70 3.2.1 Mục tiêu tổng quát 70 3.2.2 Mục tiêu cụ thể 70 3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC BỆNH VIỆN TƯ NHÂN Ở ĐÀ NẴNG 71 3.3.1 Các giải pháp quản lý nhà nước nhằm thúc đẩy sự phát triển của bệnh viện tư nhân tại Đà Nẵng 71 3.3.2 Các giải pháp quản lý nhà nước nhằm kiểm soát chất lượng phục
vụ của hệ thống bệnh viện tư nhân tại thành phố Đà Nẵng 73 3.3.3 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với các bệnh viện tư nhân 75 3.3.4 Các giải pháp về cải thiện và quản lý chất lượng nguồn nhân lực của các bệnh viện tư nhân 79
KẾT LUẬN 81 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (BẢN SAO)
Trang 7Bảng Tên bảng Trang
2.1 Tổng số bệnh viện và giường bệnh theo phân tuyến
2.2 Số lượt khám, điều trị ngoại trú, nội trú theo các tuyến
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sức khoẻ là vốn quý nhất của con người và của toàn xã hội Bảo vệ,
chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân là hoạt động nhân đạo, trực tiếp bảo đảm nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (Nghị quyết
46, 2005) Trong những năm qua, cùng với sự tăng trưởng kinh tế, phát triển
xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm, chỉ đạo phát triển sự nghiệp y tế và công tác chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, nhằm huy động mọi nguồn lực của xã hội, nhất là từ những bệnh nhận có thu nhập khá để y tế công có điều kiện phục vụ toàn dân tốt hơn, y tế tư nhân có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng Hoạt động hành nghề y tế tư nhân nói chung và hoạt động hành nghề y
tế tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng đã và đang phát triển nhanh chóng về số lượng và chất lượng, tạo thành mạng lưới y tế rộng khắp, phát huy hiệu quả trong việc cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, tạo điều kiện cho người dân được tiếp cận với các hệ thống bệnh viện, góp phần đáng kể trong công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân Đặc biệt, kể từ khi có Pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân ra đời thì lĩnh vực hoạt động y tế
tư nhân ngày một phát triển và đã đạt được những mặt tích cực: cùng với hệ thống y tế công lập hình thành một mạng lưới khám, chữa bệnh rộng khắp, đa dạng, phong phú; Tạo điều kiện cho người dân được tiếp cận với các hệ thống bệnh viện nhằm phát hiện sớm bệnh tật, người dân được chăm sóc và theo dõi sức khỏe thường xuyên hơn Qua đó, góp phần thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe, chia sẻ gánh nặng và góp phần giảm sự quá tải trong các cơ sở y tế Nhà nước, giúp cho người dân có nhiều cơ hội lựa chọn
hệ thống bệnh viện kỹ thuật cao chăm sóc sức khỏe cho mình
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm đạt được nêu trên, vốn bản chất là doanh nghiệp tư nhân với mục tiêu lợi nhuận, y tế tư nhân, nhất là những đơn
Trang 10vị lớn là bệnh viện tư nhân, họ có những quyết định vì lợi nhuận sẽ gây các tổn thất cho người bệnh và xã hội Điều đó đòi hỏi phải có sự quản lý của Nhà nước trong ngành nghề đặc biệt này Thật vậy, trong quá trình khám, chữa bệnh, ở khu vực này còn có một số bất cập do hệ thống pháp luật điều chỉnh chưa hoàn chỉnh, việc quản lý còn lỏng lẻo và có nhiều kẽ hở; lực lượng thanh kiểm tra của ngành còn quá mỏng; các chế tài xử phạt thì chưa đủ mạnh, chưa
đủ sức răn đe
Để có những giải pháp quản lý phù hợp giúp cho hoạt động hành nghề y
tư nhân và cụ thể là quản lý hoạt động khám chữa bệnh của các bệnh viện tư trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, tôi lựa chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài
“QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỆ THỐNG BỆNH VIỆN TƯ NHÂN TRÊN
ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG”
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Trên cơ sở phân tích thực trạng công tác quản lý nhà nước về hệ thống
bệnh viện tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, làm rõ những vấn đề đặt
ra trong công tác quản lý hoạt động khám chữa bệnh tại bệnh viện tư, từ đó đề xuất các phương hướng và giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hệ thống bệnh viện tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Hệ thống hóa các nội dung liên quan đến công tác quản lý nhà nước đối với khu vực y tế tư nhân và hệ thống bệnh viện tư nhân
- Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước (QLNN) về hệ thống bệnh viện
tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về hệ thống bệnh viện tư nhân trên địa bàn tại thành phố Đà Nẵng
Trang 113 Câu hỏi nghiên cứu
Để có những giải pháp quản lý nhà nước phù hợp để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của các bệnh viện tư nhân trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng, đề tài phải trả lời ba câu hỏi:
- Vai trò, chức năng, nội dung và công cụ quản lý nhà nước đối với khu vực y tế tư nhân nói chung, đối với bệnh viện tư nhân nói riêng là gì?
- Thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của hệ thống bệnh viện tư nhân trên địa bàn TP Đà Nẵng hiện nay như thế nào? Có những khó khăn, bất cập gì trong công tác quản lý nhà nước về hoạt động của các bệnh viện tư nhân trên địa bàn TP Đà Nẵng?
- Những giải pháp nào là thích hợp để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động của hệ thống bệnh viện tư nhân tại thành phố Đà Nẵng?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề về lý luận quản lý nhà nước đối với các bệnh viện tư nhân và thực tiến quản lý nhà nước đối với các bệnh viện tư nhân ở thành phố Đà Nẵng
- Phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu công tác quản lý nhà nước đối với hệ thống bệnh viện tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (07
Trang 12bệnh viện tư nhân)
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng làm phương pháp chính, xem xét hoạt động quản lý nhà nước đối với hệ thống bệnh viện tư nhân trong mối quan hệ với chức năng quản lý xã hội đối với hệ thống bệnh viện và chức năng quản lý kinh tế đối với khu vực tư nhân, xây dựng các giải pháp cho tương lai trên cơ sở nghiên cứu thực trạng lịch sử
Bên cạnh đó, đề tài còn sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống, xem xét hoạt động quản lý nhà nước đối với hệ thống bệnh viện tư nhân thông qua các yêu cầu đầu ra của Nhà nước đối với hệ thống này, các điều kiện đầu vào của quản lý nhà nước để thiết kế các phương hướng và giải pháp
5.2 Phương pháp thu thập thông tin
Chủ yếu là dữ liệu thứ cấp thông qua các báo cáo của Sở Y tế thành phố
Đà Nẵng và của các bệnh viện tư nhân
5.3 Phương pháp tổng hợp & xử lý thông tin:
- Xử lý thông tin thứ cấp : Tổng hợp, chọn lọc thông tin có liên quan
phục vụ đề tài nghiên cứu
- Xử lý thông tin sơ cấp : Tổng hợp, phân loại và xử lý các số liệu điều
tra bằng chương trình Excel và các công cụ hỗ trợ khác
5.4 Phương pháp phân tích:
- Phương pháp so sánh: phương pháp này dùng để so sánh tình hình
QLNN về hoạt động của hệ thống bệnh viện tư nhân qua các giai đoạn, các năm
- Phương pháp thống kê mô tả: số liệu thu thập được từ các nguồn khác
nhau được xử lý, phân tích qua các chỉ tiêu thống kê để mô tả tình hình QLNN về hoạt động của hệ thống bệnh viện tư nhân trên địa bàn Đà Nẵng và những hạn chế còn tồn tại
Trang 136 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Góp phần hệ thống hoá lý luận và kinh nghiệm về quản lý Nhà nước đối với hệ thống bệnh viện tư nhân tại Việt Nam
- Đánh giá được thực trạng của quản lý Nhà nước đối với hệ thống bệnh viện tư nhân hiện nay, chỉ ra được thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập cần giải quyết
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp có cơ sở lý luận và thực tiễn để hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với hệ thống bệnh viện tư nhân trong thời gian tới
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu chính đã tham khảo:
Khi bàn về kinh tế tư nhân trong việc cung cấp dịch vụ y tế (hay gọi tắt
là y tế tư nhân) ở Việt Nam, đề tài sẽ đề cập đến các mảng vấn đề lớn như: Kinh tế tư nhân, dịch vụ y tế, kinh tế tư nhân trong cung cấp dịch vụ y tế, và thực tiễn các vấn đề này ở Việt Nam Các vấn đề này đã được nhiều nhà kinh
tế quan tâm nghiên cứu
Kinh tế tư nhân là đối tượng đã được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu, cụ thể là trong các tác phẩm:
- Minh Phương, Trần Quế, Hà Huy Thành, Kinh tế tư nhân Việt Nam sau
20 năm đổi mới-Thực trạng và những vấn đề, Nxb: Khoa học Xã hội – 2005
Cuốn sách phân tích thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam giai
đoạn 1986 -2005 từ đó đưa ra những giải pháp, chính sách phát triển kinh tế
tư nhân Việt Nam thời kỳ đổi mới
- Trịnh Thị Hoa Mai, Kinh tế tư nhân Việt Nam trong tiến trình hội nhập,
Nxb: Thế Giới – 2005 Trình bày về tổng quan kinh tế tư nhân với những ưu thế và hạn chế vốn có của nó, phân tích đánh giá vai trò của khu vực kinh tế
tư nhân trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Trang 14- Nguyễn Thanh Tuyền, Nguyễn Quốc Tế, Lương Minh cừ, Sở hữu tư
nhân và kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb: Chính Trị Quốc Gia – 2006 Cuốn sách trình bày lý
luận chung về sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, vai trò, vị trí của kinh tế tư nhân, thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta, những chính sách và giải pháp thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tư nhân
- Đinh Thị Thơm, Kinh tế tư nhân sau hai thập kỷ đổi mới, Nxb Khoa
học xã hội – 2006 Tác giả đã phân tích, đánh giá, kiến giải và những giải pháp được đúc kết trong những công trình, bài viết của nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam về khu vực kinh tế tư nhân sau năm 1986 ở Việt Nam Qua đó đánh giá được vai trò của kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế
- Hà Văn Tuấn , Phát triển kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại ở
nước ta hiện nay: LATS Kinh tế: 62.34.10.01,H - 2010: Đánh giá thực trạng
phát triển kinh tế tư nhân trong lĩnh vực thương mại hiện nay, đề xuất định hướng và giải pháp thúc đẩy hoạt động này trong thời gian tới
Các công trình trên đã cho thấy khu vực kinh tế tư nhân đã được đánh giá nhìn nhận một cách toàn diện, từ bản chất đến vai trò của kinh tế tư nhân, đến tình trạng và sự vận động của kinh tế tư nhân Việt Nam
Y tế là một ngành dịch vụ quan trọng trong đời sống của con người, tác động lớn đến mọi mặt của xã hội Vấn đề này đã được nghiên cứu trong các tác phẩm như là:
- Phùng Kim Bảng, Lê Quang Hoành (chủ biên), Hồ Hữu Anh, Y tế công
cộng và chăm sóc sức khoẻ ban đầu, Nxb Y học – 1997, cuốn sách trình bày
lý luận chung của y học xã hội và tổ chức y tế, y tế cộng đồng và chăm sóc
sức khoẻ ban đầu Lịch sử y học, tâm lý học, đạo đức học Y tế công cộng và công tác y tế Thống kê y tế Chăm sóc sức khoẻ ban đầu và giáo dục sức
Trang 15khoẻ Pháp luật trong ngành y tế Tổ chức và hoạt động của ngành y tế Quản
lý y tế - kinh tế y tế
- Trương Việt Dũng, Nguyễn Duy Luật (chủ biên), Nguyễn Văn Hiến,
Bài giảng quản lý và chính sách y tế: Dùng cho đối tượng sau đại học, Nxb Y
học - 2002: Đại cương về tổ chức và hệ thống y tế Hệ thống tổ chức y tế Việt
Nam Quản lý y tế (quản lý nhân lực, quản lý thông tin, quản lý tài chính và vật tư) Xây dựng chính sách y tế công cộng
- Nguyễn Trung sưu tầm, Những quy định về chính sách xã hội hoá các
hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao, Nxb Lao động –
2001, công trình tập hợp những văn bản pháp luật về chính sách xã hội hoá
các hoạt động giáo dục, văn hoá, y tế, thể thao, các chính sách khuyến khích, quản lý tài chính đối với các cơ sở ngoài công lập hoạt động trong các lĩnh vực y tế, thể thao, giáo dục
Bên cạnh việc tồn tại hệ thống y tế công là sự tồn tại của hệ thống y tế tư nhân, hệ thống này cũng có những đặc điểm, cơ chế hoạt động riêng, vấn đề
về y tế tư nhân đã được nghiên cứu ở một số tác phẩm sau:
- Scientific works: Scientific works of prof Pham Huy Dung in English
1988-1998/Pham Huy Dung - 1998-Vol.2 Cuốn sách tập hợp các công trình
khoa học của PGS PTS Phạm Huy Dũng từ năm 1988-1998 về một số vấn
đề y tế tư nhân: Vai trò của thành phần y tế tư nhân ở Việt Nam, sự phát triển của y tế tư nhân tại Việt Nam, chi phí cho các dịch vụ y tế và người nghèo ở Việt Nam
- Trịnh Minh Hoan, Vai trò y tế tư nhân qua nghiên cứu các trường hợp
tại thành phố Đà Nẵng: LATS xã hội học: 5.01.09 Luận Án nêu nên thực
trạng vai trò y tế tư nhân trong chăm sóc sức khoẻ hiện nay Những tác nhân ảnh hưởng đến hoạt động của y tế tư nhân và dự báo xu hướng biến đổi của y
tế tư nhân theo định hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trang 16- Nguyễn Nguyệt Nga, Sự phát triển của khu vực y tế và cải cách kinh
tế trong một nền kinh tế đang chuyển đổi: Việt Nam 1989-1997: Luận án PTS
KH Ktế/ Luận án trình bày vấn đề các chính sách thu viện phí, chính sách
bảo hiểm y tế và sự phát triển của khu vực y tế tư nhân và ảnh hưởng của nó
đến việc sử dụng các dịch vụ y tế và hoạt động của ngành y tế
- Quy trình và danh mục thanh tra hành nghề y tư nhân Giới thiệu các văn bản pháp luật về qui trình và danh mục thanh tra hành nghề y tế tư nhân
8 Bố cục đề tài
Đề tài luận văn gồm 03 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hệ thống bệnh viện
tư nhân trong phát triển hệ thống bệnh viện
Chương 2 Thực trạng quản lý nhà nước đối với hệ thống bệnh viện tư nhân ở Đà Nẵng
Chương 3: Một số giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với hệ thống bệnh viện tư nhân tại Đà Nẵng
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỆ THỐNG BỆNH VIỆN TƯ NHÂN TRONG PHÁT TRIỂN
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN 1.1 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ Y TẾ
1.1.1 Quản lý nhà nước về y tế
Quản lý Nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện và tồn
tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của Nhà nước Đó chính là hoạt động quản
lý gắn liền với hệ thống các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước - bộ phận quan trọng của quyền lực chính trị trong xã hội, có tính chất cưỡng chế đơn phương đối với xã hội Quản lý nhà nước được hiểu là hoạt động của các cơ quan nhà nước thực thi quyền lực nhà nước Tất cả các cơ quan quản lý nhà nước đều làm chức năng quản lý nhà nước, và pháp luật là phương tiện chủ yếu để quản lý nhà nước Nhà nước có thể trao quyền cho các tổ chức hoặc các cá nhân để họ thay mặt nhà nước tiến hành hoạt động quản lý nhà nước
Hệ thống bệnh viện là khái niệm được dùng để chỉ toàn bộ các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng, cho con người mà kết quả là tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới dạng hình thái vật chất cụ thể nhằm thỏa mãn kịp thời, thuận tiện và có hiệu quả hơn các nhu cầu ngày càng tăng của cộng đồng và con người về chăm sóc sức khỏe
Quản lý nhà nước về y tế là một trong những hoạt động cơ bản của Nhà nước về quản lý xã hội Khoản 1, điều 38 Hiến Pháp nước CHXHCN Việt
Nam quy định “Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình
đẳng trong việc sử dụng các hệ thống bệnh viện và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh” Trên cơ sở đó, cũng trong
Hiến Pháp, ở điều 96 về nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ, khoản 1 quy định “Thống nhất quản lý về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, khoa học,
Trang 18công nghệ, môi trường, thông tin, truyền thông, đối ngoại”
1.1.2 Vai trò của quản lý nhà nước về y tế
Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cộng đồng là trách nhiệm của Nhà nước nhưng đồng thời cũng là bổn phận của mỗi người dân, mỗi gia đình, của mỗi lực lượng kinh tế - xã hội và của cả cộng đồng
Chăm sóc sức khỏe nhân dân, là một trong những nhiệm vụ quan trọng,
là ưu tiên hàng đầu trong mọi hoạt động của Đảng và Nhà nước ta Để thực hiện được mục tiêu đề ra trong các kỳ Đại hội và trong Nghị quyết số 46-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 23-5-2005 về công tác bảo vệ và chăm sóc sức
khỏe nhân dân trong tình hình mới : “Giảm tỷ lệ mắc bệnh, tật và tử vong,
nâng cao sức khỏe, tăng tuổi thọ, cải thiện chất lượng giống nòi, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, chất lượng nguồn nhân lực, hình thành hệ thống chăm sóc sức khỏe đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở và thói quen giữ gìn sức khỏe của nhân dân, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”,Đảng ta đã nhấn mạnh: Nhà nước cần quy
hoạch tổng thể phát triển ngành y tế Việt Nam đến năm 2020, định hướng cho
lộ trình phát triển ngành y tế Việt Nam Quan điểm này của Đảng đã được quán triệt và cụ thể hóa trong Quyết định số 122/QĐ-TT ngày 10-01-2013 về Chiến lược Quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai
đoạn 2011 - 2020, tầm nhìn 2030, trong đó đã chỉ rõ: “Sức khỏe là vốn quý của mỗi con người và của toàn xã hội, đầu tư cho việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng là đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội”
Trong sự thống nhất quản lý y tế, quan điểm của Nhà nước là:
- Đầu tư cho y tế là một đầu tư phát triển có tính chất lâu dài và bền vững Việc này sẽ được thực hiện một cách tốt nhất và trọn vẹn nhất khi Nhà nước và Nhân dân cùng làm Tăng mức đầu tư từ ngân sách, đồng thời ra sức vận động tăng thu hút các nguồn lực xã hội, bao gồm tư nhân, các tổ chức phi lợi nhuận, các tổ chức thiện nguyện trong và ngoài nước
Trang 19- Nhà nước chủ trương phấn đấu để mọi người đều được chăm sóc sức khỏe vì sức khỏe là vốn quý nhất của con người và của xã hội Mỗi gia đình là một tế bào của xã hội, gia đình mạnh khỏe, kinh tế ổn định, xã hội phát triển bền vững
- Tích cực, chủ động phòng bệnh, rèn luyện thân thể, phòng bệnh hơn chữa bệnh Thông qua các chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe, thông tin đến người dân một cách rõ ràng, dễ hiểu cách phòng, chữa các bệnh tật theo mùa, bệnh xã hội
- Kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền để phòng, chữa bệnh cho nhân dân
- Xác định vấn đề chăm sóc sức khỏe trước hết là trách nhiệm của từng người dân, sau đó là trách nhiệm của cả cộng đồng, trong đó ngành y tế giữ vai trò nòng cốt
1.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về y tế
Để thực hiện sự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động y tế, các nội dung quản lý của Nhà nước là:
a Xây dựng hành lang pháp lý thông qua việc ban hành và thực thi các văn bản pháp luật về y tế
Ban hành và thực thi các văn bản pháp luật về y tế có liên quan đến khám, chữa bệnh; hành nghề y tế và kinh doanh thuốc; bảo vệ sức khoẻ và môi trường; kiểm dịch y tế… Luật và các văn bản luật pháp của Nhà nước là
cơ sở về pháp lý để chính quyền các cấp quản lý đối với các hoạt động y tế, chăm sóc sức khỏe ở địa phương cũng như trong cả nước Để các văn bản luật
đi vào thực tế đòi hỏi phải có sự hướng dẫn, giải thích, phổ biến, kiểm tra và
xử lý các hành vi vi phạm Kiện toàn hệ thống các văn bản pháp luật để làm
cơ sở pháp lý cho các cơ quan quản lý Nhà nước ở các cấp quản lý các hoạt động y tế và buộc các cơ quan, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực y tế và người dân phải chấp hành
Trang 20b Xây dựng, ban hành chính sách về y tế:
"Chính sách công là một chuỗi các quyết định hoạt động của Nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định"
Trước đây, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành một số chính sách như chính sách quốc gia về thuốc, Chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của thuốc lá, chính sách quốc gia về Dược giai đoạn 2011 – 2020, nhưng nay lại có xu hướng chuyển sang công cụ kế hoạch
Như vậy, ở các quốc gia khác, người ta chủ yếu sử dụng công cụ pháp luật và chính sách nhưng ở nước ta, trong lĩnh vực y tế, công cụ chính sách lại
ít được sử dụng Mặt khác, về hình thức các chính sách và chiến lược đều tương đối giống nhau nên khó phân biệt sự khác nhau giữa chính sách và chiến lược
c Xây dựng chiến lược phát triển ngành, hoạch định và chỉ đạo triển khai các chương trình, kế hoạch y tế
Việc xây dựng chiến lược phát triển ngành y là một trong nội dung quan trọng của công tác quản lý Nhà nước nhằm định hướng cho y tế phát triển phù hợp với mục tiêu chung của phát triển KT-XH Trong từng giai đoạn, nước ta đều xây dựng các chiến lược phát triển, chương trình y tế với các định hướng
cụ thể phù hợp
Trong lĩnh vực y tế, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành khá nhiều chiến lược như: Chiến lược quốc gia về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến năm 2030; Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2011-2020 với mục tiêu duy trì mức sinh thấp, hợp lý v.v…Đây là các chiến lược mang tính tổng thể về ngành y tế Tuy nhiên, trong từng lĩnh vực, Thủ tướng Chính phủ lại ban hành các chiến lược riêng như Chiến lược quốc gia về phát triển ngành dược giai đoạn đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, Chiến lược về Chăm sóc sức khỏe sinh sản Việt Nam
Trang 21giai đoạn 2011-2020 và một số chiến lược khác
d Hoạch định và chỉ đạo triển khai các chương trình y tế
Đó là hoạch định và triển khai các chương trình y tế trọng điểm quốc gia nhằm giải quyết các vấn đề cấp thiết và cụ thể của công tác chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân Ví dụ như Chương trình phòng chống sốt rét, chương trình tiêm chủng mở rộng, chương trình phòng chống bệnh phong, lao, bảo vệ sức khoẻ tâm thần cộng đồng, chương trình vệ sinh an toàn thực phẩm, chương trình phòng chống sốt xuất huyết, chương trình phòng chống HIV/AIDS, chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em Mỗi chương trình đều có mục tiêu giải pháp thực hiện riêng và dựa trên các giải pháp
chung để chỉ đạo và triển khai
e Đầu tư cho y tế
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá
VII đã chỉ rõ "Nhà nước cần tăng cường đầu tư hơn nữa về ngân sách bảo vệ
sức khoẻ Thực hiện cấp ngân sách y tế theo đầu người dân và thay đổi các cơ chế quản lý ngân sách cho phù hợp, tăng cường sự quản lý và điều hành của ngành y tế đối với ngân sách y tế" Cùng với việc tăng cường đầu tư từ ngân
sách Nhà nước cho y tế, Nhà nước ban hành các chính sách nhằm động viên thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế và nhân dân cho các hoạt động y tế đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ giúp đỡ của các tổ chức quốc tế cho y tế Đầu tư cho y tế là đầu tư cho phát triển, cùng với việc tăng cường đầu tư là phải nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư, làm cho việc sử dụng các nguồn tài chính đó đúng mục tiêu, đúng đối tượng và không bị lạm dụng Đầu tư cho
y tế từ các nguồn: nguồn từ ngân sách Nhà nước, nguồn thu từ một phần viện phí, nguồn thu từ bảo hiểm y tế, đầu tư từ các tổ chức quốc tế và các thành phần kinh tế khác
f Nhà nước thực hiện tổ chức bộ máy và đào tạo cán bộ y tế
Để thực hiện các nội dung quản lý Nhà nước, Nhà nước thành lập hệ
Trang 22thống các cơ quan quản lý Nhà nước về y tế từ Trung ương đến địa phương Nhân lực y tế là nguồn lực quan trọng nhất quyết định phạm vi cũng như chất lượng hệ thống bệnh viện Cùng với những nỗ lực xây dựng nâng cao cơ
sở vật chất, trang thiết bị hiện đại đồng bộ, để nâng cao chất lượng hệ thống bệnh viện cần phải nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực y tế với các hình thức và nội dung chương trình đào tạo cho phù hợp Song song với việc đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ cần là vấn đề giáo dục y đức, coi đó là phẩm chất quan trọng ngang với chất lượng chuyên môn của người cán bộ y tế
g Hoạt động thanh tra y tế
Đối với hoạt động thanh tra y tế, Nhà nước cũng đã thể hiện vai trò quản
lý của mình thông qua Luật thanh tra 56/2010/QH12, các nghị định, thông tư hướng dẫn việc thi hành Mới nhất là Nghị định số 122/2014/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thanh tra y tế, trong đó quy định rõ việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra y tế; thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành và cộng tác viên thanh tra y tế; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động thanh tra y tế
Nội dung của công tác thanh tra y tế bao gồm: thanh tra hành chính; thanh tra chuyên ngành về lĩnh vực y tế dự phòng, an toàn thực phẩm và môi trường y tế; thanh tra chuyên ngành về lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh, y dược cổ truyền và bảo hiểm y tế; thanh tra chuyên ngành về lĩnh vực dược,
mỹ phẩm, trang thiết bị y tế; thanh tra chuyên ngành về lĩnh vực dân số - kế hoạch hóa gia đình
1.1.4 Phương thức quản lý nhà nước về y tế
a Quản lý bằng pháp luật
Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật nhằm đề ra những chủ trương, các nhiệm vụ, các giải pháp lớn đề cập đến những vấn đề chung của ngành y trên phạm vi cả nước hay một địa phương
Trang 23Hiện nay, hệ thống pháp luật về y tế gồm 1137 văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp và gián tiếp điều chỉnh các hoạt động y tế Như vậy, ngành y tế
đã có được một hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh để điều chỉnh các quan hệ xã hội nảy sinh liên quan đến lĩnh vực y tế như: Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989, Luật Dược năm 2005, Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) năm
2006, Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm
2006, Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007, Luật Bảo hiểm y tế năm 2008, Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009, Luật An toàn thực phẩm năm 2010, Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá năm 2012, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bảo hiểm y tế năm 2014 cùng hàng loạt các VBQPPL khác hướng dẫn thi hành các luật, pháp lệnh trên
Ngoài ra, Nhà nước còn quản lý bằng các hình thức mang tính pháp lý khác như: cưỡng chế hành chính Nhà nước trong lĩnh vực y tế, phòng ngừa hành chính, ngăn chặn hành chính, xử lý vi phạm hành chính Tuy nhiên, so với yêu cầu quản lý, vẫn chưa có luật để điều chỉnh các vấn đề: an toàn truyền máu; phòng, chống tác hại của lạm dụng rượu, bia; quản lý trang thiết bị, sức khoẻ tâm thần, phòng chống tai nạn thương tích
b Quản lý bằng chính sách, kế hoạch, chương trình, dự án
"Kế hoạch là các chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và các biện pháp cụ thể để đạt được mục tiêu trong từng thời kỳ nhất định do Nhà nước đặt ra" Hệ thống kế hoạch của Nhà nước bao gồm: Chiến lược (hệ thống các đường lối và biện pháp chủ yếu nhằm đưa hệ thống đạt đến các mục tiêu dài hạn); Quy hoạch (tổng thể các mục tiêu và sự bố trí, sắp xếp các nguồn lực để thực hiện mục tiêu theo không gian và thời gian); Các kế hoạch trung hạn (thường là kế hoạch 5 năm để cụ thể hoá các mục tiêu, giải pháp được lựa chọn trong chiến lược); Các chương trình mục tiêu (được xây dựng rất phổ biến nhằm xác định đồng bộ các mục tiêu, các chính sách, các bước
Trang 24cần tiến hành, các nguồn lực cần sử dụng để thực hiện một ý đồ lớn, một mục đích nhất định nào đó của Nhà nước Chương trình thường gắn với ngân sách
cụ thể cần thiết, có nhiều chương trình bộ phận và được giao cho những đơn
vị khác nhau thực hiện); Các kế hoạch năm (cụ thể hoá nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội căn cứ vào định hướng mục tiêu chiến lược, vào kế hoạch trung hạn, vào kết quả nghiên cứu để điều chỉnh các căn cứ xây dựng kế hoạch cho phù hợp với điều kiện của năm kế hoạch) và các dự án (nhằm triển khai, thực thi các chương trình mục tiêu)
- Trong lĩnh vực y tế, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành khá nhiều chiến lược như: Chiến lược quốc gia về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến năm 2030 , Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2001-2010 Đây là các chiến lược mang tính tổng thể về ngành y tế Tuy nhiên, trong từng lĩnh vực, Thủ tướng Chính phủ lại ban hành các chiến lược riêng như Chiến lược quốc gia về phát triển ngành dược giai đoạn đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, Chiến lược về Chăm sóc sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và một số chiến lược khác Như vậy, việc ban hành các chiến lược trên dẫn đến chồng chéo về mục tiêu, giải pháp và làm cho việc triển khai thực hiện bị phân tán
- Bên cạnh đó, về quy hoạch, Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 nhưng sau đó lại chuẩn bị có thêm quy hoạch khác như Quy hoạch phát triển 5 bệnh viện tuyến Trung ương… dẫn đến tính thống nhất của hệ thống quy hoạch bị thay đổi Mặt khác, một số địa phương cũng không tuân thủ đúng quy hoạch này làm cho quy hoạch bị ảnh hưởng
- Về chương trình mục tiêu quốc gia, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ân số - Kế hoạch hóa gia đình giai đoạn 2015-2020 , Chương trình mục tiêu y tế quốc gia, Chương trình mục tiêu quốc gia vệ sinh an toàn thực phẩm; Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống
Trang 25HIV/AIDS giai đoạn 2015-2020 Các chương trình mục tiêu quốc gia đã góp phần tăng thêm nguồn kinh phí cho việc thực hiện các mục tiêu trọng điểm về
y tế mà Nhà nước cần giải quyết nhưng theo Kế hoạch cải cách tài chính công
đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì dần dần Nhà nước sẽ cắt bỏ khoản chi này vì việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia trên thường dễ làm cho các địa phương ỷ lại vào nguồn tài chính từ Trung ương
mà không chịu đầu tư cho y tế từ ngân sách của tỉnh
Ngoaì ra, để phát triển ngành y tế, đảm bảo đủ các điều kiện chăm sóc sức khỏe nhân dân, Nhà nước xây dựng và ban hành nhiều chính sách thiết thực, xây dựng các chiến lược, các chương trình, dự án cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước Ví dụ như Chiến lược quốc gia phòng, chống tác hại của thuốc lá đến năm 2020 hay Chiến lược quốc gia về phát triển ngành dược… Hiện nay, chỉ còn 01 chính sách là Chính sách quốc gia phòng, chống tác hại của lạm dụng đồ uống có cồn đến năm 2020 ban hành kèm theo Quyết định số 244/QĐ-TTg ngày 12/02/2014 của Thủ tướng Chính phủ
c Quản lý bằng thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm tôn vinh các tập thể,
cá nhân có thành tích trong giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế
Kiểm tra việc thực hiện pháp luật về y tế
Kiểm tra việc thực hiện pháp luật về y tế là một biện pháp quan trọng để bảo đảm việc tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật, khắc phục, phòng ngừa những vi phạm pháp luật Kiểm tra nhằm mục đích nhắc nhở, giáo dục cho công chức, viên chức y tế tôn trọng, chấp hành nghiêm chỉnh theo pháp luật; phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong các VBQPPL để đề nghị bổ sung, sửa đổi, phát hiện những hành vi sai lệch trong việc thực hiện pháp luật; có biện pháp uốn nắn, khắc phục và phát hiện những việc làm vi phạm pháp luật; có biện pháp xử lý nghiêm minh, kịp thời; đồng thời phát hiện những điển hình thực hiện pháp luật tốt để động viên, khen thưởng
Trang 26 Thanh tra việc thực hiện pháp luật về y tế
Thanh tra là chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước nhằm làm tốt công tác quản lý, giúp cho việc thực thi pháp luật được tiến hành một cách có hiệu quả Việc thanh tra các hoạt động y tế tập trung vào những vấn
đề chủ yếu như tiến hành thường xuyên các hoạt động thanh tra chuyên ngành
về y tế theo thẩm quyền, tập trung vào các chế độ, quy tắc chuyên môn, kỹ thuật y tế, các thủ tục hành chính trong KCB, các hoạt động của các cơ sở y, dược tư nhân và khi phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật về y tế, cơ quan thanh tra y tế, thanh tra viên y tế và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử phạt phải xử lý nghiêm, kịp thời và công bằng các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động y tế, bảo đảm trật tự, kỷ cương; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan đến
y tế
Xử lý vi phạm
Việc xử lý này thực chất là bảo vệ các giá trị của pháp luật về y tế không
bị vi phạm trong thực tiễn cuộc sống, giúp cho công tác QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực y tế đạt hiệu quả cao hơn Các hành vi vi phạm pháp luật gắn với từng loại trách nhiệm pháp lý khác nhau như sau: Tội phạm và trách nhiệm hình sự; vi phạm pháp luật dân sự và trách nhiệm dân sự; vi phạm hành chính và trách nhiệm hành chính; vi phạm kỷ luật và trách nhiệm kỷ luật Tiếp cận dưới góc độ khoa học quản lý hành chính công nên Luận án này không nghiên cứu vấn đề xử lý trách nhiệm hình sự và xử lý trách nhiệm bồi thường dân sự
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế là những hành vi do tổ chức, cá nhân thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật
về QLNN trong lĩnh vực y tế mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính Việc xử phạt vi phạm hành chính (XPVPHC) trong lĩnh vực y tế phải dựa trên cơ sở của pháp luật hiện hành về
Trang 27XPVPHC liên quan đến y tế dự phòng, ATTP, KCB, thuốc, mỹ phẩm và trang thiết bị y tế Việc XPVPHC trong lĩnh vực y tế phải theo đúng các hành vi vi phạm, hình thức và mức phạt Xử lý kỷ luật đối với CCVC là một trong những công cụ, biện pháp quản lý của Nhà nước trong quá trình xây dựng, phát triển và sử dụng đội ngũ CCVC Việc xử lý kỷ luật đối với CCVC phải bảo đảm theo đúng các hình thức kỷ luật, bảo đảm khách quan, công bằng, nghiêm minh, đúng thời hiệu và theo đúng các trình tự, thủ tục quy định của pháp luật về CCVC
Tôn vinh các tập thể, cá nhân có thành tích trong giải quyết các vấn
đề của lĩnh vực y tế
Việc tôn vinh thành tích trong giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế được thể hiện qua các phong trào thi đua yêu nước và khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân Tuy nhiên, phương thức này cần phải xem xét một cách nghiêm túc vì phần lớn khen thưởng không qua phong trào thi đua và nếu có phát động thi đua thì lại hình thức nên không linh thiêng hóa việc tôn vinh
d Các chính sách cơ bản của quản lý về y tế
Chính sách quốc gia về thuốc:
Chính sách quốc gia về thuốc của Việt Nam (Nghị quyết 37/CP ngày 20/6/1996 của Chính phủ) nhằm mục tiêu cung ứng thường xuyên và đủ thuốc
có chất lượng đến người tiêu dùng và bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý, an toàn,
Trang 28có hiệu quả
Những mục tiêu cụ thể của chính sách là:
+ Bảo đảm cung ứng đủ thuốc có chất lượng giá cả phù hợp Thực hiện
sự công bằng trong cung ứng thuốc cho người bệnh
+ Phát triển và hoàn thiện mạng lưới cung ứng thuốc, chú trọng những vùng khó khăn: miền núi, vùng sâu, vùng xa
+ Nâng cao hiệu lực công tác quản lý Nhà nước về dược trên cơ sở hệ thống pháp luật về quản lý dược
+ Tổ chức lại ngành dược phù hợp với cơ chế quản lý mới
+ Phát triển nguồn nhân lực dược về số lượng, cơ cấu, trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp
+ Nghiên cứu khoa học, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ tiên tiến vào sản xuất, cung ứng và quản lý
+ Hợp tác quốc tế, hợp tác liên ngành, liên doanh trong lĩnh vực dược
Kế hoạch hoạt động quốc gia về dinh dưỡng:
+ Chính phủ đã phê duyệt kế hoạch hoạt động quốc gia về dinh dưỡng với những mục tiêu thanh toán tình trạng thiếu ăn, đưa mức bình quân đầu người từ 1.932 K calories hiện nay lên trên 2.100 K calories
+ Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng: đối với người lớn giảm tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn, đặc biệt ở phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ từ trên 40% hiện nay xuống dưới 20% Đối với trẻ em, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng, thiếu protein năng lượng ở trẻ dưới 5 tuổi (theo chỉ số cân/tuổi) từ 45% xuống dưới 20% + Giảm tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng: cơ bản thanh toán các biểu hiện lâm sàng thiếu Vitamin A và các hậu quả của nó, kể cả mù lòa; cơ bản thanh toán các rối loạn do thiếu iốt; giảm tỷ lệ thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ mang thai từ 50% hiện nay xuống dưới 30% ở những địa phương có triển khai
Trang 29chương trình phòng chống thiếu máu
1.1.5 Quản lý nhà nước về y tế tư nhân:
Quản lý Nhà nước về y tế tư nhân là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các hoạt động y tế, do các cơ quan quản lý y tế của nhà nước từ trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do Nhà nước uỷ quyền nhằm phát triển sự nghiệp y tế, duy trì trật tự, kỉ cương, thoả mãn nhu cầu y tế của nhân dân, thực hiện mục tiêu y tế của Nhà nước Hệ thống y tế hiện nay của Việt Nam là sự kết hợp công - tư trong cung cấp dịch vụ y tế Hệ thống y tế công lập được chia làm bốn cấp độ từ trung ương đến xã (xem hình 1.1) Mỗi cấp độ lại bao gồm một
số đơn vị nhỏ chịu trách nhiệm về các lĩnh vực khác nhau trong hệ thống chăm sóc sức khỏe bao gồm: điều trị, phòng bệnh, đào tạo, nghiên cứu và phân phối thuốc
Trang 30Tuyến
Trung ương Bệnh viện tuyến trung ương Các viện vệ sinh dịch tễ
Trường Y Trường Dược
Cơ sở khám chữa bệnh
Bệnh viện Quân y Bệnh viện Bộ Công an Bệnh viện Bộ Nông nghiệp
Bệnh viện Bưu điện Bệnh viện Giao thông-Vận tải
Tỉnh Bệnh viện tuyến tỉnh
Trường cao đẳng y Trung tâm vệ sinh phòng dịch
Phòng khám tư Nhà thuốc tư Bệnh viện
Quận/
Huyện
Bệnh viện tuyến quận/huyện
Trạm vệ sinh phòng dịch
Xã Trạm y tế xã
Bệnh xá ( Khu vực)
Hình 1.1 Hệ thống y tế hiện nay của Việt Nam
Hệ thống y tế hiện nay của Việt Nam, Tuyến Khối y tế tư nhân cũng đã bắt đầu phát triển kể từ năm 1989, nhưng chủ yếu tập trung vào hoạt động điều trị và chăm sóc ngoại trú Từ khi thực hiện chính sách Đổi mới vào năm
1986, song song với các thay đổi trong tình hình kinh tế xã hội của đất nước,
có nhiều sự đổi mới đang diễn ra trong hệ thống y tế của Việt Nam, mà trung tâm là việc chính thức công nhận về luật pháp hệ thống hệ thống bệnh viện tư nhân vào năm 1989
Từ những thuận lợi về cơ chế chính sách như trên mà hệ thống y dược tư
nhân
Trang 31nhân đã phát triển mạnh mẽ, rộng khắp từ thành phố đến vùng sâu, vùng xa
Y tế tư nhân đã trở thành một bộ phận không thể tách rời trong hệ thống y tế quốc gia và đóng vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân Tuy nhiên, việc đưa ra các cơ chế phối hợp công - tư phù hợp vẫn là điều mới mẻ, nhất là thực trạng nhân lực và hoạt động của nó hiện nay
1.2 VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG BỆNH VIỆN TƯ NHÂN TRONG HỆ THỐNG Y TẾ NƯỚC TA
1.2.1 Hệ thống y tế Việt Nam
Hệ thống y tế (Hình 1.1) là khái niệm được dùng để chỉ toàn bộ các tổ
chức, cá nhân thực hiện hoạt động chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng, cho con người mà kết quả là tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dưới dạng hình thái vật chất cụ thể, nhằm thỏa mãn kịp thời, thuận tiện và có hiệu quả hơn các nhu cầu ngày càng tăng của cộng đồng và con người về chăm sóc sức khỏe
Chia theo tổ chức hành chính nhà nước, hệ thống y tế gồm:
- Tuyến y tế trung ương: Bộ y tế và các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế,
- Tuyến y tế địa phương cấp tỉnh: Sở y tế và đơn vị trực thuộc Sở Y tế,
- Tuyến y tế cơ sở: Trung tâm y tế huyện, bệnh viện huyện và Trung tâm
- Lĩnh vực giáo dục truyền thông và chính sách y tế
Chia theo thành phần kinh tế:
Trang 32tế của Việt Nam, mà trung tâm là việc chính thức công nhận về luật pháp hệ thống hệ thống bệnh viện tư nhân vào năm 1989
Theo Pháp lệnh số 07/2003/PL-UBTVQH11 ban hành ngày 25 tháng
02 năm 2003 của uỷ ban thường vụ quốc hội về “Hành nghề y, dược tư nhân”,
điều 16 quy định: “Các hình thức tổ chức hành nghề y tư nhân bao gồm:
1 Bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa;
2 Phòng khám đa khoa, phòng khám chuyên khoa;
3 Nhà hộ sinh;
4 Cơ sở hệ thống bệnh viện;
5 Cơ sở dịch vụ vận chuyển người bệnh trong nước và ra nước ngoài
1.2.3 Hệ thống bệnh viện tư nhân
a Bệnh viện và bệnh viện tư nhân
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Bệnh viện là một bộ phận của một
tổ chức mang tính chất y học xã hội, có chức năng đảm bảo cho nhân dân được săn sóc toàn diện về y tế cả chữa bệnh và phòng bệnh Công tác ngoại trú của bệnh viện tỏa tới tận gia đình đặt trong môi trường của nó Bệnh viện còn là trung tâm giảng dạy y học và nghiên cứu sinh vật & xã hội Với quan niệm này, bệnh viện không tách rời, biệt lập và phiến diện trong công tác chăm sóc sức khỏe nói chung , mà bệnh viện đảm nhiệm một chức năng rộng lớn, gắn bó hài hòa lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và xã hội Quan niệm mới đã làm thay đổi nhiệm vụ, chức năng, cơ cấu tổ chức và phương thức quản lý bệnh viện
Trang 33Bệnh viện tư nhân là bệnh viện do tư nhân đầu tư, đăng ký kinh doanh
và điều hành quản lý
Hiện nay cả nước có hơn 1,180 bệnh viện, trong đó có 182 bệnh viện tư nhân, bán công
b Vai trò của hệ thống bệnh viện tư nhân trong phát triển hệ thống y tế
Trong hệ thống các cơ sở y tế, bệnh viện là nơi tập trung các y bác sĩ chất lượng cao, trang thiết bị và các điều kiện y tế tốt, khám chữa những trường hợp bệnh phức tạp Vì vậy, việc đầu tư xây dựng bệnh viện là hết sức khó khăn, trong khi bệnh nhân luôn muốn được chữa trị ở nơi có điều kiện tốt nhất Do
đó, các bệnh viện, nhất là các bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh thường xuyên xảy ra tình trạng quá tải Hệ thống bệnh viện công không thể đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh to lớn và đa dạng của các tầng lớp nhân dân
Chính bệnh viện tư nhân thể hiện quan điểm xã hội hóa nguồn lực cho phát triển hệ thống y tế, cùng với hệ thống bệnh viện công đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân, đặc biệt là chúng có thể đáp ứng các hệ thống bệnh viện lịch sự, tiện nghi phục vụ những tầng lớp có thu nhập cao hơn trong
xã hội
Hiện tại ở Việt Nam khu vực tư nhân đang bị coi là đối tượng mà y tế công phải đối phó nhiều hơn là xem họ như đối tác có thể hợp tác nhằm thúc đẩy chất lượng, hiệu quả và công bằng trong chăm sóc sức khỏe Vì vậy thời gian tới Nhà nước cần thay đổi quan điểm trong quản lý y tế tư nhân, cần chuyển từ quan điểm mang tính kiểm soát sang quan điểm hợp tác và khuyến khích đối với y tế tư nhân
Thực tế, trong hơn 20 năm tồn tại và phát triển, y tế tư nhân có những vai trò trong phát triển hệ thống y tế ở Việt Nam như sau:
Một là, góp phần huy động các nguồn lực cho phát triển hệ thống bệnh viện:
+ Huy động nguồn vốn: Y tế tư nhân góp phần huy động nguồn vốn
Trang 34nhàn rỗi tham gia vào lĩnh vực y tế, góp phần chia sẻ gánh nặng tài chính với khu vực y tế công
+ Huy động nguồn nhân lực: Khu vực y tế tư nhân phát triển làm tăng cầu về bác sỹ, y tá , vì vậy đã tạo động lực kích thích nguồn cung các lực lượng này
Hai là, tạo môi trường cạnh tranh trong cung cấp hệ thống bệnh viện: + Tạo nên sự cạnh tranh giữa khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân + Tạo sự cạnh tranh của bản thân các cơ sở y tế tư nhân
+ Tạo nên năng lực cạnh tranh với các hệ thống bệnh viện quốc tế
Ba là, đa dạng hóa sự lựa chọn của người tiêu dùng: Tư nhân tham gia thị trường hệ thống bệnh viện đã làm tăng thêm sự lựa chọn cho người có nhu cầu khám chữa bệnh
Bốn là, giảm tải cho khu vực y tế công: Y tế tư nhân tham gia vào thị trường chăm sóc sức khoẻ góp phần giảm tải cho các bệnh viện công
1.3 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỆ THỐNG BỆNH VIỆN TƯ NHÂN
1.3.1 Những đặc điểm của bệnh viện tư nhân có ảnh hưởng đến nội dung quản lý nhà nước
- Là cơ sở y tế, bệnh viện tư nhân chịu sự thống nhất quản lý của Nhà nước ( Điều 46, Pháp lệnh về hành nghề y dược tư nhân đã quy định)
- Là bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh có điều trị nội trú, bệnh viện tư nhân phải đạt những tiêu chuẩn cao về đội ngũ y bác sĩ và trang thiết bị, điều kiện vệ sinh và các điều kiện về tổ chức
- Mặc dù hoạt động theo cơ chế thị trường nhưng các cá nhân và tổ chức tham gia cung cấp hệ thống bệnh viện tư nhân vẫn phải đáp ứng được những yêu cầu về chuyên môn, về đạo đức và lương tâm nghề nghiệp
- Là cơ sở tư nhân, được các cá nhân, hộ gia đình, tổ chức đầu tư, đăng
ký kinh doanh và điều hành, quản lý Xét về mặt quan hệ sản xuất thì các hệ
Trang 35thống bệnh viện tư nhân thuộc thành phần kinh tế tư nhân, bệnh viện tư có mục đích là tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc cung ứng hệ thống bệnh viện mang lại sự hài lòng cho bệnh nhân và người nhà, kể cả ở những khía cạnh ngoài chuyên môn y tế
- Những đặc điểm của bệnh viện tư nhân nước ta: Xét về mặt bằng chung, các cơ sở cung ứng hệ thống bệnh viện tư nhân ở Việt Nam hầu hết đều thuộc loại vừa và nhỏ, trang thiết bị đơn giản, đội ngũ y bác sỹ vừa thiếu
về số lượng lại vừa chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, số cơ sở tiếp cận được với những công nghệ mới hiện đại trong khám, chữa bệnh còn ít
1.3.2 Vai trò của quản lý nhà nước đối hệ thống bệnh viện tư nhân
Để phát triển ngành y tế, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, quan điểm của Nhà nước trong quản lý hệ thống bệnh viện tư nhân là hệ thống y tế tư nhân nói chung, bệnh viện tư nhân nói riêng đóng vai trò rất quan trọng
a Đảm bảo cho hệ thống bệnh viện tư nhân góp phần thực hiện định hướng phát triển ngành y tế Việt Nam
Việc áp dụng các chính sách quản lý nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc định hướng phát triển của hệ thống các bệnh viện tư nhân Sự phát triển của bệnh viện tư nhân nếu không nằm trong “ khuôn khổ” của Đảng và Nhà nước sẽ khiến cho sự phát triển của toàn ngành y tế nước nhà bị “trật quỹ đạo”, gây ảnh hưởng chung đến sự phát triển của toàn xã hội
b Đảm bảo công bằng trong việc cung cấp các dịch vụ y tế trong hệ thống bệnh viện tư nhân
Công tác y tế là công tác nhân đạo, việc đảm bảo sức khoẻ cho tất cả mọi người là trách nhiệm của ngành y và quyền lợi của mỗi công dân, là quyền được Hiến pháp của Nhà nước ta công nhận, mọi công dân đều phải được hưởng hệ thống bệnh viện khi có nhu cầu Công bằng trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân là một dạng công bằng xã hội nhưng nó khác ở chỗ sức khoẻ là
Trang 36vốn quý nhất của mỗi con người, và bất kể ai cũng có nhu cầu được chăm sóc một cách tốt nhất Công bằng trong việc cung cấp các hệ thống bệnh viện không phải là công bằng cho tất cả mọi người, nó có nghĩa là phải căn cứ vào tình trạng bệnh lý của từng người bệnh mà có mức độ chăm sóc thích hợp, đồng thời tạo cơ hội cho mọi người có khả năng tiếp cận với các hệ thống bệnh viện tiên tiến nhất có thể
c Đảm bảo tính hiệu quả của hệ thống bệnh viện tư nhân
Do có những đặc điểm của hệ thống bệnh viện ở hệ thống bệnh viện tư nhân khác với hàng hoá dịch vụ thông thường khác, vì vậy Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính hiệu quả của các hệ thống bệnh viện
do các cơ sở y tế cung cấp cho cộng đồng Hiệu quả của hệ thống bệnh viện ở đây là nhìn từ góc độ kinh tế, nghĩa là các hệ thống bệnh viện phải đảm bảo sao cho chi phí của người dân bỏ ra là tối thiểu mà hiệu quả phải là tối đa
1.3.3 Nội dung quản lý nhà nước đối với hệ thống bệnh viện tư nhân
Thực hiện chức năng của mình, Nhà nước ban hành và thực thi các văn
bản pháp luật có liên quan đến khám, chữa bệnh là cơ sở pháp lý để chính
quyền Nhà nước các cấp quản lý đối với mọi hoạt động y tế, chăm sóc sức khỏe ở địa phương cũng như trong toàn quốc Do vậy, quản lý nhà nước đối với hành nghề y tế tư nhân được cụ thể hóa thành các nội dung hoạt động chủ yếu sau:
a Ban hành và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển hành nghề y, dược tư nhân;
Hiện nay, Nhà nước ta đã có một hệ thống văn bản pháp luật khá đầy đủ bao gồm Luật, Nghị định, Thông tư hướng dẫn làm nền tảng cho việc xây dựng và phát triển hệ thống y tế tư nhân theo định hướng XHCN trong nền kinh tế nhiều thành phần
Những văn bản trên là cơ sở pháp lý để chính quyền các cấp quản lý và
Trang 37điều hành đối với mọi hoạt động y tế, chăm sóc sức khỏe ở địa phương cũng như trên toàn quốc Đồng thời cũng là hành lang hoạt động hợp pháp của tất
cả các cơ quan quản lý và cơ sở y tế trong cả nước trên con đường phát triển đất nước, khẳng định tính nhân đạo ưu việt của Nhà nước ta trong lĩnh vực y
tế
Tuy nhiên, từ Luật và các văn bản dưới Luật đến việc thực thi có hiệu quả bao giờ cũng có độ trễ, tức là có khoảng cách, thiếu đồng bộ, chồng chéo đòi hỏi phải có sự hướng dẫn, giải thích, phổ biến cụ thể và kiểm tra việc thực thi pháp luật.Vì vậy, cần phải tăng cường sự lãnh đạo và chỉ đạo của các cấp
ủy Đảng và chính quyền, cùng với sự tham gia của các cấp, các ngành, các đoàn thể và các tổ chức xã hội Huy động sự tham gia của cộng đồng, tăng cường công tác bảo vệ sức khỏe; đẩy mạnh cải cách hành chính, hoàn chỉnh
hệ thống pháp luật về y tế phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
b Tổ chức hướng dẫn, tuyên truyền và tổ chức triển khai thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về hành nghề y tư nhân
Nghề y là một nghề đặc biệt, do vậy mỗi cán bộ, nhân viên y tế phải không ngừng nâng cao đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyên môn, đồng thời phải hiểu biết chính sách pháp luật
Việc tổ chức triển khai thực hiện các văn bản qui phạm pháp luật về hành nghề y tư nhân là việc cơ quan y tế các cấp phải tổ chức hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến cho đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế một cách cụ thể, kịp thời, đầy đủ những nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực dịch vụ y tế tư nhân để cho mỗi cán bộ, nhân viên y tế hiểu và thực hiện đúng quy định của pháp luật
c Xây dựng tổ chức bộ máy và cán bộ y tế
Để công tác quản lý nhà nước về hành nghề y tư nhân có hiệu quả thì Nhà nước phải thực hiện tốt chức năng tổ chức bộ máy và cán bộ quản
Trang 38lý Mô hình chung của tổ chức quản lý y tế của nước ta được hình thành theo
tổ chức hành chính gồm 4 tuyến: Trung ương - Tỉnh - Huyện - Xã Tuyến sau
có trách nhiệm chỉ đạo, hỗ trợ tuyến trước Tuyến trước có trách nhiệm báo cáo đầy đủ các thông tin cho tuyến sau để làm tốt việc quản lý Mạng lưới y tế chia làm 2 khu vực; khu vực phổ cập, nhằm đảm bảo yêu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân hàng ngày, sử dụng kỹ thuật thông thường, phổ biến, khu vực này có từ tuyến tỉnh đến cơ sở Khu vực chuyên sâu với nhiệm vụ từng bước đi vào khoa học kỹ thuật cao, sử dụng các kỹ thuật cao, thích hợp với Việt Nam đi sâu vào nghiên cứu khoa học và chỉ đạo khoa học kỹ thuật cho địa phương hỗ trợ giải quyết khó khăn vượt qua khả năng y tế phổ cập Mạng lưới còn được hình thành theo nhiều thành phần kinh tế đó là; cơ sở y tế nhà nước, cơ sở y tế tư nhân
Hình 1.2 Mô hình tổ chức ngành y tế Việt Nam
Để hệ thống tổ chức vận hành, thực hiện tốt chức năng thì cần phải có đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn, kiến thức xã hội, am hiểu pháp luật đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao
d Cấp và thu hồi chứng chi hành nghề , giấy phép hoạt động khám,
Trang 39chữa bệnh
Để được hành nghề khám bệnh, chữa bệnh các tổ chức, cá nhân phải có chứng chỉ hành nghề và giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh Điều kiện để cấp chứng chỉ hành nghề, giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh
là yếu tố vô cùng quan trọng để xác định những cơ sở nào được phép hay không được phép tham gia hành nghề y tế tư nhân
Tại Việt Nam, Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 đã thay thế Pháp lệnh hành nghề y tư nhân Sự ra đời của Luật khám bệnh, chữa bệnh như là một kim chỉ nam cho các hoạt động khám chữa bệnh không những ở các cơ
sở y tế công lập mà còn ở cả các cơ sở y tế ngoài công lập Sau khi Luật khám bệnh, chữa bệnh có hiệu lực từ ngày 01/01/2011, Bộ Y tế đã ban hành Thông
tư số 41/2011/TT-BYT ngày 14/11/2011 hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Thủ tục và thẩm quyền cấp chứng chỉ hành nghề, giấy phép hoạt động được qui định cụ thể tại Thông tư số 41/2011/TT-BYT ngày 14/11/2011 của Bộ Y tế
Chứng chỉ hành nghề, giấy phép hoạt động được cấp một lần và có giá trị trong phạm vi cả nước Các cá nhân, tổ chức thực hiện khám bệnh, chữa bệnh thì phải có chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và được cấp giấy phép hoạt động Những cá nhân, tổ chức không có đủ các loại giấy tờ trên mà vẫn hành nghề thì được coi là hành nghề "chui" Trên cơ sở qui định về điều kiện
và thẩm quyền cấp chứng chỉ hành nghề và giấy phép hoạt động nêu trên, Bộ Y
tế, Sở Y tế phải thành lập đoàn thẩm định trước khi cấp Giấy phép hoạt động cho các cơ sở hành nghề khám, chữa bệnh Người hành nghề, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có hành vi vi phạm các quy định về khám bệnh, chữa bệnh sẽ bị tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hoạt động hoặc bị đình chỉ hoạt động theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính Thu hồi chứng chỉ hành nghề, giấy phép hoạt động được quy định cụ thể
Trang 40tại Điều 4, 5 của Thông tư 35/2013/TT-BYT ngày 30.10.2013 của Bộ Y tế quy định về thu hồi chứng chỉ hành nghề, giấy phép hoạt động và đình chỉ hoạt động chuyên môn của người hành nghề, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Chứng chỉ hành nghề bị thu hồi trong những trường hợp: Chứng chỉ hành
nghề được cấp không đúng thẩm quyền; chứng chỉ hành nghề có nội dung trái pháp luật; Người hành nghề không hành nghề trong thời hạn 02 năm liên tục; người hành nghề được xác định có sai sót chuyên môn kỹ thuật gây hậu quả nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng người bệnh; Người hành nghề không cập nhật kiến thức y khoa liên tục trong thời gian 02 năm liên tiếp; người hành nghề không đủ sức khỏe để hành nghề; các trường hợp đang trong thời gian bị cấm hành nghề Trường hợp vi phạm bị thu hồi chứng chỉ hành nghề, trước khi thực hiện thủ tục thu hồi chứng chỉ hành nghề của người làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải có kết luận của Hội đồng chuyên môn
Thẩm quyền thu hồi chứng chỉ hành nghề: Bộ trưởng Bộ Y tế ủy quyền cho Giám đốc Sở Y tế thu hồi chứng chỉ hành nghề đối với trường hợp người hành nghề có chứng chỉ hành nghề do Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác cấp nhưng có hoạt động khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn quản lý và thông báo về
cơ quan có thẩm quyền đã cấp chứng chỉ hành nghề cho người hành nghề đó Giấy phép hoạt động bị thu hồi trong những trường hợp: Giấy phép hoạt động được cấp không đúng thẩm quyền; Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không bảo đảm các điều kiện theo quy định; sau 12 tháng, kể từ ngày được cấp giấy phép hoạt động mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không hoạt động; Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tạm dừng hoạt động trong thời gian 12 tháng liên tục hoặc chấm dứt hoạt động Trường hợp vi phạm và bị thu hồi Giấy phép hoạt động, trước khi thực hiện thủ tục thu hồi giấy phép hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, phải có kết luận của cơ quan có thẩm quyền xác định cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không đủ điều kiện theo quy định tại Điều 43 của Luật