Tuy nhiên trong thời gian đầu mới thành lập, thị trường tài chính có nhiều biến động, khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra, hoạt động kinh doanh ngân hàng bị trì trệ làm cho sự phát tr
Trang 1Đồng Nai là tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong vùng phát triển kinh
tế trọng điểm phía Nam là điểm hẹn của giao thương và du lịch, trung tâm giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ và là trung tâm của y tế văn hóa Nhịp độ tăng trưởng kinh tế của Tỉnh trong những năm qua rất khả quan: tổng sản phẩm Quốc nội (GDP) tăng trưởng bình quân 5 năm (2006-2010) là 13,5%, cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm (2001-2005 ) là 12,8% Để đạt được tốc độ phát triển mạnh mẽ như vậy có sự đóp góp không nhỏ của hệ thống NHTM trong địa bàn
Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam (Vib Bank) chính thức thâm nhập thị trường Miền Đông Nam Bộ từ 18/10/2005 với trụ sở đặt tại Thành Phố Biên Hòa – Tỉnh Đồng Nai, với tên gọi là Ngân Hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam – chi nhánh Đồng Nai Tuy nhiên trong thời gian đầu mới thành lập, thị trường tài chính có nhiều biến động, khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra, hoạt động kinh doanh ngân hàng bị trì trệ làm cho sự phát triển của Vib Bank tại các tỉnh Miền Đông Nam
Bộ bị gián đoạn Những năm gần đây, thị trường có nhiều chuyển biến tích cực Vib Bank dần thể hiện được vị thế của một ngân hàng lớn bằng việc tăng trưởng mạnh
cả về huy động và cho vay Vib Bank nhận thức được rằng việc cạnh tranh của ngành ngân hàng tại Tỉnh Đồng Nai là rất lớn là luôn tìm mọi giải pháp nhằm nâng cao hoạt động kinh doanh của mình so với các đối thủ
Trang 2
Từ những thực tế trên cho ta thấy được áp lực cạnh tranh của ngành ngân hàng trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai là rất lớn, nó đòi hỏi mỗi ngân hàng phải có những chính sách, giải pháp thích hợp trong từng thời điểm biến động của thị trường Từ
thực tiễn đó, vì vậy tôi chọn đề tài nghiên cứu là “ MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM – CHI NHÁNH ĐỒNG NAI ĐẾN NĂM 2020” Đây là đề tài thiết
thực trong hoàn cảnh hiện nay cho Vib Bank và các NHTM tham gia vào thị trường tài chính tại Tỉnh Đồng Nai, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm phát triển hoạt động kinh doanh của Vib Bank tại Tỉnh Đồng Nai đến năm 2020, góp phần làm cho Vib Bank phát triển mạnh trở thành một trong những ngân hàng hàng đầu tại Tỉnh Đồng Nai và góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh Đồng Nai nói riêng và cả khu vực Đông Nam Bộ nói chung
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Mục tiêu chung
Mục tiêu tổng quát của đề tài là đưa ra các giải pháp nhằm phát triển hoạt động kinh doanh của Vib Bank tại địa bàn Tỉnh Đồng Nai đến năm 2020
Mục tiêu cụ thể
Đề tài nghiên cứu nhằm thực hiện các mục tiêu sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về lý luận hoạt động kinh doanh của NHTM, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và các tiêu chí đánh giá hiệu quả của hoạt động kinh doah của một NHTM
- Phân tích thực trạng hoạt động của ngành ngân hàng và của Vib Bank tại Tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2008 – 2010 để đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và mối đe dọa của Vib Bank tại Tỉnh Đồng Nai
- Đề ra các giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển hoạt động và kinh doanh của Vib Bank tại Tỉnh Đồng Nai đến năm 2020
Trang 33 PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Vib Bank Tuy nhiên trong khuôn khổ của đề tài chỉ nghiên cứu phân tích một số yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Vib Bank tại địa bàn Tỉnh Đồng Nai, trong mối
tương quan với các NHTM khác trong cùng giai đoạn 2008 – 2010
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Với những kết quả nghiên cứu của luận văn này đã hệ thống hóa các vấn
đề lý luận về hoạt động kinh doanh của các NHTM, làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu những đề tài tương tự đối với các NHTM khác tại Tỉnh Đồng Nai
Luận văn đã nêu lên được những điểm mạnh, điểm yếu từ môi trường bên trong, và những cơ hội cũng như các mối đe dọa từ môi trường bên ngoài của Vib Bank Đồng Nai Từ đó, những yếu tố được tổng hợp vào
ma trận SWOT để hình thành lên các giải pháp
Luận văn đã đưa ra những giải pháp cần thiết để Vib Bank Đồng Nai áp dụng, nhầm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình đến năm
2020
Luận văn đánh giá được điểm mạnh, điểm yếu những cơ hội thách thức của Vib Bank tại thị trường Tỉnh Đồng Nai, đưa ra những giải pháp góp phần phát triển hoạt động kinh doanh của Vib Bank tại địa bàn Tỉnh Đổng Nai, làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính là:
+ Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp
+ Phương pháp thu thập, xử lý số liệu nhằm làm rõ vấn đề nghiên cứu, phương pháp chuyên gia
Trang 46 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, nội dung của luận văn được chia thành 3 chương như sau:
Chương I: Tổng quan về ngân hàng thương mại
Chương II: Thực trạng hoạt động kinh doanh của Ngân Hàng TMCP Quốc Tế Việt
Nam – chi nhánh Đồng Nai giai đoạn 2008 – 2010
Chương III: Một số giải pháp phát triển hoạt động kinh doanh của Ngân Hàng
TMCP Quốc Tế Việt Nam – chi nhánh Đồng Nai đến năm 2020
Trang 5CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại
NHTM đã hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa Sự phát triển của hệ thống NHTM đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa, ngược lại kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao của nó – kinh tế thị trường – thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được
Tại Mỹ: NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính
Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng (luật số 02/1997/QH 10): NHTM là loại ngân hàng trực tiếp giao dịch với các Công ty, Xí nghiệp, tổ chức kinh tế, cơ quan đoàn thể và các cá nhân bằng việc nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm… cho vay và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên
Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941): NHTM là những Xí nghiệp hay cơ sở
mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính
Như vậy, NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế Từ đó có thể nói bản chất của NHTM được thể hiện qua các điểm sau:
- NHTM là một tổ chức kinh tế
- NHTM hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng
Trang 61.1.2 Các chức năng của ngân hang thương mại
Nếu xét theo lĩnh vực ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của NH, và những lợi ích mà NH mang lại cho nền kinh tế thì NHTM có các chức năng như:
1.1.2.1 Chức năng trung gian tín dụng:
Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của
NHTM Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận
là khoản chênh lệch giữa lãi suất gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay
1.1.2.2 Chức năng trung gian thanh toán và cung ứng phương tiện thanh toán
NHTM sẽ đứng ra làm trung gian thanh toán và cung ứng phương tiện thanh toán giữa các ngân hàng, giữa người mua và người bán ….Để hoàn tất các quan hệ kinh tế thương mại giữa họ với nhau, là nội dung thuộc chức năng trung gian thanh toán của NHTM Nhiệm vụ của chức năng này bao gồm:
Mở tài khoản tiền gửi giao dịch cho các tổ chức và cá nhân
Quản lý và cung cấp phương tiện thanh toán cho khách hàng
Tổ chức và kiểm soát quy trình thanh toán giữa các khách hàng
Chức năng trung gian thanh toán và cung ứng phương tiện thanh toán là chức năng rất quan trọng của NHTM, nó không thể hiện rõ rệt bản chất của NHTM mà còn cho thấy được tính chất rất đặc biệt trong hoạt động của NHTM
1.1.2.3 Chức năng dịch vụ và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan
NHTM thương mại thực hiện chức năng trung gian tín dụng và chức năng
trung gian thanh toán và cung ứng phương tiện thanh toán là hai chức năng rất quan trọng của NHTM, chỉ cần thực hiện hai chức năng này NHTM đã mang lại rất nhiều lợi ích cho nền kinh tế - xã hội Nhưng nếu NHTM chỉ thực hiện hai chức năng này
Trang 7thì THTM đã bỏ qua rất nhiều thế mạnh của mình mà các tổ chức khác không có được
Các dịch vụ mà chỉ có NH mới thực hiện được một cách đầy đủ và trọn vẹn thông qua hệ thống mạng lưới chi nhánh rộng khắp của mình ( trong và ngoài nước), có quan hệ và nắm được tình hình kinh doanh, tình hình tài chính, điểm mạnh, điểm yếu của khách hàng ( các công ty xí nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân…)
NH là tổ chức được trang bị hệ thống thông tin rất hiện đại, và cũng là tổ chức thu nhận và nắm bắt được nhiều thông tin về tình hình kinh tế, tài chính, tiền tệ, tỷ giá…Các dịch vụ đó như là: Dịch vụ ngân quỹ và chuyển tiền nhanh quốc nội, dịch
vụ kiều hối và chuyển tiền nhanh quốc tế, dịch vụ ủy thác ( bảo quản, chi hộ, thu
hộ, mua bán hộ…) dịch vụ tư vấn đầu tư cung cấp thông tin, dịch vụ NH điện tử Nhờ thực hiện chức năng thứ ba này mà NH đã tạo sự đa dạng phong phú cho dịch vụ của mình, làm tăng doanh thu và lợi nhuận và đặc biệt là phân tán được rủi
ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng
1.1.3 Các nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng thương mại
1.1.3.1 Nghiệp vụ nguồn vốn (Tài sản Nợ) của ngân hàng thương mại
Nghiệp vụ huy động nguồn vốn là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng cũng như đối với xã hội Trong nghiệp vụ này, NHTM được phép sử dụng những công cụ và biện pháp cần thiết mà luật phép cho phép để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế
Thành phần nguồn vốn của NHTM gồm:
Vốn điều lệ (Statutory Capital)
Các quỹ dự trữ (Reserve funds)
Vốn huy động (Mobilized Capital)
Vốn đi vay (Bonowed Capital)
Vốn tiếp nhận (Trust Capital)
Vốn khác (Other Capital)
Trang 8a Vốn điều lệ và các quỹ: Vốn điều lệ, các quỹ của ngân hàng được gọi là vốn
tự có của ngân hàng (Bank’s Capital) là nguồn vốn khởi đầu và được bổ sung trong quá trình hoạt động Vốn điều lệ của ngân hàng trước hết được dùng để xây dựng nhà cửa, văn phòng làm việc, mua sắm tài sản, trang thiết bị nhằm tạo cơ sở vật chất đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng, số còn lại để đầu tư, liên doanh, cho vay trung và dài hạn
b Các quỹ dự trữ của ngân hàng: Đây là các quỹ bắt buộc phải trích lập trong
quá trình tồn tại và hoạt động của ngân hàng, các quỹ này được trích lập theo tỷ lệ quy định trên số lợi nhuận ròng của ngân hàng, bao gồm:
Quỹ dự trữ: được trích từ lợi nhuận ròng hằng năm để bổ sung vốn điều
lệ
Quỹ dự phòng tài chính: quỹ này để dự phòng để bù đắp rủi ro, thu lỗ trong hoạt động của ngân hàng
Quỹ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ
Quỹ khen thưởng phúc lợi
Lợi nhuận để lại để phân bổ cho các quỹ Chênh lệch tỷ giá, đánh giá lại tài sản, nguồn vốn đầu tư XDCB
Vốn tự có của ngân hàng là yếu tố tài chính quan trọng bậc nhất, nó vừa cho thấy quy mô của ngân hàng vừa phản ánh khả năng đảm bảo các khoản nợ của ngân hàng đối với khách hàng
c Quy mô hoạt động: Đây là nguồn vốn chủ yếu của các NHTM, thực chất là
tài sản bằng tiền của các sở hữu chủ mà ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng nhưng phải có nghĩa vụ hoàn trả kịp thời, đầy đủ khi khách hàng yêu cầu Nguồn vốn huy động là nguồn tài nguyên to lớn nhất, bao gồm:
Tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức, cá nhân
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
Tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu
Các khoản tiển gửi khác
Trang 9Đối với tiển gửi của cá nhân và đơn vị, ngoài lãi suất, thì nhu cầu giao dịch với những tiện lợi nhanh chóng và an toàn là yếu tố cơ bản để thu hút nguồn tiền này Đối với tiền gửi tiết kiệm, tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu thì lãi suất là yếu
tố quyết định và người gửi tiết kiệm hay mua kỳ phiếu đều nhằm mục đích kiếm lời
d Vốn đi vay: Nguồn vốn đi vay có vị trí quan trọng trong tổng nguồn vốn của
NHTM Thuộc loại này bao gồm:
Vốn vay trong nước:
Vay ngân hàng trung ương: NHTW sẽ tiếp vốn cho NHTM thông qua biện pháp chiết khấu, tái chiết khấu nếu các hồ sơ tín dụng cùng các chứng từ xin tái chiết khấu có chất lượng Làm như vậy, NHTW sẽ trở thành chỗ dựa và là người cho vay cuối cùng đối với NHTM
Vay các NHTM khác thông qua thị trường liên ngân hàng (Internet Market)
Vốn vay ngân hàng nước ngoài
e Vốn tiếp nhận: Đây là nguồn tiếp nhận từ các tổ chức tài chính ngân hàng, từ
ngân sách nhà nước… để tài trợ theo các chương trình, dự án về phát triển kinh tế
xã hội, cải tạo môi sinh… nguồn vốn này chỉ được sử dụng theo đúng đối tượng và mục tiêu đã được xác định
f Vốn khác: Đó là các nguồn vốn phát sinh trong quá trình hoạt động của ngân
hàng (đại lý, chuyển tiền, các dịch vụ ngân hàng…)
1.1.3.2 Nghiệp vụ sử dụng vốn – tài sản Có (cấp tín dụng và đầu tư) Nghiệp vụ cho vay và đầu tư là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất, quyết
định đến khả năng tồn tại và hoạt động của NHTM Đây là các nghiệp vụ cấu thành
bộ phận chủ yếu và quan trọng của tài sản Có của ngân hàng Thành phần tài sản Có của ngân hàng bao gồm:
Dự trữ (Reserves)
Cho vay (Loans)
Đầu tư (Investment)
Tài sản Có khác (Other Assets)
Trang 10a Dự trữ: Hoạt động tín dụng của ngân hàng nhằm mục đích kiếm lời, song cần
phải bảo đảm an toàn để giữ vững được lòng tin của khách hàng Muốn có được sự tin cậy về phía khách hàng, trước hết phải bảo đảm khả năng thanh toán: đáp ứng được nhu cầu rút tiền của khách hàng Muốn vậy các ngân hàng phải để dành một phần nguồn vốn không sử dụng nó để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thanh toán Phần vốn để dành này gọi là dự trữ NHTW được phép ấn định một tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo từng thời kỳ nhất định, việc trả lãi cho tiền gửi dự trữ bắt buộc do chính phủ quy định Dự trữ bao gồm:
- Dự trữ sơ cấp (Primary Reserves): bao gồm tiền mặt, tiền gửi tại NHTW,
tại các ngân hàng khác
- Dự trữ thứ cấp (Secondary Reserves): (cấp hai) là dự trữ không tồn tại
bằng tiền mặt mà bằng chứng khoán, nghĩa là các chứng khoán ngắn hạn có thể bán
để chuyển thành tiền một cách thuận lợi Thuộc loại này gồm: Tín phiếu kho bạc, Hối phiếu đã chấp nhận, Các giấy nợ ngắn hạn khác; gọi là dự trữ thứ cấp bởi nó chỉ được sử dụng khi các khoản mục dự trữ sơ cấp bị cạn kiệt Khi quản lý dự trữ bắt buộc, NHTW có thể áp dụng 1 trong 3 phương pháp:
Phương pháp phong tỏa: Theo đó toàn bộ mức dự trữ bắt buộc phải
gửi vào một tài khoản tại NHTW và sẽ bị phong tỏa để đảm bảo thực
hiện đúng mức dự trữ
Phương pháp bán phong tỏa: Theo đó một phần của mức dự trữ bắt buộc sẽ được quản lý và phong tỏa tại một tài khoản riêng ở NHTW
Phương pháp không phong tỏa: Theo phương pháp này tiền dự trữ
được tính và thực hiện hàng ngày trên cơ sở số dư thực tế về tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn Toàn bộ mức dự trữ sẽ không bị phong tỏa, nó có thể tồn tại dưới hình thức tiền mặt hay tiền gửi NHTW hay dưới dạng chứng khoán ngắn hạn là tùy NHTM, tuy nhiên đến cuối mỗi tháng, NHTW sẽ kiểm tra việc tra việc thực hiện
dự trữ bắt buộc, nếu các NHTM không thực hiện đúng sẽ bị phạt
(cảnh cáo, phạt tiền nếu tái phạm)
Trang 11b Cấp tín dụng (Credits): Số nguồn vốn còn lại sau khi để dành một phần dự
trữ, các NHTM có thể dùng để cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân bao gồm:
Cho vay (Loans): Là tín dụng nghiệp vụ của NHTM Trong đó NHTM
sẽ cho người đi vay vay một số vốn để sản xuất kinh doanh, đầu tư hoặc tiêu dùng Khi đến hạn người đi vay phải hoàn trả vốn và tiền lãi Ngân hàng kiểm soát được người đi vay, kiểm soát được quá trình sử dụng vốn Người
đi vay có ý thức trả nợ cho nên bắt buộc họ phải quan tâm đến việc sử dụng làm sao có hiệu quả để hoàn trả nợ vay Trong cho vay thì mức độ rủi ro rất lớn, không thu hồi được vốn vay hoặc trả không hết hoặc không đúng hạn…
do chủ quan hoặc khách quan Do đó khi cho vay các ngân hàng cần sử dụng
các biện pháp bảo đảm vốn vay: thế chấp, cầm cố…
Chiết khấu (Discount): Đây là nghiệp vụ cho vay (gián tiếp) mà ngân
hàng sẽ cung ứng vốn tín dụng cho một chủ thể và một chủ thể khác thực hiện việc trả nợ cho ngân hàng Các đối tượng trong nghiệp vụ này gồm hối
phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu và các giấy nợ có giá khác
Cho thuê tài chính (Financial leasing): Là loại hình tín dụng trung, dài
hạn Trong đó các công ty cho thuê tài chính dùng vốn của mình hay vốn do phát hành trái phiếu để mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của người đi thuê và tiến hành cho thuê trong một thời gian nhất định Người đi thuê phải trả tiền thuê cho công ty cho thuê tài chính theo định kỳ Khi kết thúc hợp động thuê người đi thuê được quyền mua hoặc kéo dài thêm thời hạn thuê hoặc trả lại
thiết bị cho bên cho thuê
Bảo lãnh ngân hàng (Bank Guarantee): Trong loại hình nghiệp vụ này
khách hàng được ngân hàng cấp bảo lãnh cho khách hàng nhờ đó khách hàng
sẽ được vay vốn ở ngân hàng khác hoặc thực hiện hợp đồng kinh tế đã ký
kết
Các hình thức khác (Other)
c Đầu tư (Investment): Khoản mục đầu tư có vị trí quan trọng thứ hai sau
khoản mục cho vay, nó mang lại khoản thu nhập lớn và đáng kể của NHTM Trong
Trang 12nghiệp vụ này, ngân hàng sẽ dùng nguồn vốn của mình và nguồn vốn ổn định khác
để đầu tư dưới các hình thức như:
- Hùn vốn mua cổ phần, cổ phiếu của các Công ty; hùn vốn mua cổ phần chỉ được phép thực hiện bằng vốn của ngân hàng
- Mua trái phiếu chính phủ, chính quyền địa phương, trái phiếu công ty… Tất cả hoạt động đầu tư chứng khoán đều nhằm mục đích mang lại thu nhập, mặt khác nhờ hoạt động đầu tư mà các rủi ro trong hoạt động ngân hàng sẽ được phân tán, mặt khác đầu tư vào trái phiếu chính phủ thì mức độ rủi ro sẽ rất thấp
d Tài sản Có khác: Những khoản mục còn lại của tài sản Có trong đó chủ yếu
là tài sản lưu động nhằm: Xây dựng hoặc mua thêm nhà cửa để làm trụ sở văn phòng, trang thiết bị, máy móc, phương tiện vận chuyển, xây dựng hệ thống kho quỹ… ngoài ra còn các khoản phải thu, các khoản khác
1.1.4 Vai trò của ngân hàng thương mại trong sự phát triển kinh tế xã hội
Hoạt động của các NHTM chiếm vai trò, vị trí quan trọng trong nền kinh tế, nó góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Mặt khác kinh tế - xã hội có tác động ngược trở lại đối với hoạt động ngân hàng, nó thúc đẩy hoặc kìm hãm hoạt động của ngân hàng Thông qua chức năng làm trung gian tín dụng, NHTM đã góp phần không nhỏ vào việc điều hòa vốn trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, tạo điều kiện phát triển sản xuất làm cho sản phẩm xã hội tăng lên, vốn đầu tư được mở rộng
và từ đó đời sống dân chúng được cải thiện, nó là cầu nối tiết kiệm và đầu tư, tạo thế cân bằng và ổn định cho nền kinh tế Với chức năng làm trung gian thanh toán NHTM đã góp phần làm giảm chi phí lưu thông tiền tệ đối với từng khách hàng cũng như đối với toàn bộ xã hội Nó góp phần thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa được tiến hành một cách nhanh chóng
Ngoài ra NHTM còn giúp NHNN trong việc điều tiết và kiểm soát thị trường tiền tệ, thị trường vốn, góp phần thu hút, mở rộng đầu tư trong và ngoài nước Để đảm bảo cho các NHTM thực hiện tốt vai trò của mình, NHNN cần quản lý tốt các NHTM nhằm mục đích thực thi chính sách tiền tệ, bảo đảm cho sự hoạt động lành
Trang 13mạnh, hiệu quả của hệ thống ngân hàng và bảo vệ quyền lợi của mọi thành phần kinh tế, giữ cho nền kinh tế phát triển được thuận lợi
1.2 LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM
1.2.1 Lý luận về hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực đã có để đạt được kết quả cao nhất với tổng chi phí thấp nhất Hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM được đo lường một cách tổng quát thông qua tỷ lệ giữa lợi nhuận đối với tổng tài sản và vốn chủ sở hữu Lợi nhuận phản ánh khả năng sinh lời của NHTM, nó được quyết định bởi mức lãi thu được từ các khoản cho vay và đầu tư, bởi nguồn thu từ hoạt động dịch
vụ, bởi quy mô,chất lượng và thành phần của các tài sản Có
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM quyết định trực tiếp tới vấn đề tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng Nếu NHTM hoạt động có hiệu quả kinh doanh thì uy tín của ngân hàng đó sẽ được tăng lên, người gửi tiền sẽ yên tâm và tin tưởng và do đó công tác huy động vốn của ngân hàng sẽ được thuận lợi và phát triển Trên cơ sở nguồn vốn huy động tăng đó NHTM mới có khả năng mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh của mình và tạo ra được lợi nhuận ngày càng cao, tích lũy được nhiều và có điều kiện nâng cao chất lượng phục vụ để thu hút khách hàng
Việc phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh NHTM thông qua các tỷ số phải được xem xét qua nhiều thời kỳ khác nhau để thấy được xu hướng phát triển và quy luật vận động của chúng, ngoài ra việc nghiên cứu còn phải dựa vào thực tiễn hoạt động của các ngân hàng đang phân tích, đi sâu vào từng bộ phận cấu thành chỉ tiêu phân tích, từ đó sẽ dễ dàng xác định nguyên nhân tăng giảm của các chỉ tiêu và
dễ dàng tìm ra được các biện pháp giải quyết thích hợp
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM được đánh giá thông qua
năng lực tài chính của ngân hàng được thể hiện ở các chỉ tiêu giới thiệu trong phần này và năng lực về hoạt động kinh doanh được thể hiện thông qua việc phân tích
Trang 14các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong phần tiếp theo
Để đảm bảo cho hiệu quả hoạt động của các NHTM được ổn định và ngày càng phát triển thì việc phải đảm bảo về các chỉ tiêu an toàn trong hoạt động ngân hàng là điều cần thiết
1.2.2.1 Các chỉ tiêu đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh của NHTM
a Chỉ tiêu an toàn vốn tối thiểu
Đây là một chỉ tiêu rất quan trọng nhằm đánh giá mức độ an toàn về vốn của các NHTM Tỷ số này giúp xác định khả năng bù đắp các rủi ro bằng nguồn vốn tự có của ngân hàng
Dựa vào hình thức quản lý tài sản, tài sản có rủi ro bao gồm tài sản có rủi ro nội bảng và tài sản có rủi ro ngoại bảng Ngoại trừ các tài sản được xem như không có rủi ro như tiền mặt, tiền gửi tại NHNN, mỗi tài sản có còn lại đều có mức độ rủi ro nhất định Thông thường rủi ro được chia thành mức 0%, 20%, 50%, 100% tương ứng với cách xếp loại tài sản có bình thường, tài sản có kém tiêu chuẩn, tài sản có nghi ngờ và tài sản có bị mất trắng Các hoạt động ngoại bảng ngày càng nhiều và
Trang 15có rủi ro làm ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của ngân hàng không thua kém
gì các tài sản nội bảng, do đó phải đánh giá các rủi ro của tài sản ngoại bảng để đảm bảo an toàn về vốn Tất cả các cam kết ngoại bảng phải được chuyển đổi thành lượng tín dụng tương đương bằng cách nhân lượng tài sản ngoại bảng với hệ số chuyển đổi tương ứng Hệ số chuyển đổi được tính cho từng giao dịch ngoại bảng khác nhau Sau đó nhân với hệ số rủi ro tùy theo việc ước tính rủi ro tín dụng đối với từng giao dịch ngoại bảng để có được tổng tài sản có rủi ro ngoại bảng
b Giới hạn tín dụng đối với khách hàng
Để kiểm soát và hạn chế rủi ro về tín dụng, NHNN đã quy định giới hạn tín dụng đối với khách hàng Căn cứ vào tỷ lệ dư nợ của từng khách hàng hay nhóm khách hàng mà các NHTM có cách tổ chức theo dõi riêng Quy định cụ thể giới hạn tín dụng đối với khách hàng được thể hiện ở Quyết định số 457/2005/QĐ – NHNN ngày 19/04/2005
c Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn để sử dụng cho vay trung dài hạn
Để hoạt động kinh doanh của ngân hàng được diễn ra thông suốt, cần phải cân đối được nguồn vốn huy động và cho vay Mọi ngân hàng đều nhận thấy rằng dùng tiền gửi ngắn hạn để cho vay trung dài hạn đều đem lại khoản lợi nhuận tối đa Khi thực hiện nghiệp vụ này ngân hàng có một niềm tin là khách hàng sẽ gửi lại số tiền
đó khi đáo hạn nhưng chẳng may ngân hàng không giữ được sự tín nhiệm, khách hàng sẽ kéo nhau đến rút tiền trong khi đó các khoản cho vay trung dài hạn không thể nào thu hồi ngay được và kết quả là sự vỡ nợ chắc chắn không thể tránh khỏi
d Phân loại cho vay và mức trích lập dự phòng rủi ro
Để đảm bảo chất lượng tín dụng cũng như theo dõi kiểm soát được nợ vay thì các NHTM tiến hành phân chia nhóm nợ theo Quyết định số 493/2005/QĐ – NHNN ngày 22/04/2005 Hiện nay, nợ vay của các NHTM được chia làm 5 nhóm tương ứng với khả năng trả nợ của khách hàng, mức độ rủi ro của các khoản nợ đó
Để đảm bảo hoạt động của ngân hàng diễn ra thông suốt khi xảy ra sự cố của các khoản nợ vay xấu, các NHTM tiến hành trích lập dự phòng rủi ro để xử lý Tương ứng với mức độ rủi ro của từng nhóm mà tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro khác nhau,
Trang 16cụ thể nhóm 5 tỷ lệ trích 100%, nhóm 4 là 50%, nhóm 3 là 20%, nhóm 2 là 5%, nhóm 1 là 0%
1.2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của các NHTM
a Chỉ tiêu về khả năng sinh lợi
Tỷ lệ ROA (Return on Assets)
Lợi nhuận ròng (lợi nhuận sau thuế)
ROA = x 100%
Tổng tài sản
Tỷ lệ này phản ánh hiệu quả kinh doanh trên một đơn vị tài sản có của ngân hàng, là thước đo hiệu quả đầu tư của ngân hàng bởi vì mọi tài sản có đều là những khoản đầu tư sinh lãi mỗi ngày ngoại trừ hai loại tài sản tiền mặt và tài sản cố định Chỉ tiêu ROA giúp nhà quản trị thấy được khả năng bao quát của ngân hàng trong việc tạo ra thu nhập từ tài sản có, ROA cao khẳng định hiệu quả kinh doanh tốt, ngân hàng có cơ cấu tài sản có hợp lý, có sự điều động linh hoạt giữa các khoản mục trên tài sản có trước những biến động của nền kinh tế Do vậy ROA còn phản ánh khả năng thích ứng của ban lãnh đạo ngân hàng trước những thay đổi chung của nển kinh tế
Để tăng ROA, các ngân hàng phải tìm cách gia tăng các khoản mục tài sản có sinh lời Trong các khoản mục của tổng tài sản thì cho vay là khoản đem lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng Vì mục đích tối đa hóa lợi nhuận mà ngân hàng gia tăng khoản đầu tư tín dụng, mà đây là khoản chứa đựng nhiều rủi ro nhất Như vậy
tỷ lệ ROA càng cao thể hiện mức độ rủi ro càng cao mang lại từ tổng tài sản có
Tỷ lệ ROE (Return on Equity)
Lợi nhuận ròng (lợi nhuận sau thuế)
ROE = x 100%
Vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này đo lường hiệu quả sử dụng một đồng vốn chủ sở hữu, đo lường khả năng lành mạnh trong khả năng hoạt động của một ngân hàng Do tỷ lệ ROE phản ánh lợi nhuận kiếm được từ một đơn vị vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu bao gồm
Trang 17vốn của ngân hàng và các quỹ dự trữ, qua đó tỷ lệ này cho biết khả năng sử dụng
vốn cổ phần của ngân hàng nên ROE có ý nghĩa quan trọng đối với cổ đông ROE
càng lớn cho thấy kết quả hoạt động trên vốn cổ phần của ngân hàng tốt
b Chỉ tiêu về quy mô và chất lượng tín dụng
Hoạt động tín dụng là một hoạt động kinh doanh truyền thống nhưng lại là hoạt
động kinh doanh chủ yếu của NHTM hiện nay Theo số liệu thống kê của các
NHTM thì tài sản sinh lời về các khoản cho vay thường chiếm tỷ trọng lớn khoảng
60% đến 70% tổng tài sản có Đây là nghiệp vụ mang lại lợi nhuận chủ yếu cho
ngân hàng Do đó việc xem xét quy mô cũng như chất lượng tín dụng là việc làm rất
cần thiết trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Các chỉ tiêu liên quan đến tín
dụng như sau:
Tỷ lệ này cho biết hiệu quả đầu tư tín dụng của vốn huy động và giúp so sánh khả năng cho vay với khả năng huy động vốn của ngân hàng Thường
tỷ số này đạt từ 0,6 đến 0,7 là tốt vì thể hiện ngân hàng đã sử dụng hiệu quả đồng
vốn huy động vào các hoạt động mang lại thu nhập và đảm bảo an toàn
Tổng dư nợ
Tỷ lệ tổng dư nợ / Tổng tài sản có =
Tổng tài sản có
Tỷ lệ này cho biết quy mô hoạt động tín dụng của NHTM Thông thường tỷ
trọng hoạt động tín dụng chiếm từ 60% đến 70% tổng tài sản của ngân hàng
Nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Tổng dư nợ
Tỷ lệ này xác định chất lượng tín dụng của NHTM, đây là mấu chốt để cho
NHTM trước hết là tồn tại và sau đó là nuôi sống năng lực cạnh tranh Do đó chất
lượng tín dụng ngân hàng trở thành yếu tố quan trọng thể hiện hiệu quả hoạt động
Việc các NHTM xây dựng quy trình cấp phát tín dụng là để đảm bảo chất lượng tín
dụng Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì chất lượng tín dụng của ngân hàng càng kém
Trang 181.3 CÁC CÔNG CỤ SỬ DỤNG ĐỂ XÂY DỰNG VÀ LỰA CHỌN GIẢI PHÁP
1.3.1 Ma trận đánh giá các yếu tố nội bộ (IFE)
Thu thập thông tin thông qua việc phân tích nội bộ, ta thiết lập nên ma trận các yếu tố bên trong (IFE) nhằm đánh giá lại sức mạnh nội bộ của ngân hàng
Bảng 1.1: Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong (IFE) mẫu [1]
Stt Các yếu tố bên trong Mức độ quan
trọng Phân loại
Số điểm quan trọng
Ma trận IFE được xây dựng theo năm bước như sau:
Bước 1: Liệt kê các yếu tố tiêu biểu ảnh hưởng đã được chọn lọc trong quá trình phân tích nội bộ
Bước 2: Ấn định tầm quan trọng bằng cách phân loại từ 0,0 (không quan trọng) đến 1,0 (rất quan trọng) cho mỗi yếu tố Tổng số các mức phân loại được ấn định cho các yếu tố này phải bằng 1,0
Bước 3: Phân loại từ 1 đến 4 cho mỗi yếu tố đại diện để thấy được mức độ phản ứng của đơn vị đối với các yếu tố đó, đối với yếu tố loại kém (phân loại bằng 1), đối với yếu tố loại trung bình (phân loại bằng 2), đối với yếu tố loại khá (phân loại bằng 3), đối với yếu tố loại tốt (phân loại bằng 4)
Bước 4: Nhân mỗi mức độ quan trọng của mỗi yếu tố với loại của nó
để xác định số điểm quan trọng cho mỗi biến số
Bước 5: Cộng tất cả số điểm quan trọng cho mỗi biến số để xác định
số điểm quan trọng tổng cộng của đơn vị Tổng số điểm quan trọng cao nhất mà một tổ chức có thể có là 4,0; trên trung bình là 3; trung bình là 2,5 và thấp nhất là 1
Trang 191.3.2 Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE)
Môi trường của tổ chức là những yếu tố, những lực lượng, những thể chế nằm bên ngoài tổ chức nhưng chúng có tác động đến hoạt động và kết quả hoạt động của tổ chức Chúng ảnh hưởng đến toàn bộ các bước tiếp theo của quá trình các giải pháp Các giải pháp được lựa chọn phải được hoạch định trên cơ sở các điều kiện môi trường đã nghiên cứu Để đánh giá các yếu tố bên ngoài bao gồm các
cơ hội và các mối đe dọa có ảnh hưởng đến ngành, cần phải thiết lập ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE)
Bảng 1.2: Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE) mẫu [1]
Stt Các yếu tố bên ngoài Mức độ quan
trọng Phân loại
Số điểm quan trọng
Ma trận EFE được xây dựng theo năm bước sau:
Bước 1: Liệt kê các yếu tố bên ngoài tiêu biểu ảnh hưởng đã được chọn lọc trong quá trình phân tích môi trường bên ngoài
Bước 2: Ấn định tầm quan trọng bằng cách phân loại từ 0,0 (không quan trọng) đến 1,0 (rất quan trọng) cho mỗi yếu tố Tổng số các mức phân loại được ấn định cho các yếu tố này phải bằng 1,0
Bước 3: Phân loại từ 1 đến 4 cho mỗi yếu tố đại diện để thấy được mức độ phản ứng của đơn vị đối với các yếu tố đó, đối với yếu tố loại kém (phân loại bằng 1), đối với yếu tố loại trung bình (phân loại bằng 2), đối với yếu tố loại khá (phân loại bằng 3), đối với yếu tố loại tốt (phân loại bằng 4)
Bước 4: Nhân mỗi mức độ quan trọng của mỗi yếu tố với loại của nó
để xác định số điểm quan trọng cho mỗi biến số
Trang 20 Bước 5: Cộng tất cả số điểm quan trọng cho mỗi biến số để xác định
số điểm quan trọng tổng cộng của tổ chức Tổng số điểm quan trọng cao nhất mà một tổ chức có thể có là 4,0, trên trung bình là 3, trung bình là 2,5 và thấp nhất là 1,0
Điểm
Điểm quan trọng
Điểm
Điểm quan trọng
Điểm
Điểm quan trọng
Ma trận hình ảnh cạnh tranh được xây dựng theo năm bước sau:
Bước 1: Lập danh mục từ 10 đến 20 yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động kinh doanh
Bước 2: Ấn định tầm quan trọng bằng cách phân loại từ 0,0 (không quan trọng) đến 1,0 (rất quan trọng) cho mỗi yếu tố Tổng số các mức phân loại được ấn định cho các yếu tố này phải bằng 1,0
Bước 3: Phân loại từ 1 đến 4 cho mỗi yếu tố đại diện để thấy được mức độ phản ứng của đơn vị đối với các yếu tố đó, đối với yếu tố loại kém (phân loại bằng 1), đối với yếu tố loại trung bình (phân loại bằng 2), đối với yếu tố loại khá (phân loại bằng 3), đối với yếu tố loại tốt (phân loại bằng 4)
Bước 4: Nhân mỗi mức độ quan trọng của mỗi yếu tố với loại của nó
để xác định số điểm quan trọng cho mỗi biến số
Trang 21 Bước 5: Cộng tất cả số điểm quan trọng của các yếu tố để xác định tổng số điềm của ma trận cho từng tổ chức và so sánh
Ma trận hình ảnh cạnh tranh nhận diện những nhà cạnh tranh chủ yếu cùng những điểm mạnh và điểm yếu của họ Ma trận này là sự mở rộng của ma trận các yếu tố bên ngoài trong trường hợp các mức quan trọng, phân loại và tổng điểm quan trọng
có cùng ý nghĩa, ngoài ra các yếu tố bên trong như tài chính, quảng cáo …có thể kết hợp trong đấy
1.3.4 Ma trận kết hợp điểm yếu - điểm mạnh, cơ hội - nguy cơ (SWOT)
Để hình thành được ma trận SWOT thì cần thiết phải hình thành được ma trận
IFE, ma trận EFE để thấy được những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, mối đe dọa đối với hoạt động của Vib Bank
Ma trận SWOT
Ma trận SWOT là công cụ quan trọng giúp các nhà quản trị kết hợp những điểm mạnh, điểm yếu bên trong tổ chức với những cơ hội, nguy cơ của môi trường bên ngoài nhằm định hướng và hình thành các giải pháp Tùy thuộc vào mục đích
và yêu cầu của nhà quản trị mà có những yêu cầu đặt ra khác nhau nên sẽ hình thành theo các kiểu giải pháp không giống nhau
Sự kết hợp trong ma trận SWOT có thể giúp các nhà quản trị phát triển 4 nhóm các giải pháp sau:
- Nhóm các giải pháp điểm mạnh – cơ hội (SO)
- Nhóm giải pháp các điểm yếu – cơ hội (WO)
- Nhóm giải pháp các điểm mạnh – nguy cơ (ST)
- Nhóm giải pháp điểm yếu – nguy cơ (WT)
Sự kết hợp các yếu tố quan trọng bên trong và bên ngoài là nhiệm vụ khó khăn nhất của việc phát triển một ma trận SWOT, để đánh giá cần có sự phán đoán tốt, khả năng quan sát và kinh nghiệm thực tế của nhà quản trị
- Các giải pháp SO: Sử dụng các điểm mạnh bên trong của doanh
nghiệp để tận dụng các cơ hội bên ngoài Tất cả các nhà quản trị đều mong muốn tổ chức của họ ở vào vị trí mà những điểm mạnh bên trong có thể sử dụng để lợi dụng
Trang 22những xu hướng và biến cố của môi trường bên ngoài Chiến lược này hoàn toàn mang tính chủ động
- Các giải pháp WO: Các giải pháp này nhằm cải thiện những điểm yếu
bên trong để tận dụng tốt nhất cơ hội bên ngoài
- Các giải pháp ST: Sử dụng các điểm mạnh của tổ chức để tránh khỏi
hoặc giảm đi ảnh hưởng của những mối đe dọa bên ngoài
- Các giải pháp WT: Đây là những giải pháp phòng thủ nhằm giảm đi
những điểm yếu bên trong và tránh khỏi những mối đe dọa của môi trường bên ngoài
Ma trận SWOT là một trong những công cụ giúp đề ra những biện pháp tốt
có thể chọn lựa nhưng không giúp lựa chọn hoặc quyết định giải pháp nào là tốt nhất Vì vậy, không phải tất cả các giải pháp trong ma trận SWOT đều sẽ được lựa chọn trong thực tế hoạt động của tổ chức mà tùy thuộc vào mục tiêu của nhà quản trị
Trang 23KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Chương 1 của Luận văn đã khái quát những vấn đề cơ sở lý luận về Ngân hàng thương mại, phân tích vai trò của dịch vụ Ngân hàng đối với nền kinh tế cũng như phân tích tính tất yếu phải đẩy mạnh hoạt động Ngân hàng tại các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam Những cơ sở lý luận này là tiền đề để phân tích hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam – chi nhánh Đồng Nai trong chương 2, kế đó là đưa ra một số đề xuất nhằm phát triển hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam – chi nhánh Đồng Nai trong chương 3
Trang 24CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM – CHI NHÁNH
ĐỒNG NAI
2.1 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM – CHI NHÁNH ĐỒNG NAI TRONG THỜI GIAN QUA
2.1.1 Giới thiệu về Vib bank – chi nhánh Đồng Nai
2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân Hàng TMCP Quốc
Tế Việt Nam – chi nhánh Đồng Nai
Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam – chi nhánh Đồng Nai chính thức được
thành lập và đi vào hoạt động từ ngày 18/10/2005, là chi nhánh đầu tiên chi nhánh vùng của Vib Bank tại miền Đông Nam Bộ Vì vậy, Vib Bank Đồng Nai nhận được rất nhiều ưu tiên của hội sở về việc phát triển cơ sở vật chất, đầu tư nhân lực và chính sách ưu tiên phát triển Qua 5 năm phát triển tại vùng Đông Nam Bộ, mặc dù tình hình thị trường tài chính tiền tệ có nhiều biến đổi, nhưng Vib Bank Đồng Nai
đã đạt được những bước đầu khá quan trọng, mạng lưới ngày càng được mở rộng, đời sống cán bộ công nhân viên ngày càng được cải thiện, uy tín của ngân hàng tại Tỉnh Đồng Nai nói riêng và khu vực miền Đông Nam Bộ nói chung ngày càng được nâng cao
Trụ sở chính của Vib Bank Đồng Nai đặt tại Cổng 1 sân bay Biên Hòa,
đường Nguyễn Ái Quốc, Biên Hòa, Đồng Nai, và gồm 4 phòng giao dịch, PGD Tân Mai, PGD Hố Nai, PGD Trảng Bom, PGD Long Khánh Đồng Nai
2.1.1.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy hoạt động
Chi nhánh ngân hàng TMCP Quốc Tế Đồng Nai là một chi nhánh có cơ cấu
tổ chức bộ máy hợp lý , nhân sự gồm 98 người, bao gồm Giám đốc và Phó Giám đốc là người trực tiếp quản lý kinh doanh của ngân hàng, trưởng phòng của các phòng ban và toàn bộ cán bộ công nhân viên của các phòng ban bao gồm:
Trang 25Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy của Vib Đồng Nai
( Nguồn: phòng hành chánh – nhân sự Vib bank Đồng Nai)
Qua sơ đồ cơ cấu tổ chức này ta thấy: Việc quản lý kinh doanh rất chặc chẽ, Ban giám đốc chi nhánh luôn được sự giám sát của một chuyên viên quản lý rủi ro trực thuộc khối quản lý rủi ro đặt tại chi nhánh giám sát Ban Giám Đốc ngoài việc phụ trách chung các công việc của toàn chi nhánh, ngoài ra còn trực tiếp quản lý các phòng giao dịch còn lại Các trưởng phòng ban là người chịu trách nhiệm chính của phòng mình, tuy nhiên các phòng ban luôn được hổ trợ và giám sát từ các khối ở hội sở, đứng đầu mỗi bộ phận trực thuộc phòng là trưởng bộ phận, bộ phận phòng kinh doanh được chia thành phòng cá nhân và phòng doanh nghiệp có sự tách biệt
để chuyên môn hóa hơn, việc quản lý khách hàng của các chuyên viên được thiết lập thành danh mục để chăm sóc khách hàng tốt hơn, và chuyên nghiệp hơn
Ban Giám Đốc
CV Quản Lý Rủi Ro
Sự
Phòng Hành Chính
D
Phòng Tổng Hợp
PGD Trảng Bom
PGD
Hố Nai
PGD Tân Mai
PGD Long Khán
h
Trang 262.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam - chi nhánh Đồng Nai
Sau 05 năm có mặt tại thị trường miền Đông Nam Bộ Vib Bank Đồng Nai
đã đạt được những bước tiến vượt bậc, khả năng huy động vốn, quy mô tín dụng, phát triển công nghệ, mở rộng mạng lưới ngân hàng Với sự ưu tiên của Hội sở về nguồn vốn đã tạo điều kiện cho Vib Bank Đồng Nai tăng khả năng cung ứng tín dụng cho thị trường, và đây là cơ sở giúp Vib Đồng Nai phát triển trong giai đoạn vừa qua Kết quả hoạt động kinh doanh của Vib Đồng Nai từ 2008 – 2010 được thể hiện như sau:
Trang 27Bảng 2.2: Kết quả hoạt động kinh doanh của Vib Bank Đồng Nai giai đoạn
2008 – 2010
ĐVT: Triệu đồng
1 Thu nhập lãi và các khoản tương tự 210,723 119,988 171,828
2 Chi phí lãi và các chi phí tương tự 188,269 92,382 130,371
3 Thu nhập từ hoạt động dịch vụ 3,346 9,216 3,874
III Lãi/lỗ thuần từ hoạt động kinh
5 Thu nhập từ hoạt động khác 24,125 10,758 21,376
IX
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh
doanh trước chi phí dự phòng rủi ro
(Nguồn: phòng tài chính kế toán Vib bank Đồng Nai)
Nhìn chung doanh thu của Vib Đồng Nai từ năm 2008 – 2010 đến nay có xu hướng giảm nhưng không đáng kể Nguồn doanh thu chủ yếu của Vib bank Đồng Nai được đem lại từ khu vực lãi suất, nguồn thu từ khu vực dịch vụ và kinh doanh
Trang 28ngoại tệ chỉ chiếm một phần nhỏ Bên cạnh đó lợi nhuận sau thuế lại tăng mạnh nhưng tốc độ tăng có xu hướng chậm lại vào năm 2010 Năm 2009 lợi nhuận sau thuế đạt 16,656 triệu đồng tăng 258% so với năm 2008, sang năm 2010 lợi nhuận sau thuế đạt 20,628 triệu đồng tăng 24% so với năm 2009 Nguyên nhân của tình trạng này là nguồn doanh thu tăng mạnh đó là do dư nợ năm 2010 tăng mạnh Tuy nhiên để có nguồn vốn cho vay này thì chi nhánh phải sử dụng nguồn vốn huy động thõa thuận lãi suất cao từ thị trường, bên cạnh đó chi nhánh cũng sử dụng nguồn vốn điều chuyển từ Hội sở với chi phí điều chuyển mà Hội Sở áp dụng cho chi nhánh tương đương với chi phí huy động thõa thuận lãi suất từ thị trường 01 Cùng với đà phát triển của ngân hàng thì tổng thu nhập cũng gia tăng Thu nhập tạo ra sự tăng trưởng nội tại cũng như tác động rất lớn đến khả năng huy động vốn hay nói cách khác là tạo hình ảnh tốt đẹp trên thị trường tiền tệ
2.1.3 Phân tích một số hoạt động của Ngân Hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam Chi Nhánh Đồng Nai
Từ khi thành lập đến hết năm 2010 tình hình hoạt động của Vib bank Đồng Nai có nhiều biến động về tình hình tài chính, nhân sự cấp cao, cũng như việc áp dụng chuyển đổi mô hình mới của Vib Bank, cụ thể như:
2.1.3.1 Phân tích tình hình tài chính
Tổng tài sản và nguồn vốn của Vib Bank Đồng Nai liên tục tăng qua các năm
tương ứng với tỷ lệ tăng trưởng của chi nhánh được thể hiện qua bảng sau:
Trang 29Bảng 2.3: Cân đối kế toán của Vib Bank Đồng Nai giai đoạn 2008-2010
ĐVT: Triệu đồng
2 Dự phòng rủi ro cho vay khách hàng 14,390 15,005 9,503
1 Chứng khoán đầu tư sẵn sàng để bán 1,955 301,592 300,000
1 Các khoản lãi, phí phải trả 22,589 12,066 15,021
2 Các khoản phải trả và công nợ khác 38,581 158,630 249,776
( Nguồn: phòng tài chính kế toán Vib Bank Đồng Nai)
Trải qua 5 năm hình thành và phát triển, bước đầu Vib bank Đồng Nai đã thu được những kết quả đáng khích lệ, nguồn vốn huy động tiếp tục tăng từ đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho thị trường, tạo tiền đề để tiến tới huy động vốn
Trang 30Đây chính là cơ sở để tổng tài sản của Vib Bank Đồng Nai liên tục tăng cuối năm
2010 đạt 1.524 tỷ đồng, tăng 17.62% so với năm 2009
a Hệ số ROA( Return on Asset )
Chỉ tiêu ROA giúp nhà quản trị thấy được khả năng bao quát của ngân hàng trong việc tạo ra từ thu nhập tài sản có ROA khẳng định hiệu quả hoạt động kinh doanh tốt, ngân hàng có cơ cấu tài sản có hợp lý, có sự điều động linh hoạt giữa các khoản mục trên tài sản có trước những biến động của nền kinh tế
Bảng 2.4: Chỉ tiêu ROA của Vib Bank Đồng Nai giai đoạn 2008 – 2010 ( %)
Tổng tài sản (Triệu đồng) 831,893 1,295,897 1,524,226
( Nguồn:Tính toán từ CĐKT và KQHĐKD của Vib bank Đồng Nai)
Qua bảng 2.4 cho thấy tỷ lệ ROA tăng theo hàng năm đặc biệt năm 2010 được ghi nhận là năm thành công nhất đối với Vib Đồng Nai với lãi ròng đạt được 20,6 tỷ đồng, tăng 24% so với kết quả kinh doanh năm trước, trong điều kiện thị trường có rất nhiều biến động nhưng lãi ròng của năm 2010 bằng cả tổng lãi ròng của hai nằm liền trước đó Lợi nhuận thể hiện kết quả kinh doanh của ngân hàng nên lợi nhuận tăng là dấu hiệu tốt nhưng phải xét ngân hàng có hoạt động hiệu quả hay không thông qua chỉ tiêu tỷ lệ lợi nhuận trên một đồng tổng tài sản có Nói cách khác là phải xem xét tốc độ tăng của lợi nhuận có tương ứng với tốc độ tăng của tổng tài sản có hay không
Hiện nay ROA của các ngân hàng Việt Nam ở mức 2% nên với kết quả này thì ROA của Vib bank Đồng Nai ở mức thấp Trong tổng tài sản có của ngân hàng bao gồm danh mục các khoản đầu tư với tỷ trọng khác nhau Cùng có tổng tài sản có như nhau nhưng ngân hàng nào có danh mục đầu tư hợp lý sẽ thu được lợi nhuận tối
đa, hay nói cách khác là ROA tăng cao Thực tế tổng tài sản của ngân hàng còn khiêm tốn cho thấy sản phẩm dịch vụ của ngân hàng chưa được công chúng sử dụng
Trang 31nhiều, mặt khác ngân hàng cũng chưa quan tâm đến các hoạt động đầu tư bên ngoài nhằm gia tăng lợi nhuận ngoài lãi cho vay
b Tỷ lệ hiệu quả sử dụng tài sản
Tổng tài sản tăng mạnh nó nói lên được về quy mô phát triển của ngân hàng, nhưng việc sử dụng hiệu quả trên một đồng tài sản tăng thêm là một chuyện khác Vậy, chúng ta cần phải xem xét hiệu quả sử dụng tài sản của ngân hàng
Bảng 2.5: Tỷ lệ hiệu quả sử dụng tài sản của Vib bank Đồng Nai giai đoạn
( Nguồn: tính toán từ CĐKT và KQHĐKD của Vib bank Đồng Nai)
Tài sản có là một danh mục sử dụng vốn của ngân hàng trong hoạt động kinh doanh, chất lượng tài sản có nói lên khả năng bền vững về mặt tài chính, khả năng sinh lời và năng lực quản lý của ngân hàng Với số liệu trên cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản của Vib bank Đồng Nai là tương đối cao, ngân hàng phân bổ danh mục đầu tư ngày càng hiệu quả hơn Bên cạnh tài sản có đem lại thu nhập cho ngân hàng nhưng rủi ro trong hoạt động của ngân hàng cũng đều tập trung ở tài sản có Khoản
dự trữ tiền mặt và tiền gửi tại NHNN không có khả năng sinh lời nhưng nó liên quan đến việc duy trì khả năng thanh toán của ngân hàng Thực tế hiện nay Vib bank Đồng Nai đầu tư cho hoạt động tín dụng chiếm gần 80% trên tổng tài sản có, đây là bộ phận đem lại nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng và cũng là nơi phát sinh nhiều rủi ro Để nâng cao thu nhập cho ngân hàng phải đẩy mạnh việc cho vay nhưng đòi hỏi phải kiểm soát được rủi ro Trong trường hợp chưa tìm được khách hàng tin cậy để cho vay, thì việc đẩy mạnh nguồn thu từ dịch vụ thanh toán chuyển tiền, dịch vụ thu chi hộ, nghiệp vụ thẻ và thực hiện các hình thức bảo lãnh Tuy nhiên việc tăng nguồn thu từ dịch vụ cũng gặp khó khăn do quy mô chưa đủ lớn nên khách hàng của Vib bank Đồng Nai chủ yếu cũng là các khách hàng nhỏ và vừa nên
Trang 32việc phát triển các dịch vụ bảo lãnh và thanh toán còn nhiều hạn chế Lợi nhuận luôn đi kèm với rủi ro, ngân hàng cần có chính sách quản lý các danh mục đầu tư ngày càng hợp lý hơn nhằm tối đa hóa lợi nhuận và đảm bảo an toàn về tài sản có của ngân hàng
c Chỉ tiêu tổng dư nợ/ Tổng tài sản có
Tỷ lệ này nói lên được hiệu quả sử dụng trên một đồng tài sản có để hướng tới
mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của mình
Bảng 2.6: Chỉ tiêu tổng dư nợ/Tổng tài sản có của Vib bank Đồng Nai
giai đoạn 2008 – 2010
Tổng dư nợ (Triệu đồng)
812,281 971,786 1,177,052 Tổng tài sản có (Triệu đồng)
831,893 1,295,897 1,524,226 Tổng dư nợ/Tổng tài sản (%) 97,64 74,99 77,22
( Nguồn: tính toán từ CĐKT và KQHĐKD của Vib bank Đồng Nai)
Từ bảng 2.6 cho thấy tổng dư nợ chiếm tỷ lệ chủ yếu trong tổng tài sản
Nhưng năm 2010, tỷ lệ này chiếm 76,60%, trong khi đó nghiệp vụ đầu tư chứng khoán của ngân hàng chỉ chiếm một lượng nhỏ Vì vậy, ngân hàng có một lượng nhỏ vốn dư thừa được để tại quỹ để đảm bảo khả năng thanh khoản, một lượng nhỏ được gửi tại các TCTD khác và tại NHNN, như vậy đã tối đa hóa được hiệu quả hoạt động, đặc biệt là ở năm 2010 khả năng huy động vốn của Vib Đồng Nai còn rất hạn chế Như vậy Vib Đồng Nai cần thiết phải gia tăng khả năng huy động vốn cũng như gia tăng các khoản sử dụng vốn nhằm đem lại hiệu quả tối ưu
d Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn
Chất lượng tín dụng của ngân hàng thông qua tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư
nợ, tỷ lệ này càng lớn thì chất lượng tín dụng càng suy giảm, có nghĩa hoạt động tín dụng chứa đựng nhiều rủi ro
Trang 33Bảng 2.7: Chỉ tiêu nợ quá hạn/Tổng dư nợ của Vib bank Đồng Nai giai đoạn
2008 -2010
Dư nợ quá hạn (Triệu đồng)
5,041 6,820 10,431 Tổng dư nợ (Triệu đồng)
812,281 971,786 1,177,052
Tỷ lệ nợ quá hạn (%) 0,62 0,70 0,89
( Nguồn: tính toán từ CĐKT và KQHĐKD của Vib bank Đồng Nai)
Nhìn vào bảng 2.7 cho thấy dư nợ cho vay tăng thì nợ quá hạn cũng gia tăng, trong giai đoạn qua nhưng vẫn nằm trong tầm kiểm soát của ngân hàng dưới 1%
Nợ quá hạn ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nếu
tỷ lệ quá cao so với quy định của NHNN là 5% được xem là ngân hàng yếu kém, khi đó mọi hoạt động của ngân hàng đều bị kiểm soát của NHNN Hiện nay nợ quá hạn càng lớn thì ngân hàng cần phải trích lập dự phòng rủi ro càng nhiều, mà đây là khoản mục hạch toán vào chi phí hoạt động của ngân hàng nên đã làm giảm lợi nhuận, tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Việc cố gắng duy trì tỷ lệ nợ quá hạn dưới 1% là chỉ tiêu mà hội sở đặc cho Vib bank Đồng Nai, vì vậy chi nhánh rất thận trọng trong việc cấp tín dụng cho khách hàng, đó cũng là nguyên nhân dẫn đến việc hạn chế tốc độ tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của chi nhánh
2.1.3.2 Phân tích tình hình nhân sự
Nguồn nhân lực luôn được xem là tài sản quý báu nhất đối với mỗi ngân hàng, là nhân tố góp phần vào sự thành công và phát triển bền vững của bản thân ngân hàng đó Chính vì lẽ đó mà Vib Bank toàn ngân hàng nói chung và Vib Bank Đồng Nai nói riêng rất quan tâm đến việc củng cố và bổ sung đội ngũ nguồn nhân lực với tiêu chí trẻ hóa, năng động, nhiệt tình và có chuyên môn cao nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển
Trang 34Bảng 2.8 Số lượng và trình độ CBCNV VIB Bank Đồng Nai giai đoạn
(Nguồn: phòng hành chánh – nhân sự Vib bank Đồng Nai )
Tính đến cuối năm 2010, tổng số cán bộ nhân viên của Vib Bank Đồng Nai là
98 người gấp 2 lần so với 2008 So với quy mô hiện nay của ngân hàng số lượng này tạm thời đủ đảm bảo vận hành hoạt động kinh doanh Nhưng do ngân hàng đang mở rộng mạng lưới hoạt động dự kiến cuối năm 2011 sẽ thành lập thêm 01 quỹ tiết kiệm, nên cần phải tuyển nhiều nhân sự, dự kiến nâng tổng số cán bộ nhân viên đến cuối năm 2011 là 106 người
Về trình độ, cán bộ nhân viên của Vib Bank Đồng Nai có trình độ trên đại học chỉ có 01 người chiếm 1,02%; đại học là 91 người chiếm đa số 92,86% còn lại là 6 người chiếm tỷ lệ 6,12% là dưới đại học, đây là con số khá khiêm tốn Hiện nay cán
bộ nhân viên có trình độ trên đại học chỉ có 01 người, đây là một con số rất khiêm tốn Qua những con số này cho thấy nguồn nhân lực Vib bank Đồng Nai có trình độ chuyên môn chưa cao, tác phong làm việc của nhân viên không chuyên nghiệp Về
độ tuổi Vib Bank Đồng Nai đang sở hữu đội ngũ cán bộ nhân viên rất trẻ, tuổi dưới
30 chiếm trên 70% trên tổng số nhân viên Ưu điểm của lực lượng lượng này là trẻ, nhiệt tình, năng động có khả năng phát huy năng lực và sáng tạo cao nhưng họ lại thiếu kinh nghiệm thực tế Đây là một điều khó khăn để ngân hàng lựa chọn thay thế và bổ sung vào đội ngũ quản lý, điều hành chủ chốt ở các đơn vị trong việc phát triển và mở rộng mạng lưới Do đó Vib Bank Đồng Nai đang trình đề án lên Hội sở, nhằm hỗ trợ chi nhánh trong việc đào tạo tầng lớp cán bộ quản lý điều hành cấp trung và cấp cao dự trù cho việc mở rộng mạng lưới của chi nhánh
Trang 35Về công tác tuyển dụng từ năm 2008 đến năm 2009 còn nhiều bất cập, tuy nhiên bước sang năm 2010 thì Hội sở đã đưa ra bộ quy trình tuyển dụng và đào tạo nhân viên mới rất cụ thể cho từng chi nhánh Do đó, việc tuyển dụng không còn là nỗi lo của Vib Bank Đồng Nai Ngoài ra Trung Tâm Đào Tạo Hội Sở thường xuyên kết hợp với chuyên gia của ngân hàng Commonwealth Bank of Australia (CBA) mở các lớp nghiệp vụ đào tạo nhân viên mới và đào tạo nghiệp vụ chuyên sâu cho nhân viên hiện hành
Đứng trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt về nguồn nhân lực trong ngành ngân hàng thì Vib Bank Đồng Nai cũng đã xây dựng được bộ chính sách đãi ngộ cho cán bộ nhân viên Tháng 06/2010 thì Vib Bank đã tiến hành đánh giá lại năng lực công tác, thâm niên công tác, hiệu quả công tác của từng cán bộ công nhân viên, cùng với việc xây dựng bộ quy trình trả lương thưởng phụ trội hàng tháng cho cán
bộ công nhân viên được hưởng hàng tháng theo đúng mức lương thỏa thuận trong hợp đồng lao động, và theo quy chế trả lương hiện hành, hàng tháng nếu nhân viên đạt chỉ tiêu hoặc vượt chỉ tiêu sẽ được cộng thêm một khoảng lương phụ trội Với chính sách này thì rất khuyến khích nhân viên bán hàng, vì mỗi sản phẩm ngân hàng bán ra nhân viên sẽ được hưởng một số tiền phụ trội nhất định trên đó Hiện nay mức lương trung bình của mỗi cán bộ nhân viên của Vib Bank Đồng Nai
(Không áp dụng cho cán bộ quản lý) là 5,3 triệu đồng/tháng (Chưa tính phần lương phụ trội được lãnh hàng tháng)
Tuy nhiên việc tính lương này không áp dụng cho các cán bộ quản lý cấp trung
và cấp cao Các cán bộ này được hưởng theo mức lương thỏa thuận và theo chỉ tiêu hoàn thành công việc của từng người và được thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng lao động Bên cạnh đó cán bộ quản lý cấp cao và cấp trung còn được rất nhiều đãi ngộ của ngân hàng như: ưu tiên mua nhà dự án đối với những dự án mà Vib Bank có liên kết hoặc cùng đầu tư, được hoàn lại toàn bộ chi phí nếu đạt trình độ sau đại học trong thời gian công tác tại ngân hàng
Với những chính sách trên mà Vib Bank đang áp dụng sẽ giữ được nhân sự tránh sự lôi kéo từ các đối thủ khác, mà còn khuyến khích cán bộ công nhân viên
Trang 36tăng cường nâng cao năng lực làm việc, khuyến khích bán hàng, khuyến khích cộng tác lâu dài với ngân hàng
2.1.3.3 Sản phẩm dịch vụ
Việc hiện đại hóa công nghệ đã cho phép Ngân hàng Quốc Tế đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, phù hợp nhu cầu của nhiều đối tượng khách hàng trong mọi thời điểm
Trong 2 năm gần đây, Ngân hàng Quốc Tế không ngừng cải tiến một loạt các sản phẩm phục vụ cho khách hàng doanh nghiệp như: cho vay dự án, Cho vay đầu tư tài sản cố định, cho vay bổ sung vốn lưu động, Dịch vụ ngoại hối, dịch vụ tài khoản, Dịch vụ Thư tín dụng xuất – nhập khẩu, Nhờ thu xuất – nhập khẩu, Chuyển tiền nhanh quốc tế thông qua mạng SWIFT…
Đối với khách hàng doanh nghiệp xuất nhập khẩu, Ngân hàng Quốc Tế cung cấp các giải pháp tài chính trọn gói như: bao thanh toán, dịch vụ xuất nhập khẩu từ A-Z, Chìa khóa thuế xuất nhập khẩu… và nhiều sản phẩm dịch vụ đáp ứng nhu cầu đặc biệt của những doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh đặc thù
Là thành viên của gần 20 hiệp hội ngành nghề lớn, các cơ quan xúc tiến thương mại… và với mạng lưới đối tác toàn cầu, Ngân hàng Quốc Tế đảm bảo cung cấp thông tin cập nhật liên quan đến thị trường, thuế, hải quan… đối tác chiến lược của Ngân hàng Quốc Tế là các Công ty vận tải, giao nhận chuyên nghiệp, các công ty bảo hiểm có uy tín trên thị trường sẽ giúp doanh nghiệp xuất nhập khẩu thực hiện thủ tục nhận hàng, khai báo hải quan, kê khai thuế xuất nhập khẩu, giao nhận, vận chuyển, cung cấp dịch vụ giáp định hàng hóa bảo hiểm, kiểm dịch,…
Bên cạnh đó, khối Khách hàng Cá nhân cũng chú trọng nghiên cứu và phát triển và thường xuyên đổi mới các sản phẩm dịch vụ phục vụ cho đối tượng khách hàng cá nhân Năm 2010, Khối khách hàng Cá nhân đã cải tiến và tung ra một loạt các sản phẩm tín dụng tiêu dùng bám sát nhu cầu của khách hàng
Hoạt động huy động vốn trong năm 2010 đã đạt được những kết quả đáng khích lệ nhờ chính sách lãi suất linh hoạt cùng với các chương trình huy động tiết
Trang 37kiệm có tặng quà như : “Mát mùa hè ngọt yêu thương”,”Cảm ơn niềm tin” ,“Tri ân khách hàng”, tiết kiệm lãi suất lũy tiến, tiết kiệm linh hoạt, tiết kiệm hưởng lãi theo thời gian thực gửi, tiết kiệm bằng đồng EUR,… và các chương trình chăm sóc khách hàng khác
Ngoài ra, năm 2011 là năm đánh dấu nhiều sự kiện đáng nhớ của dịch vụ thẻ Vib Bank Việc nâng cấp và mở rộng dự án Công nghệ thẻ đã mang lại nhiều sản phẩm, dịch vụ mới: thẻ ghi nợ nội địa VIB Values, các loại thẻ liên kết và hệ thống ATM
2.1.3.4 Phân tích tình hình Marketing
Trước năm 2010 công tác Marketing chủ yếu tập trung về Hội sở, và mọi kế hoạch về marketing ở chi nhánh phải xin phép Hội sở, nên công tác marketing hình ảnh ngân hàng cũng như chính sách chăm sóc khách hàng gặp rất nhiều khó khăn
Về chính sách khách hàng mà Vib bank Đồng Nai đã thực hiện trong thời gian qua chú trọng quan tâm như: tặng hoa cho khách hàng nữ giao dịch trong ngày lễ quốc
tế phụ nữ 8/3, ngày 20/10, tặng thiệp và bao lì xì vào dịp đầu năm, tặng quà ngày sinh nhật những khách hàng có tiền gửi lớn, phát tờ rơi huy động lãi suất mới và các chương trình tặng thưởng cho khách hàng Tuy vậy, các hình thức mà ngân hàng thực hiện được trong thời gian gần đây kém phong phú, tuy chưa được khách hàng đón nhận một cách nồng nhiệt Cho thấy rằng hoạt động chăm sóc khách hàng chưa nghiên cứu bài bản nên chưa làm thỏa mãn được nhu cầu khách hàng cũng như chưa đánh giá đúng tâm lý khách hàng Hiện nay, ngân hàng đã thực hiện công tác phân chia các nhóm khách hàng khác nhau để có chính sách ưu đãi cho từng đối tượng, đặc biệt là khách VIP Nhưng chính sách chăm sóc cụ thể cho từng nhóm khách hàng thì vẫn chưa cụ thể Do đó, cần thiết phải phát triển các hình thức chăm sóc khách hàng hơn nữa nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng
Thương hiệu của Vib bank đã mạnh tại khu vực Miền Bắc, nhưng tại Miền Nam mà đặc biệt là các tỉnh Miền Đông Nam Bộ chưa phải là thương hiệu mạnh trong ngành ngân hàng nên hầu hết công chúng chưa biết đến Khách hàng còn xa
lạ với thương hiệu Vib bank, công tác quảng cáo, tuyên truyền chưa được ngân
Trang 38hàng quan tâm đúng mức, do đó uy tín thương hiệu chưa được khẳng định trên thị trường tài chính
Xây dựng cơ sở vật chất, trang trí hình thức bên ngoài, tổ chức quầy giao dịch với khách hàng trong toàn hệ thống và đã được triển khai đến từng chi nhánh Nhưng cái khó nhất của quy chuẩn này là hầu hết các trụ sở chi nhánh, phòng giao dịch là trụ sở thuê nên kết cấu diện tích không đúng như quy chuẩn thiết kế, do đó mỗi đơn vị tổ chức theo nhiều cách khác nhau Vì vậy công chúng khó nhận diện được thương hiệu Vib bank thông qua hệ thống bản hiệu
Thông thường các quảng cáo về sản phẩm dịch vụ mới của ngân hàng chỉ được quảng cáo trên làn sóng truyển hình tập trung do phòng PR Hội sở thực hiện,
và trên các báo, tạp chí một số kỳ mà chưa có một giải pháp quảng cáo bài bản để tạo sự chú ý của khách hàng Ngân hàng hầu như chưa có các chương trình tài trợ, hoạt động từ thiện để thông qua đó để tuyên truyền đánh bóng thêm thương hiệu Nhìn chung hoạt động marketing của ngân hàng chưa mang lại hiệu quả cao
2.1.3.5 Phân tích tình hình nghiên cứu và phát triển (research & development)
Sau khi thực hiện triển khai dự án chuyển đổi hệ thống chi nhánh (BTR – Branch Transformation Rollout) vào tháng 09/2009 với mục tiêu xây dựng hệ thống đơn vị kinh doanh theo mô hình chuẩn kinh doanh và dịch vụ mới, với diện mạo công sở mới, hướng theo chuẩn mực quốc tế và đặt khách hàng vào vị trí trung tâm Vì vậy, Phòng phát triển sản phẩm khách hàng doanh nghiệp (P.PTSP KHDN)
và Phòng phát triển sản phẩm khách hàng cá nhân (P.PTSP KHCN) được thành lập nhằm tạo ra sản phẩm, dịch vụ định hướng và phù hợp với nhu cầu thị trường luôn đổi mới và thị trường tài chính ngân hàng ngày càng cạnh tranh gay gắt
Phòng PTSP KHCN tập trung nghiên cứu và phát triển sản phẩm dành cho khách hàng cá nhân, dịch vụ thẻ và tín dụng tiêu dùng, dịch vụ kiều hối
Trang 39 Năm 2010, các sản phẩm tín dụng được bổ sung đa dạng: cho vay hộ kinh doanh trả góp, cho vay cầm cố cổ phiếu, tài trợ căn hộ trả góp, xe hơi quốc tế
Năm 2010, Phòng PTSP KHCN đã mở rộng thêm chương trình hợp tác kinh doanh bảo hiểm, với họat động cung cấp các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ cho KHCN Các sản phẩm TD được điều chỉnh liên tục theo sự biến động của thị trường
Hoạt động thẻ cũng được chú trọng ngay từ đầu : Thẻ ghi nợ nội địa Vib Values, phát hành thẻ tín dụng quốc tế Vib Master Card liên kết với Vietcombank Dự kiến đến cuối năm 2011, Vib Bank sẽ chính thức phát hành các loại Thẻ Visa với tư cách là thành viên chính thức của các tổ chức này
Hoạt động kiều hối phát triển khá nhanh : Tính đến thời điểm này, Vib Bank đã có quan hệ đại lý kiều hối với các công ty kiều hối quốc tế có uy tín như : Anelik, Travelex, MoneyGram, Xoom, Ria, Uniastrum, Song song đó, khối khách hàng cá nhân đã triển khai chương trình hợp tác xuất khẩu lao động, dịch vụ quản lý tiền ký quỹ xuất khẩu lao động
Với mong muốn “chung sức cùng doanh nghệp”, lấy hiệu quả kinh doanh
của doanh nghệp là thành công của mình, Phòng phát triển sản phẩm Khối khách
hàng doanh nghiệp phát triển các sản phẩm tài trợ trọn gói, xây dựng các hạn mức
tín dụng trọn gói, chiến lược giá trọn gói có tính đến doanh số giao dịch và lãi suất Chẳng hạn đối với khách hàng xuất nhập khẩu, Vib bank đảm bảo cung cấp thông tin cập nhật liên quan đến thị trường, thuế, hải quan…mà nếu không cập nhật kịp thời, doanh nghiệp có thể bị thiệt hại lớn trong kinh doanh Vib bank sẵn sàng tư vấn để doanh nghiệp soạn thảo hợp đồng ngoại thương tốt nhất, tránh các sai sót trong khi thực hiện hợp đồng và thanh toán quốc tế Đối tác chiến lược của Vib bank là các nhà vận tải, giao nhận chuyên nghiệp, công ty bảo hiểm có uy tín trên thị trường sẽ giúp doanh nghiệp các thủ tục nhận hàng, khai báo hải quan, kê khai thuế xuất nhập khẩu, cung cấp dịch vụ giám định hàng bảo hiểm,…Bên cạnh
Trang 40đó, với những băn khoăn về tình trạng thiếu vốn lưu động của các doanh nghiệp, Vib bank có thể hỗ trợ thông qua dịch vụ cho vay chiết khấu bộ chứng từ xuất nhập khẩu, bao thanh toán xuất nhập khẩu,
2.1.3.6 Phân tích hệ thống thông tin
Năm 2010 là một năm nhìn nhận việc triển khai thành công và ứng dụng hiệu quả của nhiều dự án công nghệ ngân hàng được Ngân hàng Quốc Tế tập trung đầu
tư
Dự án Corebanking (hệ thống ngân hàng đa năng SYMBOL do System Access cung cấp) đã được triển khai thành công và đưa vào sử dụng trên toàn hệ thống của Ngân hàng Quốc Tế với những ứng dụng công nghệ mới nhất tại thời điểm triển khai Qua đó, tất cả các chương trình nghiệp vụ đều được cập nhật, quản lý và theo dõi đầy đủ các thông tin phục vụ hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
Dự án công nghệ thẻ (CTL) triển khai thành công đã tạo ra hàng loạt các sản phẩm dịch vụ thanh toán chất lượng cao mang lại nhiều lợi ích và giá trị gia tăng cho khách hàng Đây cũng là yếu tố cần thiết để Ngân hàng Quốc Tế trở thành thành viên chính thức của các tổ chức thẻ quốc tế như VISA, MasterCard, JC
và có khả năng kế nối với các ngân hàng và tổ chức chuyển mạch trong nước và khu vực
Cũng trong năm 2009, Ngân hàng Quốc Tế đã triển khai nhiều dự án nâng cấp gói dịch vụ Internet banking cho phép khách hàng truy vấn online trạng thái tài khoản; liệt kê giao dịch; xem các thông tin về trạng thái hồ sơ L/C (nếu khách hàng
là doanh nghiệp) hoặc liệt kê các giao dịch với ngân hàng Dự án kết nối online với các kênh thanh toán khác như: kết nối với hệ thống thanh toán liên ngân hàng (CITAD); kết nối với hệ thống thanh toán của Vietcombank (VCB Money); kết nối thanh toán dịch vụ homebanking với BIDV, kết nối online với kênh thanh toán quốc tế qua mạng SWIFT
Ngoài việc triển khai xây dựng các tiện ích hỗ trợ khách hàng, Ngân hàng Quốc Tế còn chú trọng phát triển các công cụ hỗ trợ hoạt động nội bộ như phân