1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nhằm góp phần phát triển công ty bảo việt đồng nai đến năm 2020

107 263 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Giải Pháp Nhằm Góp Phần Phát Triển Công Ty Bảo Việt Đồng Nai Đến Năm 2020
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Đề Tài Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với hoạt động kinh doanh của nhiều Công ty bảo hiểm có mặt trên thị trường tại địa bàn Tỉnh Đồng Nai, sự xuất hiện của các văn phòng đại diện của các Công ty bảo hiểm phi nhân thọ n

Trang 1

1 Lý do thực hiện đề tài:

Bảo hiểm là một lĩnh vực rất quan trọng đối với các quốc gia nói chung

và với Việt Nam nói riêng Không chỉ là một biện pháp di chuyển rủi ro, bảo hiểm ngày nay đã trở thành một trong những kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế Nhưng thực tế hoạt động kinh doanh bảo hiểm thời gian qua đã cho thấy sự lớn mạnh không ngừng của ngành bảo hiểm và nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai Tuy nhiên, thị trường bảo hiểm Việt Nam đang được đa dạng hóa với tốc độ cao, sức ép mở cửa của thị trường và thách thức hội nhập ngày càng lớn

Trong lịch sử hình thành và phát triển ngành Bảo hiểm Việt Nam, có lẽ chưa bao giờ cạnh tranh lại diễn ra gay gắt như hiện nay Cùng với hoạt động kinh doanh của nhiều Công ty bảo hiểm có mặt trên thị trường tại địa bàn Tỉnh Đồng Nai, sự xuất hiện của các văn phòng đại diện của các Công ty bảo hiểm phi nhân thọ như Pjico, Bảo Minh, PVI, Bảo Bưu… lại đang báo hiệu một giai

đoạn "đua sức đua tài" mới của các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân

thọ tại Đồng Nai

Nằm trên địa bàn Tỉnh Đồng Nai, Công ty Bảo Việt Đồng Nai đơn vị trực thuộc Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt – Công ty con của Tập đoàn Bảo Việt là Tập đoàn tài chính hàng đầu tại Việt Nam Trong những năm gần đây, Công ty phải đương đầu với sức ép cạnh tranh rất lớn từ các đối thủ cạnh tranh như AAA, Pjico, Bảo Minh, PVI, Bảo Bưu, Viễn Đông,… Đồng Nai chắc chắn sẽ bị chia sẻ thành nhiều phần hơn trong khi khai thác hợp đồng mới gặp rất nhiều khó khăn

Trước tình hình đó, để tồn tại và phát triển, một vấn đề có tính chất "sống còn" đối với Công ty là nâng cao hiệu quả khai thác Với mong muốn góp phần

Trang 2

nâng cao hiệu quả cạnh tranh cho Công ty Bảo Việt Đồng Nai trong thời gian

tới, vì vậy em xin chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm góp phần phát triển Công ty Bảo Việt Đồng Nai đến năm 2020” để nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu:

- Tìm hiểu thị trường bảo hiểm phi nhân thọ hiện nay tại Tỉnh Đồng Nai

- So sánh các yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh (cơ hội, thách thức, mặt

mạnh và mặt yếu) của Bảo Việt so với các đối thủ trên thị trường

- Phân tích, đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần phát triển Công ty Bảo Việt Đồng Nai đến năm 2020

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là Công ty Bảo Việt Đồng Nai, đơn

vị trực thuộc Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt là Công ty con của Tập đoàn Tài chính Bảo Việt

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài này chỉ được nghiên cứu trong một phạm vi của một doanh nghiệp, nghiên cứu về những vấn đề về cơ sở lý luận và thực trạng hoạt động của Công ty trong thời gian qua để đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần phát triển Công ty trong thời gian tới

4 Phương pháp nghiên cứu:

Bước 1: Thu thập số liệu thông qua

- Tài liệu của Công ty

- Tham khảo các tài liệu có liên quan

- Quan sát thực tế tại Công ty và các yếu tố liên quan tại Tỉnh Đồng Nai

- Điều tra thông qua phiếu khảo sát khách hàng tham gia bảo hiểm phi nhân thọ

Trang 3

Bước 2: Phân tích số liệu bằng một số phương pháp như:

- Phương pháp so sánh, tổng hợp: so sánh giữa các kỳ trong năm rồi đưa ra kết luận

- Phương pháp quy nạp: phương pháp đi từ những vấn đề nhỏ rồi mới đi đến kết luận chung

- Phương pháp phân tích SWOT

5 Kết cấu của đề tài:

Đề tài này được chi thành 3 chương: Chương 1 trình bày tổng quan về bảo hiểm; Chương 2 tiến hành phân tích và đánh giá toàn diện môi trường kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ bên trong lẫn bên ngoài của Công ty để tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ; từ đó Chương 3 sẽ đề xuất các giải pháp nhằm phát triển Công ty Bảo Việt Đồng Nai đến năm 2020

Trang 4

1.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ BẢO HIỂM

1.1.1 Nguồn gốc của bảo hiểm

Bảo hiểm có nguồn gốc từ rất xa xưa trong lịch sử văn minh nhân loại Từ vài ngàn năm trước công nguyên người ta đã làm công tác bảo hiểm dù chưa có ý niệm bảo hiểm là chia sẻ sự rủi ro

Dấu hiệu đầu tiên là những dấu tích về các kho lúa để dự trữ dùng cho những trường hợp khẩn cấp Đến khoảng cuối thế kỷ XV ở Châu Âu bắt đầu xuất hiện những quỹ tiền hỗ trợ lẫn nhau khi có tai nạn hoặc rủi ro xảy ra trong lúc vận chuyển buôn bán hàng hoá của các đội tàu

Bản hợp đồng bảo hiểm đầu tiên chính thức phát hành vào đầu năm 1347 tại

Geneve (Thụy Sĩ) hoàn toàn do cá nhân thực hiện như một công việc làm ăn phụ

bên cạnh các hoạt động kinh doanh khác Năm 1720 tại Anh nghiệp đoàn bảo hiểm đầu tiên được thành lập với tên gọi nổi tiếng Lloyd's

Ngành bảo hiểm bắt đầu có ở Việt Nam từ năm 1880 khởi đầu là Công ty của Anh rồi đến Pháp Mỹ Trước năm 1975 ở miền Nam có hơn 52 Công ty bảo hiểm hoạt động, miền Bắc có Công ty Bảo hiểm Việt Nam Đến khi thống nhất đất nước

vẫn chỉ có duy nhất một Công ty bảo hiểm đó là Công ty Bảo hiểm Việt Nam (có

nhiều chi nhánh trên toàn quốc)

1.1.2 Khái niệm:

Mặc dù đã có nguồn gốc và lịch sử phát triển khá lâu đời nhưng do tính đặc thù của loại hình dịch vụ này, mà cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất nào về bảo hiểm

Trang 5

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về bảo hiểm được xây dựng dựa trên từng góc độ nghiên cứu xã hội, pháp lý, kinh tế, kĩ thuật, nghiệp vụ…

+ Theo Tập đoàn bảo hiểm AIG (Mỹ) khái niệm rằng: “Bảo hiểm là một cơ

chế, theo cơ chế này, một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho Công ty bảo hiểm, Công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm”

+ Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Khái niệm 1: Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít Khái niệm 2: Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo

hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho một người thứ 3 trong trường hợp xẩy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê

Khái niệm 3: Bảo hiểm có thể là một phương sách hạ giảm rủi ro bằng cách

kết hợp một số lượng đầy đủ các đơn vị đối tượng để biến tổn thất cá thể thành tổn thất cộng đồng và có thể dự tính được

Các khái niệm trên thường thiên về một góc độ nghiên cứu nào đó (hoặc

thiên về xã hội – khái niệm 1, hoặc thiên về kinh tế, luật pháp – khái niệm 2, hoặc thiên về kỹ thuật tính – khái niệm 3)

Theo các chuyên gia Pháp, một khái niệm vừa đáp ứng được khía cạnh xã

hội (dùng cho bảo hiểm xã hội) vừa đáp ứng được khía cạnh kinh tế (dùng cho bảo

hiểm thương mại) và vừa đầy đủ về khía cạnh kỹ thuật và pháp lý có thể trình bày

như sau: Bảo hiểm là một hoạt động qua đó một cá nhân có quyền được hưởng trợ

cấp nhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro Khoản trợ cấp này do một tổ chức trả, tổ chức này có trách

Trang 6

nhiệm đối với toàn bộ các rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê

Sau đây là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong ngành bảo hiểm tại

Việt Nam hiện nay: “Bảo hiểm là một sự thỏa thuận hợp pháp thông qua đó một

cá nhân hay một tổ chức (Người tham gia bảo hiểm) chấp nhận đóng góp một khoản tiền nhất định (phí bảo hiểm) cho một tổ chức khác (Người bảo hiểm) để

đổi lấy những cam kết về những khoản bồi thường hoặc chi trả khi có sự kiện quy định trong hợp đồng xảy ra”

1.1.3 Bản chất của bảo hiểm

Bản chất của bảo hiểm là việc phân chia tổn thất của một hoặc một số người cho tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng chịu Bảo hiểm hoạt động dựa trên

Quy luật số đông (the law of large numbers) tức là bằng sự đóng góp của số đông

người vào một quỹ chung, khi có rủi ro quỹ sẽ có đủ khả năng trang trải và bù đắp cho những tổn thất của số ít

Bảo hiểm là những quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tập trung - quỹ bảo hiểm - nhằm xử lý các rủi ro, các biến

cố Bảo hiểm bảo đảm cho quá trình tái sản xuất và đời sống của xã hội được diễn

ra bình thường

Bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người hay của số một ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại; bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng không may bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra

Bảo hiểm là một cách thức trong quản trị rủi ro, thuộc nhóm biện pháp tài trợ rủi ro, được sử dụng để đối phó với những rủi ro có tổn thất, thường là tổn thất về tài chính, nhân mạng,

Trang 7

Bảo hiểm được xem như là một cách thức chuyển giao rủi ro tiềm năng một cách công bằng từ một cá thể sang cộng đồng thông qua phí bảo hiểm

1.1.4 Đặc trƣng của ngành bảo hiểm

Bảo hiểm là ngành dịch vụ mà sản phẩm của nó có những đặc điểm sau:

- Sản phẩm vô hình: Đây là đặc điểm chung của sản phẩm các ngành dịch

vụ Tính vô hình của sản phẩm khiến khách hàng không dễ gì cảm nhận được những đặc tính tốt của sản phẩm Ngành dịch vụ là ngành phục vụ công chúng, Công ty bảo hiểm bán sự cam kết hay lời hứa là mang lại sự bảo đảm cho khách hàng Người mua bảo hiểm tin tưởng Công ty bảo hiểm có khả năng và luôn sẵn sàng thực hiện đầy đủ các cam kết trong hợp đồng Như vậy uy tín của một Công ty bảo hiểm

vô cùng quan trọng để quyết định ý tưởng chọn lựa của khách hàng

Khách hàng sẽ nhìn vào đâu để nhận định về Công ty? Một Công ty có uy tín chắc chắn sẽ là lựa chọn hàng đầu của Người tham gia bảo hiểm Uy tín đó thể hiện qua: danh tiếng và kinh nghiệm hoạt động của Công ty, tình hình tài chính lành mạnh, chiến lược đầu tư vốn hợp lý, nghiệp vụ vững chắc, chất lượng phục vụ cao,…Trong đó có đóng góp rất lớn của lực lượng cán bộ nghiệp vụ và cán bộ khai thác bảo hiểm- những người trực tiếp giao dịch với khách hàng

- Bảo hiểm có chu trình sản xuất ngƣợc: Khác với chu trình sản xuất hàng

hóa thông thường, khi giá cả được quyết định sau khi đã tính toán được chi phí sản xuất ra hàng hóa đó Mỗi hợp đồng bảo hiểm được coi như là một món hàng Hàng hóa bảo hiểm được bán khi nào? Có phải giá bán hàng hóa đó phản ánh chi phí sản xuất ra nó hay không?

Thông thường, hợp đồng bảo hiểm được coi là có hiệu lực ngay sau khi có sự chấp nhận của Người bảo hiểm và Người tham gia bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm đầy đủ theo hợp đồng Phí bảo hiểm mà khách hàng đóng khi ký hợp đồng chính là giá bán một sản phẩm bảo hiểm

Trang 8

Ví dụ: Công ty Bảo hiểm A bán bảo hiểm tai nạn con người Người tham gia bảo hiểm đóng phí để mua dịch vụ bảo hiểm vào ngày đầu năm Công ty Bảo hiểm

A có ngay doanh thu từ đầu năm Các hợp đồng bảo hiểm này sẽ kết thúc vào ngày cuối năm, khi đó trách nhiệm của Công ty bảo hiểm A trước các tổn thất – theo như thỏa thuận trong hợp đồng – sẽ chấm dứt Nghĩa là đến ngày cuối năm, Công ty Bảo hiểm A mới tính được chi phí triển khai dịch vụ bảo hiểm này Tương tự như vậy là chi phí hoạt động của Công ty

Chu trình sản xuất ngược của bảo hiểm có đặc điểm là Công ty bảo hiểm định giá bán dịch vụ của mình trước khi tính toán được tất cả các chi phí phải bỏ ra

Đặc điểm này ảnh hưởng rất lớn đến quyết định đưa loại sản phẩm nào ra thị trường Nếu một sản phẩm đưa ra được đông đảo người mua chấp nhận, Công ty bảo hiểm sẽ thu về một khoản tổng phí bảo hiểm rất lớn Khi rủi ro xảy ra cho một

số khách hàng nào đó, Công ty bảo hiểm có đủ khả năng chi trả mà không bị bội chi Ngược lại, nếu chỉ có một số ít khách hàng chấp nhận, tổng phí thu được nhỏ

bé Công ty bảo hiểm sẽ rất dễ rơi vào tình trạng thu không đủ chi nếu như nhóm khách hàng đó có tỷ lệ rủi ro quá cao trong khoảng thời gian các hợp đồng bảo hiểm còn có hiệu lực

Mặc khác, nếu tổn thất xảy ra ít, giá bán của các hợp đồng bảo hiểm năm sau

đó sẽ được giảm đi (hay nói cách khác, khách hàng sẽ được giảm phí), ngược lại, nếu tỷ lệ tổn thất lớn, khách hàng sẽ phải trả phí cao hơn vào những năm sau (đây

chính là cơ sở của các quy định thưởng phạt và nguyên tắc No Claim Bonus)

- Tâm lý người mua hàng không muốn tiêu dùng dịch vụ này: Người

mua bảo hiểm không mong muốn có sự kiện rủi ro xảy ra để được nhận quyền lợi bảo hiểm dù rằng quyền lợi đó thường nhiều hơn gấp bội so với số phí phải đóng Bởi lẽ, tất cả rủi ro đều không mong muốn nhưng tai nạn, tổn thất vẫn xảy ra Mặc khác, bảo hiểm là tấm lá chắn cho chính những điều không mong muốn này Thông qua thực tế tình hình thiên tai, tai nạn, cũng như giải quyết bồi thường tổn thất tại địa phương, để minh chứng về lợi ích của bảo hiểm và sự cần thiết tham gia bảo hiểm

Trang 9

1.1.5 Một số nguyên tắc cơ bản trong hoạt động bảo hiểm

1.1.5.1 Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm

Đây là quyền bảo hiểm hợp pháp và có nghĩa là người thương lượng việc cấp đơn bảo hiểm có một số quan hệ với đối tượng bảo hiểm được pháp luật công nhận Mối liên hệ đầu tiên được pháp luật công nhận là mối quan hệ chủ sở hữu Nếu bạn

có một ngôi nhà, một xe ôtô hay một chiếc đồng hồ, bạn sẽ có một quyền lợi được bảo hiểm đối với tài sản đó bởi vì, nếu chúng bị hư hại hay mất bạn sẽ phải chịu sự thiệt hại đó Tương tự như vậy, bạn có một quyền lợi được bảo hiểm đối với một đồ vật bạn đã mượn bởi vì nếu đồ vật đó bị mất hoặc bị phá hủy, bạn sẽ phải thay thế

kể cả con cái và những người họ hàng khác

Nói tóm lại: Quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản; quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm

Quan hệ giữa người tham gia bảo hiểm và người được bảo hiểm trong hợp đồng phải tuân thủ nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm Điều đó có nghĩa là

để tham gia bảo hiểm cho một đối tượng bảo hiểm thì người tham gia phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm đối với đối tượng được bảo hiểm đó

Ví dụ:

+ Trong bảo hiểm tài sản: Người mua bảo hiểm có một số liên hệ với đối tượng bảo hiểm được pháp luật công nhận Mối liên hệ đầu tiên được pháp luật công nhận là: chủ sở hữu Mối liên hệ thứ hai là quyền lợi và trách nhiệm trước tài sản đó Ví dụ: một người có quyền lợi bảo hiểm đối với đồ vật người đó mượn bởi

Trang 10

vì nếu chúng bị mất hoặc hư hại, người đó sẽ phải thực hiện thay thế, sửa chữa, đền tiền, hay khôi phục lại

+ Trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự: quyền lợi bảo hiểm phải căn cứ theo quy định của pháp luật về ràng buộc trách nhiệm dân sự

1.1.5.2 Nguyên tắc trung thực tuyệt đối

Tất cả các giao dịch kinh doanh cần thực hiện trên cơ sở tin cậy lẫn nhau Trong thực tế, điều đó có nghĩa là không được phép có bất kỳ hành vi gian lận hay mưu toan lừa đảo nào Điều này không có nghĩa là người bán có bổn phận phải chỉ

ra các khiếm khuyết trong hàng hóa mà họ bán ra Tuy nhiên, khi giới thiệu, thông báo hoặc trả lời câu hỏi, người bán hàng buộc phải đưa ra các câu trả lời trung thực

Hoạt động bảo hiểm thực chất là việc bán lời cam kết, lời hứa của Nhà bảo hiểm đối với người tham gia bảo hiểm Người tham gia là người đưa ra lời yêu cầu bảo hiểm cho mình, còn Công ty bảo hiểm là người đưa ra lời cam kết chấp nhận bảo hiểm thông qua đơn bảo hiểm Như vậy, có những trường hợp những thông tin hai bên đưa ra không chính xác làm phương hại đến quyền lợi của bên kia và ngược lại Do đó, để đảm bảo quyền lợi của hai bên, tránh việc trục lợi bảo hiểm cũng như việc Công ty bảo hiểm không thực hiện nghĩa vụ của mình khi người tham gia gặp rủi ro, nguyên tắc trung thực tuyệt đối được áp dụng rộng rãi trong hoạt động bảo hiểm đối với cả người tham gia bảo hiểm và người bảo hiểm, cụ thể:

+ Đối với Người tham gia bảo hiểm: đây là bổn phận khai báo đầy đủ và chính xác tất cả các yếu tố quan trọng có liên quan, dù được yêu cầu hay không yêu cầu khai báo

Mục đích của Nguyên tắc trung thực tuyệt đối là: Giảm chi phí điều tra và tăng trách nhiệm của Người được bảo hiểm Theo nguyên tắc này, bên biết thông tin quan trọng liên quan đến hợp đồng bảo hiểm mà mình tham gia sẽ phải thông báo cho bên đối tác biết thông tin đó

Trang 11

+ Đối với Người bảo hiểm: Công ty bảo hiểm thông qua cán bộ khai thác hoặc đại lý của mình phải có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm như quyền lợi được bảo hiểm, các khoản loại trừ, phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, giải thích rõ ràng các điều khoản trong hợp đồng và giải đáp các thắc mắc cho Người tham gia bảo hiểm

1.1.5.3 Nguyên tắc bồi thường

Mục đích của Nguyên tắc bồi thường là khôi phục lại tình trạng tài chính ban

đầu, hoặc một phần (theo mức độ tham gia bảo hiểm cho Người được bảo hiểm)

như trước khi xảy ra tổn thất Như vậy, Người được bảo hiểm không thể nhận được

số tiền chi trả nhiều hơn giá trị tổn thất mà mình gánh chịu Trách nhiệm bồi thường của Công ty bảo hiểm cũng chỉ phát sinh khi có thiệt hại do rủi ro được bảo hiểm gây ra

Nguyên tắc bồi thường áp dụng phổ biến cho hai loại hình bảo hiểm thiệt hại

và bảo hiểm trách nhiệm dân sự Nguyên tắc này thường không áp dụng cho bảo hiểm nhân thọ và các nghiệp vụ bảo hiểm con người

+ Người được bảo hiểm có thể ấn định khoản tiền được hưởng ngay từ khi

ký kết hợp đồng bảo hiểm

Khi đó, người ta áp dụng nguyên tắc khoán mà số tiền được ấn định trước

trong các hợp đồng và tách biệt với khái niệm bồi thường

Trang 12

Ví dụ: hợp đồng bảo hiểm thương tật thân thể có quy định mức độ chi trả cho một số thương tật như sau: Mất một tay: chi trả 60%/số tiền bảo hiểm, mất khả năng nghe một tai: 40%/ số tiền bảo hiểm

(theo bảng tỷ lệ trả tiền bảo hiểm thương tật, ban hành theo công văn số

5701/BTC-BH, ngày 04/05/2006 của Bộ tài chính)

Giả sử, Ông A được bảo hiểm bởi hợp đồng trên và bị tai nạn dẫn đến mất

một tay, hạn mức bảo hiểm (số tiền bảo hiểm) là 50 triệu đồng Công ty bảo hiểm sẽ

chi trả số tiền (60% x 50 triệu) = 30 triệu đồng

Số tiền chi trả này không phụ thuộc vào chi phí thực tế Ông A và người thân phải gánh chịu để chạy chữa vết thương

1.1.6 Các loại hình bảo hiểm Phi nhân thọ

- Căn cứ vào phương thức triển khai:Theo tiêu thức này người ta phân các nghiệp vụ bảo hiểm thành 2 nhóm:

+ Hình thức bảo hiểm tự nguyện: Bao gồm những nghiệp vụ bảo hiểm mà

hợp đồng bảo hiểm được ký kết theo ý nguyện của bên được bảo hiểm và hoàn toàn dựa trên nguyên tắc thỏa thuận Phần lớn các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ là bảo hiểm tự nguyện Ví dụ: Bảo hiểm vật chất thân xe, Bảo hiểm toàn diện học sinh, Bảo hiểm cháy nổ, Bảo hiểm sức khỏe,…

+ Hình thức bảo hiểm bắt buộc: Bao gồm những nghiệp vụ triển khai theo

quy định của pháp luật và các bên buộc phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định liên quan đến hợp đồng bảo hiểm Ví dụ như: Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ

xe cơ giới đối với người thứ ba, Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với hành khách trên xe, Bảo hiểm trách nhiệm người vận chuyển hàng không, Bảo hiểm cháy nổ bắt buộc,…Luật kinh doanh bảo hiểm có quy định về các nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc này

- Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm: được chia làm 3 loại:

Trang 13

+ Bảo hiểm tài sản: là loại hình bảo hiểm bao gồm những nghiệp vụ có đối

tượng là tài sản có thể tính được giá trị bằng tiền

Bảo hiểm thiệt hại do hậu quả tài sản được bảo hiểm bị tổn thất Thực tế, khi tài sản được bảo hiểm bị tổn thất thì hậu quả để lại không chỉ thiệt hại đối với chính tài sản đó mà còn làm ngưng trệ dẫn tới thiệt hại kinh doanh sản xuất và thiệt hại tài chính do phải giải quyết hậu quả tổn thất

+ Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: Trong Bộ luật dân sự của Nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam không có định nghĩa về cụm từ “Trách nhiệm dân sự”

Tuy nhiên, người ta hiểu rằng: Theo nghĩa rộng; trách nhiệm dân sự là trách nhiệm phát sinh do vi phạm nghĩa vụ dân sự Nghĩa vụ dân sự được hiểu là việc mà theo quy định của pháp luật thì một hoặc nhiều chủ thể phải làm hoặc không được làm một công việc nào đó vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác

Nghĩa vụ trách nhiệm dân sự thường có hai loại:

- Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng: được xác định dựa trên cơ sở thỏa thuận dân sự giữa chủ thể này với chủ thể khác trong một hợp đồng

Ví dụ: Hợp đồng vận chuyển hàng hóa từ cảng A đến cảng B, hợp đồng vận

chuyển hành khách (căn cứ vào vé là hợp đồng), hay hợp đồng thuê thuyền viên

làm việc trên tàu,…

- Trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng: việc xác định dựa trên cơ sở quy định chung của pháp luật Pháp luật thừa nhận và bảo hộ quyền bất khả xâm phạm về tài sản, sức khỏe, tính mạng, thân thể, danh dự, nhân phẩm và uy tín của mọi công dân

Vì vậy, pháp luật quy định mọi người phải có trách nhiệm chung là không làm phương hại về tinh thần và vật chất của người khác Trong trường hợp có những hành vi trái với những quy định này thì người bị thiệt hại được pháp luật bảo vệ, có thể khiếu nại đòi bồi thường từ phía người gây thiệt hại

Ví dụ: Lái ô tô đâm phải người đang đi trên hè phố, hay đâm đổ nhà dân, hoặc do đóng cọc móng nhà làm rung nứt đổ nhà bên cạnh,…

Trang 14

Tùy theo từng loại trách nhiệm mà người tham gia bảo hiểm muốn được bảo hiểm, Công ty bảo hiểm sẽ ký với khách hàng những hợp đồng bảo hiểm phù hợp

+ Bảo hiểm con người: là loại hình bảo hiểm có mục đính thanh toán những

khoản trợ cấp, hoặc số tiền ấn định cho Người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng trong trường hợp xảy ra rủi ro hoặc sự kiện xảy ra tác động tới chính bản thân Người được bảo hiểm, gồm các nghiệp vụ sau:

- Bảo hiểm sinh mạng

- Bảo hiểm sức khỏe

- Bảo hiểm tai nạn

- Bảo hiểm du lịch

- …

1.1.7 Sự cần thiết của bảo hiểm đối với sự phát triển của kinh tế - xã hội

1.1.7.1 Sự cần thiết của bảo hiểm:

Bảo hiểm đóng vai trò quan trọng trong tất cả các nền kinh tế đặc biệt là các nền kinh tế có trình độ phát triển

Trước hết, bảo hiểm bảo đảm cho các thành phần trong nền kinh tế khả năng đối phó với những biến cố, những rủi ro, thiệt hại có thể xảy ra, bảo hiểm là biện pháp phòng ngừa cần thiết để đảm bảo sự vận hành của nền kinh tế một cách ổn định và ít thiệt hại nhất khi có biến cố xảy ra Trong sản xuất, tiêu dùng, giao thương, quan hệ xã hội, bảo hiểm đều giúp cho tất cả các quy trình và các mối quan

hệ này trở nên bảo đảm, đáng tin cậy hơn, an toàn hơn Đối với một nền kinh tế, bảo hiểm như một đòn bẩy tâm lý , giúp ổn định quá trình hoạt động đầu tư của các thành phần kinh tế, giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh ít bị ảnh hưởng nhất từ các rủi ro tự nhiên và nhân tạo

- Nền kinh tế phát triển và bảo hiểm có mối quan hệ mật thiết với nhau Một nền kinh tế phát triển sẽ phát sinh ra nhu cần bảo hiểm cho tất cả các thành phần xã hội, quan hệ kinh tế Ngược lại, ngành bảo hiểm một quốc gia nếu lớn mạnh sẽ thúc

Trang 15

đẩy các thành phần xã hội, thành phần kinh tế thay đổi được các cách thức quản lý,

ý thức đối phó với nguy cơ, quản trị rủi ro nhờ vào hệ thống quy định và ràng buộc bảo hiểm chặt chẽ Từ đó giúp cho họ đối phó tốt hơn với các biến cố có thể xảy ra

- Bảo hiểm cũng giống như những cam kết của các thành phần trong xã hội

về triển vọng tương lai, họ bỏ tiền ra để có được sự chắc chắn trong tương lai Có nghĩa là, một nền bảo hiểm tăng trưởng cao đồng nghĩa với xã hội đó đang có triển vọng tốt, hứa hẹn một khả năng tăng trưởng bền vững của nền kinh tế trong tương lai

Hiện nay ở nước ta việc chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường đã tạo ra động lực thúc đẩy việc khai thác và phát triển mọi tiềm năng sáng tạo, tạo ra được một nguồn hàng hóa dịch vụ phong phú trong đó một khối lượng lớn giá trị mới Đây chính là tiền đề làm nẩy sinh và phát triển mạnh mẽ nhu cầu đảm bảo bảo hiểm

và là cơ sở vững chắc cho sự hình thành và tồn tại của quỹ bảo hiểm

Ngày nay, bảo hiểm đã trở thành một ngành kinh doanh hết sức phát triển và dần trở nên một khái niệm quen thuộc với hầu hết mọi người Ở nhiều quốc gia phát triển trên thế giới, việc mua bảo hiểm từ lâu đã là một việc làm không thể thiếu đối với người dân, bởi nhiều lý do khác nhau

1.1.7.2 Tác dụng và vai trò của bảo hiểm:

Có thể nói, tác dụng của bảo hiểm thể hiện trên nhiều mặt khác nhau:

- Chuyển giao rủi ro: Bảo hiểm vận hành giống như một cơ chế chuyển giao rủi ro

Cùng với việc đóng phí bảo hiểm, người được bảo hiểm đã chuyển giao những hậu quả rủi ro về tài chính sang Công ty bảo hiểm

Ví dụ: Một người mua một chiếc xe máy trị giá 40 triệu đồng Đây là sự đầu

tư lớn nhất từ trước đến nay của anh ta Một người lạc quan nhất cũng nhận ra rằng việc đầu tư trên có thể gặp rủi ro, chiếc xe có thể bị mất cắp hoặc bị hư hỏng do tai nạn hoặc hỏa hoạn gây ra Tai nạn có thể gây thương tích nặng cho người khác Trong trường hợp đó chủ xe sẽ đối phó với những rủi ro tiềm tàng này cũng như

Trang 16

những hậu quả tài chính của chúng bằng cách nào? Anh ta không biết được chắc rủi

ro đó có thể xẩy ra hay không và nếu có xẩy ra thi hậu quả như thế nào và tổn thất vật chất là bao nhiêu? Bằng cách tham gia bảo hiểm, chủ xe đã chuyên giao rủi ro sang cho Công ty bảo hiểm Khi đó nếu có những tổn thất thiệt hại nào Công ty bảo hiểm sẽ thực hiện bồi thường Chủ xe có thể an tâm vì những tổn thất đó đã được

chi sẽ

- Dàn trải tổn thất: Bảo hiểm có tác dụng dàn trải tổn thất tài chính của một số ít

người cho số đông nhiều người Đây là tác dụng hết sức quan trọng của bảo hiểm Khi số đông tham gia bảo hiểm, không phải tất cả mọi người tham gia đều phải chịu rủi ro tổn thất mà chỉ một số ít người trong đó không may gặp phải rủi ro Do đó thông qua việc đóng góp một khoản tiền nhỏ, người tham gia bảo hiểm không những được bảo vệ về những thiệt hại tài chính nếu có mà còn góp phần hỗ trợ, giúp đỡ cho những người không may khác Tác dụng này đã thể hiện trong nguyên tắc lấy số đông bù số ít và nguyên tắc tương hỗ

- Giảm thiểu tổn thất thiệt hại:Trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ, Các Công

ty bảo hiểm luôn chú ý đến việc tăng cường áp dụng các biện pháp phòng tránh cần thiết để bảo vệ đối tượng bảo hiểm, góp phần đảm bảo an toàn cho tính mạng, sức khỏe con người, của cải và vật chất của xã hội Ví dụ như:

- Thực hiện hỗ trợ các công cụ phòng ngừa rủi ro và hạn chế tổn thất ở mức

thấp nhất có thể (gương phản chiếu giao thông, bình cứu hỏa, đường lánh nạn, tủ

thuốc học đường,…)

- Giải quyết hậu quả kịp thời giúp khách hàng ổn định kinh doanh và cuộc sống Chỉ có thông qua bảo hiểm, hiệu quả của các biện pháp đề phòng hạn chế thiệt hại mới đạt kết quả cao nhất bởi lẽ các Công ty bảo hiểm có khả năng về tài chính,

có nhiều kinh nghiệm và chuyên môn nên nắm bắt được nguyên nhân của thiệt hại

Bên cạnh đó, khi tham gia bảo hiểm, người được bảo hiểm đã nhận thức được rủi ro có thể sẽ xảy ra đối với mình nên không chỉ một phía từ nhà bảo hiểm

Trang 17

có nhiệm vụ đề phòng và hạn chế tổn thất mà ngay cả người được bảo hiểm cũng phải có trách nhiệm

- Ổn định chi phí: Chi phí nhằm đảm bảo an toàn tài chính của các doanh nghiệp và

cá nhân được xác định ngay từ đầu năm, cho dù có thiệt hại xảy ra hay không Nếu

không có bảo hiểm, doanh nghiệp sẽ giữ lại được khoản phí bảo hiểm (giảm chi)

nhưng khi có thiệt hại xảy ra, doanh nghiệp sẽ mất khả năng thanh toán do tổn thất thiệt hại quá lớn

Như vậy, nhà bảo hiểm giúp các doanh nghiệp bảo toàn được vốn; các cá nhân, gia đình khắc phục được những khó khăn về tài chính, không rơi vào tình trạng kiệt quệ về vật chất cũng như tinh thần

Ví dụ: Một Công ty kinh doanh sản xuất đồ chơi Trong trường hợp lạc quan nhất, vị Giám đốc đó cũng nhận thấy rằng rủi ro có thể đến bất kỳ lúc nào đối với doanh nghiệp của anh ta như mất cắp, hỏa hoạn,… Nếu điều đó xảy ra, tổn thất của Công ty sẽ gây ảnh hưởng lớn đến quá trình kinh doanh, làm gia tăng chi phí một cách đột biến Bằng cách tham gia bảo hiểm, tuy có làm gia tăng một phần chi phí đầu vào nhưng doanh nghiệp đã chuyển phần rủi ro cho Công ty bảo hiểm góp phần

ổn định, thúc đẩy và phát triển sản xuất kinh doanh

- An tâm về mặt tinh thần: Tham gia bảo hiểm, người được bảo hiểm đã chuyển

phần rủi ro của mình sang Công ty bảo hiểm nên đã giải tỏa được nỗi sợ hãi và lo lắng về những tổn thất xảy ra đối với chính mình

Ví dụ: Một người là trụ cột gia đình với hai đứa con, thu nhập của anh ta khoảng 10 triệu đồng/tháng Với rất nhiều công việc phải lo toan trong cuộc sống, anh ta nghĩ rằng nếu không may rủi ro xảy ra với bản thân anh ta thì liệu vợ con anh

ta sẽ ra sao? Họ sẽ phải trang trãi tất cả chi phí như thế nào khi khoản thu nhập của gia đình bị giảm? Bằng cách tham gia bảo hiểm con người với số tiền 100 triệu đồng Anh ta đã được an tâm về tinh thần, giải tỏa những lo lắng của mình đối với gia đình nếu không may những rủi ro thường trực có thể xảy ra

Trang 18

Và với một cơ sở sản xuất nếu người Giám đốc quan tâm tham gia bảo hiểm hỏa hoạn, bảo hiểm con người cho cán bộ nhân viên thì không chỉ Lãnh đạo đơn vị

mà mọi thành viên trong đơn vị đều rất yên tâm không phải lo lắng nếu không may xảy ra hỏa hoạn cơ sở sản xuất sẽ được bồi thường để bù đắp phục hồi kinh doanh

cho đơn vị

- Kích thích tiết kiệm: Bảo hiểm ra đời đã tạo ra một hình thức tiết kiệm linh hoạt,

tác động đến tư duy của các cá nhân, hộ gia đình, chủ doanh nghiệp, góp phần hình thành nên một ý thức, thói quen về việc dành một phần thu nhập để có một tương lai

an toàn hơn

- Đầu tư phát triển kinh tế trong nước: Với đặc điểm trong kinh doanh bảo hiểm là

nộp phí trước, việc bồi thường chi trả tiền bảo hiểm chỉ được thực hiện khi có sự kiện quy định trong hợp đồng xảy ra Do vậy, các Công ty bảo hiểm có một quỹ tiền

tệ tập trung khá lớn Lượng vốn này sẽ được các Công ty bảo hiểm tính toán đầu tư sao cho có hiệu quả bởi lẽ khả năng cạnh tranh của mỗi Công ty bảo hiểm phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả hoạt động đầu tư Trên cơ sở của kết quả đầu tư, các Công ty bảo hiểm sẽ có điều kiện giảm phí để từ đó thu hút khách hàng, đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế đất nước

Các tổ chức bảo hiểm thường hoạt động rất mạnh ở các thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán và đặc biệt là thị trường vốn

Điển hình là Bảo Việt hàng năm đã thực hiện đầu tư dưới nhiều hình thức trên thị trường tài chính Việt Nam: Bảo Việt tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán qua Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt, tham gia góp vốn vào Công ty vui chơi giải trí Hồ Tây, Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng hải, Ngân hàng TMCP Á Châu, mua trái phiếu kho bạc Nhà nước,…

- Tạo cơ hội có công ăn việc làm cho người lao động: Xét trên khía cạnh vĩ mô,

ngành bảo hiểm đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho rất nhiều người lao động

Trang 19

Ví dụ: Ở Pháp, hoạt động bảo hiểm thu hút khoảng 1% dân số quốc gia Còn

ở Việt Nam, tính đến năm 2010, số lao động làm việc trong các Công ty bảo hiểm

đã lên tới trên 15.000 cán bộ bảo hiểm và trên 150.000 đại lý bảo hiểm chuyên

nghiệp (theo số liệu của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam) Điều đó chứng tỏ hoạt động

bảo hiểm là lĩnh vực thu hút lao động xã hội không nhỏ

Không những vậy, thông qua đầu tư dưới nhiều hình thức, bảo hiểm còn gián tiếp tạo thêm nhiều việc làm cho các ngành khác của đất nước

Như vậy, trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế xã hội, bảo hiểm đóng vai trò như một công cụ an toàn và dự phòng đảm bảo khả năng hoạt động lâu dài của mọi chủ thể dân cư và kinh tế Với vai trò đó, bảo hiểm khi thâm nhập sâu vào đời sống đã phát huy tác dụng vốn có của mình: thúc đẩy ý thức đề phòng - hạn chế tổn thất cho mọi thành viên trong xã hội

Bảo hiểm là môi trường nghề nghiệp của một số lượng lớn lao động, lao động trong ngành bảo hiểm cùng các ngành khác tạo ra nhiều giá trị gia tăng cho cả nền kinh tế góp phần đáng kể vào GDP của quốc gia Hoạt động bảo hiểm là một trong những hoạt động có mối quan hệ với nhiều ngành nghề khác nhất Không những thế, ngày nay hoạt động bảo hiểm không chỉ hướng đến việc phân phối lại về mặt giá trị mà còn hướng đến vai trò xã hội tích cực hơn trong việc chống lại những hậu quả bất hạnh của cuộc sống Các chương trình hỗ trợ của bảo hiểm ngày càng

đa dạng và phong phú Hiệu quả của các hoạt động hỗ trợ của bảo hiểm không chỉ thúc đẩy ý thức phòng ngừa rủi ro của các thành viên trong xã hội mà còn làm giảm thiệt hại về mặt kinh tế tổn thất giảm đi, đồng nghĩa với giá trị của nền kinh tế tăng lên mức đóng góp của các thành viên trong quỹ bảo hiểm cũng giảm đi

Xem xét mối quan hệ giữa sự phát triển của ngành bảo hiểm trong tương quang chung với sự phát triển của toàn nền kinh tế ở nhiều nuớc, nhiều nhà kinh tế học đã khẳng định tác dụng to lớn, cũng như vai trò không thể thiếu của bảo hiểm đối với nền kinh tế Thực tế cho thấy, sự tồn tại của một thị trường bảo hiểm mạnh

là một trong những yếu tố cơ bản của bất cứ nền kinh tế thành công nào Trong

cuốn “ Các nguyên tắc bảo hiểm”, hai tác giả người Mỹ là Mehr và Commack đã

Trang 20

viết: “Việc Anh Quốc nổi lên như một cường quốc thương mại là đồng thời loại

hình bảo hiểm hảo hoạn cũng phát triển trong cùng một thời kỳ không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên”

Tác dụng của bảo hiểm thể hiện rõ trên nhiều phương diện Ngoài việc giúp

bù đắp thiệt hại, khắc phục tổn thất, bảo hiểm còn sử dụng hiệu quả những khoản tiền nhàn rỗi, tạo được nguồn vốn lớn để đầu tư vào các lĩnh vực khác Cũng nhờ bảo hiểm mà ngân sách nhà nước hàng năm có nguồn đóng góp không nhỏ, mọi người có được tâm lý an tâm trong kinh doanh, trong cuộc sống, công tác đề phòng

và hạn chế tổn thất được tăng cường,…

1.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM: 1.2.1 Các yếu tố nội tại:

- Nguồn nhân lực: là nguồn lực không thể thiếu của bất kỳ doanh nghiệp nào

Thế mạnh về nguồn nhân lực của một doanh nghiệp nói chung thể hiện ở những yếu

tố như: trình độ đào tạo, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm So với các ngành khác, ngành bảo hiểm đòi hỏi người lao động phải có kinh nghiệm, trình độ cao và kỹ năng giao tiếp tốt do tính chất đặc biệt của loại hàng hóa bảo hiểm là vô hình nên công việc bán hàng đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao hơn các công việc bán hàng khác rất nhiều đồng thời phải có phẩm chất đạo đức tốt gây được lòng tin với

khách hàng,…vì người mua không dễ gì cảm nhận được sản phẩm cần mua (độ bền,

mẫu mã, hình dáng, kích thước,…)

- Năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức: Năng lực quản lý phản ánh năng lực

lãnh đạo của Ban Giám đốc Công ty, thể hiện ở mức độ chi phối và khả năng giám sát của Lãnh đạo Công ty với các Phòng ban trong Công ty; thể hiện ở việc đề ra mục tiêu, chiến lược, quy trình hoạt động kinh doanh của Công ty; chính sách lương thưởng, đãi ngộ đối với người lao động, Năng lực quản lý sẽ quyết định hiệu quả đến việc sử dụng nguồn lực của Công ty

Trang 21

Năng lực quản lý cũng bị chi phối bởi cơ cấu tổ chức của Công ty Cơ chế tổ chức phản ánh cơ chế phân bổ nguồn lực của một Công ty có phù hợp với quy mô, trình độ quản lý, phù hợp với đặc trưng cạnh tranh của ngành và yêu cầu của thị trường hay không Cơ cấu tổ chức thể hiện ở sự phân chia các phòng ban chức năng, các bộ phận kinh doanh trực tiếp và gián tiếp Hiệu quả của cơ chế quản lý phản ánh ở số lượng các phòng ban, sự phân công, phân cấp, mức độ phối hợp giữa các phòng ban trong việc thực hiện nhiệm vụ kinh doanh, khả năng thích nghi và thay đổi của cơ cấu trước những biến động của ngành hay những biến động của môi trường vĩ mô

- Tiềm lực tài chính: là yếu tố quan trọng đặc biệt trong lĩnh vực bảo hiểm,

đó là yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh Một doanh nghiệp bảo hiểm có tiềm lực tài chính mạnh thì khả năng bồi thường cho khách hàng được đảm bảo

- Hệ thống kênh phân phối: thể hiện ở số lượng các chi nhánh trực thuộc và

sự phân bổ trên địa bàn hoạt động Đi kèm với một mạng lưới rộng khắp phải là hiệu quả hoạt động của mạng lưới thể hiện ở đội ngũ đại lý chuyên nghiệp, giàu kinh nghiệm có thể đáp ứng nhanh kịp thời với yêu cầu của khách hàng

- Thương hiệu: Thương hiệu là một trong những tài sản quý giá nhất của

doanh nghiệp Thương hiệu có thể được hiểu là những giá trị của doanh nghiệp mà

xã hội, khách hàng nhận thức được Thương hiệu của doanh nghiệp không chỉ được thể hiện ở các hình ảnh nhãn hiệu mà còn thể hiện ở triết lý kinh doanh, các đặc trưng văn hoá, tinh thần thái độ của cán bộ trong phục vụ khách hàng, trong đổi mới

và phát triển nội bộ doanh nghiệp

- Sản phẩm và chất lượng dịch vụ: Trong xu thế cạnh tranh ngày càng gay

gắt của thị trường bảo hiểm hiện nay, các công ty bảo hiểm, đặc biệt là những đơn

vị mới ra đời bị cuốn vào cuộc đua để giành thị phần cũng như phát triển thương hiệu.Trên thực tế, việc cạnh tranh về sản phẩm khó có đột phá, vì đặc thù của ngành bảo hiểm là sản phẩm của các công ty không quá khác biệt nhau Chính vì vậy, chất lượng phục vụ khách hàng đang là chiến lược ưu tiên hàng đầu của các công ty bảo hiểm hiện nay Sự quan tâm tới khách hàng thể hiện thông qua việc thiết kế sản

Trang 22

phẩm phù hợp khả năng tài chính, nhu cầu bảo vệ của khách hàng trong điều kiện sinh hoạt tại Việt Nam, gia tăng khuyến mại, thậm chí là dịch vụ dùng thử cho khách hàng…

1.2.2 Các yếu tố môi trường bên ngoài:

- Yếu tố môi trường kinh tế: Yếu tố môi trường kinh tế có ảnh hưởng trực

tiếp và mạnh mẽ đến hoạt động kinh doanh của ngành bảo hiểm, các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng như: mức tăng trưởng GDP, tỷ lệ thu nhập thực tế bình quân đầu người, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tỷ lệ lạm phát, chính sách tiền tệ, …

- Yếu tố chính trị, pháp luật: là một yếu tố mang tính chất xúc tác quan trọng

đối với sự phát triển của bất kỳ ngành nào của một nước Đối với lĩnh vực ngành tài chính, bảo hiểm yếu tố chính trị, pháp luật lại càng đóng một vai trò quan trọng tác động đến sự phát triển của ngành thông qua: các quy định, thông tư của Chính phủ,

và các Bộ ngành,…

- Yếu tố văn hóa, xã hội: nó tác động nhiều mặt của một ngành và trong lĩnh

vực bảo hiểm yếu tố văn hóa xã hội tác động nhiều đến yếu con người thông qua việc tác động đến nhu cầu và nguồn nhân lực Những đặc điểm văn hóa, xã hội ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm như: trình độ dân trí và khả năng hiểu biết về quyền lợi khi tham gia bảo hiểm, mối quan hệ với đồng nghiệp, khách hàng,…

- Đối thủ cạnh tranh: là tập hợp các chủ thể kinh doanh thực hiện cung cấp

sản phẩm dịch vụ thỏa mãn các nhu cầu về bảo hiểm với những ảnh hưởng làm suy giảm lợi ích của Công ty trong phạm vi không gian và thời gian nhất định Do đó, phân tích đối thủ cạnh tranh trở thành một phần quan trọng và tất yếu trong công tác lập và triển khai kế hoạch tại Công ty

- Khách hàng: khách hàng truyền thống và trung thành là một lợi thế lớn của

một doanh nghiệp bảo hiểm Sự trung thành của khách hàng được tạo dựng bởi sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng với mong muốn làm tốt hơn

Trang 23

- Nhà cung ứng: có thể gây áp lực cho hoạt động của doanh nghiệp, vì vậy

việc nghiên cứu nhà cung ứng là không thể bỏ qua

1.3 SƠ LƢỢC VỀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGÀNH BẢO HIỂM

1.3.1 Sự hình thành và phát triển ngành bảo hiểm ở Việt Nam

Ở Việt Nam, bảo hiểm xuất hiện từ bao giờ? Không có tài liệu nào chứng minh một cách chính xác mà chỉ phỏng đoán vào năm 1880 có các Hội bảo hiểm ngoại quốc như Hội bảo hiểm Anh, Pháp, Thụy sĩ, Hoa kỳ đã để ý đến Đông Dương Các Hội bảo hiểm ngoại quốc đại diện tại Việt Nam bởi các Công ty thương mại lớn, ngoài việc buôn bán, các Công ty này mở thêm một Trụ sở để làm đại diện bảo hiểm Vào năm 1926, Chi nhánh đầu tiên là của Công ty Franco- Asietique Đến năm 1929 mới có Công ty Việt Nam đặt trụ sở tại Sài Gòn, đó là Công ty Bảo hiểm Việt Nam, nhưng chỉ hoạt động về bảo hiểm xe ô tô Từ năm 1952 về sau, hoạt động bảo hiểm mới được mở rộng dưới những hình thức phong phú với sự hoạt động của nhiều Công ty bảo hiểm trong nước và ngoại quốc

Ở Miền Bắc, ngày 15/01/1965 Công ty Bảo hiểm Việt Nam (gọi tắt là Bảo

Việt) mới chính thức đi vào hoạt động Trong những năm đầu, Bảo Việt chỉ tiến

hành các nghiệp vụ về hàng hải như bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm tàu viễn dương…

1.3.2 Bức tranh thị phần ngành bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam

Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ đang có sự tham gia của những tên tuổi mới với “bầu sữa mẹ” bất ngờ mà các Công ty bảo hiểm khác khó lòng bì kịp Theo phân tích của Công ty chứng khoán SSI, Bảo Minh đang mất thị phần cho đối thủ, khi mảng hàng không đã về với “người nhà” là Công ty bảo hiểm phi nhân thọ Hàng không, đơn vị do chính Vietnam Airlines cùng bốn cổ đông khác lập ra vào năm 2009

Trang 24

Mảng bảo hiểm các Công ty than ở Quảng Ninh lọt vào tay Công ty bảo hiểm phi nhân thọ SHB – Vinacomin (SVIC), do ngân hàng SHB cùng tập đoàn Than khoáng sản (TKV) và vài cổ đông khác thành lập

Việc khai thác bán bảo hiểm cho hơn 40 doanh nghiệp thuộc TKV đã mang lại doanh thu lớn

Nhờ vào các Tổng công ty tham gia góp vốn, các công ty bảo hiểm có “bầu sữa” mẹ này đã khai thác lợi thế ngành mạnh mẽ Công ty cổ phần bảo hiểm Dầu khí (PVI) có tốc độ tăng trưởng doanh thu từ phí nhanh nhất trong nhóm năm Công

ty bảo hiểm phi nhân thọ hàng đầu tại Việt Nam Nguyên nhân chính sự tăng trưởng này là sự phát triển mạnh của loại hình bảo hiểm dầu khí (94,04%) vốn là thế mạnh tuyệt đối với 95% thị phần

Vẽ lại bức tranh thị phần: Theo thống kê của hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (AVI), sáu tháng đầu năm 2010 trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, bốn tên tuổi Bảo Việt, Bảo Minh, PVI và PJICO chiếm thị phần hơn 72%, 27 doanh nghiệp khác chia nhau phần còn lại

Trong đó, dù mới xuất hiện, SVIC và bảo hiểm Hàng không đã có thị phần lần lượt là 1% và 1,99%, miếng bánh mà đến nay nhiều Công ty bảo hiểm mất nhiều năm mới có được Công ty Chứng khoán Bảo Việt cho rằng, thị phần giữa các công ty đứng đầu đang thu hẹp và thay đổi Trong nửa đầu năm 2009, so cùng kỳ tốc độ tăng trưởng doanh thu phí Bảo Việt tăng 0,54%, BMI giảm 8,81%, PJICO tăng 6,24% thì PVI tăng 35,25%

Thị phần giữa PVI và Bảo Việt đang gần nhau hơn, cũng như PVI đã vượt qua Bảo Minh để đứng thứ hai trên thị trường Theo AVI, nửa đầu năm 2009, PVI chiếm 23,6% thị phần trong khi Bảo Việt chiếm 26% (giảm 4,5% so với năm 2008), Bảo Minh từ 17,3% năm 2008 còn 14,1% sáu tháng đầu năm

Trang 25

Hình 1.1: Tình hình thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2010

(Nguồn: Trang web của Bảo Minh)

Trang 26

Bảng 1.1 : Số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam

(Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam)

Theo số liệu ở bảng 1.1 trên cho thấy, tính đến tháng 6 năm 2010, trên thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện có 28 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đang

hoạt động (trong đó có 18 doanh nghiệp trong nước và 10 doanh nghiệp nước

ngoài) Từ năm 2006 đến năm 2010 các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trong

và ngoài nước đầu tư vào thị trường Việt Nam ngày càng nhiều từ 21 Công ty đến nay là 28 Công ty, tăng 7 Công ty

Trang 27

Bảng 1.2 : Quy mô thị trường bảo hiểm (Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam)

Theo số liệu ở bảng 1.2 cho thấy thị trường bảo hiểm Việt Nam đang có tốc

độ tăng trưởng nhanh và ổn định, với tốc độ tăng trưởng bình quân doanh thu phí bảo hiểm giai đoạn 2006-2009 đạt khoảng 19%/năm Trong năm 2009, tổng doanh thu của toàn ngành bảo hiểm đạt 25.473 tỷ đồng, tăng 19,86% so với năm 2008, trong đó doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ đạt 13.616 tỷ đồng, tăng khoảng 24,35%

so với năm 2008

1.4 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN, TĂNG TRƯỞNG Ở MỘT SỐ DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM CÙNG NGÀNH TẠI CÁC TỈNH KHÁC

1.4.1 Công ty Bảo Việt Hải Phòng

Công ty Bảo Việt Hải Phòng là Công ty bảo hiểm Phi nhân thọ hạng I thuộc Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt – Thành viên hàng đầu trong ngành Tài chính – Bảo hiểm tại Việt Nam

Trang 28

Ngày 15/5/1965 theo Quyết định của Bộ Tài chính, Chi nhánh Bảo hiểm Hải

Phòng (tiền thân Bảo Việt Hải Phòng hiện nay) được thành lập, đây là đơn vị thành

viên ra đời sớm nhất của Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam

Ra đời trong giai đoạn cả nước có chiến tranh, tổ chức bộ máy của Chi nhánh chỉ có 5 cán bộ viên chức, trụ sở làm việc và sinh hoạt của tổ chức Đảng và các đoàn thể được ghép với Sở Tài chính

Thời kỳ 1965-1975 Chi nhánh triển khai các nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải và làm đại lý giám định hàng hoá viện trợ đến cảng Hải Phòng

Sau 1975, Chi nhánh mở rộng việc triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải và bắt đầu triển khai các nghiệp vụ bảo hiểm phi hàng hải từ năm 1981 Năm 1989 Bảo Việt được Nhà nước chuyển thành Tổng công ty, Chi nhánh bảo hiểm Hải Phòng được chuyển thành Công ty Bảo hiểm Hải Phòng Khi đất nước chuyển đổi cơ chế, Công ty đã nắm bắt cơ hội đẩy mạnh triển khai các nghiệp vụ bảo hiểm truyền thống, đồng thời mở thêm nhiều dịch vụ bảo hiểm thuộc các lĩnh vực trách nhiệm dân sự, tài sản và con người

Những năm gần đây, được sự quan tâm chỉ đạo của Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam, Thành uỷ, HĐND và UBND thành phố, Công ty đã có bước tăng trưởng vượt bậc, trở thành một trong những doanh nghiệp tiêu biểu trong phong trào thi đua của Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam và thành phố Với chức năng là doanh nghiệp hoạt động ở lĩnh vực bảo hiểm, Công ty luôn thấm nhuần phương châm của

Bảo Việt trong kinh doanh "Phục vụ khách hàng tốt nhất để phát triển" Từ chiến

lược này, Công ty coi trọng chăm lo đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ, nhân viên có đủ phẩm chất chính trị, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ và thực sự trong những năm qua đội ngũ cán bộ, nhân viên của Công ty đã phát huy được năng lực của mình trong giải quyết công việc, được khách hàng tín nhiệm

Về tổ chức bộ máy, Công ty hiện có 8 phòng nghiệp vụ tại văn phòng và 5 phòng bảo hiểm khu vực đóng tại các địa bàn quận, huyện với 116 CBVC và đại lý chuyên nghiệp và đang triển khai trên 50 loại hình bảo hiểm, phủ kín các địa bàn và

Trang 29

phát triển mạng lưới đến tận xã, phường Công ty đang chiếm phần lớn thị phần và giữ vai trò chủ đạo trên thị trường bảo hiểm tại thành phố Hải Phòng

Với những nỗ lực vượt bậc, Công ty luôn hoàn thành vượt mức kế hoạch doanh thu hằng năm Năm 2001 doanh thu mới đạt 45,3 tỷ đồng, năm 2004 doanh thu của Công ty đã lên tới 94,6 tỷ đồng Năm 2005 doanh thu thực hiện trong 11 tháng đạt hơn 107 tỷ đồng, đạt 107,8% kế hoạch, tăng trưởng 19,39%

Trong 5 năm qua (2006-2010), Công ty đã giải quyết bồi thường kịp thời 1.894 vụ tai nạn hàng hải, 10.911 vụ tai nạn xe cơ giới và 59.397 vụ tai nạn con người với tổng số tiền bồi thường lên tới gần 200 tỷ đồng Việc bồi thường đảm bảo đúng, đủ theo chế độ quy định với thời gian nhanh nhất, nên thực sự đã giúp các doanh nghiệp và người dân mau chóng ổn định sản xuất và đời sống sau khi gặp rủi

ro và tai nạn bất ngờ

Với những thành tích đã đạt được trong quá trình xây dựng và phát triển, Bảo Việt Hải Phòng đã được Nhà nước tặng nhiều phần thưởng cao quý như: Huân chương Lao động Hạng Ba, 2 Bằng khen của Thủ tướng chính phủ, 10 Bằng khen của Bộ Tài chính, 19 bằng khen và 9 cờ thi đua xuất sắc của UBND thành phố, 4 bằng khen,…

Năm 2010, Bảo Việt Hải Phòng thực hiện 292,715 tỷ đồng doanh thu, đạt 116,04% kế hoạch năm và tăng 26,24% so với cùng kỳ năm trước; nộp ngân sách Nhà nước 23,151 tỷ đồng, tăng 28,39% so với cùng kỳ năm trước Đây là đơn vị dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng của Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam và vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhất

Năm 2010 Bảo Việt Hải Phòng tập trung mở rộng các dịch vụ bảo hiểm thuộc lĩnh vực con người, xe cơ giới, hàng hóa, phòng, chống cháy …, nâng tỷ trọng chiếm tới 2/3 doanh thu trong các dịch vụ bảo hiểm Mặc dù gặp sự cạnh tranh rất gay gắt của các Doanh nghiệp bảo hiểm khác, nhưng trong nhiều năm qua tốc độ tăng trưởng doanh thu hàng năm trên 15%/năm Trong những năm tiếp theo

Trang 30

Bảo Việt Hải Phòng sẽ tiếp tục phát huy thế mạnh sẵn có để hướng đến mốc doanh thu 400 tỷ đồng trở thành Công ty hàng đầu của Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt

1.4.2 Công ty Bảo Việt Hà Nội

Ngày 15/12/2010, Công ty Bảo Việt Hà Nội đã tổ chức lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Từ khi thành lập đến nay, Bảo Việt Hà Nội luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam giao phó, giữ vững vai trò lá

cờ đầu trong hệ thống Bảo hiểm Bảo Việt

Với phương hướng kinh doanh cạnh tranh lành mạnh, không chạy theo xu hướng giảm phí mà chủ trương nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng trưởng doanh thu của Bảo Việt Hà Nội hằng năm đều đạt trên 15% Doanh thu năm 2010 của Bảo Việt Hà Nội đạt trên 400 tỷ đồng Bảo Việt Hà Nội cũng là một trong những doanh nghiệp được Cục Thuế Hà Nội ghi nhận là đơn vị nộp thuế đầy đủ, đúng hạn với số thuế cao Trong giai đoạn hiện nay, Bảo Việt Hà Nội đã không ngừng phát triển nghiệp vụ mới, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng trong sản xuất kinh doanh và đời sống của người dân Công ty cũng chú trọng xây dựng tổ chức Đảng và đoàn thể vững mạnh, đáp ứng nhiệm vụ kinh doanh được giao Với những thành tích đã đạt được trong 30 năm qua, Bảo Việt Hà Nội đã vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì

1.4.3 Công ty Bảo Việt Nam Bình Dương

Công ty Bảo việt Nam Bình Dương là doanh nghiệp trực thuộc Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam, thuộc Tập đoàn Bảo Việt, được thành lập tại KCN Sóng Thần

từ ngày 03/04/2006 Sau 4 năm hoạt động, từ chỗ là một chi nhánh, chỉ có 10 cán bộ nhân viên ban đầu, đến nay Bảo Việt Nam Bình Dương đã phát triển vượt bậc, trở thành doanh nghiệp mạnh với hơn 50 cán bộ nhân viên, đạt doanh thu hơn 70 tỷ

đồng (năm 2010), gần gấp 3 lần so với năm 2006 Hiện tại, công ty đang cung cấp

50 loại hình bảo hiểm khác nhau, từ những sản phẩm bảo hiểm truyền thống như

Trang 31

bảo hiểm cháy nổ, hàng hóa vận chuyển, xe cơ giới cho đến các loại hình mới như bảo hiểm trách nhiệm, bảo hiểm chi phí y tế, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm kỹ thuật (máy móc, xây dựng, thiết bị điện tử)… Hiện tại, Bảo Việt Nam Bình Dương là doanh nghiệp chiếm thị phần và có doanh thu lớn nhất Bình Dương trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ Doanh thu chủ yếu của Bảo Việt Nam Bình Dương là thông qua các mối quan hệ với các Công ty Môi giới bảo hiểm và HSBC giới thiệu

1.4.4 Công ty Bảo Việt Gia Định

Là đơn vị thành viên của Tổng Công Ty Bảo Hiểm Bảo Việt được thành lập ngày 23/6/2008 theo quyết định số 1257/2008/QD/HĐTV - BHBV của hội đồng thành viên Tổng công ty Bảo Hiểm Bảo Việt, hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm

Phi nhân thọ (Bảo Hiểm Tài Sản, Bảo Hiểm Trách Nhiệm và Bảo Hiểm con người )

trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Với hơn một năm đi vào hoạt động, trong năm 2010, Công ty Bảo Việt Gia Định đạt tăng trưởng doanh thu trên 38% so với năm 2009 Là đơn vị hợp nhất từ 3 phòng kinh doanh của Bảo Việt Sài Gòn, Công ty Bảo Việt Gia Định mới đi vào hoạt động từ năm 2009 Địa bàn khai thác của Công ty có sự cạnh tranh rất mạnh

mẽ trong khi Công ty mới thành lập, mối quan hệ với khách hàng phải xây dựng từ đầu, trình độ cán bộ còn hạn chế…

Bảo Việt Gia Định đã tập trung thực hiện việc đào tạo, đào tạo lại cho cán bộ nhân viên theo quy chuẩn, tập trung vào chăm sóc khách hàng trước, trong và sau bán hàng Lấy khách hàng làm trung tâm của mọi hoạt động Công ty tiếp tục tập trung củng cố các phòng nghiệp vụ, triển khai các phòng bán lẻ để phục vụ khách hàng ở khu vực nhằm hướng tới mục tiêu phục vụ khách hàng tại chỗ trong thời gian nhanh nhất; linh hoạt trong việc ứng dụng các quy trình khai thác để khách hàng luôn cảm thấy hài lòng

Trang 32

1.4.5 Công ty Bảo Việt Đông Đô

Sau khi hợp nhất tỉnh Hà Tây về Hà Nội, Công ty Bảo Việt Hà Tây được đổi tên thành Công ty Bảo Việt Đông Đô Năm 2010, Bảo Việt Đông Đô có những thuận lợi khách quan nhất định do thuộc địa bàn Thủ đô nên thu hút đầu tư mạnh

mẽ hơn, có tiềm năng hơn, địa bàn khai thác được mở rộng hơn Bảo Việt Đông Đô chú trọng triển khai các dịch vụ bảo hiểm nhỏ lẻ Sản phẩm bảo hiểm Xe cơ giới, bảo hiểm Con người chiếm tỷ trọng cao trong tổng doanh thu của Công ty

Năm 2010, để đạt được doanh thu bảo hiểm tăng trưởng ấn tượng là 25% so với năm 2009, Bảo Việt Đông Đô đã chú trọng việc phát triển hệ thống phân phối tới các tầng lớp dân cư và đã cải tiến theo hướng gắn chặt hệ thống khen thưởng với hiệu quả công việc; quán triệt phương châm phục vụ khách hàng một cách tốt nhất

để phát triển; bố trí lực lượng cán bộ, giám định viên tinh nhạy để có thể giải quyết bồi thường nhanh nhất cho khách hàng

1.4.6 Những bài học cho Bảo Việt Đồng Nai từ những kinh nghiệm trên

Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ hiện nay được nhận định sẽ tiếp tục có sự cạnh tranh gay gắt hơn, bởi ngày càng có nhiều doanh nghiệp bảo hiểm gia nhập thị trường và công ty nào cũng hướng tới những mục tiêu tăng trưởng rất cao

Nằm trên địa bàn Đồng Nai, một tỉnh trọng điểm của vùng kinh tế phía Nam Trong những năm qua, Bảo Việt Đồng Nai phải đương đầu với nhiều sức ép từ thị trường, bên cạnh đó việc cơ cấu lại ngành nghề kinh doanh không nhận bảo hiểm đối với một số Công ty sản xuất, kinh doanh các ngành gỗ, giấy, bông, gas,… nhằm hướng tới mục tiêu hiệu quả kinh doanh cho Công ty cũng như Tổng Công ty Trong khi đó, các Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ cùng ngành ở những địa phương khác vẫn đảm bảo được sự tăng trưởng và hoàn thành kế hoạch kinh doanh

Để chuẩn bị cho việc thực hiện tăng trưởng và hiệu quả trong những năm sắp tới, Bảo Việt Đồng Nai có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm từ những Công

ty thành viên trên để áp dụng trong quá trình phát triển tiếp theo:

Trang 33

- Bài học thứ nhất: Đoàn kết thống nhất trong Ban lãnh đạo Công ty vì mục

tiêu phát triển

Đây là bài học xưa cũ, ai cũng có thể nói được nhưng thực hiện được thì lại rất khó Trong những năm gần đây, sự đoàn kết trong Công ty được thể hiện thông qua phân công công việc và trách nhiệm rõ ràng Các đồng chí lãnh đạo trong Công

ty đều sẵn sàng bỏ qua những cái “tôi” nhỏ để phấn đấu vì nhiệm vụ chung của Công ty Mặc dù trong các cuộc họp nội bộ đều có tranh luận gay gắt nhưng vẫn hỗ trợ nhau trong công việc

- Bài học thứ hai: Sự phát triển của Bảo Việt gắn liền với sự phát triển của

thương hiệu và sự phát triển của Tập đoàn Tài chính Bảo hiểm Bảo Việt

Với hơn 45 năm hình thành và phát triển, Bảo Việt đã đóng góp rất lớn cho Nhà nước để vượt qua khủng hoảng kinh tế và góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển mạnh mẽ Thương hiệu của Tập đoàn Bảo Việt là niềm tự hào của cả tập thể cán bộ viên chức đồng thời là chỗ dựa vững chắc cho các công ty con phát triển

- Bài học thứ ba: Phát huy tốt vai trò của từng cán bộ viên chức trong Công

ty và các tổ chức như Công đoàn, Đoàn thanh niên trong việc xây dựng văn hoá Công ty, làm cho người lao động tin yêu và tự hào được là cán bộ nhân viên của Bảo Việt và của Tập đoàn Bảo Việt, từ đó tâm huyết và mẫn cán với công việc mình được giao

Đưa ra các biện pháp hợp lý để thu hút nhân tài, đồng thời chú trọng đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ viên chức trong Công ty; Có các quy chế lương, thưởng hợp lý để không bị mất người tài Đồng thời phát huy vai trò của Công đoàn trong việc tham gia cùng lãnh đạo Công ty xây dựng các chương trình thi đua khen thưởng theo từng giai đoạn, sự việc, thời điểm nhằm tạo ra không khí sôi nổi và kích thích sự năng động trong từng cán bộ viên chức trong Công ty

- Bài học thứ tư: Ban lãnh đạo Công ty cần nhìn nhận đúng tình hình thị

trường, xác định rõ các bước phát triển và áp dụng các cơ chế kinh doanh hợp lý Lãnh đạo cũng như người cầm lái, cán bộ nhân viên là động lực Nếu lái giỏi, động

Trang 34

lực tốt sẽ về đích rất nhanh Nếu lái kém mà động lực quá mạnh thì chắc chắn sẽ gặp sự cố hoặc đổ vỡ nguồn máy sẽ xảy ra

Kết luận Chương 1: Chương 1 đã được phân tích trên cơ sở lý luận về bảo hiểm

phi nhân thọ, qua đó giới thiệu về nguồn gốc, khái niệm, bản chất và đặc trưng của ngành bảo hiểm Nêu bật vai trò, tác dụng và sự cần thiết của bảo hiểm đối với sự phát triển của kinh tế - xã hội Giới thiệu một số kinh nghiệm phát triển, tăng trưởng ở một số doanh nghiệp bảo hiểm cùng ngành trong cùng hệ thống Tổng Công ty, qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Công ty Bảo Việt Đồng Nai

Trang 35

2.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY BẢO VIỆT ĐỒNG NAI

2.1.1 Vài nét về Tập đoàn Tài chính – Bảo hiểm Bảo Việt

Ngay từ khi mới thành lập Bảo Việt chỉ là một Công ty với 16 cán bộ, phục

vụ một nhóm nhỏ khách hàng trong lĩnh vực hàng hải, cho tới nay Bảo Việt đã phát triển với qui mô của một Tập đoàn tài chính đa ngành với trên 5.000 cán bộ, 40.000 đại lý bảo hiểm, hàng năm phục vụ trên 20 triệu khách hàng trên toàn quốc, đã thể hiện sự lớn mạnh vượt bậc của Bảo Việt

Tiền thân của Tập đoàn Tài chính - Bảo hiểm (Bảo Việt) ngày nay là Công ty

Bảo hiểm Việt Nam được thành lập theo quyết định số 179/CP ngày 17/12/1964 Công ty chính thức đi vào hoạt động ngày 15/01/1965 Ngày đầu hoạt động, Bảo Việt chỉ có trụ sở chính tại Hà Nội và một chi nhánh tại Hải Phòng Hoạt động kinh doanh của Công ty chủ yếu là bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm tàu biển, làm đại lý giám định cho các Công ty bảo hiểm nước ngoài về hàng hóa xuất nhập khẩu và tàu biển Doanh thu của Công ty tại thời điểm này chỉ đạt 800 nghìn đồng với tổng tài sản là 900 triệu đồng và chỉ phục vụ một nhóm nhỏ khách hàng là các đơn vị kinh tế nhà nước kinh doanh trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, tàu biển thuộc miền Bắc

Năm 1975, giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, Bảo Việt chính thức triển khai và phát triển mạng lưới kinh doanh của mình ra các tỉnh, thành phía Nam Trong giai đoạn này thương hiệu “Bảo Việt” đã được biết đến là doanh nghiệp bảo hiểm Nhà nước lớn nhất và duy nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ trên khắp cả nước Song song với việc mở rộng mạng lưới

Trang 36

kinh doanh, Bảo Việt bắt đầu đa dạng hóa các loại hình dịch vụ bảo hiểm như bảo hiểm hàng không, bảo hiểm con người, bảo hiểm tàu sông, tàu cá, bảo hiểm xe cơ giới,…

Năm 1989 đánh dấu một bước phát triển quan trọng của Bảo Việt khi Công

ty Bảo hiểm Việt Nam được Chính phủ chuyển đổi thành Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam theo quyết định số 27-TCQĐ-TCCB ngày 17/02/1989 của Bộ Tài Chính Vào thời điểm này, tổng doanh thu của Bảo Việt đã đạt con số 78 tỷ, tổng tài sản đạt

73 tỷ, lợi nhuận thu được là 6,6 tỷ đồng Việt Nam Xét về cơ cấu kinh doanh, nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải truyền thống chỉ chiếm 65% tổng doanh thu bảo hiểm gốc Các nghiệp vụ khác như bảo hiểm con người, xe cơ giới đã chiếm khoảng 25% tổng doanh thu

Năm 1992, thương hiệu Bảo Việt lần đầu tiên xuất hiện với hình thức một pháp nhân kinh doanh trên thị trường quốc tế Bảo Việt đã thành lập Công ty đại lý bảo hiểm BAVINA tại Vương Quốc Anh, nơi có thị trường kinh doanh bảo hiểm phát triển nhất trên thế giới BAVINA là viết tắt của cụm từ “Bảo Hiểm Việt Nam” góp phần đưa thương hiệu của Bảo Việt ra thị trường quốc tế và cùng thời điểm này

Chính phủ đã xếp hạng Bảo Việt là “Doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt”, là

một trong 25 doanh nghiệp nhà nước lớn nhất tại Việt Nam

Với nguồn tài chính mạnh mẽ thu được từ doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ

và phi nhân thọ đã thật sự làm thay đổi vị thế của Bảo Việt trên thị trường đầu tư tài chính Nguồn vốn có thể sử dụng cho đầu tư của Bảo Việt tăng lên nhanh chóng với tốc độ 25% tới 30% hàng năm Bảo Việt đã bắt đầu tham gia mạnh mẽ vào thị trường tài chính Đây là điều kiện thuận lợi để Bảo Việt tiếp tục phát triển thành một Tập đoàn tài chính đa ngành

Bước phát triển đầu tiên đánh dấu một giai đoạn thực hiện đa dạng hóa dịch

vụ tài chính là việc thành lập Công ty Chứng khoán Bảo Việt – Công ty chứng

khoán đầu tiên ở Việt Nam (tháng 11/1999) Bảo Việt một lần nữa đi tiên phong

trong việc phát triển một lĩnh vực kinh doanh tiềm năng mới Và năm 2000, Bảo Việt thành lập Trung tâm đầu tư Bảo Việt nhằm nâng cao tính chuyên môn hóa,

Trang 37

chuyên nghiệp hóa trong hoạt động đầu tư tài chính Đến cuối năm 2005, Bảo Việt

đã thành lập Công ty Quản lý Quỹ đầu tư chứng khoán Bảo Việt (BVF) hạch toán độc lập, theo quyết định số 911/QĐ/HĐQT-BV của Bộ Tài chính ngày 22/08/2005 Đây là tổ chức quản lý hoạt động đầu tư chuyên nghiệp với chức năng chính là quản

lý các Quỹ đầu tư cũng như quản lý các danh mục đầu tư và tư vấn đầu tư với tổng tài sản mà BVF quản lý lên tới gần 13.000 tỷ đồng

Qua 45 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển, Bảo Việt đã có 126 Công

ty thành viên trên cả nước với hơn 5.000 cán bộ nhân viên có trình độ chuyên môn cao Cùng với đó là gần 40.000 đại lý bảo hiểm được đào tạo bài bản và tận tụy với công việc, tận tâm với khách hàng Bảo Việt đã triển khai được 120 nghiệp vụ bảo

hiểm cả Nhân thọ (80 nghiệp vụ) và Phi nhân thọ (80 nghiệp vụ)

Năm 2005, Bảo Việt kỷ niệm 40 năm ngày thành lập, đồng thời cũng là năm đánh dấu một bước phát triển mới của Bảo Việt Ngày 28/11/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 310/QĐ/2005/TTgCP thí điểm thành lập Tập đoàn Tài chính - Bảo hiểm Bảo Việt và Bảo Việt đã chính thức trở thành Tập đoàn Tài chính - Bảo hiểm đầu tiên tại Việt Nam kinh doanh đa ngành, trong đó ngành nghề kinh doanh chủ yếu là kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, ngân hàng và đầu tư tài chính, có trình độ kinh doanh và sức cạnh tranh quốc tế

Ngày 28/11/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 310/QĐ/2005/TTgCP phê duyệt Đề án Cổ phần hóa Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam và thí điểm thành lập Tập đoàn Tài chính - Bảo hiểm Bảo Việt

Sau một thời gian triển khai các công việc theo các quy định hiện hành về việc Cổ phần hóa toàn bộ Tổng Công ty, ngày 31/05/2007, Bảo Việt chính thức phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng Sau khi tiến hành thành công IPO, ngày 13/09/2007 Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 3083/QĐ-BTC về việc điều chỉnh quy mô vốn điều lệ và cơ cấu vốn cổ phần của Tập đoàn Bảo Việt

(BaoViet Holdings), theo đó vốn điều lệ của Bảo Việt được xác định là 5.730 tỷ đồng (tương đương 358 triệu USD) Vốn thị trường tính theo giá đấu giá bình quân

Trang 38

IPO của Bảo Việt là 406.830 tỷ đồng (tương đương 2,54 tỷ USD) Tổng tài sản của Bảo Việt tính đến ngày 15/10/2007 (ngày Tập đoàn Bảo Việt chính thức được cấp

đăng ký kinh doanh) là trên 27.300 tỷ đồng

* Tập đoàn kinh tế gắn với tên Bảo Việt có các Công ty thành viên theo mô hình Công ty mẹ - “ Tập đoàn Bảo Việt” và các Công ty con:

+ Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt do Tập đoàn Bảo Việt đầu tư 100% vốn điều lệ + Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ do Tập đoàn Bảo Việt đầu tư 100% vốn điều lệ + Công ty Quản lý Quỹ Bảo Việt (BVF) do Tập đoàn Bảo Việt đầu tư 100% vốn điều lệ

+ Công ty Cổ phần chứng khoán Bảo Việt (BVSC) do Tập đoàn Bảo Việt đầu tư 60% vốn điều lệ

+ Công ty LD Bảo hiểm quốc tế Việt Nam (VIA) do Tập đoàn Bảo Việt đầu tư 51% vốn điều lệ

+ Ngân hàng thương mại cổ phần Bảo Việt (BAOVIETBank) do Tập đoàn Bảo Việt đầu tư 40% vốn điều lệ

+ Trung tâm Đào tạo Bảo Việt - đơn vị sự nghiệp trực thuộc Tập đoàn Bảo Việt Ngoài ra Tập đoàn Bảo Việt còn đầu tư vốn vào hàng chục Công ty liên kết

Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của mình, Bảo Việt đã vinh dự

được Đảng và Nhà nước trao tặng “Huân chương Độc Lập Hạng Ba”, Chính phủ xếp hạng “Doanh nghiệp Nhà nước hạng Đặc biệt” và nhiều danh hiệu, giải

thưởng do các tổ chức uy tín của trong và ngoài nước trao tặng Bảo Việt được tổ

chức BVQI (Vương quốc Anh) cấp chứng chỉ quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn

quốc tế ISO 9001: 2000 từ tháng 08/2001

2.1.2 Vài nét về Tổng Công ty Bảo Biểm Bảo Việt

Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt (Bảo hiểm Bảo Việt) trực thuộc Tập đoàn

Tài chính Bảo Việt, thực hiện hạch toán độc lập từ ngày 01/07/2004 Mặc dù đã được tách ra với tên gọi mới nhưng về thực chất vẫn là sự trường tồn và phát triển của Bảo Việt từ năm 1965 trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ Với hơn 45 năm

Trang 39

kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, hiện nay Tổng Công

ty Bảo hiểm Bảo Việt, do Tập đoàn Bảo Việt đầu tư 100% vốn là Công ty Bảo hiểm

lớn nhất tại Việt Nam có vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng (tương đương 60 triệu USD)

Với mạng lưới 66 Công ty thành viên tại 64 tỉnh thành với trên 400 Phòng phục vụ khách hàng đại diện trên toàn quốc

Đứng đầu thị trường về thị phần, doanh thu, Bảo hiểm Bảo Việt là doanh nghiệp bảo hiểm luôn sáng tạo và đa dạng hóa sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế và nhu cầu xã hội Các sản phẩm chủ yếu Bảo hiểm Bảo Việt đang cung cấp trên thị trường thuộc ba nhóm nghiệp vụ bảo hiểm: Bảo hiểm con người, Bảo hiểm tài sản và Bảo hiểm trách nhiệm dân sự với trên 80 sản phẩm bảo hiểm như: Bảo hiểm xe cơ giới, Bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt, Bảo hiểm kỹ thuật, Bảo hiểm y tế và con người,

Một trong những thế mạnh được Bảo hiểm Bảo Việt phát huy là quan hệ hợp tác rộng rãi, chặt chẽ với các Công ty bảo hiểm, môi giới bảo hiểm và tái bảo hiểm hàng đầu trên thế giới và tại Việt Nam như Munich Re, Swiss Re, Aon, Marsh, Vinare,… Điều này đã giúp nâng cao uy tín của Bảo hiểm Bảo Việt đã chứng tỏ khả năng nhận bảo hiểm với mức độ phức tạp về kỹ thuật và mức trách nhiệm về mặt tài chính rất lớn như bảo hiểm cho dự án phóng vệ tinh viễn thông (VINASAT)

Bảo hiểm Bảo Việt thực sự đóng vai trò lá chắn an toàn về kinh tế cho các doanh nghiệp và cá nhân trong việc bù đắp những thiệt hại tài chính, ổn định sản xuất và hỗ trợ kinh tế khi gặp phải những rủi ro, tai nạn bất ngờ hoặc xảy ra sự kiện bảo hiểm

Trong suốt quá trình hoạt động của mình kể từ khi thành lập đến nay, Bảo hiểm Bảo Việt liên tục duy trì là doanh nghiệp kinh doanh có lãi, tăng khả năng tài chính qua các quỹ dự phòng nghiệp vụ, hoàn thành nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước, cải thiện được thu nhập và đời sống của cán bộ nhân viên

Tính đến hết năm 2010, tổng doanh thu đạt 4.930 tỷ đồng, tăng trưởng 15,8%

so với năm 2009 Trong đó, doanh thu bảo hiểm đạt 4.593 tỷ đồng, tăng trưởng 15%

so với năm 2009; lợi nhuận trước thuế đạt 381 tỷ đồng, tăng 74% so với năm 2009

Trang 40

Với 25% thị phần, Bảo hiểm Bảo Việt giữ vững vị trí dẫn đầu thị trường Năm 2010 cũng là năm Bảo hiểm Bảo Việt tập trung đầu tư công nghệ thông tin như phát triển các phần mềm kế toán, quản lý nghiệp vụ; phát triển trung tâm dịch vụ khách hàng - call centre; hoàn thiện quản trị doanh nghiệp; phát triển sản phẩm bancasurance

2.1.3 Công ty Bảo Việt Đồng Nai:

- Tên gọi : Công ty Bảo Việt Đồng Nai

- Tên tiếng Anh : BaoViet Insurance Corporation – Dongnai Branch

- Địa chỉ : 72 CMT8, Phường Quyết Thắng, Tp Biên Hòa, ĐNai

- Điện thoại : 0613.843777 Fax : 0613.843888

- Năm 1989, khi Công ty Bảo hiểm Việt Nam được chuyển thành Tổng Công

ty Bảo hiểm Việt Nam, Công ty Bảo hiểm Đồng Nai (Bảo Việt Đồng Nai) được

chính thức thành lập

Trong giai đoạn này, doanh thu phí bảo hiểm của Bảo Việt Đồng Nai chỉ từ vài triệu đến vài chục triệu đồng, các nghiệp vụ triển khai còn ít, chủ yếu là các loại hình bắt buộc như BH TNDS xe ôtô, BH tai nạn hành khách,……

* Giai đoạn phát triển (1989 -2007): Mở rộng hoạt động kinh doanh

+ Được nâng thành Công ty, được phép triển khai nhiều sản phẩm bảo hiểm

(triển khai trên 30 nghiệp vụ bảo hiểm), Bảo Việt Đồng Nai bước vào giai đoạn

phát triển và tăng trưởng mạnh mẽ Doanh thu phí bảo hiểm năm 1989 đã đạt trên

300 triệu đồng, đến năm 1991 đã tăng đến 1.381 triệu đồng

Ngày đăng: 18/12/2013, 09:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Tình hình thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2010 - Một số giải pháp nhằm góp phần phát triển công ty bảo việt đồng nai đến năm 2020
Hình 1.1 Tình hình thị trường bảo hiểm Việt Nam năm 2010 (Trang 25)
Bảng 1.1 : Số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam - Một số giải pháp nhằm góp phần phát triển công ty bảo việt đồng nai đến năm 2020
Bảng 1.1 Số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam (Trang 26)
Bảng 1.2 : Quy mô thị trường bảo hiểm  (Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam) - Một số giải pháp nhằm góp phần phát triển công ty bảo việt đồng nai đến năm 2020
Bảng 1.2 Quy mô thị trường bảo hiểm (Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam) (Trang 27)
Bảng 2.2: Kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh doanh qua các năm - Một số giải pháp nhằm góp phần phát triển công ty bảo việt đồng nai đến năm 2020
Bảng 2.2 Kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh doanh qua các năm (Trang 48)
Bảng 2.3: Doanh thu của đại lý chuyên nghiệp qua các năm             (Nguồn: Phòng Quản lý đại lý – Công ty Bảo Việt Đồng Nai) - Một số giải pháp nhằm góp phần phát triển công ty bảo việt đồng nai đến năm 2020
Bảng 2.3 Doanh thu của đại lý chuyên nghiệp qua các năm (Nguồn: Phòng Quản lý đại lý – Công ty Bảo Việt Đồng Nai) (Trang 58)
Bảng 2.4: Ma trận các yếu tố bên trong (IFE) - Một số giải pháp nhằm góp phần phát triển công ty bảo việt đồng nai đến năm 2020
Bảng 2.4 Ma trận các yếu tố bên trong (IFE) (Trang 63)
Bảng 2.5: Ma trận hình ảnh cạnh tranh - Một số giải pháp nhằm góp phần phát triển công ty bảo việt đồng nai đến năm 2020
Bảng 2.5 Ma trận hình ảnh cạnh tranh (Trang 77)
Bảng 2.6: Ma trận các yếu tố bên ngoài (EFE) - Một số giải pháp nhằm góp phần phát triển công ty bảo việt đồng nai đến năm 2020
Bảng 2.6 Ma trận các yếu tố bên ngoài (EFE) (Trang 85)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w