1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng và đánh giá hiệu quả các công cụ hỗ trợ tư vấn sử dụng thuốc tại nhà thuốc

113 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 3,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá hiệu quả của can thiệp nhằm nâng cao chất lượng tư vấn sử dụng thuốc không kê đơn tại một số nhà thuốc trên địa bàn thành phố Huế - Tiến hành can thiệp bằng đào tạo trực tiếp vớ

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP ĐẠI HỌC HUẾ

XÂY DỰNG VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC CÔNG CỤ HỖ TRỢ TƯ VẤN

SỬ DỤNG THUỐC TẠI NHÀ THUỐC

MÃ SỐ: DHH 2017-04-69

Chủ nhiệm đề tài: TS.DS Võ Thị Hà

Huế, Tháng 12 Năm 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP ĐẠI HỌC HUẾ

XÂY DỰNG VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ

CÁC CÔNG CỤ HỖ TRỢ TƯ VẤN

SỬ DỤNG THUỐC TẠI NHÀ THUỐC

Mã số: DHH 2017-04-69

Xác nhận của cơ quan chủ trì đề tài Chủ nhiệm đề tài

(ký, họ tên, đóng dấu) (ký, họ tên)

Trang 3

Danh sách thành viên tham gia đề tài và Danh sách các đơn vị phối hợp chính STT Họ và tên Đơn vị công tác và lĩnh vực

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG IV DANH MỤC CÁC HÌNH V DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VI

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tình hình chung về sử dụng thuốc trên thế giới và Việt Nam 3

1.1.1 Tình hình sử dụng thuốc trên thế giới 3

1.1.2 Tình hình sử dụng thuốc tại Việt Nam 3

1.2 Tư vấn sử dụng thuốc bởi dược sĩ tại nhà thuốc 4

1.2.1 Khái niệm nhà thuốc 4

1.2.2 Vai trò của người dược sĩ tại nhà thuốc 5

1.2.3 Khái niệm và nguyên tắc “Thực hành tốt nhà thuốc” (GPP) 5

1.2.4 Một số tiêu chuẩn và yêu cầ u chính của GPP Việt Nam liên quan đến hoạt động tư vấn sử dụng thuốc 6

1.2.5 Các loại tư vấn sử dụng thuốc 6

1.2.6 Các bước tư vấn sử dụng thuốc 8

1.3 Thực trạng tư vấn sử dụng thuốc 9

1.3.1 Trên thế giới 9

1.3.2 Tại Việt Nam 9

1.4 Phương pháp nghiên cứu đánh giá chất lượng tư vấn tại nhà thuốc 10

1.4.1 Phương pháp phỏng vấn 10

1.4.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu 10

1.4.3 Phương pháp quan sát 10

1.4.4 Phương pháp đóng vai 11

1.5 Phương pháp nâng cao chất lượng tư vấn tại nhà thuốc 13

1.5.1 Phản hồi ngay lập tức 13

1.5.2 Sử dụng công cụ hỗ trợ tư vấn 13

1.5.2.1 Trên thế giới 13

1.5.2.2 Tại Việt Nam 14

1.5.3 Can thiệp giáo dục 14

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

Mục tiêu 1: Khảo sát tình hình tư vấn sử dụng thuốc tại một số nhà thuốc trên địa bàn thành phố Huế 15

Mục tiêu 1.1: Khảo sát tình hình tư vấn sử dụng thuốc tại một số nhà thuốc trên địa bàn thành phố Huế bằng phương pháp phỏng vấn 15

Mục tiêu 1.2: Đánh giá tình hình tư vấn sử dụng thuốc OTC tại các nhà thuốc trên địa bàn thành phố Huế bằng phương pháp quan sát trực tiếp 16

Mục tiêu 2: Xây dựng và thẩm định công cụ hỗ trợ cho việc tư vấn sử dụng thuốc tại nhà thuốc 19

Trang 5

Mục tiêu 3: Đánh giá hiệu quả của can thiệp nhằm nâng cao chất lượng tư vấn sử

dụng thuốc OTC tại một số nhà thuốc trên địa bàn thành phố Huế 22

Vấn đề đạo đức nghiên cứu 26

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27

3.1 Khảo sát tình hình tư vấn sử dụng thuốc tại một số nhà thuốc trên thành phố Huế 27

3.1.1 Đánh giá tình hình tư vấn sử dụng thuốc tại các nhà thuốc trên địa bàn thành phố Huế bằng phương pháp phỏng vấn 27

3.1.1.1 Thông tin người tham gia phỏng vấn 27

3.1.1.2 Đặc điểm nhà thuốc 27

3.1.1.3 Các triệu chứng bệnh/bệnh phổ biến tại nhà thuốc 28

3.1.1.4 Đặc điểm quá trình tư vấn sử dụng thuốc tại nhà thuốc 29

3.1.1.5 Đặc điểm mong đợi về các công cụ hỗ trợ dược sĩ tư vấn 32

3.1.2 Đánh giá tình hình tư vấn sử dụng thuốc OTC tại các nhà thuốc trên địa bàn thành phố Huế bằng quan sát trực tiếp 34

3.1.2.1 Đặc điểm của các trường hợp tư vấn 35

3.1.2.2 Các bước tư vấn 36

3.2 Kết quả quá trình xây dựng và thẩm định công cụ hỗ trợ tư vấn sử dụng thuốc OTC 38

3.2.1 Xây dựng công cụ 38

3.2.2 Thẩm định công cụ 42

3.3 Đánh giá hiệu quả của can thiệp nhằm nâng cao chất lượng tư vấn sử dụng thuốc OTC tại một số nhà thuốc trên địa bàn thành phố Huế 43

3.3.1 Đặc điểm chung của các dược sĩ tham gia đào tạo 43

3.3.2 Đặc điểm nhà thuốc tham gia đào tạo 44

3.3.3 Đánh giá hiệu quả về kiến thức tư vấn quản lý cảm lạnh 44

3.3.4 Đánh giá kỹ năng tư vấn sử dụng thuốc OTC và thực hành bán thuốc điều trị cảm lạnh sau can thiệp bằng phương pháp đóng vai 47

4.4 Ưu, nhược điểm của nghiên cứu 56

4.4.1 Ưu điểm 56

4.4.2 Nhược điểm 56

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

THUYẾT MINH ĐỀ TÀI PHỤ LỤC 67

GIẤY XÁC NHẬN SẢN PHẨM ĐÀO TẠO 95

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Bảng tóm tắt các nghiên cứu đánh giá chất lượng tư vấn tại nhà thuốc tại

Việt Nam 12

Bảng 2 1 Phân công xây dựng công cụ 20

Bảng 2 2 Danh sách các chuyên gia thẩm định công cụ tư vấn 21

Bảng 3.1 Thông tin người tham gia phỏng vấn 27

Bảng 3 2 Đặc điểm chung của nhà thuốc 27

Bảng 3 3 Các chủ đề tư vấn phổ biến 29

Bảng 3 4 Mức độ thường xuyên 30

Bảng 3 5 Người thực hiện tư vấn 31

Bảng 3 6 Thời gian trung bình của một lần tư vấn 32

Bảng 3 7 Nhu cầu sử dụng công cụ của dược sĩ tại nhà thuốc 34

Bảng 3 8 Giá của công cụ 34

Bảng 3 9 Đặc điểm của các trường hợp tư vấn 35

Bảng 3 10 Tỷ lệ thông tin thu thập 36

Bảng 3 11 Tỷ lệ thông tin cung cấp trong tư vấn 37

Bảng 3 12 Tỷ lệ nội dung kết thúc tư vấn 38

Bảng 3 13 Đặc điểm chung của các dược sĩ tham gia đào tạo 43

Bảng 3 14 Đặc điểm nhà thuốc tham gia đào tạo 44

Bảng 3 15 Tỷ lệ các câu trả lời đúng trước và sau đào tạo 45

Bảng 3 16 Số các lời khuyên về TH cần đi khám bác sĩ các dược sĩ đưa ra trước và sau đào tạo 45

Bảng 3 17 Tỷ lệ các lời khuyên về paracetamol các dược sĩ đưa ra trước và sau đào tạo 46

Bảng 3.18 Đặc điểm chung các trường hợp tư vấn 47

Bảng 3 19 Tỷ lệ thông tin thu thập 48

Bảng 3 20 Tỷ lệ thông tin cung cấp trong tư vấn 49

Bảng 3 21 Tỷ lệ nội dung kết thúc tư vấn 50 Bảng 3 22 Tình huống mua thuốc trị cảm lạnh OTC cho người lớn - các thuốc được bán 51 Bảng 3 23 Tình huống mua thuốc trị cảm lạnh OTC cho trẻ <5 tuổi - các thuốc được bán 52

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2 1 Sơ đồ tóm tắt nghiên cứu 25

Hình 3 1 Tỉ lệ các triệu chứng thông thường tại các nhà thuốc 28

Hình 3 2 Tỉ lệ các bệnh phổ biến tại các nhà thuốc 29

Hình 3 3 Tỉ lệ các vấn đề khó khăn 31

Hình 3 4 Mức độ cần thiết của công cụ 32

Hình 3 5 Tỉ lệ các yêu cầu cần thiết của công cụ 33

Hình 3 6 Tỉ lệ các hình thức công cụ 33

Hình 3 7 Hình ảnh “Sổ tay tư vấn dành cho dược sĩ nhà thuốc” 39

Hình 3 8 Cấu trúc nội dung tư vấn của mỗi triệu chứng/bệnh 40

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Viết đầy đủ/ giải thích

Tác dụng có hại của thuốc

Cục Quản lý Thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ

Tổ chức Y tế Thế Giới

Trang 9

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP ĐẠI HỌC HUẾ

1 Thông tin chung

1.1.Tên đề tài: Xây dựng và đánh giá hiệu quả các công cụ hỗ trợ tư vấn sử dụng thuốc tại nhà thuốc

1.2 Mã số: DHH 2017-04-69

1.3.Chủ nhiệm đề tài: TS.DS Võ Thị Hà

1.4 Cơ quan chủ trì: Trường ĐH Y Dược – Đại học Huế

1.5.Thời gian thực hiện: 01/2017 - 12/2018

2 Mục tiêu nghiên cứu:

1 Khảo sát tình hình tư vấn sử dụng thuốc tại một số nhà thuốc trên địa bàn Thành phố Huế

2 Xây dựng các công cụ tư vấn liên quan đến điều trị một số bệnh thông thường hay gặp tại nhà thuốc

3 Đánh giá hiệu quả của can thiệp nhằm nâng cao chất lượng tư vấn sử dụng thuốc không kê đơn tại một số nhà thuốc trên địa bàn thành phố Huế

- Tiến hành can thiệp bằng đào tạo trực tiếp với sự hỗ trợ của “Sổ tay tư vấn dành cho dược sĩ nhà thuốc” để nâng cao chất lượng tư vấn cho dược sĩ nhà thuốc, đồng

thời đánh giá hiệu quả của can thiệp này trên cả kiến thức và thực hành thực tế

Trang 10

4 Các kết quả nghiên cứu thu được

4.1 Về khảo sát tình hình tư vấn sử dụng thuốc tại 58 nhà thuốc trên địa bàn thành phố Huế bằng phỏng vấn từ tháng 2/2016 đến 7/2016, chúng tôi rút ra một số kết quả như sau:

- Số nhân viên trung bình là 2,79 ± 0,88 người/nhà thuốc Trong đó, số lượng dược

tá là đông nhất Có 55,2% các nhà thuốc có lượng khách hơn 50 khách/ngày

- Ho, đau đầu, và sốt là 3 triệu chứng bệnh phổ biến nhất, chiếm lần lượt 79,3%, 75,9%, và 70,7% Trong các bệnh hay gặp tại nhà thuốc thì tăng huyết áp, đái tháo đường và đau dạ dày là phổ biến nhất, chiếm lần lượt khoảng 94,1%, 67,6%, và

64,7%

- Bệnh nhân đến các nhà thuốc hay được tư vấn về liều dùng (82,8%) và thời điểm dùng thuốc (79,3%) Quá trình tư vấn sử dụng thuốc thường xuyên được thực hiện

trong gần ¾ số nhà thuốc được khảo sát

- Việc triển khai tư vấn tại các nhà thuốc thường gặp khó khăn do không có thời gian (53,4%), bệnh nhân không có nhu cầu (29,3%) và không có tài liệu hỗ trợ

- 67,2% nhà thuốc có nhu cầu sử dụng công cụ hỗ trợ dược sĩ tư vấn tại nhà thuốc

và 65,5% nhà thuốc sẵn sàng chi trả 50.000 Việt Nam đồng cho một cuốn sách hỗ

Trang 11

- 59,2% trường hợp tư vấn là do dược sĩ bán thuốc chủ động cung cấp, số còn lại

tư vấn do được khách hàng yêu cầu

- Triệu chứng bệnh, đối tượng dùng thuốc và độ tuổi là những thông tin được khai thác chủ yếu bởi dược sĩ trước khi bán thuốc Chủ yếu dược sĩ cung cấp cho khách hàng các thông tin về chỉ định (51,2%), liều dùng (52,4%), số lần dùng/khoảng cách dùng (61,0%) Việc kiểm tra mức độ hiểu của khách hàng, tổng kết điểm quan trọng cần ghi nhớ và thắc mắc của khách hàng ít được quan tâm, lần lượt với 20,1; 20,8 và 12,8%

- Đa số trường hợp tư vấn được thực hiện bởi dược sĩ cao đẳng (42,1%) và dược

sĩ trung học (37,2%)

- Thời gian tư vấn thường ngắn, thường không vượt quá 3 phút (64,0%) và hiếm khi dài hơn 5 phút (0,6%)

4.3 Về quá trình xây dựng và thẩm định công cụ hỗ trợ tư vấn sử dụng thuốc

Đã xây dựng và thẩm định thành công nội dung tư vấn 30 bệnh/ triệu chứng thường gặp tại nhà thuốc thuộc 6 chuyên khoa khác nhau: hô hấp (cảm lạnh, ho, sốt

ở trẻ em, viêm phế quản), tiêu hóa (khó tiêu, buồn nôn/nôn, táo bón, tiêu chảy, say tàu xe, trĩ), da liễu (viêm da, mụn trứng cá, loét miệng, vảy nến, gàu, sẹo da), phụ khoa (đau bụng kinh, rong kinh, nấm âm đạo, biện pháp tránh thai, biện pháp tránh thai khẩn cấp), tai mũi họng (viêm tai giữa, viêm mũi dị ứng, đau răng, nghẹt mũi, đau họng) và các bệnh khác (đau đầu, thoái hóa khớp, mất ngủ, chóng mặt)

4.4 Về đánh giá hiệu quả can thiệp nâng cao chất lượng tư vấn sử dụng thuốc không kê đơn tại các nhà thuốc trên địa bàn thành phố Huế:

Chúng tôi đã tổ chức thành công một buổi can thiệp giáo dục có thời lượng 3 tiếng 30 phút cho 38 dược sĩ nhà thuốc Trong buổi can thiệp giáo dục, nhóm nghiên cứu đã thực hiện đánh giá kiến thức của các dược sĩ tham gia, thu được kết quả:

- Có 84,2% dược sĩ tham gia buổi đào tạo là nữ, từ 20 – 40 tuổi với trình độ chuyên môn hầu hết là dược sĩ trung học (92,1%) Số nhân viên trung bình của mỗi nhà thuốc là 2,03 ± 0,60, trong đó chủ yếu là dược sĩ trung học

- Can thiệp giáo dục đã đem lại hiệu quả nâng cao kiến thức của các dược sĩ tham gia Tỷ lệ các câu trả lời đúng của các câu hỏi khảo sát kiến thức của dược sĩ nhà thuốc hầu hết đều tăng lên sau đào tạo Cụ thể, có sự tăng mạnh nhất là kiến thức về các lưu ý khi dùng thuốc kháng histamin H1 từ 15,8% đến 86,8%, các hoạt chất giảm đau hạ sốt OTC từ 21,1% đến 84,2% và nguyên nhân của cảm lạnh từ 39,5% đến 94,7% Các nội dung về tính dễ lây lan của cảm lạnh tăng từ 63,2% đến 97,4%,

Trang 12

triệu chứng điển hình của cảm lạnh tăng từ 36,8% đến 71,1% Số lượng các lời khuyên liên quan tư vấn các tình huống nên đến cơ sở khám chữa bệnh cũng tăng từ 1,89 ± 1,06 đến 4,97 ± 2,64

Sau can thiệp giáo dục, chúng tôi thực hiện đóng vai khách hàng mua thuốc điều trị cảm lạnh tại 30 nhà thuốc đã tham gia buổi can thiệp, trong đó 14 trường hợp mua thuốc cho người lớn và 16 trường hợp mua thuốc cho trẻ em Kết quả nghiên cứu thu được:

- Tất cả các nhà thuốc đều thực hiện tư vấn sử dụng thuốc cho người mua Hầu hết các nhà thuốc đều tiến hành hỏi người mua thuốc về đối tượng sử dụng, độ tuổi và các triệu chứng bệnh cụ thể (>80%) Các thông tin khác như thời gian mắc, tiền sử bệnh và thuốc, dị ứng thuốc chưa được khai thác đầy đủ

- 100% các trường hợp dược sĩ tư vấn về số lần dùng/khoảng cách dùng thuốc, thông tin được tư vấn nhiều thứ 2 là thời điểm dùng trong ngày và liều dùng (86,7%) Việc kiểm tra/tổng kết sau tư vấn còn ít được thực hiện

- Thời gian tư vấn tăng, gần 50% trường hợp tư vấn kéo dài từ 3 – 5 phút và 20% tư vấn kéo dài > 5 phút

- Các thuốc điều trị cảm lạnh được bán là: về thuốc OTC, nhóm thuốc giảm đau hạ sốt (paracetamol) được bán nhiều nhất ở 100% tình huống cảm lạnh ở người lớn và 87,5% ở trẻ em, thuốc kháng histamin H1 với 85,7% người lớn và 37,5% ở trẻ em, thuốc trị nghẹt mũi với 57,1 % ở người lớn và 12,5% ở trẻ em; về thuốc kê đơn, kháng sinh được bán khá phổ biến, với 100% trường hợp người lớn và 56,3% trường hợp trẻ em, thuốc trị ho (dextromethorphan) đứng thứ 2 với các tỷ lệ là 57,1% ở người lớn và 31,3% ở trẻ em và một số thuốc khác như corticoid đường uống, chymotrypsin, celecoxib, salbutamol Tất cả các thuốc kê đơn này được bán

mà không có đơn thuốc

5 Các sản phẩm của đề tài

5.1 Sản phẩm khoa học: 2 bài báo

1 Đoàn Quốc Dương, Võ Thị Hà Hoạt động tư vấn sử dụng thuốc tại 58 nhà thuốc tại thành phố Huế Tạp chí Y Dược học – Trường Đại học Y Dược Huế Tập 7(03) – tháng 6/2017;tr 75-80

2 Lê Thị Quỳnh, Võ Thị Hà Quan sát trực tiếp hoạt động tư vấn sử dụng thuốc không kê đơn tại các nhà thuốc ở thành phố Huế Tạp chí Y Dược học

5.2 Sản phẩm đào tạo: 2 luận văn tốt nghiệp đại học

1 Đoàn Quốc Dương Xây dựng và thẩm định các công cụ hỗ trợ dược sĩ tư vấn tại nhà thuốc Bảo vệ tốt nghiệp ngày 19/05/2017

Trang 13

2 Lê Thị Quỳnh Đánh giá chất lượng hoạt động tư vấn sử dụng thuốc không kê đơn tại nhà thuốc trên địa bàn thành phố Huế Bảo vệ tốt nghiệp ngày

19/05/2018

5.3 Sản phẩm ứng dụng:một cuốn sách “Sổ tay tư vấn dành cho dược sĩ nhà

thuốc”

5.4 Sản phẩm khác:2 poster tham gia hội nghị quốc tế, 2 bài dự thi Hội nghị

khoa học sinh viên – Trường ĐH Y Dược Huế

Hội nghị khoa học sinh viên

1 Đoàn Quốc Dương, Võ Thị Hà Hoạt động tư vấn sử dụng thuốc tại một số nhà thuốc trên địa bàn thành phố Huế Hội nghị khoa học sinh viên lần thứ 4 – Trường ĐH Y Dược Huế, ngày 06/05/2017

2 Lê Thị Quỳnh, Võ Thị Hà Quan sát trực tiếp hoạt động tư vấn sử dụng thuốc không kê đơn tại một số nhà thuốc trên địa bàn thành phố Huế Hội nghị khoa học sinh viên lần thứ 5 – Trường ĐH Y Dược Huế, ngày 12/05/2018

Hội nghị quốc tế

1 Doan Quoc Duong, Le Thi Quynh, Vo Thi Ha Counseling activities in

communitypharmacies at Hue, Vietnam The 17th ACCP Indonesia 2017 Yogyakarta, Indonesia on July 27-31, 2017 Poster

2 Le Thi Quynh, Vo Thi Ha Direct observation of drug counseling activities in community pharmacies in Hue city, Vietnam ISPOR 8th Asia-Pacific

Conference Tokyo, Japan on September 8-11, 2018 Poster (accepted)

6 Các đóng góp, khả năng ứng dụng vàphương thức chuyển giao kết quả

Trang 14

MINISTRY OF EDUCATION AND TRAINING

HUE UNIVERSITY

INFORMATION ON STUDY RESULTS RESEARCH PROJECT ASSIGNED BY HUE UNIVERSITY

1 General information of project

1.1 Project title: Development and evaluation of effectiveness of tools supporting counseling of drug use in community pharmacies

1 Characterize drug counseling in some community pharmacies in Hue city

2 Develop tools related counseling of some common diseases in community pharmacies

3 Assess the effectiveness of the intervention to improve the quality of counseling

on the use of OTC drugs in some community pharmacies in Hue city

3 Novelty and creativeness of the study:

- Simultaneous application of three methods: interviewing, direct observation and role playing in order to honestly examine the quality of counseling at community pharmacies

- For the first time, a study in Vietnam composed and evaluated the "Pocket handbook of counseling for community pharmacists" to advise on common symptoms/illnesses

Trang 15

- Implement a direct training intervention with the support of the pocket handbook

to improve the quality of counseling for community pharmacists and evaluate the effectiveness of this intervention on both knowledge and practice

4 Main study results:

4.1 Survey on the counseling of drug use in the 58 community pharmacies in Hue city by direct interview from February 2016 to July 2016, we drew some

results as follows:

- The average number of employees was 2.79 ± 0.88 per pharmacy Of them, the number of one-year pharmacists is the largest About 55.2% of pharmacies had over

50 customers per day

- Cough, headache, and fever were the three most common symptoms in community pharmacies with 79.3%, 75.9%, and 70.7%, respectively High blood pressure, diabetes and stomachaches were the most common diseases with 94.1%, 67.6%, and 64.7%, respectively

- Patients adviced on dosage (82.8%) and time of administration (79.3%) Drug counseling was often conducted in nearly three quarters of the surveyed pharmacies

- The implementation of counseling at pharmacies was difficult due to lack of time (53.4%), patients had no need (29.3%), and no supporting materials (29.3% )

- Approximately ¾ pharmacies had a five-year university pharmacist for counseling and nearly 53.5% have a 2-year secondary pharmacist for counseling

- Nearly half of all pharmacies had an average consultant time of more than 5 minutes About 97% of pharmacies needed tools supporting counseling

- About the requirements for the tool, accurate information accounted for nearly 87.9%, updating information accounted for 50.0%

- Approximately 38% of community pharmacies wanted to use the tool to support counseling in a form of books

- 67.2% of pharmacies needed to use tools supporting counseling in pharmacies and more than 65.5% of pharmacies was willing to pay 50,000 VND for buying the tool

4.2 About the characterization of counseling of OTC drugs at 21 community pharmacies in Hue city by direct observation during the period from August to September 2017, we recorded 269 cases of drug purchase, in which :

- 61.0% (164 cases) received counseling

Trang 16

- 59.2% was provided actively by pharmacists while others was requested by customers

- Symptoms, identification and age of users were the information mainly asked by pharmacists before selling drugs Most pharmacists provided information on indications (51.2%), dosage (52.4%), dose frequency/dose interval (61.0%) Checking the understanding of customers, summarizing important points to remember and asking whether customers have questions were less conducted

- The majority of counseling cases were conducted by 3-year college pharmacists (42.1%) and 2-year secondary pharmacists (37.2%)

- Counseling time was usually short, usually not exceeding 3 minutes (64.0%) and rarely longer than 5 minutes (0.6%)

4.3 About the process of developing and evaluating the tool for drug use counseling on common minor symptoms/diseases, we had:

- Successful development and evaluation of the content of management of 30 common minor symptoms / diseases at community pharmacies in 6 different specialties: respiratory (cold, cough, baby’s fever, bronchitis), digestive (indigestion, nausea/vomiting, constipation, diarrhea, motion sickness, hemorrhoids), dermalogical (dermatitis, acne vulgaris, mouth sores, psoriasis, dandruff, scars), gynecological (menopause, menopause, vaginal yeast, contraception, emergency contraception), otolaryngological (otitis media, allergic rhinitis, toothache, stuffy nose, sore throat) and other diseases (headache, osteoarthritis, insomnia, dizziness)

4.4 Assessing the effectiveness of interventions to improve the quality of counseling on the use of OTC drugs at community pharmacies in Hue city:

We successfully organized a 3-hour 30-minute educational intervention for 38 community pharmacists During the educational intervention section, the team conducted a survey to assess the knowledge of participating pharmacists, results as follows:

- About 84.2% of the pharmacists attending training sessions was female, from 20

to 40 years old with the most common professional level as 2-year secondary pharmacists The average number of pharmacists per pharmacy was 2.03 ± 0.60

- Educational intervention improved the knowledge of participating pharmacists The rate of correct answers increased substantially after training In particular, the greatest increase was in the knowledge of H1 antihistamins from 15.8% to 86.8%,

Trang 17

OTC antipyretics-analgesics from 21.1% to 84.2%, and causes of colds from 39.5%

to 94.7% The contagious profile of the common colds increased from 63.2% to 97.4%, typical symptoms of common colds increased from 36.8% to 71.1% The number of advices related to cases in which customers needed to visit the clinic also increased from 1.89 ± 1.06 to 4.97 ± 2.64

After the educational intervention, we played the role of customers buying cold medicine at 30 pharmacies that participated in the intervention, 14 of which were for adults and 16 were for children Results obtained as follows:

- All pharmacies provided drug counseling to buyers The pharmacists asked customers about the age, specific symptoms and symptoms (> 80%) Other information, such as duration of common cold, history of disease and medication, drug allergy, were not fully exploited

- 100% of pharmacists advised on dose frequency/dose interval, the second most consulted information was the time of administration and dose (86.7%) The counseling ending was rarely done

- Consultation time increased with 46.7% of counseling sessions lasting from 3 to 5 minutes and 20% counseling lasting > 5 minutes

- Cold medicines sold were: About OTC drugs, the antipyretics (paracetamol) was sold at all 100% cases in adults and 87.5% in children, H1 antihistamins at 85.7% in adults and 37.5% in children, nasal congestion at 57.1% in adults and 12.5% in children; About prescription drugs, antibiotics were widely sold at 100% in adults and 56.3% in children, dextromethorphan ranked in second with 57.1% of adults and 31.3% of children, and some other drugs such as oral corticosteroids, chymotrypsin, celecoxib, salbutamol All prescription drugs were sold without prescriptions

5 Project outputs

5.1 Publications: 2 articles

3 Doan Quoc Duong, Vo Thi Ha Counseling activities of drug use in 58

community pharmacies at Hue city.Journal of Medicine and Pharmacy

4 Le Thi Quynh, Vo Thi Ha Direct observation of counseling activities of OTC drug in community pharmacies at Hue city Journal of Medicine and Pharmacy (ceftificate of acceptance)

Trang 18

5.2 Training and education: 2 thesis of bachelor pharmacy students

3 Doan Quoc Duong Development and evaluation of tools supporting counseling

of community pharmacists Defense date 19/05/2017

4 Le Thi Quynh Evaluation of the effectiveness of quality of counseling of OTC drugs in community pharmacies at Hue city Defense date19/05/2018

5.3 Applied products: “Pocket handbook of counseling for community

pharmacists”

5.4 Others: 2 posters in international conferences, 2 oral presentations at

Scientific Conference for Students – Hue University of Medicine and Pharmacy

Local conferences

3 Doan Quoc Duong, Le Thi Quynh, Vo Thi Ha Counseling activities of drug use in some communitypharmacies at Hue Scientific Conference of Students

4th – Hue University of Medicine and Pharmacy, date 06/05/2017

4 Le Thi Quynh, Vo Thi Ha Direct observation of drug counseling activities

of OTC drug use in some community pharmacies in Hue city Scientific Conference of Students 5th – Hue University of Medicine and Pharmacy, date 12/05/2018

International conferences

3 Doan Quoc Duong, Le Thi Quynh, Vo Thi Ha Counseling activities in communitypharmacies at Hue, Vietnam The 17th ACCP Indonesia 2017 Yogyakarta, Indonesia on July 27-31, 2017 Poster

4 Le Thi Quynh, Vo Thi Ha Direct observation of drug counseling activities in community pharmacies in Hue city, Vietnam ISPOR 8th Asia-Pacific Conference Tokyo, Japan on September 8-11, 2018 Poster (accepted)

6 Contributions, application possibility and ways of transfer of study results

- Official publication of the book "Pocket handbook of counseling for community pharmacists" to support community pharmacists

- The content of each symptom/disease management could be transformed into live

or online training videos for community pharmacies

Trang 19

MỞ ĐẦU Đặt vấn đề

Đa phần người dân Việt Nam chưa có thói quen và điều kiện khám sức khỏe định kì mà thường tự điều trị tại nhà hoặc đến các nhà thuốc để được tư vấn dùng thuốc, bằng chứng là hơn 80% số người dân [39] sẽ trực tiếp tới các nhà thuốc khi

có vấn đề sức khỏe Do đó, nhà thuốc đóng vai trò quan trọng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe cho người dân trong cộng đồng Dược sĩ nhà thuốc có vai trò cung cấp cho người sử dụng các thuốc có chất lượng, đồng thời cung cấp thông tin, tư vấn sử dụng thuốc an toàn – hợp lý – hiệu quả, góp phần nâng cao sức khỏe của người dân tại cộng đồng và giảm tải cho hệ thống điều trị tại bệnh viện

Tại các nước phát triển trên thế giới như Mỹ, các nước Tây Âu hoạt động dược tại cộng đồng rất phát triển và chú trọng đến việc tư vấn sử dụng thuốc cho bệnh nhân Tuy nhiên hoạt động tư vấn sử dụng thuốc của dược sĩ nhà thuốc tại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, kể cả thuốc không kê đơn

Bên cạnh đó, tư vấn không được cung cấp thường quy cho cho tất cả bệnh nhân Tần suất tư vấn tại nhà thuốc thấp Một nghiên cứu đóng vai bệnh nhân mua thuốc prednisolon tại nhà thuốc ở Hà Nội cho thấy, dược sĩ đặt câu hỏi trong 41% trường hợp với 1,15 câu hỏi/bệnh nhân và khoảng 57% bệnh nhân nhận thông tin thuốc bằng miệng với trung bình 1,47 lời khuyên/bệnh nhân [48]

Chất lượng của tư vấn thực tế tại nhà thuốc khác nhau rất nhiều Một số nghiên cứu cho thấy tư vấn tại nhà thuốc có nhiều thiếu sót Một số nghiên cứu tại

Úc và nước khác cho thấy khi dược sĩ giành thời gian trao đổi, thảo luận với người mua thì chất lượng lời khuyên cũng như chất lượng quyết định đưa ra của dược sĩ nhà thuốc tốt hơn nhiều [39] Tại Việt Nam, dược sĩ thường bán thuốc kê đơn mà không cần đơn thuốc Chất lượng thông tin/kiến thức tư vấn kém Một nghiên cứu

về quản lý nhiễm khuẩn ở trẻ em tại nhà thuốc tư nhân cho thấy chỉ 36% được quản

lý theo hướng dẫn điều trị và nửa số kháng sinh được bán với liều không đủ [53] Năm 2011, Cục quản lý Dược Việt Nam đã ban hành nguyên tắc, tiêu chuẩn Thực hành nhà thuốc tốt (GPP) nhằm xây dựng một chuẩn mực thiết yếu cho hoạt động bán lẻ thuốc, trong đó có quy định rõ nhà thuốc phải tư vấn sử dụng thuốc cho bệnh nhân [1] Tuy đã có một số nghiên cứu về hoạt động tư vấn tại các nhà thuốc, nhưng các nghiên cứu nâng cao chất lượng tư vấn còn rất ít Nghiên cứu được thực hiện với mong muốn cung cấp minh chứng về tình hình hoạt động tư vấn sử dụng thuốc không kê đơn tại nhà thuốc, đồng thời xác định hiệu quả của biện pháp can thiệp cải thiện chất lượng có hiệu quả

Trang 20

Mục tiêu nghiên cứu

Vì vậy, nghiên cứu này được tiến hành với ba mục tiêu chính là:

1 Khảo sát tình hình tư vấn sử dụng thuốc tại một số nhà thuốc tại địa bàn

Thành phố Huế

2 Xây dựng các công cụ tư vấn liên quan đến điều trị một số bệnh thông

thường hay gặp tại nhà thuốc

3 Đánh giá hiệu quả của can thiệp nhằm nâng cao chất lượng tư vấn sử dụng

thuốc không kê đơn tại một số nhà thuốc trên địa bàn thành phố Huế

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: các dược sĩ thuộc các nhà thuốc trên địa bàn thành phố Huế

Phạm vi nghiên cứu: các hoạt động tư vấn sử dụng thuốc không kê đơn tại nhà

thuốc và các biện pháp đào tạo nhằm nâng cao chất lượng tư vấn

Tóm tắt tiến trình thực hiện đề tài

Bước 1: Khảo sát thực trạng tư vấn sử dụng thuốc tại các nhà thuốc trên địa

bàn thành phố Huế bằng 2 phương pháp: phỏng vấn và quan sát trực tiếp

Bước 2: Biên soạn công cụ hỗ trợ tư vấn “Sổ tay tư vấn dành cho dược sĩ nhà

thuốc”

Bước 3: Can thiệp để nâng cao chất lượng tư vấn bằng đào tạo trực tiếp dược

sĩ nhà thuốc và đánh giá hiệu quả thông qua kiểm tra kiến thức trước và sau đào tạo,

đồng thời kiểm tra thực hành thực tế thông qua phương pháp đóng vai tình huống

Trang 21

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tình hình chung về sử dụng thuốc trên thế giới và Việt Nam

1.1.1 Tình hình sử dụng thuốc trên thế giới

Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, ngành công nghiệp dược phẩm cũng có nhiều tiến bộ đáng kể với ngày càng nhiều mặt hàng thuốc xuất hiện trên thị trường cũng như việc người dân có thể tiếp cận dễ dàng các thuốc phòng và chữa bệnh theo nhu cầu Song song với điều đó, thì nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe do dùng thuốc không đúng, lạm dụng thuốc, sử dụng thuốc bừa bãi, cũng là một thách thức lớn cho ngành y tế các nước nói riêng và toàn thế giới nói chung

Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2011[69] về sử dụng thuốc cho thấy:

Sử dụng thuốc không hợp lý đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng toàn cầu dẫn đến sự lãng phí và gây hại cho người bệnh Ở các nước đang phát triển và các nước đang trong thời kì chuyển đổi, trong lĩnh vực chăm sóc ban đầu có ít hơn 40% bệnh nhân ở khu vực công và 30% bệnh nhân ở khu vực tư nhân được điều trị phù hợp với các hướng dẫn điều trị chuẩn Kháng sinh bị sử dụng sai và sử dụng quá mức ở tất cả các nơi trên thế giới Ở các nước đang phát triển và chuyển đổi, trong khi chỉ có 70% trường hợp viêm phổi được chỉ định kháng sinh thích hợp, thì một nửa số trường hợp nhiễm trùng cấp tính đường hô hấp trên do vius và tiêu chảy virus được sử dụng kháng sinh không hợp lý

Chỉ có khoảng 50% bệnh nhân tuân thủ điều trị trên thế giới, và tỷ lệ này thấp hơn ở các nước đang phát triển và chuyển tiếp, nơi có đến 50% số trường hợp biến

cố cấp phát thuốc không đầy đủ (về hướng dẫn bệnh nhân và ghi nhãn thuốc được cấp phát) Hậu quả tai hại của việc sử dụng thuốc không hợp lý bao gồm gia tăng biến cố bất lợi của thuốc, tăng nhanh đề kháng kháng sinh (do việc sử dụng quá mức kháng sinh), và sự lây lan các bệnh truyền nhiễm qua đường máu như HIV hay viêm gan virus B/C, những điều này làm trầm trọng thêm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cũng như tiêu tốn hàng tỷ đô la mỗi năm

Chưa đến một nửa số quốc gia trên thế giới đang thực hiện các chính sách cơ bản cần thiết để đảm bảo sử dụng hợp lý các loại thuốc như: giám sát sử dụng thuốc, cập nhật hướng dẫn điều trị và có trung tâm thông tin thuốc kê đơn, thuốc không kê đơn (OTC), tổ chức các hội đồng thuốc và điều trị tại hầu hết các bệnh viện và khu vực

1.1.2 Tình hình sử dụng thuốc tại Việt Nam

Ở Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khi có những bất thường về sức khỏe, phổ biến là những bệnh thông thường có 60 đến 85% người dân thường đến các điểm bán lẻ như quầy thuốc, nhà thuốc để tìm kiếm sự giúp đỡ và mua thuốc

Trang 22

điều trị trước khi đến với các loại hình dịch vụ y tế khác nếu không khỏi bệnh [16] Điều này dẫn đến tình hình sử dụng thuốc của Việt Nam ngày càng trở nên phức tạp, cơ sở bán lẻ thuốc đóng vai trò quan trọng đảm bảo cung ứng trực tiếp cho người dân các thuốc có chất lượng và cung cấp các lời khuyên sức khỏe cũng như hướng dẫn sử dụng thuốc, tránh hiện tượng sử dụng sai thuốc, lạm dụng thuốc, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người bệnh và gây nhiều hậu quả đáng tiếc về sau Theo kết quả khảo sát về việc bán thuốc kháng sinh ở các hiệu thuốc vùng nông thôn và thành thị các tỉnh phía Bắc cho thấy nhận thức về kháng sinh và kháng kháng sinh của người bán thuốc và người dân còn thấp đặc biệt ở vùng nông thôn Trong tổng số 2953 nhà thuốc được điều tra: có 499/2083 hiệu thuốc ở thành thị (chiếm tỷ lệ 24%) và 257/870 hiệu thuốc ở nông thôn (chiếm tỷ lệ 29,5%) có bán đơn thuốc kê kháng sinh Kháng sinh đóng góp 13,4% (ở thành thị) và 18,7% (ở nông thôn) trong tổng doanh thu của hiệu thuốc Phần lớn kháng sinh được bán mà không có đơn 88% (thành thị) và 91% (nông thôn) [3] Nhiều nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng có 70 – 80% thuốc kháng sinh được bán bởi các cơ sở bán lẻ thuốc mà không cần đơn của bác sĩ và tư vấn đưa ra rất ít [21] Điều này dẫn đến mức độ kháng kháng sinh ở Việt Nam ngày càng tăng lên và trở thành một vấn đề cực kỳ nghiêm trọng Theo thông báo của WHO: Việt Nam là một trong những nước có tình hình kháng kháng sinh cao nhất thế giới [3], [42]

Bên cạnh việc sử dụng kháng sinh tùy tiện và không đúng theo nguyên tắc sử dụng, việc sử dụng corticosteroid bừa bãi cũng xảy ra khá phổ biến ở Việt Nam gây nên nhiều vấn đề đáng lo ngại, do đây là một nhóm thuốc có nhiều tác dụng phụ, có thể để lại hậu quả nghiêm trọng cho bệnh nhân nếu sử dụng không đúng Một nghiên cứu thực hiện trên 50 nhà thuốc tư nhân tại tỉnh Bình Dương năm 2014 cho thấy 100% đồng ý bán thuốc corticosteroid cho khách hàng (KH) mà không cần đơn, trong

đó 28% số nhà thuốc không đưa ra bất kỳ lời hướng dẫn sử dụng nào cho KH và chỉ

có 6% số nhà thuốc quan tâm, lưu ý cho KH về tác dụng phụ của thuốc [7]

Như vậy trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề về sử dụng thuốc thiếu an toàn, hiệu quả, hợp lý trong cộng đồng Để cải thiện tình hình này, cần có nhiều biện pháp can thiệp đến từ cơ quan chức năng, trong đó

có vai trò không nhỏ của các cơ sở bán lẻ thuốc Các cơ sở bán lẻ thuốc cần chú trọng nâng cao kiến thức chuyên môn cũng như kỹ năng nghề nghiệp của dược sĩ bán thuốc, góp phần cải thiện và nâng cao tình hình sử dụng thuốc trong cộng đồng

1.2 Tư vấn sử dụng thuốc bởi dược sĩ tại nhà thuốc

1.2.1 Khái niệm nhà thuốc

Theo Liên đoàn dược phẩm quốc tế (FIP) [47]: nhà thuốc cộng đồng là khu vực hành nghề dược mà ở đó các loại thuốc và các sản phẩm liên quan được bán hay cung cấp trực tiếp cho cộng đồng từ một đại lý bán lẻ (hay thương mại khác)

Trang 23

được thiết kế chủ yếu cho mục đích cung cấp thuốc Việc bán hoặc cung cấp các loại thuốc có thể là theo yêu cầu hoặc theo đơn của bác sĩ (hoặc nhân viêc chăm sóc sức khỏe khác), hoặc không kê đơn OTC

Theo quy định của Luật Dược số 105/2016/QH13 ban hành ngày 06/4/2016[25] thì ở Việt Nam hiện nay có các loại cơ sở bán lẻ gồm: Nhà thuốc, quầy thuốc,

tủ thuốc của trạm y tế xã và cơ sở bán lẻ thuốc đông y, thuốc từ dược liệu

Bộ Y tế quy định các nhà thuốc phải đạt các nguyên tắc, tiêu chuẩn “Thực hành tốt nhà thuốc” (GPP) [1]

1.2.2 Vai trò của người dược sĩ tại nhà thuốc

Vai trò của người dược sĩ tại nhà thuốc được thể hiện thông qua hình ảnh dược

sĩ cộng đồng Theo WHO [76], người dược sĩ nhà thuốc không những là người cung ứng thuốc có chất lượng cho cộng đồng mà còn là người giao tiếp và người giáo dục sức khỏe Bởi người dược sĩ là điểm tiếp cận đầu tiên của người bệnh, dược sĩ

nên khuyên bệnh nhân không nên dùng thuốc nếu chưa cần thiết Người dược sĩ phải biết lắng nghe khách hàng và đặt câu hỏi phù hợp để khai thác thông tin Cung cấp thông tin về thuốc cho khách hàng và tư vấn cách điều trị thích hợp

Hình ảnh hiện tại về dược sĩ nhà thuốc tại Việt Nam còn nặng về người cung ứng thuốc Để có thể chuyển đổi hình ảnh dược sĩ nhà thuốc sang người giao tiếp hay người giáo dục sức khỏe cho cộng đồng, đòi hỏi nhiều thay đổi hệ thống từ chương

trình đào tạo dược sĩ, quy định về hành nghề nhà thuốc và các phương pháp thích hợp làm thay đổi quan niệm của cộng đồng về vai trò của dược sĩ nhà thuốc [68]

1.2.3 Khái niệm và nguyên tắc “Thực hành tốt nhà thuốc” (GPP)

"Thực hành tốt nhà thuốc" (Good Pharmacy Practice, viết tắt: GPP) là văn bản đưa ra các nguyên tắc, tiêu chuẩn cơ bản trong thực hành nghề nghiệp tại nhà thuốc của dược sĩ và nhân sự dược trên cơ sở tự nguyện tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức

và chuyên môn ở mức cao hơn những yêu cầu pháp lý tối thiểu

Khi xây dựng một nhà thuốc đạt chứng nhận “Thực hành tốt nhà thuốc - GPP”

phải đảm bảo thực hiện các nguyên tắc chính sau:

 Đặt lợi ích của người bệnh và sức khoẻ của cộng đồng lên trên hết

 Cung cấp thuốc đảm bảo chất lượng kèm theo thông tin về thuốc, tư vấn

thích hợp cho người sử dụng và theo dõi việc sử dụng thuốc của họ

 Tham gia vào hoạt động tự điều trị, bao gồm cung cấp thuốc và tư vấn dùng

thuốc, tự điều trị triệu chứng của các bệnh đơn giản

 Góp phần đẩy mạnh việc kê đơn phù hợp, kinh tế và việc sử dụng thuốc an

toàn, hợp lý, có hiệu quả [2]

Trang 24

1.2.4 Một số tiêu chuẩn và yêu cầu chính của GPP Việt Nam liên quan đến

hoạt động tư vấn sử dụng thuốc

1.2.4.1 Về các bước cơ bản trong hoạt động bán thuốc

- Người bán lẻ hỏi người mua những câu hỏi liên quan đến bệnh, đến thuốc mà

người mua yêu cầu

- Người bán lẻ tư vấn cho người mua về lựa chọn thuốc, cách dùng thuốc, hướng dẫn cách sử dụng thuốc bằng lời nói Trường hợp không có đơn thuốc kèm theo, người bán lẻ phải hướng dẫn sử dụng thuốc thêm bằng cách viết tay hoặc đánh

máy, in gắn lên đồ bao gói

- Người bán lẻ cung cấp các thuốc phù hợp, kiểm tra, đối chiếu thuốc bán ra về

nhãn thuốc, cảm quan về chất lượng, số lượng, chủng loại thuốc [2]

1.2.4.2 Về tư vấn cho người mua

- Người mua thuốc cần nhận được sự tư vấn đúng đắn, đảm bảo hiệu quả điều

trị và phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng

- Người bán lẻ phải xác định rõ trường hợp nào cần có tư vấn của người có chuyên môn phù hợp với loại thuốc cung cấp để tư vấn cho người mua thông tin về

thuốc, giá cả và lựa chọn các thuốc không cần kê đơn

- Đối với người bệnh đòi hỏi phải có chẩn đoán của thầy thuốc mới có thể dùng thuốc, người bán lẻ cần tư vấn để bệnh nhân tới khám thầy thuốc chuyên khoa

thích hợp hoặc bác sĩ điều trị

- Đối với những người mua thuốc chưa cần thiết phải dùng thuốc, nhân viên bán

thuốc cần giải thích rõ cho họ hiểu và tự chăm sóc, tự theo dõi triệu chứng bệnh [2] 1.2.5 Các loại tư vấn sử dụng thuốc

1.2.5.1 Tư vấn thuốc theo đơn

Dược sĩ dựa theo đơn thuốc của bác sĩ kê và khai thác thêm các thông tin của bệnh nhân để xác định các vấn đề trong đơn thuốc (nếu có) và trao đổi với bác sĩ hay bệnh nhân để giải quyết [5] Nếu dược sĩ không phát hiện bất kì vấn đề gì thì có thể bán thuốc theo đơn cho bệnh nhân đồng thời tư vấn cách sử dụng từng loại thuốc trong đơn Kĩ thuật tư vấn thuốc theo đơn đòi hỏi sự tương tác giữa dược sĩ (DS) và bệnh nhân (BN) chứ không đơn thuần chỉ là sự truyền tải thông tin một chiều DS thu thập các thông tin thiết yếu về BN và từ đó điều chỉnh cách tư vấn cho thích hợp Kĩ thuật này khuyến khích BN tham gia tích cực vào quá trình tư vấn Và DS nhanh chóng xác định những thông tin gì BN đã biết (thông qua các cán bộ y tế (CBYT) khác) và chỉ tập trung vào các thông tin mà BN chưa biết Điều chỉnh thông tin tư vấn cho phù hợp với mục đích của từng BN Trong một số trường hợp, việc nhắc lại các thông tin do các CBYT khác truyền tải cho BN giúp tăng sự tuân thủ điều trị của BN [34]

Trang 25

1.2.5.2 Tư vấn thuốc không cần kê đơn

Thuốc không kê đơn (OTC) là thuốc bệnh nhân có thể mua mà không cần đơn thuốc của bác sĩ Thuốc OTC là các thuốc có độc tính thấp, trong quá trình bảo quản

và khi vào trong cơ thể người không tạo ra các sản phẩm phân hủy có độc tính, không có những phản ứng có hại nghiêm trọng đã được biết hoặc được Tổ chức Y

tế thế giới, cơ quan quản lý có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài khuyến cáo có phản ứng có hại dẫn đến một trong những hậu quả sau đây:

- Tử vong

- Đe dọa tính mạng

- Buộc người bệnh phải nhập viện để điều trị hoặc kéo dài thời gian nằm viện của người bệnh

- Để lại di chứng nặng nề hoặc vĩnh viễn cho người bệnh

- Gây dị tật bẩm sinh ở thai nhi

- Bất kỳ phản ứng có hại khác gây hậu quả nghiêm trọng về mặt lâm sàng cho người bệnh do người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh đánh giá, nhận định

Thuốc OTC có phạm vi liều dùng rộng, an toàn cho các nhóm tuổi, ít có ảnh hưởng đến việc chẩn đoán và điều trị các bệnh cần theo dõi lâm sàng Thuốc được chỉ định trong điều trị các bệnh không phải là bệnh nghiêm trọng và người bệnh có thể tự điều trị Đường dùng, dạng thuốc đơn giản mà người sử dụng có thể tự dùng (chủ yếu là đường uống, dùng ngoài da) với hàm lượng, nồng độ thích hợp cho việc

tự điều trị Thuốc ít tương tác với các thuốc khác và thức ăn, đồ uống thông dụng, ít

có khả năng gây tình trạng lệ thuộc thuốc và nguy cơ lạm dụng thuốc [4]

Đối với trường hợp BN mua thuốc OTC, DS cần đặt các câu hỏi thích hợp để khai thác một cách hệ thống các thông tin về bệnh, thuốc của bệnh nhân để từ đó quyết định là nên khuyên BN đi khám bác sĩ hay cùng thảo luận với BN chọn thuốc OTC thích hợp Nên mở đầu bằng các câu hỏi mở để thu thập được đầy đủ thông tin, rồi sau đó có thể tiến hành các câu hỏi đóng để thu thập các thông tin cụ thể, chính xác DS tư vấn cụ thể cách sử dụng thuốc OTC, thường đưa thêm các lời khuyên về chế độ ăn, luyện tập, vệ sinh [72]

Tháng 5/2017 Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 07/2017/TT – BYT về Danh mục thuốc không kê đơn mới, thay thế thông tư 23/2014/TT – BYT, gồm 243 hoạt chất thuốc hóa dược và sinh phẩm và các loại thuốc cổ truyền và dược liệu [4] Theo đó, đối với tiêu chí lựa chọn thuốc vào danh mục ngoài việc dựa trên nguyên tắc mới là bảo đảm việc tiếp cận thuốc kịp thời cho người dân thì còn bổ sung một số tiêu chí

so với trước đây, như:

- Thuốc ít có nguy cơ bị lạm dụng, sử dụng sai mục đích làm ảnh hưởng đến

sự an toàn của người sử dụng

- Thuốc đã có thời gian lưu hành tại Việt Nam tối thiểu từ 05 năm trở lên

Trang 26

Danh mục mới có sự thay đổi và điều chỉnh chỉ định, liều dùng một số thuốc

và loại bỏ khỏi danh mục các thuốc không còn phù hợp

1.2.6 Các bước tư vấn sử dụng thuốc

1.2.6.1 Thiết lập mối quan hệ với bệnh nhân

Giới thiệu bản thân với BN, giải thích mục đích và thời gian buổi tư vấn, hỏi

sự chấp thuận tham gia tư vấn của bệnh nhân, xác định các xưng hô hay ngôn ngữ lựa chọn

1.2.6.2 Thu thập thông tin từ bệnh nhân

Thu thập, đánh giá kiến thức của bệnh nhân về vấn đề sức khỏe và các thuốc

sử dụng, khả năng thể chất và nhận thức của bệnh nhân để sử dụng thuốc hợp lý, đặt câu hỏi mở về mục đích điều trị của mỗi thuốc, bệnh nhân mong đợi điều gì và yêu cầu bệnh nhân miêu tả hay biểu diễn lại cách bệnh nhân sẽ sử dụng thuốc

1.2.6.3 Cung cấp thông tin cho bệnh nhân

Cung cấp thông tin bằng lời và dùng các công cụ trực quan hỗ trợ hoặc biểu diễn

để cung cấp thông tin cho BN, cung cấp thêm bằng các tài liệu viết để giúp BN lưu giữ

thông tin, biểu diễn cách dùng các thiết bị dùng thuốc như bình xịt mũi, miệng

Các thông tin về thuốc cần cung cấp cho bệnh nhân:

 Tên thuốc: có thể là tên biệt dược hoặc tên hoạt chất, hoặc tên thường gọi khác của thuốc, có thể cho bệnh nhân biết về phân nhóm điều trị hoặc hiệu quả của

thuốc khi thích hợp

 Chỉ định của thuốc hay mục đích sử dụng thuốc, tác dụng mong đợi của thuốc Bao gồm các thông tin như thuốc điều trị bệnh, thuốc điều trị triệu chứng,

thuốc làm ngừng hoặc làm chậm tiến triển bệnh, hoặc dự phòng bệnh/triệu chứng

 Thời điểm thuốc bắt đầu có tác dụng và cần làm gì khi thuốc không phát

huy tác dụng

 Các thông tin về đường dùng, dạng dùng, liều dùng và lịch dùng thuốc

 Các chỉ dẫn khi chuẩn bị dùng thuốc hoặc dùng thuốc, có thể điều chỉnh để

phù hợp với lối sống hay môi trường làm việc của bệnh nhân

 Hướng dẫn xử lý khi bệnh nhân quên dùng thuốc

 Các sự phòng ngừa cần theo dõi trong suốt quá trình dùng thuốc và những nguy cơ của thuốc liên quan đến lợi ích Ví dụ đối với thuốc tiêm và các thiết bị

dùng thuốc, cần chú ý đến vấn đề dị ứng latex

 Các tác dụng không mong muốn nghiêm trọng hoặc thường gặp, các việc

làm để phòng ngừa hoặc giảm thiểu chúng và cách xử lý khi chúng xảy ra

 Kỹ thuật tự theo dõi quá trình điều trị bằng thuốc

 Các tương tác thuốc – thuốc, thuốc – thức ăn và thuốc – bệnh tiềm năng,

cũng như chống chỉ định của thuốc

 Bảo quản thuốc đúng cách

Trang 27

 Xử lý thuốc hỏng, ngưng thuốc đúng cách và cách dùng các dạng thuốc đặc

biệt hoặc các thiết bị dùng thuốc

 Bất cứ thông tin nào khác mang tính cá thể hóa dành cho bệnh nhân

1.2.6.4 Kết thúc tư vấn

Kiểm tra lại kiến thức của BN về sử dụng thuốc, kỹ năng dùng thuốc của BN

Có thể yêu cầu bệnh nhân trả lời lại các thông tin đã tư vấn hoặc mô tả lại cách dùng thuốc Tổng kết lại các thông tin đã tư vấn, hỏi bệnh nhân liệu bệnh nhân có còn thắc mắc hay câu hỏi gì khác liên quan đến thuốc, bệnh hoặc điều trị bằng thuốc [31],

[34]

1.3 Thực trạng tư vấn sử dụng thuốc

1.3.1 Trên thế giới

Thực trạng tư vấn sử dụng thuốc trên các nước trên thế giới còn chưa khả quan:

Theo một nghiên cứu tại Ả Rập Xê Út (2015) [33] khi thực hiện phỏng vấn trực tiếp 350 nhà thuốc thì 66,3% các nhà thuốc trả lời rằng thường hay tư vấn cho bệnh nhân về mục đích các loại thuốc Nhưng khi thực hiện đóng vai khách hàng bởi 4 sinh viên dược đã qua đào tạo, để kiểm tra tình trạng tư vấn tại 161 nhà thuốc thì kết quả không khả quan vì chỉ 4,6% nhà thuốc cung cấp tư vấn cho khách hàng

và khi được yêu cầu tư vấn thì cũng chỉ 43,3% nhà thuốc cung cấp tư vấn trong 161

nhà thuốc

Tại Đức (2003) [37], một nghiên cứu đóng vai khách hàng được thực hiện ở

49 nhà thuốc cho thấy rằng 98% các nhà thuốc có cung cấp tư vấn cho các khách hàng Tuy nhiên, trong đó thì 36% các nhà thuốc chỉ tư vấn khi được khách hàng yêu cầu Kết quả tương tự cũng được thấy ở các nghiên cứu khác tại Anh (2017)

[63] và tại Úc (2007) [60]

1.3.2 Tại Việt Nam

Thực trạng tư vấn sử dụng thuốc tại nước ta còn là một vấn đề đáng lo ngại Theo Smith (2009), các nhà thuốc ở các nước chậm và đang phát triển, bao gồm cả Việt Nam chưa cung ứng thuốc có hiệu quả và hỗ trợ cho khách hàng sử dụng thuốc

hợp lý, an toàn, đặc biệt trong việc đưa ra lời khuyên [62]

Năm 2009, tác giả Phạm Thanh Phương [22] đã sử dụng phương pháp quan sát trực tiếp tại nhà thuốc và đóng vai trò khách hàng để khảo sát thực trạng hoạt động của các nhà thuốc GPP trên địa bàn Hà Nội cho thấy rằng việc tư vấn cho bệnh nhân sử dụng thuốc còn chưa tốt, các câu hỏi và lời khuyên đưa ra chưa phù hợp Kết quả tương tự cũng được thấy ở các nghiên cứu khác tại Hà Nội (2009)

[12], và Thanh Hóa (2012) [6]

Không chỉ về mặt kỹ năng tư vấn, dược sĩ bán thuốc cũng thiếu cả những kiến thức chuyên môn cần thiết trong thực hành, theo một nghiên cứu được thực hiện năm 2015 tại Đà Nẵng [18], chỉ có 5% DSNT trao đổi với BN bị tiêu chảy về dấu

Trang 28

hiệu mất nước, 2% giới thiệu họ đến cơ sở y tế, không có tư vấn nào về cách phòng tránh; 2% DSNT trao đổi với KH về ADR của thuốc tránh thai khẩn cấp và chỉ 7%

trong số họ khuyên KH sử dụng biện pháp tránh thai thường xuyên để thay thế 1.4 Phương pháp nghiên cứu đánh giá chất lượng tư vấn tại nhà thuốc

Chất lượng hoạt động tư vấn sử dụng thuốc tại nhà thuốc là vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm tại nhiều nước trên thế giới và cả Việt Nam Nhằm đánh giá chất lượng tư vấn đưa ra bởi dược sĩ nhà thuốc, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành bằng nhiều phương pháp nghiên cứu đa dạng

1.4.1 Phương pháp phỏng vấn

Phương pháp phỏng vấn là phương pháp điều tra được thực hiện bằng cách phỏng vấn đối tượng được chọn, dựa theo bảng câu hỏi mẫu hoặc phiếu điều tra mẫu được xây dựng sẵn Phương pháp phỏng vấn cho phép người nghiên cứu có thể linh hoạt thay đổi câu hỏi cho phù hợp với đối tượng phỏng vấn mà vẫn giữ nguyên được nội dung và mục đích nghiên cứu Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là không thể đảm bảo tính trung thực trong câu trả lời của đối tượng phỏng vấn

Có nhiều nghiên cứu đã được tiến hành bằng phương pháp phỏng vấn, đối tượng phỏng vấn có thể là khách hàng [11], [46] hoặc nhân viên nhà thuốc (NVNT) [11], [10], [28]

1.4.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu

Phương pháp điều tra bằng phiếu là phương pháp thu thập dữ liệu dựa trên bảng câu hỏi được thiết kế bởi người nghiên cứu và nhận lại câu trả lời từ đối tượng điều tra Để thu thập các thông tin chính xác qua phương pháp này, cần nêu ra các câu hỏi và suy nghĩ chính xác về vấn đề muốn nghiên cứu trước khi hoàn thành thiết kế bảng câu hỏi, đồng thời bảng câu hỏi phải được thiết kế sao cho các đối tượng đều hiểu như nhau vì khi điều tra không có sự thay đổi hay bổ sung như đối với phương pháp phỏng vấn Hạn chế của phương pháp này là câu trả lời có thể không trung thực do người trả lời có xu hướng trả lời theo mong muốn của người nghiên cứu hơn là trả lời đúng thực tế

1.4.3 Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát là phương pháp thu thập dữ liệu bằng cách sử dụng con người hoặc máy móc ghi lại các hiện tượng, hành vi của đối tượng nghiên cứu trong khu vực nghiên cứu Phương pháp quan sát cho phép thu thập các thông tin chính xác và đáng tin cậy hơn so với các phương pháp phụ thuộc vào câu trả lời của đối tượng nghiên cứu (phương pháp điều tra) [44] Phương pháp quan sát có thể được phân loại gồm quan sát can thiệp và quan sát không can thiệp Phần lớn các nghiên cứu thực hiện tại nhà thuốc được thực hiện bằng phương pháp quan sát không can thiệp [61] Nghiên cứu quan sát có ưu điểm là

Trang 29

giữ được tính khách quan của sự việc trong quá trình nghiên cứu, tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này là người quan sát đóng vai trò thụ động, phải chờ đợi các hiện tượng diễn ra, khó khăn trong việc đánh giá sự tồn tại của những điều kiện nảy sinh các hiện tượng, sự kiện và do đó khó tách các mối liên

hệ nhân quả

Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu được tiến hành bằng phương pháp

quan sát Các nghiên cứu này được trình bày tóm tắt tại Bảng 1.1

1.4.4 Phương pháp đóng vai

Đóng vai là phương pháp nghiên cứu được thực hiện bằng cách người đóng vai (NĐV) tiếp cận đối tượng nghiên cứu và thực hiện đóng vai theo kịch bản có sẵn NĐV phải được tập huấn về kịch bản, các kỹ năng đóng vai, thu thập dữ liệu thông qua quan sát và tương tác với đối tượng nghiên cứu Trong quá trình đóng vai, đối tượng nghiên cứu không được biết về hoạt động của NĐV

Phương pháp đóng vai được sử dụng để đánh giá chất lượng tư vấn tại nhà thuốc trong nghiên cứu được thực hiện tại Đức [37] Phương pháp này cũng đã được sử dụng trong nghiên cứu nhằm đánh giá kỹ năng thực hành và kiến thức của dược sĩ nhà thuốc, và hiệu quả của can thiệp giáo dục về tư vấn sử dụng thuốc OTC [35]

Các nghiên cứu được thực hiện bằng hình thức đóng vai với nhiều kịch bản đa dạng (mua thuốc cụ thể, mô tả bệnh/triệu chứng, mua thuốc kê đơn/không kê đơn như: thuốc đau đầu, antacid, ) cho kết quả rằng nội dung và hình thức tư vấn của người bán thuốc khi khách hàng mô tả bệnh/triệu chứng cao hơn rõ ràng so với tình huống KH mua thuốc cụ thể [37], [40], [45], [49], [64]

Tại Việt Nam, các nghiên cứu đóng vai đã được tiến hành trên nhiều địa phương trên cả nước (Quảng Ninh, Thanh Hóa, Hà Nội, Bình Dương, Nghệ An, ) Bảng tóm tắt các nghiên cứu đánh giá chất lượng tư vấn nhà thuốc được trình

bày tại Bảng 1 1

Trang 30

Bảng 1.1 Bảng tóm tắt các nghiên cứu đánh giá chất lượng tư vấn tại nhà thuốc tại Việt Nam

Tác giả, năm, địa

phương Phương pháp

Mẫu nghiên cứu

% không hỏi gì KH

% hỏi về đối tượng

sử dụng

% hỏi về triệu chứng

% không

tư vấn

% tư vấn

về liều, số lần dùng

% tư vấn thời điểm dùng

% tư vấn ADR

Nguyễn Văn Phương,

Nguyễn Minh Tâm,

Bùi Hồng Thủy, 2014,

Đinh Thu Trang, 2012,

Trang 31

1.5 Phương pháp nâng cao chất lượng tư vấn tại nhà thuốc

1.5.1 Phản hồi ngay lập tức

Phương pháp can thiệp bằng phản hồi ngay lập tức (immediate feedback) là đưa ra lời nhận xét, cung cấp thông tin chuẩn và điều chỉnh nội dung tư vấn sử dụng thuốc một cách trực tiếp và tức thời với dược sĩ tư vấn Việc phản hồi được thực hiện bởi dược sĩ giáo dục theo cách thức phản hồi không đối đầu Phương pháp này được giới thiệu trong nghiên cứu tại Úc năm 2003 để cải thiện chất lượng tư vấn thuốc OTC tại nhà thuốc, và cho thấy phản hồi ngay lập tức từ các dược sĩ cho các NVNT đã có hiệu quả trong việc thay đổi thực hành bán thuốc và tư vấn sử dụng thuốc [51] Thông tin phản hồi trực tiếp không bao gồm những lời chỉ trích, các dược sĩ tập trung nhận xét những khía cạnh tích cực song song với xác định những nội dung cần cải thiện Những phản hồi này được đưa ra sau khi NVNT tiến hành tự đánh giá chất lượng tư vấn của mình, mục đích là để tăng sự tự tin vào kĩ năng của bản thân NVNT và cung cấp hỗ trợ cho việc cải thiện kĩ năng tư vấn cá nhân và do

Tại Pháp, nhà xuất bản “Le Moniteur des Pharmacies” chuyên xuất bản các tạp chí, sách giành riêng cho thực hành dược tại nhà thuốc Trong đó, tạp chí “Le Moniteur des Pharmacies” xuất bản một số mỗi tháng về một chủ đề bệnh lý/thuốc

cụ thể như tăng huyết áp, viêm mũi dị ứng Đặc biệt, nhà xuất bản này đã xuất bản hơn 35 quyển sách tư vấn sử dụng thuốc khác nhau tại nhà thuốc như: “Sổ tay bỏ túi

tư vấn tại nhà thuốc”, “Tư vấn nhi khoa tại nhà thuốc”, “Cấp cứu tại nhà thuốc”,

“Thực phẩm bổ sung: những điểm tư vấn quan trọng tại nhà thuốc”, “Tư vấn ung thư”, “Tư vấn cho phụ nữ cho con bú tại nhà thuốc”…

Tại Anh, một trong những protocol được dùng rộng rãi nhất để hướng dẫn đội ngũ dược trong việc đặt câu hỏi và đưa ra lời khuyên cũng như bán thuốc tại nhà thuốc [38] là cuốn tài liệu “Symptoms in the Pharmacy A guide to the management

of common illnesses” [31]

Trang 32

1.5.2.2 Tại Việt Nam

Tại nước ta, các công cụ hỗ trợ tư vấn sử dụng thuốc cho dược sĩ nhà thuốc còn khá hạn chế Hiện chỉ có quyển “Cẩm nang nhà thuốc thực hành năm 2016, 2017-MIMS Pharmacy Việt Nam” là tài liệu được dùng như công cụ để phục vụ tư vấn nhiều bệnh lý thông dụng hàng ngày tại nhà thuốc Ưu điểm của sách này: có các sơ đồ triệu chứng, nguyên nhân, tiến triển bệnh, cách điều trị, dùng thuốc gì hiệu quả, nguyên tắc bán thuốc và lời khuyên cho Nhà thuốc - bệnh nhân,… đều được trình bày chi tiết, hấp dẫn và cập nhật hàng năm theo những nghiên cứu y học mới nhất.Tuy nhiên, nhược điểm của MIMS là (1) đề cập nhiều hoạt chất mà biệt dược lại không có hoặc không phổ biến tại Việt Nam, (2) việc tổ chức biên soạn MIMS do các hãng dược tài trợ nên không khỏi không đặt nghi vấn về tính khách quan – không thiện vị trong các biệt dược được giới thiệu, (3) thiếu các thông tin tư vấn về các phương pháp điều trị “dân gian” cho các triệu chứng/bệnh thông thường

Vì vậy, việc biên soạn một công cụ thích hợp nhằm hỗ trợ việc tư vấn của dược sĩ tại các nhà thuốc tại nước ta là một việc cần thiết

1.5.3 Can thiệp giáo dục

Can thiệp giáo dục là bất kỳ can thiệp nào được thực hiện trong môi trường giáo dục hoặc nhằm mục đích giáo dục, can thiệp giáo dục được thiết kế để tạo ra những thay đổi hoặc cải thiện hành vi và kiến thức Can thiệp giáo dục có thể tổ chức dưới dạng đào tạo, tập huấn lý thuyết; tập huấn kĩ năng và tổ chức chiến dịch thông qua tờ rơi, tờ giới thiệu

Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm đánh giá tình hình tư vấn sử dụng thuốc tại nhà thuốc, tuy nhiên, các nghiên cứu nhằm mục đích can thiệp nâng cao chất lượng tư vấn vẫn còn rất ít Can thiệp giáo dục là phương pháp can thiệp được chọn lựa trong một nghiên cứu đa can thiệp cải thiện thực hành tại các nhà thuốc tư nhân Hà Nội của tác giả Nguyễn Thị Kim Chúc [52], kết quả nghiên cứu cho thấy có sự cải thiện rõ rệt trong thực hành của các nhà thuốc nhận can thiệp so với nhóm chứng Phương pháp can thiệp giáo dục cũng cho thấy hiệu quả nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành quản lý tiêu chảy ở trẻ em tại các nhà thuốc trên địa bàn các tỉnh Thái Nguyên, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Vĩnh Long [55]

Nghiên cứu của chúng tôi lựa chọn phương pháp phỏng vấn và quan sát trực tiếp để đánh giá tình hình tư vấn sử dụng thuốc OTC tại các nhà thuốc trên địa bàn thành phố Huế, sau đó tiến hành can thiệp nâng cao chất lượng tư vấn bằng phương pháp can thiệp giáo dục và sử dụng công cụ hỗ trợ Cuối cùng, chúng tôi tiến hành đánh giá sau can thiệp kiến thức của dược sĩ tham gia thông qua phiếu đánh giá và đánh giá kĩ năng bằng phương pháp đóng vai

Trang 33

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu 1: Khảo sát tình hình tư vấn sử dụng thuốc tại một số nhà thuốc trên

địa bàn thành phố Huế

Mục tiêu 1.1: Khảo sát tình hình tư vấn sử dụng thuốc tại một số nhà thuốc

trên địa bàn thành phố Huế bằng phương pháp phỏng vấn

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: dược sĩ tại các nhà thuốc trên địa bàn thành phố Huế

- Cỡ mẫu: 100

- Cách chọn mẫu: dược sĩ tại các nhà thuốc được lựa chọn một cách thuận tiện trên địa bàn thành phố Huế Một thành viên của nhóm nghiên cứu sẽ dựa trên bản đồ của thành phố Huế để đi theo các con đường khác nhau bao quát thành phố Huế để thực hiện khảo sát

- Tiêu chuẩn lựa chọn:

+ Dược sĩ làm việc tại các nhà thuốc tại thành phố Huế

+ Phiếu khảo sát được điền đầy đủ các thông tin

+ Phiếu khảo sát được điền bởi nhân viên bán thuốc có trình độ cao nhất tại thời điểm tiếp xúc với nhà thuốc

- Tiêu chuẩn loại trừ:

+ Dược sĩ làm việc tại nhà thuốc nằm trong khuôn viên bệnh viện do chủ yếu bán các thuốc kê đơn từ bệnh viện

+ Dược sĩ làm việc tại các nhà thuốc trong cùng một chuỗi nhà thuốc

2.1.2 Phương pháp nghiên cứu

a Thiết kế nghiên cứu:Nghiên cứu khảo sát, mô tả cắt ngang, không can thiệp

b Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian: khảo sát được tiến hành từ tháng 2/2016 đến tháng 7/2016

Địa điểm: các nhà thuốc thuộc địa bàn thành phố Huế

c Các biến của khảo sát

- Thông tin người điền phiếu: Giới tính, Tuổi, Số năm kinh nghiệm hành nghề, Trình độ chuyên môn

Trang 34

- Thông tin về nhà thuốc: Số nhân viên, Trình độ nhân viên, Số khách hàng hằng ngày

- Đặc điểm các bệnh hay gặp tại nhà thuốc: Triệu chứng bệnh hay gặp, Bệnh hay gặp

- Thông tin về đặc điểm tư vấn tại nhà thuốc: Chủ đề tư vấn hay gặp, Mức độ thường xuyên của tư vấn, Khó khăn khi tư vấn, Người thực hiện tư vấn, Thời gian trung bình của tư vấn

- Mong muốn của nhân viên với công cụ hỗ trợ tư vấn: Mức độ cần thiết của công

cụ, Các yêu cầu quan trọng của công cụ, Hình thức công cụ, Người bán thuốc có mong muốn sử dụng công cụ không, Giá của công cụ

- Giải pháp, ý kiến nhằm nâng cao chất lượng tư vấn

d Các bước tiến hành nghiên cứu

- Bước 1: Xác định mục tiêu của khảo sát

- Bước 2: Xây dựng danh mục các biến cần thu thập của “Phiếu khảo sát phỏng vấn (PKSPV)” (Phụ lục 1)

- Bước 3: Soạn các câu hỏi khảo sát để thu thập các biến yêu cầu, sắp xếp các câu hỏi khảo sát theo nhóm nội dung, đưa ra định dạng “PKSPV” ban đầu

- Bước 4: Khảo sát thử tại 3 nhà thuốc, sửa đổi phiếu khảo sát theo góp ý của nhân viên nhà thuốc (sửa đổi các từ/thuật ngữ khó hiểu, không rõ ràng, sửa đổi các lựa

chọn cho phù hợp với thực tế ) để hoàn chỉnh “Phiếu khảo sát phỏng vấn”

- Bước 5: Trực tiếp gửi “Phiếu khảo sát phỏng vấn” bằng giấy cho nhân viên nhà thuốc và yêu cầu một nhân viên nhà thuốc có bằng cấp cao nhất tại nhà thuốc tại thời điểm đó để điền vào phiếu

- Bước 6: Xử lý và tổng hợp dữ liệu Trong đó, N là tổng số nhà thuốc tham gia khảo sát, n là các nhà thuốc chọn các mục trong các câu hỏi và tỉ lệ % = n

Nx100%

Mục tiêu 1.2: Đánh giá tình hình tư vấn sử dụng thuốc OTC tại các nhà thuốc

trên địa bàn thành phố Huế bằng phương pháp quan sát trực tiếp

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: các trường hợp mua thuốc OTC tại một số nhà thuốc trên

địa bàn thành phố Huế, được tiến hành từ tháng 8/2017 đến tháng 9/2017

- Cỡ mẫu: 269 trường hợp mua thuốc OTC/21 nhà thuốc

Trang 35

- Cách chọn mẫu: nhà thuốc được lựa chọn một cách thuận tiện trên địa bàn thành

phố Huế Các thành viên của nhóm nghiên cứu sẽ dựa trên bản đồ của thành phố Huế để đi theo các con đường khác nhau trên địa bàn các phường được phân công

để thực hiện quan sát

- Tiêu chuẩn lựa chọn:

+ Khách hàng đến nhà thuốc mua thuốc OTC tại các nhà thuốc tại thành phố Huế

+ Khách hàng đến nhà thuốc mua thuốc điều trị các bệnh/triệu chứng thông thường

và được bán thuốc OTC

- Tiêu chuẩn loại trừ:

+ Khách hàng đến mua tại các nhà thuốc nằm trong khuôn viên bệnh viện do chủ

yếu bán các thuốc kê đơn từ bệnh viện

+ Khách hàng đến mua tại các nhà thuốc thuộc cùng một chuỗi nhà thuốc

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu

a Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu quan sát trực tiếp, mù đơn, không can thiệp

b Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian: khảo sát được tiến hành từ tháng 8/2017 đến tháng 9/2017

Địa điểm: các nhà thuốc thuộc địa bàn thành phố Huế

c Các bước tiến hành nghiên cứu

- Bước 1: Xác định mục tiêu của quan sát

Mục tiêu quan sát là các trường hợp mua thuốc OTC tại nhà thuốc diễn ra trong thời

gian quan sát

- Bước 2: Thành lập nhóm quan sát

Nhóm quan sát gồm 5 sinh viên dược Nhóm quan sát được tập huấn một buổi về

“Kỹ năng tư vấn OTC tại nhà thuốc” và “Kỹ năng quan sát tại nhà thuốc” bởi một

dược sĩ phụ trách nghiên cứu trước khi thực hiện quan sát

- Bước 3: Soạn Bảng kiểm đánh giá quan sát trực tiếp, gồm các nội dung:

 Thông tin người điền phiếu, thời gian và địa điểm thực hiện

 Đặc điểm của các trường hợp tư vấn: dược sĩ có hay không có thực hiện tư vấn, lý do tư vấn, trình độ dược sĩ tư vấn, thời gian tư vấn

 Các bước tư vấn:

Trang 36

o Thu thập thông tin từ bệnh nhân: đối tượng sử dụng thuốc, độ tuổi của đối tượng, các triệu chứng bệnh và thời gian diễn biến bệnh/triệu chứng, tiền

sử dùng thuốc của bệnh nhân

o Cung cấp thông tin cho bệnh nhân: các thông tin liên quan đến thuốc gồm tên thuốc, chỉ định, liều dùng, số lần dùng/khoảng cách dùng, thời điểm dùng, chống chỉ định, ADR, tương tác thuốc, xử lý quên liều, bảo quản; tư vấn cho bệnh nhân trường hợp nên đến phòng khám chuyên khoa và cung cấp cấp tư vấn giấy

o Kết thúc tư vấn: kiểm tra mức độ hiểu của bệnh nhân, tổng kết các điểm quan trọng cần ghi nhớ, xác nhận bệnh nhân có còn thắc mắc hay câu hỏi nào khác

Bảng kiểm được xây dựng tham khảo theo các nghiên cứu tương tự trên thế giới và Việt Nam [34], [36], [37], [56], [13], [6] Bảng kiểm sau đó được áp dụng

thử khi quan sát tại một nhà thuốc và được điều chỉnh để có Bảng kiểm đánh giá quan sát trực tiếp cuối cùng (Phụ lục 2) Chuyển định dạng Bảng kiểm thành dạng

online trên Google Form <https://goo.gl/ccr6eY>

- Bước 4: Lập kế hoạch quan sát cụ thể

Nhóm quan sát tiến hành theo cá nhân, mỗi người tiến hành xin phép học việc trong thời gian 3 tiếng tại các nhà thuốc Nghiên cứu là mù đơn nghĩa là nhân viên nhà thuốc không biết mục đích của nghiên cứu để tránh sai lệch kết quả khi quan sát

do hiệu ứng có người quan sát trực tiếp

- Bước 5: Tiến hành quan sát

Mỗi thành viên của nhóm quan sát đến nhà thuốc và xin vào nhà thuốc dưới hình thức học việc Sau khi nhận được sự đồng ý của dược sĩ nhà thuốc, trong quá trình học việc, thành viên quan sát tiếp cận và lắng nghe lời tư vấn của DS mỗi khi

có KH đến nhà thuốc để mua thuốc OTC mà không để cho DS nhận ra Sau khi quan sát mỗi trường hợp mua thuốc OTC, thành viên quan sát điền ngay mẫu vào

mẫu Bảng kiểm online

Trang 37

Mục tiêu 2: Xây dựng và thẩm định công cụ hỗ trợ cho việc tư vấn sử dụng

thuốc tại nhà thuốc

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Công cụ tư vấn sử dụng thuốc tại nhà thuốc

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu

a Thiết kế nghiên cứu

Xây dựng một công cụ tư vấn sử dụng thuốc từ tổng hợp các tài liệu y văn và thẩm định công cụ bằng góp ý của các chuyên gia trong lĩnh vực tương ứng

b Các nguồn tài liệu chính để biên soạn công cụ

Công cụ được xây dựng dựa trên các tài liệu Tư vấn sử dụng thuốc tại nhà thuốc bao gồm:

Alison Blenkinsopp, Paul Paxton, John Blenkinsopp (2014), Symptoms in the Pharmacy (7 th edition), Wiley Blackwell, Anh [31]

Fabiole Moreddu (2015), Le conseil associé - Tome 2 (Tư vấn liên quan –

Phần 2), Le moniteur des pharmacies, Pháp [73]

René Caquet (2008), La médication officinale(3 e édition) (Thuốc tại nhà

thuốc), Elsevier Massion, Pháp [75]

MIMS Pharmacy Vietnam 2015/2016 patient counseling guide [74]

 Các hướng dẫn điều trị của các triệu chứng bệnh

c Các bước nghiên cứu

Bước 1: Thành lập “Nhóm xây dựng công cụ”và “Nhóm thẩm định công cụ”

 Nhóm xây dựng công cụ gồm: 02 sinh viên dược và 03 dược sĩ được đào tạo sau đại học về dược lý-dược lâm sàng

 Nhóm thẩm định công cụ: 01 dược sĩ nhà thuốc và 06 bác sĩ chuyên khoa tương ứng với 06 chuyên ngành được biên soạn trong công cụ

Bước 2: Xây dựng công cụ

Xây dựng định dạng công cụ: Tham khảo các định dạng công cụ ở mục

2.2.2.b, đặc biệt tham khảo sách “Le conseil associé Tome 2” (Tư vấn liên quan) và “La médication officinale” (Thuốc tại nhà thuốc), cũng như các thông tin thu thập từ Khảo sát ở nghiên cứu phỏng vấn ở mục tiêu 1.1 về yêu cầu công cụ cũng như các nội dung/ chủ đề từ vấn chủ yếu; hình thức của công cụ ban đầu được phác thảo bởi một sinh viên dược 5, sau đó được đóng

góp ý kiến bởi một dược sĩ công tác DLS tại bệnh viện

Trang 38

Lên danh sách “30 triệu chứng bệnh/ bệnh thông thường” cần biên soạn: Số

các triệu chứng bệnh/ bệnh trong các tài liệu ở mục 2.2.2.b là từ 42 đến 93 Chúng tôi lựa chọn biên soạn 30 bệnh triệu chứng bệnh/ bệnh Danh sách 30 triệu chứng bệnh/ bệnh thông thường được ưu tiên chọn theo các tiêu chuẩn

Soạn nội dung “30 triệu chứng bệnh/ bệnh thông thường”

Dựa vào các tài liệu tham khảo chính ở trên, nội dung công cụ được soạn bởi hai sinh viên dược và được góp ý bởi một Giảng viên dược lâm sàng

Bảng 2 1 Phân công xây dựng công cụ

1

Hô hấp

Cảm lạnh

SVD5 Đoàn Quốc Dương (23 bệnh) SVD4 Lê Thị Quỳnh (7 bệnh)

1 TS.DS Võ Thị Hà (20 triệu chứng bệnh)

2 TS.DS Trương Viết Thành (6 triệu chứng bệnh da liễu)

3 ThS.DS Võ Thị Hồng Phượng (4 triệu chứng bệnh khác)

Trang 39

Bảng 2 2 Danh sách các chuyên gia thẩm định công cụ tư vấn

Chuyên gia thẩm định

ThS.DS Lê Thị

Minh Nguyệt

BS.CKII Phan Thị Hồng Diệp

Bộ môn Nội – Bệnh viện Đại học Y

ThS.BS Trần Quang Trung

Bộ môn Nội – Bệnh viện Đại học Y

Trang 40

ThS.BS Mai Bá Hoàng Anh

Bộ môn Da liễu – Bệnh viện Đại học Y

ThS.BS Trần Nguyễn Thảo Nguyên

Bộ môn Phụ Sản – Bệnh viện Đại học

Y Dược Huế

Phụ khoa

ThS.BS Nguyễn Thế Thành – Bộ môn Tai Mũi Họng – Bệnh viện Đại học Y Dược Huế

Tai mũi họng

PGS.TS.BS Lê Chuyển

Bộ môn Dược lý – ĐH Y Dược Huế Các bệnh khác

Mục tiêu 3: Đánh giá hiệu quả của can thiệp nhằm nâng cao chất lượng tư vấn

sử dụng thuốc OTC tại một số nhà thuốc trên địa bàn thành phố Huế

2.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các dược sĩ nhà thuốc đang thực hành tại các nhà thuốc trên

địa bàn thành phố Huế đồng ý tham gia buổi đào tạo

Cỡ mẫu: 38 dược sĩ nhà thuốc

Cách chọn mẫu: chọn mẫu thuận tiện, thông tin về nghiên cứu được giới thiệu qua

poster (Phụ lục 3) được nhóm nghiên cứu thông báo qua Trang “Nhịp cầu Dược

lâm sàng” và trực tiếp tiếp xúc với các nhà thuốc tại Huế để mời tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn lựa chọn:

+ Dược sĩ đại học, cao đẳng và trung học

+ Dược sĩ đang thực hành tại nhà thuốc trên địa bàn thành phố Huế

+ 1 dược sĩ/nhà thuốc

+ Dược sĩ đồng ý tham gia buổi đào tạo

Ngày đăng: 13/07/2021, 12:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y tế (2010), Quy định lộ trình thực hiện nguyên tắc, tiêu chuẩn Thực hành tốt nhà thuốc GPP, địa bàn và phạm vi hoạt động của cơ sở bán lẻ thuốc, ban hành kèm theo Thông tư 43/2010/TT-BYT ngày 15/12/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định lộ trình thực hiện nguyên tắc, tiêu chuẩn Thực hành tốt nhà thuốc GPP, địa bàn và phạm vi hoạt động của cơ sở bán lẻ thuốc
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2010
2. Bộ Y tế (2011), Ban hành nguyên tắc, tiêu chuẩn "Thực hành tốt nhà thuốc", ban hành theo Thông tư số 46/2011/TT-BYT ngày 21/12/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành tốt nhà thuốc
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2011
3. Bộ Y tế (2013), Phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia về chống kháng thuốc giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2020, ban hành theo quyết định số 2174/QĐ-BYT ngày 21/6/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia về chống kháng thuốc giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2020
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2013
4. Bộ Y tế (2017), Danh mục thuốc không kê đơn, ban hành kèm theo Thông tư 07/2017/TT-BYT ngày 03/05/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh mục thuốc không kê đơn
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2017
5. Bộ Y tế (2018), Tiêu chuẩn thực hành tốt cơ sở bán lẻ thuốc đối với nhà thuốc, ban hành kèm theo Thông tư số 02/2018/TT-BYT ngày 22 tháng 01 năm 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu chuẩn thực hành tốt cơ sở bán lẻ thuốc đối với nhà thuốc
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2018
10. Ngô Thị Thùy Dung (2013), "Đánh giá việc thực hiện nguyên tắc, tiêu chuẩn “Thực hành tốt nhà thuốc - GPP” của Bộ Y tế tại tỉnh Ninh Bình&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá việc thực hiện nguyên tắc, tiêu chuẩn “Thực hành tốt nhà thuốc - GPP
Tác giả: Ngô Thị Thùy Dung
Năm: 2013
14. Nguyễn Quỳnh Hoa, Nguyễn Thanh Tuấn Phong và Nguyễn Thị Kim Chúc (2012), "Tác động của các biện pháp đa can thiệp giáo dục tới kiến thức cán bộ y tế huyện Ba Vì trong sử dụng kháng sinh cho trẻ em bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính", Nghiên cứu Dược &amp; Thông tin thuốc. 3, tr. 95-99 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của các biện pháp đa can thiệp giáo dục tới kiến thức cán bộ y tế huyện Ba Vì trong sử dụng kháng sinh cho trẻ em bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
Tác giả: Nguyễn Quỳnh Hoa, Nguyễn Thanh Tuấn Phong và Nguyễn Thị Kim Chúc
Năm: 2012
17. Nguyễn Thị Thu Thủy và Ngô Thị Thảo Nguyên (2016), "Khảo sát kiến thức, thái độ, hành vi sử dụng kháng sinh của khách hàng nhà thuốc tại các quận nội thành Thành phố Hồ Chí Minh", Tạp chí Dược học. 489, tr. 6 - 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát kiến thức, thái độ, hành vi sử dụng kháng sinh của khách hàng nhà thuốc tại các quận nội thành Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Thủy và Ngô Thị Thảo Nguyên
Năm: 2016
21. Nguyễn Văn Quân (2015), "Đánh giá kỹ năng thực hành của nhân viên nhà thuốc đạt nguyên tắc, tiêu chuẩn GPP trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2012 - 2014", Tạp chí Dược học. 466(23), tr. 2-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kỹ năng thực hành của nhân viên nhà thuốc đạt nguyên tắc, tiêu chuẩn GPP trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2012 - 2014
Tác giả: Nguyễn Văn Quân
Năm: 2015
25. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2016), Luật Dược số 105/2016/QH13 ban hành ngày 06/4/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Dược số 105/2016/QH13
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2016
26. Tổng công ty dược Việt Nam (2017), Danh mục thuốc được cấp số đăng ký từ năm 2016 đến tháng 2/2017, truy cập ngày 25-04-2018, tại trang web http://vinapharm.com.vn/index.php/news/1159/Danh-muc-thuoc-duoc-cap-so-dang-ky-tu-nam-.-.-..html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh mục thuốc được cấp số đăng ký từ năm 2016 đến tháng 2/2017
Tác giả: Tổng công ty dược Việt Nam
Năm: 2017
28. Vũ Thị Hải Lan (2014), "Phân tích hoạt động của các quầy thuốc “đạt tiêu chuẩn thực hành tốt nhà thuốc - GPP” tại chi nhánh CTCPDP Hải Phòng hiệu thuốc Hải Phòng năm 2013&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích hoạt động của các quầy thuốc “đạt tiêu chuẩn thực hành tốt nhà thuốc - GPP
Tác giả: Vũ Thị Hải Lan
Năm: 2014
29. Vũ Tuấn Cường (2010), "Phân tích thực trạng công tác triển khai áp dụng nguyên tắc, tiêu chuẩn “Thực hành tốt nhà thuốc - GPP” tại các cơ sở bán lẻ thuốc trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích thực trạng công tác triển khai áp dụng nguyên tắc, tiêu chuẩn “Thực hành tốt nhà thuốc - GPP
Tác giả: Vũ Tuấn Cường
Năm: 2010
30. Al Ghamdi, Faris và các cộng sự. (2016), "Community pharmacist and primary care physician collaboration: The missing connection in pharmaceutical care", Journal of Taibah University Medical Sciences. 12(3), tr. 273-275 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Community pharmacist and primary care physician collaboration: The missing connection in pharmaceutical care
Tác giả: Al Ghamdi, Faris và các cộng sự
Năm: 2016
31. Alison, Blenkinsopp, Paul, Paxton và John, Blenkinsopp (2014), Symptoms in the pharmacy. A guide to the management of common illnesses (7 th edition), Wiley Blackwell, UK Sách, tạp chí
Tiêu đề: Symptoms in the pharmacy. A guide to the management of common illnesses (7"th"edition)
Tác giả: Alison, Blenkinsopp, Paul, Paxton và John, Blenkinsopp
Năm: 2014
32. Alotaibi, Hamoud Saud và Abdelkarim, Malik Abdelhalim (2015), "Consumers’ perceptions on the contribution of community pharmacists in the dispensing process at Dawadmi", Saudi Pharmaceutical Journal. 23(3), tr. 230-234 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Consumers’ perceptions on the contribution of community pharmacists in the dispensing process at Dawadmi
Tác giả: Alotaibi, Hamoud Saud và Abdelkarim, Malik Abdelhalim
Năm: 2015
33. Alotaibi, Hamoud Saud và Malik Abdelhalim (2015), "Consumers’ perceptions on the contribution of community pharmacists in the dispensing process at Dawadmi", Saudi Pharmaceutical Journal. 23(3), tr. 230-234 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Consumers’ perceptions on the contribution of community pharmacists in the dispensing process at Dawadmi
Tác giả: Alotaibi, Hamoud Saud và Malik Abdelhalim
Năm: 2015
34. American Society of Health-System Pharmacists (1997), "ASHP guidelines on pharmacist-conducted patient education and counseling", American Journal of Health-System Pharmacy. 54(4), tr. 431-434 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ASHP guidelines on pharmacist-conducted patient education and counseling
Tác giả: American Society of Health-System Pharmacists
Năm: 1997
35. Anderson, C và Alexander, A (1993), "Response to dysmenorrhoea: an assessment of pharmacists’ knowledge and its application in practice", The International Journal of Pharmacy Practice. 2, tr. 180-183 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Response to dysmenorrhoea: an assessment of pharmacists’ knowledge and its application in practice
Tác giả: Anderson, C và Alexander, A
Năm: 1993
37. Berger, K, Eickhoff, C và Schulz, M (2005), "Counselling quality in community pharmacies: implementation of the pseudo customer methodology in Germany", Journal of clinical pharmacy and therapeutics.30(1), tr. 45-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Counselling quality in community pharmacies: implementation of the pseudo customer methodology in Germany
Tác giả: Berger, K, Eickhoff, C và Schulz, M
Năm: 2005

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w