1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoá luận tốt nghiệp Đại học: Giải pháp phát triển du lịch cộng đồng tại địa bàn xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang

68 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần 1: Mở đầu (9)
    • 1.1. Tính cấp thiết của đề tài (9)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài (11)
      • 1.2.1. Mục tiêu chung (11)
      • 1.2.2. Mục tiêu cụ thể (11)
    • 1.3. Ý nghĩa của đề tài (11)
      • 1.3.1. Ý nghĩa khoa học (11)
      • 1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn (12)
  • Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU (13)
    • 2.1. Cơ sở lý luận của đề tài (13)
      • 2.1.1. Một số khái niệm cơ bản về du lịch và dịch vụ ngành du lịch (13)
      • 2.1.2. Vai trò của du lịch cộng đồng trong phát triển nông thôn (14)
      • 2.1.3. Về khái niệm khách du lịch (14)
      • 2.1.4. Các điều kiện cần để phát triển du lịch cộng đồng (16)
      • 2.1.5. Các nguyên tác cơ bản để phát triển cộng đồng (16)
      • 2.1.6. Tác động của du lịch cộng đồng đến phát triển kinh tế xã hội (17)
    • 2.2. Cơ sở thực tiễn (18)
      • 2.2.1. Tình hình phát triển du lịch cộng đồng trên thế giới (18)
      • 2.2.2. Một số mô hình phát triển du lịch cộng đồng tại Việt Nam (21)
      • 2.2.3. Bài học kinh nghiệm của Việt Nam trong việc phát triển ngành du lịch (0)
  • Phần 3. ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (25)
    • 3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài (25)
      • 3.1.1. Đối tượng nghiên cứu (25)
      • 3.1.2. Phạm vi nghiên cứu đề tài (25)
    • 3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu (25)
    • 3.3. Nội dung nghiên cứu (25)
    • 3.4. Phương pháp nghiên cứu (25)
      • 3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu (25)
      • 3.4.2. Phương pháp xử lý thông tin, số liệu (26)
  • Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (28)
    • 4.1. Điều kiện tự nhiên- kinh tế -xã hội của xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn - Hà Giang (28)
      • 4.1.1. Điều kiện tự nhiên (28)
      • 4.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội (30)
    • 4.2. Tiềm năng du lịch cộng đồng tại xã Sà Phìn (34)
      • 4.2.1. Tiềm năng về thiên nhiên (34)
      • 4.2.2. Tiềm năng về tài nguyên nhân văn (35)
      • 4.2.3. Thủ công mỹ nghệ (39)
    • 4.3. Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn xã Sà Phìn huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang (39)
      • 4.3.1. Tình hình phát triển du lịch cộng đồng tại địa bàn xã Sà Phìn (39)
      • 4.3.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch (41)
      • 4.3.3. Tình hình phát triển du lịch cộng đồng của các hộ điều tra (44)
    • 4.4. Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển du lịch cộng động tại xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang (52)
      • 4.4.1. Những thuận lợi trong phát triển du lịch cộng đồng (52)
      • 4.4.2. Những khó khăn trong phát triển du lịch cộng đồng (53)
    • 4.5. Định hướng và đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch ở xã Sà Phìn huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang (55)
      • 4.5.1. Định hướng phát triển du lịch ở xã Sà Phìn , huyện Đồng Văn (55)
      • 4.5.2. Một số giải pháp phát triển du lịch cộng động tại xã Sà Phìn huyện Đồng Văn (56)
  • Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (59)
    • 5.1. Kết luận (59)
    • 5.2. Kiến nghị (60)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (62)

Nội dung

Mục đích của Khoá luận nhằm nghiên cứu thực trạng du lịch cộng đồng trên địa bàn xã Sà Phìn huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang, từ đó đề xuất một số giải pháp phát triển hơn nữa hoạt động du lịch cộng đồng tại xã Sà Phìn, hạn chế các tác động tiêu cực đối với đời sống người dân tại xã Sà Phìn huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang. Mời các bạn cùng tham khảo!

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý luận của đề tài

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản về du lịch và dịch vụ ngành du lịch

Du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ đặc trưng bởi sản phẩm chủ yếu là dịch vụ, không tồn tại dưới dạng vật thể và không chuyển quyền sở hữu khi sử dụng Trong những năm gần đây, hoạt động du lịch toàn cầu đã bùng nổ, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia và đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế thế giới Du lịch ngày càng trở nên quen thuộc trong đời sống con người và phát triển phong phú Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO), du lịch là hành động rời khỏi khu vực cư trú để khám phá và thư giãn tại một môi trường khác trong thời gian ngắn.

Du lịch không chỉ đơn thuần là hoạt động nghỉ ngơi và giải trí, mà còn liên quan chặt chẽ đến việc di chuyển và chỗ ở của khách du lịch Đồng thời, du lịch cũng được xem như một hoạt động kinh tế quan trọng, góp phần sản xuất và tiêu thụ các giá trị của vùng du lịch Như vậy, để hiểu rõ hơn về du lịch, cần có cái nhìn tổng hợp và toàn diện về cả khía cạnh giải trí lẫn kinh tế của nó.

Du lịch cộng đồng là hình thức du lịch do người dân địa phương tổ chức và quản lý, nhằm mang lại lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường Hình thức này giúp giới thiệu đến du khách những đặc trưng độc đáo của địa phương, bao gồm phong cảnh và văn hóa đặc sắc.

Du lịch cộng đồng khuyến khích du khách khám phá cuộc sống hàng ngày của người dân từ các nền văn hóa khác nhau Hình thức du lịch này thường kết nối những người sống ở thành phố với các vùng nông thôn, cho phép họ trải nghiệm và thưởng thức cuộc sống địa phương trong một khoảng thời gian nhất định.

2.1.2 Vai trò của du lịch cộng đồng trong phát triển nông thôn

Du lịch cộng đồng không chỉ nâng cao thu nhập cho các cộng đồng địa phương, đặc biệt là ở những vùng sâu vùng xa, mà còn giúp giảm áp lực lên các nguồn lực tự nhiên và cảnh quan địa phương.

Du lịch cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự công bằng trong phát triển du lịch, mang lại lợi ích cho toàn bộ cộng đồng thông qua việc cung cấp dịch vụ du lịch và cải thiện cơ sở hạ tầng Điều này đảm bảo rằng mọi người, dù có tham gia tích cực vào du lịch hay không, đều được hưởng lợi từ những cải tiến như hệ thống cơ sở hạ tầng tốt hơn và điều kiện tiếp cận dễ dàng hơn, bao gồm khả năng tiếp cận nguồn nước sạch và dịch vụ viễn thông.

Du lịch cộng đồng không chỉ tạo ra việc làm thông qua các dịch vụ mà còn khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức cá nhân và hộ gia đình, từ đó mở ra cơ hội việc làm cho cả cộng đồng Hình thức du lịch này góp phần thay đổi cơ cấu việc làm tại địa phương, đồng thời giảm thiểu tình trạng di cư từ nông thôn ra đô thị.

Du lịch cộng đồng không chỉ bảo vệ và thúc đẩy di sản tự nhiên và văn hóa, mà còn góp phần phục hồi và phát triển các giá trị văn hóa, truyền thống Nó đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và cải tạo tài nguyên thiên nhiên và môi trường Bên cạnh đó, du lịch cộng đồng tạo ra cơ hội giao lưu văn hóa và là động lực phát triển kinh tế cho các vùng khó khăn.

2.1.3 Về khái niệm khách du lịch:

Luật Du Lịch Việt Nam phân loại khách du lịch thành ba nhóm: khách nội địa, khách du lịch nước ngoài và khách nước ngoài đến Việt Nam Việc phát triển du lịch nội địa là yếu tố then chốt cho sự phát triển toàn diện của ngành du lịch Tuy nhiên, sự gia tăng khách du lịch từ trong nước ra nước ngoài cũng phản ánh một phần mất mát ngoại hối quan trọng mà du lịch thụ động có thể gây ra.

- Khách du lịch nội địa là: Công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam

Khách du lịch nước ngoài đến Việt Nam bao gồm những người từ các quốc gia khác, những người đang sinh sống tại một quốc gia và đi du lịch, cũng như công dân của quốc gia đó và người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam để khám phá các điểm đến trong nước.

- Khách du lịch nước ngoài: Là người nước ngoài, người Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch

* Các hình thức du lịch cộng đồng:

Du lịch sinh thái là :

Du lịch có trách nhiệm với môi trường tại các khu thiên nhiên hoang sơ nhằm mục đích thưởng ngoạn vẻ đẹp tự nhiên và giá trị văn hóa của quá khứ và hiện tại Loại hình du lịch này không chỉ thúc đẩy công tác bảo tồn mà còn giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, đồng thời tạo ra những ảnh hưởng tích cực về mặt kinh tế và xã hội cho cộng đồng địa phương.

Là loại hình du lịch dựa và bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy truyền thống

Khách du lịch tham gia vào du lịch văn hóa chủ yếu nhằm mục đích nghiên cứu và tìm hiểu các đối tượng văn hóa, bao gồm di tích văn hóa lịch sử, công trình kiến trúc tiêu biểu, di sản văn hóa và phong tục tập quán.

Du lịch nông nghiệp là một hình thức du lịch độc đáo tại các khu vực như vườn cây và trang trại nông lâm kết hợp, nơi khách du lịch có thể tham quan và trải nghiệm thực tế Tại đây, các trang trại động vật được chuẩn bị sẵn để phục vụ du khách, cho phép họ tham gia vào các công việc nông nghiệp bằng những dụng cụ đã được cung cấp mà không ảnh hưởng đến năng suất của chủ nhà.

Du lịch cộng đồng là một hình thức du lịch độc đáo, nơi mà người dân tộc thiểu số và cư dân địa phương tham gia trực tiếp vào các hoạt động du lịch Nền văn hóa phong phú và bản sắc riêng của họ chính là điểm thu hút hấp dẫn nhất của loại hình du lịch này.

Du lịch gắn với hộ gia đình (homestay):

Homestay là hình thức du lịch cho phép du khách lưu trú tại nhà của người dân địa phương, giúp họ khám phá và trải nghiệm phong tục tập quán cũng như đời sống văn hóa đặc trưng của từng vùng miền.

Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Tình hình phát triển du lịch cộng đồng trên thế giới

Sự kỳ diệu của Nhật Bản đến từ sự hòa quyện giữa nông nghiệp và công nghiệp, với những trang trại được thiết kế như khu du lịch, tạo ấn tượng mạnh mẽ cho du khách khi tham quan.

Nhật Bản là một ví dụ điển hình cho sự thành công của quá trình công nghiệp hóa nhờ sự kết hợp chặt chẽ giữa nông nghiệp và công nghiệp Trong giai đoạn đầu, nông nghiệp đóng góp lớn cho sự phát triển công nghiệp, với thuế nông nghiệp chiếm 35% sản lượng lúa vào những năm 1870 Kinh tế nông thôn là nguồn thu chính cho ngân sách, nhưng mức điều tiết từ nông nghiệp không vượt quá khả năng tái sản xuất Nhật Bản đã đầu tư mạnh mẽ vào công nghiệp ngay từ đầu, áp dụng chính sách phi tập trung hóa công nghiệp, đưa sản xuất về nông thôn và chú trọng công nghệ, góp phần nâng cao thu nhập nông dân Từ năm 1950, thu nhập phi nông nghiệp đã tăng từ 29% lên 85% vào năm 1990 Sự thành công này còn nhờ vào sự quan tâm của chính phủ đối với kết cấu hạ tầng, năng lượng và thông tin liên lạc.

Nhật còn luôn kiên trì giữa giá nông sản ổn định có lợi cho nông dân, ngay cả khi nông sản hàng hóa dư thừa

Ðài Loan đã thành công trong việc chuyển tài nguyên từ nông thôn mà vẫn duy trì sự tái sản xuất mở rộng của nông nghiệp, không tạo áp lực việc làm cho lĩnh vực công nghiệp Giai đoạn đầu của công nghiệp hóa tại Ðài Loan chứng kiến sự cân bằng thu nhập, với nông nghiệp đóng góp lớn cho phát triển công nghiệp qua chế biến nông sản xuất khẩu Thị trường nông thôn trở thành nơi tiêu thụ hàng hóa công nghiệp, với 60% tăng trưởng công nghiệp chế tạo từ 1956 đến 1966 đến từ thị trường nội địa Chính sách nâng cao thu nhập nông thôn và phối hợp giữa nông nghiệp và công nghiệp đã giúp phát triển thị trường trong nước, cần thiết cho tiềm lực quốc gia Ðể đạt được điều này, Ðài Loan đầu tư vào cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực tại nông thôn, trong khi mô hình làng mới của Hàn Quốc lại nhấn mạnh sự cần thiết của phát triển nông thôn để xóa bỏ phân cách kinh tế giữa khu vực nông thôn và thành thị Sự cải thiện thu nhập cho nông dân đã góp phần vào sự phát triển ổn định của Ðài Loan trong quá trình công nghiệp hóa.

Năm 2000 Thái Lan với chương trình “Amazing Thailand” hy vọng thu hút được 18 triệu khách du lịch với các nội dung chủ yếu hướng vào du lịch

Các hoạt động quảng cáo du lịch của Thái Lan tập trung vào việc giới thiệu thiên nhiên và văn hóa truyền thống Trong những năm gần đây, Thái Lan đã tổ chức nhiều hội thảo quốc tế về du lịch và xây dựng nhiều khu du lịch mới Tuy nhiên, một số dự án sân golf trong các khu rừng quốc gia đã bị đình chỉ do gây hại cho động vật hoang dã Hiệp hội khách sạn Thái Lan triển khai chương trình "lá xanh" để khuyến khích các khách sạn cải tạo không gian xanh và lắp đặt hệ thống xử lý rác thải Khu du lịch biển PhuKet đã nhận giải thưởng về môi trường nhờ hệ thống chống ô nhiễm hiện đại và trồng cây xanh Các hãng lữ hành cũng phát triển chương trình du lịch giới hạn số lượng khách Thành công lớn nhất của Thái Lan tại hội nghị du lịch Đông Nam Á là kết nối hệ thống sinh thái với lợi ích kinh tế mà không làm hủy hoại tài nguyên Các cơ quan du lịch đang nỗ lực quảng bá để xây dựng hình ảnh Thái Lan xanh hơn trong mắt du khách quốc tế.

2.2.2 Một số mô hình phát triển du lịch cộng đồng tại Việt Nam Đóng góp của du lịch vào phát triển kinh tế của một số địa phương

Lào Cai sở hữu nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch nhờ vị trí địa lý, địa hình núi cao và sự đa dạng về sinh thái cũng như văn hóa Thị trấn Sa Pa, được mệnh danh là "Thị trấn trong mây", nổi bật với phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp và khí hậu mát mẻ quanh năm Vào mùa hè, thời tiết tại Sa Pa mang đến trải nghiệm bốn mùa trong một ngày, cùng với cảnh quan hùng vĩ và những bản làng ẩn hiện trong sương Không chỉ yên bình và tươi đẹp, Sa Pa còn sôi động với các phiên chợ vào cuối tuần, làm cho nơi đây trở thành điểm đến hấp dẫn nhất cho du khách khi đến Lào Cai.

Trong những năm gần đây, Lào Cai đã chứng kiến sự gia tăng đáng kể lượng khách du lịch nhờ vào đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng và sự hợp tác giữa các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng Năm 2012, Lào Cai đón khoảng 948.610 lượt khách, trong đó có 573.080 lượt khách nội địa và 375.530 lượt khách quốc tế, với tổng thu từ du lịch đạt hơn 1.844 tỷ đồng Đến năm 2015, lượng khách đã vượt mốc 2 triệu lượt, trong đó khách quốc tế đạt trên 600.000 lượt và khách nội địa trên 1,3 triệu lượt, tổng thu từ du lịch tăng lên trên 4.500 tỷ đồng Sự phát triển này được thúc đẩy bởi việc thu hút đầu tư từ tập đoàn Sun Group vào hệ thống cáp treo Fansipan, giúp du khách dễ dàng chinh phục “Nóc nhà Đông Dương” và tiết kiệm thời gian di chuyển.

Hình 2.1 Du lịch cộng đồng bản Cát Cát, xã San Sà Hồ, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai

Du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, tỉnh ta đã xây dựng chiến lược phát triển và chính sách khuyến khích du lịch cho giai đoạn 2001-2010, với tầm nhìn đến năm 2020.

Mộc Châu, nằm ở độ cao 1.050m so với mặt nước biển với khí hậu ôn hòa mát mẻ, là điểm đến du lịch sinh thái lý tưởng Du khách có thể trải nghiệm nhiều hoạt động thú vị như tham quan đồi chè trái tim và đồi chè vân tay, tham gia hội thi hái chè, lễ hội hái quả, và cuộc thi “Hoa hậu bò sữa” Ngoài ra, du khách còn có thể khám phá các bản du lịch cộng đồng, nghỉ tại nhà container, leo núi tại “Ngũ động bản Ôn”, thưởng thức đặc sản cá hồi tại nhà hàng Vườn Đào, và thăm các di tích lịch sử như động Mộc Hương, bia Tây Tiến, thác Dải Yếm, hồ rừng thông bản Áng cùng lễ hội Hết Chá Mộc Châu cũng nổi tiếng với Công ty hoa Cao Nguyên, Khu du lịch Happy Land, cửa khẩu quốc tế Lóng Sập, và cơ hội chinh phục đỉnh Pha Luông hùng vĩ.

Tỉnh Sơn La đặt mục tiêu tăng trưởng du lịch bình quân đạt 20% mỗi năm, với hơn 2 triệu lượt khách du lịch, trong đó có 97 nghìn khách quốc tế Tổng thu từ du lịch dự kiến đạt 1.900 tỷ đồng, góp phần làm GDP du lịch chiếm 2,38% tổng GDP của tỉnh Ngành du lịch cũng sẽ tạo ra 18.500 việc làm cho người dân địa phương.

Hình 2.2 Điểm nhà nghỉ du lịch cộng đồng (HomeStay) tại bản Bó, phường Chiềng An, Sơn La

2.2.3 Bài học kinh nghiệm của Việt Nam trong việc phát triển ngành du lịch

Ngành du lịch Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức nhưng cũng có nhiều tiềm năng phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa Mức độ cạnh tranh ngày càng gia tăng, yêu cầu sự đầu tư và hỗ trợ từ các cấp, ngành để du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Cần nâng cao nhận thức về du lịch và quyết tâm phát triển ở cấp quốc gia Ngành du lịch đã qua giai đoạn phát triển ban đầu và đang chuẩn bị cho sự bứt phá Cần nghiên cứu, theo dõi thị trường và nhạy bén với biến động kinh tế, chính trị Việc áp dụng công nghệ hiện đại trong quảng bá du lịch sẽ giúp dự báo xu hướng thị trường và đánh giá hiệu quả đóng góp của ngành Đồng thời, cần xây dựng các chính sách và quy hoạch du lịch khả thi, mang lại lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp Nếu thực hiện tốt các định hướng này, ngành du lịch sẽ phát triển bền vững và chất lượng.

ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

 Tình hình hoạt động du lịch tại địa bàn xã Sà Phìn huyện Đồng Văn

Hoạt động du lịch cộng đồng tại xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang đã mang lại nhiều kết quả tích cực, góp phần nâng cao đời sống người dân địa phương Du lịch cộng đồng không chỉ giúp bảo tồn văn hóa truyền thống mà còn phát triển kinh tế bền vững thông qua việc tạo ra việc làm và tăng thu nhập cho cư dân Để phát triển du lịch cộng đồng tại đây, cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng dịch vụ, bảo vệ môi trường và xây dựng các sản phẩm du lịch độc đáo, hấp dẫn nhằm thu hút du khách.

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài Đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu những tác động của hoạt động du lịch cộng đồng đến đời sống người dân tại xã Sà Phìn huyện Đồng Văn – tỉnh

Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu tại :xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn – Tỉnh Hà Giang

- Thời gian nghiên cứu: từ ngày 20/2 – 20/5/2019

Nội dung nghiên cứu

- Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại địa bàn nghiên cứu

- Đánh giá tiềm năng du lịch cộng đồng tại xã Sà Phìn – huyện Đồng Văn

- Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tại xã Sà Phìn – huyện Đồng Văn – tỉnh Hà Giang

- Những thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển du lịch cộng đồng tại xã Sà Phìn

Để phát triển du lịch cộng đồng và nâng cao hiệu quả kinh tế tại địa phương, cần đề xuất một số giải pháp như tăng cường quảng bá các điểm du lịch đặc sắc, đào tạo nhân lực địa phương về kỹ năng phục vụ khách du lịch, và xây dựng các sản phẩm du lịch độc đáo gắn liền với văn hóa bản địa Đồng thời, cần tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia vào hoạt động du lịch, từ đó góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển bền vững.

Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp thu thập số liệu Để có được đầy đủ thông tin số liệu phục vụ cho việc phân tích đánh giá đáp ứng yêu cầu của mục đích nghiên cứu đề tài tiến hành từng bước và sử dụng nhiều phương pháp thu thập khác nhau

* Thu thập thông tin số liệu thứ cấp

Dữ liệu được thu thập từ sách báo và báo cáo liên quan đến tác động của ngành dịch vụ, bao gồm cả cơ sở lý luận và thực tiễn Ngoài ra, số liệu thứ cấp cũng được thu thập từ các phòng ban như Nông nghiệp & PTNT, Tài nguyên và Môi trường, thống kê và các phòng khác tại xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn.

*Thu thập thông tin sơ cấp

Sà Phìn, một xã thuộc huyện Đồng Văn cách TP Hà Giang 100km về phía Bắc, là nơi sinh sống lâu đời của dân tộc Hmông Xã có 11 thôn với sự phát triển kinh tế đồng đều, chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp Ngoài ra, Sà Phìn còn phát triển du lịch cộng đồng thông qua các loại hình du lịch làng nghề và dịch vụ du lịch như ăn uống, nghỉ ngơi.

Tại xã Sà Phìn, có 80 hộ gia đình tham gia vào hoạt động du lịch, vì vậy tôi đã chọn 80 hộ để thực hiện phỏng vấn trực tiếp Quy trình phỏng vấn được thực hiện thông qua bảng hỏi đã được chuẩn bị sẵn, bao gồm các nội dung liên quan đến hoạt động du lịch của các hộ gia đình này.

+ Thông tin cơ bản về hộ gồm : Họ và tên , giới tính , trình độ học vấn + Điều tra các thông tin về hoạt động du lịch của hộ

Tại 3 thôn đã chọn, lựa chọn số mẫu tại mỗi thôn cụ thể như sau :

1 Thôn Thành Ma Tủng : 27 hộ

3.4.2 Phương pháp xử lý thông tin, số liệu

Số liệu và thông tin thứ cấp cần được phân tích và tổng hợp một cách phù hợp với mục tiêu của đề tài nghiên cứu Trong quá trình xử lý, việc chọn lọc và loại bỏ các tài liệu không có giá trị là cần thiết, nhưng phải tôn trọng tính nguyên bản của tài liệu gốc.

- Số liệu sơ cấp: Được xử lý trên bảng tính Excel

Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu là công cụ quan trọng giúp thu thập, xử lý và biểu diễn các dữ liệu dưới dạng bảng biểu Qua đó, phương pháp này cho phép đánh giá và phân tích tình hình thực tiễn một cách hiệu quả.

Phương pháp đối chiếu so sánh giúp xác định xu hướng và mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích, từ đó phản ánh chân thực hiện tượng nghiên cứu Phương pháp này đánh giá một cách khách quan các nội dung cần được nghiên cứu.

Phương pháp thống kê mô tả là công cụ quan trọng giúp phân tích thực trạng du lịch và ảnh hưởng của nó đến đời sống người dân trong khu vực nghiên cứu Bằng cách sử dụng các số liệu thống kê, phương pháp này cung cấp những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch, góp phần phát triển kinh tế hộ gia đình.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Điều kiện tự nhiên- kinh tế -xã hội của xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn - Hà Giang

Xã Sà Phìn là một xã biên giới cách trung tâm huyện 15 km

Phía Bắc giáp Trung Quốc

Phía Nam giáp xã Tả Phìn và xã Sính Lủng

Phía Đông giáp với xã Lũng Táo và xã Thài Phìn Tủng

Phía Tây giáp với xã Sủng Là và xã Sảng Tủng

Xã Xả Phìn, cách thành phố Hà Giang khoảng 145 km, là một xã biên giới với 11 xóm và dân số 3.189 người, chủ yếu là người dân tộc H'mông Trung tâm xã nằm trong thung lũng Xả Phìn, nơi nổi tiếng với di tích nhà Vương và cao nguyên đá.

Diện tích tự nhiên của khu vực là 44.666 ha, trong đó 11.837 ha được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp Với 73,49% diện tích là núi đá, địa hình nơi đây rất phức tạp, có nhiều núi cao và vực sâu, nổi bật với đỉnh Lũng Táo cao 1.911m Độ cao trung bình là 1.200m so với mực nước biển, và địa hình dần thấp xuống từ Tây sang Đông Khu vực này có địa hình núi đá hiểm trở, bị chia cắt bởi các dãy núi cao, tạo ra nhiều thung lũng, khiến việc di chuyển trên các tuyến đường xã trở nên rất khó khăn, đặc biệt trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt.

- Nước mặt: Tài nguyên nước mặt của xã rất khan hiếm, chỉ có các suối nhỏ chảy vào mùa mưa và một số hồ ao khác

Hiện nay, huyện có một số giếng khoan nước ngầm với độ sâu trên 200m, lưu lượng từ 0,1 đến 0,3 lít/s Tuy nhiên, nguồn nước ngầm này vẫn không đủ để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của người dân.

Bảng 4.1 : Diện tích và cơ cấu đất của xã Sà Phìn - huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang giai đoạn 2016 – 2018

Tổng diện tích đất tự nhiên là 1.534,77 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chiếm 33% với 506,3 ha Đất lâm nghiệp chiếm 45,63% tương đương 700,33 ha, trong khi đất nuôi trồng thủy sản có diện tích 25,03 ha, chiếm 1,63% Đất ở tăng từ 48,33 ha lên 80,12 ha, đạt 5,22% Đất chuyên dùng cũng tăng đáng kể từ 80,43 ha lên 153,01 ha, chiếm 9,97% Diện tích đất nghĩa trang không thay đổi nhiều, giữ ở mức 2,0 ha Đất sông suối giảm từ 105,50 ha xuống 90,06 ha, trong khi đất sử dụng cho dịch vụ tăng từ 6,05 ha lên 20,01 ha Cuối cùng, đất chưa sử dụng giảm từ 60,8 ha xuống còn 25,3 ha.

(Nguồn : Báo cáo KT-XH xã Sà Phìn)

Tổng diện tích đất tự nhiên của xã Sà Phìn là 1.534,77ha, với sự biến động của các loại đất qua các năm Diện tích đất sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp có xu hướng giảm, từ 33,00% vào năm 2016 giảm xuống còn 32,58% vào năm 2017 và từ 45,63% năm 2016 giảm còn 43,6% năm 2017.

Diện tích đất dành cho du lịch tại xã Sà Phìn đã tăng lên 1,31% vào năm 2018, chủ yếu phục vụ cho việc xây dựng khu lưu trú, cơ sở hạ tầng và điểm bán hàng lưu niệm Để phát triển du lịch bền vững, cần có phương hướng đầu tư hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển du lịch cộng đồng trong khu vực.

4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội

 Về thương mại dịch vụ

Sự phát triển kinh tế của xã Sà Phìn huyện Đồng Văn được thể hiện qua bảng 4.2

Bảng 4.2 : Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu phát triển kinh tế giai đoạn 2016-2018

Chỉ tiêu ĐVT Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018

Tổng giá trị gia tăng Triệu đồng 591 661 796

+ Nông lâm nghiệp Triệu đồng 253 285 342

+ CN và xây dựng Triệu đồng 155 167 200

Cơ cấu giá trị gia tăng % 100 100 100

Tốc độ tăng trưởng kinh tế % 10,3 11,5 12,8

Thu nhập BQ đầu người Triệu đồng 25,5 28 31

(Nguồn : Văn phòng thống kê xã Sà Phìn)

Tổng giá trị gia tăng của ngành sản xuất đã tăng qua các năm, đạt 591 triệu đồng, 661 triệu đồng và 796 triệu đồng Trong khi đó, ngành Nông lâm nghiệp cũng có tổng giá trị gia tăng đáng kể, với 342 triệu đồng vào năm 2018, cho thấy tỉ trọng cao trong nền kinh tế.

Cơ cấu giá trị gia tăng đã có sự cải thiện rõ rệt qua các năm, với ngành dịch vụ tăng từ 30,96% năm 2016 lên 31,91% năm 2018 Nguyên nhân chính cho sự tăng trưởng này là nhờ vào chương trình nông thôn mới đang được triển khai trên địa bàn.

Từ năm 2016 đến năm 2018, tốc độ tăng trưởng kinh tế đã có sự cải thiện rõ rệt, tăng từ 10,3% lên 12,8% Đồng thời, thu nhập bình quân đầu người cũng có sự chuyển biến tích cực, đạt 31 triệu đồng vào năm 2018.

Tính đến năm 2018, xã Sà Phìn có dân số 3.189 người và 656 hộ gia đình, với trung bình 3-4 người mỗi hộ, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đạt 1,2% Cơ cấu dân tộc trong xã đồng nhất với dân tộc Mông, gồm 8 dòng họ sinh sống tại 11 thôn bản, luôn hỗ trợ lẫn nhau trong sản xuất và bảo vệ an ninh chính trị cũng như trật tự an toàn xã hội Thông tin về dân số và lao động của xã được thể hiện rõ qua bảng số liệu.

Bảng 4.3 : Tình hình dân số và lao động của xã Sà Phìn huyện Đồng Văn

Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 So sánh (%)

A.Tổng nhân khẩu Người 2.886 100 2.955 100 3.189 100 103,77 110,49 107,13 Nam Người 1.425 49,38 1.430 48.39 1.562 48,98 100,35 109,61 104,98

C Tổng số lao động Người 1.588 100 1.723 100 1.800 100 108,50 113,35 110,92 Lao động

NN Người 1.463 92,13 1.551 90,02 1.626 90,33 106,01 111,41 108,71 Lao động khác Người 20 1.26 38 2,21 25 1,38 190 125 157,5

(Nguồn : báo cáo KT-XH xã Sà Phìn, Đồng Văn )

Xã Sà Phìn hiện có tổng dân số 3.189 người, trong đó 87,05% hộ gia đình tham gia vào sản xuất nông nghiệp (năm 2018) Tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm 90,56% tổng số lao động của xã Sà Phìn là một xã thuần nông, với hoạt động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu.

Lao động trong ngành dịch vụ tăng lần lượt 6,30% năm 2016, 7,77% năm

Trong những năm 2017 và 2018, tỷ lệ tăng trưởng du lịch đạt 8,27%, nhờ vào sự phát triển mạnh mẽ của du lịch cộng đồng Các hoạt động quảng bá hình ảnh địa phương và chính sách hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng đã giúp người dân nâng cao khả năng và kinh nghiệm trong ngành du lịch, từ đó gia tăng thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống.

Trạm y tế đã nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân, thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng chống dịch Công tác tuyên truyền vệ sinh an toàn thực phẩm luôn được chú trọng, giúp không có hiện tượng ngộ độc thực phẩm xảy ra Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền về dân số và kế hoạch hóa gia đình được tổ chức 22 buổi mỗi năm, thu hút 716 lượt người tham gia.

Xã Sà Phìn đã tăng cường cơ sở vật chất và phối hợp chỉ đạo giám sát công tác giảng dạy, hiện có 3 trường học với tổng số 1.060 học sinh, bao gồm 335 trẻ mầm non, 411 học sinh tiểu học và 157 học sinh THCS Tổng số phòng học là 40 và có 60 cán bộ giáo viên Địa phương cũng thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục, đảm bảo chất lượng và chỉ tiêu học sinh đến trường theo kế hoạch đề ra.

 Về công tác, văn hóa, thể thao, tuyên truyền

Trước Tết Nguyên Đán Mậu Tuất 2018, UBND đã chỉ đạo xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động văn nghệ và thể dục thể thao, đồng thời chào mừng ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam 03/02/1930 - 03/02/2018 Đặc biệt, Lễ hội Gầu Tào sẽ được tổ chức vào ngày 04 Tết, dự kiến thu hút khoảng 4.500 người tham gia.

Tiềm năng du lịch cộng đồng tại xã Sà Phìn

Xã Sà Phìn, thuộc huyện Đồng Văn, sở hữu tiềm năng du lịch lớn nhờ vào cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ và sự phong phú về văn hóa của các dân tộc Nơi đây còn lưu giữ nhiều công trình kiến trúc cổ độc đáo, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển du lịch – dịch vụ.

4.2.1 Tiềm năng về thiên nhiên

Hà Giang, mảnh đất địa đầu biên cương xa xôi, là nơi lưu giữ nhiều câu chuyện huyền thoại về lịch sử dựng nước và giữ nước của ông cha ta Nơi đây không chỉ mang trong mình những khó khăn, mà còn sở hữu cảnh quan núi non hùng vĩ và mây trời tuyệt đẹp, khiến ai đã một lần đặt chân đến đều khó có thể quên.

 Cao nguyên đá Đồng Văn

Nơi đây nổi tiếng với những loài hoa đặc trưng như hoa Bạc hà, hoa lê trắng muốt, và hoa đào tím địa phương Đặc biệt, hoa Tam Giác Mạch là một món quà quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho vùng đất khô cằn, mang đến sắc màu hiếm có với cánh hoa biến đổi đủ ngũ sắc cầu vồng từ khi nở cho đến khi tàn.

Mùa hoa Tam Giác Mạch nở rộ từ cuối tháng 10 đến giữa tháng 11, tạo nên vẻ đẹp quyến rũ trên các triền núi và thung lũng của đồng bào Hmong Được công nhận là công viên địa chất toàn cầu vào tháng 12 năm 2010, cao nguyên đá Đồng Văn đánh dấu sự phát triển nổi bật của huyện Đồng Văn Với cảnh quan thiên nhiên hoang sơ và bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc Hà Giang, Cao nguyên Đá Đồng Văn đang được đầu tư để khẳng định vị thế của mình trong danh sách các công viên địa chất toàn cầu.

“kiệt tác” thiên nhiên nơi cực Bắc và là một trong những điểm du lịch hấp dẫn nhất nước ta đối với du khách trong nước và quốc tế

4.2.2 Tiềm năng về tài nguyên nhân văn

Nằm ẩn mình sau hàng cây sa mộc cao vút, cổng đá bề thế của Dinh Thự Họ Vương, hay còn gọi là dinh thự Vua Mèo Vương Chính Đức, nổi bật trên đỉnh đồi Đây là nơi ghi dấu ấn của vị vua duy nhất được người dân tôn sùng, cai quản bốn huyện vùng cao ở Sà Phìn Kiến trúc của dinh thự là sự kết hợp độc đáo giữa phong cách thành quách của triều đại nhà Thanh Trung Hoa, hoa văn của người Hmông, và những yếu tố kiến trúc Pháp như lò sưởi và lô cốt.

Dinh có 3 cung tiền, trung và hậu, với 64 phòng lớn nhỏ, có sức chứa khoảng

Dinh thự này nổi bật với nghệ thuật điêu khắc tinh xảo, thể hiện rõ nét dấu ấn của dòng họ Vương và hoạt động buôn bán thuốc phiện Các chi tiết bằng đá được chạm khắc cầu kỳ, mang biểu tượng của sự phú quý và hưng thịnh Những chân cột được khắc hình cuống quả thuốc phiện lớn, bóng loáng như bạc trắng, cùng với các trụ cầu thang là tác phẩm điêu khắc quý giá mang hình dáng cây hoa anh túc Họa tiết trên xà nhà, trái nhà và các cánh cửa, cửa sổ đều chạm hình quả thuốc phiện tinh xảo, thu hút ánh nhìn.

Lễ hội Gầu Tào ở Sà Phìn là một biểu tượng văn hóa đặc sắc của người Hmông, mặc dù chỉ có một dân tộc sinh sống tại đây Người Hmông sở hữu một đời sống tinh thần và tâm linh phong phú, thể hiện qua các truyền thống văn hóa độc đáo Ngoài những tập quán canh tác và chăn nuôi, văn hóa Hmông còn được đặc trưng bởi tín ngưỡng và phong tục tập quán đa dạng.

Lễ hội Gàu Tào ở Sà Phìn, Đồng Văn là sự tái hiện rõ nét của các tín ngưỡng về sinh hoạt vật chất và tinh thần, xoay quanh mối quan hệ gia đình, dòng họ và làng bản.

Lễ hội Gầu Tào diễn ra từ mồng Một đến Rằm tháng Giêng, với mục đích cầu phúc và cầu mệnh Nếu hội được tổ chức liên tiếp ba năm, mỗi năm sẽ có ba ngày lễ Đây là lễ hội lớn nhất và thu hút đông đảo người tham gia nhất của người Mông, với nhiều nghi thức đặc sắc.

Gầu Tào, một lễ cúng truyền thống của người Mông, mang ý nghĩa tạ ơn trời đất và cầu phúc cho gia đình, con cháu khỏe mạnh, và mùa màng bội thu Đây là dịp để mọi người tụ họp, vui chơi, hát giao duyên và thưởng thức rượu đầu xuân Lễ hội Gầu Tào gồm hai phần: phần lễ với các nghi thức văn hóa đặc sắc, và phần hội Phần lễ bắt đầu với việc chuẩn bị lễ vật như thủ lợn, giấy tiền, ngô, thóc, xôi, và rượu Nghi lễ dựng cây Nêu, một biểu tượng quan trọng, báo hiệu lễ hội diễn ra, với hai cọc gỗ lớn và xà ngang treo chùm ngô, thóc để cầu sự no ấm Địa điểm tổ chức thường do thầy cúng chọn, thường là trên ngọn đồi hay mô đất cao, với cây Nêu trang trí rực rỡ bằng cờ nhiều màu sắc.

Sau khi hoàn thành việc dựng cây Nêu, gia chủ và thầy cúng sẽ tiến hành lễ cúng tại chân cột cây Nêu, nhằm mời tổ tiên và các thần linh về tham dự Lời khấn của thầy cúng thể hiện nguyện vọng của gia chủ về sự bình an, giàu có, cầu xin các thần linh phù hộ cho gia đình có con cái, sức khỏe cho mọi thành viên và tiếp tục gặp thuận lợi trong công việc làm ăn.

Lễ hội Gầu Tào mang đến không khí náo nức với phần lễ trang nghiêm và phần hội vui tươi Hội thường diễn ra trên khu đất đồi bằng phẳng, tạo điều kiện thuận lợi cho du xuân Trong không khí vui vẻ, gia chủ hát những bài ca ngợi bản mường và chúc tụng mọi người nhân dịp năm mới Giữa màu xanh của núi rừng, các chàng trai trong áo chàm và các cô gái trong váy áo rực rỡ tạo nên một bức tranh sinh động Họ cùng nhau thổi khèn, múa khèn, mời nhau chén rượu ngô và hòa mình vào âm thanh tha thiết của tiếng khèn Đây cũng là lúc các trò chơi truyền thống như đánh yến và leo cột lấy bầu rượu được tổ chức, tạo nên không khí vui tươi và nhộn nhịp của ngày Tết vùng cao.

Cuộc vui kết thúc, thầy cúng đại diện gia chủ tạ ơn tổ tiên, trời đất và thần linh, xin phép hạ cây nêu và thực hiện nghi lễ đốt giấy sớ Bầu rượu được buộc trên ngọn Nêu tưới khắp các hướng của đồi núi Lễ hội Gầu Tào không chỉ thỏa mãn nhu cầu tâm linh mà còn đáp ứng nhu cầu tinh thần của người Mông thông qua các hoạt động vui chơi, giải trí lành mạnh.

Khèn Mông là nhạc cụ độc đáo gắn liền với đời sống thường nhật và tâm linh của người Mông, thể hiện tín ngưỡng truyền thống và là vật linh thiêng trong các nghi lễ, lễ hội Tiếng khèn không chỉ là phương tiện để người Mông bày tỏ tâm tư, nguyện vọng, mà còn mang ý nghĩa chúc phúc khi xuống chợ và tạo cảm xúc sâu lắng trong những lúc buồn.

So với nhiều dân tộc khác, người HMông nói chung và đồng bào dân tộc

Người Hmông tại xã Sà Phìn vẫn gìn giữ nhiều nét văn hóa truyền thống độc đáo, đặc biệt là trong các phiên chợ vùng cao Những món ăn đặc trưng không thể thiếu, như thắng cố, mèm mém, bánh hoa tam giác mạch, bánh ngô và mật ong Bạc Hà, góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa ẩm thực của họ.

Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng trên địa bàn xã Sà Phìn huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang

4.3.1 Tình hình phát triển du lịch cộng đồng tại địa bàn xã Sà Phìn

 Lượng khách đến du lịch tại xã Sà Phìn

Kể từ năm 2010, Cao Nguyên Đá Đồng Văn đã được UNESCO công nhận là công viên địa chất toàn cầu, thu hút lượng lớn du khách đến với Đồng Văn, Hà Giang Sự công nhận này đã dẫn đến sự gia tăng đáng kể số lượng khách du lịch biết đến huyện Đồng Văn và xã Sà Phìn.

Khách du lịch đóng vai trò quan trọng trong sự thành công hoặc thất bại của các địa phương có hoạt động du lịch cộng đồng Số lượng khách du lịch đến xã Sà Phìn có thể được tóm tắt qua bảng số liệu dưới đây.

Bảng 4.4 Số lượng khách du lịch đến xã Sà Phìn giai đoạn 2016-2018

(Nguồn: Số liệu điều tra 2018)

Qua bảng 4.4 ta có thể thấy tổng số lượng khách du lịch đến với Sà Phìn năm 2018 là 138.569 lượt khách

Năm 2016, xã Sà Phìn đón 9.867 lượt khách quốc tế, và con số này đã tăng lên 13.687 lượt vào năm 2018 Khách nội địa cũng không ngừng gia tăng, chủ yếu từ các địa phương như Hà Nội, Sài Gòn, Tuyên Quang và Thái Nguyên, với đối tượng chính là học sinh, sinh viên, viên chức, và những người yêu thích văn hóa truyền thống Du khách đến Sà Phìn bằng hình thức tự do hoặc qua các công ty lữ hành, nhằm khám phá thiên nhiên, ngắm cao nguyên đá Đồng Văn, và tìm hiểu lịch sử khu vực Khách quốc tế thường tìm kiếm trải nghiệm khám phá thiên nhiên, trong khi Việt Nam, đặc biệt là Sà Phìn, được xem là điểm đến lý tưởng cho những ai muốn thử thách bản thân với những đèo cao và cảnh sắc hùng vĩ ở vùng cực Bắc.

Các hoạt động sản xuất và bản sắc văn hóa độc đáo của các dân tộc, cùng với cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp, tạo nên sức hấp dẫn lớn đối với du khách Những kỷ niệm khó quên và trải nghiệm thú vị là những điểm nhấn khiến du khách luôn muốn quay lại mảnh đất này trong tương lai gần.

4.3.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch

Hệ thống cơ sở lưu trú là thành phần quan trọng của du lịch được xem là một tiền đề tạo nên sự thay đổi

Trong những năm qua, tốc độ xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch đã được chú trọng đầu tư mạnh mẽ Nhiều nhà hàng, nhà nghỉ và khách sạn đã được xây dựng, cùng với sự phong phú và đa dạng của các dịch vụ đồ lưu niệm Hệ thống cơ sở dịch vụ ăn uống và lưu trú đóng vai trò quan trọng trong kết cấu hạ tầng của mỗi khu du lịch, không chỉ đáp ứng nhu cầu của du khách mà còn tạo ra nguồn doanh thu lớn.

Bảng 4.5 Một số cơ sở lưu trú tại xã Sà Phìn

TT Tên đơn vị Địa chỉ Cách tổ chức kinh doanh

1 Homestay Dính Di Thôn Thành Ma

2 Nhà nghỉ Vàng Chúng Seo Sà Phìn A Tự kinh doanh 7

3 Nhà nghỉ Vàng Mí Pó Sà Phìn A Tự kinh doanh 5

4 Homestay Vàng Vừ Sà Phìn B Tự kinh doanh 6

5 Nhà nghỉ Sà Phìn Sà Phìn B Tự kinh doanh 10

6 Nhà Nghỉ A Pó Thành Ma Tủng Tự kinh doanh 10

7 Homstay Nhà Vương Sà Phìn A Tự kinh doanh 12

8 Hmong homestay Sà Phìn A Tự kinh doanh 9

9 Hoa Đá Homestay Sà Phìn B Tự kinh doanh 2

10 Nghỉ Triệu Xay Thành Ma Tủng Tự kinh doanh 4

11 Pờ Tư house Sà Phìn B Tự kinh doanh 7

12 Nhà nghỉ Bác Sính Sà Phìn A Tự kinh doanh 5

( Nguồn : Số liệu điều tra 2018)

Hệ thống cơ sở lưu trú tại xã Sà Phìn chủ yếu tập trung ở ba thôn chính: Thành Ma Tủng, Sà Phìn A và Sà Phìn B, với tổng cộng 12 cơ sở có quy mô từ 2 đến 12 phòng Sự tập trung này là do ba thôn này nằm trên tuyến đường giao thông thuận lợi và gần khu di tích dinh thự, tạo điều kiện thuận lợi cho du khách.

Họ Vương rất thuận tiện cho du khách khi tới thăm quan, tìm hiểu văn hóa, đời sống người dân địa phương

Mặc dù lượng khách du lịch đến Sà Phìn cao, nhu cầu lưu trú qua đêm vẫn còn thấp, chỉ đạt khoảng 50% công suất phòng Tuy nhiên, vào mùa lễ hội, lượng khách tăng cao, dẫn đến tình trạng hết phòng Để giải quyết vấn đề này, UBND xã Sà Phìn đã cấp giấy chứng nhận cho các hộ gia đình đủ điều kiện tham gia du lịch cộng đồng Nhằm nâng cao đời sống, các hộ dân đã tu sửa nhà cửa và sẵn sàng đón tiếp khách, tạo ra sự cạnh tranh lớn trong hoạt động kinh doanh, đồng thời quảng bá hình ảnh địa phương đến du khách gần xa.

Tại xã Sà Phìn, du khách có cơ hội trải nghiệm du lịch độc đáo bằng cách lưu trú tại nhà dân và tham gia vào các hoạt động hàng ngày như làm bánh hoa tam giác mạnh, thêu lanh, và tham quan các khu nuôi ong bạc hà.

 Cơ sở dịch vụ bán hàng

Xã Sà Phìn nổi bật với nhiều cơ sở dịch vụ ăn uống đa dạng, từ bình dân đến cao cấp, phục vụ các món ăn đặc sản truyền thống của vùng cao nguyên đá Bên cạnh đó, các nhà hàng cũng chú trọng đến việc bổ sung những món ăn đơn giản, nhằm đáp ứng khẩu vị của mọi thực khách.

Hầu hết các cơ sở kinh doanh tại Sà Phìn đều nằm ven đường, tạo không gian thoáng mát và phục vụ tận tình Tuy nhiên, khả năng giao tiếp và phục vụ khách nước ngoài còn hạn chế, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sự hài lòng của du khách quốc tế khi đến đây.

Du khách có thể trải nghiệm ẩm thực truyền thống và tham gia vào các hoạt động hàng ngày của các hộ gia đình địa phương thông qua hình thức du lịch "homestay".

Bảng 4.6 Tống hợp một số hộ kinh doanh tại xã Sà Phìn

Stt Điểm bán hàng Địa điểm Hình thức kinh doanh

1 Vàng Chả Pơ Thành Ma Tủng Dịch vụ ăn uống

2 Sùng Pả Chơ Thành Ma Tủng Hàng tạp hóa, giải khát, bia, rượu

3 HTX Thổ cẩm Sà Phìn Thành Ma Tủng Thêu, may,bán hàng thổ cẩm

4 Làu Thị Kía Thành Ma Tủng Bánh hàng tạp hóa, bia hơi, giải khát

5 Làu Thị Kía Thành Ma Tủng Bánh hàng tạp hóa, bia hơi, giải khát

6 Vàng Mí Hờ Thành Ma Tủng Bán hoa quả

7 Sùng Pả Chơ Thành Ma Tủng Dịch vụ ăn uống

8 Sùng Su Cáy Thành Ma Tủng Bán đồ lưu niệm

9 Giang Nhía Chứ Sà Phìn A Bán đồ lưu niệm (ba lô mũ, áo …)

10 Vàng Sè Dia Sà Phìn A Bán các loại hạt thảo dược

11 Vàng Súa Lía Sà Phìn A Dịch vụ ăn uống

12 Sùng Vả Súng Sà Phìn B Sinh tố giải khát cafe

13 HTX mật ong Bạc Hà Sà Phìn B Bán mật ong bạc hà

Hệ thống điểm bán hàng và dịch vụ ở Sà Phìn rất đa dạng, bao gồm các loại hình kinh doanh như ăn uống, bán đồ lưu niệm và trưng bày sản phẩm thổ cẩm Các điểm này chủ yếu tập trung tại các thôn trung tâm xã, đảm bảo tiêu chí vệ sinh an toàn thực phẩm và có đội ngũ phục vụ nhiệt tình, chu đáo Không gian bố trí đơn giản nhưng mang đậm bản sắc dân tộc, hứa hẹn mang lại những trải nghiệm độc đáo cho du khách về văn hóa của người dân tộc thiểu số.

4.3.3 Tình hình phát triển du lịch cộng đồng của các hộ điều tra

4.3.3.1 Tình hình chung của các hộ điều tra

Qua điều tra 80 hộ tham gia du lịch cộng đồng tại 3 thôn xã Sà Phìn ta thu được thông tin cơ bản của nhóm hộ điều tra như sau :

Bảng 4.7 Thông tin chung về hộ điều tra

Chỉ tiêu ĐVT Hộ khá Hộ TB Hộ nghèo – cận nghèo

Tổng số hộ điều tra Hộ 26 40 14

I Tổng số lao động Người 68 85 66

II Tổng số độ tuổi tham gia

III Trình độ học vấn của người lao động

TC – CĐ Người 13 12 1 ĐH Người 3 1 0

( Nguồn : Tổng hợp từ số điệu điều tra )

Theo bảng 4.7, trong tổng số 80 hộ điều tra, có 26 hộ thuộc diện khá, 40 hộ trung bình và 14 hộ nghèo – cận nghèo Tổng số lao động trong các hộ khá là 68 người, trong khi hộ trung bình có 85 người và hộ nghèo – cận nghèo có 66 người.

Trong một cuộc khảo sát với 80 hộ gia đình, các đối tượng tham gia du lịch cộng đồng được phân chia thành ba nhóm độ tuổi: dưới 15 tuổi, từ 15 đến 60 tuổi, và trên 60 tuổi Trong số 68 nhân khẩu thuộc nhóm hộ khá, có 6 nhân khẩu dưới 15 tuổi và 54 nhân khẩu trong độ tuổi từ 15 đến 60.

15 - 60 tuổi và 8 nhân khẩu trên 60 tuổi Tổng số 85 nhân khẩu thuộc hộ TB có

Trong tổng số nhân khẩu, có 4 người dưới 15 tuổi, 72 người từ 15 đến 60 tuổi và 9 người trên 60 tuổi Đặc biệt, trong hộ nghèo và cận nghèo, có 66 nhân khẩu, bao gồm 7 người dưới 15 tuổi, 53 người từ 15 đến 60 tuổi và 6 người trên 60 tuổi Độ tuổi từ 15 đến 60 chiếm tỷ lệ cao nhất, cho thấy đây là nhóm tuổi có khả năng tiếp cận giáo dục và nâng cao trình độ dân trí, từ đó cải thiện nhận thức.

Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển du lịch cộng động tại xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang

Sà Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang

4.4.1 Những thuận lợi trong phát triển du lịch cộng đồng Ý kiến của các hộ điều tra về lợi ích của du lịch được thể hiện qua bảng 4.14

Bảng 4.14 Lợi ích của người dân khi tham gia hoạt động du lịch

Lợi ích Số ý kiến Tỷ lệ

Tăng thu nhập cải thiện đời sống 51 63,75

Tạo công ăn việc làm 35 43,75 Được hưởng ưu đãi của địa phương 30 37,5 nâng cao kiến thức 29 26,25

Hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật 13 16,25

(Nguổn : Tổng hợp số liệu điều tra 2018)

Hoạt động du lịch mang lại nhiều lợi ích cho người dân, với 63,75% cho rằng du lịch giúp tăng thu nhập và cải thiện đời sống Ngành du lịch được xem là nhàn hạ và có thu nhập cao, không phân biệt lứa tuổi tham gia qua các hình thức kinh doanh như ăn uống, bán đồ lưu niệm, cung cấp dịch vụ lưu trú và hướng dẫn viên Đặc biệt, 43,75% ý kiến cho rằng du lịch tạo ra việc làm tại chỗ cho người dân, nhất là trong mùa du lịch.

Du lịch không chỉ tạo ra việc làm và cải thiện đời sống cho người dân, mà còn mang lại nhiều chính sách ưu đãi từ nhà nước và chính quyền địa phương như tập huấn và hỗ trợ vay vốn Hoạt động du lịch còn giúp nâng cao kiến thức về môi trường và xã hội cho cộng đồng tham gia.

4.4.2 Những khó khăn trong phát triển du lịch cộng đồng

Du lịch mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng, nhưng người dân xã Sà Phìn cũng đối mặt với một số khó khăn nhất định Những thách thức này cần được nhận diện và giải quyết để đảm bảo sự phát triển bền vững của du lịch tại địa phương.

Bảng 4.15 Một số khó khăn của người dân địa phương khi tham gia hoạt động du lịch cộng đồng

Khó khăn Số ý kiến Tỷ lệ

Không có sự hỗ trợ 11 13,75

(Nguồn : Tổng hợp số liệu điều tra năm 2018)

Theo bảng 4.15, khó khăn lớn nhất của người dân trong hoạt động du lịch là thiếu ngoại ngữ, chiếm 47,5% Đối tượng tham gia chủ yếu là lao động nông nghiệp và đồng bào dân tộc thiểu số, với 42,5% gặp khó khăn do thiếu kinh nghiệm trong việc tiếp đón khách, giao tiếp và quản lý Nguyên nhân chính là do người dân địa phương chưa tham gia các lớp tập huấn và đào tạo kỹ năng.

Vốn là một trong những thách thức lớn mà người dân gặp phải khi tham gia vào hoạt động du lịch, với 35% cho rằng họ thiếu hụt tài chính để phát triển quy mô sản xuất kinh doanh và cơ sở lưu trú.

Một số hộ dân vẫn gặp khó khăn do không nhận được sự hỗ trợ, chủ yếu là những hộ không tham gia các buổi họp và tuyên truyền về du lịch Điều này dẫn đến việc họ không nắm bắt được các chính sách ưu đãi và hỗ trợ từ chính quyền địa phương.

Định hướng và đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch ở xã Sà Phìn huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang

4.5.1 Định hướng phát triển du lịch ở xã Sà Phìn , huyện Đồng Văn

Dựa trên bối cảnh trong nước và quốc tế, xã Sà Phìn huyện Đồng Văn đặt ra mục tiêu phát triển du lịch bền vững, phù hợp với năng lực của ngành du lịch tỉnh Hà Giang Để đạt được điều này, cần có những quan điểm phát triển du lịch cụ thể nhằm thúc đẩy sự phát triển của Sà Phìn trong tương lai.

Phát triển du lịch với vị thế mới là một ngành kinh tế động lực, đóng góp tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của xã, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác.

Phát triển bền vững du lịch cảnh quan và văn hóa, cùng với các lễ hội truyền thống, là cần thiết để thúc đẩy du lịch sinh thái Việc kết hợp này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn đảm bảo an ninh quốc phòng, tạo ra một môi trường du lịch an toàn và hấp dẫn cho du khách.

Phát triển du lịch toàn diện bao gồm cả du lịch quốc tế và nội địa, trong đó du lịch quốc tế được xác định là hướng chiến lược lâu dài, còn du lịch nội địa là yếu tố then chốt Mục tiêu là đảm bảo hiệu quả cao về kinh tế, chính trị và xã hội, đồng thời gắn liền với việc xóa đói giảm nghèo thông qua phát triển du lịch cộng đồng.

Để nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch, cần đa dạng hóa sản phẩm du lịch và chú trọng vào công tác đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và nhân viên trong ngành.

Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao trình độ dân trí xã hội thông qua việc tổ chức các lớp tập huấn Những lớp học này không chỉ giúp hoàn thiện kỹ năng giao tiếp mà còn nâng cao trình độ ngoại ngữ cơ bản cho các hộ gia đình tham gia hoạt động du lịch, từ đó trang bị cho họ kiến thức cần thiết để phát triển trong lĩnh vực này.

Sà Phìn đang đối mặt với thách thức lớn do thiếu kinh nghiệm trong lĩnh vực du lịch Để khắc phục điều này, cán bộ địa phương cần tổ chức thảo luận và đưa những hộ du lịch tiêu biểu trong xã đến tham quan, học tập từ các địa phương có mô hình du lịch cộng đồng phát triển.

Phát triển khu du lịch xã Sà Phìn cần gắn liền với việc khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên du lịch, đồng thời bảo tồn các giá trị văn hóa và tự nhiên Điều này cũng đòi hỏi chú trọng đến việc bảo vệ môi trường du lịch nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững cho ngành du lịch.

4.5.2 Một số giải pháp phát triển du lịch cộng động tại xã Sà Phìn huyện Đồng Văn

* Công tác quản lý Nhà nước về du lịch:

Tăng cường sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương tạo sự thống nhất, chuyển biến nhận thức về phát triển du lịch

Lập và thực hiện quy hoạch phát triển du lịch bền vững là cần thiết để đảm bảo sự phát triển có kế hoạch, đáp ứng các mục tiêu, nguyên tắc và yêu cầu của du lịch bền vững.

* Công tác tuyền truyền, quảng bá, xúc tiến, hợp tác phát triển du lịch

Tăng cường công tác tuyên truyền và phổ biến giáo dục pháp luật là cần thiết để nâng cao ý thức và trách nhiệm của các ngành, các cấp và cộng đồng dân cư trong việc bảo vệ pháp luật.

Du lịch TN & MT không chỉ là hoạt động khám phá mà còn là cơ hội để gìn giữ, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống cũng như thuần phong mỹ tục của dân tộc, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành du lịch.

Trong những năm tới, việc khai thác thị trường khách nội địa sẽ trở thành ưu tiên hàng đầu Đặc biệt, cần tăng cường liên kết và hợp tác phát triển du lịch giữa bốn tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên và Tuyên Quang.

Hợp tác xây dựng các ấn phẩm quảng bá du lịch nhằm phát triển các chương trình và tour tuyến tập trung vào du lịch sinh thái, văn hóa - lịch sử, và du lịch cộng đồng Những nỗ lực này kết hợp du lịch với việc đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu bản sắc văn hóa dân tộc, lịch sử, ẩm thực và mua sắm, tạo ra trải nghiệm phong phú cho du khách.

Tăng cường tổ chức các buổi tập huấn về ngoại ngữ và kỹ năng giao tiếp là rất cần thiết để các hộ tham gia hoạt động du lịch có cơ hội học hỏi và nâng cao kiến thức về du lịch, từ đó cải thiện chất lượng dịch vụ và trải nghiệm cho du khách.

Tổ chức các buổi tham quan mô hình du lịch cộng đồng tại các tỉnh lân cận sẽ giúp rút ra bài học và kinh nghiệm quý giá cho mô hình du lịch tại xã Sà Phìn.

Ngày đăng: 13/07/2021, 11:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đức Hoa Cương – Bùi Thanh Hương (2007), Nghiên cứu các mô hình du lịch cộng đồng ở Việt Nam, khoa Quản Trị kinh doanh và du lịch trường Đại Học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các mô hình du lịch cộng đồng ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Hoa Cương – Bùi Thanh Hương
Năm: 2007
2. Phạm Trung Lương (2010), Tài liệu giảng dạy về du lịch cộng đồng, Viện nghiên cứu phát triển du lịch – Tổng cục du lịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu giảng dạy về du lịch cộng đồng
Tác giả: Phạm Trung Lương
Năm: 2010
3. Tổng cục du lịch Việt Nam ( 2010), Báo cáo tổng hợp chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020,tầm nhìn đến năm 2030 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp chiến lược "phát
9. Bùi Hải Yến ( 2012), Du lịch cộng đồng, NXB Giáo dục. II Tài liệu Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch cộng đồng
Nhà XB: NXB Giáo dục. II Tài liệu Internet
5. UBND xã Sà Phìn, báo cáo kết quả công tác lãnh đạo thức hiện nhiễm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2016 phương hướng nhiệm vụ năm 2017 Khác
6. UBND xã Sà Phìn, báo cáo kết quả công tác lãnh đạo thức hiện nhiễm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 phương hướng nhiệm vụ năm 2018 Khác
7. UBND xã Sà Phìn, báo cáo kế hoạch đất sử dụng đến năm 20120, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu xã Sà Phìn Khác
8. Viện nghiên cứu và phát triển ngành nghề nông thôn Việt Nam (2012), Tài liệu hướng dẫn phát triển du lịch cộng đồng Khác
11. Http://du-lich-Lao-Cai-hoat-dong-du-lich-tai-Lao-Cai-Viet-Nam Khác
12. Http://idoc.vn/du-lich-ben-vung-va-thuc-trang-phat-trien-du-lich-o-Viet-Nam/khoi nganh kinh te Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w