1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao năng lực phản biện xã hội của các tổ chức khoa học và công nghệ thuộc liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật việt nam

78 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 841,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NÂNG CAO NĂNG LỰC PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

NÂNG CAO NĂNG LỰC PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THUỘC LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC

VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Mã số: 60.34.70

Khóa: 2007 - 2010

Người thực hiện: Trịnh Đình Trung

Người hướng dẫn khoa học: TS Mai Hà

HÀ NỘI, 2010

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI VÀ HOẠT ĐỘNG KH&CN TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP 10

1.1 Phản biện xã hội 10

1.1.1.Một số khái niệm về phản biện xã hội 10

1.1.2 Đặc điểm phản biện xã hội 11

1.1.3 Chức năng phản biện xã hội 11

1.1.4 Quá trình hình thành phản biện xã hội ở Việt Nam 12

1.2 Nhu cầu KH&CN trong công cuộc đổi mới, hội nhập 13

1.2.1 Xu hướng phát triển khoa học và công nghệ 13

1.2.2 Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế 15

1.2.3 Bối cảnh trong nước 15

1.2.4 Cơ hội, thách thức và khó khăn: 17

1.3 Một số khái niệm Khoa học và công nghệ 20

1.3.1 Hoạt động KH&CN 20

1.3.2 Mục tiêu của hoạt động KH&CN 22

1.3.3 Nhiệm vụ của hoạt động KH&CN 22

1.3.4 Nguyên tắc của hoạt động KH&CN 23

1.3.5 Tổ chức khoa học và công nghệ 24

1.3.6 Chính sách khoa học và công nghệ 25

1.3.7.Quản lý KH&CN 28

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THUỘC LIÊN HIỆP HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM 29

2.1 Mô hình các tổ chức KH&CN trong thời kỳ đổi mới và hội nhập 29

2.2 Các tổ chức KH&CN thuộc Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam 33

2.2.1 Các tổ chức Khoa học&Công nghệ trực thuộc Liên hiệp hội phát triển nhanh về số lượng 34

2.2.2 Về tên gọi các tổ chức KH&CN trực thuộc 36

2.2.3 Về sự phân bố của các tổ chức KH&CN trực thuộc Liên hiệp các hội KH&KT Việt Nam 36

2.3 Hoạt động KH&CN của các tổ chức KH&CN trực thuộc Liên hiệp các hội KH&KT Việt Nam 37

2.3.1 Hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) 37

2.3.2 Hoạt động triển khai vào sản xuất 38

2.3.3 Hoạt động đào tạo, thông tin và phổ biến kiến thức 39

Trang 3

2.4 Hoạt động phản biện xã hội của các tổ chức KH&CN CN trực thuộc Liên hiệp

các hội KH&CN Việt Nam 40

2.4.1 Các tổ chức KH&CN tham gia vào quá trình phản biện xã hội do Liên hiệp các hội KH&KT Việt Nam trực tiếp tiến hành 42

2.4.2 Các Tổ chức KH&CN trực thuộc Liên hiệp các hội KH&KT Việt Nam trực tiếp tham gia vào phản biện xã hội 45

2.5 Một số phân tích và đánh giá 50

CHƯƠNG 3: NÂNG CAO NĂNG LỰC PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRỰC THUỘC LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM 52

3.1 Hoàn thiện chính sách KH&CN quốc gia trong lĩnh vực phát triển các tổ chức KH&CN 53

3.1.1 Phát triển các tổ chức KH&CN của nhà nước 53

3.1.2 Phát triển các tổ chức KH&CN ngoài công lập (không của nhà nước) 55

3.2 Phát triển các tổ chức KH&CN trực thuộc Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam theo xu hướng nâng cao hiệu quả hoạt động 57

3.2.1 Đẩy mạnh và nâng cao hiêụ quả hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ 57

3.2.2 Đẩy mạnh hoạt động triển khai sản xuất 59

3.2.3 Đẩy mạnh hoạt động dịch vụ KH&CN 60

3.2.4 Đẩy mạnh hoạt động phát triển cộng đồng và xoá đói giảm nghèo 60

3.3 Nâng cao năng lực phản biện xã hội của các tổ chức KH&CN trực thuộc Liên hiệp các hội KH&KT Việt Nam 61

3.3.1 Vai trò của Liên hiệp các hội KH&KT Việt Nam trong việc nâng cao năng lực phản biện xã hội của các tổ chức KH&KT trực thuộc 62

3.3.2 Nâng cao năng lực phản biện xã hội của các tổ chức KH&CN trực thuộc Liên hiệp các hội KH&KT Việt Nam 63

3.3.3 Tổng hợp hệ thống các giải pháp nâng cao năng lực phản biện xã hội của các tổ chức KH&CN trực thuộc Liên hiệp các hội KH&KT Việt Nam 65

3.4 Kết luận chương 3 66

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 4

- LHH Liên hiệp hội

- KH&CN Khoa học và công nghệ

- CNH Công nghiệp hóa

- TP.HCM Thành Phố Hồ Chí Minh

- CT-XH Chính trị - xã hội

- KH&CN Khoa học và công nghệ

- KH&KT Khoa học và kỹ thuật

- BKH&CN Bộ Khoa học và Công nghệ

- PBXH Phản biện xã hội

- NĐ/CP Nghị định - Chính Phủ

- NSNN Ngân sách nhà nước

- THCN Trung học chuyên nghiệp

- [ ] Nguån trÝch dÉn tµi liÖu, xem phÇn “

Tµi liÖu tham kh¶o”

Trang 5

1

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Hơn 10 năm qua, kể từ đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VIII

(1996), đã đánh dấu bước ngoặt chuyển đất nước ta sang thời kỳ mới, thời kỳ

“ Đấy mạnh CNH, HĐH, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội

công bằng văn minh ” [1]

Trên quan điểm đó, Đảng đã đề ra đường lối cực kỳ quan trọng, kịp thời

được cụ thể hoá bằng Nghị quyết Trung ương II Khoá VIII, tháng 12/1996, trong đó nội dung cơ bản là nhằm “ Phát huy cao độ trí tuệ, năng lực nội sinh của con người Việt Nam, của đội ngũ trí thức Việt Nam để trở thành nguồn lực chính, là yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững trong công

cuộc CNH, HĐH xây dựng đất nước” [2]

Ngày nay, trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập, vai trò KH&CN cũng như vị trí của các tổ chức KH&CN ở nước ta nói chung và của LHH nói riêng ngày càng quan trọng, là động lực thúc đẩy đối với sự phát triển KT - XH

Thực hiện Chỉ thị số 35 - CT/TW ngày 11/4/1988 của Ban Bí thư Trung ương Đảng CSVN: “LHH các Hội KH&KT Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo cơ cấu và quy chế của một đoàn thể quần chúng cấp trung ương” [3] ; Chỉ thị số 45 –CT/TW ngày 11/11/1998 của Bộ Chính trị: “LHH là một

tổ chức CT–XH của trí thức KH&CN Việt Nam, cùng với các đoàn thể CT -

XH khác tạo thành lực lượng nòng cốt trong công cuộc CNH, HĐH” đất nước [4] Đẻ xây dựng LHH thành một tổ chức CT - XH vững mạnh của đội ngũ trí thức KH&CN Việt Nam, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển

Trang 6

KH&KT góp phần đẩy mạnh công tác xã hội hoá KH&CN, giáo dục và đào

tạo, đạt nhiều kết quả rõ rệt Vai trò, vị trí và uy tín của LHH trong xã hội ngày càng được nâng cao Hiện nay, Liên hiệp hội đã có 70 hội ngành trung ương, 55 LHH tỉnh, thành phố là thành viên của LHH Việt Nam Ngoài ra LHH còn có hơn 300 tổ chức KH&CN với quy mô khác nhau đã tập hợp được trên 80 vạn trí thức KH&CN Mặc dù phát triển nhanh về số lượng, LHH Việt Nam mới chỉ tập hợp được 1/3 số lượng trí thức trong cả nước [5] Trong công tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, LHH Việt Nam đã triển khai nhiều dự án điều tra cơ bản về môi trường, chương trình, đề tài nghiên cứu, dự án sản xuất thử nghiệm cấp Nhà nước và đề tài cấp LHH Việt Nam Trong hoạt động tư vấn, phản biện xã hội và giám định xã hội cũng

là một trong những nhiệm vụ chính của LHH Việt Nam Tuy nhiên, hoạt động

tư vấn, phản biện và giám định xã hội mang tính độc lập của LHH theo tinh thần Quyết định số 22/QĐ-TTg ngày 30/1/2002 của Thủ Tướng Chính Phủ [6] vẫn còn những vướng mắc; nhiều cấp, nhiều ngành chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của các hoạt động này trong xây dựng và thực hiện các dự án phát triển Mặt khác, kỹ năng, năng lực thực tiễn của các chuyên gia trong LHH còn hạn chế, thiếu chủ động nên chưa tạo được niềm tin lớn đối với các

cơ quan sử dụng tư vấn Năng lực vận động chính sách cũng chưa được chú ý đúng mức trong hoạt động tư vấn của LHH Chưa tập hợp được đông đảo trí thức KH&CN, trí thức trẻ, trí thức trong doanh nghiệp và trí thức người Việt

Trang 7

Những hạn chế đề cập ở trên có nguyên nhân từ phía các tổ chức Đảng và chính quyền các cấp; có lúc, có nơi một số cấp ủy Đảng, chính quyền chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam là

tổ chức CT-XH, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng; chưa quán triệt sâu sắc nội dung các chỉ thị của Đảng về Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam; chậm thể chế hóa các văn bản chỉ đạo của Đảng thành các cơ chế, chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi để Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam hoạt động và phát triển

Triết lý tư duy cũ về hoạt động Hội đã không còn phù hợp với tình hình mới đòi hỏi phải được đổi mới cơ bản bằng tư duy chính trị mới về hoạt động Hội Mô hình và cách thức hoạt động hiện nay đang có dấu hiệu không theo kịp xu thế phát triển và hội nhập

Để giải quyết những vấn đề cấp thiết nêu trên nhằm góp phần nâng cao vai trò của LHH Việt Nam theo hướng nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN

và năng lực phản biện xã hội Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Nâng cao năng lực phản biện xã hội của các tổ chức Khoa học & Công nghệ thuộc Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam”

Trang 8

4

2 Tổng quan các vấn đề đã được nghiên cứu

Ở Việt Nam, vấn đề phản biện xã hội thực sự nổi lên và được quan tâm

khoảng những năm gần đây Nhưng cũng cần nhấn mạnh rằng chưa có công trình khoa học trong khuôn khổ quản lý nhà nước như đề tài các cấp (nhà nước, bộ, ngành, cơ sở) nghiên cứu có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động phản biện xã hội tại các tổ chức Dân sự ở Việt Nam Những bài viết trên các tạp chí thường dừng lại ở mức thông tin, tổng quan một số khía cạnh chung, như khái niệm về phản biện xã hội, vai trò của các tổ

chức liên quan đến phản biện xã hội…

- Nghị quyết đại hội X của Đảng Cộng Sản Việt Nam (2006) đã chỉ rõ:

"Xây dựng quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định lớn của Đảng và việc tổ chức thực hiện, kể cả đối với công tác tổ chức và cán bộ" ( ) "Coi trọng vai trò tư vấn, phản biện của các Hội khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội và văn học, nghệ thuật đối với các dự án phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội" ( ) "Nhà nước ban hành cơ chế

để Mặt trận và các Đoàn thể nhân dân thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội" [7]

- Phản biện xã hội, tác giả Trần Đăng Tuấn - NXB Đà Nẵng (2006) Cuốn sách tập hợp các bài viết, phản biện xã hội chỉ là một bài trong tập sách mà tác giả lấy làm tên cuốn sách Theo tác giả, phản biện, tự phản biện nó là điều

tự nhiên Đó không phải là vấn đề muốn hay không muốn Ở vị trí quyền lực, coi trọng phản biện, sẽ có được phản biện xã hội có tổ chức, giúp ích lớn cho

ổn định và phát triển; ngược lại, tránh né phản biện xã hội, kết quả là nhận

Trang 9

- Nâng cao vai trò phản biện xã hội trong sự phát triển kinh tế - xã hội Chương trình đối thoại nói và làm do Hội đồng Nhân dân và Đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh tổ chức (6/2009) Khía cạnh về phản biện được đề cập có thể khái quát như sau: Trong xã hội, người quản lý đưa ra các luật lệ, chủ trương, chính sách và các nhà khoa học, trí thức, người dân có thể sử dụng phương pháp khoa học, lý luận để góp ý kiến của mình về những vấn đề

đó Người dân phát biểu ý kiến và người lãnh đạo sàng lọc, phân tích, tiếp thu những ý kiến đúng để bổ sung hoặc sửa đổi những chủ trương, chính sách chưa hợp lý, “phản biện không phải là phản bác”

- Vai trò giám sát và phản biện xã hội của báo chí, tác giả Nguyễn Tuấn Nghĩa (tiểu luận, 2010) Giám sát và phản biện xã hội là hai khái niệm chức năng gắn bó mật thiết Trong đời sống xã hội, phản biện là một công cụ không thể thiếu để tổ chức ra một xã hội dân chủ Theo quan niệm của người làm tiểu luận, các đối tượng: hệ thống bộ máy nhà nước, các cơ quan chức năng; đông đảo quần chúng nhân dân, các tổ chức phi chính phủ, dư luận xã hội…đều vừa là đối tượng giám sát - phản biện, vừa là đối tượng chịu sự

Trang 10

6

giám sát - phản biện nhằm vào những chủ trương, quyết sách, những hiện tượng, trào lưu, những quan điểm nảy sinh trong thực tế đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội mà diễn đàn của các hoạt động này chính là báo chí

- Nghiên cứu - trao đổi vai trò giám sát và phản biện xã hội đối với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền, của TS Đoàn Minh Huấn, học viện Hành chính khu vực 1 Theo Ông, giám sát và phản biện xã hội có vai trò quan trọng trong thực hành dân chủ, góp phần năng động hóa sự cầm quyền, gia cường chất lượng thể chế, nâng cao ý thức và năng lực làm chủ của người dân Giám sát xã hội và phản biện xã hội cần phải được đặt trong mối quan hệ tương tác với giám sát, kiểm tra và phê bình trong Đảng; giám sát, thanh tra, kiểm soát và phê bình trong bộ máy nhà nước… Tất cả cùng hợp thành một

cơ chế hỗn hợp kiểm soát quyền lực, đảm bảo tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, bảo vệ bản chất dân chủ của chế độ

3 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 11

- Phạm vi không gian: Một số tổ chức KH&CN của LHH Việt Nam

- Phạm vi thời gian: Từ năm 2000 đến 2010

5 Vấn đề nghiên cứu

Hiện trạng tổ chức KH&CN và hoạt động KH&CN ở LHH Việt Nam Những yếu tố nào cản trở và hạn chế đến hoạt động KH&CN của các tổ chức KH&CN LHH Việt Nam? Đâu là nguyên nhân cản trở và hạn chế trên Giải pháp nào để nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN và nâng cao năng lực phản biện xã hội?

6 Giả thuyết nghiên cứu

- Chính sách KH&CN phù hợp sẽ thúc đẩy phát triển các tổ chức KH&CN hoạt động hiệu quả hơn trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập

- Năng lực phản biện xã hội của các tổ chức KH&CN ở LHH Việt Nam hoàn toàn đáp ứng trò phản biện xã hội, nhưng chưa tập trung và chưa phát huy hết tiềm lực này bởi sự bất hợp lý về sự khảng định đúng vai trò phản biện xã hội của LHH Việt Nam của Nhà nước ta

Trang 12

8

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phân tích tài liệu

Phân tích các nguồn tư liệu, số liệu sẵn có về chính sách và quản lý nhà nước về KH&CN Các nguồn tư liệu, số liệu thu được từ nguồn Bộ KH&CN, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam

7.2 Tiếp cận hệ thống chức năng, tiếp cận lịch sử

Sử dụng phương pháp này để nghiên cứu hệ thống tổ chức KH&CN, với từng giai đoạn phát triển của đất nước

7.5 Phương pháp nghiên cứu và so sánh

Nghiên cứu hệ thống văn bản chính sách về phát triển KH&CN Việt Nam qua các thời kỳ, nghiên cứu hệ thống tổ chức KH&CN qua mỗi giai đoạn

8 Luận cứ khoa học

- Luận cứ lý thuyết: Sử dụng lý thuyết quản lý, lý thuyết hệ thống chức năng, lý thuyết sử dụng nhân lực KH&CN trong thời đại CNH, HĐH

và hội nhập …

- Luận cứ thực tiễn: Thực tiễn hoạt động KH&CN trong đó có phản biện

xã hội của một số tổ chức KH&CN ở LHH Việt Nam

Trang 13

9

9 Ý nghĩa của luận văn

Góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN (trong đó có hoạt động phản biện xã hội) của các tổ chức KH&CN ở LHH (tổ chức CT–XH), đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong thời kỳ CNH, HĐH và hội nhập

10 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung nghiên cứu được trình bày trong 3 chương sau:

CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận về phản biện xã hội và hoạt động KH&CN trong thời kỳ đổi mới hội nhập

CHƯƠNG 2: Thực tiễn hoạt động KH&CN và phản biện xã hội của các tổ chức Khoa học và Công nghệ thuộc Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam

CHƯƠNG 3: Nâng cao năng lực phản biện xã hội của các tổ chức Khoa học

và Công nghệ trực thuộc Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam

Trang 14

10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI VÀ HOẠT ĐỘNG KH&CN TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP

1.1 Phản biện xã hội

1.1.1.Một số khái niệm về phản biện xã hội

Phản biện xã hội là sự phản biện nói chung của nhân dân và các tổ chức CT-XH về nội dung, phương hướng, chủ trương, chính sách, pháp luật, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, KH&CN, giáo dục - đào tạo, y tế, môi trường, trật tự, an ninh ảnh hưởng đến toàn xã hội của Đảng, Nhà nước và các tổ chức liên quan ban hành nhằm mục tiêu phát triển [8]

Trong khoa học, phản biện là nhận xét, đánh giá, bình luận, thẩm định các công trình khoa học, dự án, đề án, đề tài trong các lĩnh vực khác nhau Phản biện xã hội có điểm chung đó, nhưng có phạm vi, đối tượng, nội dung quy mô, lực lượng tham gia rộng lớn hơn nhiều [9]

Phản biện xã hội là một khái niệm CT - XH, phản biện xã hội về thực chất là sự phản biện của nhân dân Nhân dân là chủ thể của phản biện xã hội với hai tư cách:

Thứ nhất: Với tư cách là người chủ, nhân dân có quyền giám sát đối với

mọi hoạt động của Nhà nước Bằng hình thức phản biện xã hội, nhân dân có công cụ hữu hiệu, có điều kiện tốt hơn thực hiện quyền và giám sát các hoạt động của Nhà nước

Thứ hai: Với tư cách là đối tượng chịu sự quản lý của Nhà nước, nhân

dân có quyền bảo vệ lợi ích, quyền lợi chính đáng, hợp pháp của mình trước những chủ trương, chính sách, đề án chưa hợp lí chưa đáp ứng đầy đủ của Nhà nước các quyền lợi đó [10]

Theo từ điển Tiếng Việt của viện Ngôn ngữ học do nhà xuất bản Đà Nẵng và trung tâm Từ điển học phát hành năm 2000, thì phản biện là một

Trang 15

mô và lực lượng rộng rãi hơn của xã hội, của nhân dân, và các nhà khoa học

về nội dung, phương hướng, chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển KT -

XH, KH&CN, giáo dục, y tế, môi trường, trật tự an ninh chung toàn xã hội của Đảng, Nhà nước và các tổ chức liên quan [12]

1.1.2 Đặc điểm phản biện xã hội

Phản biện xã hội là làm sáng tỏ đúng - sai của các vấn đề có tinh chất liên quan đến lợi ích toàn xã hội, đến lợi ích đông đảo của nhân dân, giúp Nhà nước điều chỉnh chủ trương chính sách phù hợp với lợi ích chung của xã hội Phản biện xã hội là thực hành dân chủ, là đặc trưng của đời sống dân chủ

xã hội Phản biện xã hội không chỉ đem lại lơi ích (về vật chất, tinh thần) cho

xã hội mà còn có ý nghĩa chính trị sâu sắc, phản ánh mối quan hệ giữa Nhà

nước và công dân

1.1.3 Chức năng phản biện xã hội

Thứ nhất, giám sát xã hội và phản biện xã hội đảm bảo quyền phản hồi xã hội trực tiếp hoặc bán trực tiếp đối với thể chế cầm quyền, nhờ đó, có tác dụng phòng ngừa hoặc hạn chế sai lầm

Trang 16

xã hội

Thứ tư, giám sát xã hội và phản biện xã hội có tác dụng khắc phục các biểu hiện dân chủ hình thức, thúc đẩy minh bạch hóa và quản trị quốc gia theo nguyên tắc dân chủ

Thứ năm, giám sát xã hội và phản biện xã hội có tác dụng trực tiếp chống lãng phí, thực hành tiết kiệm

Thứ sáu, giám sát xã hội và phản biện xã hội đòi hỏi giới cầm quyền phải chấp nhận sự cọ sát, tranh luận, đối thoại với nhân dân và nhờ đó rèn luyện thêm kỹ năng chính trị hiện đại, khắc phục tình trạng né tránh công luận, gây

sự trì trệ của hệ thống Giám sát xã hội và phản biện xã hội cũng là môi trường tốt cho giáo dục, rèn luyện, lôi cuốn quần chúng vào các phong trào xã hội theo định hướng của thể chế cầm quyền

Thứ bảy: giám sát xã hội và phản biện xã hội là môi trường rèn luyện dân chủ, tăng cường tính tích cực và năng động trong thực hành dân chủ, thúc đẩy hiện đại hóa xã hội

1.1.4 Quá trình hình thành phản biện xã hội ở Việt Nam

Phản biện xã hội đến Đại hội X, được chính thức ghi vào trong Văn kiện của Đảng Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã khẳng định: “Phát huy vai trò

và tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận và các Đoàn thể nhân dân tham gia xây dựng đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội” [7]

Trang 17

ta, nhân dân ta là cơ sở nảy sinh đường lối và sự nghiệp đổi mới; Đảng ta là người khái quát, tổng hợp, tổng kết hoạt động thực tiễn, hoạt động nhận thức của nhân dân Như vậy, Đảng là tác giả của chiến lược đổi mới trên cơ sở hoạt động thực tiễn và phản biện của nhân dân (mặc dù đến Đại hội Đảng X, chúng ta mới nêu lên khái niệm phản biện xã hội)

Phản biện xã hội mang tính xã hội sâu sắc, thực chất là thực hiện quyền lực chính trị, phát huy dân chủ về quyền làm chủ của nhân dân, nêu cao ý thức trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia xây dựng Đảng, quản lý Nhà nước, góp ý kiến với cán bộ, công chức và các cơ quan nhà nước Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều phục vụ lợi ích của nhân dân và vì nhân dân Nhân dân không chỉ có quyền mà còn có trách nhiệm tham gia hoạch định và thi hành các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước Nhân dân cũng là nơi nhạy cảm phát hiện các chủ trương chính sách đúng hoặc sai, các chủ trương chính sách cần bổ sung, điều chỉnh, phát triển Phản biện xã hội trở thành nhu cầu thiết yếu và đòi hỏi tất yếu của quá trình lãnh đạo, điều hành đất nước hợp quy luật, hợp lòng dân, khắc phục

tệ quan liêu trong xã hội chúng ta

1.2 Nhu cầu KH&CN trong công cuộc đổi mới, hội nhập

1.2.1 Xu hướng phát triển khoa học và công nghệ

Cuộc cách mạng KH&CN trên thế giới tiếp tục phát triển với nhịp độ ngày càng nhanh, có khả năng tạo ra những thành tựu mang tính đột phá, khó

Trang 18

14

dự báo trước và có ảnh hưởng to lớn tới mọi mặt của đời sống xã hội loài người Nhờ những thành tựu to lớn của KH&CN, đặc biệt là công nghệ thông tin - truyền thông, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, v.v , xã hội loài người đang trong quá trình chuyển từ nền văn minh công nghiệp sang thời đại thông tin, từ nền kinh tế dựa vào các nguồn lực tự nhiên sang nền kinh tế dựa vào tri thức, mở ra cơ hội mới cho các nước đang phát triển có thể rút ngắn quá trình CNH, HĐH

KH&CN đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, hàng đầu Sức mạnh của mỗi quốc gia tuỳ thuộc phần lớn vào năng lực KH&CN Lợi thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên, giá lao động rẻ ngày càng trở nên ít quan trọng hơn Vai trò của nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, có năng lực sáng tạo, ngày càng có ý nghĩa quyết định trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế

Thời gian đưa kết quả nghiên cứu vào áp dụng và vòng đời công nghệ ngày càng rút ngắn Lợi thế cạnh tranh đang thuộc về các doanh nghiệp biết lợi dụng các công nghệ mới để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới, đáp ứng nhu cầu đa dạng và luôn thay đổi của khách hàng Với tiềm lực hùng mạnh về tài chính và KH&CN, các công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia đang nắm giữ

và chi phối thị trường các công nghệ tiên tiến

Để thích ứng với bối cảnh trên, các nước phát triển đang điều chỉnh cơ

cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành công nghiệp và dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao, công nghệ thân môi trường; đẩy mạnh chuyển giao

những công nghệ tiêu tốn nhiều nguyên liệu, năng lượng, gây ô nhiễm cho các nước đang phát triển Nhiều nước đang phát triển dành ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực KH&CN trình độ cao, tăng mức đầu tư cho nghiên cứu và đổi mới công nghệ, nhất là một số hướng công nghệ cao chọn lọc; tăng cường cơ

Trang 19

15

sở hạ tầng thông tin - truyền thông; nhằm tạo lợi thế cạnh tranh và thu hẹp

khoảng cách phát triển

1.2.2 Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế

Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng gia tăng Đây vừa là quá trình hợp tác để phát triển vừa là quá trình đấu tranh giữa các nước

để bảo vệ lợi ích quốc gia

Để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt, những yêu cầu về tăng năng suất lao động, thường xuyên đổi mới và nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức tổ chức quản

lý, đang đặt ra ngày càng gay gắt hơn Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế, các thành tựu to lớn của công nghệ thông tin - truyền thông, xu hướng phổ cập internet, phát triển thương mại điện tử, kinh doanh điện tử, ngân hàng điện tử, chính phủ điện tử, v.v đang tạo ra các lợi thế cạnh tranh mới của các quốc gia và từng doanh nghiệp

Đối với các nước đang phát triển nếu không chủ động chuẩn bị về nguồn nhân lực, tăng cường cơ sở hạ tầng thông tin - viễn thông, điều chỉnh các quy định về pháp lý, v.v thì nguy cơ tụt hậu ngày càng xa và thua thiệt trong quan hệ trao đổi quốc tế là điều khó tránh khỏi

1.2.3 Bối cảnh trong nước

Sau hơn 20 năm đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, làm nền tảng cho giai đoạn phát triển mới: nền kinh tế có mức tăng trưởng cao, liên tục; tình hình CT - XH ổn định; xu thế dân chủ hoá, xã hội hoá ngày càng mở rộng; đời sống nhân dân được nâng cao rõ rệt; quan hệ hợp tác quốc tế được cải thiện

Trang 20

16

Đại hội Đảng lần thứ IX tiếp tục khẳng định con đường đổi mới theo hướng đẩy mạnh CNH, HĐH để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020; chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, cam kết thực hiện các thoả thuận trong khuôn khổ AFTA, Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, gia nhập WTO; tăng cường đổi mới khu vực kinh tế quốc doanh, phát triển kinh tế tập thể, khuyến khích khu vực dân doanh, hỗ trợ mạnh mẽ khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ; đẩy mạnh cải cách hành chính, v.v

Chiến lược phát triển KT – XH giai đoạn 2001 - 2010 của nước ta đã xác định mục tiêu phát triển tổng quát là: Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng

để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại; nguồn lực con người, năng lực KH&CN, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao

Trong bối cảnh đó, KH&CN có nhiệm vụ cung cấp kịp thời luận cứ khoa học cho các quyết sách quan trọng của Đảng và Nhà nước; đóng góp thiết thực vào việc nâng cao hiệu quả và sức khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, đáp ứng các mục tiêu chiến lược phát triển KT - XH

Trong bối cảnh toàn cầu hoá, không có công nghệ nào là duy nhất đối với bất cứ một công ty hay một quốc gia nào Nửa thế kỷ qua, sức mạnh kinh tế cũng như KH&CN của Mỹ luôn đứng đầu thế giới Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, hội nhập quốc tế về KH&CN là động lực thúc đẩy các hoạt động KH&CN trong nước Đây là cơ hội để chúng ta khai thác thành tựu KH&CN thế giới, thu hút nguồn lực và công nghệ nước ngoài để nâng cao và phát triển trình độ KH&CN trong nước, góp phần thực hiện các mục

Trang 21

17

tiêu chiến lược phát triển KT – XH và từng bước hội nhập nền kinh tế tri thức của thế giới

1.2.4 Cơ hội, thách thức và khó khăn:

- Cơ hội: Đảng và Nhà nước luôn coi trọng sự nghiệp phát triển

KH&CN, Đại hội IX của Đảng tiếp tục khẳng định phát triển KH&CN cùng với phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực cho CNH, HĐH đất nước

Trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế, với đường lối đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế, nước ta có cơ hội thuận lợi để tiếp thu hút tri thức KH&CN, các nguồn lực và kinh nghiệm tổ chức quản lý tiên tiến của nước ngoài để nhanh chóng tăng cường năng lực KH&CN quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Tận dụng những thành tựu của cuộc cách mạng KH&CN hiện đại, nước ta có thể đi thẳng vào những công nghệ hiện đại để rút ngắn quá trình CNH, HĐH và khoảng cách phát triển kinh tế so với các nước đi trước Với tiềm năng trí tuệ dồi dào, nếu có một chiến lược phát triển nguồn nhân lực đúng đắn, nước ta có thể sớm đi vào một số lĩnh vực của kinh

tế tri thức

Quá trình đổi mới đất nước đã tạo ra những tiền đề mới cho sự phát triển KH&CN của nước ta trong thời gian tới Nền kinh tế nước ta có tốc độ tăng trưởng cao, liên tục trong thời gian qua là điều kiện thuận lợi để tăng đầu tư cho phát triển KH&CN, đồng thời thúc đẩy đổi mới công nghệ và ứng dụng thành tựu KH&CN trong nền kinh tế, nhất là trước sức ép về cạnh tranh trong điều kiện hội nhập khu vực và quốc tế

Tham gia hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện cho Việt Nam tiếp thu KH&CN tiên tiến, tạo cơ sở vật chất kĩ thuật cho công cuộc xây dựng chủ

Trang 22

18

nghĩa xã hội Hội nhập kinh tế quốc tế là con đường khai thông thị trường nước ta với khu vực và thế giới, tạo môi trường đầu tư hấp dẫn, có hiệu quả Qua đó mà các kĩ thuật, công nghệ mới có điều kiện du nhập vào nước ta, đồng thời tạo cơ hội để chúng ta lựa chọn kĩ thuật, công nghệ nước ngoài nhằm phát triển năng lực kĩ thuật, công nghệ quốc gia

- Thách thức và khó khăn: Thách thức lớn nhất đối với sự phát triển

KH&CN nước ta hiện nay là phải nhanh chóng nâng cao lực năng KH&CN trong điều kiện nước ta còn nghèo, vốn đầu tư hạn hẹp, trình độ phát triển kinh tế và KH&CN còn có khoảng cách khá xa so với nhiều nước trên thế giới và trong khu vực

Trong bối cảnh phát triển năng động và khó dự báo cả về KH&CN và kinh tế của thế giới hiện đại, khả năng nắm bắt thời cơ và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài tuỳ thuộc nhiều vào trình độ và năng lực KH&CN của quốc gia Thách thức lớn nhất đối với sự phát triển KH&CN nước ta hiện nay là phải nâng cao nhanh chóng năng lực KH&CN để thực hiện quá trình CNH, HĐH rút ngắn, trong điều kiện nước ta còn nghèo, vốn đầu tư hạn hẹp, trình độ phát triển kinh tế và KH&CN còn có khoảng cách khá xa so với nhiều nước trên thế giới và trong khu vực

Trong xu thế phát triển của kinh tế tri thức, lợi thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên, giá lao động rẻ dần nhường chỗ cho lợi thế về nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn giỏi, có năng lực sáng tạo Nước ta nếu không sớm chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của lực lượng lao động thì sẽ không có khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực về thu hút đầu tư và các công nghệ tiên tiến từ bên ngoài

Trong quá trình hội nhập quốc tế về kinh tế và KH&CN, nước ta đang đứng trước những khó khăn về chuyển đổi và xây dựng những thể chế mới về

Trang 23

19

kinh tế, thương mại, tài chính, ngân hàng, sở hữu trí tuệ, v.v phù hợp với thông lệ quốc tế Tình trạng này nếu không sớm vượt qua sẽ cản trở sự thành công của quá trình hội nhập khu vực và quốc tế

Trước những cơ hội và thách thức trên đây, nếu không có những quyết sách đột phá về đổi mới thể chế kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý KH&CN, những biện pháp mạnh mẽ tăng cường năng lực KH&CN quốc gia, thì nguy

cơ tụt hậu kinh tế và KH&CN ngày càng xa và tình trạng lệ thuộc lâu dài vào nguồn công nghệ nhập là khó tránh khỏi

Xu thế phát triển của kinh tế tri thức, lợi thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên, giá lao động rẻ dần nhường chỗ cho lợi thế về nguồn nhân lực có trình

độ chuyên môn giỏi, có năng lực sáng tạo Nước ta nếu không sớm chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của lực lượng lao động thì sẽ không có khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực về thu hút đầu tư và các công nghệ tiên tiến từ bên ngoài

Việt Nam chỉ có thể phát triển kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế bằng cách dựa vào KH&CN Một nhược điểm của cơ chế kinh tế tập trung, bao cấp còn tồn tại đến nay là sự yếu kém trong ứng dụng, gắn kết tri thức với công nghệ, đổi mới công nghệ phục vụ sản xuất kinh doanh Vì vậy trong bối cảnh mới, thách thức lớn đối với Việt Nam là làm sao KH&CN đáp ứng được yêu cầu

về công nghệ để phát triển kinh tế và phục vụ hiệu quả cho quá trình hội nhập

kinh tế quốc tế Phát triển kinh tế chưa thực sự theo hướng bền vững Có thể

nhận thấy rằng, những thành tựu đã đạt được của nước ta vừa qua còn dựa chủ yếu vào quá trình đổi mới theo bề rộng, đó là khai thác tài nguyên thiên nhiên và lợi thế giá nhân công rẻ, mà chưa tạo được các yếu tố nuôi dưỡng sự tăng trưởng kinh tế lâu dài và quá trình phát triển bền vững đất nước dựa trên năng lực nội sinh về KH&CN; chưa phát huy tối đa lợi thế so sánh của đất

Trang 24

Theo quan điểm của triết học Mác, khoa học được hiểu là một hình thái ý thức xã hội Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, khoa học tồn tại mang tính độc lập tương đối với các hình thái ý thức xã hội khác Khoa học phân biệt với các hình thái ý thức xã hội khác ở đối tượng và hình thức phản ánh, mang một chức năng xã hội riêng biệt

Theo luật KH&CN, khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy

- Khái niệm về công nghệ: Công nghệ là những phương pháp, cách thức dựa trên cơ sở khoa học được sử dụng vào sản xuất để tạo ra sản phẩm vật chất Công nghệ là kết quả của quá trình vật chất hóa tri thức khoa học, vận dụng các quy luật tự nhiên, các nguyên lý khoa học vào sản xuất và tinh thần của con người

“Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết,

công cụ phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm” [13]

Theo định nghĩa trên thì công nghệ bao gồm hai yếu tố tinh thần và vật chất Yếu tố tinh thần ở đây là các tri thức khoa học, các phương pháp, cách thức con người sử dụng nhằm tạo ra những sản phẩm vật chất Yếu tố vật chất

ở đây chính là các thiết bị do con người sử dụng trong quá trình sản xuất Con người là nhân tố duy nhất có khả năng tổng hợp các lực lượng vật chất và tinh

Trang 25

21

thần để áp dụng vào thực tiễn, vì tri thức khoa học và phương tiện kỹ thuật chỉ

có thể phát huy được tác dụng thông qua quá trình hoạt động của con người Chúng ta có thể hiểu công nghệ bao gồm có hai phần: Phần cứng và phần mềm

+ Phần cứng là toàn bộ phần ta có thể nhìn thấy được và có thể mua bán được trên thị trường như thiết bị, máy móc, cơ sở vật chất

+ Phần mềm gồm tri thức, kỹ năng, công thức để sử dụng phần cứng tạo

ra sản phẩm vật chất Trong cơ chế thị trường phần mềm cũng được mua và bán cũng như trao đổi trên thị trường

Trong một số trường hợp người ta phân thành bốn nhóm yếu tố cơ bản: + Nhóm yếu tố kỹ thuật gồm các thiết bị, máy móc

+ Nhóm yếu tố con người gồm các chuyên gia nghiên cứu, tư vấn, những người trực tiếp gắn bó với các hoạt động công nghệ

+ Nhóm yếu tố tổ chức gồm các bộ máy, cơ chế, quản lý …

+ Nhóm yếu tố thông tin gồm bí quyết sản xuất, công thức, phương thức tiến hành

- Khái niệm về hoạt động KH&CN: Theo luật KH&CN, hoạt động KH&CN bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, dịch vụ KH&CN, hoạt động phát huy sang kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển KH&CN

+ Khái niệm nghiên cứu khoa học:

Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng

Trang 26

22

+ Phát triển công nghệ là hoạt động nhằm tạo ra và hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới Phát triển công nghệ bao gồm triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm

+ Triển khai thực nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học để làm thực nghiệm nhằm tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới + Sản xuất thử nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả triển khai thực nghiệm để sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống

+ Dịch vụ KH&CN là các hoạt động phục vụ việc nghiên cứu khoa học

và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ; các dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng tri thức khoa học và công nghệ và kinh nghiệm thực tiễn [14] Tóm lại : Hoạt động KH&CN là hoạt động có hệ thống liên quan chặt chẽ đến việc tạo ra/sản xuất, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các kiến thức khoa học và công nghệ vào đời sống xã hội Hoạt động KH&CN được đánh giá là loại hoạt động phức tạp, bởi vì nó đòi hỏi chủ thể của nó phải được đào tạo chu đáo, có hàm lượng chất xám cao Sản phẩn KH&CN tạo ra là loại hàng

hóa công cộng vì lợi ích xã hội, vì sự phát triển con người và tiến bộ xã hội

1.3.2 Mục tiêu của hoạt động KH&CN

Mục tiêu của hoạt động KH&CN là xây dựng nền KH&CN tiên tiến, hiện đại để phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao trình độ quản lý; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường; đẩy mạnh CNH, HĐH; xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người mới Việt

Nam; góp phần phát triển nhanh, bền vững KT - XH, nâng cao chất lượng

cuộc sống của nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh [15]

1.3.3 Nhiệm vụ của hoạt động KH&CN

Trang 27

23

Vận dụng sáng tạo và phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; xây dựng lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; xây dựng luận cứ khoa học cho việc định

ra đường lối, chính sách, pháp luật về phát triển KT - XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh; góp phần xây dựng nền giáo dục tiên tiến, xây dựng con người mới Việt Nam; kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống của văn hoá dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại và đóng góp vào kho tàng văn hoá, khoa học của thế giới

Nâng cao năng lực KH&CN để làm chủ các công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, các phương pháp quản lý tiên tiến; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khoẻ của nhân dân; dự báo kịp thời, phòng, chống, hạn chế và khắc phục hậu quả thiên tai

Tiếp thu các thành tựu KH&CN của thế giới để tạo ra, ứng dụng có hiệu quả các công nghệ mới; tạo ra sản phẩm mới có sức cạnh tranh cao; phát triển nền KH&CN Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, tiếp cận với trình

độ thế giới, làm cơ sở vững chắc cho việc phát triển các ngành công nghiệp hiện đại; đẩy mạnh việc phổ biến và ứng dụng các thành tựu KH&CN vào sản xuất và đời sống

1.3.4 Nguyên tắc của hoạt động KH&CN

Hoạt động KH&CN phải phục vụ nhiệm vụ phát triển KT-XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh

Xây dựng và phát huy năng lực nội sinh về KH&CN kết hợp với việc tiếp thu có chọn lọc các thành tựu KH&CN của thế giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam

Trang 28

24

Kết hợp chặt chẽ khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ với khoa học xã hội và nhân văn; gắn nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với giáo dục và đào tạo, với hoạt động sản xuất, kinh doanh và phát triển thị trường công nghệ

Phát huy khả năng lao động sáng tạo của mọi tổ chức, cá nhân

Trung thực, khách quan, đề cao đạo đức nghề nghiệp, tự do sáng tạo, dân chủ, tự chủ, tự chịu trách nhiệm

1.3.5 Tổ chức khoa học và công nghệ

Tổ chức KH&CN là một loại hình tổ chức đặc chủng nằm trong chỉnh thể của hệ thống tổ chức xã hội, đó là nợi tập hợp nhiều người thuộc các lĩnh vực KH&CN khác nhau, nơi để vận hành các hoạt động KH&CN có tính chất liên ngành, cũng như cho công việc xây dựng những tập thể KH&CN để đáp ứng các nhu cầu thực tiễn xã hội

Có một số kiểu loại hình tổ chức KH&CN chủ yếu sau:

+ Tổ chức hình thức (Formal organization)

+ Tổ chức phi hình thức (Informal organization)

+ Tổ chức kiểu ma trận

+ Tổ chức tựa phi hình thức (Quasi - informal organization)

Trên đây là bốn kiểu loaị hình tổ chức KH&CN điển hình hiện nay người

ta hay sử dụng trên thế giới Nhưng trong điều kiện nước ta hiện nay - thời kỳ đổi mới, vì thế tổ chức hệ thống tổ chức KH&CN cần phải hết sức cân nhắc Tùy theo từng khu vực kinh tế mà hình thành, phát triển loại hình tổ chức KH&CN nào, để có cơ cấu tổ chức phù hợp trong môi trường cụ thể hoạt động của nó

Nhìn lại chặng đường phát triển KH&CN của nước ta luôn gắn bó với với

sự phát triển KT - XH đất nước Sự phát triển của KH&CN, tiến bộ khoa học

Trang 29

Hơn 30 năm qua, chính sách KH&CN đã trải qua các thời kỳ sau:

+ Giai đoạn thứ nhất: Cải cách trong khuôn khổ Nhà nước độc quyền hoạt động KH&CN với nền kinh tế chỉ huy tập trung Nhà nước đã có một số văn bản như: Nghị định 263/CP năm 1981, Nghị định 122/HĐBT năm 1982 + Giai đoạn thứ 2: Phi tập trung hóa trong khuôn khổ độc quyền Nhà nước đối với hoạt động KH&CN, thừa nhận thành phần tư nhân trong hoạt động KH&CN Nhà nước đã có một số văn bản như: Quyết định 175/CP Nghị định 51/HĐBT Quyết định 324/HĐBT Quyết định 134/HĐBT Nghị định 35/HĐBT Chỉ thị 119/CT Nghị định: 27, 28,29, 217/HĐBT

+ Giai đoạn đổi mới cơ bản: Từ năm 2001 đến nay, Nhà nước đã tiến

hành công cuộc đổi mới triệt để hơn và mang tính hệ thống về cơ cấu tổ chức

và phương thức hoạt động của các tổ chức KH&CN Nhà nước đã ban hành một số văn bản theo hướng của đổi mới là từng bước thực hiện xã hội hoá hoạt động KH&CN, hợp lý hoá phương thức tài trợ của nhà nước, từng bước xoá bỏ bao cấp, tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN, đặc biệt là các tổ chức KH&CN công lập Chủ trương này được cụ thể hóa bằng hành lang pháp lý sau đây:

Trang 30

26

* Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 5/9/2005 của Chính phủ quy định

cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập Tinh thần chủ đạo xuyên suốt của Nghị định 115/2005/NĐ-CP là kinh phí của các tổ chức KH&CN được cấp theo nhiệm vụ được giao

Nội dung cơ bản của Nghị định 115/2005/NĐ-CP có thể tóm tắt như sau:

- Lần đầu tiên phân định rõ các tổ chức KH&CN công lập thành hai loại với sự phát triển theo các lộ trình khác nhau:

+ Các tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách phục vụ quản lý nhà nước được ngân sách nhà nước đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên theo nhiệm vụ được giao trên cơ sở sắp xếp lại để nâng cao hiệu quả hoạt động

+ Các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tổ chức dịch

vụ KH&CN tự đảm bảo hoặc chưa tự đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên, tuy có khác nhau về mốc thời gian, nhưng sẽ chuyển đổi thành các tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí hoạt động hoặc doanh nghiệp KH&CN Các tổ chức KH&CN không có khả năng chuyển đổi thì phải sáp nhập hoặc giải thể

- Các tổ chức KH&CN được quyền ký kết hợp đồng thực hiện các nhiệm

Trang 31

27

- Khẳng định vai trò của người đứng đầu (thủ trưởng) của các tổ chức KH&CN trong việc quyết định biên chế của đơn vị, tuyển dụng viên chức, đề xuất cấp phó của đơn vị, quyết định bổ nhiệm và miễn nhiệm các tổ chức trực thuộc, quyết định tiền lương, quyết định khen thưởng, kỷ luật cán bộ, viên chức thuộc quyền quản lý

- Các tổ chức KH&CN được hưởng các chính sách ưu đãi của nhà nước

về hỗ trợ đầu tư phát triển, vay vốn, góp vốn, v.v

Có thể nói, Nghị định 115/2005/NĐ-CP của Chính Phủ tạo bước ngoặt mang tính quyết định trong lĩnh vực quản lý các tổ chức KH&CN công lập

* Thông tư 10/2005/TT-BKHCN ngày 24/8/2005 của Bộ KH&CN hướng dẫn điều kiện thành lập và đăng ký hoạt động của tổ chức KH&CN theo Nghị định 81/2002/NĐ-CP ngày 17/10/2002 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật KH&CN

Đây là văn bản pháp quy về đăng ký và hoạt động của các tổ chức KH&CN, không phân biệt thành phần kinh tế (nhà nước, tập thể và tư nhân) Sau đây là một số điểm mới cơ bản nhất của Thông tư:

- Ngoài việc tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học và dịch vụ KH&CN, các tổ chức KH&CN được quyền sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực hoạt động của mình

- Các tổ chức KH&CN tư nhân không cần phải có quyết định thành lập, chỉ cần đăng ký hoạt động với cơ quan quản lý KH&CN có thẩm quyền của nhà nước

- Lần đầu tiên ở nước ta, các tổ chức KH&CN có vốn của nước ngoài được đăng ký hoạt động;

- Các tổ chức KH&CN được liên kết, liên doanh với các tổ chức và cá nhân nhà khoa học nước ngoài trong việc đăng ký hoạt động cũng như tiến hành triển khai các hoạt động KH&CN

Trang 32

28

Tóm lại, những nghị quyết, nghị định, quyết định, chỉ thị của Đảng và Nhà nước là định hướng đúng đắn cho chính sách KH&CN ở nước ta nhằm phục vụ cho sự nghiệp CHH, HĐH đất nước, tạo môi trường cho sự phát triển KH&CN

1.3.7.Quản lý KH&CN

Quản lý KH&CN là công tác tổ chức và quản lý việc thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ theo những quy định, quy trình thống nhất nhằm đạt chất lượng và hiệu quả cao nhất

Quản lý KH&CN đóng vai trò rất quan trọng vì nếu như thiếu sự quản lý thống nhất, thiếu sự tổ chức hoạt động nghiên cứu và ứng dụng một cách khoa học sẽ dẫn tới sự hạn chế kết quả ứng dụng vào thực tế, gây lãng phí và

có thể gây cản trở đối với sản xuất và dịch vụ

Trang 33

29

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

CÔNG NGHỆ VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA CÁC TỔ CHỨC

KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THUỘC LIÊN HIỆP

HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM

2.1 Mô hình các tổ chức KH&CN trong thời kỳ đổi mới và hội nhập

Tính đến năm 1991 của thế kỷ 20, về cơ bản ở nước ta chỉ tồn tại các tổ chức KH&CN của nhà nước dưới tên gọi là Viện hoặc Trung tâm Đó là các

tổ chức nghiên cứu khoa học được nhà nước bao cấp 100% và về cơ bản các kết quả không gắn liền và phục vụ được nhiều cho thực tế

Nhu cầu đổi mới và hội nhập thúc đẩy KH&CN phát triển, trong đó có sự phát triển đổi mới mô hình các tổ chức KH&CN ở nước ta Ngày 28/1/1992 Hội đồng Bộ trưởng (nay là chính phủ) đã ban hành Nghị định 35-HĐBT, trong đó lần đầu tiên cho phép phát triển ở nước ta các tổ chức KH&CN tư nhân bên cạnh các tổ chức KH&CN nhà nước theo truyền thống

Điều đó được khẳng định tại luật KH&CN (công bố 6/2000) Có một điểm đặc thù ở nước ta là các tổ chức KH&CN thuộc tổ chức chính trị (các cơ quan Đảng) và một số tổ chức chính trị -xã hội (Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam) lại được “hưởng bao cấp” từ ngân sách nhà nước Cho nên khi xem xét

và đánh giá gần như đồng nhất các tổ chức KH&CN thuộc các tổ chức nêu trên với tổ chức KH&CN nhà nước

Hơn thế nữa, Luật KH&CN còn cho phép thành lập và hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam các tổ chức KH&CN có yếu tố nước ngoài Đó là các tổ chức KH&CN do pháp nhân và thể nhân nước ngoài đóng góp tài chính để

Trang 34

Để diễn tả một cách tường minh, trên hình H.2.1 mô tả mô hình tổ chức

hệ thống các tổ chức KH&CN ở nước ta hiện nay

Trang 35

Tổ chức KH&CN khu vực tập thể

Tổ chức KH&CN khu vực tư nhân

Tổ chức KH&CN có yếu tố nước ngoài Doanh nghiệp KH&CN

Trang 36

32

Điều quan trọng muốn nhấn mạnh là sau khi có Luật khoa học và công nghệ ra đời, mô hình các tổ chức KH&CN đã thực sự có sức sống, được các nhà Khoa học tiếp nhận và hưởng ứng

Để minh chứng cho điều nêu trên, có thể sử dụng số liệu thống kê chính thống của Bộ KH&CN [16] Sự phát triển của các tổ chức KH&CN thuộc các thành phần kinh tế đến cuối năm 2004 được thống kê như sau:

Số các tổ chức KH&CN thuộc thành phần kinh tế nhà nước bao gồm 507

tổ chức, trong đó:

Số tổ chức KH&CN thuộc các Bộ/Ngành: 150

Số tổ chức KH&CN thuộc các trường Đại học, Cao đẳng, và Trung học chuyên nghiệp: 96

Số tổ chức KH&CN thuộc các viện nghiên cứu khoa học: 73

Số tổ chức KH&CN thuộc doanh nghiệp nhà nước: 18

Số tổ chức KH&CN thuộc địa phương(tỉnh/thành phố): 170

Số các tổ chức KH&CN thuộc thành phần kinh tế của nhà nước bao gồm

602 tổ chức, trong đó:

Số tổ chức KH&CN thuộc khu vực tập thể: 541

Số tổ chức KH&CN thuộc khu vực tư nhân: 54

Số tổ chức KH&CN có yếu tố nước ngoài: 7

Theo quy định của Luật KH&CN, các tổ chức KH&CN được tổ chức dưới các hình thức:

- Viện nghiên cứu và phát triển; trung tâm nghiên cứu và phát triển

- Phòng thí nghiệm

Trang 37

33

- Trạm nghiên cứu, trạm quan trắc, trạm thử nghiệm và cơ sở nghiên cứu

và phát triển khác

Căn cứ vào mục tiêu, quy mô mức độ tổ chức và phạm vi hoạt động, các

tổ chức KH&CN được phân thành tổ chức KH&CN cấp quốc gia, tổ chức KH&CN cấp bộ, tỉnh và tổ chức KH&CN cấp cơ sở

Cùng với thời gian KH&CN không ngừng đổi mới phát triển và hội nhập sâu rộng vào cộng đồng quốc tế Trong lĩnh vực tổ chức KH&CN, bộ KH&CN được Chính Phủ giao xây dựng một mô hình tổ chức mới, đó là doanh nghiệp KH&CN nhằm mục đích kết hợp giữa nghiên cứu và sản xuất – kinh doanh, đưa nhanh các kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống, tạo

ra các sản phẩm mới có giá trị thương mại cao, góp phần thúc đẩy sự phát triển KT - XH của đất nước

Chính Phủ đã ban hành nghị định về Doanh nghiệp KH&CN, đó là nghị định số 80/ 2007 /NĐ-CP ngày 19/5/2007

Tuy nhiên cũng phải khẳng định rằng các doanh nghiệp KH&CN còn phát triển với tốc độ chậm Có thể nêu tên một vài doanh nghiệp KH&CN điển hình sau:

- Viện IMI (bộ Công thương)

- Trung tâm Nghiên cứu vacxin (bộ Y Tế)

Trang 38

- Ngân sách nhà nước (thông qua các đề tài, dự án của trung ương hoặc địa phương do đơn vị thắng thầu)

- Các tổ chức quốc tế (UNDP, UNSSCO…)

Từ các số liệu điều tra và thống kê của Liên hiệp các hội KHKT Việt Nam, tác giả luận văn đã tiến hành tổng hợp và lập ra bảng 2.1 về số lượng các tổ chức KH&CN trực thuộc Liên hiệp các hội KH&KT Việt Nam trong hai năm 2006-2008 Số lượng các tổ chức KH&CN trực thuộc LHH ghi trong bảng 2.1 cho phép nêu lên các nhận xét sau đây:

- Số lượng các tổ chức KH&CN trực thuộc LHH phát triển khá nhanh trong hai năm đã tăng xấp xỉ 1,4 lần (229/167)

- Số đơn vị có tên viện phát triển nhanh nhất 1,5 lần (42/28)

Trang 39

35

- Số đơn vị có tên trung tâm tăng gấp 1,4 lần (171/122)

- Số đơn vị có tên là văn phòng vẫn chỉ là duy nhất (1)

- Số đơn vị có tên là Liên Hiệp giảm đi 2 đơn vị, có thể là do giải thể

Bảng 2.1: Số lượng các tổ chức KH&CN *

Năm Tổng số các tổ

chức KH&CN

Trong đó phân theo tên gọi

Viện Liên hiệp

KH-SX Trung tâm Văn

TP HCM

Hải Phòng

Hải Dương

Yên Bái

Vĩnh Phúc

Ninh Bình

Quảng Bình

Tây Nình

* Nguồn: LHH, [16] và [17]

Ngày đăng: 13/07/2021, 10:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Đảng CSVN, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề:
Nhà XB: NXB Chính Trị Quốc Gia
1. Đảng CSVN - Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 1996 Khác
2. Đảng CSVN - Văn kiện hội nghị lần thứ II BCH TW khóa VIII NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 1997 Khác
3. Ban Bí Thƣ trung ƣơng Đảng CSVN - Chỉ thị số 35/CT-TW ngày 11/4/1988 về tổ chức và hoạt động LHH các Hội KH&KT Việt Nam theo quy chế của một đoàn thể quần chúng cấp trung ƣơng Khác
4. Bộ Chính trị BCH Trung ƣơng Đảng CSVN - Chỉ thị số 45/CT-TW ngày 11/11/1998 về LHH các Hội KH&KT Việt Nam là một tổ chức CT – XH Khác
5. Liên hiệp các hội KHKT Việt Nam - Báo cáo đánh giá tình hình tổ chức và hoạt động của các đơn vị Kh&CN trực thuộc năm 2008Hà Nội, 2008 Khác
6. Quyết định số 22/QĐ-TTg ngày 30/1/2002 của Thủ Tướng Chính Phủ v ề hoạt động tƣ vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thật Vi ệt nam Khác
8. TS. Hồ Bá Thâm, CN. Nguyễn Tôn Thị Tường Vân - Phản biện xã hội và phát huy dân chủ pháp quyềnNXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2010 Khác
9. PGS.TS. Nguyễn Chí Mỳ - Phản biện và những biện pháp thực hiện Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w