Đây là tiền đề thức đẩy sự phát triển kinh tế nông nghiệp, là khởi đầu cho các chính sách Khoán 100, khoán 10 sau này.Nó đánh dấu một bước bắt đầu “Phá rào” trong kinh tế của Việt Nam kh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN DUY CHIẾN
KHOÁN HỘ CỦA TỈNH VĨNH PHÚC NHỮNG
NĂM 60 CỦA THẾ KỈ XX ( PHÂN TÍCH DƯỚI GÓC ĐỘ QUAN HỆ CHÍNH TRỊ VỚI KINH TẾ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội-2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN DUY CHIẾN
KHOÁN HỘ CỦA TỈNH VĨNH PHÚC NHỮNG NĂM
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các tài liệu sử dụng trong luận án là trung thực, đúng quy định Những kết luận trong luận án chưa được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào
TÁC GIẢ
NGUYỄN DUY CHIẾN
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Với tấm lòng thành kính, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu
sắc đến GS, TS Lưu Văn Sùng- Người đã trực tiếp hướng dẫn em thực hiện
đề tài
Em xin chân thành cảm ơn: Các thầy cô trong khoa Chính trị học, thư
viện trường Đại học khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội, Thư viện Đại học
Quốc Gia Hà Nội, Tỉnh ủy tỉnh Vĩnh Phúc, Sở Nông Nghiệp và Nông Thôn
tỉnh Vĩnh Phúc… đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em
trong quá trình nghiên cứu
Chân thành cảm ơn toàn thể gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ
tôi hoàn thành khóa học
Hà Nội,15 tháng 12 năm 2016
Học Viên
Nguyễn Duy Chiến
Trang 6CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 3
3 Đối tượng,phạm vi nghiên cứu 6
4 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Nguồn tư liệu 7
6 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 7
7 Đóng góp của luận văn 7
8 Bố cục của luận văn 8
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG I KHOÁN HỘ VĨNH PHÚC NHỮNG NĂM 60 CỦA THẾ KỶ XX – QUÁ TRÌNH DIỄN BIẾN VÀ NHỮNG CÁCH ĐÁNH GIÁ 9
1.1 Một số vấn đề lý luận về quan hệ chính trị với kinh tế 9
1.1.1 Khái niệm về chính trị và kinh tế 9
1.1.2 Quan hệ chính trị với kinh tế 10
1.2 Bối cảnh trong nước và quốc tế và tình hình nông thôn Vĩnh Phúc những năm 60 11
1.2.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước những năm 60 của thế kỉ XX 11 1.2.2 Khái quát tình hình nông thôn Vĩnh Phúc những năm 60 18
1.3.Diễn biến và kết quả khoán hộ Vĩnh Phúc những năm 60 của thế
kỉ XX 23
1.3.1 Quá trình ra đời cuả khoán hộ 23
1.3.2 Diễn biến của khoán hộ 27
1.3.3 Kết quả của khoán hộ 28
1.4 Các xu hướng đánh giá khác nhau về “ Khoán hộ” 30
Trang 8Chính sách “Khoán hộ” là sai, cần ngăn cấm 30
Tiểu kết chương I 35
CHƯƠNG 2 TỪ KHOÁN HỘ VĨNH PHÚC ĐẾN KHOÁN 10 NHỮNG MÂU THUẪN VÀ GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN GIỮA KINH TẾ, CHÍNH TRỊ SAU NHỮNG NĂM 60 36
2.1 Yêu cầu khách quan đổi mới kinh tế- xã hội nông thôn và chính sách của Đảng và nhà nước Việt Nam sau những năm 60 36
2.2 Đổi mới nông nghiệp ở nông thôn sau những năm 1965 – Từ khoán hộ ở Vĩnh Phúc , khoán chui, đến khoán 10 40
2.3 Mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn giữa kinh tế và chính trị trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn sau những năm 60 của thế kỉ XX 54
2.4 Đánh giá tổng quát và những bài học kinh nghiệm 60
Tiểu kết chương 2 : 62
KẾT LUẬN 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử phát triển của nhân loại, nền kinh tế trong đó có nông nghiệp luôn gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con người Kinh tế nông nghiệp là một trong những nhân tố quan trọng góp phần tạo dựng nên các nền văn minh trên thế giới.Việt Nam cũng là một quốc gia không nằm ngoài quy luật đó
Chính trị là một lĩnh vực của đời sống xã hội, có quan hệ, xâm nhập, giao thoa với các lĩnh vực khác mà cơ bản là lĩnh vực kinh tế Quá trình chính trị không phải diễn ra một cách biệt lập mà luôn thể hiện qua nhiều lĩnh vực khác trong đó có lĩnh vực kinh tế nói chung, lĩnh vực kinh tế nông nghiệp nói riêng Nắm vững tính tất yếu của quá trình chính trị với kinh tế và vị trí của nhân tố chính trị với sự phát triển kinh tế là rất cần thiết cho sự lãnh đạo chính trị với kinh tế, đặc biệt với kinh tế nông nghiệp nông thôn
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn là ba vấn đề có mối liên hệ mật thiết,
có vai trò to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước ta Phát triển nông nghiệp, nâng cao đời sống của nhân dân là nhiệm vụ chiến lược vô cùng quan trọng, đặc biết trong hoàn cảnh khi mà cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ngày càng
ác liệt.Vì vậy, khi nông nghiệp phát triển sẽ cung cấp sức người sức của cho tiền tuyến miền Nam làm nên những thắng lợi lớn để giải phóng miền Nam thống nhất đất nước
Vấn đề “khoán hộ” trong quản lý hợp tác xã (HTX) nông nghiệp do đồng
chí Kim Ngọc – Bí thư tỉnh ủy đề xướng ở tỉnh Vĩnh Phúc là vấn đề nổi bật vào cuối những thập niên 60 của thế kỉ XX Và đến nay vấn đề này vẫn được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu Bởi sự kiện đó đã đánh dấu mở đầu việc thay đổi cơ chế quản lý HTX nông nghiệp của Vĩnh Phúc nói riêng và cả
Trang 10nước nói chung Đến năm 1986, Đảng tiến hành công cuộc đổi mới trên nhiều lĩnh vực để ổn định và phát triển đất nước và trong đó nông nghiệp là mặt trận hàng đầu Trên cơ sở của chính sách “khoán hộ”, đã làm thay đổi cơ bản cơ chế kinh tế trong nông nghiệp là một nhân tố tác động đến xóa bỏ cơ chế quản
lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, hình thành cơ chế thị trường; xây dựng nền kinh tế quốc dân với cơ cấu nhiều thành phần đã góp phần đưa công cuộc đổi mới thành công
Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay đã đạt được những thành tựu lớn trong sản xuất lương thực thực phẩm Để đạt được thành tựu lớn như vậy
cơ bản nhất phải kể đến vấn đề “Khoán hộ” trong hợp tác xã những năm 60 của thế kỉ XX Đây là tiền đề thức đẩy sự phát triển kinh tế nông nghiệp, là khởi đầu cho các chính sách Khoán 100, khoán 10 sau này.Nó đánh dấu một bước bắt đầu “Phá rào” trong kinh tế của Việt Nam khi bước vào công cuộc đổi mới.Nhưng lại cần phải lý giải được tại sao chính sách “khoán hộ” trong thời điểm lúc bấy giờ rất phù hợp với yêu cầu phát triển sản xuất nhưng hoàn cảnh khi ấy lại không thể thực hiện được
Với đề tài này, giúp cho thế hệ hiện nay trên khắp mọi miền đất nước cũng như ở tỉnh Vĩnh Phúc lòng tự hào về một con người hết lòng hết sức vì Đảng, vì tự do hạnh phúc của nhân dân lao động đó là đồng chí Kim Ngọc Đồng thời, giáo dục cho thế hệ hiện nay tư tưởng năng động sáng tạo, dám nghĩ dám làm, dám bảo lưu ý kiến, dám chịu trách nhiệm tới cùng trong những quyết sách vì nước, vì dân gắn lý luận với thực tiễn
Những sự kiện có tính chất đột phá, khởi đầu cho một giai đoạn phát triển thường được quan tâm nghiên cứu trên nhiều bình diện, và cũng thường được đánh giá lại trong các giai đoạn sau Vì sự xem xét sự kiện ấy của quá khứ lại có ý nghĩa soi sáng thêm cho những vấn đề hiện tại Đánh giá “khoán hộ” những năm 60 ở Vĩnh Phúc dưới góc độ quan hệ giữa chính trị với kinh tế
Trang 11sẽ giúp cho sự đánh giá rõ hơn bởi một góc nhìn mới , không chỉ thấy rõ đối với những sự kiện đã qua mà phần nào cho thấy được những vấn đề hiện nay
Với tất cả những lý do trên tôi chọn vấn đề “Khoán hộ của tỉnh Vĩnh Phúc những năm 60 của thế kỉ XX Phân tích dưới góc độ quan hệ chính trị với kinh tế” làm đề tài của luận văn
2 Lịch sử nghiên cứu
Từ trước tới nay đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên khảo, ở nhiều mức độ khác nhau, đề cập đến câu chuyện về con người Kim Ngọc- cố Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phúc và vấn đề áp dụng vào thực tiễn, kết quả của chính sách khoán hộ ở Vĩnh Phúc nói riêng, của cả nước nói chung
Những công trình nghiên cứu trực tiếp về chính sách khoán hộ ở
Vĩnh Phúc như: “ Quyết tâm sửa chữa khuyết điểm, đưa phong trào HTX hóa
và sản xuất nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Phú vững bước tiến lên” của đồng chí
Kim Ngọc trên Tạp chí học tập số 6 năm 1969; “ Kiên quyết sửa chữa khuyết
điểm, phát huy ưu điểm, đưa phong trào hợp tác hóa nông nghiệp vững bước
đi lên” của đồng chí Trường Chinh, Tạp chí học tập số 2 năm 1969; “ Đồng chí Kim Ngọc- 1 người giàu nghị lực và khát vọng lớn” của tác giả Trần Cự,
Tạp chí lịch sử Đảng năm 1979; “ Khoán hộ ở Vĩnh Phúc trước đổi mới” của
tác giả Nguyễn Thị Hồng Mai, Tạp chí Lịch sử Đảng , số 5- 2008, bài viết trên tạp chí đã chỉ ra phân tích sự xuất hiện của “khoán hộ” và “khoán sản phẩm là sự bước đầu đổi mới về nhận thức, tư duy trong quản lý nông nghiệp
của các cơ quan hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước; “Nhân tố đổi
mới có từ bao giờ” của tác giả Hữu Thọ, Tạp chí Lịch sử Đảng năm
2000 Các nghiên cứu trên đã đền cập đến những vấn đề quan trọng của chính sách khoán hộ ở Vĩnh Phúc như: Sự ra đời, quá trình thực hiện, kết quả, bị chấm dứt
Trang 12Những công trình ít nhiều đề cập đến chính sách khoán hộ ở Vĩnh
Phúc như: “ Hợp tác hóa nông nghiệp Việt Nam – vấn đề - triển vọng” Nxb
Sự thật, Hà Nội., năm 1992 của tác giả Chư Văn Lâm, Nguyễn Thái Nguyên, Phùng Hữu Phú, Trần Quốc Toản, Đặng Thọ Xương Tập thể các tác giả tập trung làm rõ những vấn đề đặt ra đối với phong trào hợp tác hoá nông nghiệp (1958- 1991) từ đó xác định vấn đề cần nghiên cứu để đưa nông nghiệp nông
thôn nước ta tiến lên theo con đường hợp tác; “ Nửa thế kỉ phát triển nông
nghiệp và nông thôn Việt Nam ( 1945- 1995)”, Nxb nông nghiệp, Hà
Nội,1996, của tác giả Nguyễn Sinh Cúc và Nguyễn Văn Tiêm Các tác giả trình bày khái quát chủ trương của Đảng, Nhà nước về cuộc vận động hợp tác hoá, phát triển nông nghiệp, nêu bật vai trò nông nghiệp trong nền kinh tế
quốc dân qua các giai đoạn lịch sử; “ Kinh tế hộ và kinh tế hợp tác xã trong
nông nghiệp”, Nxb KHXH TP Hồ Chí Minh năm 1995 của tác giả Lâm
Quang Huyên; “Đổi mới ở Việt Nam- nhớ lại và suy ngẫm”, Nxb Tri Thức
năm 2008 của tác giả Đào Xuân Sâm, Vũ Quốc Tuấn Hai tác giả đã chỉ ra ai, những lực lượng nào ở nước ta là tác giả của đổi mới, trong những điều kiện nào, đã chuẩn bị từ bao giờ, như thế nào, đã bắt đầu công cuộc đổi mới từ thời điểm nào, đã tiến hành và tiến triển ra sao, đã có những thành tựu và những sai sót gì, đang đứng trước những yêu cầu mới và những khả năng mới nào, cần những chính sách và biện pháp gì để thúc đẩy chặng đường sắp tới của đổi mới?;Chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn sau Nghị quyết 10 của Bộ chính trị do PGS.TS Lê Đình Thắng (chủ biên), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2000 Trong cuốn sách này, tác giả phân tích và xác định vị trí, tầm quan trọng của sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn ở nước ta trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ sau Nghị quyết 10,
từ đó có những kiến nghị phương hướng, giải pháp để tiếp tục đổi mới, phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta trong thời gian tới;TS Đặng Kim Sơn
Trang 13(2008), Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam - Hôm nay và mai sau, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Tác giả đã nêu bật thực trạng các vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn hiện nay, những thành tựu cũng như những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại Xuất phát từ thực tiễn, tác giả đã
đề xuất những định hướng và kiến nghị chính sách nhằm đưa nông nghiệp, nông dân, nông thôn ngày càng phát triển Các tác giả đã đi vào nghiên cứu vấn đề kinh tế nông nghiệp ở miền Bắc, trong đó ít nhiều nói đến chính sách khoán hộ ở Vĩnh Phúc, và việc áp dụng vào phát triển kinh tế ở Vĩnh Phúc, đặc biệt với hai cuốn sách “ tư duy kinh tế Việt Nam 1975- 1989” và “Phá rào” trong kinh tế vào đêm trước đổi mới”, Nxb Tri thức năm 2014 của tác giả Đặng Phong đã làm chúng ta hình dung toàn bộ kinh tế Việt Nam nói chung
và chính sách khoán ở Vĩnh Phúc nói riêng
Các luận án tiến sĩ có liên quan đến đề tài: Luận án tiến sĩ Phát triển nông nghiệp hàng hóa trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp ở nước ta của Mai Văn Bảo, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2000; Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Đồng bằng Bắc Bộ và tác động của nó đối với tăng cường phòng thủ tỉnh, thành phố thuộc khu vực này của Nguyễn Văn Bảy, Học viện Chính trị Quân sự, Hà Nội, 2000; Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn Bắc Trung Bộ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Nguyễn Đăng Bằng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2001 Các luận án tiến sĩ này đề cập chủ yếu dưới góc độ kinh tế - chính trị trong đó xác định về yêu cầu phát triển nông nghiệp, nông thôn trong quá trình CNH, HĐH, làm rõ một số nội dung
và giải pháp nhằm phát huy vai trò của các thành phần kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn để thúc đẩy phát triển, thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội gắn với xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân trong thời kỳ đổi mới
Trang 14Chính sách khoán hộ ở Vĩnh Phúc những năm 60 được rất nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, song với tính tất yếu khách quan của sự phát triển kinh tế nông thôn và trong sự tác động của bối cảnh chính trị trong nước và quốc tế, nghĩa là phân tích dưới góc độ quan hệ chính trị với kinh tế thì chưa được đề cập đến
3 Đối tƣợng,phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính sách khoán hộ ở Vĩnh Phúc vào thập niên 60, phân tích dưới góc độ mối quan hệ chính trị với kinh tế vào thập niên 60 và tác động của nó đến nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, không đi sâu vào phân tích quan hệ chính trị với kinh tế nói chung mà chỉ nghiên cứu quan hệ chính trị với kinh tế trong việc thực thi quyền lực nhà nước, chính sách của nhà nước trong việc thực hiện những nhiệm vụ chính trị trong quan hệ với thực hiện nhiệm vụ kinh tế
Phạm vi nghiên cứu “khoán hộ” từ thập niên 60, trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc và tác động của nó trong công cuộc đổi mới nông nghiệp ở nước ta
4 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mac- Lênin về chính trị với kinh tế , phân tích diễn biến khoán hộ ở Vĩnh Phúc những năm 60 và xu hướng đổi mới nông nghiệp ở nước ta làm rõ sự tác động của chính trị với kinh tế, cuối cùng tuân theo xu hướng tất yếu của kinh tế
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích diễn biến khoán hộ ở Vĩnh Phúc những năm 60 trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về chính trị với kinh tế
Trang 15Thực hiện công cuộc đổi mới, giải quyết mâu thuẫn giữa chính trị và kinh
tế ở nông thôn sau những năm 60
5 Nguồn tư liệu
Các tài liệu lưu trữ của Trung ương, tỉnh, huyện Các nghị quyết báo cáo hàng tháng, hàng quý, hàng năm của Tỉnh ủy, của Sở Nông nghiệp và Niên giám thống kê của chi cục thống kê tỉnh Vĩnh Phúc
Một số tác phẩm kinh điển về quan hệ chính trị với kinh tế làm cơ sở lý luận cho luận văn
Một số sách chuyên ngành chính trị làm căn bản, góc nhìn lý luận
Sử dụng sách chuyên khảo, bài báo, tạp chí, luận văn, luận án
6 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác – lênin, và phương pháp luận chính trị học
Phương pháp nghiên cứu của luận văn được thưc hiện cơ bản là phương pháp lịch sử và logic trên cơ sở quan hệ chính trị với kinh tế đồng thời kết hợp với các phương pháp như phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, …
7 Đóng góp của luận văn
Luận văn đóng góp thêm cách phân tích mới quan hệ chính trị với kinh tế
về “khoán hộ” ở Vĩnh Phúc những năm 60
Từ việc đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu chính sách Khoán hộ ở Vĩnh Phúc dưới góc độ quan hệ chính trị với kinh tế, tôi mong muốn giúp các nhà hoạch định chính sách ở các cấp, các ngành trong việc đề ra những chính sách phát triển thích hợp về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở nước ta Mặt khác cũng giúp cho các nhà nghiên cứu đưa ra những chính sách phù hợp với quan
hệ chính trị với kinh tế
Trang 16Đặc biệt, đây là nguồn tài liệu quan trọng phục vụ cho những người quan tâm về chính sách khoán hộ nói riêng, về sự phát triển nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng
Luận văn có thể dùng để nghiên cứu, tham khảo,học tập những vấn đề liên quan đến luận vănnày
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục là phần nội dung
Trang 17NỘI DUNG CHƯƠNG I KHOÁN HỘ VĨNH PHÚC NHỮNG NĂM 60 CỦA THẾ
KỶ XX – QUÁ TRÌNH DIỄN BIẾN VÀ NHỮNG CÁCH ĐÁNH GIÁ
1.1 Một số vấn đề lý luận về quan hệ chính trị với kinh tế
1.1.1 Khái niệm về chính trị và kinh tế
Khái niệm về chính trị
Chính trị là lĩnh vực rất phong phú và phức tạp, nội dung của khái niệm chính trị cũng rất phong phú đa diện Ở mỗi thời đại các nhà lý luận đều muốn luận giải bản chất chính trị và quy luật chính trị, nhưng mỗi thời đại mỗi khác nhau do yêu cầu của nhiệm vụ thực tiễn nên có rất nhiều các định nghĩa về chính trị nhưng xét cho cùng,chính trị được xem xét dưới hai bình diện quan
hệ lợi ích giữa các giai cấp và các lực lượng xã hội trong việc giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước Bình diện thứ hai chính trị là thiết chế chính quyền nhà nước, sự tham ra vào công việc nhà nước, tổ chức và hoạt động của nhà nước, quan hệ giữa nhà nước với công dân và quan hệ giữa nhà nước và nhà nước
Xét về mặt hoạt động của nhà nước cơ bản là ban hành, thực thi những chính sách để giải quyết những nhiệm vụ chính trị trong một giai đoạn lịch sử nhất định
Khái niệm về kinh tế
Kinh tế theo nghĩa hẹp là sự tiết kiệm sao cho có thể sản xuất ra khối lượng giá trị sản phẩm lớn nhất với chi phí ít nhất Theo nghĩa rộng là toàn bộ quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội tức cơ sở hạ tầng trên
đó dựng nên kiến trúc thượng tầng tư tưởng chính trị pháp lý Còn sự vận động của nó là quá trình tái sản xuất xã hội- sản xuất, phân phối, trao đổi tiêu
dùng
Trang 18Xét về mặt hoạt động của Nhà nước là ban hành thực thi những chính sách để giải quyết những nhiệm vụ kinh tế trong một giai đoạn lịch sử nhất định
1.1.2 Quan hệ chính trị với kinh tế
Quan hệ chính trị với kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa kiến trúc thượng tầng với cơ sở hạ tầng.Trước hết, kinh tế xét đến cùng là nhân tố quyết định trước sự vận động của đời sống chính trị, là nhân tố quyết định toàn bộ lịch sử chính trị.Còn chính trị là phản ánh, là biểu hiện tập trung của kinh tế.Những chính trị có tính độc lập tương đối với tác động trở lại với kinh tế.Sự tác động của chính trị với kinh tế tập trung ở tác động của quyền lực nhà nước
Trong những điều kiện đặc biệt như chiến tranh và cách mạng vấn đề giành giữ chính quyền là vấn đề cơ bản sống còn thì phát triển kinh tế chỉ là nhân tố phục vụ cho nhiệm vụ chính trị và chính trị không thể không giữ vị trí hàng đầu so với kinh tế Nói cách khác có nghĩa là trong hoàn cảnh đặc biệt ở một bộ phận nhất định, trong thời gian nhất định phải biết hi sinh nhu cầu lợi ích kinh tế nhất định, tức hy sinh cái bộ phận trước mắt cho cái tiền đề cơ bản lâu dài của kinh tế- giữ vững thành quả chính trị đã đạt được
Nhưng tác động của quyền lực nhà nước, chính sách nhà nước đối với kinh tế cơ bản lâu dài có thể có ba xu hướng:
Nó có thể tác động cùng một hướng với sự phát triển kinh tế, lúc đó sự phát triển kinh tế sẽ nhanh hơn thuận lợi hơn.Nó có thể tác động ngược lại với hướng phát triển kinh tế và trong trường hợp đó thì đến nay ở các dân tộc lớn,
nó sẽ tan vỡ sau một thời gian nhất định.Xu hướng cuối cùng nó có thể ngăn cản một vài xu hướng phát triển nào đấy của nền kinh tế và quy định những
xu hướng phát triển khác.Trường hợp này rốt cuộc rồi cũng dẫn đến một trong hai trường hợp trên
Trang 19Tác động của nhà nước với kinh tế phải trên cơ sở tính tất yếu kinh tế, nếu trái với xu hướng kinh tế thì nhà nước sẽ sụp đổ.Đó là điều không ngoại lệ, không thương xót.Tính tất yếu kinh tế tự vạch đường đi cho chính mình
Với quan điểm và phương pháp như vậy sẽ là cơ sở cho sự đánh giá đúng đắn và chính sách “khoán hộ” của Vĩnh Phúc những năm 60 và tác động của
nó trong thời kì đổi mới
Đồng thời nghiên cứu hiện thực lịch sử thì lịch sử bắt đầu từ đâu, tư duy bắt đầu từ đấy.Trên cơ sở diễn biến của hiện thực lịch sử tìm ra tính tất yếu của quá trình ấy.Như vậy sẽ cho ta thấy cái gì ra đời tồn tại trong điều kiện nhất định là hợp lý.Nhưng khi điều kiện thay đổi nó không còn hợp lý, trở thành cái đáng tiêu vong.Cái gì tồn tại là hợp lý, cái gì hợp lý mới tồn tại
Đó là phương pháp cơ bản nghiên cứu khoán hộ ở Vĩnh Phúc những năm
60 của thế kỉ XX của luận văn
1.2 Bối cảnh trong nước và quốc tế và tình hình nông thôn Vĩnh Phúc những năm 60
1.2.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước những năm 60 của thế kỉ XX
Trong khoảng những năm 60 của thế kỷ XX, tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp.Tại thời điểm nàyhai cường quốc Xô – Mỹ từ quan hệ đồng minh trong Chiến tranh thế giới thứ hai, sau chiến tranh quan hệ ấy nhanh chóng chuyển thành quan hệ đối đầu.Từ quan hệ đối đầu giữa hai nước chuyển thành quan hệ đối đầu giữa hai phe – phe xã hội chủ nghĩa và phe tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên, trong bối cảnh thế giới hai cực, quan hệ Xô –Mỹ, quan hệ giữa hai phe, mặc dù mâu thuẫn, nhưng vẫn phụ thuộc và kiềm chế nhau, đều thực hiện chiến lược phòng ngự, đều tránh đụng đầu trực tiếp với nhau
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cao trào giải phóng dân tộc diễn ra sôi nổi ở khắp các lục địa của Á, Phi, Mỹ La Tinh, hệ thống thuộc địa của chủ
Trang 20nghĩa thực dân bị tan vỡ từng mảng lớn và đến giữa những năm 60 đã sụp đổ
về cơ bản Hơn 100 quốc gia dân tộc trẻ tuổi ra đời, ngày càng tham gia tích cực vào đời sống chính trị thế giới Một loạt các nước Đông Âu, Châu Á và khu vực Mỹ Latinh sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân,
đã tuyên bố đi lên chủ nghĩa xã hội cùng với Liên Xô hợp thành một hệ thống
xã hội chủ nghĩa hùng mạnh Những thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội trong những năm 50 - 60 đã thu hút sự chú ý của thế giới và tác động tới chiều hướng phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới Ảnh hưởng của chủ nghĩa
xã hội ngày càng lớn, chủ nghĩa xã hội là chỗ dựa tin cậy của phong trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.Chủ nghĩa tư bản không còn là một hệ thống duy nhất chi phối nền chính trị thế giới
Bên cạnh đó, cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật bùng nổ vào những năm 40 của thế kỷ XX và diễn ra mạnh mẽ sau đó.Cuộc cách mạng này đã đưa lại những tiến bộ nhảy vọt, những thành tựu kì diệu, những tác động tích cực và những hậu quả của nó rất to lớn.Những nước nào đi sâu vào cách mạng khoa học - kỹ thuật, tận dụng những thành tựu của nó thì vươn lên mạnh mẽ.Cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật, hay còn gọi là cách mạng kỹ thuật lần thứ hai có những điểm khác biệt so với cuộc Cách mạng kỹ thuật lần thứ nhất, vì có nội dung phong phú hơn và phạm vi rộng lớn hơn nhiều, nó diễn ra trong lĩnh vực khoa học cơ bản gồm toán học, vật lí học, hóa học, sinh vật học Trải qua nửa thế kỷ, nhất là giữa thập niên 70 của thế kỷ XX, cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật đã thu được những thành tựu to lớn và kỳ diệu trên nhiều lĩnh vực
Chính những điều này đã tác động sâu sắc và mạnh mẽ các hoạt động điều hành cụ thể và quy định thái độ chính trị trong ứng xử các vấn đề thực tiễn, buộc các nước, các dân tộc phải tìm kiếm con đường phát triển thích hợp
Trang 21Cùng với đó tình hình trong nước diễn biến phức tạp.Với việc đế quốc Mỹ
mở rộng leo thang chiến tranh trên cả hai miền Nam - Bắc và tình hình thế giới biến động phức tạp, đòi hỏi phải tạo ra một sự nhất trí cao về tư tưởng, ý chí thực hiện công cuộc chống Mỹ, cứu nước Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược trong bất cứ tình huống nào
Ở miền Nam trước hết là đánh bại chiến tranh cục bộ của chúng, động viên quân dân miền Nam "tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt", thừa thắng xốc tới đánh bại các cuộc phản công chiến lược của đế quốc Mỹ, làm phá sản các chiến lược chiến tranh của chúng Ở miền Bắc, động viên và tổ chức quân dân chuyển hướng xây dựng kinh tế sang thời chiến, "tay cày, tay súng", "tay búa, tay súng", vừa sản xuất, vừa chiến đấu, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến miền Nam Trong bối cảnh ấy, miền Bắc bước vào thực hiện công cuộc cải tạo XHCN
và xây dựng CNXH.Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, Hội nghị Ban Chấp hành trung ương Đảng lần thứ 8 (khoá II) (tháng 8-1955) đã xác định: "Đường lối xây dựng miền Bắc là củng cố và phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến dần từng bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội".và miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đất nước chia làm hai miền thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược khác nhau
Miền bắc sau ba nǎm khôi phục kinh tế (1954-1957) đã hoàn thành cơ bản những nhiệm vụ còn lại của giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ và tạo những tiền đề ban đầu từng bước chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa Cụ thể là: Hoàn thành cải cách ruộng đất, xoá bỏ triệt để sự chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ, đưa lại ruộng đất cho nông dân, sửa chữa, khắc phục những hậu quả sai lầm trong tiến hành cải cách ruộng đất và chỉnh đốn
tổ chức Những sai lầm, khuyết điểm trên tuy có làm hạn chế sự phấn khởi trong một bộ phận nông dân, nhưng không thể làm giảm ý nghĩa chiến lược
Trang 22của việc đưa lại ruộng đất cho nông dân Nó không chỉ hoàn thành hai nhiệm
vụ cơ bản của giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ là: "Dân tộc độc lập" và
"Người cày có ruộng", mà còn có ý nghĩa tạo ra những tiền đề kinh tế - xã hội
để tiến lên giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa Tiếp quản các thành thị và vùng nông thôn mới giải phóng, đồng thời đấu tranh chống địch phản tuyên truyền, dụ dỗ, cưỡng ép nhân dân di cư vào các tỉnh phía Nam còn dưới sự kiểm soát của Mỹ - Diệm Khôi phục sản xuất nông nghiệp được đặt là nhiệm
vụ hàng đầu, đặc biệt là sản xuất lương thực, làm cơ sở cho việc khôi phục và phát triển công thương nghiệp.Việc khôi phục kinh tế nông nghiệp được kết hợp với hoàn thành cải cách ruộng đất và vận động nông dân đổi công, giúp
đỡ nhau sản xuất.Sửa chữa sáu hệ thống thuỷ nông lớn và xây dựng hàng chục công trình thuỷ lợi hạng vừa.Kết quả đến hết nǎm 1957, các chỉ tiêu chủ yếu về sản xuất nông nghiệp đều vượt mức nǎm 1939, là nǎm đạt cao nhất trước chiến tranh 1939 - 1957 Thóc 2.407.000 tấn 3.948.000 tấn Trâu 788.000 con 1.238.000 con Bò 563.000 con 902.000 con Lợn 2.255.000 con 2.950.000 con
Sau ba năm khôi phục phát triển kinh tế bước vào thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa (1958-1960) Hội nghị lần thứ 14 Ban chấp hành trung ương Đảng (khoá II) (tháng 11-1958) xác định: "Nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân ta là ra sức củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời kiên quyết đấu tranh chống Mỹ - Diệm nhằm thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ" Nhiệm vụ cụ thể lúc này là tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công và kinh tế tư bản tư doanh, đồng thời phát triển thành phần kinh tế quốc doanh là lực lượng lãnh đạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân Cải tạo thành phần kinh tế cá thể của nông dân và thợ thủ công bằng hình thức hợp tác xã theo nguyên tắc "tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ" Hình
Trang 23thức, bước đi phải từ thấp lên cao, tập dượt cho nông dân và thợ thủ công quen dần với lối làm ǎn tập thể, từ tổ đổi công, hợp tác xã bậc thấp, tiến lên hợp tác xã bậc cao Quy mô cũng phải từ nhỏ lên lớn Mùa thu nǎm 1958 làm thí điểm ở 134 hợp tác xã, đến cuối nǎm 1960 mở rộng lên tới 41.401 hợp tác
xã với 86% số hộ nông dân và 76% diện tích canh tác Phong trào hợp tác hoá nông nghiệp trong những nǎm đầu (1958-1960) tuy có tác dụng tích cực: sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển với mức tǎng trưởng bình quân 5,6%, đưa tổng sản lượng lương thực lên mức cao vào nǎm 1959 là 5,15 triệu tấn; đời sống vật chất và vǎn hoá của nông dân và nhân dân nói chung được ổn định
và cải thiện một bước Nhưng nhìn chung các hợp tác xã còn nhiều khó khǎn, lúng túng trong việc tổ chức lao động, sản xuất và quản lý, phân phối Một số hợp tác xã sản xuất sút kém, có những biểu hiện tiêu cực như nông dân chặt phá cây lưu niệm, giết trâu bò trước khi vào hợp tác xã, một số cán bộ quản lý hợp tác xã tham ô, lạm dụng của công v.v , làm cho xã viên thiếu phấn khởi, thiếu tin tưởng và đã có hộ xin ra hợp tác xã
Sau 3 năm phát triển kinh tế và ba năm thực hiện cải tạo XHCN bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất.Kế hoạch nǎm nǎm phát triển kinh tế (1961-1965) nhằm củng cố quan hệ sản xuất mới và bước đầu xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Cuối nǎm 1964, đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, kế hoạch 5 nǎm mới thực hiện được 4 nǎm nhưng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn: - Về nông nghiệp: 88,8% số hộ nông dân vào hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, trong đó có 71,7% số hộ lên hợp tác xã bậc cao Sản xuất nông nghiệp có những tiến bộ mới cả về trồng trọt và chǎn nuôi.Phong trào thâm canh ở những vùng trọng điểm lúa đã có nhiều điển hình tốt Nǎm 1965 có 9 huyện và 125 xã đạt nǎng suất bình quân
cả nǎm từ 5 tấn thóc trở lên trên 1 hécta gieo trồng hai vụ Nhiều công trình thuỷ lợi lớn đã được xây dựng, tưới tiêu cho hơn nửa triệu hécta ruộng đất,
Trang 24phân bón các loại và công cụ cải tiến được đẩy mạnh phục vụ sản xuất nông nghiệp Tại Hội nghị chính trị đặc biệt (tháng 3-1964), Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã kết luận: "Trong 10 nǎm qua, miền Bắc nước ta đã tiến những bước dài chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc Đất nước, xã hội và con người đều đổi mới"
Chuyển hướng xây dựng kinh tế để đánh thắng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, làm tròn nghĩa vụ hậu phương lớn, cùng miền Nam đánh thắng hoàn toàn đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai Hội nghị lần thứ 11 Ban chấp hành trương ương Đảng (khoá III) (tháng 3-1965) chủ trương "chuyển hướng xây dựng kinh tế phù hợp với tình hình cả nước đang có chiến tranh với đế quốc Mỹ", theo phương châm "vừa xây dựng kinh tế, vừa chiến đấu bảo vệ" Sản xuất công nghiệp được đặc biệt coi trọng, đẩy mạnh thâm canh tǎng nǎng suất cây trồng và vật nuôi Chú trọng cải tiến công cụ và trang bị cơ khí nhỏ cho các khâu lao động trồng trọt và chǎn nuôi Đã có 4.655 hợp tác xã được trang bị cơ khí nhỏ, bao gồm 6.356 máy phát lực và 9.372 máy công tác như bơm nước, tuốt lúa, máy xát, nghiền hạt, v.v Những nhu cầu thiết yếu nhất của sản xuất và chiến đấu được bảo đảm, đời sống nhân dân trong chiến tranh cǎn bản được ổn định
Trong thời kì chiến tranh, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích phát triển chǎn nuôi, chính sách ổn định nghĩa vụ lương thực đối với hợp tác xã, chính sách khuyến khích cây công nghiệp v.v Phong trào phấn đấu giành "ba mục tiêu": 5 tấn, 2 con lợn, 1 lao động làm 1 hécta gieo trồng được đẩy mạnh trong các hợp tác xã Điều lệ hợp tác xã nông nghiệp bậc cao do Chủ tịch Hồ chí Minh đề tựa và Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua có tác dụng củng cố quan hệ sản xuất mới ở nông thôn, khắc phục những khuyết điểm, lệch lạc về quản lý lao động, sản xuất và phân phối trong hợp tác xã Bên cạnh những kết quả đạt được , công cuộc khôi phục kinh tế thời
Trang 25kỳ này cũng gặp nhiều khó khǎn và bộc lộ nhiều yếu kém, tiêu cực như: sản xuất không đủ tiêu dùng, tình trạng mất cân đối vốn có của nền kinh tế càng nghiêm trọng hơn: lao động, vật tư, tiền vốn bị lãng phí nhiều, nǎng suất lao động xã hội giảm sút; bộ máy hành chính quá lớn trong khi lực lượng lao động trực tiếp sản xuất giảm đi Hội nghị lần thứ 19 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá III) (tháng 1-1971) đã nhấn mạnh: phải nghiêm khắc với những khuyết điểm chủ quan trên đây, ra sức cải tiến quản lý kinh tế nhằm đẩy mạnh tốc độ khôi phục và phát triển kinh tế Bộ Chính trị ra nghị quyết về đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực nhằm chấm dứt những hành động làm ǎn phi pháp, lấy cắp tài sản xã hội chủ nghĩa, tǎng cường quản lý lao động, quản lý thị trường, giữ gìn trật tự trị an Nhà nước ban hành các pháp lệnh trừng trị những tội phạm và hành vi phi pháp trên
Hơn hai mươi nǎm( 1957-1975) phấn đấu bền bỉ và kiên cường trong tình hình đất nước có chiến tranh trải qua nhiều khó khǎn và biến động phức tạp, phải đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại ác liệt của đế quốc Mỹ, Miền Bắc đã đảm bảo được các nhiệm vụ đặt ra, vừa củng cố, xây dựng hậu phương vững mạnh, vừa làm tròn nhiệm vụ chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam và giúp đỡ cách mạng hai nước bạn Lào và Campuchia
Nhưng nhìn chung, nền kinh tế miền Bắc còn nặng tính chất sản xuất nhỏ, cơ sở vật chất - kỹ thuật còn thấp kém Nông nghiệp chưa đáp ứng được nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho nhân dân và nguyên liệu cho công nghiệp Lao động thủ công còn chiếm 80% lực lượng lao động xã hội Nǎng suất lao động xã hội rất thấp Lực lượng lao động còn một bộ phận lớn chưa được sử dụng Tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân chưa bảo đảm được các nhu cầu của đời sống nhân dân Nguyên nhân của những yếu kém
đó, có nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan
Trang 26Nguyên nhân khách quan là do chính sách khai thác và kìm hãm của chủ nghĩa thực dân Pháp hàng trǎm nǎm và sự lỗi thời của chế độ phong kiến đè nặng gây nên tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, lại bị các cuộc chiến tranh tàn phá nặng nề
Về chủ quan, đầu tiên đó là từ việc lựa chon mô hình phát triển Vào những thập niên 50,60 của thế kỉ XX mô hình chủ nghĩa xã hội Xô Viết còn đang giàu sức sống, chủ nghĩa xã hội trở thành hệ thống thế giới, và chưa có kinh nghiệm nào khác, bước vào công cuộc xây dựng CNXH, nền kinh tế chính trị của chúng ta mô phỏng theo mô hình Xô Viết Mô hình ấy tuy có tác dụng trong những điều kiện nhất định những chứa đựng nhiều khuyết tật: Xóa
bỏ sở hữu tư nhân có nghĩa là xóa bỏ lợi ích tư nhân gắn liền với sở hữu ấy,chính là xóa bỏ động lực hoạt động của con người, cũng là xóa bỏ một trong những động lực phát triển kinh tế- xã hội Xóa bỏ thị trường tự do tức là hạn chế quy luật giá trị, cung cầu, cạnh tranh, tức là hạn chế động lực thị trường Hệ thống chính trị mang tính đồng nhất, ít khác biệt, tập trung quyền lực lại thiếu cơ chế cân bằng và kiểm soát quyền lực Do vậy nảy sinh quan liêu tha hóa Đối với nước ta, mô hình này phù hợp với điều kiện chiến tranh
và có tác dụng thực hiện chiến tranh Chiến tranh kết thúc thì những khuyết tật của nó cũng bộc lộ ra
Đảng và Nhà nước ta đã tìm chủ trương, chính sách cụ thể và tìm cách, sửa chữa những khuyết tật trên Các hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 19, lần thứ 22 và 23 đã kiểm điểm, tự phê bình Nhưng thực tế không khắc phục được vì chưa có giải pháp thoát khỏi mô hình cũ
1.2.2 Khái quát tình hình nông thôn Vĩnh Phúc những năm 60
Vào đầu những năm 1960 của thế kỉ XX, tình hình sản xuất nông nghiệp miền bắc nói chung và của Vĩnh Phúc nói riêng đã đạt được một số kết quả quan trọng Trên cơ sở có điều kiện tự nhiên thuận lợi Vĩnh phúc có thể phát
Trang 27triển một nền kinh tế toàn diện Đến năm 1965 ( 10 năm xây dựng CNXH) tỉnh Vĩnh Phúc đã có những bước tiến nhất định : bước đầu xây dựng cơ sở vật chất trong nông nghiệp như: Sân phơi, nhà kho, làm thủy lợi, cải tiến công
cụ lao động… trình độ sản xuất của người dân tiến bộ hơn do áp dụng thành tựu khoa học kĩ thuật, diện tích, năng xuất, sản lượng tăng cao so với trước năm 1954
Hợp tác hóa (HTH) nông nghiệp là nhiệm vụ rất quan trọng trong cải tạo
xã hội chủ nghĩa nước ta “ Khi đại bộ phận nông dân đã vào hợp tác xã, hình thức HTX đã được thiết lập phổ biến trong nông nghiệp nông thôn thì được gọi là hợp tác hóa nông nghiệp và con đường đưa nông thôn lên chủ nghĩa xã hội là con đường hợp tác hóa” [ 78,tr 72] Trong nông nghiệp để HTH nông nghiệp, người dân phải hợp tác với nhau.“ Hợp tác là hợp sức, hợp lực của những con người để tạo ra sức mạnh mới, để thực hiện những công việc mà từng cá nhân hoặc từng hộ riêng rẽ khó thực hiện, không thực hiện được hoặc thực hiện kém hiệu quả hơn so với hợp tác” [ 78, tr 69 ] Mà hình thức đó phát triển rất tự nhiên hình thành các tổ đổi công từng bước tiến lên liên kết hợp tác Từ liên kết hợp tác có thể hình thành tổ chức HTX Hay nói một cách sát hơn là hình thành các tổ đội đổi công sau đó phát triển thành HTX Ở Vĩnh Phúc, phong trào xây dựng tổ đổi công tiến hành từ trong kháng chiến.Kháng chiến thắng lợi, phong trào này tiếp tục phát triển mạnh mẽ ở khắp các huyện trong tỉnh “Năm 1954, toàn tỉnh có 3.564 tổ đổi công đến 1956 tăng lên 13.923 tổ đổi công” [ 9 ,tr 278]
Phong trào tổ đổi công bị ảnh hưởng những sai làm khuyết điểm trong cải cách ruộng đất nên đến năm 1957 tổ đổi công còn 713 tổ Trước tình hình đó, ngày 21/10/1957 Ban Bí Thư trung ương ra chỉ thị 57 “ Về củng cố , khôi phục và phát triển tổ đổi công” Phong trào tổ đổi công dần đi vào chất lượng
“Tính đến cuối 1958 Vĩnh Phúc có 11.191 tổ đổi công” [ 9 ,tr 280]tạo nên tiền
Trang 28đề thuận lợi để thực hiện HTH nông nghiệp tỉnh trong thời gian tiếp theo Từ
1958 phong trào HTH nông nghiệp ở nông thôn đã được thực hiện “Đến cuối năm 1958, tỉnh đã xây dựng được 244 HTX nông nghiệp ở 99 xã, với 5.836
hộ tham ra, chiếm 5,52% số hộ nông dân toàn tỉnh, bình quân 23,93 hộ /HTX”[ 13 ,tr 6] Xác định HTH nông nghiệp là khâu chính, trọng tâm “HTH nông nghiệp là con đường duy nhất đưa nông dân tiến lên chủ nghĩa xã hội”(quốc hội khóa I, kì họp thứ 10, tháng 6/1959) nhân dân Vĩnh Phúc đã phấn đấu đến cuối 1960, “tỉnh Vĩnh Phúc đã thành lập được 1.350 HTX gồm 107.944 hộ nông dân, bình quân 79,9 hộ/HTX, đạt 92,68% tổng số hộ nông dân trong toàn tỉnh Số ruộng đất đã tập thể hóa là 200.3555 mẫu bằng 81,21% diện tích đất sản xuất Số trâu bò đưa vào HTX là 68.921 con, bằng 83,4% tổng số trâu bò toàn tỉnh” [ 9 ,tr 284]
Tuy nhiên trong quá trình cải tạo chúng ta mắc phải một số khuyết điểm Bao trùm hơn cả là vi phạm nguyên tắc tự nguyện Từ vi phạm này dẫn đến các giải phạp cụ thể không phù hợp với đường lối chính sách của Đảng nhà nước về cải tạo Hầu hết ở các địa phương đều ồ ạt tổ chức các HTX mang tính chiến dịch, bất chấp các điều kiện hoàn cảnh chưa cho phép….Vì chạy theo số lượng nhằm đảm bảo tiến độ được giao khoán nên công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động không được thực hiện Chủ yếu dung sức ép về chính trị và mệnh lệnh đưa nhân dân vào làm ăn tập thể Mặt khác, lại đồng nhất HTH với tập thể hóa, do đó khi công hữu tư liệu sản xuất không phân biệt cụ thể mà tiến hành công hữu tràn lan kể cả những tư liệu sản xuất đơn gian như cây cối, cày bừa và những công cụ cầm tay khác…Những khuyết điểm ấy đã phát sinh nhiều tiêu cực trong cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp và trong cả HTX
Thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ 1 (1961-1965) từ những ưu khuyết điểm của phong trào HTX, thực trạng HTX nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc đề ra
Trang 29chủ trương củng cố HTX “ Ra sức sửa chữa khuyết điểm tồn tại, nâng cao chất lượng HTX về toàn diện để phát huy tính hơn hẳn của HTX một cách rõ rệt, tạo điều kiện đưa phong trào vững bước tiến lên”[ 69,tr 3]
Tỉnh ủy ngày càng quán triệt đường lối của Trung Ương Đảng, nắm vững được đường lối giai cấp của Đảng, nắm vũng 3 nguyên tắc cơ bản mà chủ yếu nhất là nguyên tắc tự nguyện đồng thời có phương châm chỉ đạo sát với thực
tế địa phương”[ 13,tr 17]
Từ 1961- 1965, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, đặc biệt là khi có nghị quyết V soi đường về nhiệm vụ, phương hướng phát triển nông nghiệp, nhân dân Vĩnh Phúc đã đạt được một số kết quả:
Về giá trị tổng sản lượng tốc độ tăng bình quân hàng năm là 7,5% trong
đó trồng trọt tăng 9,5%, chăn nuôi tăng 6,8% so với tốc độ tăng bình quân hàng năm của kế hoạch 3 năm là 7,3% trong đó trồng trọt là 7,9%
Về diện tích phát triển nhanh, tăng bình quân hàng năm là 3,7% với hệ số quay vòng từ 1,67 lần năm 1960 lên 1,89 lần năm 1965, trong đó lương thực tăng bình quân hàng năm là 2,8%
Đó là những kết quả bước đầu song khó khăn của Vĩnh Phúc còn nhiều Sản xuất nông nghiệp chiếm tới 85% nhưng cơ sở vật chất còn quá thấp kém, đất đai canh tác không nhiều, phức tạp Quá nửa số đất đai thuộc loại xấu, bạc màu, nhiều đồi trọc, luôn luôn bị ảnh hưởng bởi thiên nhiên do hạn hán, ngập lụt, mưa đá, sâu bệnh, đời sống nhân dân vẫn gặp nhiều khó khăn, nạn giáp hạt vẫn xảy ra, quan hệ sản xuất đã thay đổi nhưng chưa được củng cố, trình
độ giác ngộ XHCNvà nhận thức về kế hoach 5 năm còn thấp
Tính đến cuối năm 1965, nền kinh tế miền Bắc nước ta nói chung và Vĩnh Phúc nói riêng là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu Trình độ văn hóa của nhân dân thấp kém, lực lượng lao động kĩ thuật hầu như không có, năng xuất lao động rất thấp, đời sống nhân dân lao động thiếu thốn về nhiều
Trang 30mặt.Với đặc điểm nền sản xuất nông nghiệp của Vĩnh Phúc lúc đó là từ nền sản xuất cá thể, phân tán, lạc hậu tiến thẳng lên nền sản xuất tập thể, phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa Bên cạnh đó, hàng năm rút đi một lực lượng thanh niên khá lớn để phục vụ cho công cuộc giải phóng đất nước, nhưng nhiệm vụ sản xuất, xây dựng và chiến đấu ở địa phương ngày
càng lớn hơn nhiều Như đồng chí Kim Ngọc, Bí thư tỉnh ủy đã khẳng định “
Riêng Vĩnh Phúc, chúng ta lại càng nghèo nàn lạc hậu hơn: ruộng đất chúng
ta không thiếu nhưng quá cằn cỗi và bạc màu nghiệm trọng, có tới 55,13% đất chua phải cải tạo, trong đó 21% loại đất PH4 Đồi núi chúng ta rất lớn,
từ thế cao nhất gần 1600m xuống thế thấp nhất là 3m so với mặt biển, do đó gây ra sói mòn, úng lũ phá hoại hạn hán nghiêm trọng thường xuyên xảy ra Tình hình đó đương nhiên gây cho ta nhiều khó khăn đòi hỏi chúng ta phải quyết tâm rất cao để khắc phục” [ 1,tr 13]
Nhìn chung đến cuối năm 1965, ở Vĩnh Phúc cơ sở vật chất và kĩ thuật của kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể vẫn còn thấp, sản xuất nông nghiệp vẫn còn lệ thuộc vào thiên nhiên, năng xuất chưa thật ổn định và vững chắc; công nghiệp địa phương còn nhỏ bé và tác động, hỗ trợ cho nông nghiệp còn yếu, năng xuất lao động chưa cao, quản lý kinh tế còn non yếu
Đây cũng là thời điểm cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc ngày càng lan rộng, ác liệt, nguyên liệu nhập khẩu cho sản xuất nông nghiệp gặp rất nhiều khó khăn Lực lượng lao động trẻ khỏe đã tham ra chiến đấu, chỉ còn lại lao động nữ và trẻ em, đòi hỏi phải có hình thức khoán
để tận dụng cả các loại lao động chính và lao động phụ Mối quan hệ giữa hợp tác xã với nông dân không có sự gắn bó, năng xuất lao động rất thấp “ tình trạng dong công phóng điểm là phổ biến” [ 77,tr 7] Mục đích của xã viên đi làm cho HTX chỉ cốt lấy được nhiều công điểm chứ không phải vì năng xuất cũng như sản lượng của sản phẩm, càng nhiều công điểm họ càng phấn khởi
Trang 31“ Họ đưa cả gạch rác vảo phân để cân cho được nhiều Ban chủ nhiệm hợp tác
xã thì đưa cả những công phi lý vào phương án ăn chia Do có nhiều công
“ma, giả” công phi lý nên ngày công chia của hợp tác xã thường chỉ được một đến 2 lạng thóc Có những hợp tác xã công chia âm nghĩa là một ngày công không được một lạng thóc nào.Nguy cơ đói, thiếu lương thực đang diễn ra hết sức gay gắt, người nông dân không gắn bó với đồng ruộng.HTX chỉ tồn tại trên danh nghĩa hình thức Nguy cơ tan rã HTX là có thật, nếu không có cơ chế tháo gỡ, chính sách đối nội với hợp tác xã nông nghiêp” [ 77,tr 7]
Hơn thế nữa Vĩnh Phúc cũng như cả nước lúc đó có xu hướng tổ chức HTX nông nghiệp bậc cao quy mô lớn bất chấp tình trạng thấp kém của trang
bị kĩ thuật, trình độ quản lý và năng lực của cán bộ, không coi trọng cải biến trong tổ chức quản lý, phân phối và trao đổi Cách làm thường ồ ạt, gò ép, chạy theo số lượng, coi nhẹ chất lượng và hiệu quả sản xuất và kinh doanh Yêu cầu đặt ra là phải có sự thay đổi trong nhìn nhận quản lý lao động trong nông nghiệp để đáp ứng tình hình thực tế của tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng và cả nước nói chung
1.3 Diễn biến và kết quả khoán hộ Vĩnh Phúc những năm 60 của thế
kỉ XX
1.3.1 Quá trình ra đời cuả khoán hộ
Những hạn chế, những khuyết tật của mô hình hợp tác hóa là phổ biến trên cả nước, nhưng nhận thức và thái độ của lãnh đạo cơ sở không giống nhau Nó tùy thuộc vào trình độ hiểu biết và khả năng nắm bắt thực tế đời sống nông nghiệp và nhất là tinh thần trách nhiệm của người lãnh đạo và dũng khí dám nghĩ dám làm của người lãnh đạo Tĩnh ủy Vĩnh Phúc, đứng đầu là
Bí thư tỉnh ủy Kim Ngọc đã sớm nhận ra được và trăn trở tìm cách giải quyết Vậy “khoán hộ” là gì, tại sao nó lại ra đời như một nhu cầu tất yếu? Khoán hộ là cách khoán trực tiếp đến mỗi người lao động HTX chỉ cung cấp
Trang 32giống, kĩ thuật, phân bón, thuốc trừ sâu và đến vụ thu hoạch người lao động chia lại một phần sản phẩm cho HTX từ năng xuất mà họ thu hoạch được Chính điều này xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trong điều kiện thời bấy giờ, khắc phục được những hạn chế của cơ chế cũ…và được đồng chí Kim Ngọc- một người luôn luôn trăn trở tìm tòi, lo nghĩ cho nhân dân phát hiện ra
Đồng chí Kim Ngọc tên thật là Kim Văn Nguộc Kim Ngọc là bí danh ông tham ra hoạt động cách mạng Ông sinh ngayg 10/10/1917 trong một gia đình nông dân nghèo tại thôn Đại Nội , xã Bình Định, Huyên Yên Lạc, Tỉnh Vĩnh Phúc Ông tham ra cách mạng từ năm 1939, gia nhập Đảng cộng sản từ năm 1940, rồi tham ra khởi nghĩa giành chính quyền ở Vĩnh Yên trong cách mạng tháng Tám 1945 Sau đó, ông từng là cán bộ lãnh đạo các huyện trong tỉnh như Tam Dương, Lập Thach….Đến năm 1952, ông là Bí thư tỉnh ủy Tỉnh Vĩnh Phúc, sau đó ông được điều lên làm khu ủy viên Việt Bắc, Phó bí thư Chính ủy quân khu Việt Bắc…Đến đầu năm 1959 đích thân thủ tướng Phạm Văn Đồng yêu cầu ông trở lại Vĩnh Phúc làm Bí thư tỉnh ủy lần hai Với lộ trình công tác như vậy, ông rất hiểu nông thôn và đặc biệt rất hiểu tình hình Tỉnh Vĩnh Phúc1
Bằng con đường chủ động học tập nâng cao trình độ, trải nghiệm hoạt động thực tiễn hoạt động cách mạng trên những cương vị công tác khác nhau, đồng chí Kim Ngọc luôn thể hiện “ tư chất của người lãnh đạo năng động sáng tạo, dám nghĩ dám làm, dám bảo lưu ý kiến, dám chịu trách nhiệm cuối cùng trong những quyết sách vì nước vì dân gắn bó lý luận với thực tiễn ”[77, tr1]
Năm 1959, sau khi được bổ nhiệm làm Bí thư tỉnh ủy tỉnh Vĩnh Phúc, ông luôn trăn trở rất nhiều trước thực trạng sản xuất nông nghiệp của tỉnh Cả cuộc đời ông luôn luôn gắn bó với đồng ruộng, vì cuộc sống của người
1
Trích từ bản lý lịch tóm tắt của đồng chí Kim Ngọc, Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phúc Lưu trử văn phòng Tỉnh ủy
Trang 33dân.Theo như hồi kí của ông Nguyễn Thành Tô thư kí riêng của ông Kim Ngọc “có lần ông Kim Ngọc đến một hợp tác xã, lúc này bà con đang cấy vụ chiêm Trời rét căm căm nhưng ông không vào trụ sở HTX mà đi thẳng ra đồng muốn tận mắt thấy bà con xã viên làm việc như thế nào sau đó mới vào làm việc với Ban quản trị HTX; có lần “Ông Kim Ngọc bỏ dép, xắn quần nhảy xuống ruộng Ông đưa tay quơ qua quơ lại thấy đất lổn nhổn, có cục gần bằng nữa viên gạch thẻ, ông kêu lên “ làm ăn như thế này thì chết đói thôi” Sau nhiều lần đi thực tế ông nhận ra rằng làm ăn như vậy không hiệu quả “ thứ nhất là giờ giấc trong lao động tập thể Đã nhiều lần anh Ngọc đi cùng tôi trên đường, thấy cảnh đã 8 giờ sang rồi mà nông dân vẫn còn ngồi gốc đa để chờ nhau đi làm Anh nói với tôi; “ thế này thì nguy lắm chú ạ! Giờ này mà vẫn ngồi thế kia thì làm được mấy tiếng mỗi ngày, 8 giờ sáng mới ra , 11 giờ
đã về rồi Chiều lại còn chờ nhau đến 2-3 giờ tập trung, tập trung cho thật đông vui rồi mới ra làm, 4 giờ lại về.Một ngày chỉ làm có 6 tiếng làm sao mà
đủ ăn?” Thứ hai lối tổ chức lao động như thế này không huy động được lao động phụ, vì làm HTX chỉ là lao động chính thôi Thứ ba, lao động không có hiệu quả Nhiều lần anh đang đi với tôi, bỗng anh bảo bỏ giày và xe bên đường rồi hai thầy trò lội vào giữa ruộng, không thấy xã viên làm gì cả Họ chỉ làm xung quanh bờ, sạch bờ thì đủ để ông đội trưởng ghi công, ghi điểm, còn ở giữa ruông thì cỏ mọc vượt lúa! Như vậy, 1 sào của hợp tác xã chỉ thu được 20,30 kg, đến 50 kg là cao Trong khi đó, 1 sào đất 5% của gia đình xã viên thì thu tới 200- 250 kg thóc” [57, tr 174]
Vốn xuất thân là con nhà nông, lại nhiều năm lăn lộn với nông thôn, qua thực tế kiểm tra ông không khỏi chăn trở:” Nông dân chúng ta nổi tiếng là cần
cù chăn chỉ…vì sao họ lại lười biếng và cẩu thả như vậy?” và ông nghi ngờ cái gọi là ưu thế của mô hình hợp tác hóa Nếu như thực sự mô hình hợp tác hóa mang đến ấm no hạnh phúc thì đời sống nhân dân phải nâng cao, phải
Trang 34được cải thiện?“ tại sao sản lượng cả thóc ngô khoai sắn đều ngày một giảm, năng xuất lúa bình quân 22.43 tạ/ha năm 1959 giảm xuống 18 tạ / ha năm
1961, bình quân lương thực đầu người từ 22.4 kg/ người” [57, tr 174] Và ông hiểu ra rằng “ họ không coi ruộng đất của HTX là của mình” theo lời kể của ông Nguyễn Thành Tô Mỗi lần xuống cơ sở ông đều hỏi bà con tại sao ruông
5 % của hộ gia đình lại hơn hẳn năng xuất của HTX? Vậy nếu giao ruộng cho
hộ gia đình thì có chắc năng xuất tăng không? Có còn bỏ hoang không…? Đứng trước tình hình thực tế và cũng với suy nghĩ trăn trở của mình ông đã tìm ra cách giải quyết đúng đắn “ hộ nông dân là chủ thể của đơn vị sản xuất nông nghiệp Muốn thế phải để cho nông dân làm chủ mảnh đất của mình, được chủ động trong kế hoạch sản xuất” [77 , tr 50]
Việc khoán mang lại cái lợi là rất rõ, nhưng có một điều nữa cũng rất rõ khoán như vậy là trái với chủ trương của Trung ương Cũng có ý kiến bàn lùi, cho rằng “ thà chịu đói chứ không phản bội chủ nghĩa Mác- Lê nin, không đi ngược lại con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội” [41 , tr 4] Thận trọng hơn, Thường vụ tỉnh ủy quyết định cử một tổ công tác xuống làm thử ở một vài HTX để rút kinh nghiêm Sau đó thực hiện thí điểm cơ chế khoán hộ trên một
số điểm và phân công cán bộ trực tiếp chỉ đạo Mùa hè năm 1966, Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị sơ kết công tác khoán thí điểm Hầu hết các ý kiến đều ủng hộ
mô hình khoán hộ, coi đó là lối thoát duy nhất của tình hình sa sút hiện nay Sau hội nghị , hướng đi đã rõ ràng, vì vây, ông chỉ đạo cho các cơ quan chức năng soạn thảo một nghị quyết về quản lý lao động trong nông nghiệp Cuối cùng toàn bộ Thường vụ Tỉnh ủy đã thông qua một bản nghị quyết lịch sử: Nghị quyết 68-TW “ về một số vấn đề quản lý lao động nông nghiệp trong HTX hiện nay” Nghị quyết được ban hành chính thức vào ngày 10/9/1966
Trang 351.3.2 Diễn biến của khoán hộ
Nghị quyết 68- TW “ Về một số vấn đề quản lý lao động trong HTX hiên nay” được coi là một bước tiến lớn, mở ra, giải quyết được những tồn tại trong HTX thời bấy giờ Nghị quyết gồm 2 nội dung cơ bản: Vị trí khả năng lao động nông nghiệp của tỉnh trong tình hình hiện nay và Phương hướng nhiệm vụ, biện pháp quản lý lao động nông nghiệp trong 2 năm 1966 và 1967 Phần thứ nhất nêu rõ tình hình lao động của tỉnh thời gian qua Phần thứ hai nêu 2 nhiệm vụ chung “ phải tạo mọi điều kiện huy động, sử dụng được hết và tốt mọi khả năng lao động hiện có và phải dung mọi biện pháp để tăng năng suất lao động trong nông nghiệp, đảm bảo nhiệm vụ trung tâm chính trị là sản xuất là chiến đấu” [46, tr 355] Nghị quyết đưa ra 6 nhiệm vụ trước mắt, cụ thể về quản lý lao động HTX của các cấp các ngành: Kinh doanh toàn diện trong HTX vừa để phát triển sản xuất, vừa để phát triển ngành nghề; Thực hiện chế độ ba khoán: khoán việc cho nhóm, cho lao động và cho hộ đảm bảo
sự hợp lý lao động và tăng năng xuất lao động; Cải tiến công cụ sản xuất, trang bị cơ khí nhỏ nhằm không ngừng xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật, sử dụng hợp lý, tiết kiệm sức lao động và tăng năng suất lao động trong nông nghiêp; Phải xác định đúng đắn thái độ lao động định nghĩa vụ lao động cho từng loại lao động, sử dụng được hết khả năng, người, ngày, giờ, kỹ năng lao động của xã viên phục vụ thâm canh, tăng năng suất Đặc biệt, về phương thức khoán, căn cứ trên những tư tưởng chỉ đạo của Nghị quyết 68- TW và bản Kế hoạch số 116- BHTX-SN/NNG hướng dẫn cụ thể việc thực hiện cơ chế ba khoán trong HTX, cơ chế khoán hộ được thực hiện dưới nhiều chế độ khác nhau: Khoán nhiều khâu lao động, khoán việc dài ngày, khoán sản lượng cho hộ, khoán hẳn một số ruộng đất trồng màu…Có thể chia làm 6 hình thức khoán: Khoán cho từng hộ xã viên làm một hoặc nhiều khâu sản xuất trong một thời gian: Khoán các khâu cho hộ xã viên làm suốt vụ dài ngày; khoán
Trang 36sản lượng định mức cho hộ, cho lao động; Khoán trắng ruộng đất cho hộ;
Khoán chăn nuôi lơn; Bán thẳng tư liệu sản xuất cho xã viên
Khoán hộ đi vào vào cuộc sống như nắng hạn gặp mưa rào, chỉ sau
một hai vụ mà sản lượng, chất lượng nông nghiệp cũng như bộ mặt nông thôn
thay đổi rõ rệt Mặc dù đạt được những kết quả hết sức rõ ràng nhưng nó cũng
vấp phải sự phản đối trong nội bộ trước và sau khi ra đời, họ lấy lý do đi
ngược lại chủ trương đường lối tập thể của chủ nghĩa xã hội, đưa nông dân trở
về với con đường làm ăn riêng lẻ… đến ngày 22/12/1968 sau 2 năm thực hiên
Ban bí thư Trung ương Đảng ra thông tri số 224-TTr/TW “ Về chấn chỉnh
công tác ba khoán và quản lý ruộng đất của HTX sản xuất nông nghiệp ở một
số địa phương” chính thức chấm dứt khoán hộ
Trên giấy tờ khoán hộ đã chính thức bị dừng lại và được TW theo dõi sát
sao, nhưng trên thực tế khoán hộ vẫn được thực hiện một cách chui, chính vì
vậy thời gian này khoán hộ có thể coi có cái tên mới “ khoán chui” Điều đó
càng chứng minh một thực tế, một chân lý, điều gì đúng, hợp với lòng dân,
bằng cách này hay cách khác thì nó vẫn sẽ được chấp nhận, cơ sở hạ tầng
luôn quyết định kiến trúc thượng tầng
1.3.3 Kết quả của khoán hộ
Chỉ với thời gian ngắn ngủi gần 2 năm “ khoán hộ” đi vào thực tế, bộ mặt
nông thôn Vĩnh Phúc đã có sự biến đổi mạnh mẽ:
Năm 1967 là năm chiến tranh diễn ra ác liệt, nhưng nhờ có khoán hộ nên
sản xuất nông nghiệp thu được những thắng lợi đáng kể: Tống sản lượng quy
ra thóc năm 1967 đạt 222.000 tấn, tăng so với năm 1966 hơn 4000 tấn [46, tr 395-396] Đàn lơn năm 1960 mới chỉ đạt 287.100 con đến năm 1967
tăng lên 434.900 con và đến 1968 lên 465.200 con [79,tr 173] Những phương
châm mục tiêu và khẩu hiệu lớn đã từng được đặt ra cho nền sản xuất XHCN
là “ năng xuất cao, hoa màu nhiều, chăn nuôi giỏi” mãi không đạt được trong
Trang 37mô hình HTX nhưng lại đạt được một cách nhanh chóng trong mô hình khoán
Sang năm 1968, diện tích hoa màu và cây công nghiệp được phục hồi trở lại đạt 22.200 ha, gần bằng năm 1960, năm đạt năng xuất cao nhất là 22.400 ha Đàn trâu bò tăng hơn 10 nghìn con.[57, tr 182]
Còn về nghĩa vụ quốc phòng, trong thời gian này Vĩnh phúc là một trong những tỉnh hoàn thành tốt chỉ tiêu tuyển quân: “ từ năm 1965 đến năm 1970, Vĩnh Phúc hoàn thành xuất sắc 30 đợt tuyển quân, 84.154 thanh niên nhập ngũ bằng 6,45% dân số, trong đó có 6.995 gia đình có từ 2 đến 6 con tại ngũ.” [11 , tr 155] Như vậy có thể khẳng định, khoán hộ giúp cho kinh tế của mọi gia đình khá lên, đóng góp đầy đủ cho các quỹ điều hòa của HTX nên mức sống của gia đình có con em đi bộ đội được đảm bảo tốt hơn
Về sau này, Bộ lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đã tổng kết mô hình như sau: “ Khoán hộ trên thực tế có những ưu điểm sau:
Tận dụng được lao động trong mỗi hộ để tiến hành sản xuất, khắc phục tình trạng quản lý lao động trong nông nghiệp theo kiểu công nghiệp, tức là làm theo hiệu lệnh kẻng của HTX
Hộ được xác định là một đơn vị kinh tế tự chủ Tuy chưa được tổng kết thành lý luận, nhưng trong thực tiễn, việc khoán hộ là bước khởi đầu cho một
tư duy mới về quản lý kinh tế HTX Khoán cho hộ với nhiều hình thức khác nhau là phù hợp cả về tâm lý, về trình độ quản lý điều hành của cán bộ lãnh đạo và nói chung phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hiện tại
Khoán hộ cũng khắc phục tình trạng “dong công phóng điểm” của các HTX khắc phục một bước tình trạng vô chủ trong quản lý tư liệu sản xuất và hạn chế nạn tham ô chè chén ở các đội sản xuất và HTX nông nghiệp” [1 ,tr 394- 395]
Trang 381.4 Các xu hướng đánh giá khác nhau về “ Khoán hộ”
“ Ra một nghị quyết thay đổi cả một phương thức sản xuất đã trở thành nguyên tắc, điều lệ chẳng khác nào bắn phát đại bác công phá thành trì của chủ nghĩa giáo điều và bảo thủ Phải táo bạo, dũng cảm lắm mới dám nổ súng
Và người dám làm điều đấy là ông Kim Ngọc” [81 , tr 2] Đó là câu nói lời nhận xét, nói lên được tất cả hoàn cảnh cũng như tình trạng, con người thời bấy giờ Có rất nhiều ý kiến, xu hướng đánh giá khác nhau về khoán hộ trước
và sau khi ra đời.Tại sao kết quả của “khoán hộ” giải quyết được vấn đề của kinh tế đặt ra lại không được thực hiện?
Có rất nhiều quan điểm khác nhau có thể chia làm ba quan điểm:
“Khoán hộ” là sai, đi ngược lại xã hội chủ nghĩa, cần ngăn cấm; Khoán hộ là đúng cần thực hiện ngay; Khoán hộ là đúng nhưng chưa thực hiện được vào thời điểm đó
Chính sách “Khoán hộ” là sai, cần ngăn cấm
Đại diện cho ý kiến này phải kể đến đồng chí Trường Chinh, Ủy Viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban lý luận trung ương
Ngày 6 tháng 11 năm 1968 đồng chí Trường Chinh, Ủy Viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban lý luận trung ương Đảng đã trực tiếp lên thăm Vĩnh Phúc Tỉnh triệu tập một cuộc họp gồm tất cả các cán bộ chủ chốt của Tỉnh và các địa phương, tại đó đồng chí Trường Chinh đọc bài phân tích và phê phán chủ trương khoán hộ của Vĩnh Phúc Trong bài có những ý chính như sau:
“ Trong một thời gian dài đã không thấu suốt tinh thần đấu tranh triệt để giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, giữa hai phương thức lao động tập thể và lao động cá thể ở nông thôn Cán bộ và quần chúng nông dân hiểu biết về vấn đề hợp tác hóa nông nghiệp một cách nông cạn và giản đơn Các đồng chí lãnh đạo địa phương vì không nắm vững nguyên tắc
và chính sách của Đảng về quản lý xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp và
Trang 39hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, cho nên khi vận dụng vào hoàn cảnh của địa phương đã đi lệch sang phương thức sản xuất cá thể, chuyển một phần tư liệu sản xuất của HTX cho cán bộ xã viên, khôi phục dần cách làm ăn riêng lẻ.” “thực tế là đã tiến hành một cuộc chia lại ruộng đất dưới hình thức “ ba khoán cho hộ”
“ Hợp tác xã tự biến mình là người phát canh thu tô đối với xã viên”
“ Phương thức sản xuất cá thể đang lấn bước phương thức sản xuất tập thể”
“ việc khoán ruộng cho hộ đã dẫn đến hậu quả tai hại là phát triển tự tư
tự lợi, làm phai nhạt ý thức tập thể của xã viên, thủ tiêu phong trào thi đua yêu nước trong hợp tác xã, kìm hãm và đẩy lùi cách mạng kỹ thuật trong nông nghiệp, giảm nhẹ vai trò của lao động tập thể xã hội chủ nghĩa, phục hồi và phát triển lối làm ăn riêng lẻ, đẩy hợp tác xã sản xuất nông nghiệp vào con đường thoái hoá và tan rã… tính chất sai lầm rất nghiêm trọng vì nó không chỉ thuộc về cách làm mà thuộc về lập trường tư tưởng…” [58 , tr 19] và đên 12/12/1968 Trong thông tri của Ban Bí thư khẳng định; “ Khoán hộ thực chất
là đem một phần ruộng đất của hợp tác xã chia lại cho xã viên và đem lao động cá thể thay dần cho lao động tập thể”
Những HTX thực hiện việc khoán hộ đã không quản lý được lao động và việc cải tiến kỹ thuật, không quản lý được sản phẩm, xã viên đem sản phẩm bán ra thị trường tự do
“Khoán hộ” đã gây ra chênh lệch giữa các gia đình, làm cho kinh tế cá thể lấn kinh tế tập thể, trái với đường lối hợp tác hóa nông nghiệp của Đảng…” [35, tr 542-528] Nhưng về sau đồng chí Trường Chinh cũng có những chuyển biến và đổi mới