Các nguồn tài liệu chính: Để thực hiện luận văn này, chúng tôi tập trung khảo sát những ví dụ cụ thể trong các giáo trình đang đ-ợc sử dụng tại Việt Nam, đặc biệt là các giáo trình đã v
Trang 1Tr-ờng Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn
Lê anh tuấn
Khảo sát chức năng và hoạt động
của trợ từ tiếng Nhật
LUậN VĂN THạC Sĩ KHOA HọC ĐÔNG PHƯƠNG HọC
Trang 2ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI Tr-ờng Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn
Lê anh tuấn
Khảo sát chức năng và hoạt động
của trợ từ tiếng Nhật
Chuyên ngành: Đông ph-ơng học Mã số:
LUậN VĂN THạC Sĩ KHOA HọC ĐÔNG PHƯƠNG HọC
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học:
PGS TS Nguyễn Thị Việt Thanh
Trang 3MụC LụC
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn, mục đích nghiên cứu 1
3 Giới hạn đề tài và ph-ơng pháp nghiên cứu 3
ch-ơng 1: tổng quan về tình hình nghiên cứu trợ
từ tiếng Nhật
6
1.2 Quan điểm của các học giả về trợ từ tiếng Nhật 11
1.2.6 Quan điểm của Nguyễn Thị Việt Thanh 14
1.3 Quan điểm của các học giả về phân loại trợ từ tiếng Nhật 14 1.3.1 Phân loại trợ từ của Otsuki Fumihiko 14 1.3.2 Phân loại trợ từ của Hashimoto Shinkichi 15
Trang 73.1 Trî tõ “ が” [ga] vµ trî tõ “ は” [wa] 80 3.2 Trî tõ “ が” [ga] vµ trî tõ “ の” [no] 85 3.3 Trî tõ “ と” [to] vµ trî tõ “ に” [ni] 87 3.4 Trî tõ “ に” [ni] vµ trî tõ “から” [kara] 89 3.5 Trî tõ “ に” [ni] vµ trî tõ “ へ” [e] 90 3.6 Trî tõ “ に” [ni], trî tõ “ で” [de] vµ trî tõ “ を” [wo] 93 3.7 Trî tõ “で” [de] vµ trî tõ “ から” [kara] 98 3.8 Trî tõ “ し” [shi] vµ trî tõ “ て” [te] 99 3.9 Trî tõ “ や” [ya], trî tõ “ とか” [toka] vµ trî tõ “ たり” [tari] 103 3.10 Trî tõ “ ので” [node] vµ trî tõ “ から” [kara] 106 3.11 Trî tõ “ と” [to], trî tõ “ ば” [ba], trî tõ “ たら” [tara] vµ trî tõ “ な
ら” [nara]
110
3.12 Trî tõ “ のに” [noni] vµ trî tõ “ ても” [temo] 117 3.13 Trî tõ “ だけ” [dake] vµ trî tõ “ しか” [shika] 120
Trang 8Các ký hiệu
đ-ợc sử dụng trong luận văn
(X) : Câu sai
〇 : Câu đúng
[] : Nguồn tài liệu trích dẫn; phiên âm tiếng Nhật
〜 : Từ hoặc mệnh đề (th-ờng dùng trong mẫu câu hoặc dạng
thức)
: Trợ từ đang đ-ợc đề cập đến
Trang 9Lêi cam ®oan
T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh cña riªng t«i C¸c sè liÖu, kÕt qu¶ nªu trong luËn v¨n lµ trung thùc vµ ch-a ®-îc c«ng bè trong bÊt kú c«ng tr×nh nµo kh¸c
Lª Anh TuÊn
Trang 10mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn, mục đích nghiên cứu:
Hiện nay, ở Việt Nam, cùng với việc mở rộng quan hệ hợp tác với Nhật Bản ở nhiều lĩnh vực, nhu cầu học tiếng Nhật ngày càng tăng Ngoài ra, nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu tiếng Nhật với t- cách là một ngôn ngữ cũng
đ-ợc đặt ra một cách cấp thiết Song, điều đáng tiếc là trong tủ sách tiếng Nhật ở Việt Nam hiện nay, ngoài một số cuốn sách thực hành tiếng và giáo trình do các tác giả Nhật Bản viết dành cho ng-ời n-ớc ngoài, sách nghiên cứu
về tiếng Nhật chỉ đếm trên đầu ngón tay
Hầu hết ng-ời Việt Nam hay n-ớc ngoài nói chung đều nhận xét rằng tiếng Nhật là một ngôn ngữ khó sử dụng Cái khó không chỉ ở sự tồn tại
của bốn loại hình văn tự (hiragana, katakana, kanji, romaji) với những quy
định sử dụng không ít ngoại lệ; từ ngữ, ngữ pháp thay đổi theo bối cảnh hay
đối t-ợng giao tiếp; sự phân biệt giới tính của ng-ời sử dụng, khác biệt giữa các tầng lớp xã hội, nghề nghiệp… trong sử dụng ngôn ngữ mà còn ở những
đặc điểm khác biệt về mặt loại hình, ngữ pháp
Tiếng Nhật thuộc loại hình ngôn ngữ chắp dính (Aggutinative) Khác với tiếng Việt vốn thuộc vào loại đơn lập phân tích tính cao (Amorpho-analytics), cấu tạo từ và hình thái câu tiếng Nhật theo ph-ơng thức niêm kết, nghĩa là chắp nối các trợ từ, trợ động từ, danh từ hình thức…với t- cách là những phụ tố ngữ pháp vào gốc các loại từ nh- danh từ, động từ, tính từ… Việc niêm kết này phải theo những nguyên tắc nhất định của tiếng Nhật Nắm đ-ợc những quy tắc biến đổi đó sẽ vận dụng đ-ợc tiếng Nhật Mối quan hệ giữa chủ ngữ và vị ngữ, mối quan hệ giữa các thành phần câu đều đ-ợc đánh dấu bằng các trợ từ khác nhau Có thể nói, đặc tr-ng loại hình cơ bản của tiếng Nhật
đ-ợc thể hiện rõ nhất qua sự có mặt của các trợ từ và hoạt động tích cực của chúng trong câu
Trang 11Trợ từ tiếng Nhật là vấn đề khó, ngay cả đối với ng-ời bản ngữ Ng-ời Nhật có thể sử dụng trợ từ một cách thuần thục nh-ng hầu hết những ng-ời trong họ lại không thể giải thích đ-ợc lý do sử dụng một trợ từ nào đó
Đối với ng-ời n-ớc ngoài học tiếng Nhật, việc sử dụng trợ từ cho đúng là cả một vấn đề khó khăn Trong khi sử dụng tiếng Nhật, những lỗi ngữ pháp hay mắc phải nhất, những câu diễn đạt ch-a đúng đa phần là do sử dụng sai trợ từ
Chúng tôi chọn đề tài “ Khảo sát chức năng và hoạt động của trợ từ
chức năng của loại từ này Kết quả nghiên cứu của luận văn cũng sẽ đ-ợc trực tiếp sử dụng vào việc giảng dạy và học tiếng Nhật cho sinh viên chuyên ngành Nhật Bản học, Khoa Đông ph-ơng học, Tr-ờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – nơi chúng tôi đang tham gia giảng dạy Hy vọng rằng, những kết quả nghiên cứu b-ớc đầu về trợ từ tiếng Nhật này sẽ giúp cho sinh viên học tiếng Nhật hạn chế những sai sót th-ờng gặp trong khi nói và viết tiếng Nhật
2 Các nguồn tài liệu chính:
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi tập trung khảo sát những ví dụ
cụ thể trong các giáo trình đang đ-ợc sử dụng tại Việt Nam, đặc biệt là các giáo trình đã và đang đ-ợc sử dụng tại chuyên ngành Nhật Bản học, Khoa
Đông ph-ơng học, Tr-ờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn nh- các
giáo trình tiếng Nhật bậc sơ cấp nh- “ 初級日本語” (Tiếng Nhật sơ cấp), “ 新
日本語の基礎” (Tân Cơ sở tiếng Nhật), “ みんなの日本語” (Tiếng Nhật
dành cho mọi ng-ời) và các giáo trình bậc trung cấp nh- “ 中級から学ぶ日本
語” (Tiếng nhật học từ bậc trung cấp), 日本語中級 J301 (Tiếng Nhật trung
cấp J301)…
Chúng tôi còn tham khảo các sách báo, tạp chí, đặc biệt là các từ
điển nh- “ Từ điển ngữ pháp tiếng Nhật” của Seichi Makino, Michio Tsutsu;
“学研国語大辞典” (Đại từ điển học tập – nghiên cứu tiếng Nhật) của các tác
Trang 12giả Kaneda và Ikeda; “ 基礎日本語辞典” (Từ điển tiếng Nhật cơ sở); “ Từ điển
Phần lý thuyết đ-ợc tham khảo từ một số sách ngôn ngữ xuất bản tại
Nhật Bản và Việt Nam, đặc biệt là từ các cuốn “ 外国人のための助詞” (Trợ
từ dành cho ng-ời n-ớc ngoài) của Chino Naoko, Akimoto Miharu; “ 日本文
法研究” (Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Nhật) của Kuno Susumu; “格助詞” (Trợ từ chỉ cách) của Masuoka Takashi và Takubo Yukinori; “ 国語学” của
Tsukishima Hiroshi; “ 基礎表現50とその教え方” của Tomita Takayuki;
“文法1、助詞の諸問題1” của Suzuki Shinobu; “Ngữ pháp tiếng Nhật hiện
đại ” của Trần Sơn; “Ngữ pháp tiếng Nhật” của Nguyễn Thị Việt Thanh; “Các
Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo một số luận văn viết về trợ từ
tiếng Nhật nh- “ いわゆる日本語助詞の研究” (Nghiên cứu về trợ từ tiếng
Nhật) là một tập hợp 3 luận văn tốt nghiệp của các tác giả Okutsu Keiichiro,
Numata Yoshiko, Sugimoto Takeshi và “ B-ớc đầu khảo sát trợ từ chỉ cách
Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 1998
Để tìm hiểu về hệ thống các thuật ngữ ngôn ngữ học, chúng tôi cũng tham khảo một số sách và các bài báo về ngữ pháp tiếng Việt và ngôn ngữ học
đại c-ơng của các tác giả Diệp Quang Ban, Nguyễn Tài Cẩn, Hoàng Trọng
Phiến, Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Minh Thuyết… (xin xem “ Danh mục tài
liệu tham khảo” in ở cuối luận văn)
3 Giới hạn đề tài và ph-ơng pháp nghiên cứu:
3.1 Giới hạn đề tài:
Trang 13Nh- đã nêu ở trên, luận văn “ Khảo sát hoạt động và chức năng trợ
hoạt động và chức năng của trợ từ tiếng Nhật Tuy nhiên, do trợ từ tiếng Nhật
là một vấn đề quá rộng lớn và phức tạp nên trong luận văn của mình, chúng tôi chỉ có thể tập trung khảo sát hệ thống trợ từ tiếng Nhật hiện đại, bỏ qua việc xem xét các trợ từ tiếng Nhật trong các văn bản cổ
Mặt khác, do khuôn khổ có hạn của một luận văn Thạc sĩ và do trình độ có hạn của bản thân, chúng tôi ch-a thể tổng kết một cách toàn diện tất cả những hoạt động của những trợ từ có trong tiếng Nhật hiện đại Chúng tôi cũng ch-a có điều kiện khảo sát đ-ợc toàn bộ những chức năng và hoạt
động của từng trợ từ Chúng tôi chỉ đề cập đến những trợ từ quan trọng nhất,
có tần số sử dụng lớn nhất và cố gắng đ-a ra những chức năng cơ bản nhất của từng loại trợ từ, đặc biệt là các trợ từ th-ờng xuyên đ-ợc sử dụng trong các giáo trình giảng dạy tiếng Nhật bậc sơ cấp (初級) và trung cấp (中級) đang
đ-ợc sử dụng ở Việt Nam nói chung và ở Khoa Đông ph-ơng học, Tr-ờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn nói riêng
Chúng tôi cũng không định đi vào so sánh, đối chiếu sự giống và khác nhau giữa trợ từ tiếng Nhật và trợ từ trong tiếng Việt vì chúng nằm trên những bình diện hoàn toàn khác nhau Hay nói một cách khác, luận văn của chúng tôi không có mục đích so sánh tiếng Nhật và tiếng Việt ở cấp độ trợ từ
(cả về ý nghĩa lẫn chức năng)
3.2 Ph-ơng pháp nghiên cứu:
Ph-ơng pháp chủ yếu và bao quát của chúng tôi là ph-ơng pháp phân tích tình huống Nghĩa là qua việc phân tích những thí dụ trong những ngữ cảnh cụ thể, chúng tôi cố gắng chỉ ra chức năng, ý nghĩa, khả năng kết hợp với các từ loại khác, bối cảnh sử dụng… của từng trợ từ Sau đó, chúng tôi tổng hợp chúng lại, sắp xếp chúng lại với nhau thành từng nhóm
Trang 14Ngoài ra, để tiện cho việc theo dõi, trong một số tr-ờng hợp cụ thể, chúng tôi còn sử dụng một số thao tác khác nh- mô hình hoá các cấu trúc
(ngữ hoặc câu) có chứa trợ từ
4 Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn đ-ợc trình bày d-ới 3 ch-ơng sau:
Ch-ơng 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu trợ từ tiếng Nhật
Trong ch-ơng này, chúng tôi trình bày về lịch sử tình hình nghiên cứu trợ từ tiếng Nhật của các học giả Nhật Bản và Việt Nam tiêu biểu, gồm các nội dung: tên gọi trợ từ tiếng Nhật; các quan niệm về trợ từ tiếng Nhật và một số cách phân loại trợ từ tiếng Nhật
Ch-ơng 2: Khảo sát chức năng và hoạt động của trợ từ tiếng Nhật
Đây là ch-ơng chính của luận văn Trong ch-ơng này, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát từng nhóm trợ từ để chỉ ra các đặc điểm chung nhất của từng nhóm và hoạt động, chức năng các trợ từ trong từng nhóm
Ch-ơng 3: Một số vấn đề trong thực tiễn sử dụng trợ từ tiếng Nhật:
Trên thực tế sử dụng trợ từ tiếng Nhật, nhiều tr-ờng hợp một trợ từ thực hiện nhiều chức năng khác nhau và đ-ợc xếp vào các nhóm khác nhau Ng-ợc lại, cùng một loại ý nghĩa có thể sử dụng một số trợ từ khác nhau với những khu biệt nào đó về sắc thái hay tình huống sử dụng Vì vậy, tại ch-ơng này, chúng tôi sẽ so sánh một số trợ từ có chức năng gần giống nhau, có thể dùng thay thế cho nhau để chỉ ra những nét khu biệt của chúng nhằm tránh những sai sót th-ờng gặp cho ng-ời sử dụng tiếng Nhật
Trang 15ch-ơng 1 tổng quan
về tình hình nghiên cứu trợ từ tiếng Nhật
Trong tiếng Nhật, chúng ta th-ờng gặp những cấu trúc có chứa những từ biểu thị quan hệ chức năng ngữ pháp, hay biểu thị các quan hệ ngữ nghĩa của các từ mà chúng đi kèm trong câu
Ví dụ:
- a 彼は酒を飲みます。
[Kare wa sake wo nomimasu]
Anh ấy uống r-ợu
- b.これは本です。それも本です。
[Kore wa hon desu Sore mo hon desu]
Đây là quyển sách Kia cũng là quyển sách
định chủ thể, vừa thể hiện hình thái ý nghĩa; “ ね” [ne] trong ví dụ c biểu thị
thái độ của ng-ời nói Những từ đó đ-ợc gọi là “ trợ từ” (助詞)
Trong ngành ngôn ngữ học Nhật Bản, vấn đề trợ từ thu hút sự chú ý của không ít các nhà nghiên cứu Ngoài các công trình nghiên cứu theo h-ớng
Trang 16lịch đại, các nhà nghiên cứu ngữ pháp tiếng Nhật hiện đại luôn h-ớng tới việc giải thích, tổng kết các chức năng, sắc thái mà từng trợ từ đem lại trong câu
Những nghiên cứu đầu tiên về trợ từ có lẽ bắt đầu từ khoảng cuối thế
kỷ VIII vào thời Heian (平安) Có thể kể đến phần viết về “ teniowa” trong cuốn “ Yakumoshimo” (八雲御抄) đã nêu lên những quy tắc sử dụng trợ từ cơ bản nhất trong thơ Tanka Nhật Bản Những nghiên cứu này còn đ-ợc tiếp tục
đ-ợc tiến hành ở thời kỳ Edo (江戸) Trong thời kỳ Edo, có thể kể đến công
trình “ Ayuisho” (1774) của Funjitani Nariakura và “ Kotoba no tamanoo”
(1779) của Motoori Norigana và các công trình nghiên cứu của các tác giả Tachibana Moribe, Tojo Gimon, Nagano Yoshikoto, Nakajima Hirotari… Đến thời kỳ Minh Trị (明治), trợ từ mới chính thức đ-ợc nhìn nhận nh- một từ loại
và đ-ợc nghiên cứu trên bình diện ngữ pháp Việc nghiên cứu trợ từ thời kỳ
Minh Trị đ-ợc đánh dấu bởi công trình “ Ko nihon bunten” (xuất bản năm 1898) của Otsuki Fumihiko và đặc biệt là công trình “ Nihon bunporon” (xuất
bản năm 1908) của Yamada Yoshio Hai công trình này đã mở ra một thời kỳ nghiên cứu mới về ngữ pháp tiếng Nhật nói chung và về trợ từ tiếng Nhật nói riêng Ngoài ra, có thể kể đến các tác giả khác nh- Jimbo Karu, Hashimoto Shinkichi, Mitsuya Kieda, Mitsuya Shigematsu, Matsushita Daizaburo…
Ngoài các công trình nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Nhật, cũng phải
kể đến các từ điển và các bộ giáo trình tiếng Nhật cho ng-ời n-ớc ngoài
Sau khi Nhật Bản bị chiếm đóng (1945), nhiều từ điển song ngữ
Anh – Nhật, Nhật – Anh và Nhật – Nhật do các học giả Ph-ơng Tây (mà
chủ yếu là Hoa Kỳ) và Nhật Bản biên soạn đã đ-ợc xuất bản Trong các từ
điển này, trợ từ tiếng Nhật và một số hoạt động chủ yếu của chúng cũng đ-ợc
đề cập đến Có thể kể đến một số từ điển đ-ợc nhiều ng-ời biết đến nh- cuốn
“Dictionary of Basic Japanese Usage for Foreigners” do Bunkacho xuất bản,
“Từ điển bách khoa tiếng Nhật” (日本語百科辞典), “Từ điển ngữ pháp tiếng
Trang 17Nhật ” của Seichi Makino, Michio Tsutsu, “Đại từ điển học tập – nghiên
Sau vài thập kỷ phát triển nhảy vọt, Nhật Bản trở thành một c-ờng quốc về kinh tế, kỹ thuật trên thế giới, tiếng Nhật trở thành ngôn ngữ đ-ợc nhiều n-ớc học tập và nghiên cứu Trong thời gian này, rất nhiều bộ giáo trình tiếng Nhật và sách h-ớng dẫn dạy tiếng Nhật dùng cho giáo viên đã đ-ợc các nhà ngôn ngữ Nhật Bản biên soạn Các giáo trình và sách h-ớng dẫn này, dù
ít, dù nhiều đều có phần đề cập đến cách dùng một số trợ từ chủ yếu trong tiếng Nhật Tuy nhiên, do đặc thù dùng để học tiếng Nhật với t- cách nh- một ngoại ngữ nên nếu so với các sách ngữ pháp chuyên ngành, các phần đề cập tới trợ từ tiếng Nhật trong các giáo trình và sách h-ớng dẫn cho giáo viên còn
khá tản mạn và sơ sài Tiêu biểu có các cuốn “ Suy nghĩ về ngữ pháp tiếng
Nhật ” (日本語文法を考える) xuất bản năm 1991 của Ono Susumu, “Một
(外国人が日本人教師によくする100の質問) của các tác giả Sakairi Ikuko, Sato Yukiko, Sakuragi Nokiko do Aruku xuất bản năm 1994 và cuốn
“50 biểu hiện cơ sở và cách dạy chúng” (基礎表現50とその教え方) của
Tomita Takayuki do Aruku xuất bản năm 1991…
Ngoài ra, cũng có thể kể đến những bài viết chuyên khảo của các học giả Nhật Bản và n-ớc ngoài trên các tạp chí, chuyên luận và các luận văn tốt nghiệp của sinh viên Nhật Bản viết về trợ từ tiếng Nhật nh-ng phần lớn những bài viết này đều chỉ tập trung đi vào phân tích hoặc so sánh một vài
chức năng đơn lẻ của một số trợ từ Có thể kể đến cuốn “ Nghiên cứu về trợ từ
nghiệp về trợ từ do Nhà xuất bản Bonjinsha phát hành năm 1986
ở Việt Nam, do việc học và nghiên cứu tiếng Nhật chỉ mới đ-ợc bắt
Trang 18khảo sát trợ từ chỉ cách trong tiếng Nhật ” (Ngô H-ơng Lan, Tr-ờng Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 1998) – mà trên
thực tế, trong luận văn của mình, Ngô H-ơng Lan cũng chỉ khảo sát hoạt động của 2 trợ từ chỉ cách là “ が” [ga] và “ は” [wa] - thì ch-a có riêng một cuốn chuyên luận nào tập trung nghiên cứu một cách hệ thống lớp từ quan trọng này
Tất nhiên, cũng có thể kể đến phần viết về trợ từ tiếng Nhật trong
một số cuốn sách ngữ pháp do các tác giả Việt Nam biên soạn nh- cuốn “ Ngữ
do dung l-ợng có hạn của cuốn sách nên các tác giả cũng ch-a có điều kiện đi sâu vào vấn đề này
Do khuôn khổ có hạn của một luận văn Thạc sĩ nên trong phần này chúng tôi chỉ có thể trình bày một vài quan niệm quan trọng nhất, có ảnh h-ởng lớn đến việc nghiên cứu trợ từ tiếng Nhật hiện đại ở Nhật Bản và Việt Nam
1.1 Về tên gọi của trợ từ tiếng Nhật:
Nh- đã trình bày ở trên, việc nghiên cứu trợ từ tiếng Nhật đ-ợc bắt
đầu từ khá sớm (khoảng cuối thế kỷ VIII) nên trợ từ tiếng Nhật đã từng có khá nhiều tên gọi khác nhau Thuật ngữ đầu tiên là “ te ni wo wa” (hay còn gọi là
“ okoto ten” ) “te ni wo wa” thực ra là cách gọi các dấu đặc biệt để đọc chữ
Hán cổ Ngoài ra, trợ từ tiếng Nhật còn đ-ợc gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau nh- thuật ngữ “ Joji” (助辞: Trợ từ) có nghĩa là phụ từ, trợ từ, từ bổ trợ; thuật ngữ “ Seijoji” (静助辞: Tĩnh trợ từ) có nghĩa là trợ từ tĩnh, không biến hình để phân biệt với các trợ động từ “ Dòjoji” (動助辞: Động trợ từ) biến hình; thuật ngữ “ Kankeishi” (関係詞: Quan hệ từ) để chỉ chức năng quan trọng của trợ từ là biểu hiện quan hệ giữa các từ trong câu; thuật ngữ
Trang 19“Kòchishi” (後置詞: Hậu trí từ) và thuật ngữ “Kòshi” (後置: Hậu từ) có nghĩa
là “ từ đặt sau” để nói lên vị trí của trợ từ tiếng Nhật luôn đi sau các từ mà nó
bổ trợ…
Thuật ngữ “ trợ từ” (助詞) đ-ợc chính thức sử dụng từ thời kỳ Meiji
(1868) và đ-ợc sử dụng cho đến ngày nay Một trong những ng-ời có công lớn trong việc đ-a thuật ngữ này vào sử dụng là Tiến sĩ Yamada Yoshio, tác
giả cuốn “ Nihon bunboron” (1908) Yamada Yoshio chia từ vựng trong tiếng Nhật thành 2 nhóm lớn mà ông gọi là “ quan niệm ngữ” (観念語) và “ quan hệ
ngữ ” (関係語) Có thể hiểu 2 khái niệm này trùng với 2 khái niệm “nhóm từ
thực ” (mang nghĩa từ vựng) và “nhóm từ h-” (thực hiện các chức năng ngữ
pháp) trong ngôn ngữ Việt Nam hiện đại Nhóm “ quan hệ ngữ” đ-ợc ông gọi
là “ trợ từ” và ông định nghĩa trợ từ là “ nhóm từ trợ giúp quan niệm ngữ (thực
Thuật ngữ “ trợ từ” (助詞: joshi) đ-ợc giới ngôn ngữ học thừa nhận
và đ-ợc dùng rộng rãi không chỉ ở Nhật Bản mà còn ở cả n-ớc ngoài Thuật
ngữ “ trợ từ” cũng đ-ợc các học giả Việt Nam tiếp nhận và sử dụng Tác giả Trần Sơn, trong cuốn “ Ngữ pháp tiếng Nhật hiện đại” xuất bản năm 1993 đã dùng cách gọi “ trợ từ” để gọi nhóm từ này Tiếp theo Trần Sơn, trong cuốn
“Từ điển học tập tiếng Nhật” xuất bản năm 1998, các tác giả Nguyễn Việt H-ơng, Nguyễn Văn Hảo cũng gọi nhóm từ này là “ trợ từ” Các công trình
nghiên cứu tiếp theo về ngữ pháp tiếng Nhật của Ngô H-ơng Lan, Nguyễn Thị Việt Thanh, Phạm Việt Thanh cũng thống nhất cách gọi này Mặc dù, xét về
bản chất, thuật ngữ “ trợ từ” trong tiếng Nhật “ không hoàn toàn trùng với các
nh-ng “ vì không muốn thay hoàn toàn những thuật ngữ đã quen dùng bằng
những thuật ngữ mới, nên đối với một số tr-ờng hợp, chúng tôi cố gắng sử
Trang 20niệm mà chúng biểu thị” nh- PGS TS Nguyễn Thị Việt Thanh đã trình bày về
sự khó khăn trong việc sử dụng các thuật ngữ Hán – Nhật trong lời nói đầu
cuốn “ Ngữ pháp tiếng Nhật” xuất bản năm 2000 của bà [23, 8-9]
1.2 Quan điểm của các học giả về trợ từ tiếng Nhật:
1.2.1 Quan điểm của Yamada Yoshio:
Yamada đ-a ra một số hệ thống quan niệm về trợ từ nh- sau:
- Trợ từ tiếng Nhật là “ những chữ không biến đổi” (活用しない)
Về hình thức, ông coi trợ từ là những từ “ có hình thức rất ngắn: chỉ một hoặc
hai, ba âm tiết (rất hiếm trợ từ có trên ba âm tiết) Tần số xuất hiện của trợ từ
trong câu ít hơn so với các từ loại khác
- Trợ từ không biểu hiện một khái niệm cụ thể nào, “ nó chỉ có ý
chúng không thể độc lập làm thành phần câu Ông còn cho rằng trợ từ khi
đ-ợc phát âm lên, hầu nh- không phát âm tách khỏi khối thực từ mà nó gắn
liền, do đó nó “ không có ý nghĩa riêng”
- Trợ từ đ-ợc sử dụng gắn kết với danh từ, đại từ, số từ, động từ, tính
từ và phó từ “ để giải thích ý nghĩa ngữ pháp của các từ này và chỉ ra quan hệ
1.2.2 Quan điểm của Jimbo Karu:
Jimbo Karu đồng tình với hầu hết những quan điểm về trợ từ do Yamada Yoshio đề ra Tuy nhiên, ông không đồng tình với quan điểm cho rằng trợ từ hoàn toàn không có ý nghĩa từ vựng Ông cho rằng trợ từ tiếng Nhật có những ý nghĩa riêng Để chứng minh quan điểm này, ông đ-a ra ví
dụ: “ sakara-no” (hoa anh đào) là một đơn vị cú pháp, nếu tách “ sakura” riêng
ra thì từ này cũng có thể là một đơn vị cú pháp rồi (từ tố); “ no” tuy không là
thành phần ngang cấp nh-ng cũng có ý nghĩa riêng nhất định
Trang 211.2.3 Quan điểm của Hashimoto Shinkichi:
Cũng nh- Yamada Yoshio, Hashimoto Shinkichi xếp trợ từ vào
nhóm h- từ và khẳng định trợ từ tiếng Nhật “ không có khả năng độc lập làm
Yamada về việc “ Trợ từ không có ý nghĩa riêng” Song, ông cũng công nhận
rằng ý nghĩa này rất trừu t-ợng, tinh tế và hiểu đ-ợc nó rất khó Ông nhận
định “ Những từ hoàn toàn không có ý nghĩa không phải đối t-ợng nghiên cứu
của ngữ pháp Trợ từ cũng có thể là một thành phần tham gia vào sự thiết lập
đ-a ra ví dụ “ watashi” (tôi) và “ watashi-wa” (tôi thì) khác nhau chính là ở trợ
từ “ wa” đi kèm [28, 25]
1.2.4 Quan điểm của Mitsuya Kieda:
Mitsuya nhấn mạnh đến đặc điểm chức năng của trợ từ Ông cho rằng trợ từ có đặc tr-ng quan trọng là bổ trợ ý nghĩa cho các đơn vị cú pháp khác và biểu thị quan hệ giữa các đơn vị này Sự thay đổi vị trí của trợ từ sẽ dẫn đến sự thay đổi quan hệ giữa các thành phần câu Ông đ-a ra ví dụ chứng minh:
Trang 22Sự đổi chỗ giữa “ wo” và “ ga” đã làm thay đổi quan hệ của danh từ
“ane” (chị tôi) và “ko” (em bé) Từ quan hệ chủ cách trở thành quan hệ đối t-ợng của động từ “ homeru” (khen) và ng-ợc lại
Mitsuya cũng chỉ ra rằng chức năng trợ nghĩa của trợ từ đ-ợc hiểu trên cả hai bình diện từ vựng và ngữ pháp, đặc biệt là bình diện ngữ pháp
1.2.5 Quan điểm của Trần Sơn:
Trần Sơn là ng-ời có những nghiên cứu đầu tiên về trợ từ tiếng Nhật
ở Việt Nam Ông nhấn mạnh đến mặt ngữ nghĩa mà trợ từ tiếng Nhật biểu
hiện Theo ông, trong các trợ từ tiếng Nhật “ chỉ có một vài trợ từ đơn thuần là
trợ từ ngữ pháp, tức là trợ từ cấu tạo câu, xác định vị trí của chủ ngữ, tân ngữ,
bổ ngữ, trạng ngữ…còn hầu hết các trợ từ khác đều là trợ từ ngữ nghĩa, vừa có
Trần Sơn còn chỉ ra một số đặc điểm của trợ từ tiếng Nhật [16, 117] Ông cho rằng:
116 Quan hệ đề 116 thuyết đ116 ợc biểu thị chủ yếu bằng trật tự của trợ từ Chỉ cần thay đổi vị trí của trợ từ thì quan hệ đề – thuyết cũng thay đổi
- Dùng trợ từ để cấu tạo câu, không dùng trợ từ để cấu tạo ngữ
Trang 23- Quan hệ chính phụ phần lớn đ-ợc biểu thị bằng trợ từ
1.2.6 Quan điểm của Nguyễn Thị Việt Thanh:
Tiếp sau Trần Sơn, trong cuốn “ Ngữ pháp tiếng Nhật” xuất bản năm
2000, PGS TS Nguyễn Thị Việt Thanh đã có những nhận định về trợ từ tiếng Nhật nh- sau:
1.3 Quan điểm của các học giả về phân loại trợ từ tiếng Nhật:
Trong lịch sử ngôn ngữ học Nhật Bản, từ x-a đến nay có nhiều cách phân loại trợ từ với những quan điểm và góc độ khác nhau Sau đây, chúng tôi xin trình bày cách phân loại trợ từ của ba nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Nhật Bản là Otsuki Fumihiko, Hashimoto Shinkichi và Yamada Yoshio Ngoài ra, chúng tôi cũng đề cập đến một số cách phân loại trợ từ tiếng Nhật của các nhà nghiên cứu Việt Nam
1.3.1 Phân loại trợ từ của Otsuki Fumihiko: [41, 163-164]
Otsuki Fumihiko căn cứ vào khả năng kết hợp của trợ từ với các từ loại khác để chia trợ từ thành 3 nhóm lớn, gồm:
- Nhóm trợ từ chỉ kết hợp với các danh từ (名詞にのみつくもの), gồm: 1 “ が” [ga], “ の” [no]; 2 “ の” [no], “ が” [ga], “ つ” [tsu]; 3 “ に” [ni];
4 “ を” [wo]; 5 “ と” [to], “ も” [mo]; 6 “ へ” [e]; 7 “ より” [yori], “ から” [kara] 8 “ まで” [made]
Trang 24- Nhóm trợ từ kết hợp với các từ khác (種々の語につくもの), gồm: 1 “ は” [wa], “ ば” [ba]; 2 “ も” [mo]; 3 “ ぞ” [zo], “ なみ” [nami], “ な
も” [namo], “し” [shi]; 4 “こそ” [koso]; 5 “だに” [dani], “すら” [sura]; 6
“さへ” [sae]; 7 “のみ” [nomi], “ばかり” [bakari]; 8 “や” [ya], “か” [ka]
- Nhóm trợ từ chỉ kết hợp với động từ (動詞にのみつくもの), gồm:
1 “ ば” [ba]; 2 “ と” [to]; 3 “ に” [ni], “ を” [wo], “ が” [ga]; 4 “ て” [te]; 5
“で” [de]; 6 “ずつ” [zutu]
Cách phân loại trợ từ thành 3 nhóm lớn nh- trên của Otsuki
Fumihiko là cách phân loại dựa trên “ tiêu chí hình thức” , nghĩa là điều kiện sử dụng của các trợ từ mà bỏ qua một tiêu chí vô cùng quan trọng là “ tiêu chí nội
dung” là các quan hệ cơ bản mà trợ từ biểu hiện Theo chúng tôi, thực ra chức
năng biểu hiện các quan hệ mới chính là chức năng cơ bản nhất của trợ từ
tiếng Nhật
1.3.2 Phân loại trợ từ của Hashimoto Shinkichi: [iwanami 33, 97]
Tiến sĩ Hashimoto Shinkichi cũng chủ yếu căn cứ vào khả năng kết
hợp của trợ từ (tiêu chí hình thức) để phân loại trợ từ tiếng Nhật, tuy nhiên ông
cũng chú ý đến các quan hệ cơ bản mà trợ từ biểu hiện để chia từng nhóm
Ông chia trợ từ ra làm 9 nhóm là:
1 Nhóm trợ từ phụ (副助詞): kết hợp với nhiều từ (種々の語に附く), gồm các trợ từ “だけ” [dake], “まで” [made], “ばかり” [bakari], “など” [nado], “ ぐらい” [gurai], “ か” [ka], “ やら” [yara]
2 Nhóm trợ từ định danh (準体助詞): kết hợp với nhiều từ (種々の語に附く), chỉ gồm trợ từ “の” [no]
Trang 253 Nhóm trợ từ tiếp nối (接続助詞): chỉ kết hợp với động từ và tính
từ (用言にのみ附く), gồm các trợ từ “ ば” [ba], “ と” [to], “ ても” [temo], “ けれども” [keredomo], “のに” [noni], “が” [ga], “から” [kara], “ので” [node],
“し” [shi], “て” [te]
4 Nhóm trợ từ liệt kê (並立助詞): kết hợp với nhiều từ (種々の語に附く), gồm các trợ từ “と” [to], “や” [ya], “か” [ka], “やら” [yara], “なり” [nari], “ たり” [tari], “ とか” [toka]…
5 Nhóm trợ từ phụ định danh (準副体助詞): kết hợp với nhiều từ (種々の語に附く), chỉ gồm trợ từ “ の” [no]
6 Nhóm trợ từ chỉ cách (格助詞): Chỉ kết hợp với danh từ, đại từ, số
từ (体言にのみ附く), gồm 8 trợ từ “ が” [ga], “ を” [wo], “ に” [ni], “ へ” [he],
“と” [to], “より” [yori], “から” [kara], “で” [de]
7 Nhóm trợ từ quan hệ (係助詞): kết hợp với nhiều từ (種々の語に附く), gồm “ は” [wa], “ も” [mo], “ こそ” [koso], “ さえ” [sae], “ でも” [demo], “ なりと” [narito], “ ほか” [hoka], “ しか” [shika]
8 Nhóm trợ từ kết thúc (終助詞): xuất hiện ở cuối câu (文を終止する), gồm các trợ từ “ ぜ” [ze], “ぞ” [zo], “とも” [tomo], “て” [te], “な” [na],
“わ” [wa], “よ” [yo], “い” [i]
9 Nhóm trợ từ đệm (間投助詞): Xuất hiện ở cuối các đoạn trong câu (文節の終に来る) hoặc trong nội bộ câu, gồm các trợ từ “ ね” [ne], “ な” [na], “ さ” [sa]
1.3.3 Phân loại trợ từ của Yamada Yoshio: [53, 551]
Trang 26Yamada Yoshio chủ yếu dựa trên tiêu chí các chức năng cơ bản mà trợ từ biểu hiện trong câu (句の中で果す機能) để chia trợ từ tiếng Nhật ra
thành 6 nhóm Ông còn l-u ý đến cả phạm vi sử dụng (dùng trong văn bản
hay khẩu ngữ) của các trợ từ trong từng nhóm để phân chia, gồm:
1 Nhóm trợ từ chỉ cách (格助詞), gồm 8 trợ từ th-ờng dùng trong văn bản là “ の” [no], “ が” [ga], “ を” [wo], “ に” [ni], “ へ” [e], “ と” [to], “ よ
り” [yori], “から” [kara] và 1 trợ từ th-ờng dùng trong khẩu ngữ là “で” [de]
2 Nhóm trợ từ phụ (副助詞), gồm 7 trợ từ th-ờng dùng trong văn bản là “ だに” [dani], “ さえ” [sae], “ すら” [sura], “ のみ” [nomi], “ ばかり” [bakari], “ まで” [made], “ など” [nado] và 7 trợ từ th-ờng dùng trong khẩu ngữ là “ ばかり” [bakari], “ まで” [made], “ など” [nado], “ やら” [yara], “ か” [ka], “ だけ” [dake], “ ぐらい” [gurai]
3 Nhóm trợ từ quan hệ (係助詞), gồm 8 trợ từ th-ờng dùng trong văn bản là “ は” [wa], “ も” [mo], “ ぞ” [zo], “ なむ” [namu], “ こそ” [koso],
“や” [ya], “か” [ka], “な” [na] và 7 trợ từ th-ờng dùng trong khẩu ngữ là “は” [wa], “ も” [mo], “ こそ” [koso], “ さへ” [sae], “ でも” [demo], “ ほか” [hoka],
“しか” [shika]
4 Nhóm trợ từ tiếp nối (接続助詞), gồm 8 trợ từ th-ờng dùng trong văn bản là “ ば” [ba], “ と” [to], “ とも” [tomo], “ ど” [do], “ ども” [domo],
“が” [ga], “に” [ni], “を” [wo] và 12 trợ từ th-ờng dùng trong khẩu ngữ là
“ば” [ba], “ど” [do], “ども” [domo], “ところが” [tokoroga], “のに” [noni],
“ものを” [monowo], “も” [mo], “し” [shi], “と” [to], “から” [kara], “けれ
ど” [keredo], “けれども” [keredomo]
Trang 275 Nhóm trợ từ kết thúc (終助詞), gồm các trợ từ th-ờng dùng trong văn bản nh- “ が” [ga], “ がな” [gana], “ か” [ka], “ かな” [kana], “ かし” [kashi], “ な” [na]…và các trợ từ th-ờng dùng trong khẩu ngữ nh- “ か” [ka],
“え” [e], “な” [na], “よ” [yo], “い” [i], “ろ” [ro], “とも” [tomo], “ぜ” [ze],
“さ” [sa]
6 Nhóm trợ từ đệm (間投助詞), gồm các trợ từ th-ờng dùng trong văn bản nh- “ よ” [yo], “ や” [ya], “ し” [shi]… và các trợ từ th-ờng dùng trong khẩu ngữ nh- “ よ” [yo], “ や” [ya], “ ぞ” [zo], “ ね” [ne], “ がな” [gana]
Với cách chia trợ từ dựa trên 2 tiêu chí là điều kiện sử dụng trợ từ và quan hệ mà nó biểu hiện nh- trên, Tiến sĩ Yamada đã mở ra một thời kỳ mới trong việc nghiên cứu trợ từ tiếng Nhật Từ công trình nghiên cứu của Yamada trở về sau, dù trợ từ có đ-ợc các học giả chia thành 5 nhóm, 6 nhóm hay 8 nhóm… nh-ng về cơ bản vẫn dựa trên cơ sở phân loại mà Yamada đã đề ra
1.3.4 Phân loại trợ từ của Trần Sơn: [16, 117-121]
Trần Sơn chia trợ từ tiếng Nhật ra thành 3 nhóm lớn, gồm:
1 Nhóm trợ từ ngữ pháp: là các trợ từ “ xác định các thành phần
[wa], “ が” [ga], “ を” [wo]…
2 Nhóm trợ từ ngữ nghĩa: là các trợ từ “ vừa xác định mối quan hệ
các thành phần trong câu, vừa có tác dụng cấu tạo từ, đồng thời vừa thể hiện
3 Nhóm trợ từ cảm thán: là các trợ từ “ th-ờng dùng ở cuối câu để
thể hiện thái độ, tình cảm của ng-ời nói khi xúc động, khâm phục, nhắc nhở,
Trang 28Theo chúng tôi, việc chia trợ từ tiếng Nhật thành 3 nhóm lớn nh- trên tuy dễ nhớ nh-ng lại quá giản l-ợc và phiến diện Mặt khác, về mặt thuật ngữ, tên gọi của các nhóm cũng ch-a thể hiện đ-ợc tính chất của từng nhóm Trên thực tế, cách phân loại này cũng không đ-ợc nhiều nhà nghiên cứu tiếng Nhật ở Việt Nam tán đồng
1.3.5 Phân loại trợ từ của Nguyễn Thị Việt Thanh: [23,
179-240]
PGS TS Nguyễn Thị Việt Thanh dựa vào tiêu chí chức năng mà trợ
từ đảm nhiệm chia trợ từ tiếng Nhật ra thành 6 nhóm, gồm:
1 Nhóm trợ từ chỉ cách, gồm các trợ từ “ が” [ga], “ を” [wo], “ に” [ni], “ で” [de], “ から” [kara], “ まで” [made], “ と” [to], “ へ” [e], “ より” [yori], “ の” [no]
2 Nhóm trợ từ định danh, chỉ gồm trợ từ “ の” [no]
3 Nhóm trợ từ nối, gồm các trợ từ “ ながら” [nagara], “ と” [to],
“や” [ya], “し” [shi], “て” [te], “が” [ga], “ば” [ba], “のに” [noni], “ても” [temo], “ けれども” [keredomo], “ ので” [node], “ から” [kara], “ なら” [nara],
“たら” [tara]…
4 Nhóm trợ từ quan hệ, gồm các trợ từ “ は” [wa], “ も” [mo], “ し
か” [shika], “さえ” [sae], “でも” [demo], “ ばかり” [bakari], “ だけ” [dake],
“ ほど” [hodo], “ ぐらい” [gurai], “ やら” [yara], “ など” [nado], “ ほか” [hoka], “ きり” [kiri], “ まだ” [mada]…
5 Nhóm trợ từ kết thúc, gồm các trợ từ “ か” [ka], “ な” [na], “ ね” [ne], “ ぞ” [zo], “ かしら” [kashira]…
6 Nhóm trợ từ đệm, gồm các trợ từ “ ね” [ne], “ さ” [sa]…
Trang 29Cách phân loại mà PGS TS Nguyễn Thị Việt Thanh sử dụng là cách phân loại t-ơng đối phổ biến hiện nay, đ-ợc sử dụng trong ngữ pháp nhà
tr-ờng tại Nhật Bản Các phân loại này cũng đ-ợc đ-a vào cuốn “ Các ngôn
Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2002 – tài liệu tham khảo chính thức của sinh viên ngành Nhật Bản học, Khoa Đông ph-ơng học, Tr-ờng Đại học
- Về hình thức, trợ từ là những từ có hình thức t-ơng đối ngắn (từ 1
đến 4 âm tiết)
- Về ý nghĩa, trợ từ trong tiếng Nhật khác với danh từ, động từ, tính
từ, số từ, đại từ… ở chỗ chúng không có ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa thực để biểu thị tên gọi, biểu thị hoạt động, trạng thái hay tính chất và số l-ợng của sự vật hay ý nghĩa x-ng hô, chỉ định thay thế tên gọi của sự vật… Tuy nhiên, không thể coi chúng là những từ hoàn toàn trống nghĩa ý nghĩa cơ bản của trợ từ là biểu thị quan hệ, tuỳ theo vị trí của chúng trong câu và các từ loại mà chúng đi cùng
- Về chức năng, trợ từ tiếng Nhật không có khả năng làm trung tâm của cụm từ hay làm thành phần chủ ngữ và vị ngữ trong câu Trợ từ chủ yếu
Trang 30biểu hiện ý nghĩa ngữ pháp, các quan hệ ngữ pháp, xác định vị trí của các thành phần câu
- Trong câu, trợ từ không có khả năng đứng độc lập mà luôn tồn tại
bên cạnh một từ nào đó, nh- cái “ nhãn” của nó Chính nhờ có trợ từ mà trật tự
từ của các thành phần câu – trừ vị ngữ - là t-ơng đối tự do Sự thay đổi vị trí của các thành phần câu không làm ảnh h-ởng đến ý nghĩa cơ bản của câu
Ví dụ, câu “ Cô ấy học tiếng Nhật ở tr-ờng trung học” có thể diễn
[Chùgakkò de kanojo ga nihongo wo benkyò shimasu]
Trong các ví dụ trên, a là câu nói chuẩn mực Các ví dụ b, c, d ít
đ-ợc sử dụng nh-ng không thể nói chúng là các câu sai Sở dĩ có thể thay đổi
vị trí các thành phần câu mà nghĩa của câu không biến đổi là do các trợ từ
trong câu đã đánh dấu chức năng của chúng (“ が” [ga] chỉ ra từ đứng tr-ớc
ra tr-ớc nó là trạng ngữ chỉ địa điểm) Nếu bỏ các trợ từ đi thì cái còn lại chỉ
là một chuỗi từ hỗn độn, không biểu thị một nội dung nào cả Trên thực tế không bao giờ tồn tại một câu kiểu nh-:
Trang 31(X) 彼女中学校日本語勉強します。
[Kanojo chùgakkò nihongo benkyò shimasu]
- Nói chung, vị trí của trợ từ thay đổi, chức năng ngữ pháp và chức năng ngữ nghĩa cũng thay đổi Ví dụ:
a 今日は休みですか。
[Kyò wa yasumi desu ka]
Hôm nay nghỉ à?
b この映画は面白いかどうか分からない。
[Kono eiga wa omoshiroi ka dò ka wakaranai]
Không biết bộ phim này có hay hay không
“か” [ka] lại dùng để liệt kê
- Về loại, trợ từ tiếng Nhật có nhiều loại, với những chức năng khác
nhau Dựa trên tiêu chí hình thức (vị trí của trợ từ trong câu) và tiêu chí chức năng (khả năng kết hợp với các từ loại nào), trợ từ đ-ợc chia thành nhiều nhóm khác nhau, trong đó, có nhóm trợ từ thuần tuý ngữ pháp (Trợ từ chỉ
cách), có nhóm trợ từ biểu thị ngữ dụng (trợ từ quan hệ), có nhóm trợ từ biểu
thị ngữ khí (trợ từ đệm, trợ từ kết thúc)… Tuỳ vào quan điểm và tiêu chí phân
Trang 32lo¹i cña c¸c häc gi¶, sè l-îng vµ thµnh phÇn c¸c trî tõ trong tõng nhãm cã thÓ kh¸c nhau Chóng t«i chñ tr-¬ng chia trî tõ thµnh 6 nhãm:
Trang 33Ch-ơng 2khảo sát chức năng và hoạt động
của trợ từ tiếng Nhật
2.1 Nhóm trợ từ chỉ cách:
“Nhóm trợ từ chỉ cách là những trợ từ đảm nhiệm việc biểu thị các
chức năng ngữ pháp của danh từ mà chúng đi kèm trong câu, theo quan hệ với
ngữ pháp của các danh từ (hoặc có chức năng nh- danh từ) đứng tr-ớc nó theo
mô hình “ danh từ + trợ từ chỉ cách” Điều đó có nghĩa là trợ từ chỉ cách có
thể chỉ ra mối quan hệ của vị ngữ với các thành phần khác trong câu
Nhóm trợ từ chỉ cách là nhóm trợ từ quan trọng nhất trong hệ thống trợ từ tiếng Nhật Đây là nhóm trợ từ có mặt trong tất cả các cách phân loại trợ
từ tiếng Nhật hiện nay Mỗi trợ từ trong nhóm lại biểu thị nhiều ý nghĩa ngữ pháp trong các tình huống khác nhau
Tổng số các trợ từ chỉ cách trong tiếng Nhật là 10, gồm các trợ từ:
“が” [ga], “wo” [を], “ni” [に], “e” [へ], “to” [と], “de” [で], “kara” [から],
“yori” [より], “made” [まで] và “no” [の]
2.1.1 Trợ từ “ が” [ga]:
Trợ từ “ が” [ga] đ-ợc sử dụng trong các tr-ờng hợp sau:
2.1.1.1 Biểu thị thành phần chủ ngữ (chủ cách) của câu hoặc
mệnh đề trong câu:
a Khi biểu thị chủ ngữ, thông th-ờng “ が” [ga] nằm trong câu có
cấu trúc “ Chủ ngữ + “ が” [ga] + vị ngữ” Trong đó, vị ngữ có thể là danh từ,
Trang 34động từ hoặc tính từ (chỉ trạng thái, hành động hay tính chất của sự vật, hiện
“どれ” [dore] (cái nào)… Ví dụ:
どれがあなたの傘ですか。[Dore ga anata no kasa desu ka] Cái
nào là ô của anh?
誰が試験に合格したのですか。[Dare ga shiken ni gòkaku shita
no desu ka] Ai thi đỗ vậy?
Trang 35b Ngoài ra, “ が” [ga] còn th-ờng đ-ợc dùng để biểu thị thành phần chủ ngữ trong các mệnh đề phụ của các câu phức Ví dụ:
- Mệnh đề phụ chỉ điều kiện:
彼が行けば、私も行く。[Kare ga ikeba, watashi mo iku] Nếu
anh ta đi, tôi cũng đi
2.1.1.2 Biểu thị đối t-ợng:
a Biểu thị đối t-ợng trực tiếp của hành động:
- Biểu thị đối t-ợng trực tiếp của động từ biểu thị ý nghĩa tồn tại
hoặc sở hữu là “ ある” [aru] (có, ở) và “ いる” [iru] (có, ở) Ví dụ:
+ ý nghĩa tồn tại:
公園に像がいる。[Kòen ni zò ga iru] ở công viên có voi
机の上に本がある。[Tsukue no ue ni hon ga aru] Trên bàn có
quyển sách
+ ý nghĩa sở hữu:
Trang 36花子ちゃんには兄弟が 3 人いる。[Hanako chan niwa kyòdai ga
sannin iru] Hanako có 3 anh chị em
私には車がある。[Watashi niwa kuruma ga aru] Tôi có ô tô
- Biểu thị đối t-ợng trực tiếp của động từ biểu thị ý nghĩa cảm nhận nh- “ 分かる” [wakaru] (hiểu, biết), “ 見える” [mieru] (nhìn thấy), “ 聞こえ
る” [kikoeru] (nghe thấy)… Ví dụ:
彼は中国語が分かるそうだ。[Kare wa chùgokugo ga wakaru sò
da] Nghe nói anh ấy biết tiếng Trung Quốc
ここから富士山が見える。[Koko kara Fujisan ga mieru] Từ đây
nhìn thấy núi Phú Sĩ
- Biểu thị đối t-ợng trực tiếp của động từ biểu thị ý nghĩa trạng thái
hoặc chỉ sự cần thiết nh- “ 足りる” [tariru] (đầy đủ), “ 不足する” [fusoku suru] (thiếu thốn), “ 要る” [iru] (cần)… Ví dụ:
今月は忙しくて、時間が足りない。[Kongetsu wa isogashikute,
jikan ga tarinai] (Tôi) tháng này bận nên không có thời gian
私たちにはもっと資金が要ります。[Watshitachi niwa motto
shikin ga irimasu] Chúng tôi cần thêm vốn
- Biểu thị đối t-ợng trực tiếp của hành động khi động từ đ-ợc chia ở
dạng khả năng nh- “ できる” [dekiru] (có thể), “ 飲める” [nomeru] (có thể uống), “ 寝られる” [nerareru] (có thể ngủ)… Ví dụ:
あなたは日本語ができますか。[Anata wa nihongo ga dekimasu
ka] Anh có biết tiếng Nhật không?
私は日本の新聞が読めます。[Watashi wa nihon no shinbun ga
yomeru] Tôi đọc đ-ợc báo tiếng Nhật
Trang 37- Biểu thị đối t-ợng trực tiếp của hành động khi động từ đ-ợc chia ở
dạng thức mong muốn (dạng “ 〜 たい” [〜 tai])… Ví dụ:
今晩、天ぷらが食べたい。[Konban, tenpura ga tabetai] Tối nay,
(tôi) muốn ăn món Tenpura
- Sử dụng trong một số quán ngữ với động từ “ する” [suru] nh- “ においがする” [nioi ga suru] (ngửi thấy mùi), “音がする” [oto ga suru] (nghe thấy tiếng động), “ 味がする” [aji ga suru] (nếm thấy vị), “ 気がする” [ki ga suru] (cảm thấy)… Ví dụ:
変な音がする。[Hen na oto ga suru] Có tiếng động lạ
いいにおいがしている。[ii nioi ga shiteiru] Mùi thơm quá!
b Biểu thị đối t-ợng trực tiếp của các tính từ (còn gọi là “ tính động
từ” vì đây là những từ mang nghĩa động từ nh-ng đ-ợc cấu tạo và hoạt động trong câu theo nguyên tắc của tính từ):
- Tính từ biểu thị khả năng nh- “ 上手” [jòzu] (giỏi), “ 下手” [heta] (kém), “ 得意” [tokui] (giỏi, thành thạo), “ 苦手” [nigate] (không thành thạo),
“うまい” [umai] (giỏi)…
あの人はテニスが上手だ。[Ano hito wa tenisu ga jòzu da] Ng-ời
kia chơi tennis giỏi
私は字を書くのが苦手だ。[Watashi wa ji wo kaku no ga nigate
da] Tôi viết chữ ch-a đ-ợc thành thạo
- Tính từ biểu thị sự cảm xúc nh- “ 好き” [suki] (thích), “ 嫌い”
[kirai] (ghét), “ 欲しい” [hoshii] (muốn), “ 恐い” [kowai] (sợ hãi), “ 嬉しい” [ureshii] (vui), “ 悲しい” [kanashii] (buồn), “ 楽しい” [tanoshii] (vui vẻ), “ 苦
Trang 38し い” [kurushii] (khổ), “ いや ” [iya] (ghét), “ 懐かしい ” [natsukashii] (nhớ),“ うらやましい” [urayamashii] (ghen tỵ)…
お金が欲しい。[Okane ga hoshii] Tôi muốn có tiền
故郷が懐かしい。[Furusato ga natsukashii] Nhớ quê
- Tính từ biểu thị sự sở hữu hay thuộc tính, tính chất nh- “ 多い” [ooi] (nhiều), “ 少ない” [sukunai] (ít), “ ない” [nai] (không có), “ 必要” [hitsuyò] (cần thiết) … Ví dụ:
私には欠点が多い。[Watashi niwa ketten ga ooi] Tôi có nhiều
khuyết điểm
お金がない。[Okane ga nai] Không có tiền
2.1.2 Trợ từ “ を” [wo]:
Trợ từ “ を” (wo) th-ờng đ-ợc dùng trong các tr-ờng hợp sau:
2.1.2.1 Biểu thị danh từ mà nó đi kèm giữ chức năng bổ ngữ trực
tiếp của ngoại động từ (hay còn gọi là “ tha động từ” : 他動詞), nhóm động từ
quan trọng nhất và có số l-ợng lớn nhất trong các động từ tiếng Nhật, gồm các
động từ nh- “ 書く” [kaku] (viết), “ 教える” [oshieru] (dạy), “ する” [suru] (làm, thực hiện)… Ví dụ:
財布を落とした。[Saifu wo otoshita] Làm rơi ví
私は寿司を食べる。[Watashi wa sushi wo taberu] Tôi ăn món
Sushi
Trong số các ngoại động từ, cần l-u ý đến hoạt động của của trợ từ
“を” (wo) khi đi với động từ “する” [suru] (làm, thực hiện…) Cùng một hành
động, ng-ời ta có thể có 2 hai cách nói khác nhau mà không làm thay đổi ý
Trang 39nghĩa Ví dụ, để biểu hiện nội dung “ Tôi học tiếng Nhật” , có thể sử dụng một
Điều khác biệt chỉ ở chỗ, danh từ “ 日本語” [nihongo] (tiếng Nhật)
trong ví dụ a vốn giữ chức năng định ngữ đ-ợc chuyển thành bổ ngữ trực tiếp
cho động từ “ 勉強する” [benkyò suru] (học) trong ví dụ b
Trong thực tế sử dụng ngôn ngữ và trong các giáo trình tiếng Nhật hiện đại, cấu trúc b đ-ợc sử dụng nhiều hơn cấu trúc a
2.1.2.2 Biểu thị địa điểm kinh qua hoặc không gian của các động từ
chỉ sự vận động nh- “ 走る” [hashiru] (chạy), “ 渡る” [wataru] (qua, sang),
“歩く” [aruku] (đi bộ), “遊ぶ” [asobu] (chơi), “飛ぶ” [tobu] (bay)… Ví dụ:
あちらの道を車がたくさん走っている。[Achira no michi wo
kuruma ga takusan hashitteiru] Con đ-ờng đó có rất nhiều xe ôtô đang chạy
公園を歩いている。[Kòen wo aruiteiru] Đi bộ trong công viên 2.1.2.3 Biểu thị khởi điểm (điểm xuất phát) của một số động từ biểu
thị hành động rời khỏi một địa điểm nào đó về mặt không gian, nh- “ 出る” [deru] (rời), “ 発つ” [tatsu] (rời, rời khỏi), “ 離れる” [hanareru] (rời xa), “ 降り
Trang 40る” [oriru] (xuống khỏi), “出発する” [shuppatsu suru] (xuất phát), “卒業す
る” [sotsugyò suru] (tốt nghiệp)… Ví dụ:
私は 7 時に家を出た。[Watashi wa shichiji ni ie wo deta] Tôi rời
“ 恋する” [koi suru] (yêu), “ 懐かしむ” [natukashimu] (nhớ), “ 欲しがる” [hoshigaru] (muốn)… Ví dụ:
岡 田 さん は 日本料 理 を好 む 。 [Okada san wa nihonryòri wo
konomu] Anh Okada thích món ăn Nhật Bản
太郎は祖父が死んだことを悲しんだ。[Tarò wa sofu ga shinda
koto wo kanashinda] Taro đau buồn vì ông mất
花子さんは新しいカメラを欲しがる。[Hanako san wa atarashii
kamera wo hoshigaru] Hanoko muốn có máy ảnh mới
2.1.2.5 Biểu thị thời gian trải qua, th-ờng đi với các động từ nh-
“過ごす” [sugosu] (trải qua), “経過する” [keika suru] (trải qua, trôi qua)…
楽しい時間を過ごした。[Tanoshii jikan wo sugoshita] Trải qua
thời gian vui vẻ