1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Phan tich nghe thuat do hinh choi chu Trung Quoc

12 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xét trên diện rộng, nghệ thuật thuật đố hình - chơi chữ đan xen với những đặc trưng văn hóa điển hình của Trung Hoa - hình ảnh đầy hứa hẹn chẳng hạn như những hình ảnh mang thông điệp tì[r]

Trang 1

Nguồn gốc và sự phát triển của nghệ thuật đố hình - chơi chữ trong văn hóa tạo hình Trung Hoa được phản ánh trong thư tịch

Nghệ thuật đố hình được thể hiện theo cùng một nguyên tắc với nghệ thuật chơi chữ, đó là

sử dụng sự vật để truyền đạt ý nghĩa thông qua các hình ảnh vay mượn, được gọi là ‘trung hình hữu ý’ (trong hình ảnh có hàm ý) và những biện pháp chơi chữ trong

Lý Thương Ẩn (813 - 858), thi sĩ thời Đường (618

- 907) từng viết hai câu thơ: 春 蠶 到 死 絲 方

盡 蠟 炬 成 灰 淚 始 乾 (Xuân tàm đáo tử ti

phương tận Lạp cự thành hôi lệ thủy can: Tằm xuân đến chết mới hết nhả tơ Ngọn nến thành tro mới khô nước mắt) để nói lời nguyện ước với người yêu trong một cuộc

tình buồn Hai biện pháp tu từ thể hiện trong hai câu thơ này thường được sử dụng rất nhiều trong nghệ thuật tạo

hình cũng như trong văn học Trung Hoa Một biện pháp

tu từ thể hiện rất rõ ở đây là biện pháp ẩn dụ: nhà thơ sử

dụng hình ảnh ngọn nến rơi nước mắt cho đến khi tàn lụi để

diễn tả nỗi buồn khôn nguôi của ông khi xa người thương

Bất kỳ ai cũng có thể hiểu và đánh giá cao biện pháp ẩn

dụ này kể cả khi không am hiểu văn hóa Trung Hoa Tuy nhiên, còn có một biện pháp khác mang đặc trưng của văn

hóa Trung Hoa cũng được sử dụng, là biện pháp chơi chữ trong ngôn ngữ Trung Hoa Việc dùng chữ 絲 (ti: sợi tơ)

là cách chơi chữ từ thời Đường, vì trong tiếng Hoa, chữ

絲 đồng âm với chữ 思 (tư: suy nghĩ, tương tư), đều đọc

là si Theo cách chơi chữ này, ẩn nghĩa của câu thơ thứ nhất trong hai câu thơ trên là: “Ta sẽ không ngừng tương

tư nàng cho đến khi ta chết” Từ xưa, trong lịch sử Trung

Quốc, nghệ thuật chơi chữ trong văn chương cũng được áp

dụng trong nghệ thuật tạo hình, đó chính là nghệ thuật đố

hình - chơi chữ của người Trung Hoa

TRUNG HOA

Ảnh 1

PHÂN TÍCH NGHỆ THUẬT “ĐỐ HÌNH

-CHƠI CHỮ” TRONG NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ

Trang 2

văn chương như Lý Thương Ẩn đã

sử dụng

Những nghiên cứu dân tộc học cho thấy trước khi chữ viết ra đời, thì sự vật đã được sử dụng để truyền đạt ý nghĩ của con người

Chẳng hạn, trong cộng đồng người Zaiwai thuộc tộc người

Jing-po ở tỉnh Vân Nam, khi một chàng trai gửi cho một cô gái chiếc lá puran, thì ngụ ý rằng “ta muốn đến nhà nàng”, vì trong ngôn ngữ của người Zaiwai, puran là đồng

âm với đến

Các thư tịch cổ cũng chỉ ra một số trường hợp và những ảnh hưởng của việc dùng sự vật để biểu đạt ý nghĩ Thiên đệ Tam

trong sách Luận ngữ của Khổng

Tử có chép chuyện Công tước

Ai hỏi Tể Ngã, một môn đồ của Khổng Tử, về vấn đề liên quan đến đàn tế Đất Tể Ngã trả lời rằng đàn tế mà người nước Chu xây cho thần Đất là một cái bàn thờ được làm từ gỗ cây dẻ Việc chủ tâm dùng gỗ cây dẻ này nhằm gửi một thông điệp đến các tín đồ rằng họ phải tôn trọng thần Đất Đây là một kiểu chơi chữ, vì trong chữ Hán, cây dẻ là 栗 (lật), đồng âm với 慄 (lật), nghĩa là ‘run sợ’

Sách Tuân Tử do triết gia thời

Chu là Tuân Khanh (300 - 230 trước CN) biên soạn, cho biết:

“Khi những vị quan bị bãi nhiệm,

họ được nhà vua ban cho một chiếc nhẫn bị nứt, gọi là 玦 (quyết) hàm ý ‘chấm dứt’ Nếu được nhà vua lưu dụng thì họ sẽ được ban một chiếc nhẫn còn nguyên, gọi

là 環 (hoàn)” Sở dĩ như vậy là vì trong tiếng Hoa, chữ 玦 (quyết:

chiếc nhẫn bị nứt) đồng âm với chữ 絕 (tuyệt: chấm dứt một mối quan hệ), đều phát âm là jue

Một giai thoại về truyền thuyết Hồng Môn Hội do sử gia nổi tiếng

Tư Mã Thiên (145 - 85 trước CN)

kể lại rằng: Phạm Tăng, quân sư của Hạng Vũ, đã ba lần ra tín hiệu cho chủ soái cơ hội thuận lợi để giết Lưu Bang đã đến, bằng cách mang một vật trang sức bằng ngọc bị vỡ, vì vật trang sức bằng ngọc bị vỡ, chữ Hán là 玦 (quyết), đồng âm với chữ 决 (quyết) có nghĩa là ‘quyết định’ Tuy nhiên,

cuối cùng Hạng Vũ vẫn để cho Lưu Bang rời khỏi trại, để rồi sau

đó Lưu Bang trở thành người sáng lập vương triều Tây Hán (206 -

208 trước CN)

Vào thời Đường, vương quốc Nam Chiếu (729 - 1253) ở tỉnh Vân Nam triều cống cho nhà Đường một loại dược thảo gọi là

當 歸 (đương quy), vốn được sử dụng rộng rãi trong y học Trung Hoa Trong trường hợp này, đương quy được vương quốc Nam Chiếu dùng để chuyển tải thông điệp rằng họ chấp nhận thần phục nhà Đường Việc dùng đương quy

ở đây là một hình thức chơi chữ, hàm ý đương (đang) quy thuận một người nào đó

Thật dễ dàng để nhận thấy rằng nghệ thuật đố hình chơi chữ được phát triển từ một kiểu giao tiếp, lấy sự vật làm phương tiện, thông qua hình thức chơi chữ: ý nghĩa hàm chứa trong sự vật có thể biểu đạt bởi chính bản thân của các sự vật ấy

Một trong những dẫn chứng điển hình về nghệ thuật đố hình

có nguồn gốc từ thời Hán (206 trước CN - 220 sau CN), khi mà chữ 祥 (tường) dùng để chỉ ‘điềm tốt lành’ hoặc ‘điềm may’, thường thể hiện bằng hình ảnh của một con dê (hoặc con cừu), hoặc là được viết bởi chữ 羊 (dương: con

dê, con cừu)(1), vì vào thời này, chữ 祥 và chữ 羊, trong tiếng Hoa đều đọc là yang (dương) Sự tích này được ghi lại trong sách Thuyết văn giải tự (do Hứa Thận biên soạn vào thế kỷ thứ 2 sau CN), cuốn tầm nguyên Hán tự từ điển đầu tiên được biên soạn theo ngôn ngữ tượng hình

Trong cuốn Lệ tục, là một

tuyển tập các áng cổ văn của Trung Hoa do học giả thời Tống

là Hồng Quát (1117 - 1184) biên soạn, có một số bản cổ văn thời Hán đã sử dụng chữ 羊 (dương: dê/cừu) để biểu đạt ý nghĩa của chữ 祥 (tường: điềm lành) Một

ví dụ khác là dòng chữ: 宜 侯 王

大 吉 羊 (nghi hầu vương đại cát dương: thích hợp với quý tộc và vua chúa và mang lại điều tốt lành nhất), khắc trên một con dao bằng đồng, cũng phản ánh

Ảnh 2

Ảnh 3

Ảnh 4

Ảnh 5

Trang 3

việc dùng chữ 羊 (dương) để biểu

đạt ý nghĩa của chữ 祥 (tường)

Vào năm 1965, một bức tranh

minh họa cho Mahamegha-sutra

(Đại vân kinh), được phát hiện

bên dưới lớp sơn cuối của bức

tranh vẽ cảnh địa ngục trên bức

tường phía nam hang số 321 tại

Mạc Cao Quật (động Mạc Cao)

ở Đôn Hoàng Trong bức bích

họa này, chữ 曌 (Chiếu), là chữ

mà nữ hoàng Võ Tắc Thiên (684

- 704) tự đặt ra để làm tên của

bà (武 曌: Võ Chiếu), được thể

hiện bằng hình ảnh hai bàn tay

nắm trọn mặt trời và mặt trăng

trên một biển mây mênh mông

giữa bầu trời, ám chỉ bà là nhật

nguyệt đương không, mà Đại vân

kinh đã tiên đoán đó là mệnh trời

Trong trường hợp này, nguyên lý

ẩn sau đồ án trang trí này khác

với nghệ thuật đố hình - chơi chữ

trong văn hóa tạo hình Trung Hoa

sau này Hình ảnh những tinh tú

như mặt trời, mặt trăng và bầu

giàu sang) có trong sưu tập của Bảo tàng Cung điện Quốc gia ở Đài Bắc (Đài Loan) do họa sĩ Từ

Hi thời Nam Đường (937 - 975)

vẽ, là sự kết hợp từ các loài hoa: ngọc lan, hải đường và mẫu đơn Hoa ngọc lan, chữ Hán là 玉 蘭

và hoa hải đường là 海 棠 Kết hợp

âm tiết thứ nhất của ngọc lan và

âm tiết thứ hai của hải đường sẽ tạo thành ngọc đường (玉 棠), có nghĩa là ‘lâu đài bằng ngọc’, được coi là công trình kiến trúc tráng lệ nhất mà con người thời đó tưởng tượng ra Cùng với hoa mẫu đơn, vốn được xem là biểu tượng của

sự giàu sang phú quý từ thời nhà Đường, một thủ pháp đố hình - chơi chữ ra đời với những hình ảnh của các loài thảo mộc được sắp xếp một cách tự nhiên Một tác phẩm khác sáng tác vào thời Tống, có trong sưu tập của Bảo tàng Cung điện Quốc gia ở Đài Bắc, là bức tranh 安 和

图 (An hòa đồ: bức tranh về sự

trời là những bộ phận hợp thành chữ 曌 (Chiếu).(2) Hình ảnh giản lược của chiếc đầu dê trên những viên ngói câu đầu thời Hán chỉ là một trường hợp cá biệt, và chữ

曌 (Chiếu) trong tên của Võ Hậu được xây dựng theo nguyên tắc

“hội ý”, là một nguyên tắc “phi ngữ âm”

Tuy nhiên, những bức vẽ xưa nhất hiện còn của nghệ thuật đố hình - chơi chữ được sáng tạo từ

sự hợp thành của hình ảnh và sự vật, chẳng hạn như bức tranh vẽ các hình tượng có liên quan với nhau trong cùng một lĩnh vực được phát hiện trong sưu tập những bức tranh được cho là tác phẩm của các họa sĩ sống vào thời Ngũ Đại Thập Quốc (907 - 960) và thời Tống (960 - 1279) sáng tác Bức họa về các loài bích điển hoa nổi tiếng, thường được trang trí trong các lâu đài với hàm ý 玉 棠 富 貴 (ngọc đường phú quý: lâu đài bằng ngọc tỏ sự

Ảnh 6

Trang 4

thanh bình và hòa hợp), được vẽ

bởi một họa sĩ hàn lâm ẩn danh

Nội dung bức vẽ gồm hai yếu

tố chính: mấy con chim cút (鵪

鶉: am thuần) và vài bụi lúa (禾:

hòa) Bức tranh diễn đạt ý nghĩa

‘an hòa’ do kết hợp âm tiết đầu

tiên của từ am thuần (chim cút)

là chữ 鵪 (am), tiếng Hoa đọc là

an, đồng âm với chữ 安 (an: yên

ổn), và chữ 禾 (hòa: cây lúa),

đồng âm với chữ 和 (hòa: hòa

bình, hòa hợp) để biểu đạt chủ đề

安 和 (an hòa), nghĩa là ‘yên ổn

và hòa hợp’

Học giả thời Minh là Diệp

Thịnh (1420 - 1474) kể lại trong

tác phẩm Thủy Đông nhật ký của

ông: “Lương Ích, một nho sĩ thời

Nguyên đến từ Tam Sơn đã viết

lời đề từ cho bức tranh ‘Tam điểu’

của Hoàng Quan (khoảng năm

903 - 965) rằng: ‘Hình tượng có

trên các bức tranh hàn lâm phản

ánh cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng

Những bức tranh thời này phản

ánh về ba bộ kinh của Nho giáo

là: Kinh Thi, Kinh Lễ và Kinh Xuân

Thu Ngày nay, những bức tranh

vẽ hình ba con gà trống (ngụ ý

‘ba vị công tước hay người quý

tộc’), năm con chim (ám chỉ ‘năm

tầng lớp quý tộc là: công, hầu,

bá, tử, nam’), những con chim

đầu bạc (tượng trưng cho ‘bậc

trưởng lão đáng kính’), đôi chim

hỉ thước (hàm ý ‘song hỉ’), những

con chim, hươu, ong và khỉ (thể

hiện lời ‘cầu chúc những điều tốt

đẹp nhất, bổng lộc và chức tước’),

đại bàng và gấu (biểu trưng cho

‘người anh hùng’) Tất cả đều

tuân thủ cùng một tập quán”

Lời văn của Diệp Thịnh đã

cung cấp những chứng cứ về mặt

khi ông cho rằng: “Những bức họa của Lữ Kỷ đã nắm bắt tinh thần của sự vật dưới một hình thức khác thường Những chủ đề trong các bức họa của ông như

‘Hoàng đế biết lắng nghe những lời can gián’ và ‘Liêm khiết vạn tuế’ đã quan tâm đến tình hình chính trị, cần được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác như

là báu vật Lữ Kỷ có khả năng thể hiện sự khéo léo của mình vì mục đích cổ vũ”

Do những bức tranh kiểu này

có nhiều tác dụng: tuyền truyền, giáo dục, cũng như trang trí, và liên quan đến những vấn đề văn hóa và xã hội quan trọng, nên thủ pháp này vẫn tiếp tục phát triển dưới thời nhà Thanh kế tiếp (1644 - 1911) Trong văn khố của Sở Nội tạo có ghi nhận vào năm 1731 hoàng đế Ung Chính (trị vì: 1723 - 1735) đã sử dụng nghệ thuật đố hình - chơi chữ khi yêu cầu vẽ lên món đồ sứ mà ông

thư tịch cho thấy nghệ thuật đố hình - chơi chữ có thể bắt nguồn

từ thời Ngũ Đại Thập Quốc Và giống như nhiều truyền thống khác của Trung Hoa, nó vẫn tồn tại và thậm chí hưng thịnh dưới thời cai trị của Mông Nguyên

Vào thời Minh (1368 - 1644 ), hoàng đế Tuyên Đức (trị vì: 1426

- 1435) đã tự mình vẽ một số bức họa theo thể loại đố hình này Một bức tranh hiện vẫn còn tồn tại,

vẽ hình một con dê và hai con cừu là biểu đạt câu thành ngữ 三

陽 開 泰 (tam dương khai thái), dựa trên quẻ 泰 (Thái) trong Kinh Dịch Quẻ này được thể hiện bởi

ba vạch liền (–) ở phía dưới, tượng trưng cho hào 陽 (dương)

và ba vạch đứt (- -) ở phía trên, tượng trưng cho hào 陰 (âm) Quẻ này tượng trưng cho tháng Giêng trong âm lịch Hàm ý ẩn trong bức tranh này là 陽 (dương), nguồn năng lượng của vũ trụ, sẽ mang mùa xuân đến cho trái đất sau một mùa đông lạnh giá và một tương lai đầy hứa hẹn sắp xảy đến Thông điệp này được diễn

tả bằng hình ảnh, thông qua mối liên hệ đồng âm giữa 羊 (dương), nghĩa là ‘dê, cừu’ với 陽 (dương), nghĩa là ‘mặt trời, khí dương’

Truyền thống này được tiếp tục cho đến giữa triều Minh, khi mà họa sĩ hoàng cung Lữ Kỷ (1477 -

?) sáng tác không chỉ đơn thuần nhằm thỏa mãn thị giác, mà kích thích cả khối óc và con tim Điều này được ghi nhận bởi hoàng đế Hoằng Trị (trị vì: 1488 - 1505)

Ảnh 11

Trang 5

đặt làm hình chín con chim cút và

một con chim trĩ đuôi dài, hàm ý

久 安 長 治 (cửu an trường trị:

mong cho đất nước được yên ổn

lâu dài và thịnh trị mãi mãi)

Tuy nhiên, kiểu thức trang trí

như trên không được đề cập trong

bất kỳ một tư liệu nào Có một

cách giải thích về đồ án trang trí

gồm chín con chim cút và một

cây cao Chín con chim cút, chữ

Hán là 久 鹌 (cửu am), là cách

chơi chữ với 久 安 (cửu an: yên

ổn lâu dài) do trong tiếng Hoa 久

鹌 và 久 安 đều phát âm là jiu an

Tuy nhiên, một chi tiết khác trong

bức tranh là 長 树 (trường thụ:

cây cao) thì lại gây tranh cãi Có

ý kiến cho rằng lẽ ra phải là 長

支 (trường chi: cành cây dài) Sự

khác nhau giữa hai đồ án này là

do đồ án đầu tiên(3) sử dụng biện

pháp chơi chữ dựa theo cách phát

âm của phương ngữ Ngô ở miền

nam Trung Hoa, trong khi biện

pháp chơi chữ trong đồ án thứ

hai(4) lại dựa theo cách phát âm

của phương ngữ miền bắc

Một dẫn chứng cho kiểu thức

trang trí này được tìm thấy trên

một chiếc bình đời Ung Chính có

trong sưu tập của Quỹ Percival

David (ảnh 1) Chiếc bình này vẽ

hình con chim trĩ màu vàng với

một chiếc đuôi dài tha thướt, đối

diện là một con chim cút Trong

đồ án này, chim trĩ đuôi dài được

gọi là 長 雉 (trường trĩ), chơi chữ

một trong những sản phẩm đặc biệt làm riêng cho hoàng đế Ung Chính

Sự tồn tại của chiếc song bình đời Càn Long, có đề tài nguyên gốc thể hiện rõ ràng đồ án trang trí 久 安 (cửu an) càng khẳng định điều trên Hình trang trí ở một bên của chiếc bình là một con chim trĩ với cái đuôi rất dài

Có thể suy đoán mặt bên kia của chiếc bình là hình ảnh của mấy con chim cút Như vậy có thể có một mối liên hệ giữa yêu cầu của hoàng đế Ung Chính với sự tồn tại của đề tài này và điều này hẳn là

sự thật thông qua các đồ án trang trí vẽ chim trĩ đuôi dài và những con chim cút, gọi là 久 安 長 治 (cửu an trường trị), với một biến thể giản lược là 久 安 (cửu an)

Những giả thiết về sự phổ biến của thủ pháp đố hình

- chơi chữ trong nghệ thuật trang trí Trung Hoa

Tiếng Hoa có nhiều từ ‘đồng

âm, dị nghĩa’ hơn bất cứ ngôn ngữ nào trên thế giới Tiếng Hoa phổ thông chỉ có khoảng 400 âm tiết đầy đủ và 1.300 biến thể khi phát âm, cho nên ngôn ngữ này

có từ ‘đồng âm dị nghĩa’ nhiều hơn tiếng Anh hay tiếng Pháp Đây là kết quả logic của sự xung đột giữa bộ phát âm hạn chế và nhiều khái niệm phát sinh trong giao tiếp

Theo đó, sự hạn chế của các hình thái âm thanh trong vốn từ vựng hiện có của tiếng Hoa là do thiếu những cụm phụ âm trong cấu trúc âm tiết và xu hướng đơn

với trường trị (長 治: thịnh trị mãi mãi), do trong tiếng Hoa cả hai đều phát âm là chang zhi Có nhiều cách đố hình - chơi chữ dựa trên nguyên lý giản lược, có nghĩa

là không phải tất cả những gì có trong thông điệp đều liên quan đến hình tượng trang trí, mà chỉ một vài hình tượng tiêu biểu mới được dùng để truyền thông điệp đến người thưởng thức Chẳng hạn, hình ảnh ba con dê (tam dương) nhưng lại hàm ý cho toàn bộ thành ngữ 三 陽 開 泰 (tam dương khai thái) Xét theo nguyên lý giản lược này và dựa vào việc nó không còn được sử dụng thường xuyên trong các đồ

án đố hình - chơi chữ sau này, có thể thấy rằng chiếc bình trên là

Ảnh 12

Ảnh 13

Ảnh 14

Trang 6

âm trong hình thái cổ của tiếng

Hoa, khác với trạng thái từ vựng

của nhóm ngôn ngữ sử dụng bảng

chữ cái Latin (chẳng hạn như

tiếng Anh), vốn bao hàm nhiều từ

vựng đa âm tiết nhất và thường

có nhiều nhóm phụ âm hơn (đặc

biệt như trong tiếng Czech)

Một số phương ngữ ở Trung

Hoa có vốn từ vựng với rất nhiều

từ đơn âm tiết, một số từ vựng

đơn âm tiết vẫn tồn tại trong các

phương ngữ đương thời như tiếng

Quảng Đông và nhiều từ trong

số này đã chuyển đổi hình thức

của các từ vựng đơn âm tiết sang

vốn từ vựng của tiếng Hoa hiện

đại (tiếng Bắc Kinh) Một trong

những ví dụ của khuynh hướng

này là 美 (mỹ), vốn là một từ đơn

âm tiết, có nghĩa là ‘xinh đẹp’,

đã đổi thành một từ đa âm tiết

là 美 麗 (mỹ lệ), cũng có nghĩa

là ‘xinh đẹp’ Mặt khác, sự phát

triển từ xưa của hệ thống chữ

viết ‘phi ngữ âm’ (ngược với hệ

thống chữ viết theo bảng chữ cái

Latin rất phổ biến ở phương Tây)

với lối diễn đạt nhanh trong tiếng

Hoa, càng thêm củng cố khuynh

hướng này Kết quả là trong nhiều

từ vựng đơn âm tiết, có nhiều từ

được dùng để chỉ một số khái

niệm như: 福 (phúc), 壽 (thọ), 官

hợp khoảng 185 loại hình đố hình

- chơi chữ, mỗi một loại hình đều được giải thích tường tận ý nghĩa (chủ yếu bàn về cách chơi chữ, có kèm dẫn chứng minh họa)

Phân tích nghệ thuật đố hình - chơi chữ

Khi sáng tạo những tác phẩm

đố hình - chơi chữ, các nghệ nhân

và họa sĩ cố gắng khai thác những hình tượng thu hút họ trong đời sống hằng ngày, hầu hết là những cảnh tượng tự nhiên, hoặc một số hình ảnh do họ tưởng tượng ra và kết hợp chúng với nhau

Nguyên lý cơ bản của nghệ thuật đố hình - chơi chữ thể hiện thông qua sự tương tác giữa hình ảnh, tự dạng chữ Hán và cách phát âm Nói chung, sự thể hiện của nghệ thuật đố hình - chơi chữ dựa trên mối liên kết ‘đồng âm

dị nghĩa’ giữa hình tượng và văn

tự Mối liên kết đó không chỉ thể hiện giữa những văn tự định danh cho hình tượng với từ ngữ chuyển tải thông điệp, mà còn hiện diện giữa những từ ngữ đóng vai trò tương tác trong các yếu tố hình tượng với những từ ngữ đóng vai trò chuyển tải thông điệp Bởi vì

(quan)…, hiện vẫn tiếp tục được

sử dụng trong văn viết

Lược sử về việc nghiên cứu nghệ thuật đố hình - chơi chữ Trung Hoa

Mặc dù phổ biến trong đời sống, song ở Trung Hoa thời trước không có một nghiên cứu đáng kể nào, của bất kỳ ai trong văn giới Trung Hoa về nghệ thuật ưu việt này Lý do có thể là tuy có một

số tác phẩm đố hình - chơi chữ được lan truyền rộng rãi, nhưng phần lớn các tác phẩm đó không được giới học thuật coi là có giá trị nghiên cứu Một lý do khác là đối với những người có học vấn

và hiểu biết thì hiện tượng này là quá hiển nhiên và không đáng để nghiên cứu một cách nghiêm túc

Công trình nghiên cứu độc lập

và quan trọng đầu tiên về đề tài này được thực hiện bởi Nozaki Nobuchika, một thương gia Nhật Bản làm việc ở Trung Quốc Kết quả là cuốn sách tham khảo có

tựa đề Kissho zuan kaidai Shina

fuzoku no ichi kenkyu (Lý giải

về những biểu tượng hàm ý tốt lành - Nghiên cứu về một khía cạnh của phong tục Trung Quốc), được xuất bản ở Thiên Tân vào năm 1928 Cuốn sách này tập

Ảnh 17

Ảnh 15

Ảnh 16

Trang 7

đã xuất hiện trên một bức phù điêu bằng gạch thời Hán, hoặc biểu thị cho chữ dương (陽: mặt trời, dương khí) trong đồ án tam dương khai thái (三 陽 開 泰) xuất hiện trên một chiếc bình đời Càn Long (ảnh 4)

Cả hai cách diễn đạt ‘ốc sên’

và ‘chậm như sên’ có thể được dùng để biểu thị hình tượng chiếc đĩa, vì thế, hai hình tượng khác nhau có thể có cùng một hàm ý Vào thời Minh - Thanh, chim hạc được xem là biểu tượng của quan lại hàm nhất phẩm (一 品: hạng nhất), được thêu trên bổ tử của quan phục nhất phẩm và vì thế chúng được gọi là nhất phẩm điểu (一 品 鳥: chim hạng nhất) Kết quả là trong nghệ thuật đố hình

- chơi chữ, chim hạc thường được

sử dụng với hàm ý chúc ai đó được thăng quan đến hàm nhất phẩm trong triều đình Hình ảnh những con hạc đang bay trang trí trên chiếc chóe men trắng vẽ lam thời Minh (ảnh 5) hàm ý nhất phẩm cao thăng (一 品 高 升: chúc được thăng quan đến hàm nhất phẩm); hình ảnh ‘những con chim hạng nhất’ này đang bay qua những đám mây, chữ Hán là cao thăng (高 升: lên cao), thể hiện một địa vị cao sang

Mặt khác, cùng hàm ý nhất phẩm (一 品) nhưng có thể được diễn tả bởi một hình ảnh hoàn toàn khác biệt, như trong một bức tranh đầy màu sắc của Vu Phi

Ám (1888 - 1959) (ảnh 6) Hình ảnh hoa sen màu đỏ đang khoe sắc là điểm nhấn trong bức tranh này Họa sĩ giải thích ý nghĩa của bức tranh trong lời đề từ: “Sách giáo khoa về hoa sen xếp những đóa hoa khoe sắc đỏ thắm là loại

Ảnh 18

Ảnh 19

đây là một hiện tượng có vai trò

thay thế, nên ba yếu tố chủ yếu

trong nghệ thuật đố hình - chơi

chữ chưa được định danh thích

hợp Trong nghiên cứu này, tôi

muốn gọi những hình tượng hiện

diện trong đồ án trang trí là ‘hình

tượng biểu thị’, phần chơi chữ do

chuyển hóa từ những hình tượng

hiện diện là ‘yếu tố chơi chữ’, và

sau cùng là ‘thông điệp biểu thị’

Như trong ví dụ đơn giản nhất,

hàm ý ‘may mắn’ (福) với hình

ảnh con dơi (蝠), thì hình con dơi

là ‘hình tượng biểu thị’, chữ 蝠 là

‘yếu tố chơi chữ’, và khái niệm

‘may mắn’, được thể hiện bởi chữ

福 là ‘thông điệp biểu thị’

Trong một tác phẩm đố hình -

chơi chữ, tên gọi các sự vật trong

tác phẩm là đồng âm, hay thậm

chí giống hệt với sự diễn đạt ngụ ý

và tác phẩm kiểu này được mong

đợi gợi mở quá trình chuyển dịch

“hình ảnh - âm thanh - âm thanh

- ý nghĩa” trong ký ức của người

xem (trái ngược với kiểu giải mã

‘ý nghĩa - hình ảnh’, vốn đơn giản

và trực tiếp hơn như trong trường

hợp hình ảnh con rồng năm móng

biểu hiện cho quyền uy hoàng

đế) Bởi vì quy trình này mang

yếu tố của ngôn ngữ học, nên

người thưởng thức, nếu không

am hiểu sẽ không thể giải mã

được ý nghĩa ẩn dụ của loại hình

nghệ thuật này Vì vậy, những tác

phẩm nghệ thuật này có thể được

xem như là những tác phẩm được

sáng tạo thuần túy vì mục đích

thẩm mỹ hoặc mang tính tường

thuật đối với những người đến từ

các nền văn hóa khác

Mặc dầu, mục đích cơ bản của nghệ thuật đố hình - chơi chữ là biểu thị hàm ý thông qua mối quan hệ giữa sự vật biểu thị (hình ảnh) và sự vật được biểu thị (thông điệp), nhưng không phải tác phẩm đố hình - chơi chữ nào cũng đạt đến mục đích theo cùng một cách thức Trong phần tiếp theo của bài này, tôi sẽ giới thiệu một khung nguyên tắc tổng quát trong việc sáng tạo nghệ thuật

đố hình - chơi chữ thông qua việc khảo sát hơn 400 loại hình đố hình - chơi chữ, được tạo thành

từ sự kết hợp của hơn 100 yếu tố

cơ bản mà tôi đã thu thập được

Khung nguyên tắc này nhằm liệt

kê những phương pháp sáng tạo nghệ thuật đố hình - chơi chữ khác nhau của văn hóa tạo hình Trung Hoa trong việc diễn tả hàm ý

Trên một góc nhìn khác, cùng một hình ảnh có thể mang những

ý nghĩa khác nhau qua những cách trình bày khác nhau hay qua những nhóm sự vật khác nhau, nghĩa là, hình ảnh của một sự vật

có thể biểu thị nhiều ý niệm Mặt khác, những hình ảnh khác nhau

có thể biểu thị cho cùng một ý niệm trong những cách trình bày khác nhau

Giống như từ ‘con dơi’ mang ý nghĩa là ‘một loài động vật’ trong một bối cảnh, và là ‘một cây gậy’

trong một bối cảnh khác, hay hình ảnh con hươu (鹿: lộc) có thể biểu đạt khái niệm lộc (禄:

bổng lộc) như trong một đồ án

đố hình - chơi chữ có tên là bách lộc đồ (百 禄 图), trang trí trên một chiếc chậu nuôi cá vẽ men ngũ thái (năm màu) thời Thanh (ảnh 2) Chiếc chậu này vẽ hình

100 con hươu, chữ Hán là lộc (鹿), là một cách chơi chữ với lộc (禄: bổng lộc) Đồ án trang trí này hàm ý ‘chúc có nhiều bổng lộc’

Mặt khác, hình ảnh con hươu có thể diễn đạt thành ngữ đắc lộ (得 路), nghĩa là ‘thi cử đỗ đạt’ trong

đồ án tam nguyên đắc lộ (三 元

得 路) hàm ý ‘chúc đỗ đầu trong

ba kỳ thi’

Tương tự, hình ảnh những con cừu và dê, chữ Hán đều viết là

羊 (dương), có thể biểu thị cho chữ tường (祥: điềm tốt lành) như

Trang 8

hoa sen thượng hạng Vì vậy, ta

vẽ bức tranh này để hàm ý ‘chúc

ngài được mặc bộ triều phục nhất

phẩm’ (一 品 朝 衣: nhất phẩm

triều y)”

Khái niệm 玉 (ngọc) cũng có

thể được biểu thị bằng những

hình tượng khác nhau Trên một

bức tranh của Triệu Chi Khiêm

(1829 - 1884) (ảnh 7), giống như

bức tranh của Từ Hi đã được đề

cập ở phần trên, hoa ngọc lan (玉

蘭) được dùng để biểu thị cho khái

niệm 玉 (ngọc) Khi kết hợp với

hoa thủy tiên (水 仙), bức tranh

này hàm ý sự tôn vinh cốt cách

của bậc quyền quý là ngọc đường

tiên phẩm (玉 堂 仙 品), nghĩa là

‘một cốt cách như của các vị tiên

sống trong lâu đài bằng ngọc’

Trong đồ án đố hình - chơi chữ

này, hàm ý tiên phẩm (仙 品)

được thể hiện bởi hình ảnh hoa

thủy tiên thông qua âm tiết thứ

hai trong danh xưng bằng Hán tự

của loài hoa này 水 仙 (thủy tiên),

nghĩa là ‘tiên nước’

Ngược lại, khái niệm ngọc (玉)

cũng có thể được biểu thị bằng

hình ảnh con cá Sự giàu có của

gia tộc trong truyền thống Trung

Hoa được ca ngợi là kim ngọc mãn

đường (金 玉 满 堂: vàng ngọc

đầy nhà) Thành ngữ này được

diễn đạt sinh động với hình vẽ cá

vàng trong hồ nước hay trên tô

chậu Trên một bức tranh khuyết

danh trong Bảo tàng Nghệ thuật

Lee Kong Chian, hình những con

cá vàng được vẽ rất sống động

cùng với những chiếc lá sen ở

trong một hồ nước (ảnh 8) Trong

đồ án này, kim ngư (金 魚: cá

vàng) tạo thành một kiểu chơi

chữ với kim (金: vàng) và ngọc (

玉: ngọc bích), do trong tiếng Hoa

kim ngọc (金 玉) phát âm là jinyu,

đồng âm với kim ngư (金 魚: cá

vàng), còn cái hồ đầy cá, chữ Hán

là mãn đường (满 塘), tiếng Hoa

đọc là man tang, lại đồng âm với

chữ mãn đường (满 堂: đầy nhà)

Kiểu thức đơn giản nhất trong

mối liên quan giữa ba yếu tố của

thủ pháp đố hình -chơi chữ (gồm

‘hình tượng biểu thị’, ‘từ vựng

chơi chữ’ và ‘thông điệp biểu thị’)

là sự thể hiện của một mối liên

hệ “đồng âm dị nghĩa” trực tiếp

trong tên gọi của những hình ảnh

biểu thị (chẳng hạn như: động vật, cây cối…) Đó là sự kế tục hoàn toàn của âm thanh, tên gọi, hình tượng trang trí trong những cách thức trang trí của trò chơi chữ đầy ý nghĩa

Đồ án đố hình - chơi chữ hàm

ý thanh bạch liêm khiết (清 百 廉 洁: trong sạch và liêm khiết) được thể bằng hình ảnh của bốn loại cá (ảnh 9) Tên của các loại cá này

là thanh (鯖), bạch (鱍), liên (鰱), quyết (鱖), ghép lại thành câu: 鯖

鱍 鰱 鱖, tiếng Hoa đọc là qing

bo lian jue, gần giống câu qing bai lian jue (清 百 廉 洁: thanh bạch liêm khiết), một lời khuyên bảo dành cho những ai đang nắm quyền lực và là tuyên ngôn được

ưa chuộng về sự tự tu dưỡng Tương tự, chữ xuân yến (春 燕: chim én ngày xuân) đã trực tiếp góp phần vào một thông điệp thi vị diễn tả đồ án hoa điểu trên một cái bát đời Càn Long vẽ hình những con chim én và cành hoa

mơ (ảnh 10) Đồ án đố hình - chơi chữ này được sáng tạo để tôn vinh một trong những nghi thức quan trọng nhất trong cung đình Trung Hoa Một bữa tiệc linh đình dành cho những người vừa thi đỗ, theo truyền thuyết, được tổ chức trong một vườn mơ với những cây

mơ đang vào mùa hoa nở, hàm ý hạnh lâm xuân yến (杏 林 春 宴: chúc thưởng thức yến tiệc mùa xuân của triều đình trong vườn

mơ đang khoe sắc) Hình ảnh hoa mơ dùng để chuyển tải thông điệp về một khu vườn mơ, trong khi chim én lại được dùng như một ‘thông điệp biểu thị’ của trò

đố hình này Chữ 春 燕 (xuân yến: chim én ngày xuân) là hình thức chơi chữ của 春 宴 (xuân yến: yến tiệc mùa xuân), tiếng Hoa đều phát âm là chun yan Nắm bắt được ý nghĩa của hình vẽ sẽ giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa và bối

Ảnh 20

Ảnh 21

Trang 9

cảnh hình thành nên món đồ ngự

chế quý giá này

Thông thường, chỉ một phần

trong tên gọi của ‘hình tượng biểu

thị’ được dùng để diễn tả ‘thông

điệp biểu thị’ Loài chim sơn ca

được người Trung Hoa gọi là 白 头

翁 (bạch đầu ông), nghĩa đen là

‘ông lão đầu bạc’ vì đốm lông màu

trắng trên đỉnh đầu của chúng,

và hình ảnh của chim sơn ca

thường được sử dụng trong nghệ

thuật đố hình - chơi chữ để gợi

lên hình ảnh của một người đang

an hưởng tuổi già, như được thể

hiện trên chiếc bình sứ đời Càn

Long có trong sưu tập của Quỹ

Percival David (ảnh 11) Một bố

cục hài hòa và sống động với hình

ảnh ‘hai con chim có bộ lông màu

lục, lam và trắng đang đậu trên

những khóm hoa mẫu đơn hồng

và trắng’, như tàng ẩn những dấu

hiệu hướng người xem đến những

giá trị thẩm mỹ cao hơn Có lẽ,

chiếc bình dẹt này ra đời vào thời

thịnh trị của hoàng đế Càn Long

và cũng có thể đó món quà mừng

sinh nhật của ông Thông điệp

gửi gắm trong trò đố hình này là

thành ngữ bạch đầu phú quý (白

頭 富 貴: chúc ngài an hưởng tuổi già giàu sang), một câu chúc thọ được người Trung Hoa ưa thích

Thông thường, mối tương quan giữa hình tượng và hàm ý phức tạp hơn mối tương quan giữa tên gọi của hình tượng với nội dung hàm ý Một phương thức khai thác mối tương quan giữa các hình tượng biểu thị có mối quan hệ với nhau Khi diễn tả một người đang hoan hỉ, người Trung Hoa dùng thành ngữ hỉ thượng mi sao (喜 上 眉 梢: niềm vui ở trên đỉnh lông mày) và thể hiện điều

đó bằng hình ảnh những con chim

hỉ thước (喜 鹊 : chim ác là) đậu trên ngọn cây mai (梅 梢) Hình ảnh này hàm ý ‘chúc niềm vui đến ngay trước mắt’.(5)

Mối tương quan kiểu này còn thể hiện trong hai đồ án trang trí khác Trong đồ án quan thượng gia quan (官 上 加 官) hàm ý

‘chúc tiếp tục thăng quan’ hay

‘chúc nghiệp làm quan thông suốt’ (ảnh 13), thể hiện hình ảnh một con gà trống có cái mào đỏ rực đứng cạnh khóm hoa mào gà, chữ Hán là kê quan hoa (雞 冠

花), là hình thức chơi chữ với từ quan (官: quan lại) Theo đó, sự lặp lại của từ quan (冠 : cái mũ, cái mào)(6) là hình thức sử dụng các từ ‘đồng âm, dị nghĩa’ giữa hai từ 冠 và 官, đều phát âm là quan, để diễn tả thành ngữ quan thượng gia quan (官 上 加 官), nghĩa là ‘chức quan đứng trên tất

cả các chức quan khác’

Tương tự là trường hợp bức tượng làm bằng gốm phủ men tam thái, thể hiện hình con ngựa cõng một con khỉ trên lưng (ảnh 14) hàm ý ‘chúc thành công trong nghiệp làm quan’ bằng việc thêm một yếu tố thời gian: mã thượng (馬 上), để nhấn mạnh hiệu quả biểu thị Yếu tố chơi chữ ở đây

là mã thượng (馬 上), trong tiếng Hoa vừa có nghĩa là ‘trên lưng ngựa’, vừa có nghĩa là ‘ngay lập tức’ Kết hợp với hình ảnh biểu thị

là con khỉ, chữ Hán là 猴 (hầu), đồng âm với 候 (hầu: tước hầu)

Vì thế pho tượng khỉ cưỡi trên lưng ngựa hàm ý thông điệp mã thượng phong hầu (馬 上 封 候: chúc sớm được phong tước hầu) Không chỉ có tên của sự vật

mà hoạt động được diễn tả trong

đố hình - chơi chữ cũng góp phần thể hiện hàm ý Một dẫn chứng cho hình thức này là đồ án vẽ hình một người đang tắm rửa cho con voi Hàm ý của đồ án này được thể hiện thông qua hoạt động được miêu tả cũng như thông qua hình ảnh Ngoài ra, còn có một điều thú vị là có nhiều cách hiểu khác nhau đối với đồ án trang trí này tùy thuộc vào các đối tượng

xã hội khác nhau Khi đồ án này xuất hiện trên chiếc bình sứ đời Thuận Trị (1644 - 1661) (ảnh 15), lời đề từ trên chiếc bình truyền đạt ý tưởng: hãy tẩy sạch tâm trí tất cả những hiện tượng của thế giới bên ngoài, vốn được cho là ảo tưởng Tư tưởng gạt bỏ ảo tưởng này được gọi là tảo tượng (掃 象: quét sạch mọi ảo giác) được Phật giáo Thiền tông và một số triết gia Dịch học chia sẻ Hình ảnh thể hiện hành động bằng việc sử dụng cây chổi, chữ Hán là tảo ( 掃) và hình ảnh con voi, chữ Hán

là tượng (象), là ngụ ý và là cách giải thích cho đồ án đố hình này Trong lúc đó, có một dị bản

Ảnh 22

Trang 10

được nhiều người biết đến là cách

giải thích khác về đồ án trang trí

tương tự trên đây, được thể hiện

trên một tác phẩm điêu khắc

bằng ngọc vào thời Thanh (ảnh

16) Theo truyền thống Trung

Hoa, một năm mới đầy hứa hẹn

là sẽ đem lại thái bình (太 平)

Trong đố hình - chơi chữ, điều ước

này có nhiều cách biểu hiện khác

nhau, đáng chú ý là việc miêu tả

hình ảnh hai chú bé đang tắm

cho voi trong tác phẩm điêu khắc

bằng ngọc nói trên Việc hai chú

bé tắm (cho con voi), chữ Hán

là tẩy (洗) được dùng để biểu thị

cho chữ hỉ (喜: tốt lành), do trong

tiếng Hoa, 洗 và 喜 đều đọc là

xi Còn chữ tượng (象) có nhiều

nghĩa, trong đó có một nghĩa là

‘con voi’ và một nghĩa là ‘điềm

báo’ Vì thế, tẩy tượng (洗 象: tắm

cho voi), phát âm tiếng Hoa là xi

xiang, cũng đồng âm với hỉ tượng

(喜 象: điềm tốt lành), hàm ý thái

bình hỉ tượng (太 平 喜 象) là lời

chúc cho một năm mới hứa hẹn

nhiều điều tốt lành

Chim ác là đậu trên cành mai

và chim én bay lượn trong vườn

mơ đang khoe sắc là những cảnh

trí tự nhiên, tinh tế và hoàn mỹ

Đôi khi, tác giả của những tác

phẩm đố hình - chơi chữ phải nghĩ

ra những tình huống với nhiều

hình tượng được bố trí theo ý đồ

của tác giả để chuyển tải thông

điệp hàm ẩn Những cảnh trí

được sáng tạo như vậy có thể gây

bối rối cho những người thưởng

thức đến từ nền văn hóa khác,

kể cả người Trung Hoa nhưng có

học vấn hạn chế Điển hình cho

trường hợp này là đồ án vẽ hình

một người đàn ông trao cho một

người quyền quý chiếc bình đựng

ba chiếc kích, được vẽ trên chiếc

ống cắm bút có trong sưu tập của Gia tộc Butler (ảnh 17) Hình trang trí này được diễn giải trong vựng tập (catalogue) của một cuộc triển lãm là: “Một người đàn ông tặng cho một vị chức sắc ba vật bằng gỗ có hình thù kỳ quặc”

Thực ra, đồ án này nhằm diễn đạt thông điệp bình thăng tam cấp (

平 升 三 级), nghĩa là ‘chúc ba lần thăng quan ngoài mong đợi’

Chiếc bình (瓶), tiếng Hoa đọc

là ping, đồng âm với chữ 平 , có nghĩa là ‘ngoài mong đợi’ hoặc

‘đáng ngạc nhiên’, còn chữ kích ( 戟: ngọn giáo), tiếng Hoa đọc là

ji, đồng âm với chữ cấp (级: cấp bậc).(7)

Một đồ án đố hình - chơi chữ khác, hàm ý chi nhật cao thăng (

指 日 高 升: chúc mau thăng quan tiến chức) cũng tạo ra những rắc rối khi giải thích Một biến thể của đồ án này hiện diện trên một chiếc dĩa sứ men trắng vẽ lam (và tô màu đỏ) dưới lớp men phủ (ảnh 19) có niên đại đời Thiên Khởi (1621 - 1627) thời Minh Khi giới thiệu trong vựng tập, chiếc dĩa này được chú thích là: “(Hình trang trí trên chiếc dĩa này) ngụ ý mặt trăng đang hiện ra sau những đám mây” Nếu hàm ý thực sự của hình đố này được hiểu đúng, thì hình tròn tô màu đỏ giữa các đám mây sẽ không được coi là ‘mặt trăng’ Mặt trời trong chữ Hán là nhật (日) và hành động đang chỉ vào mặt trời gọi là chi nhật (指 日) là một hình thức chơi chữ hàm

ý là ‘trong vài ngày tới’ hoặc ‘rất sớm’ Ngoài ra, cao thăng (高 升) cũng là một hình thức chơi chữ, nghĩa là ‘lên tận trời cao’ (đối với mặt trời) và là ‘đang thăng tiến trong quan trường’ Sự vật không diễn ra riêng lẽ mà bao giờ cũng

có đôi, có cặp

Một trường hợp khác liên quan đến đồ án trang trí này vừa được xuất bản, lời chú thích cho đồ án được viết là: “指 日 高 升 - Rakan chỉ vào Mặt trăng”, mặc dù văn tự được viết trên đồ án và được trích dẫn là 指 日 高 升.(8)

Như đã đề cập trên đây, việc diễn giải các tác phẩm đố hình - chơi chữ không hề đơn giản Điều này càng khó khăn hơn đối với các tác phẩm đố hình - chơi chữ

đương đại, một thực tế đã chứng

tỏ đối với việc diễn giải bằng chữ viết, đôi khi cần phải song hành với những hình ảnh minh họa có trong đồ án Nhu cầu này nhằm giải thích ý nghĩa của một đồ án

đố hình - chơi chữ mà sự tượng trưng được sử dụng trong các hình tượng đó thường chỉ có thể hiểu được bởi một số ít người có trình độ Một điểm cần lưu ý khi ghi chú là những lời thuyết minh cho các đồ án đố hình - chơi chữ này có cấp độ khác nhau về sự sáng rõ thể hiện trong các thông điệp được truyền đạt Cách hữu dụng nhất là ứng dụng cả hai đặc trưng ‘sáng rõ’ và ‘hàm ý’ trong cùng một tác phẩm đố hình - chơi chữ, như trong trường hợp bức tranh của Hoàng Miêu Tử (sinh năm 1913) Trong lời đề từ của bức tranh, Hoàng Miêu Tử đề cập

cả hai sự vật là nha thị (鴉 柿) thể hiện qua hình vẽ con quạ và mấy quả hồng, và nhã sĩ (雅 士: người có óc thẩm mỹ tinh tế), là đối tượng trong bức tranh châm

67

THÔNG TIN DI SẢN - SỐ 5 2010

Ảnh 23

Ảnh 24

Ngày đăng: 13/07/2021, 09:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w