Phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, rút ra ý nghĩa phương pháp luận. Vận dụng để giải quyết bài toán bán lược cho sư từ góc độ một nhà kinh doanh. Một công ty, chuyên sản xuất lược, muốn tuyển người bán hàng giỏi nên đã trao cho mỗi người trong hàng trăm ứng viên 100 chiếc lược và đề nghĩ họ đến các chùa để bán. Sau khi nghe thử thách này, rất nhiều người đã từ bỏ bởi nhà sư đã xuống tóc thì làm gì sử dụng được lược. Tuy nhiên, vẫn có 3 ứng cử viên A, B, C tham gia thử thách. Và sau 10 ngày, có 3 cách làm và 3 kết quả Ứng viên A đến 3 ngồi chùa và thuyết phục nhà sư mua lược. Kết quả: một tiểu hòa thượng cảm động mà mua giúp anh 1 chiếc lược Ứng viên B đến một ngôi chùa trên núi và nhận thấy vì gió to mà tóc của các thiện nam tín nữ đều bị rối. Anh nảy ra ý tưởng và thuyết phục trụ trì mua lược đặt trước mỗi hương án. Kết quả: Ứng viên B bán được 10 chiếc lược Ứng viên C tìm đến một ngôi chùa có tiếng từ lâu đời, hương khói quanh năm nghi ngút. C nói với phương trượng: Phàm là người dâng hương, ai cũng có tấm lòng thành. Chùa ta nên có vật phẩm tặng lại để phù hộ bình an, cát tường, khuyến khích người làm việc thiện. Tôi có một lô lược, ngài có thể dùng khả năng thư pháp tuyệt đỉnh của mình khắc lên ba chữ lược tích thiện làm tặng phẩm. Phương trượng nghe xong trong lòng rất vui, liền mua ngay 100 chiếc lược. Kết quả: nhờ có lược tích thiện mà danh tiếng nhà chùa vang xa, và phương trượng đã kí hợp đồng mua hàng nghìn chiếc lược của công ty.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA MARKETING
- -BÀI TẬP LỚN
MÔN: TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
Đề 2: Phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, rút ra ý nghĩa phương pháp luận Vận dụng để giải quyết bài toán " bán lược cho sư " từ góc độ một nhà kinh doanh
Hà Nội, 2020
Trang 2I Lý luận mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
Để phân tích được mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, trước tiên phải hiểu và phân tích khái niệm vật chất, ý thức
1 Vật chất và các hình thức tồn tại của nó
a Định nghĩa phạm trù vật chất
a.1 Các quan điểm trước C.Mác về phạm trù vật chất
* Thời kì cổ đại: Các nhà duy vật thời Cổ đại quy vật chất về một hay một vài dạng cụ thể của nó và xem chúng là khởi nguyên của thế giới, tức quy vật chất về những vật thể hữu hình, cảm tính đang tồn tại ở thế giới bên ngoài
Ví dụ, đất, nước, lửa, gió (thuyết tứ đại – Ấn Độ); kim, mộc, thủy, hỏa, thổ (thuyết Ngũ hành – Trung Quốc); nước (Thales); lửa (Heraclitus); không khí (Anaximenes) Một số trường hợp đặc biệt họ quy vật chất (không chỉ vật chất mà thế giới) về những cái trừu tượng như Không (Phật Giáo); Đạo (Lão Trang) Nhìn chung, quan niệm vật chất thời kì cổ đại mang tính trực quan, cảm tính Nó chỉ có tác dụng chống lại quan điểm của chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo
*Thời kì cận đại ( thế kỉ XV – XVIII ): các nhà triết học duy vật thường đồng nhất vật chất với một thuộc tính của vật chất: khối lượng, nguyên tử,…
a.2 Định nghĩa vật chất của Lênin
Sự phát triển của khoa học tự nhiên cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX đặc biệt là trong phát minh của Rơn-ghen, Béc-cơ-ren, Tôm-xơn, Kaufman, A Anhxtanh,… đã bác bỏ quan điểm của các nhà triết học và khoa học tự nhiên thời kì cận đại Từ đó dẫn đến một cuộc khủng hoảng về thế giới quan trong lĩnh vực nghiên cứu vật lý học Chủ nghĩa duy tâm lợi dụng cơ hội này để khẳng định bản chất "phi vật chất" của thế giới và khẳng định vai trò của các lực lượng siêu nhiên sáng tạo ra thế giới
Kế thừa những tư tưởng của C Mác và Ph Ăngghen, tổng kết toàn diện những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên cuối thế kỉ XIX, đầu thế
Trang 3kỉ XX, và đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa hoài nghi, duy tâm, Lênin đã đưa ra định nghĩa mới cho phạm trù vật chất thông qua đối lập với phạm trù ý thức: "Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác" Đây là một định nghĩa hoàn chỉnh về vật chất mà cho đến nay được các nhà khoa học hiện đại coi là một định nghĩa kinh điển Định nghĩa trên đã đề cập đến các nội dung cơ bản sau:
- Vật chất là một phạm trù triết học: là vật chất được nhận thức dưới góc
độ triết học không phải của các nhà khoa học cụ thể
- Vật chất chỉ thực tại khách quan: là tất cả những gì tồn tại bên ngoài
độc lập ý thức con người
- Vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi gián tiếp hay trực tiếp
tác động vào giác quan của con người, ý thức của con người là sự phản ánh đối với vật chất, còn vật chất là cái được ý thức phản ánh
Định nghĩa vật chất của Lênin đã giúp giải quyết một cách đúng đắn và triệt để cả hai mặt vấn đề cơ bản của triết học, đồng thời khắc phục những hạn chế trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật siêu hình Nó còn cung cấp căn cứ nhận thức khoa học để xác định những gì thuộc về vật chất, tạo lập
cơ sở lý luận cho việc xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử, khắc phục được những hạn chế duy tâm trong quan niệm về xã hội
b Các hình thức tồn tại vật chất
*Vận động:
Vận động theo nghĩa chung nhất là mọi sự biến đổi nói chung Ph Ăngghen viết: "Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất, - tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, - thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy
Trang 4Vận động là "phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất" nên thông qua vận động mà các dạng của vật chất biểu hiện
sự tồn tại của mình; vận động là tự thân vận động của vật chất Sự tồn tại của vật chất luôn gắn liền với vận động, không có vật chất không vận động, không có vận động ngoài vật chất
Các hình thức cơ bản của vận động bao gồm : cơ học, vật lý, hóa học, sinh học, và xã hội
*Không gian và thời gian
Mọi dạng cụ thể của vật chất đều tồn tại ở một vị trí nhất định, có quảng tính nhất định
Sự tồn tại của sự vật còn được biểu hiện ở quá trình biến đổi: nhanh hay chậm, kế tiếp và chuyển hóa,… Những hình thức tồn tại như vậy gọi là thời gian
Không gian và thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất, không tách khỏi vật chất nên chúng có tính chất chung như tính chất của vật chất Không gian, thời gian tồn tại khách quan, không sinh ra không mất đi Không gian luôn có ba chiều còn thời gian chỉ có một chiều
2 Nguồn gốc và bản chất của ý thức
a Nguồn gốc của ý thức
*Nguồn gốc tự nhiên:
Trước Mác, nhiều nhà duy vật tuy phủ nhận tính chất siêu tự nhiên của
ý thức, song do trình độ phát triển khoa học còn nhiều hạn chế nên cũng đã không giải thích đúng về nguồn gốc và bản chất của ý thức Dựa trên những thành tựu khoa học tự nhiên, nhất là sinh lý học thần kinh, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng ý thức chỉ là thuộc tính của vật chất; nhưng không phải của mọi dạng vật chất, mà thuộc tính của một dạng vật chất sống
có tổ chức cao nhất là bộ óc người Ý thức là chức năng của bộ óc, là kết quả
Trang 5hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc; bộ óc càng hoàn thiện, hoạt động sinh
lý thần kinh càng có hiệu quả, ý thức của con người càng phong phú và sâu sắc
Tuy nhiên, nếu chỉ có bộ óc không thôi mà không có sự tác động của thế giới bên ngoài để bộ óc phản ánh lại tác động đó thì cũng không thể có ý thức
Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất này ở dạng vật chất khác khi chúng tác động qua lại lẫn nhau Có 3 hình thức phản ánh:
Phản ánh lý hóa là hình thức phản ánh thấp nhất, đặc trưng cho giới vật chất vô sinh
Phản ánh sinh vật là hình thức phản ánh cao hơn, đặc trưng cho giới tự nhiên hữu sinh; được thể hiện thông qua 3 trình độ cơ bản: tính kích thích, tính cảm ứng, tính tâm lý động vật
Phản ánh ý thức là hình thức phản ánh cao nhất, đặc trưng riêng chỉ có
ở con người, được thực hiện thông qua quá trình hoạt động sinh lý thần kinh của bộ não người khi thế giới khách quan tác động lên các giác quan của con người Đây là sự phản ánh có tính chủ động lựa chọn thông tin, xử lý thông tin để tạo ra những thông tin mới, phát hiện ý nghĩa của thông tin Sự phản ánh này được gọi là ý thức
*Nguồn gốc xã hội:
Ý thức ra đời cùng với quá trình hình thành bộ óc con người nhờ có lao động, ngôn ngữ và những quan hệ xã hội
Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên tạo ra sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của mình Nhờ có lao động, con người tách ra khỏi giới động vật, sáng tạo nên bản thân mình
Trang 6Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất chứa đựng thông tin mang nội dung ý thức Theo C Mác, ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư tưởng
Sự ra đời của ngôn ngữ gắn liền với lao động Nhờ có ngôn ngữ con người đã giao tiếp, trao đổi với nhau, khái quát, tổng kết thực tiễn và truyền đạt kinh nghiệm, truyền đạt tư tưởng từ thế này sang thế hệ khác
Tóm lại, nếu nguồn gốc tự nhiên là điều kiện cần thì nguồn gốc xã hội
là điều kiện đủ để hình thành ý thức của con người Ý thức phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội Ý thức là sản phẩm xã hội, là một hiện tượng xã hội
b Bản chất và kết cấu của ý thức
* Bản chất của ý thức
Bản chất ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là quá trình phản ánh tích cực, sáng tạo hiện thực khách quan của óc người.
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, nghĩa là: ý thức
là hình ảnh về thế giới khách quan, hình ảnh ấy bị thế giới khách quan quy định cả về nội dung, cả về hình thức, song nó không còn ý nguyên như thế giới khách quan Theo C Mác, ý thức "chẳng quan chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi trong đó"
Tính chất năng động, sáng tạo của sự phản ánh ý thức được thể hiện rõ
ở khả năng hoạt động tâm – sinh lý của con người trong việc định hướng tiếp nhận, chọn lọc, xử lý, lưu giữ thông tin Trên cơ sở những cái đã có trước, ý thức có khả năng tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra cái không có trong thực tế, có thể tiên đoán, dự báo tương lai, có thể tạo ra những
ảo tưởng, những huyền thoại, những giả thuyết khoa học hết sức trừu tượng
và có tính khái quát cao
Trang 7Ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội Sự ra đời và
tồn tại của ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn, chịu sự chi phối của các quy luật tự nhiên, xã hội Với tính năng động, ý thức sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu thực tiễn
*Kết cấu của ý thức
Ý thức có nhiều kết cấu phức tạp Theo các yếu tố cơ bản hợp nhất,
ý thức gồm ba yếu tố: tri thức, tình cảm, ý chí
Tri thức là toàn bộ những hiểu biết của con người, là kết quả của
quá trình nhận thức, là sự tái tạo lại hình ảnh của đối tượng được nhận thức dưới dạng ngôn ngữ Tri thức là nhân tố cơ bản, cốt lõi nhất Muốn cải tạo được sự vật, trước hết con người phải có sự hiểu biết sâu sắc về sự vật đó, do
đó, nội dung và phương thức tồn tại cơ bản của ý thức là tri thức
Tình cảm là những rung động biểu hiện thái độ của con người trong
các quan hệ
Ý chí là sự biểu hiện sức mạnh của bản thân mỗi con người nhằm
vượt qua cản trở trong quá trình thực hiện mục đích
3 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Tùy theo lập trường thế giới quan khác nhau khi giải quyết vấn đề mối quan hệ vật chất và ý thức mà hình thành hai đường lối cơ bản trong triết học
là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
a.Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình
Khi lý giải mối quan hệ vật chất – ý thức, các nhà triết học trong lịch sử
đã phạm nhiều sai lầm chủ quan, phiến diện do không hiểu được bản chất thực sự của vật chất và ý thức, chẳng hạn:
Đối với chủ nghĩa duy tâm, ý thức là tồn tại duy nhất, tuyệt đối, có tính quyết định; còn thế giới vật chất chỉ là bản sao, biểu hiện khác của ý thức tinh thần, là tính thứ hai, do ý thức tinh thần sinh ra Trong thực tiễn, người duy
Trang 8tâm phủ nhận tính khách quan, cường điệu vai trò nhân tố chủ quan, duy ý chí, hành động bất chấp điều kiện, quy luật khách quan
Đối với chủ nghĩa duy vật siêu hình, tuyệt đối hoá yếu tố vật chất sinh
ra ý thức, quyết định ý thức, phủ nhận tính độc lập tương đối và tính năng động, sáng tạo của ý thức trong hoạt động thực tiễn; rơi vào trạng thái thụ động, ỷ lại, trông chờ không đem lại hiệu quả trong hoạt động thực tiễn
b Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Theo quan điểm của triết học Mác – Lênin, vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng, trong đó vật chất quyết định ý thức, còn ý thức tác dộng tích cực trở lại vật chất.
* Vật chất quyết định ý thức
Vai trò của vật chất đối với ý thức được thể hiện trên bốn khía cạnh sau:
Thứ nhất, vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức
Khoa học hiện đại đã chứng minh được rằng, giới tự nhiên có trước con người; vật chất là cái có trước, còn ý thức là cái có sau; vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai Vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức và
là nguồn gốc sinh ra ý thức
Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội của ý thức (bộ óc người, thế giới khách quan tác động đến bộ óc gây ra các hiện tượng phản ánh, lao động, ngôn ngữ), hoặc là chính bản thân thế giới vật chất (thế giới khách quan), hoặc là những dạng tồn tại của vật chất (bộ óc người, hiện
tượng phản ánh, lao động, ngôn ngữ) đã khẳng định vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức.
Thứ hai, vật chất quyết định nội dung của ý thức
Trang 9Ý thức chỉ là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan " Ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức" Hoạt động thực tiễn trong quá trình phát triển cả về bề rộng và chiều sâu là động lực mạnh mẽ nhất quyết định tính phong phú và độ sâu sắc cả về nội dung của tư duy, ý thức con người qua các thế hệ, qua các thời đại
Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý thức
Vật chất quyết định khả năng phản ánh sáng tạo của ý thức Phản ánh
và sáng tạo là hai thuộc tính không tách rời trong bản chất của ý thức Chủ nghĩa duy vật biện chứng xem xét thế giới vật chất là thế giới của con người hoạt động thực tiễn Chính thực tiễn là hoạt động vật chất có tính cải biến thế giới của con người – là cơ sở để hình thành, phát triển ý thức, trong đó ý thức của con người vừa phản ánh, vừa sáng tạo, phản ánh để sáng tạo và sáng tạo
trong phản ánh Vật chất là nhân tố quyết định phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức trong hoạt động thực tiễn.
Thứ tư, vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức
Sự vận động và phát triển của ý thức, hình thức biểu hiện của ý thức bị các quy luật sinh học, các quy luật xã hội và sự tác động của môi trường sống
quyết định Những yếu tố này thuộc lĩnh vực vật chất nên vật chất quyết định
sự vận động, phát triển của ý thức; vật chất thay đổi thì sớm hay muộn, ý thức
cũng phải thay đổi theo
Loài người nguyên thủy sống bầy đàn dựa vào sản vật của thiên nhiên thì "ý thức của họ chỉ là ý thức quần cư đơn thuần" và tư duy của họ cũng đơn
sơ, giản dị như cuộc sống của họ Cùng với mỗi bước phát triển của sản xuất,
tư duy, ý thức của con người ngày càng mở rộng, đời sống tinh thần của con người ngày càng phong phú Con người không chỉ ý thức được hiện tại mà còn ý thức được cả những vấn đề trong quá khứ và dự kiến được cả trong tương lai, trên cơ sở khái quát ngày càng sâu sắc bản chất, quy luật vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy của họ
Trang 10Sự vận động, biến đổi không ngừng của thế giới vật chất, của thực tiễn
là yếu tố quyết định sự vận động, biến đổi của tư duy, ý thức con người
*Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
Thứ nhất, tính độc lập của ý thức đối với vật chất:
Ý thức sau khi ra đời là một thực thể tinh thần, không tồn tại thụ động
mà có tính độc lập tương đối, tác động trở lại thế giới vật chất Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất vào đầu óc cong người, do vật chất sinh ra, nhưng sau khi ra đời thì ý thức có quy luật vận động, phát triển riêng, không lệ thuộc một cách máy móc vào vật chất Ý thức có thể thay đổi nhanh, chậm, đi song hành với hiện thực, nhưng nhìn chung nó thường thay đổi chậm so với sự biến đổi của thế giới vật chất
Thứ hai, sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt
động thực tiễn của con người
Bản thân ý thức không thể thay đổi được gì trong hiện thực Muốn thay đổi hiện thực, con người phải tiến hành những hoạt động vật chất Song, mọi hoạt động của con người đều do ý thức chỉ đạo, nên vai trò của ý thức không phải trực tiếp tạo ra hay thay đổi thế giới vật chất mà nó trang bị cho con người tri thức về mặt khách quan, trên cơ sở ấy, con người xác định mục tiêu, đề ra phương hướng, xây dựng kế hoạch, lựa chọn phương pháp, biện pháp, công cụ, phương tiện, để thực hiện mục tiêu của mình
Thứ ba, vai trò của ý thức thể hiện ở chỗ nó chỉ đạo hoạt động thực tiễn
của con người Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng, tích cực hoặc tiêu cực Nếu con người nhận thức đúng, có tri thức khoa học, có nghị lực, có ý chí thì hành động của con người phù hợp với các quy luật khách quan, con người có năng lực vượt qua những thách thức trong quá trình thực hiện mục đích của mình, thế giới được cải tạo – đó là sự tác động tích cực của ý thức Còn nếu ý thức con người phản ánh không đúng hiện thực khách quan, bản chất, quy luật khách quan thì ngay từ đầu, hướng