GIỚI THIỆU
Đặt vấn đề
Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế xã hội, đóng vai trò quan trọng trong lực lượng sản xuất Đây là tài nguyên thiết yếu để thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI Huyện ủy Thạnh Phú đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đào tạo nguồn nhân lực trong Nghị quyết số 03-NQ/HU ngày 20 tháng 10 năm 2011, nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.
2015 và định hướng đến năm 2020”, xem đây là nhân tố quan trọng nhằm đẩy phát triển kinh tế của huyện
Thạnh Phú, một trong ba huyện biển của tỉnh Bến Tre, có dân số đông với 35.876 hộ và 148.178 nhân khẩu, nhưng trình độ dân trí thấp và tỷ lệ hộ nghèo cao, với 3.897 hộ nghèo chiếm 10,86% và 2.566 hộ cận nghèo chiếm 7,15% Huyện có 08/18 xã được Chính phủ công nhận là bãi ngang ven biển đặc biệt khó khăn theo chương trình 135 Nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng còn nhiều hạn chế, do đó Trung ương và tỉnh đã tập trung đầu tư nhiều chương trình, chính sách, trong đó đào tạo nguồn nhân lực được ưu tiên hàng đầu để giải quyết các vấn đề như chất lượng nguồn nhân lực hạn chế, tỷ trọng lao động trong nông nghiệp cao, tình trạng thiếu việc làm, tỷ lệ hộ nghèo cao và thu nhập bình quân đầu người thấp.
Theo Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn” của Ủy ban nhân dân huyện Thạnh Phú thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 của
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”, với kế hoạch mở 30 lớp đào tạo mỗi năm, nhằm đào tạo 900 người, ưu tiên cho các hộ nghèo và hộ gia đình ở xã bãi ngang ven biển Kinh phí hàng năm cho chương trình khoảng 800 triệu đồng, và người tham gia sẽ được hỗ trợ 100% học phí, tiền ăn trong thời gian học, cùng với ưu tiên vay vốn sản xuất Tuy nhiên, hiệu quả thực tế của chương trình vẫn còn nhiều câu hỏi, đặc biệt là khả năng tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho các gia đình được đào tạo Nghiên cứu về tác động của các chính sách nhà nước sẽ là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng chiến lược và chính sách kinh tế xã hội.
Nghiên cứu này đánh giá tác động của đào tạo nguồn nhân lực đến thu nhập của người được đào tạo nghề tại huyện Thạnh Phú Kết quả sẽ chứng minh hiệu quả của chương trình đào tạo, từ đó cung cấp cho các cơ quan nhà nước bằng chứng khoa học để phát triển các chương trình nâng cao vốn nhân lực cho nền kinh tế một cách hiệu quả.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của nghiên cứu là đánh giá ảnh hưởng của việc đào tạo nguồn nhân lực đối với thu nhập của người thụ hưởng tại huyện Thạnh Phú.
- Với mục tiêu tổng quát trên, các mục tiêu cụ thể sau được đặt ra:
+ Đánh giá tác động của chương trình đào tạo nguồn nhân lực đến thu nhập của người thụ hưởng trên địa bàn huyện Thạnh Phú
+ Phân tích các nhân tố tác động đến khả năng tham gia chương trình đào tạo nguồn nhân lực
Nghiên cứu này nhằm đánh giá tác động của đào tạo nguồn nhân lực đối với thu nhập của hộ gia đình, đồng thời tìm hiểu hiệu quả của chương trình đào tạo.
3 trình đào tạo, và người được tào tạo nghề thu nhập có tăng lên hay không, hay thu nhập tăng lên do những yếu tốt khác?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thu nhập của hộ gia đình được hưởng chính sách đào tạo nghề theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 Nghiên cứu tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập, bao gồm việc tìm kiếm việc làm sau khi được đào tạo nghề và sự gia tăng thu nhập từ nghề đã học Bên cạnh đó, đề tài so sánh thu nhập bình quân hàng tháng trước và sau khi tham gia khóa đào tạo (trong vòng 12 tháng) cũng như sự khác biệt về thu nhập giữa nhóm được đào tạo nghề và nhóm không được đào tạo nghề.
Đề tài nghiên cứu này tập trung vào tác động của chương trình đào tạo nguồn nhân lực từ năm 2012 và 2013 đến thu nhập của hộ gia đình, với phạm vi giới hạn tại huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre Huyện Thạnh Phú, với đặc điểm là huyện nghèo nhất tỉnh và có tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu thập thông tin và điều tra Nghiên cứu sẽ xem xét các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến thu nhập hộ gia đình, bao gồm đặc điểm cá nhân của người được đào tạo như độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, và các yếu tố khác như ngành nghề đào tạo, số nhân khẩu trong gia đình, tình trạng sức khỏe, cũng như sự tham gia của hộ gia đình vào các tổ chức xã hội.
Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở dữ liệu của nghiên cứu được xây dựng từ dữ liệu sơ cấp, thu thập qua phỏng vấn trực tiếp 180 hộ gia đình có thu nhập thấp trong huyện Trong số này, 50% hộ gia đình tham gia chương trình đào tạo, trong khi 50% còn lại không tham gia.
Số liệu thứ cấp: Thu thập từ cục thống kê, các báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Thạnh Phú
Phương pháp phân tích: Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp:
Để khảo sát thu nhập hộ gia đình và tình hình kinh tế chung của huyện Thạnh Phú, nghiên cứu đã áp dụng phương pháp thống kê mô tả.
Nghiên cứu này nhằm phân tích tác động của chương trình đào tạo nguồn nhân lực đến thu nhập bằng cách áp dụng hai phương pháp: mô hình hồi quy và phương pháp kết nối điểm xu hướng.
Mô hình hồi quy bình phương tối thiểu (OLS) có biến phụ thuộc là thu nhập (income) và biến độc lập là:
+ Hộ gia đình có tham gia hay không có tham gia vào chương trình đào tạo (training)
+ Số nhân khẩu trong hộ (hhsize),
+ Đất sản xuất (land value),
5 + Ngành nghề được đào tạo (field),
Phương pháp đánh giá tác động kết nối điểm xu hướng (Propensity score matching) giúp phân tích rõ ràng ảnh hưởng của chương trình đào tạo đối với thu nhập của hộ gia đình.
Nghiên cứu này áp dụng phương pháp định tính, bao gồm phỏng vấn chuyên gia, phỏng vấn nhóm và phỏng vấn sâu hộ gia đình, nhằm xác định các nhân tố cụ thể trong chương trình đào tạo nguồn nhân lực có tác động đến hành vi kinh tế của người thụ hưởng.
Kết cấu nghiên cứu
Để đảm bảo tính chặt chẽ trong việc trình bày, bài viết cần kết nối các nội dung một cách hợp lý, giúp người đọc dễ dàng tham khảo các vấn đề và kết quả từ quá trình nghiên cứu.
Chương 1: Giới thiệu các nội dung tổng quát của đề tài, đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu cũng như giới thiệu sơ lược về phương pháp và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Chương 2: Cơ sở lý thuyết: Chương này trình bày tổng quan về lược khảo các lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Chương này trình bày khung phân tích, mô hình hồi quy, chọn mẫu và thu thập số liệu, các bước thực hiện nghiên cứu:
Chương 4: Tổng quan về chương trình đào tạo nhân lực và thu nhập tại huyện Thạnh Phú: Bằng phương pháp thống kê mô tả, sẽ đưa ra những đánh giá tổng quan về thực trạng chương trình đào tạo nhân lực và thu nhập của hộ gia đình thông qua phân tích các số liệu về dân số, lao động, thu nhập, giáo dục và việc làm trên địa bàn huyện Qua đó, nghiên cứu chỉ ra tác động của đào tạo nhân lực và các yếu khác ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình
Chương 5: Kết quả nghiên cứu: Kiểm chứng định lượng nhằm đánh giá tác động của đào tạo nguồn nhân lực đến thu nhập của hộ gia đình trên địa bàn huyện Thạnh Phú; cuối chương, tác giả một lần nữa đánh giá lại tác động của các yếu tố bằng kết quả hồi quy tương tác giữa các biến trong mô hình
Chương 6: Kết luận và gợi ý chính sách: Chương này sẽ tóm lược lại những kết quả quan trọng của đề tài và đặc biệt là mô hình nghiên cứu Đồng thời, vận vụng những kết quả này vào các tình huống thực tế Từ đó, có những kiến nghị chính sách Ngoài ra, chương này còn đánh giá lại những điểm mới cũng như những hạn chế của đề tài để từ đó mở ra những hướng nghiên cứu tiếp theo
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan
Trong vài thập kỷ qua, Trung Quốc đã trải qua sự tăng trưởng kinh tế ấn tượng với tốc độ hai con số, nhờ vào chính sách đầu tư mạnh mẽ cho giáo dục sau giải phóng năm 1949 Với dân số hơn 1,3 tỷ người và diện tích 9.597 km², Trung Quốc hiện là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới Sự phát triển này cho thấy tầm quan trọng của việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với giáo dục và đào tạo trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa Nghiên cứu của Park và cộng sự (2004) cùng Knight và Song (2003) chỉ ra rằng lợi tức từ giáo dục tại Trung Quốc đã gia tăng đáng kể, với dữ liệu từ năm 1988-2001 cho thấy tỷ lệ lợi tức cho giáo dục đã tăng từ 4,0% năm 1998 lên 10% vào năm 2001.
Nghiên cứu về nguồn nhân lực tại Hoa Kỳ vào cuối những năm 1950 đã chỉ ra tỷ lệ lợi tức cao từ việc học và đào tạo trong công việc Các nhà nghiên cứu Jamison và van der Gaag (1987) cùng với Byron và Manaloto (1990) đã phân tích dữ liệu từ 51.352 cá nhân và 10.258 hộ gia đình nông thôn, cũng như 31.827 cá nhân và 9.009 hộ gia đình đô thị ở Trung Quốc Kết quả cho thấy tỷ lệ lợi nhuận hàng năm từ giáo dục ở Trung Quốc là 4,02% ở vùng nông thôn và 3,99% ở thành phố, với tỷ lệ lợi nhuận từ giáo dục cho người có thu nhập ở nông thôn cao hơn so với thành phố Đặc biệt, tỷ lệ lợi nhuận từ giáo dục cho phụ nữ ở đô thị cao hơn đáng kể so với nam giới.
Theo Becker (1967), giáo dục được coi là một quyết định đầu tư tối ưu hóa, vì nó nâng cao năng suất cá nhân và dẫn đến mức lương cao hơn cho công nhân có tay nghề cao, đặc biệt trong một thị trường lao động hoàn hảo Nghiên cứu của ông, thực hiện ở 21 quốc gia OECD từ 1991 đến 2005, cho thấy rằng suất sinh lợi (IRR) đã tăng đáng kể ở Ireland, Bồ Đào Nha và Canada.
Theo Mincer (1974), nghiên cứu sử dụng hồi quy bình phương tối thiểu với thu nhập được đo bằng logarit tự nhiên làm biến phụ thuộc, trong khi số năm đi học, số năm kinh nghiệm và bình phương của nó là các biến độc lập Hệ số ước lượng cho số năm đi học cho thấy phần trăm tăng trưởng tiền lương khi thời gian học tập tăng thêm một năm Với giả định rằng các cá nhân có năng lực bẩm sinh tương đồng, hệ số này có thể được hiểu là suất sinh lợi từ việc học.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Khung phân tích
Dựa trên lý thuyết về vốn con người của Mincer, lý thuyết thu nhập của Adam Smith, cùng với các nghiên cứu thực nghiệm liên quan, khung phân tích trong luận văn này được xây dựng một cách chặt chẽ và logic.
Sơ đồ: 1.1 Khung phân tích đề tài Đào tạo
Các biến số kinh tế xã hội:
Phương pháp hồi quy (OLS)
Phỏng vấn chuyên gia, phỏng phấn nhóm, phỏng vấn sâu
Phương pháp đánh giá tác động kết nối điểm xu hướng (PSM)
Mô hình hồi quy
Nghiên cứu này phân tích tác động của các chương trình đào tạo nghề đối với thu nhập của người tham gia Mô hình được sử dụng nhằm lượng hóa ảnh hưởng của các chương trình đào tạo này đến mức thu nhập của người lao động.
Thu nhập = α + β1 đào tạo + β2 giới tính + β3 học vấn + β4 tuổi + β5 quy mô hộ gia đình+ β6 nghề nghiệp + β7 ngành nghề đào tạo + β8 tiết kiệm + Ui
Biến phụ thuộc (thu nhập), là biến thể hiện thu nhập thực của hộ gia đình Biến độc lập được định nghĩa như sau:
- Biến đào tạo là biến giả thể hiện hộ gia đình tham gia chương trình đào tạo nghề Biến nhận giá trị 1 nếu là có và 0 nếu là không
Nhóm các biến kiểm soát:
- Biến thể hiện học vấn của người được đào tạo
- Biến giả thể hiện giới tính của người được đào tạo Biến nhận giá trị 1 nếu là nam và 0 nếu là nữ
- Biến thể hiện tuổi của người được đào tạo
- Biến thể hiện số nhân khẩu trong hộ gia đình
- Biến thể hiện nghề nghiệp của người được đào tạo, nhận giá trị từ 1 đến 7 + 1= Nuôi trồng/ đánh bắt thủy sản;
+ 3= Tự kinh doanh phi nông nghiệp;
+ 7= không nằm trong lực lượng lao động
- Biến thể hiện ngành nghề được đào tạo Biến nhận giá trị từ 1 đến 10 1= May công nghiệp
3= Kỹ thuật bó chổi cọng dừa
6= Kỹ thuật chăn nuôi gia súc/gia cầm
7= Kỹ thuật trồng lúa theo mô hìnhVietGAP
8= Kỹ thuật khai thác, đánh bắt thủy sản
- Biến thể hiện tiết kiệm của hộ gia đình
16 Bảng: 3.1 Ý nghĩa, đơn vị đo và kỳ vọng dấu hồi quy của các biến số
Biến "dấu đào tạo" thể hiện sự tham gia của hộ gia đình trong chương trình đào tạo nghề Biến "quy mô hộ gia đình" phản ánh số lượng nhân khẩu trong hộ, trong khi biến "học vấn" cho thấy trình độ học vấn của người được đào tạo.
Bài viết này đề cập đến nhiều yếu tố quan trọng liên quan đến người được đào tạo nghề, bao gồm giới tính, tuổi tác, và nghề nghiệp hiện tại Đặc biệt, nó nhấn mạnh giá trị tài sản của hộ gia đình, bao gồm giá trị đất sản xuất và chi tiêu hàng tháng Ngoài ra, tình trạng sức khỏe của hộ gia đình và mức độ tham gia vào các tổ chức xã hội cũng được thể hiện rõ ràng Những thông tin này không chỉ phản ánh đời sống kinh tế mà còn cho thấy sự gắn kết xã hội của các cá nhân trong cộng đồng.
3.3 Đánh giá tác động bằng phương pháp kết nối điểm xu hướng (Propensity score matching)
Nghiên cứu không chỉ sử dụng mô hình hồi quy để phân tích tác động của chương trình đào tạo nghề đến thu nhập, mà còn áp dụng phương pháp kết nối điểm xu hướng nhằm so sánh với phương pháp hồi quy và xác định sự ổn định của kết quả.
Có nhiều phương pháp tạo sự tương đồng trong so sánh, bao gồm cả so sánh theo thời gian và không gian Phương pháp Propensity Score Matching (PSM) được đánh giá cao trong việc đánh giá tác động của dự án Mục tiêu chính trong đánh giá tác động là tạo ra sự tương đồng trong quá trình so sánh Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá tác động thông qua việc so sánh lợi ích mà người tham gia nhận được sau khi hoàn thành khóa đào tạo nghề.
Các bước cơ bản để thực hiện so sánh bằng PSM được tóm tắt như sau:
Để tiến hành nghiên cứu, bước đầu tiên là điều tra và chọn mẫu gồm hai nhóm: 90 hộ gia đình tham gia đào tạo nghề và 90 hộ không tham gia Cuộc điều tra cần đảm bảo tính đồng nhất, bao gồm việc sử dụng cùng phiếu điều tra, thực hiện vào cùng thời điểm, do cùng một người phỏng vấn và tại cùng một địa bàn.
Bước 2: Dựa trên số liệu điều tra, xây dựng mô hình probit với biến phụ thuộc là 0 cho hộ không tham gia và 1 cho hộ tham gia đào tạo Các biến độc lập bao gồm những yếu tố có thể ảnh hưởng đến khả năng tham gia đào tạo nghề, như giới tính, tuổi tác và đặc điểm nhân khẩu học của hộ.
-Bước 3: Tiến hành hồi quy cho mô hình probit rồi tính giá trị dự đoán hay xác suất dự đoán cho từng hộ ở cả hai nhóm
Giá trị xác suất dự đoán được gọi là propesity, giá trị này sẽ nằm trong khoản từ 0 đến 1
-Bước 4: Loại bớt những hộ có xác suất dự đoán quá thấp hoặc quá cao so với cả mẫu
Bước 5: Đối với mỗi hộ trong nhóm người tham gia, chúng ta tìm một hoặc một số hộ trong nhóm người không tham gia có xác suất dự đoán tương đồng nhất để thực hiện so sánh Việc này giúp chúng ta so sánh thu nhập của hộ tham gia đào tạo với thu nhập bình quân của những hộ không tham gia nhưng có xác suất dự đoán gần giống nhau.
Kết quả của những so sánh này là tác động của việc đào tạo nghề đối với hộ gia đình có tham gia đào tạo, gọi là “individual gains”
So sánh cận gần nhất là một trong những kỹ thuật so sánh phổ biến, trong đó mỗi đơn vị can thiệp được đối chiếu với một đơn vị đối chứng có điểm xu hướng gần nhất Có thể chọn n đối tượng gần nhất (thường là n=5) để thực hiện so sánh Việc đối chiếu có thể diễn ra với hoặc không có thay thế; ví dụ, so sánh có thay thế cho phép sử dụng cùng một đối tượng không tham gia để so sánh với nhiều đối tượng tham gia khác.
Để đánh giá tác động của chương trình đào tạo nghề đối với hộ gia đình tham gia, bước cuối cùng là tính trung bình tất cả các "lợi ích cá nhân" (individual gains) Giá trị trung bình này sẽ phản ánh mức độ ảnh hưởng chung của chương trình đối với các hộ gia đình.
3.4 Chọn mẫu và thu thập số liệu
Mẫu điều tra bao gồm 180 hộ gia đình có thu nhập thấp tại huyện, trong đó 50% đã tham gia chương trình đào tạo nghề theo Quyết định 1956 của Thủ tướng Chính phủ trong giai đoạn 2012-2013.
Mẫu khảo sát được thực hiện đồng đều trên toàn huyện, thu thập dữ liệu từ 18 xã với 10 mẫu mỗi xã Đối tượng phỏng vấn là các hộ gia đình tham gia chương trình đào tạo nghề và thuộc diện hộ nghèo để thu thập thông tin chính xác.
Việc điều tra được tiến hành theo phương pháp phỏng vấn trực tiếp người được thụ hưởng chương trình đào tạo nghề
3.5 Phương pháp phân tích xử lý số liệu
- Sử dụng phương pháp thống kê mô tả
- Sử dụng mô hình kinh tế lượng hồi quy bằng phần mềm Stata12
3.6 Các bước thực hiện nghiên cứu Để khảo sát tình hình thu nhập của hộ gia đình ở huyện Thạnh Phú và hộ gia đình được tham gia đào tạo trước và sau chương trình đào tạo, nghiên cứu này sử dụng phương pháp điều tra mẫu, thống kê phân tích xem thu nhập trước và sau khi tham gia chương trình đào tạo nghề theo Quyết định 1956 của Thủ tướng Chính phủ về đào tạo nghề cho lao động nông thôn Để đánh giá tác động của chương trình đào tạo nhân lực đến thu nhập của người thụ hưởng trên địa bàn huyện Thạnh Phú, nghiên cứu này áp dụng lý thuyết về vốn con người của Mincer, lý thuyết về thu nhập của Adam Smith, đồng thời kết hợp với Học thuyết kinh tế của David Ricardo để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình thu nhập của hộ gia đình, xem khả năng thu nhập tăng lên sau khi tham gia vào chương trình đào tạo nghề Kỳ vọng sẽ có sự khác biệt trong thu nhập giữa nhóm người được đào tạo và nhóm người không được đào tạo nghề Để giải thích tác động của chương trình đào tạo nguồn nhân lực, sử dụng mô hình kinh tế tượng và phương pháp đánh giá tác động kết nối điểm xu hướng (PSM) để đánh giá tác động
Sơ đồ: 1.2 Quy trình phân tích:
Vấn đề nghiên cứu Đào tạo và thu nhập
Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá tác động của Đào tạo nguồn nhân lực đến thu nhập
Kết luận và gợi ý chính sách
Chọn mẫu và thu thập số liệu
Mẫu điều tra bao gồm 180 hộ gia đình có thu nhập thấp tại huyện, trong đó 50% đã được đào tạo nghề theo Quyết định 1956 của Thủ tướng Chính phủ trong giai đoạn 2012-2013.
Mẫu khảo sát được lựa chọn trải đều trên toàn huyện, với việc thu thập dữ liệu từ 18 xã Mỗi xã sẽ có 10 mẫu được chọn, tập trung vào các hộ gia đình tham gia chương trình đào tạo nghề và thuộc diện hộ nghèo để tiến hành phỏng vấn và thu thập thông tin.
Việc điều tra được tiến hành theo phương pháp phỏng vấn trực tiếp người được thụ hưởng chương trình đào tạo nghề
Phương pháp phân tích xử lý số liệu
- Sử dụng phương pháp thống kê mô tả
- Sử dụng mô hình kinh tế lượng hồi quy bằng phần mềm Stata12.
Các bước thực hiện nghiên cứu
Nghiên cứu này khảo sát tình hình thu nhập hộ gia đình ở huyện Thạnh Phú, tập trung vào sự thay đổi thu nhập trước và sau khi tham gia chương trình đào tạo nghề theo Quyết định 1956 của Thủ tướng Chính phủ Phương pháp điều tra mẫu và thống kê phân tích được áp dụng để đánh giá tác động của chương trình đào tạo nhân lực đến thu nhập của người thụ hưởng Nghiên cứu sử dụng lý thuyết vốn con người của Mincer, lý thuyết thu nhập của Adam Smith, và Học thuyết kinh tế của David Ricardo để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ gia đình và khả năng tăng thu nhập sau đào tạo Kỳ vọng sẽ có sự khác biệt rõ rệt giữa nhóm người được đào tạo và nhóm không được đào tạo Để giải thích tác động của chương trình, mô hình kinh tế tượng và phương pháp đánh giá tác động kết nối điểm xu hướng (PSM) được áp dụng.
Sơ đồ: 1.2 Quy trình phân tích:
Vấn đề nghiên cứu Đào tạo và thu nhập
Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá tác động của Đào tạo nguồn nhân lực đến thu nhập
Kết luận và gợi ý chính sách
CHƯƠNG 4 TỔNG QUAN ĐÀO TẠO NHÂN LỰC
VÀ THU NHẬP TẠI HUYỆN THẠNH PHÚ
Điều kiện tự nhiên
Thạnh Phú là một trong 3 huyện ven biển của tỉnh Bến Tre, nằm trong khu vực
Cù lao Minh nằm giữa hai nhánh sông Hàm Luông và Cổ Chiên trong hệ thống sông Tiền, thông ra biển Đông Chiều dài tối đa theo trục đông - tây là 38,2 km, trong khi nơi hẹp nhất theo trục Bắc - Nam chỉ có 9,8 km và nơi rộng nhất đạt 16,3 km.
Huyện có tổng diện tích tự nhiên là 425,7 km², chiếm khoảng 18% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh Dân số trung bình vào năm 2013 là 134.981 người, với mật độ dân số đạt 307 người/km².
Quốc lộ 57 dài 38,6 km là tuyến đường xương sống quan trọng, kết nối các tuyến đường huyện và tạo nên mạng lưới giao thông đồng bộ trên toàn địa bàn Đường thủy qua sông Cổ Chiên và Hàm Luông đóng vai trò kết nối huyện với các khu vực lân cận, trong khi sông Băng Cung và sông Eo Lói là các tuyến giao thông chủ yếu liên kết hai tuyến sông Hàm Luông và Cổ Chiên.
Thạnh Phú, nằm dưới hạ lưu tam giác châu của hệ thống sông Hàm Luông - Cổ Chiên, có lợi thế về kinh tế nhờ vào việc phát triển nuôi trồng và khai thác thủy hải sản, cũng như trồng cây ngọt hóa nhờ vào các công trình thủy lợi Vị trí cửa sông và quá trình bồi lắng liên tục đã tạo nên bãi triều và Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Thạnh Phú Địa hình của huyện chủ yếu bằng phẳng với những giồng cát, đặc trưng cho vùng châu thổ lắng phù sa mới của sông Cửu Long.
22 cánh cung đan xen với đất trồng trọt nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, được hình thành chủ yếu qua quá trình bồi lắng trầm tích biển
Nhiệt độ trung bình hàng năm dao động từ 26°C đến 27°C, với sự chênh lệch nhỏ giữa tháng nóng nhất và tháng mát nhất Trong 15 năm qua, tình hình khí hậu thủy văn diễn ra phức tạp, dẫn đến các hiện tượng như ngập lụt, lốc xoáy và xâm nhập mặn sâu rộng.
Huyện có tổng diện tích tự nhiên 42.565,65 ha, trong đó diện tích nuôi thủy sản là 16.910 ha, bao gồm 15.280 ha nuôi tôm sú và tôm thẻ, với sản lượng thu hoạch hàng năm đạt 24.797 tấn Diện tích gieo trồng lúa hàng năm là 15.150 ha, sản lượng đạt 61.934 tấn Ngoài ra, huyện còn có 2.656 ha cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày, sản lượng 11.588 tấn Tổng đàn gia súc bao gồm 29.570 con bò, 31.000 con heo và 540.000 con gia cầm Tuy nhiên, trên địa bàn không có khoáng sản có giá trị cao và trữ lượng công nghiệp, do đó nguồn tài nguyên thủy sản là nguồn thu chủ yếu của huyện.
Điều kiện xã hội
Toàn địa bàn được chia thành 18 đơn vị hành chính, trong đó có Thị trấn Thạnh Phú và các xã như Phú Khánh, Đại Điền, Tân Phong, Thới Thạnh, Quới Điền.
Mỹ Hưng, Hòa Lợi, Mỹ An, Bình Thạnh, An Thạnh, An Thuận, An Điền, An Quy, An Nhơn, Giao Thạnh, Thạnh Phong và Thạnh Hải là các địa danh thuộc huyện Thạnh Phú, nơi có thị trấn Thạnh Phú là trung tâm hành chính và kinh tế Tại đây tập trung các cơ quan Đảng, hành chính, giáo dục, y tế và văn hóa của huyện Huyện định hướng phát triển thành ba vùng: vùng ngọt hóa chuyên sản xuất lúa, vùng lợ kết hợp trồng lúa và nuôi tôm, và vùng ven biển tập trung vào nuôi trồng, đánh bắt và khai thác thủy hải sản cùng các tài nguyên biển khác.
Chủ trương của Đảng và nhà nước về đào tạo nghề
CHƯƠNG 4 TỔNG QUAN ĐÀO TẠO NHÂN LỰC
VÀ THU NHẬP TẠI HUYỆN THẠNH PHÚ
Thạnh Phú là một trong 3 huyện ven biển của tỉnh Bến Tre, nằm trong khu vực
Cù lao Minh nằm giữa hai nhánh sông Hàm Luông và Cổ Chiên trong hệ thống sông Tiền, thông ra biển Đông Với chiều dài tối đa theo trục đông - tây là 38,2 km từ Tân Phong đến Thạnh Phong, nơi hẹp nhất theo trục Bắc - Nam chỉ 9,8 km từ Mỹ Hưng đến Bình Thạnh, và nơi rộng nhất đạt 16,3 km từ An Điền đến Thạnh Phong.
Huyện có tổng diện tích tự nhiên là 425,7 km2, chiếm khoảng 18% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Dân số trung bình năm 2013 là 134.981 người, với mật độ dân số đạt 307 người/km2.
Quốc lộ 57 là tuyến đường chính dài 38,6 km, kết nối các tuyến đường huyện và tạo thành mạng lưới giao thông hoàn chỉnh trên địa bàn Đường thủy, bao gồm sông Cổ Chiên và Hàm Luông, đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối huyện với các khu vực lân cận, trong khi sông Băng Cung và sông Eo Lói là các trục giao thông liên kết hai tuyến sông chính.
Thạnh Phú, nằm dưới hạ lưu tam giác châu của hệ thống sông Hàm Luông - Cổ Chiên, có vị trí kinh tế thuận lợi cho phát triển nuôi trồng và khai thác thủy hải sản nhờ vào tình trạng nhiễm mặn và lợ từ biển Đông Khu vực này cũng hỗ trợ việc phát triển cây trồng ngọt hóa nhờ các công trình thủy lợi Thêm vào đó, với vị trí cửa sông và quá trình bồi lắng liên tục, Thạnh Phú còn là nơi của bãi triều và Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Địa hình chủ yếu bằng phẳng với đặc trưng châu thổ lắng phù sa mới của sông Cửu Long trên nền phù sa cổ, tạo nên một môi trường thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và bảo tồn thiên nhiên.
22 cánh cung đan xen với đất trồng trọt nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, được hình thành chủ yếu qua quá trình bồi lắng trầm tích biển
Nhiệt độ trung bình hàng năm dao động từ 26°C đến 27°C, với sự chênh lệch không đáng kể giữa tháng nóng nhất và tháng mát nhất Trong 15 năm qua, tình hình khí hậu thủy văn diễn biến phức tạp, dẫn đến tình trạng ngập lụt, lốc xoáy và xâm nhập mặn sâu rộng.
Huyện có tổng diện tích tự nhiên 42.565,65 ha, trong đó diện tích nuôi thủy sản là 16.910 ha, chủ yếu là tôm sú và tôm thẻ với sản lượng thu hoạch hàng năm đạt 24.797 tấn Diện tích gieo trồng lúa hàng năm là 15.150 ha, sản lượng bình quân đạt 61.934 tấn Ngoài ra, huyện còn có 2.656 ha trồng cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày, sản lượng đạt 11.588 tấn Tổng đàn gia súc bao gồm 29.570 con bò, 31.000 con heo và 540.000 con gia cầm Tuy nhiên, trên địa bàn không có khoáng sản có giá trị cao, do đó nguồn tài nguyên thủy sản trở thành nguồn thu chủ yếu của huyện.
Toàn địa bàn gồm 18 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm Thị trấn Thạnh Phú và các xã Phú Khánh, Đại Điền, Tân Phong, Thới Thạnh, Quới Điền.
Mỹ Hưng, Hòa Lợi, Mỹ An, Bình Thạnh, An Thạnh, An Thuận, An Điền, An Quy, An Nhơn, Giao Thạnh, Thạnh Phong và Thạnh Hải là các xã thuộc huyện Thạnh Phú, nơi có trung tâm huyện đặt tại thị trấn Thạnh Phú, tập trung các cơ quan Đảng, hành chính, giáo dục, y tế và văn hóa Huyện định hướng phát triển thành ba vùng: vùng ngọt hóa chuyên sản xuất lúa, vùng lợ kết hợp trồng lúa và nuôi tôm, và vùng ven biển tập trung vào nuôi trồng, đánh bắt và khai thác thủy hải sản cũng như tài nguyên biển.
4.3 Thực trạng nguồn nhân lực
Trong huyện, số người trong độ tuổi lao động đạt 87.850 người, chiếm 65,08%, trong đó 70.685 người đang làm việc, tương đương 80,46% Lao động nông thôn chiếm 75% dân số, chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp Mỗi năm, có khoảng 2.135 người gia nhập lực lượng lao động Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 34,7%, trong đó 17,59% đã hoàn thành đào tạo nghề Tỷ lệ thất nghiệp trên địa bàn là 5,5%, với tỷ trọng lao động khu vực I chiếm 54,67%, khu vực II 19,82% và khu vực III 25,51%.
Công tác đào tạo nghề và giới thiệu việc làm đã được thực hiện theo Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nhằm đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 Hàng năm, hơn 1.000 lao động được đào tạo, chủ yếu ở trình độ sơ cấp và các khóa dạy nghề dưới 3 tháng Tỷ lệ lao động qua đào tạo đã tăng từ 29,5% năm 2011 lên 41% năm 2014, trong khi tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề cũng tăng từ 14,2% lên 20,5% Ngoài ra, đã có hơn 8.097 lượt người được dạy nghề và tập huấn kỹ thuật, cùng với 10.782 lượt người được tư vấn hướng nghiệp và giới thiệu việc làm, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp từ 5,2% năm 2011.
Công tác giáo dục tại huyện đang phát triển mạnh mẽ với 35 trường tiểu học và trung học cơ sở, cùng 3 trường trung học phổ thông Tất cả 18 xã đều có trường đạt chuẩn quốc gia và trung tâm học tập cộng đồng, bên cạnh đó còn có 01 Trung tâm dạy nghề, thể hiện sự đa dạng và chất lượng trong hệ thống giáo dục.
Giảm nghèo là một chương trình quan trọng cần được triển khai tích cực trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của huyện Đến cuối năm 2014, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm còn 11%, giảm 3,45% so với năm 2010, trong khi tỷ lệ tái nghèo chỉ chiếm 1,1%.
(nguồn: Báo cáo tổng kết 5 năm công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm của UBND huyện Thạnh Phú)
Một góc Trung tâm Dạy nghề huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre
Lớp dạy nghề may công nghiệp cho lao động nông thôn
4.4 Chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác đào tạo nghề Đào tạo nghề và tạo việc làm có thu nhập ổn định cho người nông dân là góp phần đảm bảo an sinh xã hội Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta không ngừng quan tâm đến việc triển khai thực hiện công tác đào tạo nghề cho lực lượng lao động có chất lượng phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước Nghị quyết Đại hội X đã chỉ rõ: “Phát triển hệ thống hướng nghiệp và dạy nghề, nhất là các nghề cho nông dân trong lĩnh vực nông nghiệp; đa dạng hóa các loại hình dạy nghề, phát triển nhanh đào tạo nghề dài hạn theo hướng hiện đại”
Các chủ trương của Đảng về dạy nghề đã được cụ thể hóa thành các mục tiêu rõ ràng Mục tiêu là đưa công tác đào tạo nghề đến với nông nghiệp và nông thôn, nhằm xây dựng mạng lưới cơ sở dạy nghề rộng khắp trên toàn quốc Ngày 11 tháng 4 năm
Năm 2002, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 48/2002/QĐ-TTg phê duyệt mạng lưới dạy nghề giai đoạn 2002 - 2010, nhằm xây dựng hệ thống trường và cơ sở dạy nghề đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và củng cố an ninh - quốc phòng Quy hoạch này tập trung vào việc nâng cao chất lượng dạy nghề, tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo, khắc phục bất hợp lý về cơ cấu nhân lực, và tạo cơ hội cho người lao động, đặc biệt là lao động nông thôn và nghèo, tiếp cận giáo dục Điều này sẽ giúp lao động nông thôn tìm kiếm việc làm tốt hơn và có thu nhập ổn định.
Ngày 15 tháng 6 năm 2004 Ban Bí thư ra Chỉ thị 40-CT/TW và ngày 11 tháng
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thống kê mô tả
Bảng 5.1.1 Thống kê mô tả các biến số trong mô hình
Giá trị trung bình Độ lệch tiêu chuẩn
- Quy mô hộ gia đình (số người) 180 3.71 1.06 1 7
-Học vấn (số năm đi học) 180 5.72 2.87 1 12
+1: Nuôi trồng/ đánh bắt thủy sản (%)
+ 3: Tự kinh doanh phi nông nghiệp (%)
30 + 7: Không nằm trong lực lượng lao động (%) 0.1 0.3
+1: Thu nhập bình quân một tháng (năm ngoái)
+2: Thu từ tiền lương, tiền công
+3: Tiền chuyển về từ thành viên trong gia đình đi làm ở nơi khác
+4: Thu từ các khoản trợ cấp xã hội
+5: Thu từ cho thuê tài sản, đất đai, nhà ở
+6: Thu từ lãi đầu tư, tín dụng
+2: Kỹ thuật đan đát lục bình (%)
+3: Kỹ thuật bó chổi cọng dừa (%)
+6: Kỹ thuật chuân nuôi gia súc/gia cầm (%)
+7: Kỹ thuật trồng lúa VietGAP (%)
+8: Kỹ thuật khai thác, đánh bắt thủy sản (%)
-Giá trị tài sản (ngàn đồng) 180 46187.22 40549.76 0 423000
-Giá trị đất (ngàn đồng) 180 77766.67 95355.27 0 600000
Bảng 5.1.2 trình bày ước lượng hệ số tương quan theo cặp của tất cả các biến số trong mô hình, giúp khảo sát sơ bộ sự tương quan có thể xảy ra giữa các biến số Hệ số này hỗ trợ trong việc dự báo khả năng đa cộng tuyến của các biến số giải thích trong mô hình Đồng thời, nó cũng cho thấy mối quan hệ giữa hai biến số chính của mô hình là đào tạo và thu nhập.
Quy mô hộ gia đình
Quy mô hộ gia đình
33 Bảng 5.1.3 So sánh thống kê thu nhập trung bình trước và sau đào tạo
Trước đào tạo Sau đào tạo t-test
Theo thống kê, thu nhập trung bình trước khi tham gia đào tạo nghề là 678,97 ngàn đồng/người/tháng Sau khi hoàn thành chương trình đào tạo và tìm được việc làm, thu nhập bình quân tăng lên 1117,83 ngàn đồng/người/tháng.
Không đào tạo có đào tạo Đồ thị: 1.1 Thu nhập trung bình trước và sau đào tạo
Phương pháp kết nối điểm xu hướng
CHƯƠNG 5 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kiểm chứng định lượng được thực hiện để đánh giá tác động của đào tạo nguồn nhân lực đến thu nhập của hộ gia đình tại huyện Thạnh Phú Tác giả đã tiến hành đánh giá lại tác động của các yếu tố thông qua kết quả hồi quy tương tác giữa các biến trong mô hình thu nhập Mincer.
Bảng 5.1.1 Thống kê mô tả các biến số trong mô hình
Giá trị trung bình Độ lệch tiêu chuẩn
- Quy mô hộ gia đình (số người) 180 3.71 1.06 1 7
-Học vấn (số năm đi học) 180 5.72 2.87 1 12
+1: Nuôi trồng/ đánh bắt thủy sản (%)
+ 3: Tự kinh doanh phi nông nghiệp (%)
30 + 7: Không nằm trong lực lượng lao động (%) 0.1 0.3
+1: Thu nhập bình quân một tháng (năm ngoái)
+2: Thu từ tiền lương, tiền công
+3: Tiền chuyển về từ thành viên trong gia đình đi làm ở nơi khác
+4: Thu từ các khoản trợ cấp xã hội
+5: Thu từ cho thuê tài sản, đất đai, nhà ở
+6: Thu từ lãi đầu tư, tín dụng
+2: Kỹ thuật đan đát lục bình (%)
+3: Kỹ thuật bó chổi cọng dừa (%)
+6: Kỹ thuật chuân nuôi gia súc/gia cầm (%)
+7: Kỹ thuật trồng lúa VietGAP (%)
+8: Kỹ thuật khai thác, đánh bắt thủy sản (%)
-Giá trị tài sản (ngàn đồng) 180 46187.22 40549.76 0 423000
-Giá trị đất (ngàn đồng) 180 77766.67 95355.27 0 600000
Bảng 5.1.2 trình bày ước lượng hệ số tương quan theo cặp của tất cả các biến số trong mô hình, giúp khảo sát sơ bộ sự tương quan có thể xảy ra giữa các biến số Hệ số này hỗ trợ dự báo khả năng đa cộng tuyến của các biến số giải thích trong mô hình, đồng thời cho thấy mối quan hệ giữa hai biến số chính là đào tạo và thu nhập.
Quy mô hộ gia đình
Quy mô hộ gia đình
33 Bảng 5.1.3 So sánh thống kê thu nhập trung bình trước và sau đào tạo
Trước đào tạo Sau đào tạo t-test
Theo thống kê, thu nhập trung bình trước khi tham gia đào tạo nghề là 678.97 ngàn đồng/người/tháng Sau khi hoàn thành chương trình đào tạo và tìm được việc làm, thu nhập bình quân tăng lên 1117.83 ngàn đồng/người/tháng.
Không đào tạo có đào tạo Đồ thị: 1.1 Thu nhập trung bình trước và sau đào tạo
5.2 Kết quả hồi quy Để kiểm chứng, đánh giá tác động của đào tạo nghề đến thu nhập, trong nghiên cứu này sử dụng 02 phương pháp hồi quy là bình phương tối thiểu (OLS) và phương pháp kết nối điểm xu hướng (PSM)
5.2.1 Kết quả hồi quy thu nhập, đào tạo và nghề nghiệp: Sử dụng phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu (OLS), cho kết quả như sau:
Biến độc lập Hệ số hồi quy p>/t/ Đào tạo* 339.57 0.000
Quy mô hộ gia đình -66.43 0.063
Nghề 2 : Trồng trọt/nông nghiệp* 320.60 0.015
Nghề 3: Tự kinh doanh phi nông nghiệp* 610.77 0.004
Nghề 4: Làm công ăn lương* 281.90 0.031
Từ kết quả trên ta có phương trình hồi quy như sau:
Thu nhập = 1249,46 + 339,53 đào tạo – 66,43 quy mô hộ gia đình -10,48 tuổi + 186,78 giới tính + 0,21 tiết kiệm + 320,60 trồng trọt/nông nghiệp + 610,76 tự kinh doanh phi nông nghiệp + 281,90 làm công ăn lương + Ui
Từ kết quả trên ta có Prob > F = 0.0000
Kết quả phân tích cho thấy chúng ta đã bác bỏ giả thuyết H0 và công nhận H1, cho phép mô hình hồi quy được áp dụng cho tổng thể Hệ số R2 = 0,3584 chỉ ra rằng các biến độc lập trong mô hình giải thích được 35,84% sự biến thiên của thu nhập, trong khi 64,16% còn lại được ảnh hưởng bởi các yếu tố khác không có trong mô hình.
Kiểm định ý nghĩa thống kê của các hệ số hồi quy:
Giá trị P-value của hệ số giả thuyết H0: β0 = β1 = β2 = β3 = β4 = β5 = β6 = β7 = β8 = 0.000 < 0.01 cho thấy sự khác biệt rõ rệt về trung bình của các biến độc lập liên quan đến các đặc điểm của đặc trưng.
Do đó tác bác bỏ H0 : β0 = 0, chấp nhận H1 : βj ≠ 0, tức là các biến có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 10%
Kiểm định mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến hay sai lệch phương sai?
-Nghề 4: Làm công ăn lương 3.18 0.31
-Nghề 2 : Trồng trọt/nông nghiệp 2.31 0.43
-Nghề 3: Tự kinh doanh phi nông nghiệp 1.39 0.71
-Quy mô hộ gia đình 1.09 0.92
Do mean VIP =1,71 chi2 = 0.022 > 1% = α, công nhận H0, bác bỏ H1, vậy phương sai của mô hình không đổi
Các hệ số hồi quy trong nghiên cứu cho thấy người được đào tạo nghề có tác động tích cực đến thu nhập, trong khi số thành viên trong hộ gia đình và độ tuổi cao lại có ảnh hưởng tiêu cực, làm giảm thu nhập bình quân mỗi người mỗi tháng.
Mô hình cũng cho thấy, khi các điều kiện khác không đổi, thu nhập và giới tính của
37 người được đào tạo nghề có mối quan hệ đồng biến, trong đó các ngành nghề như trồng trọt/nông nghiệp, tự kinh doanh phi nông nghiệp và làm công ăn lương đều có tác động tích cực đến thu nhập.
Theo mô hình nghiên cứu, một người được đào tạo nghề có thể tăng thu nhập thêm 399,53 ngàn đồng/tháng so với người không được đào tạo Cụ thể, người làm trong lĩnh vực trồng trọt/nông nghiệp có thu nhập tăng thêm 320,60 ngàn đồng/tháng, trong khi người tự kinh doanh phi nông nghiệp có mức thu nhập tăng thêm cao nhất, đạt 610,76 ngàn đồng/tháng Đối với người làm công ăn lương, thu nhập tăng thêm là 281,90 ngàn đồng/tháng.
01 người thì thu nhập bình quân giảm 66,43 ngàn đồng/tháng, khi tăng 01 tuổi thì thu nhập bình quân giảm 10,48 ngày đồng/tháng
5.2.2 Kết quả hồi quy thu nhập và ngành nghề được đào tạo:
Để đánh giá tác động của các ngành đào tạo như may công nghiệp, kỹ thuật bó chổi cọng dừa, đan giỏ nhựa và chăn nuôi gia súc/gia cầm đến thu nhập, nghiên cứu đã áp dụng phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu (OLS), cho kết quả đáng chú ý.
Biến độc lập Hệ số hồi quy p>/t/
Ngành kỹ thuật bó chổi cọng dừa* 352.28 0.016
Ngành chăn nuôi gia súc/gia cầm* -116.16 0.394
Nghề 2 : Trồng trọt/nông nghiệp * 357.63 0.007
Nghề 3: Tự kinh doanh phi nông nghiệp* 462.48 0.022
Nghề 4: Làm công ăn lương* 282.95 0.033
Từ kết quả trên ta có phương trình hồi quy như sau:
Thu nhập bao gồm nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có 668.61 từ các nguồn khác nhau, 523.49 từ may công nghiệp, 352.28 từ kỹ thuật bó chổi cọng dừa, 826.88 từ đan giỏ nhựa, 296.87 liên quan đến giới tính, 357.63 từ trồng trọt/nông nghiệp, 462.48 từ tự kinh doanh phi nông nghiệp và 282.95 từ làm công ăn lương.
Từ kết quả trên ta có Prob > F = 0.0000
Kết quả kiểm định cho thấy bác bỏ giả thuyết H0 và công nhận giả thuyết H1, cho phép suy rộng mô hình hồi quy ra tổng thể Hệ số R-squared đạt 0,3932, chỉ ra rằng các biến độc lập trong mô hình giải thích được 39,32% sự biến thiên của thu nhập, trong khi 60,68% còn lại được ảnh hưởng bởi các biến khác không được đưa vào mô hình.
Các giá trị P-value của các biến như may công nghiệp, bó chổi cọng dừa, đan giỏ nhựa, giới tính, trồng trọt/nông nghiệp, tự kinh doanh phi nông nghiệp, và làm công ăn lương đều có ý nghĩa thống kê ở mức 10%.
39 Kiểm định mô hình có hiện tượng đa cộng tuyến hay sai lệch phương sai?
-Nghề 4: Làm công ăn lương 3.61 0.27
-Nghề 2 : Trồng trọt/nông nghiệp 2.48 0.39
-Nghề 3: Tự kinh doanh phi nông nghiệp 1.45 0.69
-Ngành bó chổi cọng dừa 1.37 0.73
-Ngành chăn nuôi gia súc/gia cầm 1.20 0.83
Do mean VIP =1,92 chi2 = 0.1056 > 1% = α, công nhận H0, bác bỏ H1, vậy phương sai của mô hình không đổi
Theo mô hình nghiên cứu, người được đào tạo nghề may công nghiệp có thể tăng thu nhập thêm 523,49 ngàn đồng/tháng so với người không được đào tạo Đối với nghề kỹ thuật bó chổi cọng dừa, mức tăng thu nhập là 352,27 ngàn đồng/tháng, trong khi nghề đan giỏ nhựa mang lại mức tăng cao nhất là 826,88 ngàn đồng/tháng Ngược lại, nghề kỹ thuật chăn nuôi gia súc/gia cầm không cho thấy sự tăng thu nhập rõ ràng do hệ số hồi quy không có ý nghĩa thống kê Thêm vào đó, hệ số hồi quy của biến học vấn có dấu âm cho thấy mỗi năm tuổi tăng thì thu nhập giảm trung bình 5,7 ngàn đồng, trong khi hệ số dương cho thấy người có học vấn cao hơn có thu nhập cao hơn, tuy nhiên các biến này không đạt ý nghĩa thống kê ở mức 10%.
5.3 Đánh giá tác động bằng phương pháp Kết nối điểm xu hướng Để kiểm chứng, tác động của đào tạo nguồn nhân lực đến thu nhập, một lần nữa đánh giá lại tác động của các yếu tố bằng kết quả hồi quy probit sử dụng phương pháp kết nối điểm xu hướng (PSM)