1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ ước tính tác động của việc thay đổi chính sách thuế giá trị gia tăng đối với mặt hàng phân bón

154 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ước Tính Tác Động Của Việc Thay Đổi Chính Sách Thuế Giá Trị Gia Tăng Đối Với Mặt Hàng Phân Bón Hóa Học Tại Việt Nam
Tác giả Phạm Đức Chính
Người hướng dẫn TS. Lê Việt Phú
Trường học Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chính sách công
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • BÌA

  • LỜI CAM ĐOAN

  • LỜI CẢM ƠN

  • TÓM TẮT

  • MỤC LỤC

  • DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

  • DANH MỤC BẢNG

  • DANH MỤC HÌNH

  • DANH MỤC HỘP

  • CHƯƠNG 1 - GIỚI THIỆU

    • 1.1 Bối cảnh và vấn đề chính sách

      • 1.2 Mục tiêu nghiên cứu

        • 1.3 Câu hỏi nghiên cứu

          • 1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

          • 1.5 Khung phân tích, phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu

          • 1.6 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu

            • 1.7 Cấu trúc luận văn

  • CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT

    • 2.1 Lý thuyết kinh tế học về thuế

      • 2.2 Thuế giá trị gia tăng và phạm vi ảnh hưởng

        • 2.3 Tác động của thuế GTGT đến cung, cầu phân bón

        • 2.4 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan

  • CHƯƠNG 3 – MÔ HÌNH HÀM CẦU, HÀM CUNG CỦA PHÂN BÓN

    • 3.1 Ước lượng hàm cầu phân bón

      • 3.2 Ước lượng hàm cung phân bón

  • CHƯƠNG 4 - KẾT QUẢ PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN

    • 4.1 Dữ liệu thị trường về cung – cầu, xuất nhập khẩu phân bón

      • 4.2 Xác định độ co giãn của cầu phân bón theo giá

        • 4.3 Thay đổi phúc lợi các bên trên thị trường phân bón

          • 4.4 Tác động tổng hợp của thay đổi chính sách thuế GTGT với phân bón

          • 4.5 Nguyên nhân khác biệt giữa các phương án

          • 4.6 Phân tích chính sách thuế GTGT đối với phân bón

  • CHƯƠNG 5 – KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH

    • 5.1 Kết luận

      • 5.2 Khuyến nghị chính sách

        • 5.3 Hạn chế của nghiên cứu và hướng phát triển tiếp theo

  • DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • PHỤ LỤC

  • Phụ lục 1 – Một số khái niệm và quy ước

  • Phụ lục 2 – Tỷ lệ phân bón được tiêu thụ bởi các hộ nông dân

  • Phụ lục 3 – Doanh thu trung bình một đại lý cấp 2/năm

  • Phụ lục 4 – Tỷ lệ các loại dinh dưỡng trong phân bón của Việt Nam qua các năm

  • Phụ lục 5 – Giá bình quân các loại phân bón tới các đại lý cấp 1

  • Phụ lục 6 - Các đường cung phân bón của các nhà sản xuất trong nước và cấu trúc hệ thống phân phối

  • Phụ lục 7 – Kết cấu doanh thu – chi phí – thuế của hệ thống phân phối khi có thuế suất thuế GTGT 5%

  • Phụ lục 8 – Kết cấu doanh thu – chi phí – thuế của hệ thống phân phối khi có thuế suất thuế GTGT 0% hoặc khi không đánh thuế GTGT

  • Phụ lục 9 – Chi tiết cách lấy các biến sử dụng trong mô hình

  • Phụ lục 10 – Ước lượng hàm cung phân bón

  • Phụ lục 11 - Giá, lượng và thuế suất thuế nhập khẩu phân bón các loại

  • Phụ lục 12 – Mật độ sử dụng phân bón của các nước (kg N+P2O5+K2O/ha)

  • Phụ lục 13 – Xử lý dữ liệu cho mô hình Translog

Nội dung

GIỚI THIỆU

Bối cảnh và vấn đề chính sách

Phân bón hóa học là yếu tố quan trọng trong sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam, với hơn 90% sản lượng được tiêu thụ bởi nông hộ Chi phí cho phân bón chiếm khoảng 37% tổng chi phí canh tác, và 65% hộ gia đình có tỷ lệ chi này trên 30% theo khảo sát năm 2014 Theo FPT Securities (2015), tổng nhu cầu phân bón khoảng 10 triệu tấn/năm khiến nông dân phải chi gần 5 tỷ USD, tương đương 2,7% GDP Việt Nam năm 2014.

Theo FPT Securities (2015), tổng công suất các nhà máy phân bón tại Việt Nam vào năm 2014 chỉ đáp ứng khoảng 80% nhu cầu trong nước, tuy nhiên, số liệu sản xuất và xuất nhập khẩu cho thấy con số thực tế chỉ đạt khoảng 64% Hiện tại, 11 trong số 16 nhà máy sản xuất phân bón lớn nhất cả nước thuộc quyền quản lý của Tập đoàn Hóa chất và Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, chiếm hơn 80% tổng công suất.

Trước năm 2015, phân bón phải chịu thuế GTGT 5%, nhưng sau đó Quốc hội đã quyết định miễn thuế này, nhằm giảm giá phân bón cho nông dân Bộ Tài chính cho rằng, doanh nghiệp chỉ cần tăng giá bán 0,71% để duy trì lợi nhuận, trong khi giá phân bón sẽ giảm 2% nhờ việc không đánh thuế Tuy nhiên, Bộ Công thương và Hiệp hội phân bón cảnh báo rằng việc miễn thuế có thể dẫn đến thua lỗ cho doanh nghiệp phân bón nội địa.

Theo báo cáo ngành phân bón 2015 của Công ty Chứng khoán FPT, hàng năm, phân bón lá và phân bón vi sinh có sản lượng tiêu thụ khoảng 400.000 – 500.000 tấn Trong khi đó, 6 loại phân bón hóa học chủ yếu được sản xuất, nhập khẩu và sử dụng trong nước đạt sản lượng lên tới khoảng 10 triệu tấn/năm, bao gồm Urê, Lân, Kali, SA, DAP, và NPK Thành phần dinh dưỡng chính cho cây trồng trong 6 loại phân này thường được quy đổi về hàm lượng 3 hợp chất quan trọng: Đạm (N), Lân (P2O5), và Kali (K2O).

2 Xem Phụ lục 2 về tổng hợp nhu cầu phân bón hóa học và tỷ lệ chi phí phân bón trên tổng chi phí trồng trọt ở Việt Nam

3 Được công bố bởi Bộ Công thương – trực tiếp trên website www.moit.gov.vn, Tổng cục Hải quan – tác giả dẫn lại từ FPT Securities

Bộ Công thương đã đề xuất áp dụng thuế suất 0% cho phân bón nhằm bảo đảm an ninh lương thực và hỗ trợ nông dân trong bối cảnh cạnh tranh với phân bón nhập khẩu Trước những ý kiến trái chiều, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Công thương và Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn để đánh giá tác động của chính sách không đánh thuế GTGT đối với phân bón, nhằm báo cáo Thủ tướng và trình Quốc hội khóa XIV phương án xử lý.

Theo Ngân hàng Thế giới, nhiều quốc gia không áp dụng thuế GTGT đối với đầu vào nông nghiệp, bao gồm phân bón Tuy nhiên, một số nước Châu Âu đã áp dụng thuế phân bón để kiểm soát mức sử dụng và ngăn ngừa ô nhiễm môi trường Tại Việt Nam, việc sử dụng thuế để hạn chế tác động tiêu cực của phân bón đối với môi trường chưa được xem xét, và đây là lần đầu tiên mặt hàng này không chịu thuế GTGT Tuy nhiên, tác động của quyết định này đến các bên liên quan vẫn chưa được đánh giá đầy đủ, khiến cơ quan quản lý chưa có cơ sở vững chắc để đưa ra quyết định cuối cùng.

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm so sánh tác động phúc lợi và phân chia gánh nặng thuế giữa các bên liên quan, đồng thời xem xét các khía cạnh định tính như tính khả thi và ảnh hưởng môi trường của ba phương án thuế GTGT cho phân bón (thuế suất 5%, không đánh thuế và thuế suất 0%) Kết quả sẽ giúp đưa ra kiến nghị về kịch bản thuế phù hợp.

Câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm phân tích tác động của ba kịch bản thuế GTGT đối với phân bón, bao gồm thuế suất 5%, không chịu thuế và thuế suất 0%, đến phúc lợi xã hội và phân chia gánh nặng thuế giữa các bên liên quan Ngoài ra, nghiên cứu cũng xem xét liệu việc thay đổi chính sách thuế GTGT đối với phân bón có dẫn đến gia tăng lượng sử dụng và gây ô nhiễm môi trường hay không.

Dựa trên kết quả và phân tích định tính, nghiên cứu xác định chính sách thuế GTGT phù hợp cho phân bón trong ba phương án đã được xem xét.

5 Các bên liên quan gồm: Nhà nước, các hộ nông dân và nhà cung cấp phân bón

6 Với nghĩa là theo xu hướng phát triển chung của thế giới và thỏa mãn nhiều tiêu chí đánh giá nhất.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào chính sách thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với phân bón, đặc biệt là thị trường phân bón hóa học trong nước Ngoài ra, nghiên cứu cũng xem xét thị trường các yếu tố đầu vào cho các nhà sản xuất phân bón để đánh giá đầy đủ ảnh hưởng của các kịch bản thuế GTGT Mặc dù có một số dữ liệu và kết quả nghiên cứu được trích dẫn để hỗ trợ các kiến nghị, tác giả chỉ dừng lại ở mức tổng hợp và khái quát về tác động môi trường tiêu cực của phân bón hóa học do hạn chế về chuyên môn.

Khung phân tích, phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu

Phân tích trong nghiên cứu này dựa trên lý thuyết kinh tế học về thuế Theo Stiglitz

Chính sách thuế tốt được đánh giá qua năm tiêu chí: hiệu quả kinh tế, công bằng, đơn giản trong hành thu, linh hoạt và minh bạch Trong đó, ba tiêu chí đầu tiên là quan trọng nhất.

Mô hình cân bằng cung – cầu riêng phần được áp dụng để phân tích thị trường phân bón, với kỹ thuật định lượng độ co giãn của cầu phân bón theo giá Các lập luận được đưa ra nhằm suy diễn độ dốc của đường cung phân bón, giúp hiểu rõ hơn về sự biến động của giá cả và nhu cầu trên thị trường.

Nghiên cứu này khai thác dữ liệu từ cuộc điều tra mức sống hộ gia đình do Tổng cục Thống kê thực hiện vào năm 2014 (VHLSS 2014) cùng với một số thông tin tham khảo khác.

Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu so sánh mức độ khả thi, công bằng và hiệu quả kinh tế của ba phương án thuế GTGT đối với phân bón, nhằm cung cấp căn cứ thuyết phục cho các cơ quan quản lý trong việc lựa chọn phương án thuế phù hợp trong tương lai.

Cấu trúc luận văn

Luận văn này bao gồm 5 chương, trong đó Chương 1 trình bày bối cảnh và vấn đề chính sách cùng với mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu Chương 2 cung cấp cơ sở lý thuyết về sắc thuế hiệu quả, thuế giá trị gia tăng, mô hình cân bằng cung – cầu riêng phần và tóm tắt các nghiên cứu liên quan Chương 3 mô tả mô hình ước lượng hàm cầu và hàm cung phân bón trong nước Chương 4 phân tích kết quả tính toán, phúc lợi và phân chia gánh nặng thuế giữa các bên liên quan trong ba kịch bản thuế GTGT Cuối cùng, Chương 5 đưa ra kết luận và các khuyến nghị chính sách.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Lý thuyết kinh tế học về thuế

Theo Joseph Stiglitz (1986), một hệ thống thuế tốt cần tuân thủ năm nguyên tắc quan trọng: hiệu quả kinh tế, tính đơn giản trong quản lý, sự linh hoạt, tính minh bạch và sự công bằng.

Ngoại trừ thuế trọn gói, mọi loại thuế đều gây ra tổn thất cho xã hội thông qua việc thay đổi hành vi và tái phân bổ nguồn lực Chẳng hạn, thuế đánh vào hàng hóa làm tăng giá, dẫn đến giảm khả năng mua sắm của người tiêu dùng nếu thu nhập không thay đổi, từ đó giảm tiêu dùng hàng hóa bị đánh thuế hoặc chuyển sang hàng hóa tương tự Một chính sách thuế được coi là hiệu quả khi giảm thiểu tổn thất phúc lợi cho toàn bộ nền kinh tế ở mức độ thấp nhất.

Độ lớn tổn thất phúc lợi xã hội do một sắc thuế gây ra tỷ lệ thuận với thuế suất và độ co giãn của cung cầu theo giá hàng hóa bị đánh thuế.

Sự đơn giản của một sắc thuế được đảm bảo khi cả người nộp thuế và cơ quan thu thuế hiểu rõ các quy định và có khả năng tính toán, kiểm tra số thuế một cách dễ dàng Mức độ phức tạp của các loại thuế, như thuế thu nhập, thuế tiêu dùng hay thuế tài sản, phụ thuộc vào số lượng quy định về thuế suất và các trường hợp miễn, giảm thuế Nếu có quá nhiều quy định, việc quản lý thuế trở nên phức tạp hơn, dẫn đến nguy cơ khai báo không trung thực nhằm trốn thuế.

Thuế trọn gói là loại thuế mà cá nhân và doanh nghiệp không thể giảm nghĩa vụ thuế của mình bằng bất kỳ cách nào Ví dụ, các loại thuế này bao gồm thuế thân và các loại thuế liên quan đến đặc tính cố hữu như tuổi tác và giới tính.

Việc xác định số thuế thu nhập và thuế tài sản gặp nhiều khó khăn hơn so với thuế tiêu dùng, bởi vì thu nhập chịu thuế và giá trị tài sản có thể bị khai báo không chính xác Trong khi đó, doanh thu bán hàng được ghi rõ trên hóa đơn và có thể dễ dàng kiểm tra bằng cách so sánh giá cả với các sản phẩm tương tự ở nơi khác.

Các điều kiện kinh tế xã hội như cơ sở thuế, tỷ lệ lạm phát và ngân sách luôn thay đổi, đòi hỏi các quy định thuế cũng cần linh hoạt Một cấu trúc thuế có thể tùy chỉnh nhanh chóng theo từng bối cảnh sẽ mang lại tính linh hoạt Tính minh bạch của hệ thống thuế được đảm bảo khi quy định rõ ai là người đóng góp và ai là người gánh chịu thuế Hệ thống thuế cũng cần công bằng, đảm bảo rằng các chủ thể có hoàn cảnh tương tự được đối xử như nhau (công bằng ngang) và những người có khả năng chi trả cao hơn sẽ đóng thuế nhiều hơn (công bằng dọc), ví dụ như thuế suất đối với doanh nghiệp lớn và thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng xa xỉ phẩm.

Thuế giá trị gia tăng và phạm vi ảnh hưởng

2.2.1 Thuế giá trị gia tăng

Thuế giá trị gia tăng (GTGT) là một loại thuế gián thu áp dụng cho giá trị tăng thêm của hàng hóa và dịch vụ trong quá trình sản xuất, lưu thông và tiêu dùng Có ba phương pháp tính thuế GTGT: phương pháp cộng, phương pháp trực tiếp và phương pháp khấu trừ Phương pháp cộng, mặc dù có thể tính toán, nhưng khó áp dụng trong trường hợp có nhiều công đoạn sản xuất và nhiều chủ thể nộp thuế Ngược lại, phương pháp trực tiếp và phương pháp khấu trừ được sử dụng phổ biến hơn trong thực tế do tính khả thi và hiệu quả của chúng.

Trong lĩnh vực ngoại thương, có hai nguyên tắc chính để đánh thuế giá trị gia tăng (GTGT): theo điểm đến và theo nguồn gốc phát sinh Theo nguyên tắc điểm đến, thuế GTGT được thu tại quốc gia nơi người tiêu dùng cuối cùng cư trú, trong khi theo nguyên tắc nguồn gốc phát sinh, thuế được thu tại nơi sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ Hầu hết các quốc gia hiện nay áp dụng nguyên tắc đánh thuế theo điểm đến (Rosengard & Vũ Thành Tự Anh, 2012).

Hệ thống thuế GTGT ở Việt Nam hiện áp dụng nguyên tắc đánh thuế theo điểm đến với hai phương pháp tính thuế là trực tiếp và khấu trừ Phương pháp khấu trừ dành cho các cơ sở kinh doanh tuân thủ tốt chế độ kế toán, trong khi phương pháp trực tiếp áp dụng cho các hộ kinh doanh cá thể nhỏ lẻ, với ngưỡng thu nhập nộp thuế đã được nâng lên 100 triệu đồng/năm Các hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT có ba mức thuế suất 0%, 5%, và 10%, nhằm hướng đến mục tiêu công bằng, nhưng việc duy trì nhiều mức thuế suất gây khó khăn trong thực hiện và kiểm soát Đặc biệt, mặt hàng phân bón trước đây chịu thuế GTGT 5% nhưng từ 01/01/2015 đã không còn bị đánh thuế, do nhiều quốc gia không áp dụng thuế này để hỗ trợ nông dân, mặc dù vẫn có ý kiến cho rằng nông nghiệp cũng cần được đối xử công bằng như các lĩnh vực khác.

Trung Quốc đã từng không áp dụng thuế GTGT cho phân bón hóa học từ năm 1994 đến tháng 8 năm 2015, nhưng sau đó đã tái áp dụng thuế này Mục đích chính của chính sách không phải là tăng nguồn thu ngân sách, mà nhằm hạn chế tiêu thụ phân bón hóa học giá rẻ, nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường.

2.2.2 Phạm vi ảnh hưởng của thuế GTGT

Thuế GTGT có tính chất liên hoàn, khác biệt với các sắc thuế khác, và được áp dụng chủ yếu cho các cơ sở sản xuất và kinh doanh lớn Trong chuỗi giá trị sản xuất phân bón, thuế GTGT đầu ra của nhà cung cấp vật tư và nhiên liệu tương đương với thuế GTGT đầu vào của doanh nghiệp sản xuất phân bón Do đó, khi phân tích tác động của chính sách thuế GTGT đối với phân bón, cần xem xét các thị trường yếu tố đầu vào như điện, than, quặng Apatit và khí thiên nhiên, vì những yếu tố này cũng chịu thuế GTGT.

Thuế suất 0% áp dụng cho hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu; thuế suất 5% dành cho hàng hóa và dịch vụ thiết yếu cũng như đầu vào của sản xuất nông nghiệp; và thuế suất 10% được áp dụng cho các hàng hóa còn lại.

Chính phủ đã áp dụng 10 chính sách miễn thuế GTGT cho phân bón hữu cơ nhằm khuyến khích nông dân chuyển đổi từ sử dụng phân bón vô cơ sang phân bón hữu cơ Đồng thời, kế hoạch trợ cấp cũng sẽ được triển khai cho nông dân sau khi thuế trở lại áp dụng cho phân bón vô cơ.

Thuế tiêu thụ đặc biệt có tính chất liên hoàn khi nhà sản xuất tạo ra sản phẩm chịu thuế từ các đầu vào cũng bị áp dụng loại thuế này Để hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của chính sách thuế GTGT đối với mặt hàng này, bài viết sẽ trình bày hai mô hình cung – cầu Một mô hình sẽ thể hiện quy trình tạo ra các yếu tố đầu vào chịu thuế GTGT trong ngành phân bón, trong khi mô hình còn lại sẽ đại diện cho các đường cung của các nhà sản xuất trong nước.

Hình 2.1 – Tác động liên phần của chính sách thuế GTGT đối với phân bón 12

Nghiên cứu này tập trung phân tích phúc lợi của các bên trong thị trường phân bón, đồng thời mở rộng tới thị trường các yếu tố đầu vào chịu thuế GTGT để bao quát phúc lợi xã hội Bất kỳ sự thay đổi nào về chính sách thuế GTGT đối với phân bón sẽ ảnh hưởng đến chi phí canh tác của khoảng 11 triệu hộ nông dân Việt Nam, dẫn đến sự chênh lệch phúc lợi trong thị trường nông sản và thực phẩm Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian và kỹ thuật, nghiên cứu chỉ dừng lại ở giai đoạn người nông dân mua phân bón.

(Nguồn: tác giả tự vẽ)

H E Hoàn hoặc cho khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với phân bón

O Q P S VATexempt a Tác động của việc đánh thuế GTGT đối với phân bón tới các giai đoạn sản xuất ra yếu tố đầu vào chịu thuế GTGT phía trước

F O Q c Thị trường phân bón có các đường cung ứng với 3 trạng thái thuế GTGT khác nhau

Không đánh thuế GTGT đối với phân bón

Việc không đánh thuế giá trị gia tăng (GTGT) lên phân bón có tác động đáng kể đến các giai đoạn sản xuất yếu tố đầu vào chịu thuế GTGT trước đó Đồ thị [a] trong hình 2.1 minh họa rõ ràng tác động của thuế GTGT lên phân bón đối với các giai đoạn tạo ra yếu tố đầu vào cũng chịu thuế GTGT trong ngành phân bón, thể hiện qua các điểm S0 và D0.

Trong bài viết này, chúng ta phân tích tác động của thuế GTGT đối với thị trường phân bón, với đường cung S0 và S1 thể hiện sự dịch chuyển do thuế GTGT 13% Các nhà sản xuất phân bón có thể khấu trừ hoặc hoàn thuế GTGT, dẫn đến việc Nhà nước không thực sự đánh thuế lên yếu tố đầu vào, giữ điểm cân bằng cung cầu tại F mà không gây mất mát phúc lợi xã hội (DWL) Đồ thị [b] cho thấy tác động của việc không đánh thuế GTGT, trong đó đường cung dịch chuyển lên S1 nhưng đường cầu D0 không thay đổi, dẫn đến tổn thất phúc lợi xã hội vô ích (DWL) thể hiện qua diện tích tam giác JKF Cuối cùng, đồ thị [c] mô phỏng ba đường cung của các nhà sản xuất trong nước với các mức thuế GTGT khác nhau, nhấn mạnh nguyên lý cạnh tranh trong kinh tế học vi mô.

Nếu không có hiện tượng đánh thuế GTGT trùng lắp, tổng số thuế GTGT trong chuỗi sản xuất sẽ tương đương với thuế doanh thu cùng tỷ lệ được thu một lần ở khâu cuối cùng Do đó, tổng thuế GTGT của các giai đoạn sản xuất trước phân bón tương đương với thuế doanh thu được đánh một lần duy nhất tại công đoạn tiếp giáp với phân bón.

Trong Phụ lục 15, tác giả đã phân tích tỷ số giữa DWL và doanh thu thuế GTGT dựa trên đồ thị b trong hình 2.1, với giả định rằng cung và cầu các yếu tố đầu vào của sản xuất phân bón có độ co giãn kém theo giá Các đường chi phí biên của doanh nghiệp ở ba trạng thái thuế GTGT được thể hiện rõ Dữ liệu từ Bộ Tài chính (2015) cho thấy tỷ lệ thuế GTGT đầu vào trên doanh thu đầu ra trước thuế là 5,71%, không bao gồm thuế GTGT đầu vào của tài sản cố định Tại mức sản lượng Q, giả sử chi phí biên ở mức thuế GTGT 0% là 100 đồng, thì chi phí biên ở mức thuế GTGT 5% là 105 đồng, và ở trạng thái không đánh thuế GTGT là 105,71 đồng Do đó, vị trí tương đối của các đường S0%, S5%, và SVATexempt lần lượt là 100/105/105,71.

Tác động của thuế GTGT đến cung, cầu phân bón

Theo lập luận của tác giả ở Phần 2.2.2, các chính sách thuế GTGT với thuế suất 0%, 5% và không đánh thuế đã tạo ra các đường cung tương ứng cho các nhà sản xuất trong nước là S0%, S5%.

SVATexempt hiện có vị trí tương đối là 100/105/105,71 Mặc dù Việt Nam có nguồn sản xuất nội địa, hàng năm vẫn phải nhập khẩu phân bón để đáp ứng nhu cầu mùa vụ, và sản phẩm này thường phải qua ít nhất ba cấp trung gian phân phối trước khi đến tay nông dân (FPT Securities, 2015) Theo Luật thuế GTGT 13/2008, hàng hóa chịu thuế GTGT sẽ bị đánh thuế ở cả khâu sản xuất nội địa, nhập khẩu và phân phối Điều này có nghĩa là các chính sách thuế GTGT ảnh hưởng đến chi phí biên của doanh nghiệp sản xuất trong nước, giá sau thuế của phân bón nhập khẩu, và giá bán lẻ đến tay người tiêu dùng qua hệ thống phân phối Đối với phía cầu, nếu chính sách thuế GTGT làm giảm giá cân bằng cung – cầu, lượng sử dụng phân bón sẽ tăng lên và ngược lại, dẫn đến sự di chuyển dọc theo đường cầu.

Nghiên cứu này phân tích ba kịch bản thuế GTGT đối với phân bón, tập trung vào tác động đến phúc lợi xã hội và phân chia gánh nặng thuế Các khía cạnh này được làm rõ thông qua mô hình cân bằng cung – cầu trong Kinh tế học Vi mô, với giả định thị trường phân bón tại Việt Nam là tự do cạnh tranh Nghiên cứu cũng giả định rằng quy mô sản xuất không thay đổi giữa năm trước và năm sau, và đường cung, cầu của phân bón là tuyến tính.

15 Chi tiết xem Phụ lục 6

16 Chi tiết ảnh hưởng của các kịch bản thuế GTGT khác nhau tới hệ thống phân phối xem Phụ lục 7 và 8

Theo báo cáo ngành phân bón 2015 của FPT Securities, rào cản gia nhập ngành phân bón Urê, Lân, DAP rất lớn, trong khi đối với NPK thì không cao Thị trường cung cấp phân bón hiện vượt cầu với nhiều loại sản phẩm cho nông dân lựa chọn Tuy nhiên, thông tin về phân bón vẫn còn mập mờ, dẫn đến tình trạng lưu thông phân bón kém chất lượng Nhiều công ty tổ chức hội thảo chuyển giao kỹ thuật bón phân cho nông dân, và hoạt động sản xuất – kinh doanh phân bón được Nhà nước giám sát thường xuyên Các đại lý phân phối có ảnh hưởng lớn đến hành vi tiêu dùng Do đó, thị trường phân bón trong nước vừa có tính cạnh tranh tự do, vừa mang tính độc quyền, khiến việc giả định thị trường là cạnh tranh hoàn hảo trong phân tích mô hình trở nên cần thiết.

Nguồn cung phân bón trong nước được chia thành ba dạng chính: (i) phân Lân hoàn toàn đáp ứng nhu cầu trong nước, (ii) phân Urê, DAP, NPK một phần được cung cấp trong nước và một phần nhập khẩu, và (iii) phân SA, Kali hoàn toàn nhập khẩu Dựa trên ba dạng cung này, tác giả sẽ phân tích sáu loại phân bón thông qua ba mô hình cân bằng cung - cầu tương ứng.

Trong đồ thị cung-cầu, các đường cung trong nước và cung nhập khẩu không cắt trực tiếp đường cầu mà thông qua các đường cung bán lẻ nằm ngang Khoảng cách giữa đường cung bán lẻ và chi phí vốn đầu vào của hệ thống phân phối bao gồm chi phí hoạt động, thuế TNCN, thuế GTGT trên doanh thu bán lẻ, thuế TNDN và lợi nhuận định mức Tỷ lệ các khoản mục này thay đổi theo chính sách thuế GTGT Chi tiết về doanh thu, chi phí và thuế trong hệ thống phân phối được trình bày tại các phụ lục Việc phân tích cung-cầu riêng phần không gây ra lệch lạc nghiêm trọng.

Hình 2.2 – Ba mô hình cân bằng cung – cầu riêng phần (tác giả tự xây dựng)

Tổng cung = cung trong nước + cung nhập khẩu (phân Urê, DAP, NPK)

Tổng cung = cung trong nước

(phân Lân) a Kịch bản thuế suất thuế GTGT 5% a Kịch bản thuế suất thuế GTGT 5%

Chú giải: Demand là đường cầu phân bón của các nông hộ S5% là đường cung phân bón của các nhà sản xuất trong nước khi thuế suất thuế GTGT

Giá phân bón thế giới được biểu thị bằng P W, trong khi PIM đại diện cho giá sau thuế nhập khẩu của phân bón nước ngoài vào Việt Nam Công thức PIM*(1+5%) cho thấy giá sau thuế nhập khẩu và thuế GTGT của phân bón nước ngoài khi vào Việt Nam Cuối cùng, P5%-retail là giá bán lẻ phân bón đến tay các hộ nông dân.

(cả phân bón ngoại và nội địa) Đường PIM đồng thời là đường giá vốn (không bao gồm thuế GTGT) của hệ thống phân phối

Chênh lệch giữa PIM với P5%-retail bao gồm chi phí phân phối, lợi nhuận phân phối, thuế các loại phát sinh ở khâu này – chi tiết xem Phụ lục 6

Với thuế suất GTGT 5%, giá bán của sản phẩm từ nhà sản xuất nội địa và nhà nhập khẩu đều bằng nhau, được tính theo công thức PIM*(1+5%) Sản lượng nội địa là Q A, trong khi lượng tiêu dùng tổng cộng là Q C, và lượng hàng nhập khẩu là Q C - Q A.

- Thuế GTGT đầu ra của các nhà sản xuất trong nước = FA’IH;

- Thuế TNDN của nhà sản xuất trong nước =

- Thuế nhập khẩu phân bón = ISTV;

- Thuế GTGT hàng nhập khẩu = A’C’SI;

Chi tiết về các khoản chi phí và thuế liên quan đến khâu phân phối và lợi nhuận của nhà sản xuất trong nước được trình bày rõ ràng trong Phụ lục 13, phần Phân Urê.

Trong đồ thị, toàn bộ nhu cầu phân bón Q A được đáp ứng bởi các nhà sản xuất nội địa mà không có nhập khẩu Đường cầu phân bón của các nông hộ được thể hiện qua Demand Đường cung phân bón của các nhà sản xuất trong nước khi thuế suất thuế GTGT là 5% được ký hiệu là S5% Giá bán ra của các nhà sản xuất nội địa, bao gồm thuế GTGT, được thể hiện qua P5%, và đây cũng là giá vốn của hệ thống phân phối Cuối cùng, P5%-retail là giá bán lẻ phân bón đến tay các hộ nông dân.

- Thuế GTGT đầu ra của các nhà sản xuất trong nước = CEHO*(5/105);

- Thuế TNDN các nhà sản xuất phải nộp = 22%*(CEHO*(100/105) – LEH/1,05 – Fixed cost);

Chi tiết về các khoản chi phí và thuế liên quan đến phân phối cũng như lợi nhuận của nhà sản xuất trong nước được trình bày trong Phụ lục 13 (phần Phân Lân) Bên cạnh đó, có hai kịch bản được xem xét: một là không áp dụng thuế GTGT và hai là kịch bản không đánh thuế GTGT.

Svatexempt là đường cung cấp phân bón từ các nhà sản xuất trong nước mà không chịu thuế GTGT Pvatexempt-retail đại diện cho giá bán lẻ phân bón đến tay nông hộ cũng không bị thuế GTGT Ý nghĩa của P W và PIM tương tự như trong kịch bản thuế suất thuế GTGT 5% Đồng thời, đường PIM cũng là giá vốn của hệ thống phân phối, tạo ra sự chênh lệch với các yếu tố khác trong thị trường phân bón.

Pvatexempt-retail bao gồm chi phí phân phối, lợi nhuận phân phối, thuế các loại phát sinh ở khâu này – chi tiết xem Phụ lục 7

Trong kịch bản không áp dụng thuế GTGT, giá bán của nhà sản xuất nội địa và nhà nhập khẩu là như nhau, đều bằng PIM Sản lượng nội địa được xác định là QG, trong khi lượng tiêu dùng là QC, và lượng hàng nhập khẩu là QC - QG.

- Thuế TNDN của các nhà sản xuất =

22%*(HG’YO – RG’Y – Fixed cost); Thuế nhập khẩu = G’STW;

* Chi tiết các khoản chi phí, thuế phát sinh trên khâu phân phối, lợi nhuận của nhà sản xuất trong nước và hệ thống phân phối – xem Phụ lục 13

Svatexempt là giá cung cấp của các nhà sản xuất trong nước khi phân bón không chịu thuế GTGT Pvatexempt là giá bán ra của các nhà sản xuất trong nước trong trường hợp tương tự Pvatexempt-retail là giá bán lẻ phân bón đến tay nông hộ khi không có thuế GTGT Chênh lệch giữa Pvatexempt và Pvatexempt-retail bao gồm chi phí phân phối, lợi nhuận phân phối và các loại thuế phát sinh trong khâu này, chi tiết được trình bày trong Phụ lục 7.

Với kịch bản không đánh thuế GTGT, sản lượng trong nước bằng sản lượng tiêu thụ =

- Thuế TNDN của các nhà sản xuất trong nước = 22%*(KFHO – LFH – Fixed cost);

Chi tiết về các khoản chi phí và thuế liên quan đến khâu phân phối, cũng như lợi nhuận của nhà sản xuất trong nước, được trình bày trong Phụ lục 13 (phần Phân Lân) Đặc biệt, có hai kịch bản về thuế suất thuế GTGT 0% cần được xem xét.

Chú giải: S0% là đường cung của các nhà sản xuất trong nước khi phân bón chịu thuế GTGT 0%

Tổng quan các nghiên cứu có liên quan

Chưa có nghiên cứu nào trong nước phân tích định lượng tác động kinh tế của việc thay đổi chính sách thuế GTGT đối với một mặt hàng cụ thể Tuy nhiên, có một số nghiên cứu từ nước ngoài liên quan đến chủ đề này.

Năm 2011, nghiên cứu đánh giá tác động vi mô của việc miễn thuế GTGT đối với ngành bưu chính tại Đức, cho thấy rằng nhiều dịch vụ cơ bản như bưu chính thường không bị đánh thuế GTGT ở một số nước Châu Âu Điều này nhằm hỗ trợ các nhà cung cấp đáp ứng nhu cầu dịch vụ tối thiểu với giá cả hợp lý thông qua nghĩa vụ phục vụ toàn dân (USO) Bằng cách áp dụng mô hình cung cầu, Wein chỉ ra rằng việc không đánh thuế GTGT để đạt được USO có thể dẫn đến hai hệ quả: thứ nhất, lợi ích tài chính từ việc miễn thuế không chắc chắn; thứ hai, kết quả phúc lợi phụ thuộc vào cấu trúc thị trường, có thể là cạnh tranh hoặc độc quyền, cũng như sự phân biệt giá và sự hiện diện của doanh nghiệp dẫn dắt thị trường.

Nghiên cứu của IMF (1991) về ảnh hưởng của việc không đánh thuế đối với cơ sở thuế GTGT ở các nước đang phát triển cho thấy rằng thuế suất 0% mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với việc không đánh thuế GTGT Cụ thể, thuế suất 0% giúp loại bỏ hoàn toàn thuế đầu vào ẩn trong giá nguyên liệu sản xuất và tránh hiện tượng đánh thuế trùng lắp Tuy nhiên, từ góc độ quản lý thuế, việc không đánh thuế GTGT được coi là đơn giản hơn so với áp dụng thuế suất 0%, dẫn đến việc nhiều quốc gia đang phát triển và cả một số nước phát triển chỉ áp dụng thuế suất 0% cho khu vực xuất khẩu hoặc một số hàng hóa, dịch vụ đặc biệt.

Nhiều bài phân tích và tiểu luận về hệ thống thuế GTGT ở Việt Nam chủ yếu sử dụng phương pháp định tính, nhưng thường chỉ tổng kết kinh nghiệm và không mang lại những nhận định mới mẻ Thực tế cho thấy hầu hết các quốc gia Châu Âu không áp dụng thuế GTGT cho các sản phẩm thiết yếu như thực phẩm, nước sạch cho hộ gia đình và dịch vụ y tế cho người khuyết tật, ngoại trừ một số nước như Bồ Đào Nha, Ailen và Anh, nơi áp dụng thuế GTGT 0%.

Ngoài hai nghiên cứu về thuế GTGT, tác giả đã tìm thấy các nghiên cứu khác đánh giá tác động của can thiệp Chính phủ vào thị trường tự do cạnh tranh, như việc ban hành giá tối đa, trợ cấp, thuế quan và hạn ngạch Các nghiên cứu này thường sử dụng mô hình cân bằng cung – cầu riêng phần và phương trình đại số để tính toán thay đổi thặng dư người tiêu dùng, thặng dư nhà sản xuất, số thu của Nhà nước và phúc lợi xã hội Cụ thể, Pindyck & Rubinfeld (1995) đã minh họa cách đánh giá ảnh hưởng vi mô của việc đặt giá trần khí đốt tự nhiên ở Mỹ năm 1975, cho thấy rằng chi phí xã hội của việc áp giá trần này là 1,4 tỷ USD/năm.

Vào năm 1995, một phương pháp tương tự đã được áp dụng để đánh giá tác động của sắc thuế 50 cent mỗi galông xăng, được đề xuất trong chiến dịch tranh cử Tổng thống Mỹ năm 1980 bởi một ứng cử viên độc lập Theo đó, nếu quy định thuế mới được thực thi, Chính phủ sẽ thu được 44,5 tỷ USD từ nguồn thu thuế, trong khi tổn thất phúc lợi xã hội ước tính lên tới 2,75 tỷ USD mỗi năm.

Tác giả rút ra rằng tác động phúc lợi của các bên liên quan khi thay đổi chính sách thuế GTGT phụ thuộc vào tính chất thị trường hàng hóa, bao gồm cạnh tranh hoặc độc quyền Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã phân tích các can thiệp của Chính phủ vào thị trường thông qua cân bằng cung – cầu theo Kinh tế học Vi mô Bước đầu tiên trong các nghiên cứu này là xác định độ co giãn của cung và cầu hàng hóa theo giá bằng mô hình ước lượng phù hợp hoặc tham khảo từ các nghiên cứu trước đó.

MÔ HÌNH HÀM CẦU, HÀM CUNG CỦA PHÂN BÓN

Ước lượng hàm cầu phân bón

3.1.1 Lựa chọn mô hình nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng mô hình chi phí Translog của Christensen, Jorgenson và Lau từ những năm 1970 để ước tính độ co giãn của cầu phân bón theo giá Về lý thuyết, hệ phương trình hồi quy đồng thời của mô hình Translog có tính chặt chẽ hơn so với các mô hình hồi quy đơn Thực tế, mô hình này đã được áp dụng rộng rãi trong kinh tế học nông nghiệp, như trong các nghiên cứu của Binswanger (1973), McKay và cộng sự (1980), Mensah-Bonsu (2010), và Kotakou (2011).

Hàm chi phí Translog được xây dựng dựa trên phương pháp truyền thống của Kinh tế học Vi mô, cụ thể là sử dụng phương pháp nhân tử Lagrange Trong tổng quát, phương pháp này bắt nguồn từ hàm sản xuất dạng: Y = f (X1, X2).

Với Y là sản lượng đầu ra;

Xi,j (i, j = ) là các nhập lượng của các yếu tố đầu vào;

Giả sử Pi,j là giá của các yếu tố sản xuất Xi,j, chi phí sản xuất sản lượng Y được xác định là C Với sản lượng Y0 và giá cả Pi,j đã biết, mục tiêu của các nhà sản xuất là xác định các yếu tố Xi,j để tối ưu hóa quy trình sản xuất.

Để tìm điểm cực trị của hàm số Lagrange, ta sử dụng công thức ξ = – λ*(Y - Y0) Tiếp theo, lấy đạo hàm riêng phần của ξ theo các biến Xi và λ, sau đó đặt các đạo hàm này bằng 0 để thiết lập hệ phương trình.

Từ hệ trên, rút vec-tơ theo Y0, Pi,j rồi thay vào C thì được hàm tối ưu chi phí

Chi phí tối ưu C* được xác định bởi sản lượng Y0 và các mức giá Pi, với mỗi mức sản lượng và giá chỉ cho ra một vec-tơ duy nhất, thể hiện mối quan hệ đối ngẫu giữa hàm sản xuất và hàm chi phí Sử dụng phương pháp nhân tử Lagrange, ta có thể suy ra hàm chi phí tối ưu C* theo sản lượng Y và các mức giá Pi,j Đối với mô hình Translog, C* có thể được biểu diễn dưới dạng logarit tự nhiên: lnC* = f(lnY, lnP1, lnP2, …, lnPm) Phương trình lnC* được phát triển từ chuỗi Taylor bậc 2 như sau: lnC* = α0 + αY*lnY + *lnPi + *.

Hàm chi phí cần đáp ứng ba tính chất cơ bản: tính thuần nhất bậc 1 đối với giá đầu vào, tính không giảm theo giá đầu vào, và tính lồi đối với giá đầu vào trong khi hàm sản lượng phải lồi Do đó, các ràng buộc cần được thỏa mãn là = 1.

Bổ đề toán học Shephard về tính đối ngẫu cho biết vec-tơ = ∂C*/∂P i Bên cạnh đó

Các tỷ phần yếu tố chi phí, ký hiệu là s_i, được xác định bằng cách lấy đạo hàm bậc nhất riêng phần của lnC* theo các biến lnPi Điều này cho thấy rằng s_i = α i +

+ Các độ co giãn của cầu các yếu tố đầu vào theo giá được tính theo công thức: ɛii =

3.1.2 Các nghiên cứu có liên quan, dữ liệu nghiên cứu và phương pháp ước lượng a Tổng quan các nghiên cứu có liên quan Đối với phân bón, độ co giãn của cầu theo giá được tìm thấy trong nhiều tài liệu kinh tế học nông nghiệp của các nước Trong nghiên cứu về độ co giãn của cầu theo giá và độ co giãn chéo các nhân tố đầu vào phục vụ nông nghiệp ở Mỹ, Binswanger (1973) đã sử dụng dữ liệu bảng ở cấp độ các bang theo cách tiếp cận hàm chi phí cho cả mô hình

Nghiên cứu sử dụng mô hình Translog và Cobb-Douglas nhằm xác định độ co giãn của cầu các yếu tố sản xuất theo giá, đồng thời tìm ra yếu tố có khả năng thay thế tốt nhất cho các yếu tố khác Tác giả đã thu thập dữ liệu từ năm yếu tố: đất đai, lao động, máy móc, phân bón và các yếu tố khác, sau đó thiết lập hệ phương trình hồi quy tỷ phần chi phí theo giá của các yếu tố đầu vào và sản lượng đầu ra Kết quả nghiên cứu của Binswanger chỉ ra rằng độ co giãn của cầu phân bón theo giá là -0,94.

Nghiên cứu của Mensah-Bonsu (2010) đã tiến hành các tính toán định lượng để xác định ảnh hưởng của các yếu tố đặc tính hộ gia đình và giá cả các yếu tố đầu vào đến nhu cầu vật tư, dịch vụ nông nghiệp ở miền Bắc Ghana Tác giả đã chọn bốn yếu tố đầu vào chính, bao gồm chi phí cày bừa đất, phân bón, thuê lao động và hạt giống Để phù hợp với dữ liệu hộ gia đình, các biến đặc tính hộ như số người lớn, diện tích canh tác, số gia súc, số tiền hỗ trợ, trình độ học vấn và vị trí cư trú cũng được đưa vào hệ phương trình hồi quy Translog Kết quả cho thấy độ co giãn của cầu phân bón theo giá là -1,2.

Nghiên cứu của Steiner (2014) về cân bằng cung – cầu trên thị trường phân bón toàn cầu đã tổng hợp độ co giãn của cầu phân bón theo giá từ các nghiên cứu trước đó Cụ thể, độ co giãn này được phân tích cho từng loại phân Đạm, Lân, Kali và cho các loại cây trồng ở Mỹ, Canada, Trung Quốc, Ấn Độ, Nga và các quốc gia khác Kết quả cho thấy tất cả các độ co giãn đều nhỏ hơn 0 và nằm trong khoảng từ -0,08 đến -0,4.

Từ các nghiên cứu về độ co giãn của cầu phân bón theo giá, có thể rút ra một số điểm quan trọng: (i) cầu phân bón có độ co giãn theo giá nhỏ hơn 0, cho thấy tính kém co giãn; (ii) ngoài các yếu tố thông thường như giá lao động, giá đất, giá phân bón, giá máy nông nghiệp và giá thuê dịch vụ hỗ trợ canh tác, phương pháp hồi quy tỷ phần chi phí Translog còn khai thác thêm các biến đặc tính của hộ gia đình để phân tích dữ liệu nghiên cứu.

Dựa trên mô hình chi phí Translog của Binswanger và Mensah-Bonsu, tác giả đã điều chỉnh và đưa vào mô hình của mình một số biến, đồng thời loại bỏ một số biến đặc tính hộ gia đình từ nghiên cứu gốc của Mensah-Bonsu để phù hợp hơn với thực tế tại Việt Nam.

Bảng 3.1 - Mô tả các biến được đưa vào mô hình ước lượng hàm cầu 19

Biến s_i đại diện cho tỷ phần chi phí của yếu tố đầu vào i trong tổng chi phí trồng trọt, với các yếu tố bao gồm phân bón (f), đất đai (n), lao động (l), máy móc (m), và dịch vụ - vật liệu khác (s).

Ln(P i ) Logarit cơ số tự nhiên của giá yếu tố đầu vào i (i

= f: phân bón, n: đất đai, l: lao động, m: máy móc, s: dịch vụ - vật liệu khác)

Binswanger, Mensah – Bonsu Định lượng

Ln(Y) Logarit cơ số tự nhiên của sản lượng đầu ra Binswanger Định lượng

Các biến đặc tính của nông hộ

Ln(Z) Logarit cơ số tự nhiên diện tích đất canh tác Mensah-Bonsu Định lượng

Ln(G) Logarit cơ số tự nhiên số người làm trồng trọt Cải biến dựa theo

Biến giả được sử dụng để đại diện cho trình độ học vấn, với giá trị là 1 nếu số năm đi học trung bình của thành viên cao hơn mức trung bình của cả nước, và giá trị là 0 nếu thấp hơn.

Ước lượng hàm cung phân bón

Theo tác giả, chưa có nghiên cứu nào định lượng phản ứng sản lượng phân bón tại Việt Nam trước sự thay đổi giá Do hạn chế trong việc thu thập dữ liệu sản xuất nội địa, tác giả đã dựa vào nghiên cứu của Steiner (2014) để xác định mức độ phản ứng trung bình của sản lượng phân bón toàn cầu trước giá bán Kết quả cho thấy ngành phân bón trong nước có độ co giãn khai thác công suất theo thu nhập ròng kỳ vọng là 0,4 Từ đó, tác giả tính toán độ co giãn cung phân bón theo giá tại Việt Nam là 0,6 (xem chi tiết tại Phụ lục 10).

KẾT QUẢ PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN

Dữ liệu thị trường về cung – cầu, xuất nhập khẩu phân bón

Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng số liệu về cung và cầu của sáu loại phân bón hóa học chính tại Việt Nam trong năm 2014, bao gồm Urê, DAP, NPK, SA, Kali và Lân Các dữ liệu về lượng cung và chỉ số tồn kho cuối năm 2014, cũng như lượng tồn kho cuối năm 2013 được công bố bởi Bộ Công thương Thông tin về lượng xuất và nhập khẩu trong năm 2014 được lấy từ Tổng cục Hải quan, trong khi lượng cầu được tính toán dựa trên lượng cung sau khi đã điều chỉnh cho xuất nhập khẩu và tồn kho.

Giá các loại phân bón trong năm 2014 được xác định dựa trên mức giá trung bình từ Tập đoàn Hóa chất và Công ty Cổ phần Vật tư Nông sản Apromaco, một trong những nhà phân phối lớn nhất tại Việt Nam Đây là giá bán buôn mà các công ty phân phối khu vực cung cấp cho các đại lý cấp 1.

Thuế suất thuế nhập khẩu phân bón các loại được tác giả tham khảo từ các Thông tư của Bộ Tài chính

Dưới đây là bảng tóm tắt số liệu lượng cung cầu, xuất nhập khẩu và thuế suất nhập khẩu các loại phân bón trong năm 2014 21 :

21 Chi tiết xem Phụ lục 11

Bảng 4.1 - Số liệu cung cầu, xuất nhập khẩu và thuế suất thuế nhập khẩu phân bón Đơn vị tính: tấn

Lượng cung cho tiêu thụ nội địa

Lượng nhập khẩu cho tiêu thụ nội địa

Lượng cầu nội địa Giá bán buôn (1 tấn)

Thuế suất thuế nhập khẩu

(Nguồn: tác giả tổng hợp số liệu từ các nguồn khác)

Xác định độ co giãn của cầu phân bón theo giá

Tác giả áp dụng phương pháp SUR để ước lượng các hệ số hồi quy cho hệ các phương trình tỷ phần chi phí đầu vào, với việc loại bỏ phương trình tỷ phần chi phí đất (s_n) nhằm tránh ma trận hiệp phương sai suy biến Các hệ số hồi quy được tính toán từ bốn phương trình tỷ phần chi phí còn lại, dựa trên các điều kiện ràng buộc về tính đối xứng và tính thuần nhất Kết quả kiểm định Breusch-Pagan chỉ ra rằng các phần dư của bốn phương trình tỷ phần chi phí (s_f, s_l, s_m, s_s) có tương quan, cho thấy việc áp dụng kỹ thuật SUR là hợp lý Đồng thời, kết quả kiểm định Chi-square về các điều kiện ràng buộc thuần nhất khẳng định tính khác 0 về mặt thống kê của các hệ số hồi quy trong phương trình (s_n).

22 Chi tiết xem Phụ lục 13

Bảng 4.2 – Kết quả kiểm định các điều kiện ràng buộc của mô hình

Kiểm định Giá trị χ 2 Ý nghĩa của kết quả kiểm định Kiểm định Breusch-Pagan về tính độc lập của các phần dư 5150,380 ***

Các phần dư của s_f, s_m, s_l, s_s có tương quan với nhau

Các điều kiện thuần nhất

Bậc 1 với các yếu tố đầu vào được xác định bởi phương trình βF + βL + βM + βS = 1, với βN ≠ 0 tại mức ý nghĩa 1% Các hệ số δ cho thấy mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào: δFF + δLF + δMF + δSF = 0 có giá trị 3,76 và δNF ≠ 0 tại mức ý nghĩa 10% Tương tự, δFL + δLL + δML + δSL = 0 với giá trị 192,1 và δNL ≠ 0 tại mức ý nghĩa 1% Các hệ số δFM + δLM + δMM + δSM = 0 có giá trị 13,82 và δNM ≠ 0 tại mức ý nghĩa 1% Cuối cùng, δFS + δLS + δMS + δSS = 0 với giá trị 14,13 và δNS ≠ 0 tại mức ý nghĩa 1%.

Các biến đặc tính liên quan đến thu nhập cho thấy mối quan hệ đáng kể, với δFY + δLY + δMY + δSY = 0 và δNY ≠ 0 đạt mức ý nghĩa 1% Tương tự, δFG + δLG + δMG + δSG = 0 với δNG ≠ 0 cũng đạt mức ý nghĩa 1% Đối với δFE + δLE + δME + δSE = 0, δNE ≠ 0 có mức ý nghĩa 5% Ngoài ra, δFlo + δLlo + δMlo + δSlo = 0 với δNlo ≠ 0 đạt mức ý nghĩa 1%, và cuối cùng, δFZ + δLZ + δMZ + δSZ = 0 cho thấy δNZ ≠ 0 cũng đạt mức ý nghĩa 1%.

*** chỉ mức ý nghĩa 1%, ** chỉ mức ý nghĩa 5%, * chỉ mức ý nghĩa 10%

(Nguồn: tác giả tự thực hiện)

Kết quả hồi quy hệ bốn phương trình s_f, s_l, s_m, s_s bằng SUR như sau 24 :

Bảng 4.3 - Kết quả hồi quy hệ phương trình Translog bằng SUR

Các biến Hệ số hồi quy cho các phương trình tỷ phần chi phí

Phân bón Dịch vụ Lao động Máy móc Đất đai

Hằng số -0,2989965 *** 0,0752427 *** 1,165595 *** -0,0101371 0,0682959 ln(pf) 0,0210505 *** 0,0004047 *** -0,0240329 *** 0,0038603 *** -0,0012826 ln(pn) -0,0012826 * -0,0016759 *** -0,0124177 *** -0,0013463 *** 0,0167225 ln(pl) -0,0240329 *** -0,0854319 *** 0,1304873 *** -0,0086048 *** -0,0124177 ln(pm) 0,0038603 *** -0,0160492 *** -0,0086048 *** 0,02214 *** -0,0013463 ln(ps) 0,0004047 0,1027522 *** -0,0854319 *** -0,0160492 *** -0,0016758 ln(y) 0,050617 *** 0,0679427 *** -0,1204319 *** 0,007251 *** -0,0053788 ln(z) 0,0033882 ** -0,004428 *** -0,0147496 *** 0,0016041 ** 0,0141853 ln(g) -0,0656061 *** -0,0805382 *** 0,163234 *** -0,0070521 *** -0,0100376

*** chỉ mức ý nghĩa 1%, ** chỉ mức ý nghĩa 5%, * chỉ mức ý nghĩa 10%

(Nguồn: tác giả tự thực hiện trên STATA)

24 Chi tiết xem Phụ lục 13

Nhận xét về các hệ số hồi quy:

Hầu hết các hệ số hồi quy của các biến giá như ln(pf), ln(ps), ln(pl), ln(pm) đều có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa dưới 10% Tuy nhiên, ý nghĩa kinh tế của chúng lại không cao, điều này sẽ được thể hiện qua các độ co giãn của cầu đối với các yếu tố đầu vào theo giá, sẽ được tính toán cụ thể trong phần dưới.

Các hệ số hồi quy của các biến phi giá cả như ln(y) (thu nhập từ hoạt động trồng trọt), ln(z) (diện tích canh tác), ln(g) (số người làm trồng trọt), trình độ giáo dục (De) và địa bàn cư trú (lo) đều có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa < 10% Ý nghĩa kinh tế của các hệ số hồi quy này cho thấy mối liên hệ quan trọng giữa các yếu tố này và hoạt động nông nghiệp.

Khi thu nhập từ hoạt động trồng trọt tăng lên, các nông hộ có xu hướng gia tăng sử dụng phân bón, máy móc và dịch vụ vật liệu khác, trong khi giảm bớt lao động thủ công và diện tích canh tác Sự chuyển đổi này từ hình thức canh tác quảng canh sang thâm canh được lý giải bởi nhu cầu tối ưu hóa sản xuất trong bối cảnh thu nhập cao hơn.

Diện tích canh tác ảnh hưởng đến tầm quan trọng của các yếu tố sản xuất trong nông nghiệp Cụ thể, khi diện tích canh tác của các hộ gia đình tăng lên, vai trò của đất đai, phân bón và máy móc trở nên quan trọng hơn so với lao động trực tiếp và các dịch vụ - vật liệu khác.

Số lượng người tham gia trồng trọt trong hộ gia đình có ảnh hưởng lớn đến việc sử dụng nguồn lực Khi số người làm nông tăng lên, hộ gia đình có xu hướng tận dụng nhiều hơn nguồn lực sẵn có, đồng thời giảm bớt việc sử dụng phân bón, máy móc, dịch vụ và vật liệu khác, cũng như đất đai.

Trình độ giáo dục của hộ gia đình ảnh hưởng đến việc sử dụng phân bón và máy móc Cụ thể, nếu số năm đi học bình quân của các thành viên trong hộ cao hơn mức bình quân cả nước, hộ đó có xu hướng sử dụng nhiều phân bón và máy móc hơn so với các yếu tố như đất đai, dịch vụ và vật liệu khác.

Độ co giãn của cầu yếu tố đầu vào theo giá được xác định từ hệ số ước lượng của các biến giá Ví dụ, đối với phân bón, hệ số ước lượng là [s_f]ln(pf) = 0,0210505, trong khi giá trị trung bình của tỷ phần chi phí phân bón trong mẫu 4.299 quan sát là 0,1408423 Từ đó, độ co giãn của cầu phân bón theo giá được tính toán là ɛ f =

+ – 1 (0,0210505/0,1408423) + 0,1408423 – 1 = - 0,7 Làm tương tự cho các yếu tố đầu vào còn lại như máy móc, lao động, đất đai, vật liệu – dịch vụ khác thì thu được bảng như sau:

Bảng 4.4 trình bày kết quả về độ co giãn của cầu theo giá đối với các yếu tố đầu vào như phân bón, máy móc, lao động, đất đai, và vật liệu & dịch vụ khác Thông tin này giúp hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa giá cả và lượng cầu trong lĩnh vực nông nghiệp.

*** chỉ mức ý nghĩa 1%, riêng độ co giãn của cầu yếu tố máy móc theo giá có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 12%

(Nguồn: tác giả tự tính)

Các độ co giãn tính được có dấu âm và độ lớn nhỏ hơn 1 tương đồng với kết quả của Binswanger, Mensah-Bonsu và Steiner, cũng như lý thuyết kinh tế học chung Trong ngắn hạn, đầu vào của ngành nông nghiệp là các yếu tố thiết yếu, dẫn đến cầu kém co giãn theo giá Tuy nhiên, vẫn tuân theo quy luật rằng giá tăng thì lượng cầu giảm và ngược lại.

Thay đổi phúc lợi các bên trên thị trường phân bón

Tác giả đã tóm tắt kết quả so sánh sự thay đổi phúc lợi của các bên trong ba kịch bản thuế GTGT đối với từng loại phân bón Các yếu tố được phân tích bao gồm thặng dư người tiêu dùng (CS), thặng dư bên bán (PS), số thuế phải nộp cho Nhà nước (G), gánh nặng thuế đối với bên mua và bên bán, cùng với phúc lợi xã hội (SW) So sánh được thực hiện giữa hai kịch bản không đánh thuế GTGT và thuế suất 0% với kịch bản gốc có thuế suất 5%.

25 Chi tiết tính toán - xem tại Phụ lục 14

26 Ở đây khái niệm thặng dư bên bán (Provider surplus) được hiểu là bao gồm thặng dư nhà sản xuất (Producer surplus) và thặng dư nhà phân phối (Distributor surplus)

Bảng 4.5 - So sánh phân phối lợi ích riêng phần của ba bên giữa ba phương án thuế GTGT Đơn vị tính: tỷ đồng

So sánh Thị trường phân bón SA NPK DAP KALI URÊ LÂN

VAT5% ΔCS 5.318,06 256,46 2.018,33 1.129,63 558,48 1.325,29 29,88 ΔPS -236,35 3,46 -246,34 1,75 7,54 -162,08 159,32 ΔG -5.055,26 -234,03 -1.815,51 -1.015,29 -509,65 -1.225,18 -255,60 ΔG - người mua -4.964,57 -234,03 -1.738,34 -1.011,48 -509,65 -1.174,41 -296,66 ΔG - người bán -90,69 0 -77,17 -3,81 0 -50,76 41,06 ΔSW 26,46 25,89 -43,51 116,09 56,37 -61,97 -66,41

VAT5% ΔCS 5.442,96 256,46 2.018,33 1.129,63 558,48 1.325,29 154,77 ΔPS 196,50 3,46 27,26 15,26 7,54 17,90 125,07 ΔG -4.987,05 -234,03 -1.778,05 -1.012,49 -509,65 -1.187,85 -264,98 ΔG - người mua -5.019,49 -234,03 -1.778,05 -1.012,49 -509,65 -1.187,85 -297,42 ΔG - người bán 32,44 0 0 0 0 0 32,44 ΔSW 652,40 25,89 267,54 132,40 56,37 155,34 14,85

(Nguồn: tác giả tự tính)

Từ bảng số liệu trên, một số kết quả phân tích được rút ra như sau:

Đối với người nông dân, việc không đánh thuế GTGT hoặc áp dụng thuế suất 0% mang lại lợi ích lớn hơn so với thuế suất 5%, với gánh nặng thuế giảm lần lượt 4.964 tỷ đồng và 5.019 tỷ đồng, tương đương khoảng 5,5% - 5,6% trong tổng số tiền 89.577 tỷ đồng đã chi cho phân bón năm 2014 Đồng thời, thặng dư người tiêu dùng cũng tăng lên 5.318 tỷ đồng và 5.443 tỷ đồng Trong đó, phương án thuế suất 0% giúp gia tăng lợi ích cho người nông dân thêm 55 tỷ đồng và tăng 125 tỷ đồng thặng dư người tiêu dùng hàng năm so với phương án không đánh thuế GTGT.

Để đánh giá đầy đủ số thu ngân sách Nhà nước và phúc lợi xã hội ròng, cần xem xét sự thay đổi trên thị trường phân bón thông qua các chỉ số ΔG và ΔSW Tuy nhiên, việc tính toán các chênh lệch này cần phải thực hiện phân tích liên phần với thị trường các yếu tố đầu vào chịu thuế GTGT trong sản xuất phân bón Phần 4.4 sẽ tiến hành phân tích này và tính toán tác động tổng hợp đến số thu thuế và phúc lợi xã hội ròng.

Đối với bên bán, bao gồm các nhà sản xuất và phân phối, phương án không đánh thuế GTGT mang lại lợi ích cao nhất với việc tăng lợi nhuận ròng thêm 196 tỷ đồng so với thuế suất 5% Mặc dù phương án thuế suất 0% có thể cải thiện lợi nhuận tổng thể cho phía cung phân bón, nhưng lợi ích này không đồng nhất cho tất cả các chủ thể khi phân tích chi tiết từng loại phân bón và tách riêng nhà sản xuất với nhà phân phối Sự khác biệt này được thể hiện qua biến động sản lượng phân bón sản xuất nội địa, nhập khẩu, tiêu thụ, và lợi nhuận ròng của các nhà sản xuất và nhà phân phối giữa các phương án thuế GTGT.

27 Số liệu tính toán từ VHLSS 2014 cho biết giá phân bón trung bình của 4.299 hộ = 9.644.233 đồng/tấn

Vào năm 2014, tổng chi phí mà các nông hộ phải chi để mua phân bón ước tính khoảng 89.557 tỷ đồng, dựa trên sản lượng tiêu thụ trong nước đạt 9.286.049 tấn.

Bảng 4.6 - So sánh sản lượng phân bón nội địa – nhập khẩu – tiêu thụ ở ba kịch bản thuế GTGT (Đơn vị tính: tấn)

Loại phân Urê (nhập khẩu một phần) NPK (nhập khẩu một phần) DAP (nhập khẩu một phần)

Kịch bản Q nội địa Q nhập Q tiêu thụ Q nội địa Q nhập Q tiêu thụ Q nội địa Q nhập Q tiêu thụ 5% VAT rate 1.967.306 224.200 2.191.506 2.322.771 269.478 2.592.249 84.399 983.010 1.067.409

0% VAT rate 1.967.306 326.470 2.293.776 2.322.771 390.449 2.713.220 84.399 1.032.822 1.117.221 Loại phân SA (nhập khẩu toàn bộ) Kali (nhập khẩu toàn bộ) Lân (không nhập khẩu)

Kịch bản Q nội địa Q nhập Q tiêu thụ Q nội địa Q nhập Q tiêu thụ Q nội địa Q nhập Q tiêu thụ

(Nguồn: tác giả tự tính)

Bảng 4.7 - So sánh lợi nhuận của nhà sản xuất – phân phối ở ba kịch bản thuế GTGT (Đơn vị tính: tỷ đồng)

Loại phân Urê (nhập khẩu một phần) NPK (nhập khẩu một phần) DAP (nhập khẩu một phần)

Kịch bản Nhà SX nội địa Nhà Phân phối Nhà SX nội địa Nhà Phân phối Nhà SX nội địa Nhà Phân phối

Loại phân SA (nhập khẩu toàn bộ) Kali (nhập khẩu toàn bộ) Lân (không nhập khẩu)

Kịch bản Nhà SX nội địa Nhà Phân phối Nhà SX nội địa Nhà Phân phối Nhà SX nội địa Nhà Phân phối

(Nguồn: tác giả tự tính)

Các loại phân bón nhập khẩu một phần như Urê, NPK, DAP có sản lượng và lợi nhuận của các nhà sản xuất trong nước tương đương ở mức thuế GTGT 5% và 0%, nhưng cao hơn trong trường hợp không áp dụng thuế Điều này lý giải vì sao các công ty phân bón chủ chốt thuộc Tập đoàn Hóa chất và Tập đoàn dầu khí, chiếm 100% sản lượng Urê, DAP và một phần lớn sản lượng NPK nội địa, phản đối việc miễn thuế GTGT cho phân bón.

Các trung gian phân phối được cho là thu lợi nhuận định mức từ doanh thu bán lẻ phân bón, với lợi nhuận trong kịch bản thuế suất GTGT 0% tương đương với kịch bản không đánh thuế GTGT và cao hơn so với kịch bản thuế suất GTGT 5%.

Các loại phân bón nhập khẩu toàn bộ như SA và Kali có ảnh hưởng đến sản lượng và lợi nhuận của các nhà nhập khẩu, phân phối trong nước Cụ thể, trong trường hợp không đánh thuế hoặc áp dụng thuế suất GTGT 0%, sản lượng và lợi nhuận sẽ giống nhau, trong khi kịch bản thuế suất GTGT 5% sẽ tạo ra sự chênh lệch lớn hơn.

Trong phân tích về phân bón sản xuất trong nước, sản lượng ở kịch bản thuế suất GTGT 5% thấp hơn sản lượng ở kịch bản không đánh thuế GTGT, và sản lượng ở kịch bản thuế suất GTGT 0% cao nhất Mặc dù vậy, lợi nhuận của nhà sản xuất trong nước và các trung gian phân phối đạt mức cao nhất trong kịch bản không đánh thuế, giảm dần trong kịch bản thuế suất GTGT 0% và thấp nhất ở kịch bản thuế suất GTGT 5%.

Trong lĩnh vực ngoại thương, các nhà sản xuất và nhập khẩu phân bón tại Việt Nam đạt được lợi ích tối đa với thuế suất GTGT 0% Khi không có ngoại thương, phương án không đánh thuế GTGT cũng mang lại lợi ích cao cho các nhà sản xuất và phân phối Tuy nhiên, do chỉ có phân Lân được sản xuất hoàn toàn trong nước, trong khi các loại phân bón khác chủ yếu phải nhập khẩu, nên các nhà cung cấp trong nước đều đồng thuận lựa chọn thuế suất 0%.

Tác động tổng hợp của thay đổi chính sách thuế GTGT với phân bón

Tác giả đưa ra giả định hợp lý và thực tế về thuế GTGT để chứng minh rằng nếu doanh thu thuế GTGT trên tất cả các công đoạn sản xuất yếu tố đầu vào của ngành phân bón là 1 đồng, thì độ lớn của DWL trong thị trường này nằm trong khoảng (0;1/42 đồng) Kết quả này được tổng hợp trong bảng sau ở mục 4.3.

28 Chi tiết xem Phụ lục 15

Bảng 4.8 – So sánh phân phối lợi ích liên phần giữa ba phương án thuế GTGT Đơn vị tính: tỷ đồng

So sánh Tổng cộng SA NPK DAP KALI URÊ LÂN

VAT5% ΔCS riêng phần 5.318,06 256,46 2.018,33 1.129,63 558,48 1.325,29 29,88 ΔPS riêng phần -236,35 3,46 -246,34 1,75 7,54 -162,08 159,32 ΔG riêng phần -5.055,26 -234,03 -1.815,51 -1.015,29 -509,65 -1.225,18 -255,60

+ ΔG - người bán -90,69 0 -77,17 -3,81 0 -50,76 41,06 ΔG liên phần (1) -4.420,70 -234,03 -1.483,69 -998,90 -509,65 -1.006,89 -187,54 ΔSW riêng phần (5) 26,46 25,89 -43,51 116,09 56,37 -61,97 -66,41 ΔSW liên phần min (3) 11,35 25,89 -51,41 115,70 56,37 -67,17 -68,03

VAT5% ΔCS riêng phần 5.442,96 256,46 2.018,33 1.129,63 558,48 1.325,29 154,77 ΔPS riêng phần 196,50 3,46 27,26 15,26 7,54 17,90 125,07 ΔG riêng phần -4.987,05 -234,03 -1.778,05 -1.012,49 -509,65 -1.187,85 -264,98

+ ΔG - người bán 32,44 0 0 0 0 0 32,44 ΔG liên phần (2) -4.987,05 -234,03 -1.778,05 -1.012,49 -509,65 -1.187,85 -264,98 ΔSW riêng phần 652,40 25,89 267,54 132,40 56,37 155,34 14,85 ΔSW liên phần (4) 652,40 25,89 267,54 132,40 56,37 155,34 14,85

Chênh lệch ΔG liên phần = (2) - (1) -566,35 0 -294,36 -13,59 0 -180,96 -77,44 Chênh lệch ΔSW liên phần max = [(4) - (3)] 641,05 0 318,96 16,70 0 222,50 82,88

Tỷ lệ chênh lệch ΔSW liên phần max = [(4)–(3)]/(4) 98,26% 0% 119,22% 12,62% 0% 143,24% 557,95% Chênh lệch ΔSW liên phần min = [(4) - (5)] 625,94 0 311,06 16,31 0 217,31 81,26

Tỷ lệ chênh lệch ΔSW liên phần min = [(4)-(5)]/(4) 95,94% 0% 116,26% 12,32% 0% 139,89% 547,04%

Tỷ lệ tự đảm bảo = [cung nội địa/cầu] 0% 89,60% 7,91% 0% 89,77% 100%

(Nguồn: tác giả tự tính)

Từ bảng số liệu này tác giả rút ra được một số kết quả quan trọng như sau:

Khi so sánh các phương án thuế suất thuế GTGT cho phân bón, phương án không đánh thuế GTGT sẽ làm giảm tổng nguồn thu thuế của Nhà nước khoảng 4.421 tỷ đồng, trong khi phương án thuế suất 0% sẽ giảm tới 4.987 tỷ đồng Do đó, nếu xem xét từ góc độ bảo vệ nguồn thu thuế, việc không đánh thuế GTGT cho phân bón sẽ tiết kiệm cho ngân sách khoảng 566 tỷ đồng mỗi năm.

So với phương án thuế suất thuế GTGT 5%, việc không đánh thuế GTGT với phân bón sẽ tăng phúc lợi xã hội từ 11,35 tỷ đồng đến 26,46 tỷ đồng mỗi năm Trong khi đó, áp dụng thuế suất 0% sẽ nâng phúc lợi xã hội thêm 652,4 tỷ đồng mỗi năm Điều này cho thấy rằng, so với việc không đánh thuế GTGT với phân bón, thuế suất 0% sẽ cải thiện phúc lợi xã hội ít nhất 626 tỷ đồng và tối đa 641 tỷ đồng hàng năm.

Mối liên hệ giữa thiệt hại phúc lợi xã hội và chính sách không đánh thuế GTGT đối với phân bón cho thấy rằng, khi không áp dụng thuế GTGT trong bối cảnh hạn chế nhập khẩu, tổn thất xã hội sẽ gia tăng, đặc biệt nếu đã theo đuổi chính sách tự cung tự cấp Cụ thể, phân Lân, với 100% sản xuất trong nước nhờ nguồn quặng Apatit dồi dào tại Lào Cai, có tỷ lệ chênh lệch phúc lợi xã hội lên đến gần 550% giữa không đánh thuế và thuế suất 0% Ngược lại, phân DAP chủ yếu nhập khẩu chỉ có tỷ lệ chênh lệch thấp 12% Các loại phân NPK và Urê, chủ yếu sản xuất trong nước, cũng cho thấy tỷ lệ chênh lệch phúc lợi xã hội vượt 116% giữa hai chính sách thuế này.

Nguyên nhân khác biệt giữa các phương án

Bằng cách kết hợp các đường cung trong ba kịch bản thuế GTGT trên cùng một đồ thị, tác giả tóm tắt sự khác biệt về thặng dư người tiêu dùng và sản lượng.

29 Phụ lục 16 giải thích về mặt lý thuyết nhận định rút ra từ số liệu thực nghiệm này của tác giả

Ngành sản xuất Lân tại Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức và cơ hội, theo báo cáo của FPT Securities năm 2015 Lợi nhuận của các nhà sản xuất nội địa và các nhà phân phối có sự biến động đáng kể, phụ thuộc vào các kịch bản thuế khác nhau Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến số thu thuế của Nhà nước, đòi hỏi sự điều chỉnh chính sách phù hợp để tối ưu hóa lợi ích cho các bên liên quan.

Hình 4.1 - Ba kịch bản thuế với các loại phân bón có nhập khẩu trên một đồ thị

(Nguồn: tác giả tự xây dựng)

Hình vẽ minh họa các loại phân bón nhập khẩu một phần như Urê, NPK và DAP để đáp ứng nhu cầu trong nước Các đường cung S0%, S5%, và SVATexempt thể hiện sản lượng của các nhà sản xuất trong nước dưới các mức thuế GTGT 0%, 5% và không đánh thuế Sản lượng phân bón trong nước Q1, Q2, Q4, và Q5 được sản xuất ở mức thuế GTGT 0% và 5% Giá bán ra P1 và P7 không bao gồm thuế GTGT ở kịch bản thuế 5%, tương ứng với giá bán của nhà sản xuất trong nước ở mức thuế 0% hoặc không đánh thuế Giá bán lẻ phân bón đến tay nông dân là P2, P3, P8, và P9 khi thuế suất GTGT bằng 0% hoặc không đánh thuế Sản lượng tiêu thụ Q3 và Q9 diễn ra khi không có thuế GTGT, trong khi Q6 là sản lượng tiêu thụ khi thuế suất GTGT là 5% Giá bán lẻ đến tay nông dân khi thuế suất GTGT là 5% được thể hiện qua P5 và P6.

Sản lượng tiêu thụ và giá bán lẻ cuối cùng của các loại phân bón nhập khẩu một phần như Urê, NPK, DAP là tương đương trong kịch bản thuế GTGT 0% và không đánh thuế GTGT, giống như các loại phân bón nhập khẩu hoàn toàn như SA, Kali Sản lượng này cao hơn so với mức tiêu thụ khi áp dụng thuế GTGT 5%, trong khi giá bán lẻ khi thuế suất 0% hoặc không đánh thuế lại thấp hơn so với giá bán lẻ ở trạng thái thuế GTGT 5% Do đó, thặng dư người tiêu dùng trong kịch bản thuế GTGT 0% và không đánh thuế GTGT là giống nhau và lớn hơn so với kịch bản thuế GTGT 5%.

Khoảng cách giữa đường S0% và S5% phản ánh thuế GTGT đầu ra 5% đối với nhà sản xuất trong nước, dẫn đến chi phí biên thực tế (không tính thuế GTGT) của nhà sản xuất ở cả hai kịch bản này là giống nhau và bằng diện tích Δ011* Lợi nhuận của nhà sản xuất trong nước khi áp dụng thuế suất 0% và 5% đạt 78%*(SΔ011* - Chi phí cố định), cao hơn so với lợi nhuận trong kịch bản không áp dụng thuế GTGT, là 78%*(SΔ077* - Chi phí cố định).

Các nhà phân phối, bao gồm các công ty phân phối vùng miền và đại lý, đều thu lợi nhuận từ doanh thu bán lẻ phân bón, không phân biệt giữa phân bón nội địa và nhập khẩu Doanh thu bán lẻ trong kịch bản không đánh thuế và thuế suất 0% tương đương nhau, trong khi doanh thu ở kịch bản thuế suất 5% thấp hơn Tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu bán lẻ tại kịch bản thuế suất 5% cũng là thấp nhất Vì vậy, lợi nhuận của các nhà phân phối Urê, DAP, NPK, SA, Kali đều giống nhau ở kịch bản thuế suất 0% và không đánh thuế, nhưng cao hơn so với kịch bản thuế suất 5%.

Hình 4.2 - Ba kịch bản thuế với loại phân bón sản xuất nội địa 100% trên một đồ thị

(Nguồn: tác giả tự xây dựng)

Hình vẽ minh họa các đường cung phân bón trong nước, đặc biệt là phân Lân, dưới ba kịch bản thuế GTGT khác nhau Ở kịch bản thuế GTGT 0%, đường cung trong nước được biểu thị bằng S0%, với sản lượng sản xuất là Q1 = Q2 và giá bán ra của nhà sản xuất là P1, trong khi giá bán lẻ tới nông dân là P2 Trong kịch bản thuế GTGT 5%, đường cung trong nước là S5%, sản lượng sản xuất đạt Q3 = Q4, với giá bán ra của nhà sản xuất là P3 và giá bán lẻ tới nông dân là P4 Cuối cùng, kịch bản không áp dụng thuế GTGT cũng được đề cập.

S VATexempt đại diện cho nguồn cung trong nước, trong khi Q5 thể hiện sản lượng sản xuất P5 là giá bán của các nhà sản xuất trong nước, còn P6 là giá bán lẻ phân bón đến tay người nông dân.

Sản lượng tiêu thụ cao nhất được ghi nhận ở kịch bản thuế suất 0%, trong khi kịch bản không đánh thuế GTGT cũng có sản lượng tiêu thụ lớn hơn so với kịch bản thuế suất 5% Giá bán lẻ trong kịch bản thuế suất 5% cao hơn so với kịch bản không đánh thuế GTGT và kịch bản thuế suất 0% Thặng dư người tiêu dùng ở kịch bản thuế suất 5% thấp hơn so với kịch bản không đánh thuế GTGT và cũng thấp hơn kịch bản thuế suất 0% Các khác biệt về lợi nhuận của nhà sản xuất, nhà phân phối và số thu thuế trong ba kịch bản thuế GTGT được trình bày chi tiết tại Phụ lục 14.

Phân tích chính sách thuế GTGT đối với phân bón

Theo nguyên lý thuế khóa, đánh thuế các hàng hóa có cung cầu kém co giãn như phân bón sẽ gây ít tổn thất cho xã hội hơn so với hàng hóa có tính co giãn cao Thuế GTGT được coi là sắc thuế ưu việt vì tránh đánh thuế trùng lắp và dễ áp dụng hơn so với thuế thu nhập hay thuế tài sản Tuy nhiên, thuế GTGT có tính chất lũy thoái khi áp dụng cho hàng hóa, dịch vụ thiết yếu, ảnh hưởng lớn đến người nghèo Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế, các nước thường dựa vào thuế GTGT để tạo nguồn thu, nhưng khi kinh tế phát triển, mức độ phụ thuộc vào thuế này giảm dần do sự nhấn mạnh vào tính công bằng Sự chuyển đổi này thường được xem xét trong dài hạn, trong khi hiệu quả và khả thi của sắc thuế vẫn cần được cân nhắc trong ngắn hạn.

Theo số liệu ở Bảng 4.7, việc không đánh thuế GTGT sẽ làm phúc lợi xã hội ròng tăng từ 11 - 26 tỷ đồng, trong khi thuế suất 0% sẽ mang lại mức tăng lên tới 652 tỷ đồng Do đó, về hiệu quả kinh tế, phương án thuế suất GTGT 0% là tốt nhất, tiếp theo là phương án không đánh thuế, và cuối cùng là phương án thuế suất 5%.

Nghiên cứu chỉ ra rằng trong bối cảnh chính sách khuyến khích sản xuất nội địa để thay thế nhập khẩu, việc không áp dụng thuế GTGT sẽ dẫn đến chi phí phúc lợi xã hội cao hơn so với phương án thuế suất GTGT 0% Phát triển ngành phân bón Việt Nam trong hơn 10 năm qua cho thấy Chính phủ đang nỗ lực hạn chế nhập khẩu và bảo vệ doanh nghiệp nội địa trước áp lực cạnh tranh từ phân bón ngoại Tương lai, mức độ tự đảm bảo nguồn cung sẽ mở rộng đến các sản phẩm hiện chỉ đáp ứng một phần nhu cầu hoặc phải nhập khẩu hoàn toàn Nếu không áp dụng thuế GTGT ngay bây giờ, khoảng cách chi phí phúc lợi xã hội sẽ ngày càng gia tăng.

Phân bón là một yếu tố quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, nhưng nhiều nông dân vẫn phải đối mặt với điều kiện kinh tế khó khăn hơn so với các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Việc bãi bỏ thuế GTGT 5% đối với phân bón sẽ giúp cải thiện công bằng thu nhập giữa nông nghiệp và phi nông nghiệp Theo tính toán, nông dân sẽ giảm được gánh nặng thuế từ 5,5% đến 5,6% so với tổng chi cho phân bón trong năm 2014 Hơn nữa, việc áp dụng thuế GTGT 0% sẽ mang lại lợi ích công bằng lớn hơn so với việc không đánh thuế, đặc biệt khi các nhà sản xuất trong nước tăng cường sản lượng để thay thế hàng nhập khẩu, tạo ra khoảng cách gánh nặng thuế lớn hơn giữa hai phương án này.

Hộp 4.1 bên dưới liệt kê một số hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT và được áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% ở Anh Theo đó có nhiều sản phẩm, dịch vụ được tiêu dùng nội địa cũng thuộc đối tượng chịu thuế GTGT 0% - cho thấy tính hiệu quả, công bằng trong hệ thống thuế GTGT của nước này

Hộp 4.1 – Một số quy định về thuế GTGT ở Anh

- Thuế suất thuế GTGT phổ thông: 5%

- Một số hàng hóa, dịch vụ chịu thuế suất thuế GTGT 0%:

Quyết định 343/2005/QĐ-TTg và Quyết định 1621/2013/QĐ-TTg đã phê duyệt quy hoạch phát triển ngành công nghiệp hóa chất Việt Nam đến năm 2010 và 2020, đồng thời xem xét đến năm 2020 và 2030 Bài báo của Bộ Công thương năm 2013 cho thấy thị trường phân bón trong nước đã từng bước chủ động được nguồn cung.

32 Nhận định tương tự được rút ra từ trang 5 - (IMF, 1991)

+ Hàng xuất khẩu ra bên ngoài khối EU hoặc gửi cho cá nhân ở một nước EU

Thực phẩm và đồ uống cho con người bao gồm các sản phẩm an toàn, không chứa đồ uống có cồn, đồ ăn nhanh và nhiều đường Ngoài ra, thức ăn chăn nuôi, cây trồng và hạt giống cũng là những yếu tố quan trọng, cùng với một số loại thịt động vật, góp phần vào chuỗi cung ứng thực phẩm bền vững.

+ Dịch vụ quảng cáo dành riêng cho hoạt động từ thiện

+ Một số sản phẩm được bán ra để gây quỹ từ thiện tại các sự kiện

+ Xây dựng và bán nhà mới cho mục đích từ thiện

+ Thiết bị hỗ trợ người khiếm thị, khuyết tật khác

+ Dịch vụ vệ sinh, làm sạch

+ Nước sạch cung cấp cho các hộ gia đình

+ Bán một phần tòa nhà thương mại để chuyển đổi thành giếng trời hoặc phục vụ cho mục đích công cộng

+ Sửa chữa, bảo dưỡng tàu bay, tàu biển

+ Dịch vụ vận tải hành khách từ 10 người trở lên…

- Một số hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT:

+ Giáo dục thể chất và các hoạt động thể thao

+ Hoạt động cá cược, sổ xố

Khám phá văn hóa và nghệ thuật qua việc tham quan bảo tàng, triển lãm nghệ thuật, và vườn thú, cũng như tham gia các hoạt động biểu diễn hấp dẫn Đặc biệt, những món đồ cổ như công trình nghệ thuật và tài sản từ các ngôi nhà lịch sử sẽ mang đến cho bạn cái nhìn sâu sắc về di sản văn hóa phong phú.

+ Tổ chức sự kiện gây quỹ từ thiện

+ Dịch vụ chăm sóc, điều trị y tế

Nguồn: UK HM Revenue & Customs (2014) c Về tính khả thi

Việc bãi bỏ thuế suất GTGT 5% đối với phân bón có thể được xem xét trong bối cảnh chuyển đổi cơ cấu thuế trực thu và gián thu của hệ thống thuế Việt Nam Trong tương lai, tỷ trọng thu ngân sách từ thuế gián thu, bao gồm thuế GTGT, có xu hướng giảm dần, nhường chỗ cho thuế TNCN và thuế tài sản Đây là quy luật phát triển chung của các nền kinh tế, đã được chứng minh ở các quốc gia Đông Nam Á như Singapore và Malaysia, nơi tỷ trọng thuế trực thu và thuế tài sản cao hơn thuế gián thu Ngược lại, Thái Lan, Indonesia và Việt Nam lại có tỷ trọng thuế gián thu lớn hơn Do đó, việc giảm thu từ thuế GTGT 5% sẽ được bù đắp bởi sự gia tăng thu từ thuế TNCN và thuế tài sản khi nền kinh tế phát triển.

Phân tích chính sách thuế GTGT đối với phân bón cho thấy việc không đánh thuế GTGT là phương án tối ưu hơn so với việc áp dụng thuế suất 5% hoặc 0%, giúp giảm nguy cơ khấu trừ hoặc hoàn thuế khống Phương án này cũng đơn giản hóa quy trình ghi chép, theo dõi và kiểm tra sổ sách kế toán, dẫn đến chi phí tuân thủ thấp hơn Tuy nhiên, sự khác biệt này có thể không đáng kể trong ngành phân bón nếu Nhà nước áp dụng các biện pháp hạn chế gian lận hoàn thuế Theo thống kê, trong số 320 doanh nghiệp sản xuất phân bón, chỉ khoảng 20 công ty lớn chiếm hơn 90% sản lượng ngành, và số lượng công ty phân phối và nhập khẩu chỉ có không quá 10.

Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại và xuất khẩu quy mô nhỏ thường không có trụ sở cố định và không cần đăng ký vốn pháp định hay chứng chỉ hành nghề Những doanh nghiệp này thường được thành lập để hợp thức hóa việc phát hành hóa đơn nhằm giả mạo hồ sơ xin hoàn thuế GTGT Ngược lại, các công ty sản xuất lớn ít có động cơ trục lợi thuế GTGT đầu vào do dễ bị phát hiện và ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh Nếu luật quy định sản phẩm phân bón chịu thuế GTGT 0%, chỉ những công ty lớn mới đủ điều kiện hoàn thuế GTGT đầu vào, giúp cơ quan Thuế tập trung kiểm tra vào nhóm này Doanh nghiệp sản xuất nhỏ hơn có thể không bị đánh thuế GTGT nhưng được hưởng thuế TNDN ưu đãi, tạo sự công bằng với doanh nghiệp lớn Đối với doanh nghiệp phân phối và nhập khẩu phân bón, thuế suất GTGT 0% làm giảm đáng kể thuế GTGT đầu vào, vì giá vốn hàng mua vào không có thuế GTGT, chỉ phát sinh thuế GTGT từ chi phí hoạt động Do đó, quy mô hoàn thuế GTGT đầu vào cho các doanh nghiệp này giảm nhiều so với khi thuế suất là 5%.

33 Giá vốn hàng mua chiếm khoảng 95% doanh thu bán hàng của các công ty phân phối – chi tiết xem Phụ lục 7 và 8

Chi phí tuân thủ thuế cho ngành phân bón với thuế suất 0% sẽ không chênh lệch nhiều so với phương án thuế suất 5% và không đánh thuế, đặc biệt khi có những điều chỉnh luật nhằm tập trung quản lý các doanh nghiệp sản xuất lớn ở đầu nguồn cung ứng.

Hệ thống thuế GTGT của Việt Nam hiện duy trì ba mức thuế suất: 10% cho hầu hết hàng hóa và dịch vụ, 5% cho khoảng 15 lĩnh vực thiết yếu như phân bón và nước sạch, và 0% cho sản phẩm xuất khẩu Tuy nhiên, việc không đánh thuế GTGT cho phân bón đi ngược lại với định hướng cải cách chung Luật thuế GTGT số 13/2008 cũng quy định 26 nhóm hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế, điều này có thể dẫn đến phức tạp trong quản lý và gian lận thuế Kinh nghiệm quốc tế khuyến nghị duy trì một tỷ lệ thuế suất phổ biến và giảm thiểu danh sách hàng hóa không chịu thuế Chiến lược cải cách hệ thống thuế Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 cũng nhấn mạnh việc giảm số lượng nhóm hàng hóa không chịu thuế và điều chỉnh cơ chế thu cho các hàng hóa, dịch vụ mới theo sự phát triển của kinh tế thị trường.

Năm 2020, Việt Nam đã áp dụng mức thuế suất cơ bản cho thuế giá trị gia tăng (GTGT), hoàn thiện phương pháp tính thuế và chuyển đổi phân bón từ đối tượng chịu thuế GTGT 5% sang thuế suất 0% Điều này nhằm cải cách hệ thống thuế GTGT phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường và thông lệ quốc tế Việc lạm dụng phân bón hóa học đã gây ô nhiễm môi trường và thoái hóa đất nông nghiệp ở nhiều quốc gia, đặc biệt là Trung Quốc, nơi có hơn 19% mẫu đất nông nghiệp vượt mức cho phép về kim loại nặng Trung Quốc đã triển khai chương trình kiểm soát sử dụng phân bón với mục tiêu giảm 8% phân Urê trong ba năm từ 2014 Tại Việt Nam, báo cáo môi trường quốc gia 2014 chỉ ra việc sử dụng phân bón hóa học không đúng cách đã gây ô nhiễm đất đai, với mức sử dụng cao hơn trung bình quốc gia tại một số vùng chuyên canh Việc sử dụng phân bón không cân đối dễ dẫn đến thoái hóa đất, với ước tính trên 50% lượng Đạm và 80% lượng Lân dư thừa gây ô nhiễm môi trường đất.

Việc sử dụng phân bón tại một số khu vực chuyên canh cây trồng có thu nhập cao ở Việt Nam cao hơn mức bình quân và khuyến cáo Tuy nhiên, trên tổng diện tích canh tác khoảng 10,231 triệu ha, mật độ dinh dưỡng từ phân bón chỉ đạt khoảng 243 kg N+P2O5+K2O/ha, thấp hơn ngưỡng cần thiết.

Ngày đăng: 13/07/2021, 08:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm