1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu học tập Quản trị sản xuất: Phần 1

112 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Trị Sản Xuất
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Kỹ Thuật Công Nghiệp
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Tài Liệu Học Tập
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(NB) Nội dung Tài liệu học tập Quản trị sản xuất gồm có 9 chương và được chia thành 2 phần. Phần 1 trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản sau: Giới thiệu chung về quản trị sản xuất; dự báo nhu cầu sản phẩm; thiết kế sản phẩm, dịch vụ và lựa chọn quá trình sản xuất; hoạch định công suất; định vị doanh nghiệp. Mời các bạn cùng tham khảo để biết thêm các nội dung chi tiết.

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP

KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH - -

TÀI LIỆU HỌC TẬP

QUẢN TRỊ SẢN XUẤT

(Tài liệu lưu hành nội bộ)

ĐỐI TƯỢNG: SV TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG NGÀNH ĐÀO TẠO: QUẢN TRỊ KINH DOANH

Hà Nội – 2019

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 4

LỜI GIỚI THIỆU 5

Chương 1 7

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ QUẢN TRỊ SẢN XUẤT 7

MỤC ĐÍCH CỦA CHƯƠNG 1 7

NỘI DUNG CỦA CHƯƠNG 1 7

1.1 Thực chất của quản trị sản xuất 7

1.1.1 Khái niệm quản trị sản xuất 7

1.1.2 Sự khác biệt giữa sản xuất và dịch vụ 9

1.1.3 Mục tiêu và vai trò của quản trị sản xuất 9

1.2 Nội dung cơ bản của quản trị sản xuất 14

1.3 Lịch sử phát triển và xu hướng vận động của quản trị sản xuất 17

1.3.1 Lịch sử phát triển của quản trị sản xuất 17

1.3.2 Xu hướng vận động của quản trị sản xuất 19

1.4 Vấn đề năng suất trong quản trị sản xuất 21

1.4.1 Khái niệm và ý nghĩa của năng suất 21

1.4.2 Những nhân tố tác động đến năng suất 23

CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN CHƯƠNG 1 24

BÀI TẬP THỰC HÀNH CHƯƠNG 1 25

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 1 26

Chương 2 27

DỰ BÁO NHU CẦU SẢN PHẨM 27

MỤC ĐÍCH CỦA CHƯƠNG 2 27

NỘI DUNG CỦA CHƯƠNG 2 27

2.1 Thực chất của dự báo nhu cầu sản phẩm 27

2.1.1 Khái niệm và vai trò của dự báo 27

2.1.2 Đặc điểm chung của dự báo 28

2.1.3 Phân loại dự báo 29

2.1.4 Các nhân tố tác động đến dự báo 30

2.1.5 Các bước trong quá trình dự báo 32

2.2 Các phương pháp dự báo nhu cầu sản phẩm 33

2.2.1 Các phương pháp dự báo định tính 33

2.2.2 Các phương pháp dự báo định lượng 35

2.3 Giám sát và kiểm soát dự báo 48

2.3.1 Đo lường sai số của dự báo 48

2.3.2 Kiểm soát sai số của dự báo 50

CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN CHƯƠNG 2 52

Trang 3

BÀI TẬP THỰC HÀNH CHƯƠNG 2 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 2 56

Chương 3 57

THIẾT KẾ SẢN PHẨM, DỊCH VỤ VÀ LỰA CHỌN QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT 57

MỤC ĐÍCH CỦA CHƯƠNG 3 57

NỘI DUNG CỦA CHƯƠNG 3 57

3.1 Thiết kế sản phẩm và dịch vụ 57

3.1.1 Thực chất, vai trò của thiết kế sản phẩm và dịch vụ 57

3.1.2 Các căn cứ quan trọng để thiết kế sản phẩm và dịch vụ 59

3.1.3 Các đặc điểm riêng của dịch vụ ảnh hưởng đến việc thiết kế dịch vụ 60

3.1.4 Quá trình thiết kế và phát triển sản phẩm mới 61

3.2 Lựa chọn quá trình sản xuất 63

3.2.1 Quy trình sản xuất và tổ chức sản xuất 63

3.2.2 Phân loại và lựa chọn quá trình sản xuất 64

3.2.3 Các quá trình dịch vụ và phân loại quá trình dịch vụ 67

CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN CHƯƠNG 3 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 3 71

Chương 4 72

HOẠCH ĐỊNH CÔNG SUẤT 72

MỤC ĐÍCH CỦA CHƯƠNG 4 72

NỘI DUNG CỦA CHƯƠNG 4 72

4.1 Khái niệm và phân loại công suất 72

4.1.1 Khái niệm công suất 72

4.1.2 Phân loại công suất 72

4.1.3 Vai trò của hoạch định công suất 73

4.2 Các căn cứ và yêu cầu khi lựa chọn phương án công suất 74

4.2.1 Căn cứ khi lựa chọn phương án công suất 74

4.2.2 Các yêu cầu khi lựa chọn phương án công suất 74

4.3 Các phương pháp hỗ trợ lựa chọn phương án công suất 75

4.3.1 Lý thuyết quyết định 75

4.3.2 Phân tích “Chi phí - Sản lượng” 79

CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN CHƯƠNG 4 82

BÀI TẬP THỰC HÀNH CHƯƠNG 4 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 4 85

Chương 5 86

ĐỊNH VỊ DOANH NGHIỆP 86

MỤC ĐÍCH CỦA CHƯƠNG 5 86

NỘI DUNG CỦA CHƯƠNG 5 86

5.1 Thực chất, mục tiêu và vai trò của định vị doanh nghiệp 86

Trang 4

a Thực chất của định vị doanh nghiệp 86

b Mục tiêu của định vị doanh nghiệp 86

5.1.2 Tầm quan trọng của định vị doanh nghiệp 87

5.1.3 Quy trình tổ chức định vị doanh nghiệp 88

5.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến định vị doanh nghiệp 89

5.2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn vùng 89

5.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chọn địa điểm 92

5.2.3 Xu hướng định vị doanh nghiệp hiện nay trên thế giới 92

5.3 Các phương pháp định vị doanh nghiệp 93

5.3.1 Phân tích điểm hòa vốn chi phí theo vùng 93

5.3.2 Phương pháp đánh giá theo nhân tố 95

5.3.3 Phương pháp tọa độ trung tâm 96

5.3.4 Phương pháp bài toán vận tải 98

CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN CHƯƠNG 5 105

BÀI TẬP THỰC HÀNH CHƯƠNG 5 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 5 109

Chương 6 110

BỐ TRÍ MẶT BẰNG SẢN XUẤT VÀ KINH DOANH DỊCH VỤ 110

MỤC ĐÍCH CỦA CHƯƠNG 6 110

NỘI DUNG CỦA CHƯƠNG 6 110

6.1 Thực chất và vai trò của bố trí mặt bằng sản xuất 110

6.1.1 Khái niệm bố trí mặt bằng sản xuất 110

6.1.2 Vai trò của bố trí mặt bằng sản xuất 110

6.1.3 Nguyên tắc bố trí mặt bằng sản xuất 111

6.2 Các hình thức bố trí mặt bằng sản xuất và dịch vụ 111

6.2.1 Bố trí mặt bằng theo quá trình (công nghệ) 111

6.2.2 Bố trí mặt bằng theo sản phẩm (dây chuyền) 113

6.2.3 Bố trí mặt bằng theo vị trí cố định 114

6.2.4 Bố trí mặt bằng hỗn hợp 115

6.3 Các phương pháp phân tích bố trí mặt bằng 118

6.3.1 Phân tích bố trí mặt bằng theo sản phẩm 118

6.3.2 Phân tích bố trí mặt bằng theo quá trình 127

CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN CHƯƠNG 6 133

BÀI TẬP THỰC HÀNH CHƯƠNG 6 133

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 6 137

Chương 7 138

HOẠCH ĐỊNH TỔNG HỢP 138

MỤC ĐÍCH CỦA CHƯƠNG 7 138

NỘI DUNG CỦA CHƯƠNG 7 138

7.1 Thực chất và nhiệm vụ của hoạch định tổng hợp 138

Trang 5

7.1.1 Thực chất của hoạch định tổng hợp 138

7.1.2 Nhiệm vụ của hoạch định tổng hợp 140

7.2 Các chiến lược hoạch định tổng hợp 140

7.2.1 Thay đổi mức tồn kho 141

7.2.2 Thay đổi nhân lực theo mức cầu 141

7.2.3 Thay đổi tốc độ sản xuất 142

7.2.4 Hợp đồng thầu phụ 142

7.2.5 Sử dụng nhân công làm việc bán thời gian 143

7.2.6 Đặt cọc trước 143

7.2.7 Phối hợp sản phẩm nghịch mùa 144

7.2.8 Tác động đến nhu cầu 144

7.3 Các phương pháp hoạch định tổng hợp 146

7.3.1 Phương pháp trực giác 146

7.3.2 Phương pháp đồ thị và phân tích chiến lược 146

7.3.3 Phương pháp cân bằng tối ưu 154

CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN CHƯƠNG 7 156

BÀI TẬP THỰC HÀNH CHƯƠNG 7 157

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 7 160

Chương 8 161

ĐIỀU ĐỘ SẢN XUẤT 161

MỤC ĐÍCH CỦA CHƯƠNG 8 161

NỘI DUNG CỦA CHƯƠNG 8 161

8.1 Thực chất của điều độ sản xuất trong doanh nghiệp 161

8.1.1 Khái niệm và vai trò của điều độ sản xuất 161

8.1.2 Điều độ sản xuất trong các hệ thống sản xuất khác nhau 162

8.1.3 Lịch trình sản xuất tổng thể MPS 163

8.2 Các phương pháp điều độ sản xuất 165

8.2.1 Các nguyên tắc ưu tiên trong phân giao công việc cho một đối tượng 165

8.2.2 Tỷ số giới hạn 170

8.2.3 Các phương pháp phân giao công việc cho nhiều đối tượng 171

CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN CHƯƠNG 8 176

BÀI TẬP THỰC HÀNH CHƯƠNG 8 176

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 8 180

Chương 9 181

QUẢN TRỊ TỒN KHO VÀ HOẠCH ĐỊNH NHU CẦU VẬT TƯ 181

MỤC ĐÍCH CỦA CHƯƠNG 9 181

NỘI DUNG CỦA CHƯƠNG 9 181

9.1 Quản trị tồn kho 181

9.1.1 Khái niệm, phân loại và vai trò của tồn kho 182

Trang 6

9.1.3 Kỹ thuật phân tích ABC trong quản trị tồn kho 184

9.1.4 Các mô hình tồn kho cơ bản 187

9.2 Hoạch định nhu cầu vật tư (MRP) 197

9.2.1 Thực chất và yêu cầu của MRP 198

9.2.2 Xây dựng hệ thống MRP 200

9.2.3 Xác định kích thước lô hàng trong hệ thống MRP 209

CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN CHƯƠNG 9 212

BÀI TẬP THỰC HÀNH CHƯƠNG 9 213

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 9 217

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

QTSX Quản trị sản xuất

R&D Research & Development – Nghiên cứu và phát triển

JIT Just in time – Đúng thời điểm

MRP Material Requirements Planning – Hoạch định nhu cầu vật tư

TQM Total Quality Management - Quản lý chất lượng toàn diện

TFP Total Factor Productivity - Năng suất yếu tố tổng hợp

MAD Mean Absolute Deviation - Độ lệch tuyệt đối trung bình

MSE Mean Squared Error - Giá trị trung bình của bình phương các sai số

dự báo MAPE Mean Absolutely Percent Error - Phần trăm sai số tuyệt đối bình

quân CAD Computer-Aided Design - Thiết kế được sự hỗ trợ của máy tính

CAM Computer-Aided Manufacturing – Sản xuất được sự hỗ trợ của máy

tính FMS Flexible Manufacturing Systems - Hệ thống sản xuất linh hoạt

MPS Master Production Scheduling - Lịch trình sản xuất tổng thể

EOQ The Basic Economic Order Quantity Model - Mô hình sản lượng đặt

hàng kinh tế cơ bản ROP Reorder Point – Điểm đặt hàng lại

POQ Production Order Quantity Model - Mô hình lượng đặt hàng theo

sản xuất QDM Quantity Discount Model - Mô hình khấu trừ theo số lượng

Trang 8

LỜI GIỚI THIỆU

Quản trị sản xuất là một trong những học phần quan trọng thuộc khối kiến thức chuyên ngành của chương trình đào tạo ngành quản trị kinh doanh Mục đích của học phần nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về thiết kế và tổ chức hệ thống sản xuất, hoạch định và kiểm soát quá trình sản xuất nhằm cắt giảm chi phí, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh cho sản phẩm Đối tượng nghiên cứu của quản trị sản xuất là quá trình quản trị các hoạt động trực tiếp tạo ra sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp Các hoạt động này rất đa dạng và phong phú, theo sát quá trình tạo giá trị gia tăng thông qua việc biến đổi các nguồn lực đầu vào thành sản phẩm đầu ra tại doanh nghiệp Nó có thể bắt đầu từ khâu dự báo nhu cầu nhu cầu sản xuất sản phẩm, nghiên cứu thị trường, thiết kế và phát triển sản phẩm, hoạch định công suất, lựa chọn địa điểm sản xuất, tổ chức mặt bằng và không gian sản xuất, hoạch định tổng hợp, kiểm soát tiến độ và điều phối nguồn lực… đến khâu hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, lên phương án quản trị dự trữ, quản lý chất lượng sản phẩm trong và sau quá trình sản xuất… Phương pháp nghiên cứu của quản trị sản xuất cần dựa trên nền tảng phương pháp luận nghiên cứu khoa học của quản trị nói chung và có thể tiếp cận giải quyết các tình huống về quản trị thông qua cách tiếp cận hệ thống, tiếp cận theo quá trình, tiếp cận theo tình huống và tiếp cận tổ hợp Các phương pháp phổ biến thường được sử dụng khi nghiên cứu quản trị sản xuất đó là: mô hình hóa; thực nghiệm; ứng dụng toán kinh tế; xác suất, thống kê; điều tra xã hội học… Tùy thuộc vào quy mô, tầm cỡ và mục đích nghiên cứu cụ thể, người ta có thể sử dụng linh hoạt các phương pháp, tổ hợp phương pháp hoặc

đề xuất phương pháp mới cho phù hợp nhằm đạt được mục đích đặt ra

Tài liệu học tập quản trị sản xuất được biên soạn theo chương trình khung ngành Quản trị kinh doanh của Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp Mục tiêu của tài liệu là cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản và chuyên sâu về quản trị sản xuất, đồng thời rèn luyện cho sinh viên những kỹ năng cần thiết nhất để có thể thực hiện công việc của nhà quản trị cơ sở tại doanh nghiệp sau khi ra tốt nghiệp Do giới hạn của chương trình nên trong tài liệu học tập này, nhóm biên soạn chỉ lựa chọn các nội dung cơ bản nhất của quản trị sản xuất Các nội dung này được phân bổ thành 9 chương như sau: Chương 1: Giới thiệu chung về quản trị sản xuất

Chương 2: Dự báo nhu cầu sản phẩm

Chương 3: Thiết kế sản phẩm, dịch vụ và lựa chọn quá trình sản xuất

Chương 4: Hoạch định công suất

Chương 5: Định vị doanh nghiệp

Chương 6: Bố trí mặt bằng sản xuất và kinh doanh dịch vụ

Chương 7: Hoạch định tổng hợp

Chương 8: Điều độ sản xuất

Chương 9: Quản trị tồn kho và hoạch định nhu cầu vật tư

Trang 9

Thành viên nhóm biên soạn gồm: ThS Phạm Trung Hải (chủ biên, biên soạn các chương 1, chương 3, chương 6, một phần chương 5, một phần chương 7); ThS Vũ Huy Giang (biên soạn chương 2 và chương 4); ThS Vũ Đại Đồng (biên soạn một phần chương 5); ThS Nguyễn Văn Hưng (biên soạn một phần chương 7 và chương 8); ThS Phan Thị Minh Phương (biên soạn chương 9)

Để hoàn thành tài liệu học tập nhóm biên soạn đã nhận được rất nhiều sự hỗ trợ, động viên từ phía Ban Giám hiệu Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp, Ban Chủ nhiệm Khoa Quản trị kinh doanh và đặc biệt là các ý kiến đóng góp khoa học về nội dung của các thầy cô trong Bộ môn Quản trị kinh doanh tổng hợp Chúng tôi xin trân trọng bày tỏ sự biết ơn, và hy vọng sẽ tiếp tục nhận được sự động viên, hợp tác nhiều hơn nữa trong thời gian tới Ý kiến phản hồi sẽ giúp nhóm biên soạn hoàn thiện tài liệu học

tập hơn cho những lần xuất bản sau xin gửi về theo địa chỉ email: pthai@uneti.edu.vn

Xin trân trọng cám ơn!

Hà Nội, ngày 12 tháng 04 năm 2019

Trang 10

Chương 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ QUẢN TRỊ SẢN XUẤT

MỤC ĐÍCH CỦA CHƯƠNG 1

Sau khi nghiên cứu và học tập chương này, sinh viên có thể:

- Hiểu rõ khái niệm về quản trị sản xuất với những đặc điểm riêng biệt của quản lý

hệ thống sản xuất trong doanh nghiệp, phân biệt những điểm khác nhau giữa hoạt động sản xuất và hoạt động dịch vụ

- Nắm được các mục tiêu của quản trị sản xuất

- Phân biệt rõ vai trò và mối quan hệ giữa quản trị sản xuất, quản trị marketing và quản trị tài chính

- Hiểu rõ những nội dung cơ bản của quản trị sản xuất thông qua các chức năng hoạch định, tổ chức, điều hành và kiểm tra giám sát hệ thống sản xuất

- Nắm rõ các đặc điểm của môi trường kinh doanh hiện nay và tác động của nó đến xu hướng phát triển của quản trị sản xuất trong các doanh nghiệp

- Nắm được các yêu cầu về kỹ năng quản lý cần có đối với cán bộ quản trị sản xuất

- Hiểu rõ thực chất, đặc điểm của các trường phái lý thuyết trong quản trị sản xuất

- Hiểu được ý nghĩa của năng suất và biết cách đo lường năng suất trong quản trị sản xuất

NỘI DUNG CỦA CHƯƠNG 1

1.1 Thực chất của quản trị sản xuất

Trong phần này chúng ta nghiên cứu bản chất của quản trị sản xuất, vai trò và mối quan hệ của nó với các chức năng quản trị khác như quản trị tài chính, quản trị marketing

1.1.1 Khái niệm quản trị sản xuất

Sản xuất là một trong ba phân hệ cơ bản của doanh nghiệp có chức năng tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ đáp ứng yêu cầu của xã hội Quản lý hệ thống sản xuất sản phẩm, dịch vụ là chức năng và cũng là yêu cầu quan trọng của từng doanh nghiệp trong sử dụng các yếu tố đầu vào nhằm sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ một cách hiệu quả nhất

Quản trị sản xuất là quá trình thiêt kế, hoạch định, tổ chức điều hành và kiểm tra

hệ thống sản xuất thông qua quá trình chuyển hóa hay biến đổi các yếu tố đầu vào thành sản phẩm và dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng nhằm thực hiện các mục tiêu đã xác định

Sơ đồ các yếu tố chính của hệ thống sản xuất có thể được biểu diễn như sau (hình 1.1):

Trang 11

Hình 1.1: Các yếu tố chính của hệ thống sản xuất

Quá trình biến đổi: Đây là yếu tố trung tâm giúp phân biệt giữa hệ thống sản xuất

với các phân hệ quản lý tài chính, marketing Quá trình biến đổi là tập hợp các hoạt động được sắp xếp theo những trình tự nhất định để chuyển hóa các yếu tố đầu vào thành các yếu tố đầu ra mong muốn, đáp ứng nhu cầu xã hội Mọi hoạt động của quản trị sản xuất tập trung vào việc thiết lập và tổ chức điều hành quá trình biến đổi này

Các yếu tố đầu vào: Nguyên vật liệu, công nghệ, thiết bị, con người có kỹ năng

quản lý và nguồn thông tin Các yếu tố đầu vào là điều kiện cần thiết cho quá trình sản xuất, nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Các yếu tố đầu ra: Chủ yếu là các sản phẩm, dịch vụ Tùy theo đặc điểm của quá

trình sản xuất mà đầu ra có thể là những sản phẩm có tính đồng nhất với tiêu chuẩn hóa cao hoặc khó tiêu chuẩn và có sự thay đổi thường xuyên theo nhu cầu của khách hàng Ngoài những sản phẩm và dịch vụ được tạo ra sau quá trình sản xuất, còn có các phế phẩm, chất thải… đòi hỏi phải có chi phí khá lớn để giải quyết xử lý chúng

Các yếu tố thông tin: Để ra các quyết định trong quản trị sản xuất cần phải tìm

hiểu, nắm bắt, thu thập và xử lý một khối lượng thông tin lớn từ môi trường bên ngoài và

từ nội bộ doanh nghiệp Thông tin thu thập cần phải liên tục cập nhật để có những quyết định điều chỉnh hoạt động sản xuất kịp thời cần thiết

Các yếu tố đột biến ngẫu nhiên: Đây là những sự kiện, tình huống bất thường

ngoài dự kiến Các yếu tố này làm rối loạn hoạt động của hệ thống sản xuất dẫn đến không thực hiện được những mục tiêu ban đầu Ví dụ, thiên tai, hạn hán, hỏa hoạn, bất ổn chính trị, khủng hoảng kinh tế…

Như vậy, nhiệm vụ của quản trị sản xuất là thiết lập và quản lý một hệ thống sản xuất nhằm biến đổi đầu vào thành các yếu tố đầu ra với giá trị gia tăng cao hơn Thông

Trang 12

tăng cao hơn, tăng thêm giá trị và giá trị sử dụng để phục vụ nhu cầu xã hội, tạo ra nguồn thu nhập cho người lao động, cho chủ sở hữu và tạo điều kiện cho tái đầu tư sản xuất mở rộng đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp

1.1.2 Sự khác biệt giữa sản xuất và dịch vụ

Để tiến hành các hoạt động sản xuất và dịch vụ đều cần thực hiện những chức năng quản lý như hoạch định, tổ chức, điều hành và kiểm tra, kiểm soát đều thực hiện chung cho cả hệ thống sản xuất và dịch vụ

Ví dụ, để quản lý một nhà máy sản xuất ô tô và quản lý một chuyến tàu du lịch nhà quản trị cũng cần phải lên kế hoạch trước về thời gian, địa điểm, tổ chức bộ máy điều hành và phân bổ quyền hạn trách nhiệm cho mỗi cá nhân, bộ phận trong sản xuất và đưa đón khách, chuẩn bị các yếu tố hậu cần, chỉ huy điều hành và kiểm tra giám sát trong suốt quá trình sản xuất ô tô và hành trình con tàu

Do khu vực dịch vụ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế và xu hướng phát triển kinh doanh đa dạng hóa bao gồm cả hoạt động sản xuất và dịch vụ trong các doanh nghiệp ngày nay, khái niệm quản trị sản xuất hàm ý bao gồm cả quá trình sản xuất hàng hóa hữu hình và quá trình dịch vụ Môn học quản trị sản xuất cung cấp kiến thức, phương pháp và kỹ năng quản lý áp dụng cho cả doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ Tuy có những chức năng chung, nhưng hoạt động sản xuất và dịch vụ cũng có những điểm khác nhau cơ bản như:

- Đặc điểm của đầu vào và đầu ra

- Mối quan hệ giữa khách hàng và người sản xuất hoặc người làm công tác dịch

vụ

- Sự tham gia của khách hàng trong quá trình biến đổi

- Bản chất của hoạt động sản xuất và dịch vụ

- Khả năng đo lường đánh giá năng suất và chất lượng của quá trình sản xuất và dịch vụ…

1.1.3 Mục tiêu và vai trò của quản trị sản xuất

a Mục tiêu của quản trị sản xuất

Quản trị sản xuất là một phân hệ cơ bản trong doanh nghiệp, quản trị sản xuất có

mục tiêu tổng quát là sản xuất sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ nhằm đảm bảo thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng trên cơ sở sử dụng hiệu quả nhất các yếu tố sản xuất

Mục tiêu tổng quát của quản trị sản xuất được triển khai thông qua một tập hợp các mục tiêu cụ thể như sau:

(1) Đảm bảo chất lượng sản phẩm và dịch vụ theo đúng nhu cầu khách hàng:

Chất lượng là sự phù hợp với những kỳ vọng của khách hàng, tạo ra đúng thứ mà khách hàng cần, nhưng chất lượng được quan niệm khác nhau trong mỗi loại sản xuất Mục tiêu chất lượng là mục tiêu quan trọng trong mọi hệ thống sản xuất Chất lượng là

Trang 13

phần dễ thấy nhất của sản xuất Hơn nữa, chất lượng là thứ mà một khách hàng dễ dùng

để đánh giá về sản xuất Sản phẩm hay dịch vụ có đúng như kỳ vọng? Nó phù hợp hay không phù hợp? đó là nội dung căn bản của chất lượng Vì thế, rõ ràng chất lượng tác động chủ yếu đến sự thỏa mãn hay không thỏa mãn của khách hàng Khi khách hàng cho

là sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao nghĩa là khách hàng thỏa mãn và do đó có thể khách hàng này sẽ quay lại Bảng 1.1 phác họa chất lượng được đánh giá như thế nào trong bốn kiểu hệ thống sản xuất khác nhau

Bệnh viện

- Bệnh nhân nhận được những điều trị phù hợp

nhất

- Điều trị được thực hiện đúng cách

- Bệnh nhân được tư vấn và bảo mật thông tin

- Nhân viên lịch sự, thân thiện và tận tình

Công ty xe buýt

-Xe buýt sạch và gọn gàng

- Xe buýt không ồn và không có khói

- Lịch trình chính xác và thân thiện với người

Bảng 1.1: Các cách hiểu khác nhau về chất lượng với các tổ chức khác nhau

(2) Gia tăng tốc độ (hay rút ngắn thời gian) sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ:

Tốc độ sản xuất là độ dài thời gian từ khi khách hàng yêu cầu đến khi họ nhận được sản phẩm hoặc dịch vụ Bảng 1.2 minh họa ý nghĩa của tốc độ sản xuất trong bốn loại hệ thống sản xuất ở trên Lợi ích chủ yếu của việc giao hàng nhanh chóng cho khách hàng của hệ thống là ở chỗ nó giúp tăng khả năng của hệ thống sản xuất phục vụ khách hàng Rất đơn giản, khách hàng có được sản phẩm hoặc dịch vụ nhanh hơn, mua sản phẩm phù hợp hơn hoặc họ sẽ trả cho sản phẩm nhiều hơn hoặc hưởng lợi ích lớn hơn

Bệnh viện

- Thời gian từ khi yêu cầu điều trị đến khi

nhận được điều trị giữ ở mức tối thiểu

- Thời gian thực hiện các xét nghiệm,

chụp X quang cho đến khi trả kết quả

là tối thiểu

Nhà máy ô tô

- Thời gian từ khi đại lý yêu cầu xe tải với những đặc tính cụ thể đến khi nhận được xe tối thiểu

- Thời gian giao phụ tùng cho trung tâm dịch vụ tối thiểu

Công ty xe buýt

-Thời gian từ khi khởi hành đến khi tới

nơi là tối thiểu

Siêu thị

- Thời gian thực hiện tất cả các giao dịch như đi siêu thị, mua hàng và trở về là tối thiểu

- Có sẵn hàng hóa ngay tức thì

Trang 14

(3) Đảm bảo độ tin cậy trong cung cấp sản phẩm hay dịch vụ

Độ tin cậy thể hiện ở việc khách hàng nhận được hàng hóa và dịch vụ đúng lúc họ cần hoặc ít nhất đúng như họ đã được hứa Khách hàng có thể đánh giá độ tin cậy của sản xuất sau khi nhận được hàng hóa hoặc dịch vụ Ban đầu, điều này có thể tác động tới khả năng khách hàng lựa chọn dịch vụ mà họ đã từng sử dụng Tuy nhiên, theo thời gian độ tin cậy có thể vượt qua mọi tiêu chuẩn khác Bất kể dịch vụ xe buýt nhanh và rẻ thế nào, nếu dịch vụ này luôn chậm (hoặc sớm hơn dự đoán) hoặc xe buýt luôn đầy thì khách hàng tiềm năng tốt hơn là gọi taxi

Bệnh viện

- Tỷ lệ các cuộc hẹn bị hủy bỏ ở mức tối

thiểu

- Giữ đúng thời gian hẹn

- Các kết quả kiểm tra, chụp X quang

được trả đúng hẹn

Nhà máy ô tô

- Giao xe cho đại lý đúng hẹn

- Giao phụ tùng cho các trung tâm dịch vụ đúng hạn

Công ty xe buýt

- Giữ đúng thời gian biểu đã công bố ở

mọi điểm trên lô trình

- Luôn có chỗ ngồi cho hành khách

Siêu thị

- Có thể dự đoán thời gian mở cửa

- Tỷ lệ hàng hóa hết hàng giữ ở mức tối thiểu

- Giữ thời gian xếp hàng hợp lý

- Luôn có chỗ đỗ xe Bảng 1.3: Ý nghĩa của độ tin cậy trong các doanh nghiệp khác nhau

Trong nội bộ hệ thống sản xuất độ tin cậy cũng có ảnh hưởng tương tự Khách hàng nội bộ sẽ đánh giá hoạt động của bộ phận khác phần nào dựa vào mức độ tin cậy của việc cung cấp vật liệu hoặc thông tin đúng lúc của các bộ phận này Hệ thống sản xuất có độ tin cậy bên trong cao sẽ hiệu quả hơn những hệ thống không tin cậy vì nhiều

lý do Độ tin cậy giúp tiết kiệm thời gian Độ tin cậy giúp tiết kiệm chi phí Sử dụng thời gian không hiệu quả làm phát sinh chi phí Nếu mọi bộ phận trong hệ thống đều có độ tin cậy hoàn toàn trong một thời gian nhất định thì sẽ xây dựng được lòng tin giữa các bộ phận trong hệ thống Sẽ chẳng có sự bất ngờ nào và mọi thứ đều có thể dự báo Trong bối cảnh như vậy, mỗi bộ phận sẽ tập trung nâng cao trách nhiệm của mình mà không phải bận tâm đến sự thiếu tin cậy của các bộ phận khác

(4) Xây dựng hệ thống sản xuất của doanh nghiệp có độ linh hoạt cao

Tính linh hoạt là khả năng thay đổi sản xuất theo một cách nào đó Có thể là thay đổi sản phẩm, cách làm hay thời gian sản xuất Đặc biệt, khách hàng muốn sản xuất có thể thay đổi để đáp ứng được 4 loại yêu cầu sau:

- Linh hoạt về sản phẩm/ dịch vụ - là khả năng sản xuất đưa ra những sản phẩm và dịch vụ mới hoặc cải tiến

- Kết hợp linh hoạt - là khả năng sản xuất nhiều loại sản phẩm hoặc phối hợp được nhiều loại sản phẩm và dịch vụ

Trang 15

- Linh hoạt về công suất - là khả năng sản xuất thay đổi mức sản lượng sản xuất theo thời gian

- Giao hàng linh hoạt - là khả năng sản xuất thay đổi thời gian cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ

Hãy xem một số ví dụ về các loại linh động khác nhau của bốn kiểu hệ thống sản xuất khác nhau ở trên

Bệnh viện

- Giới thiệu các loại hình điều trị mới

- Sẵn có nhiều loại hình điều trị

- Có thể điều chỉnh số lượng bệnh nhân

- Có thể điều chỉnh số lượng xe sản xuất

- Có thể điều chỉnh lịch trình thứ tự ưu tiên

sản xuất Công ty xe buýt

- Giới thiệu những tuyến đường mới, hành

- Có thể nhận hàng thường xuyên

Bảng 1.4: Ý nghĩa của tính linh hoạt trong các doanh nghiệp khác nhau

Một trong những lợi ích của tính linh hoạt là tăng khả năng sản xuất những sản phẩm khác nhau cho những khách hàng khác nhau Như vậy, tính linh hoạt cao có thể sản xuất được đa dạng nhiều loại sản phẩm hoặc dịch vụ Thường sản xuất càng đa dạng thì chi phí càng nhiều Hơn nữa, sản xuất đa dạng thì quy mô sản xuất thường không lớn Một số công ty đã triển khai được hệ thống sản xuất linh hoạt với sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của từng khách hàng riêng biệt Vậy mà họ vẫn sản xuất với quy mô lớn theo lối sản xuất hàng khối để giảm chi phí Cách tiếp cận này được gọi và sản xuất hàng khối theo yêu cầu khách hàng (mass customization – còn được gọi là sản xuất hàng khối tùy chỉnh khách hàng) Có thể đạt được điều này nhờ linh hoạt trong quá trình thiết kế

(5) Giảm chi phí sản xuất tới mức thấp nhất để tạo ra một đơn vị đầu ra

Chi phí là mục tiêu được đề cập sau cùng nhưng không phải là nó ít quan trọng Đối với những công ty cạnh tranh trực tiếp bằng giá, chi phí rõ ràng là mục tiêu sản xuất chủ yếu Hạ thấp chi phí sản xuất hàng hóa và dịch vụ giúp hạ được giá bán cho khách hàng Ngay cả những công ty không cạnh tranh bằng giá thì cũng mong muốn hạ thấp chi phí Vì giảm được một đồng chi phí sản xuất thì tăng được một đồng lợi nhuận Vì vậy hạ thấp chi phí là mục tiêu hấp dẫn chung cho tất cả doanh nghiệp

Các cách mà quản trị sản xuất có thể tác động đến chi phí sẽ phụ thuộc chủ yếu vào chi phí sản xuất phát sinh ở đâu Sản xuất phải trả tiền cho nhân viên (tiền thuê lao

Trang 16

thế phần cứng của sản xuất), cho nguyên vật liệu (tiền mua nguyên liệu để tiêu thụ hay biến đổi trong sản xuất) Cấu trúc chi phí của bệnh viện, nhà máy ô tô, của siêu thị và công ty xe buýt rất khác nhau

b Vai trò và mối quan hệ của quản trị sản xuất với các chức năng quản trị khác

Toàn bộ chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm chủ yếu ba chức năng chính là chức năng đầu tư tài chính, chức năng sản xuất và chức năng marketing

Sản xuất tạo ra sản phẩm, dịch vụ và là nguồn gốc tạo ra giá trị tài chính cho doanh nghiệp hoạt động

Chức năng tài chính có nhiệm vụ huy động vốn và cung cấp nguồn tài chính cho doanh nghiệp, hướng dẫn, trợ giúp bộ phận sản xuất hạch toán các chi phí đầu vào, tính toán đầu ra và quản lý dòng tiền đến và đi tạo nguồn giá trị tiền tệ cho các hoạt động sản xuất

Chức năng marketing có nhiệm vụ nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu, tâm lý khách hàng, phân phối sản phẩm đến tay người tiêu dùng và tiến hành các hoạt động thu hút và tạo dựng mối quan hệ với khách hàng để giải quyết đầu ra cho sản xuất

Trong các chức năng trên, sản xuất được coi là khâu đóng vai trò quyết định trong việc tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ, biến các nguồn tài nguyên thành những đầu ra có giá trị hữu ích cho con người Phần lớn giá trị gia tăng của doanh nghiệp do sản xuất tạo ra Hoạt động sản xuất chính là nguồn gốc của sự tăng trưởng cho nền kinh tế quốc dân và góp phần thúc đẩy xã hội phát triển Quá trình sản xuất được quản trị tốt góp phần tiết kiệm được nguồn lực đầu vào, giảm giá thành sản phẩm, tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời cũng góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp

Tuy nhiên, khi đánh giá vai trò của chức năng sản xuất phải dựa trên mối liên hệ ràng buộc hữu cơ với các chức năng quản trị khác như tài chính, marketing và các chức năng hỗ trợ khác trong doanh nghiệp Mối quan hệ này vừa thống nhất, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy cùng phát triển nhưng lại vừa mâu thuẫn nhau

Sự thống nhất, phối hợp cùng phát triển dựa trên cơ sở chung là thực hiện mục tiêu tổng quát của doanh nghiệp Marketing cung cấp thông tin về thị trường cho hoạch định sản xuất, tổ chức tốt các hoạt động đáp ứng nhu cầu thị trường với chí phí hợp lý nhất Ngược lại, sản xuất tạo ra hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho chức năng marketing Sự phối hợp có hiệu quả giữa sản xuất và marketing sẽ giảm lãng phí về nguồn lực và thời gian

Hoạt động tài chính đầu tư đảm bảo đầy đủ, kịp thời tài chính cần thiết cho hoạt động sản xuất và marketing; phân tích và đánh giá phương án đầu tư mua sắm máy, thiết

bị, công nghệ mới; cung cấp các số liệu về chi phí cho hoạt động tác nghiệp Kết quả của quản trị sản xuất là tạo ra và làm tăng nguồn đảm bảo thực hiện các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp đề ra

Trang 17

Sự mâu thuẫn, chức năng sản xuất và marketing có những mục tiêu mâu thuẫn với nhau về thời gian, về chất lượng và giá cả Trong khi các cán bộ marketing đòi hỏi sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ và thời gian giao hàng nhanh thì quá trình sản xuất lại có những giới hạn về mặt công nghệ, chu kỳ sản xuất, khả năng tiết kiệm chi phí nhất định Cũng chính vì những lý do này mà không phải lúc nào sản xuất cũng đảm bảo thực hiện đúng những chỉ tiêu tài chính đặt ra và ngược lại, nhiều khi những nhu cầu về đầu tư đổi mới công nghệ hoặc tổ chức thiết kế, sắp xếp lại sản xuất không được bộ phận tài chính cung cấp kịp thời

Giữa các chức năng trên có những sự thống nhất, nhưng cũng có những mâu thuẫn nhất định, vì vậy, điều cần thiết là phải tạo ra sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động của các chức năng trên nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu chung của doanh nghiệp đề ra Ngoài

ra, để ba hoạt động trên diễn ra một cách có hiệu quả thì cũng cần phải tiến hành rất nhiều các hoạt động hỗ trợ khác nhau như quản trị nguồn nhân lực, R&D, mua sắm, cung ứng, pháp lý…

1.2 Nội dung cơ bản của quản trị sản xuất

Trong mục này chúng ta nghiên cứu những nội dung cơ bản của quản trị sản xuất thông qua thực hiện những chức năng quản lý chủ yếu với những nhiệm vụ cụ thể của quản trị sản xuất trong từng chức năng đó

(1) Hoạch định sản xuất

Hoạch định sản xuất là nhiệm vụ đầu tiên của hoạt động sản xuất Hoạch định sản

xuất là quá trình xác định phương hướng mục tiêu phát triển sản xuất và các biện pháp cần thiết để huy động các nguồn lực cần thiết vào hoạt động sản xuất của doanh nghiệp

Hoạch định sản xuất giúp định hướng cho mọi hoạt động tổ chức và quản lý điều hành sau này Các mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra trong kế hoạch còn là căn cứ quan trọng cho hoạt động kiểm tra đánh giá tình hình thực hiện sản xuất trong thực tế Hoạch định sản xuất cũng làm cơ sở cho dự tính nguồn lực cần thiết cho hoạt động sản xuất diễn ra ổn định

Nhiệm vụ của hoạch định sản xuất bao gồm:

- Dự báo nhu cầu sản phẩm Hoạt động dự báo bao gồm việc tìm hiểu, nghiên cứu

tình hình thị trường, dự báo xu hướng phát triển của nhu cầu về sản phẩm, dịch vụ trong tương lai Thông qua dự báo sẽ xác định được độ lớn, đặc điểm và xu hướng phát triển của nhu cầu sản phẩm, dịch vụ trên thị trường

Những thông tin dự báo rất cần thiết cho lập kế hoạch sản xuất Để dự báo tốt cần tiến hành các hoạt động phân tích đặc điểm và xu hướng vận động của môi trường, đồng thời cần phải chọn lựa các phương pháp dự báo khoa học đảm bảo tính chính xác và kịp thời

- Xác định phương hướng phát triển sản xuất Trên cơ sở thông tin thu thập được

Trang 18

nghiệp sẽ sản xuất những sản phẩm, dịch vụ gì? Phát triển theo hướng chuyên môn hóa hay đa dạng hóa?

Phương hướng sản xuất và cơ cấu sản phẩm sản xuất là cơ sở quan trọng cho định hướng đầu tư, lựa chọn mua sắm thiết bị công nghệ và tổ chức sản xuất

- Xây dựng kế hoạch sản xuất sản phẩm cụ thể cho từng thời kỳ Kế hoạch sản

xuất bao gồm kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn Trong kế hoạch sản xuất cần phải xác định loại sản phẩm, dịch vụ sản xuất? Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật cần có của sản phẩm là gì? Khối lượng sản phẩm sản xuất là bao nhiêu? Vào thời gian nào? Xác lập hệ thống các chỉ tiêu sản xuất sản phẩm cần đạt được trong từng thời kỳ Dự tính chi phí sản xuất cần thiết thực hiện những chỉ tiêu sản xuất sản phẩm đã đề ra trong kế hoạch Trên

cơ sở đó xác định khả năng sản xuất cần có và dự kiến các giải pháp cần thực hiện để đạt mục tiêu sản xuất một cách hiệu quả nhất

- Lập kế hoạch nhu cầu nguyên vật liệu Hệ thống kế hoạch sản xuất sản phẩm là

cơ sở để xây dựng kế hoạch nhu cầu nguyên vật liệu Dựa vào khối lượng sản phẩm, cơ cấu, chủng loại sản phẩm sẽ sản xuất theo kế hoạch và hệ thống định mức tiêu hao nguyên vật liệu để lên kế hoạch về mua sắm nguyên vật liệu cho từng thời điểm nhằm đảm bảo sản xuất diễn ra thường xuyên, liên tục với chi phí thấp nhất Các mô hình thường được áp dụng để hoạch định nhu cầu vật tư như mô hình lượng đơn hàng kinh tế,

mô hình lượng đơn hàng sản xuất và phương pháp hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu tiên tiến (MRP)

(2) Tổ chức sản xuất

Chức năng tổ chức sản xuất bao gồm tổ chức sản xuất về không gian; tổ chức sản xuất về công nghệ và bộ máy quản lý sản xuất trong doanh nghiệp

- Tổ chức sản xuất về không gian, bao gồm việc lựa chọn địa điểm đặt doanh

nghiệp sản xuất và bố trí sắp xếp các nơi làm việc trong doanh nghiệp Quyết định lựa chọn địa điểm đặt doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn tới chi phí sản xuất, tiếp cận thị trường và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Để có quyết định chính xác cần xác định rõ mục tiêu ưu tiên trong lựa chọn địa điểm đặt doanh nghiệp và phân tích thận trọng các yếu tố ảnh hưởng như thị trường, nguồn nguyên vật liệu, lao động, cơ sở

hạ tầng kinh tế xã hội, chính sách phát triển kinh tê – xã hội của chính quyền địa phương, diện tích mặt bằng, giá thuê đất và dịch vụ công cộng…

- Tổ chức về công nghệ, bao gồm các hoạt động thiết kế sản phẩm, công nghệ hoặc

lựa chọn, mua sắm thiết bị công nghệ và thiết lập các quá trình sản xuất thích hợp Thiết

kế sản phẩm được thực hiện với sự tham gia phối hợp của nhiều bộ phận chức năng khác nhau như: quản lý, R&D, marketing, tài chính, sản xuất… Kết quả của thiết kế sản phẩm

là những bản vẽ kỹ thuật, thuyết minh về cấu trúc, thành phần và đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của sản phẩm Mỗi loại sản phẩm đòi hỏi một quy trình công nghệ tương ứng Vì vậy, những đòi hỏi về đặc điểm sản phẩm sẽ là căn cứ quan trọng để thiết kế công nghệ

Trang 19

Thiết kế công nghệ là việc xác định những yếu tố đầu vào cần thiết như máy móc thiết bị, trình tự các bước công nghệ và những yêu cầu kỹ thuật để có khả năng tạo ra những đặc điểm sản phẩm thiết kế Quyết định về công nghệ là một quyết định dài hạn ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng hoạt động của doanh nghiệp Năng suất, chất lượng và chi phí sản xuất phụ thuộc chặt chẽ vào công nghệ được thiết kế và lựa chọn

- Lựa chọn công suất, đây là nội dung quan trọng trong tổ chức sản xuất cho phép

xác định quy mô, công suất của dây chuyền sản xuất Quyết định lựa chọn công suất hợp

lý, có hiệu quả sẽ giúp cho doanh nghiệp huy động, khai thác năng lực sản xuất và phát triển doanh nghiệp sau này, giúp cho doanh nghiệp tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường Quy mô sản xuất phụ thuộc chặt chẽ vào nhu cầu thị trường, đồng thời là nhân

tố tác động trực tiếp tới loại hình sản xuất, cơ cấu tổ chức quản lý và sản xuất của doanh nghiệp

(3) Điều độ sản xuất

Sau khi hoạch định và tổ chức sản xuất được thực hiện thì tiếp theo phải phổ biến

kế hoạch đó thành hiện thực thông qua các hoạt động chỉ huy, điều hành khai thác những yếu tố sản xuất đã được tạo ra là điều rất quan trọng – đó chính là chức năng của điều độ sản xuất

Điều độ sản xuất là những hoạt động xây dựng lịch trình sản xuất trong từng tuần

cụ thể và phân công công việc cho từng đơn vị cơ sở, từng bộ phận, từng người lao động trong hệ thống sản xuất Hoạt động điều độ sản xuất có có mối quan hệ chặt chẽ với loại

hình bố trí quá trình sản xuất

- Điều độ quá trình sản xuất gián đoạn, bố trí theo công nghệ khá phức tạp do tính

chất đa dạng và thường xuyên thay đổi về khối lượng công việc và luồng di chuyển sản phẩm đưa lại Quá trình sản xuất này đòi hỏi cán bộ quản trị sản xuất phải thường xuyên bám sát thực tế để nắm bắt tình hình, kịp thời đưa ra các quyết định điều phối, phân giao công việc cho phù hợp với những biến động của quá trình sản xuất

- Điều độ quá trình sản xuất liên tục, đối với quá trình này quá trình sản xuất diễn

ra liên tục khối lượng lớn theo dây chuyền việc điều độ tương đối dễ dàng Mọi hoạt động đều diễn ra theo kế hoạch, tương đối ổn định Nhiệm vụ quan trọng là đảm bảo cho hoạt động sản xuất diễn ra một cách nhịp nhàng cân đối theo đúng nhịp điệu dây chuyền sản xuất Giảm hư hỏng của máy, thiết bị dẫn đến phải ngừng toàn bộ hệ thống sản xuất Mặt khác hoạt động sản xuất cần được điều hành sao cho giảm bớt thời gian máy chạy không hoặc thiếu tải trọng

(4) Kiểm tra giám sát hệ thống

Kiểm tra giám sát là quá trình theo dõi, đánh giá tình hình thực hiện trong thực tế

để thu thập những thông tin phản hồi giúp bộ phận quản lý biết khả năng hoàn thành những mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch đặt ra từ đó đưa ra những quyết định điều chỉnh kịp

Trang 20

Kiểm tra giám sát sản xuất bao gồm các hoạt động chủ yếu như kiểm tra về năng suất, chi phí, tiến độ, chất lượng Trong đó việc kiểm tra giám sát về chất lượng và hàng

dự trữ có nội dung khá phức tạp và đóng vai trò quyết định đến khả năng thỏa mãn khách hàng và giảm chi phí sản xuất

- Quản trị chất lượng trong sản xuất là một yếu tố mang ý nghĩa chiến lược Quản

trị chất lượng chính là nâng cao chất lượng của công tác quản lý các yếu tố sản xuất và toàn bộ quá trình sản xuất trong mỗi doanh nghiệp Các vấn đề cơ bản về nhận thức và quan điểm chất lượng và quản lý chất lượng là các vấn đề mà doanh nghiệp cần tập trung giải quyết trong nền kinh tế thị trường Phân tích mục tiêu, nhiệm vụ, đặc điểm, phạm vi

và chức năng của quản lý chất lượng trong sản xuất là cơ sở khoa học để các cán bộ quản trị sản xuất xây dựng chính sách, chiến lược chất lượng cho bộ phận sản xuất Các cán bộ quản trị sản xuất cần phải nắm vững, hiểu rõ và biết sử dụng các công cụ và kỹ thuật thống kê trong quản trị chất lượng, góp phần đảm bảo cho hệ thống sản xuất được kiểm soát chặt chẽ và thường xuyên có khả năng thực hiện tốt những mục tiêu chất lượng đề

ra

- Quản trị hàng dự trữ giúp cho doanh nghiệp chủ động đối phó với những thay

đổi của nhu cầu trên thị trường và yêu cầu đảm bảo đầu vào nguyên vật liệu cho doanh nghiệp Các doanh nghiệp thường phải duy trì một lượng hàng dự trữ nhất định để tránh làm gián đoạn và gây thiệt hại cho quá trình sản xuất Hàng dự trữ quá nhiều có thể tăng chi phí tồn kho, giảm vòng quay của vốn Mục tiêu của kiểm soát hàng dự trữ là xác định lượng dự trữ tối ưu trong từng giai đoạn Đó là lượng dự trữ vừa đáp ứng được nhu cầu của thị trường vừa có chi phí tồn kho thấp nhất Để trợ giúp cho thực hiện mục tiêu này

có nhiều công cụ và mô hình khác nhau được ứng dụng và đưa vào quản trị sản xuất Như

mô hình quản trị hàng dự trữ truyền thống do H Ford, hệ thống cung đúng lúc - JIT, hay phương pháp hoạch định nhu cầu vật tư - MRP

1.3 Lịch sử phát triển và xu hướng vận động của quản trị sản xuất

Trong mục này chúng ta nghiên cứu quá trình phát triển của quản trị sản xuất thông qua sự ra đời và ứng dụng các trường phái lý thuyết quản lý vào quản trị sản xuất

1.3.1 Lịch sử phát triển của quản trị sản xuất

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất vào những năm 70 của thế kỷ XVIII, những phát minh khoa học mới ra đời, tạo tiền đề có tính cách mạng trong phương pháp sản xuất và công cụ lao động, giúp chuyển từ lao động thủ công sang lao động cơ khí Những phát minh cơ bản là phát minh ra máy hơi nước của James Watt năm 1764, cuộc cách mạng kỹ thuật trong ngành dệt năm 1885, sau đó là hàng loạt những phát hiện và khai thác than, sắt cung cấp nguồn nguyên liệu, năng lượng, máy và thiết bị cho sản xuất

Sản xuất tập trung trong các doanh nghiệp làm quy mô hoạt động tăng lên Phương pháp sản xuất cũng phải thay đổi cho phù hợp với tình hình mới Khoa học quản

lý còn phát triển thấp Đến năm 1776, Adam Smith trong cuốn “Của cải của các quốc

Trang 21

gia” lần đầu tiên phân công lao động, nhưng mới chỉ dừng lại ở khái niệm và lợi ích của phân công lao động Trong giai đoạn này, trình độ phát triển sản xuất còn thấp, công cụ sản xuất đơn giản, chủ yếu lao động nửa cơ khí Hàng hóa được sản xuất trong các doanh nghiệp nhỏ, các chi tiết bộ phận chưa tiêu chuẩn hóa, không lắp lẫn được Sản xuất diễn

ra chậm, chu kỳ sản xuất kéo dài, năng suất thấp Khối lượng hàng hóa sản xuất được còn thấp Năm 1790 lý thuyết về sự trao đổi lắp lẫn giữa các chi tiết bộ phận của Eli Whitney

ra đời tạo điều kiện và khả năng lắp lẫn lẫn nhau giữa các chi tiết bộ phận sản phẩm được làm ở những nơi khác nhau góp phần đẩy mạnh hơn phân công chuyên môn hóa trong sản xuất và làm tăng đáng kể khả năng sản xuất của doanh nghiệp Tuy nhiên, trong giai đoạn này khả năng cung cấp hàng hóa nhỏ hơn nhu cầu trên thị trường Những đặc điểm

đó đã tác động đến mục tiêu nhiệm vụ của quản trị sản xuất Đó là tiến hành các hoạt động tổ chức và điều hành sản xuất nhằm tạo ra càng nhiều sản phẩm càng tốt Quy mô sản xuất được quan tâm hàng đầu Trong giai đoạn này, các doanh nghiệp có quy mô tăng lên nhanh chóng

Giai đoạn tiếp theo, nhờ những phát minh khoa học kỹ thuật phát triển nhanh và những khám phá mới trong khoa học quản lý, tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình ứng dụng, khai thác kỹ thuật mới một cách hiệu quả hơn Bước ngoặt cơ bản trong tổ chức hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp là sự ra đời của lý thuyết “Quản lý lao động khoa học” của Taylor công bố năm 1911 Quá trình lao động được hợp lý hóa thông qua việc quan sát, ghi chép, đánh giá, phân tích và cải tiến các phương pháp làm việc Công việc được phân chia nhỏ thành các bước đơn giản giao cho các cá nhân thực hiện Đây là

cơ sở quan trọng cho sự phát triển phân công lao động và chuyên môn hóa sâu trong các doanh nghiệp Lần đầu tiên H Forrd đã tổ chức sản xuất theo dây chuyền Phương pháp sản xuất theo dây chuyền đánh dấu một bước quan trọng trong tổ chức sản xuất công nghiệp Sản phẩm được sản xuất nhiều hơn với chi phí thấp hơn Năng suất lao động giai đoạn này được tăng lên nhanh chóng, khối lượng sản phẩm do các doanh nghiệp sản xuất ngày càng lớn hơn, thị trường lúc này cung đã dần dần đến điểm cân bằng với cầu về nhiều loại sản phẩm, buộc các doanh nghiệp phải tính toán cân nhắc thận trọng hơn trong quản trị sản xuất Mục tiêu cơ bản của quản trị sản xuất thời kỳ này là sản xuất và dự trữ hợp lý nhằm giảm chi phí sản xuất tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường Quản trị sản xuất quan tâm hơn đến hoạt động lập kế hoạch, xây dựng quy trình và phương pháp làm việc chuẩn, hướng dẫn công nhân thực hiện công việc, và tổ chức phân giao công việc để đạt được năng suất cao với chi phí thấp nhất

Những năm nửa đầu thế kỷ XX lý thuyết quản lý lao động khoa học được khai thác tối đa Con người và hoạt động của họ trong công việc được xem xét “dưới kính hiển vi” nhằm loại bỏ những thao tác thừa, lãng phí thời gian và sức lực Chuyên môn hóa sản xuất và lao động phát triển ngày càng sâu sắc cả về quy mô và phạm vi lĩnh vực hoạt động Sloan là người phát triển phân công chuyên môn hóa trong hoạt động quản lý tạo ra

Trang 22

hóa ngày càng nhiều trên thị trường, tính chất cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt hơn

Vị trí vai trò của khách hàng ngày càng lớn Bán hàng trở nên khó khăn hơn Để thích ứng với tình hình mới, quản trị sản xuất lúc này có nội dung rộng hơn Mục tiêu không chỉ hướng tới năng suất, chi phí mà phải tập trung nhiều vào chất lượng, mẫu mã, chủng loại sản phẩm cũng như thời gian và điều kiện giao hàng Những nhiệm vụ quản trị sản xuất quan tâm trong giai đoạn này là hoạc định, thiết kế, tổ chức điều hành và kiểm soát một hệ thống sản xuất tối ưu nhằm cung cấp sản phẩm, dịch vụ tốt hơn, rẻ hơn, nhanh hơn và kịp thời hơn cho khách hàng

Những năm 30 của thế kỷ XX, lý luận của Taylor đã bộ lộ những nhược điểm, mức phát huy tác dụng đã giới hạn tối đa Để nâng cao năng suất lao động, tăng sản lượng sản xuất, chất lượng sản phẩm, giảm chi phí, xuất hiện lý thuyết quản lý hành vi Con người không còn chỉ được xem xét ở khía cạnh kỹ thuật đơn thuần như một bộ phận kéo dài của máy móc thiết bị như trong lý thuyết quản lý lao động khoa học của Taylor

đã đề cập mà bắt đầu nhận thấy con người là một thực thể sáng tạo có nhu cầu, tâm lý, tình cảm và cần phải thỏa mãn những nhu cầu đó Những khía cạnh xã hội, tâm sinh lý, hành vi của người lao động được đề cập nghiên cứu và đáp ứng ngày càng nhiều nhằm khai thác khả năng vô tận của con người trong nâng cao năng suất Lý thuyết phân bậc nhu cầu của Maslow về động cơ làm việc của nhân viên, học thuyết của Elton Mayo 1930

về động viên khuyến khích người lao động cùng với hàng loạt các lý thuyết về hành vi và các mô hình toán học xuất hiện đưa quản trị sản xuất chuyển sang một giai đoạn mới phát triển cao hơn, với những nội dung cần quan tâm rộng lớn hơn

Sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ, tính cạnh tranh ngày càng tăng buộc các doanh nghiệp tăng cường hoàn thiện quản trị sản xuất Quản trị sản xuất tập trung vào phấn đấu giảm chi phí về tài chính, vật chất và thời gian, tăng chất lượng, tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu dùng… Nhiệm vụ, chức năng của quản trị sản xuất được mở rộng ra bao trùm nhiều lĩnh vực khác nhau từ nghiên cứu nhu cầu thị trường, thiết kế sản phẩm, thiết kế hệ thống sản xuất linh hoạt tới hoạch định, tổ chức thực hiện

và kiểm tra, kiểm soát toàn bộ quá trình sản xuất của doanh nghiệp với những phương pháp quản lý mới hiện đại

1.3.2 Xu hướng vận động của quản trị sản xuất

Sản xuất sử dụng các yếu tố đầu vào từ môi trường bên ngoài và cung cấp đầu ra đáp ứng nhu cầu của thị trường vì vậy nó luôn chịu tác động của những thay đổi của môi trường kinh doanh Những đặc điểm của môi trường kinh doanh trong từng giai đoạn đặt

ra những đòi hỏi sản xuất phải đáp ứng Vì vậy, mục tiêu nhiệm vụ của quản trị sản xuất cũng cần thường xuyên thay đổi, điều chỉnh và không ngừng hoàn thiện Sự thích ứng của hệ thống sản xuất phản ánh khả năng quản lý của doanh nghiệp Nhiệm vụ cơ bản của quản trị sản xuất là tạo ra khả năng sản xuất linh hoạt đáp ứng được sự thay đổi của nhu cầu thị trường và có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và quốc tế

Để có thể tồn tại trong môi trường kinh doanh với tính chất cạnh tranh gay gắt và thay

Trang 23

đổi nhanh chóng nhu hiện nay quản trị sản xuất của các doanh nghiệp đang hướng tới những thay đổi chủ yếu sau:

- Tăng cường quản trị chiến lược các hoạt động sản xuất Chiến lược và kỹ năng

quản trị chiến lược được coi là yếu tố đầu tiên đảm bảo cho doanh nghiệp có một sự phát triển lâu dài và bền vững Điều này đòi hỏi cán bộ quản trị sản xuất phải có những kiến thức và kỹ năng cần thiết trong việc xây dựng lựa chọn chiến lược sản xuất Bắt đầu từ những năm cuối thế kỷ của thế kỷ XX quản trị chiến lược trở thành công cụ quan trọng

và cũng là cách thức để các doanh nghiệp phát triển sản xuất thành công trên thị trường đầy biến động hiện nay

- Chuyển từ sản xuất hàng loạt khối lượng lớn với sản phẩm tiêu chuẩn hóa cao sang sản xuất đáp ứng nhu cầu của từng nhóm khách hàng dựa trên những đơn đặt hàng

Thời kỳ sản xuất đáp ứng nhu cầu của từng nhóm khách hàng dựa trên những đơn đặt hàng Hệ thống sản xuất cần có khả năng đáp ứng đầy đủ và tốt nhất những nhu cầu riêng biệt của các khách hàng cá biệt Khả năng cạnh tranh, thu hút khách hàng và chiếm lĩnh thị trường của các doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào mức độ đáp ứng nhu cầu về chủng loại, mẫu mã và những đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản phẩm mà khách hàng đòi hỏi

- Xây dựng hệ thống sản xuất linh hoạt Hệ thống sản xuất linh hoạt là hệ thống

sản xuất khối lượng sản phẩm không lớn, nhưng chủng loại sản phẩm nhiều, có khả năng chuyển đổi mặt hàng nhanh đáp ứng nhu cầu của những thị trường và khách hàng cụ thể được tự động hóa với sự điều khiển từ một trung tâm máy tính Thiết lập hệ thống sản xuất linh hoạt là mục tiêu theo đuổi của các doanh nghiệp trong môi trường nhu cầu đa dạng và thay đổi nhanh nhu hiện nay

- Tăng cường các kỹ năng quản lý sự thay đổi Ngày nay các doanh nghiệp hoạt

động trong một môi trường mà những thay đổi diễn ra quá nhanh Những hình thức tổ chức sản xuất ổn định không còn phù hợp Kỹ năng quản trị sự thay đổi trở thành ưu tiên quan trọng đối với quản trị sản xuất Trong bối cảnh đó cần phải dự báo trước những thay đổi, chủ động đưa ra những cách thức tổ chức sản xuất thích ứng với sự thay đổi Việc xây dựng các chương trình quản lý sự thay đổi để hệ thống sản xuất phản ứng nhanh với thị trường là tiền đề quan trọng cho sự tồn tại và phát triển lâu dài

- Nghiên cứu và đưa vào ứng dụng những phương pháp quản lý hiện đại như quản

lý chất lượng toàn diện (TQM); Cung đúng lúc (JIT); Cải tiến không ngừng (Kaizen), xây dựng hệ thống sản xuất tinh gọn Sự thành công của các doanh nghiệp Nhật Bản và các nước trên thế giới chính là nhờ việc ứng dụng triệt để những phương pháp quản lý hiện đại này vào hoạt động sản xuất

- Tăng cường các phương pháp và biện pháp khai tác tiềm năng vô hạn của con người, tạo ra sự tích cực, tinh thần chủ động, sáng tạo và tự giác trong hoạt động sản

xuất

Trang 24

- Thiết kế lại hệ thống sản xuất của doanh nghiệp trên cơ sở tư duy mới Sự phát

triển nhanh của công nghệ thông tin và những đặc điểm mới của thị trường đang đặt các doanh nghiệp trước những thay đổi mang tính căn bản trong tổ chức các quá trình sản xuất Chuyên môn hóa quá sâu đã làm chia tách sự thống nhất của các quá trình sản xuất, các hoạt động trong một quá trình bị chia cắt bởi sự quản lý của các bộ phận chức năng dẫn đến quan liêu kém hiệu quả Những nguyên tắc quản lý cũ đã lỗi thời ăn sâu vào tu duy quản lý đang cản trở các hoạt động và là nguyên nhân gây lãng phí giảm hiệu quả của hoạt động sản xuất Vì vậy, tái lập quá trình sản xuất dựa trên những nguyên tắc mới được giáo sư Hammer và Chamby khởi xướng đang trở thành xu thế tất yếu trong quản trị sản xuất hiện nay

1.4 Vấn đề năng suất trong quản trị sản xuất

1.4.1 Khái niệm và ý nghĩa của năng suất

Quản trị sản xuất gắn liền với việc nâng cao năng suất và đánh giá năng suất đạt được của từng khâu, từng bộ phận cũng như của toàn bộ dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp Năng suất là tiêu chuẩn phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả của hoạt động quản trị sản xuất Năng suất trở thành nhân tố quan trọng nhất đánh giá khả năng cạnh tranh của

hệ thống sản xuất trong mỗi doanh nghiệp, đồng thời cũng thể hiện trình độ phát triển của

các doanh nghiệp, các quốc gia Về mặt toán học, năng suất là tỷ số giữa đầu ra và

những yếu tố đầu vào được sử dụng để tạo ra đầu ra đó Đầu ra có thể là tổng giá trị sản

xuất hoặc giá trị gia tăng, hoặc khối lượng hàng hoá tính bằng đơn vị hiện vật Đầu vào được tính theo các yếu tố tham gia để sản xuất ra đầu ra, đó là lao động, nguyên vật liệu, thiết bị máy móc, Việc chọn đầu vào và đầu ra khác nhau sẽ tạo ra các mô hình đánh giá năng suất khác nhau Có thể biểu diễn công thức tính năng suất chung cho tất cả các yếu tố như sau:

Q P

L K R C

=+ + + Trong đó: P : năng suất chung; Q : tổng đầu ra; L: yếu tố lao động; K: yếu tố vốn;

R: nguyên liệu thô; C: những hàng hóa và dịch vụ trung gian khác

Trong công thức này năng suất được đánh giá chung cho tất cả các yếu tố và cho từng yếu tố đầu vào Nó được lượng hoá thông qua những con số cụ thể, phản ánh mức hiệu quả của việc khai thác sử dụng các yếu tố đầu vào Tuy nhiên ngoài những yếu tố có thể lượng hoá được năng suất cần được đánh giá đầy đủ về mặt định tính như tính hữu ích của đầu ra, mức độ thoả mãn người tiêu dùng, mức độ đảm bảo những yêu cầu về xã hội gồm bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên, ít gây ô nhiễm, Khái niệm năng suất phản ánh tính lợi nhuận, tính hiệu quả, sự đổi mới và chất lượng hoạt động của doanh nghiệp

Chỉ tiêu năng suất cho doanh nghiệp biết được trình độ và chất lượng của hoạt động quản trị sản xuất, đồng thời là cơ sở để xem xét việc trả công cho người lao động

Trang 25

sau mỗi quá trình sản xuất Vì vậy, việc tính toán năng suất có ý nghĩa rất quan trọng trong quản trị sản xuất của các doanh nghiệp

Để đánh giá sự đóng góp của từng nhân tố riêng biệt người ta còn dùng các chỉ tiêu năng suất bộ phận Năng suất bộ phận bao gồm hai loại cơ bản nhất là năng suất lao động và năng suất vốn

Năng suất lao động:

L

Q P L

Năng suất lao động phản ánh tính hiệu quả của việc sử dụng lao động Thực chất

nó đo giá trị đầu ra do một công nhân tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định (năm, tháng, ngày, giờ, ) hoặc là số thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm

Năng suất vốn:

V

Q P V

Năng suất vốn là một chỉ tiêu được sử dụng trong việc xác định giá trị được tạo ra

từ một đơn vị vốn sử dụng Thông qua năng suất vốn người ta có thể biết được đồng vốn được sử dụng như thế nào và mức đóng góp của nó trong sự phát triển của doanh nghiệp Gần đây người ta còn sử dụng chỉ tiêu năng suất yếu tố tổng hợp TFP (Total Factor Productivity) phản ánh hiệu quả và tính hiệu quả của quản lý hai nhân tố đầu vào này, đồng thời cũng đánh giá mức thay đổi của tiến bộ công nghệ, của cơ cấu sản xuất và của hoạt động quản lý Chỉ tiêu năng suất nhân tố tổng hợp TFP được xác định bằng khối lượng sản phẩm được sản xuất ra khi mỗi yếu tố vốn và lao động cùng được sử dụng với cường độ như nhau Sản phẩm hoặc dịch vụ thu được nhiều hơn từ sử dụng tối ưu nguồn lao động, vốn, từ hoàn thiện quá trình, từ cải tiến chất lượng của vốn, lao động và chất lượng của hệ thống các hoạt động Ngoài phần đóng góp của từng nhân tố lao động và vốn, chúng ta còn thấy một phần giá trị mới do một bộ phận vô hình tạo ra Bộ phận không nhìn thấy này chính là tác động tổng hợp của các yếu tố đầu vào

Y = A L 

Trong đó: Y là đầu ra; L là lao động; K là vốn đầu vào;  , là độ co giãn của đầu

ra tương ứng với lao động và vốn

Năng suất là một chỉ tiêu tổng hợp phản ảnh hiệu quả kinh tế - xã hội Tăng năng suất tạo cơ sở khách quan cần thiết để đảm bảo thống nhất lợi ích của tất cả mọi lực lượng tham gia đóng góp vào hoạt động của doanh nghiệp như người lao động, khách

Trang 26

nói riêng Năng suất ảnh hưởng quyết định đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Giữa năng suất và tính cạnh tranh có mối quan hệ rất chặt chẽ Khi tài sản và quá trình được quản lý một cách có hiệu quả thì sẽ đạt được năng suất cao, tăng năng suất dẫn đến chi phí đơn vị sản phẩm thấp nhưng lại tăng mức độ thoả mãn nhu cầu của khách hàng

Đó là cơ sở cho tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, tạo sự phát triển bền vững

1.4.2 Những nhân tố tác động đến năng suất

Các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất chia thành hai nhóm chủ yếu:

Nhóm nhân tố bên ngoài: bao gồm môi trường kinh tế thế giới, tình hình thị trường, cơ chế chính sách kinh tế của nhà nước

Nhóm nhân tố bên trong: bao gồm nguồn lao động, vốn, công nghệ, tình hình và khả năng tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất

Năng suất phụ thuộc chặt chẽ vào khả năng thiết kế và tổ chức điều hành hệ thống sản xuất Do vị trí vai trò của năng suất hết sức quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường nên nâng cao năng suất là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong quản trị sản xuất Sau đây là một số biện pháp hoàn thiện quản trị sản xuất nhằm nâng cao năng suất:

- Xây dựng hệ thống các chỉ tiêu và thước đo năng suất đối với tất cả các hoạt động tác nghiệp

- Xác định rõ mục tiêu hoàn thiện năng suất trong sản xuất Căn cứ vào hệ thống sản xuất hiện tại và tình hình thực hiện các mục tiêu kế hoạch sản xuất để lựa chọn mục tiêu hợp lý Mục tiêu phải lượng hoá được bằng các con số cụ thể, có tính khả thi nhưng thể hiện sự phấn đấu vươn lên trong mối quan hệ chặt chẽ với các đối thủ cạnh tranh khác Mỗi thành viên cần hiểu rõ mục tiêu, năng suất đặt ra để có kế hoạch hành động thích hợp

- Phân tích, đánh giá quá trình sản xuất phát hiện những khâu yếu nhất - "nút cổ chai" để có những biện pháp khắc phục Đây là khâu quyết định đến năng suất của toàn

bộ hệ thống sản xuất Tìm kiếm và phát hiện khâu yếu nhất là công việc đòi hỏi phải có

sự nghiên cứu thận trọng, đánh giá tất cả các khâu, các bộ phận, về khả năng kỹ thuật, thiết bị, con người, nguyên liệu và sự phối hợp đồng bộ giữa các nhân tố này

- Tăng cường các biện pháp và phương pháp khuyến khích động viên người lao động như các nhóm lao động, nhóm chất lượng

- Định kỳ đánh giá kết quả của các biện pháp hoàn thiện tăng năng suất và công bố rộng rãi, khen thưởng kịp thời

Trang 27

CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN CHƯƠNG 1

Câu 1 Thực chất của quản trị sản xuất là gì? Làm rõ và minh họa bằng ví dụ thực

tế các yếu tố đầu vào, quá trình biến đổi, đầu ra của hệ thống sản xuất Giải thích và minh họa từng yếu tố

Câu 2 Tại sao nói mối quan tâm hàng đầu của nhà quản trị sản xuất là các hoạt động chuyển hóa hay biến đổi? Giải thích và minh họa bằng các ví dụ cụ thể

Câu 3 Phân tích các mục tiêu, vai trò và mối quan hệ giữa chức năng sản xuất với chức năng marketing và quản trị tài chính?

Câu 4 Làm rõ sự khác biệt giữa sản xuất hàng hóa và dịch vụ dựa vào bốn đặc điểm riêng biệt của dịch vụ: tính vô hình, tính đồng thời, tính đa dạng chủng loại và tính hạn chế trong dự trữ Minh họa bằng các thí dụ cụ thể của các công ty Việt Nam

Câu 5: Anh (chị) hãy cho biết quản trị sản xuất có những nội dung cụ thể nào? Hãy phân tích các nội dung đó

Câu 6 Anh (chị) cho biết xu hướng chính của quản trị sản xuất? Tại sao quản trị sản xuất lại có những xu hướng đó?

Câu 7 Bản chất năng suất, các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, để nâng cao năng suất hoạt động quảrn trị sản xuất cần hoàn thiện theo hướng nào?

Câu 8 Lấy ví dụ hai doanh nghiệp, một doanh nghiệp sản xuất sản phẩm vật chất

và một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trong các lĩnh vực như: sản xuất ô tô, hàng điện

tử, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, thương mại, du lịch, thể thao giải trí

a Xác định các hoạt động kinh doanh chủ yếu, thu thập một số dữ liệu phản ánh hoạt động kinh doanh chủ yếu của doanh nghiệp

b Nghiên cứu cơ cấu tổ chức: Vẽ sơ đồ cơ cấu tổ chức, trong cơ cấu tổ chức có bộ phận quản trị sản xuất không? Nếu không có, bộ phận có chức năng quản trị sản xuất có tên là gì?

c Vẽ sơ đồ phản ánh các yếu tố đầu vào, quá trình biến đổi và đầu ra của một hoạt động kinh doanh chủ yếu của doanh nghiệp? Cho biết hoạt động đó thuộc loại hình sản xuất gì? Giải thích ngắn gọn?

Trang 28

BÀI TẬP THỰC HÀNH CHƯƠNG 1

Bài 1: Công ty tư vấn Bureau of Labor Statistics thu thập dữ liệu đầu vào và đầu

ra từ những quốc gia khách nhau để nhằm mục đích so sánh Số giờ lao động được sử dụng làm thước đo đầu vào Tính toán năng suất đơn nhân tố từ dữ liệu bảng sau cho mỗi quốc gia Hãy cho biết quốc gia nào có năng suất cao nhất?

Quốc gia Giờ lao động Đầu ra (đơn vị)

Bài 2: Công ty ADVANCE có một đội ngũ nhân viên gồm 4 người, mỗi người

làm việc 8 giờ/ngày (với tổng chi phí lương là 640$/ngày) và chi phí chung là 400$/ngày Công ty xử lý và hoàn tất 8 sản phẩm mỗi ngày Công ty vừa mới mua một hệ thống vi tính hóa cho phép xử lý được 14 sản phẩm mỗi ngày Mặc dù số lượng nhân viên, số giờ làm việc và tiền lương chi trả không thay đổi, chi phí chung bây giờ là 800$/ngày

Bài 3: Gibson Products là một nhà máy chuyên sản xuất van đúc bằng hợp kim

đồng để sử dụng cho các giàn khoan dầu mỏ ngoài khơi Hiện tại, một ngày nhà máy sản xuất 1.600 van Nhà máy có 20 công nhân làm việc từ 7h00 sáng đến 4h00 chiều, với 30 nghỉ ăn trưa, 15 phút nghỉ giải lao giữa ca sáng và 15 phút nghỉ giải lao giữa ca chiều Gibson hiện đang trong một nền công nghiệp sản xuất van có mức độ cạnh tranh cao, và nhà máy có nhu cầu gia tăng năng suất để giữ vững khả năng cạnh tranh của mình Nhà máy thấy rằng việc gia tăng năng suất của nhà máy lên 20% là cần thiết Giám đốc nhà máy tin rằng việc gia tăng 20% năng suất sẽ không khả thi nếu không có những thay đổi

về điều kiện làm việc, cho nên họ quyết định thay đổi giờ làm việc của công nhân Lịch trình làm việc mới đòi hỏi các công nhân làm việc từ 7h30 sáng đến 4h30 chiều, trong lịch trình làm việc trong ngày các công nhân có thể lựa chọn 1h nghỉ tại bất cứ thời điểm nào họ muốn Rõ ràng rằng số giờ hao phí trong sản xuất là như trước đây nhưng lượng sản xuất lại gia tăng, có lẽ nguyên nhân là vì các công nhân có thêm được khả năng kiểm soát về thời gian làm việc của mình trong ngày làm việc của họ Sau thay đổi này, số lượng van sản xuất được là 1.800 van/ngày

Yêu cầu:

a Tính toán năng suất lao động cho nhà máy trước khi có thay đổi về thời gian làm việc?

Trang 29

b Tính năng suất lao động cho giả định tăng năng suất lên 20% so với ban đầu?

Số lượng van sản xuất được trong một ngày ở trường hợp giả định này là bao nhiêu?

c Năng suất lao động của nhà máy sau khi thay đổi lịch trình làm việc mới?

d Bình luận về những kết quả tính được ở trên?

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 1

1 Phương Mai Anh, Phạm Trung Hải (2016), Giáo trình Quản trị sản xuất (Lưu hành

nội bộ - Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp), NXB Lao Động Trang 11÷45

2 Nguyễn Văn Dung (2015), Quản trị sản xuất và vận hành, NXB Lao động Trang 7÷33

3 Đồng Thị Thanh Phương (2011), Quản trị sản xuất và dịch vụ, NXB Lao động

Xã hội Trang 7÷25

4 Đặng Minh Trang, Lưu Đan Thọ (2015), Quản trị vận hành hiện đại, NXB Tài

Chính Trang 1÷42

5 F Robert Jacobs & Richard B Chase (2015), Quản trị vận hành và chuỗi cung

ứng (bản dịch), NXB Kinh tế TP Hồ Chí Minh Trang 3÷40

6 Jay H Heizer, Barry Render (2013), Operations Management (PowerPoint

presentation to accompany), 11th edition Prentice Hall Chapter 1

7 Chase Richard B (2001), Operations Management for Competitive Advantage,

9 th e McGraw-Hill Page 4÷54

Trang 30

Chương 2

DỰ BÁO NHU CẦU SẢN PHẨM

MỤC ĐÍCH CỦA CHƯƠNG 2

Sau khi nghiên cứu và học tập chương này, sinh viên có thể:

- Hiểu rõ thực chất, tầm quan trọng của dự báo nhu cầu sản xuất sản phẩm và xác định được phương pháp dự báo thích hợp nhất cho những tình huống dự báo khác nhau

- Phân tích được các nhân tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến dự báo nhu cầu sản phẩm và dịch vụ trong doanh nghiệp

- Hiểu rõ quy trình tổ chức hoạt động dự báo trong doanh nghiệp

- Hiểu rõ thực chất, những ưu nhược điểm của từng phương pháp dự báo định tính: Phương pháp lấy ý kiến của ban quản trị điều hành; Phương pháp chuyên gia; Phương pháp lấy ý kiến của lực lượng bán hàng và phương pháp nghiên cứu thị trường người tiêu dùng

- Biết cách áp dụng các mô hình dự báo định lượng trong những tình huống cụ thể như: mô hình bình quân di động, bình quân di động có trọng số, san bằng mũ, san bằng

mũ có điều chỉnh xu hướng, hoạch định theo xu hướng và mô hình hồi quy nhân quả trong dự báo nhu cầu sản phẩm

- Biết cách tính toán và đo lường độ chính xác của các phương pháp dự báo đối với các mô hình dự báo theo chuỗi số thời gian và kiểm soát dự báo một cách hiệu quả

NỘI DUNG CỦA CHƯƠNG 2

2.1 Thực chất của dự báo nhu cầu sản phẩm

Trong phần này chúng ta nghiên cứu thực chất của dự báo và tầm quan trọng của

dự báo trong quản trị sản xuất

2.1.1 Khái niệm và vai trò của dự báo

a) Khái niệm dự báo

Hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp ngày nay thường diễn ra trong một môi trường kinh doanh không chắc chắn, có nhiều biến động Mọi hoạt động của doanh nghiệp diễn ra và thường chỉ thu được kết quả sau một thời gian hoạt động nhất định Các hoạt động xảy ra trước, còn kết quả thu được sau Để ra được những quyết định trong sản xuất góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần phải căn cứ vào những cơ sở khoa học Điều này đòi hỏi phải dự báo được trước tình hình sẽ xảy ra trong thời gian tới Công tác dự báo trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu và không thể thiếu trong quản trị sản xuất của các doanh nghiệp

Vậy dự báo là gì? và ý nghĩa cụ thể của công tác dự báo đối với hoạt động quản trị sản xuất trong doanh nghiệp?

Dự báo là khoa học và nghệ thuật tiên đoán các sự việc xảy ra trong tương lai trên cơ sở phân về tình hình hiện tại và quá khứ Dự báo có thể chỉ là những suy luận

Trang 31

lôgic từ những chiêm nghiệm trong thực tế để tiên đoán trước sự việc hoặc hiện tượng gì

sẽ xảy ra Dự báo có thể được thực hiện nhờ vào việc sử dụng các mô hình toán học thể hiện mối quan hệ giữa nhu cầu và các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu và các số liệu thống kê quá khứ thu được để tính toán đưa ra kết quả dự báo Hoặc có thể là sự phối hợp của những cách trên là dùng mô hình toán học rồi dùng phán xét kinh nghiệm của nhà quản trị để điều chỉnh lại

Khi nghiên cứu các kỹ thuật dự báo khác nhau của chương này, chúng ta sẽ thấy là

ít có phương pháp dự báo nào vượt trội hơn cả Phương pháp dự báo này có thể là tốt đối với công ty này dưới những điều kiện nhất định, nhưng có thể là sai lầm đối với một tổ chức khác, hoặc cũng có thể là ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình phát triển của công ty Ngoài ra, ta cần nhận thức rằng là các dự báo đều có hạn chế của nó, ít khi

nó được hoàn hảo và để chuẩn bị và giám sát việc dự báo, ta cũng phải mất chi phí về thời gian và nguồn lực nhất định Tuy nhiên, để xây dựng các kế hoạch dài hạn hay ngắn hạn của doanh nghiệp một cách có hiệu quả thì kết quả của công tác dự báo nhu cầu sản xuất sản phẩm luôn đóng một vai trò then chốt để làm căn cứ thực hiện

b) Vai trò của dự báo

Dự báo nhu cầu sản phẩm dịch vụ là vấn đề cốt lõi nhất trong hoạt động dự báo của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tạo ra những lợi thế cạnh tranh cho riêng mình Dự báo nhu cầu sản phẩm dịch vụ giúp doanh nghiệp xác định phương hướng, chiến lược sản xuất một cách có hiệu quả, hướng sản xuất vào những sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của thị trường và xác định được quy mô sản xuất phù hợp Dự báo giúp doanh nghiệp giảm thiểu chi phí sản xuất, tránh lãng phí nguồn lực và tận dụng tốt những cơ hội kinh doanh trên thị trường Trên cơ sở những kết quả dự báo chính xác các nhà quản trị sản xuất có thể xây dựng các kế hoạch sản xuất sản phẩm, dịch vụ cho từng giai đoạn và dự kiến kế hoạch mua sắm vật tư, thiết bị, dụng cụ phục vụ cho sản xuất, đồng thời cũng đưa

ra được những giải pháp để thích ứng với sự biến động của thị trường Những thông tin thu được từ dự báo tạo cơ sở quan trọng cho các hoạt động sản xuất diễn ra thuận lợi, tránh và giảm thiểu những rủi ro thiệt hại trong sản xuất Dự báo là căn cứ quan trọng trong việc ra quyết định chiến lược cũng như các quyết định điều hành sản xuất hàng ngày

2.1.2 Đặc điểm chung của dự báo

Khoa học hiện đại có nhiều phương pháp dự báo khác nhau, nhưng chúng ta vẫn

có thể rút ra được một số đặc điểm chung của dự báo như sau:

Thứ nhất, khi tiến hành dự báo người ta chấp nhận giả thiết: hệ thống các yếu tố ảnh

hưởng đến giá trị của đại lượng dự báo trong quá khứ, sẽ tiếp tục có ảnh hưởng trong tương lai

Thứ hai, không có một dự báo nào là hoàn hảo

Trang 32

Thứ ba, dự báo dựa trên việc khảo sát nhóm đối tượng càng rộng, càng đa dạng thì càng

có nhiều khả năng cho kết quả chính xác

Thứ tư, độ chính xác của dự báo tỉ lệ nghịch với khoảng thời gian dự báo Dự báo ngắn

hạn thường có độ tin cậy cao hơn các dự báo trung và dài hạn

2.1.3 Phân loại dự báo

- Căn cứ vào bản chất (nội dung) của lĩnh vực cần dự báo:

Dự báo kinh tế Những dự báo này mang tầm vĩ mô, và dựa vào việc nghiên cứu

các quy luật vận động và phát triển kinh tế của quốc gia, khu vực và vùng kinh tế để lựa chọn phương pháp dự báo và đưa ra kết quả dự báo

Dự báo kinh tế rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp trong việc xây dựng chiến lược, kế hoạch sản xuất Ví dụ, những thông tin dự báo vĩ mô

về tăng trưởng kinh tế, lạm phát, tỷ giá, lãi suất… giúp doanh nghiệp nhận biết được môi trường kinh tế có thuận lợi cho việc đầu tư mở rộng phát triển sản xuất hay không và dự tính trước những giải pháp phát triển sản xuất

Dự báo khoa học công nghệ Dự báo này chú trọng việc tiên đoán xu hướng phát

triển công nghệ và khả năng ứng dụng công nghệ vào thực tiễn sản xuất Dự báo công nghệ được thực hiện bởi các chuyên gia hiểu biết sâu về công nghệ cụ thể

Sự phát triển công nghệ sẽ tạo ra nhiều khả năng hơn cho sự phát triển sản xuất thông qua sự xuất hiện của những sản phẩm, nguyên vật liệu mới dựa trên những máy móc thiết bị, phương pháp sản xuất mới Công nghệ mới cũng làm cho nhiều sản phẩm, phương pháp sản xuất trở nên lỗi thời, lạc hậu giảm khả năng cạnh tranh, thậm trí thị trường không còn nhu cầu về sản phẩm đó nữa

Dự báo nhu cầu Dự báo nhu cầu tập trung chủ yếu vào nghiên cứu, phân tích các

yếu tố thuộc về thị trường và những quy luật vận động của hành vi người tiêu dùng để đưa ra những dự báo về nhu cầu sản phẩm dịch vụ từng giai đoạn

Các doanh nghiệp thường rất quan tâm đến loại dự báo này vì kết quả dự báo trực tiếp là nguồn thông tin trực tiếp có tính hiệu quả cho việc định hướng phát triển cơ cấu sản xuất của doanh nghiệp

- Căn cứ vào thời gian dự báo:

Dự báo ngắn hạn Khoảng thời gian dự báo thường dưới 1 năm Dự báo ngắn hạn

thường có tính cụ thể và đo lường tương đối dễ dàng hơn Nó chủ yếu phục vụ cho việc

ra quyết định điều hành sản xuất hàng ngày như kế hoạch mua hàng, điều độ công việc, phân chia công việc, điều chỉnh nhân lực

Dự báo trung hạn Khoảng thời gian dự báo trung hạn thường từ 1 năm đến 3

năm Nó cần thiết cho việc lập kế hoạch sản xuất, kế hoạch bán hàng, dự thảo ngân sách,

kế hoạch tiền mặt, huy động các nguồn lực và tổ chức hoạt động tác nghiệp

Trang 33

Dự báo dài hạn Khoảng thời gian thường là từ 3 năm trở lên Dự báo này thường

có tính định hướng và định tính nhiều hơn Dự báo này thường đưa ra các quyết định mang tính chiến lược, dài hạn Dự báo dài hạn có ý nghĩa lớn trong việc lập kế hoạch sản xuất sản phẩm mới, kế hoạch nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới, định vị doanh nghiệp hay mở rộng doanh nghiệp

Có thể tổng kết đặc điểm của các loại dự báo theo thời gian như bảng 2.1

- Mang tính định hướng

và định tính

- Thiên về các phương pháp định tính

- Những nhiệm vụ trung hạn

- Ước lượng khả năng

- Thường sử dụng các phương pháp định lượng

- Lượng hóa

- Thường sử dụng các phương pháp định lượng, ngoại suy và sản bằng mũ

Bảng 2.1: Đặc điểm và ứng dụng các loại dự báo theo thời gian

2.1.4 Các nhân tố tác động đến dự báo

Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến dự báo nhu cầu sản phẩm Sau đây là một số nhân tố chủ yếu

a Chu kỳ phát triển kinh tế

Nền kinh tế thế giới phát triển có tính chu kỳ theo các giai đoạn như phục hồi, hưng thịnh, bão hòa và suy thoái Trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế đó nhu cầu về sản phẩm và dịch vụ của người tiêu dùng có sự thay đổi rõ rệt Khi nền kinh tế trong giai đoạn hưng thịnh thì nhu cầu lớn, dẫn đến khả năng đầu tư phát triển mở rộng sản xuất sẽ cao và ngược lại trong giai đoạn suy thoái, nền kinh tế đình trệ nhu cầu giảm mạnh, quy

Trang 34

đoạn nào của quá trình phát triển để dự đoán trước được sự biến động của nhu cầu thị trường

b Chu kỳ sống của sản phẩm

Một trong những nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng đến dự báo là chu kỳ sống của sản phẩm Mỗi sản phẩm thường phải trải qua 4 giai đoạn là giới thiệu sản phẩm, tăng trưởng, chín muồi và suy tàn Tương ứng với mỗi giai đoạn trong chu kỳ sống của sản phẩm cần phải lựa chọn được phương pháp dự báo thích hợp để đảm bảo tính chính xác của dự báo như:

- Các giai đoạn giới thiệu và phát triển của chu kỳ sống của sản phẩm cần được dự báo dài hạn hơn khi chúng đang ở giai đoạn chín muồi và suy tàn

- Giai đoạn chín muồi và suy tàn thì công tác dự báo cần được tăng cường và thận trọng hơn, để tránh cho doanh nghiệp bị những rủi ro bất thường

- Trong giai đoạn giới thiệu sản phẩm ra thị trường thường có rất ít hoặc hầu như không có sẵn các số liệu nên cần dùng để dự báo định tính nhiều hơn là định lượng

- Trong giai đoạn tăng trưởng có thể dùng phương pháp dự báo định lượng và hoạch định theo xu hướng để dự báo sẽ cho kết quả tốt hơn

- Giai đoạn bão hòa thì nhu cầu trở nên ổn định và ít biến động hơn

- Ở giai đoạn suy tàn có rất nhiều số liệu nhưng chúng không thể giúp cho doanh nghiệp tiên đoán khả năng phát triển nhu cầu tiếp theo theo xu hướng của giai đoạn trước

Có nhiều sản phẩm dừng sản xuất nhưng cũng có những sản phẩm sẽ tái phát triển tăng cầu nếu được cải tiến, đổi mới

Như vậy, công tác dự báo sẽ rất hữu ích và quan trọng trong việc lập kế hoạch về nhân lực, tồn kho và công suất của nhà máy khi mà các sản phẩm trải qua và bước vào một giai đoạn mới của chu kỳ sống của sản phẩm Các quyết định về chiến lược cấp doanh nghiệp và cấp chức năng quản trị sản xuất dựa trên việc phân tích các giai đoạn trong chu kỳ sống của sản phẩm được thể hiện như trong bảng 2.2

c Các nhân tố khác

Ngoài các nhân tố chủ yếu trên có thể kể đến các nhân tố khác ảnh hưởng trực tiếp đến sự thay đổi nhu cầu trên thị trường mà dự báo cần tính tới như các chính sách phát triển kinh tế, thuế, tài chính tiền tệ của các nước; tình hình cạnh tranh trên thị trường; chất lượng sản phẩm, khí hậu thời tiết và yếu tố mùa vụ… Các nhân tố đảm bảo độ chính xác của dự báo như phương pháp dự báo; khả năng thu thập thông tin; tổ chức hoạt động

dự báo; chi phí dành cho dự báo…

Trang 35

Đặc điểm

Các giai đoạn trong chu kỳ sống sản phẩm

- Củng cố phân khúc thị trường

- Thời gian không thích hợp để thay đổi hình ảnh, giá

cả hoặc chất lượng

- Bảo vệ vị thế, hình ảnh trên thị trường

- Chi phí cạnh tranh trở nên thiết yếu

- Kiểm soát chi phí có tính cách quyết định

- Đảm bảo độ tin cậy của sản phẩm

và quá trình

- Cải tiến và lựa chọn sản phẩm có sức cạnh tranh

- Gia tăng tối đa công suất của máy móc thiết bị

và tăng cường năng lực sản xuất

- Chuyển sang hướng vào sản phẩm và chú trọng hoạt động phân phối

- Tiêu chuẩn hóa sản phẩm

- Gia tăng độ ổn định của quá trình

và tối ưu công suất

- Cải tiến sản phẩm và cắt giảm chi phí

- Tăng tính ổn định của quá trình

- Đợt sản xuất dài

- Ít khác biệt hóa sản phẩm

- Cực tiểu chi phí

- Thừa công suất trong ngành

- Bỏ bớt mặt hàng để loại bỏ những sản phẩm không mang lại lợi nhuận lớn

- Dần dần cắt giảm công suất

Bảng 2.2: Chiến lược và các vấn đề trong chu kỳ sống của sản phẩm

2.1.5 Các bước trong quá trình dự báo

Để dự báo cần thiết phải triển khai các bước theo trình tự nhất định Sau đây là các bước cụ thể:

Bước 1 Xác định mục đích của dự báo

Bước 2 Lựa chọn sản phẩm, dịch vụ cần dự báo

Bước 3 Xác định thời gian dự báo

Bước 4 Lựa chọn phương pháp (kỹ thuật) dự báo

Bước 5 Tổ chức thu thập dữ liệu và thông tin

Trang 36

Bước 6 Phân tích và xử lý dữ liệu và thông tin

Bước 7 Thực hiện dự báo

Bước 8 Kiểm soát sai số dự báo

Các bước này trình bày một cách có hệ thống cách thức tiến hành từ lúc bắt đầu tìm hiểu, thiết kế và áp dụng hệ thống dự báo Nếu hệ thống được sử dụng để dự báo đều đặn trong thời gian dài, thì các dữ liệu sẽ được thu thập theo một cách thường xuyên và việc tính toán dự báo được tiến hành một cách tự động trên hệ thống máy tính

2.2 Các phương pháp dự báo nhu cầu sản phẩm

2.2.1 Các phương pháp dự báo định tính

Phương pháp dự báo định tính là các phương pháp dự báo bằng cách phân tích dựa vào suy đoán cảm nhận Phương pháp này có nhược điểm là phụ thuộc nhiều vào trực giác, kinh nghiệm và sự nhạy cảm của nhà quản trị trong quá trình dự báo, chỉ mang tính phỏng đoán và không định lượng Tuy nhiên, phương pháp dự báo định tính với ưu điểm đơn giản, dễ thực hiện, thời gian nghiên cứu dự báo nhanh, chi phí dự báo thấp và kết quả

dự báo trong nhiều trường hợp rất tin cậy

Sau đây là một số phương pháp dự báo định tính chủ yếu:

1 Phương pháp lấy ý kiến của ban quản lý điều hành

Đây là phương pháp được sử dụng khá rộng rãi Theo phương pháp này, các cán

bộ quản lý cấp cao căn cứ vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong những giai đoạn trước ở đơn vị mình phụ trách và khả năng cảm nhận, phân tích và suy đoán của mình để đưa ra con số dự báo về nhu cầu sản phẩm trong thời gian tới Ban lãnh đạo sẽ tổ chức các cuộc thảo luận để đi đến thống nhất về kết quả dự báo cho toàn doanh nghiệp

Phương pháp này sử dụng được trí tuệ và kinh nghiệm của những cán bộ trực tiếp liên quan đến hoạt động thực tiễn Kết quả dự báo thu được nhanh với chi phí thấp Tuy nhiên, phương pháp này cũng hạn chế là mang tính chủ quan, phụ thuộc vào khả năng và

độ nhạy cảm của các cán bộ quản lý điều hành Thêm vào đó, kết quả dự báo thường chịu ảnh hưởng của những người có quyền lực và địa vị cao nhất trong doanh nghiệp

2 Phương pháp lấy ý kiến của nhân viên bán hàng trực tiếp

Đây cũng là phương pháp được sử dụng phổ biến Theo phương pháp này thì nhân viên bán hàng có nhiệm vụ đưa ra con số dự báo về nhu cầu sản phẩm trong giai đoạn tới tại khu vực thị trường mình phụ trách Doanh nghiệp sẽ tiến hành thẩm định tính chính xác của con các con số dự báo, sau đó tổng hợp các số liệu dự báo của tất cả các khu vực thị trường để hình thành dự báo nhu cầu sản phẩm của toàn bộ thị trường

Ưu điểm của phương pháp này là cho kết quả nhanh với chi phí thấp Phương pháp này thường có độ chính xác cao hơn phương pháp lấy ý kiến của cán bộ quản trị điều hành cấp cao Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là kết quả dự báo phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của nhân viên bán hàng và nhân viên bán hàng có thể đưa ra

Trang 37

con số dự báo thấp hơn so với nhu cầu thực của thị trường để dễ đạt được định mức Ngược lại, một số nhân viên khác lại dự báo quá cao để giành được sự quan tâm và đầu

tư cho khu vực thị trường mình phụ trách nhiều hơn

3 Phương pháp Delphy (Phương pháp chuyên gia)

Thực chất đây là phương pháp chuyên gia Phương pháp này thu thập và xử lý những đánh giá dự báo bằng cách tập hợp và hỏi các ý kiến chuyên gia giỏi ở những lĩnh vực khác nhau để dự báo Quá trình dự báo theo phương pháp delphy là một tập hợp các bước được thực hiện lặp đi lặp lại, trong đó các chuyên gia trả lời các câu hỏi đã được soạn thảo sẵn trong các phiếu điều tra một cách độc lập Quá trình dự báo chỉ dừng lại khi mọi thắc mắc đã được giải đáp rõ ràng

Để dự báo người ta thành lập nhóm dự báo gồm 3 thành phần chủ yếu như sau: Thứ nhất là các cán bộ lãnh đạo đóng vai trò phụ trách và đưa ra các quyết định liên quan đến dự báo

Thứ hai là những nhân viên tổng hợp có nhiệm vụ soạn thảo phiếu điều tra, phát

và thu thập, phân tích các ý kiến trả lời từ phiếu điều tra Nhân viên tổng hợp cần có khả năng phân tích, tổng hợp, am hiểu về sản phẩm và chính sách phát triển sản phẩm của doanh nghiệp, đồng thời cũng phải có kỹ năng xây dựng và soạn thảo phiếu điều tra

Thứ ba là những chuyên gia giỏi thuộc các lĩnh vực khác nhau có nhiệm vụ trả lời các câu hỏi trong phiếu điều tra

Các bước thực hiện phương pháp Delphy

Bước 1 Chọn các nhà chuyên gia, nhân viên tổng hợp và người lãnh đạo nhóm tiến hành dự báo

Bước 2 Tổ chức xây dựng các câu hỏi điều tra lần đầu, gửi đến chuyên gia

Bước 3 Phát phiếu điều tra cho các chuyên gia trả lời

Bước 4 Thu thập phiếu điều tra và tiến hành phân tích các câu trả lời, tổng hợp và viết lại câu hỏi

Bước 5 Soạn thảo phiếu câu hỏi lần hai gửi tiếp cho các chuyên gia

Bước 6 Thu thập, phân tích bảng trả lời câu hỏi lần thứ hai

Bước 7 Soạn thảo các câu hỏi tiếp, gửi đi và phân tích kết quả điều tra

Các bước trên được dừng lại khi kết quả dự báo thỏa mãn những yếu cầu đề ra

Ưu điểm của phương pháp Delphy là thường có độ chính xác cao hơn phương pháp phương pháp lấy ý kiến của ban lãnh đạo cao nhất và lấy ý kiến của nhân viên bán hàng vì tận dụng được kiến thức chuyên môn sâu của các chuyên gia trong từng lĩnh vực Những ý kiến của họ rất sâu sắc và có giá trị Ngoài ra, phương pháp này tránh được mối liên hệ trực tiếp giữa các cá nhân, không có các va chạm giữa người này với người khác hoặc bị ảnh hưởng quyền lực của một người nào đó ưu thế hơn

Trang 38

Nhược điểm của phương pháp này là thời gian dự báo kéo dài hơn hai phương pháp trên Chí phí cho hoạt động dự báo là tương đối cao do phải dùng tới những chuyên gia giỏi cho hoạt động dự báo

Phương pháp Delphy có thể áp dụng hiệu quả trong những trường hợp sau đây: + Khi mà đối tượng dự báo có tầm bao quát lớn phụ thuộc vào những yếu tố, mà những yếu tố này chưa có cơ sở rõ ràng để xác định

+ Trong điều kiện thiếu nguồn thông tin và những số liệu thống kê tin cậy về đối tượng dự báo

+ Khi tiến hành dự báo mang tính dài hạn, đối tượng dự báo chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khó lượng hóa (Ví dụ, sự phát triển khoa học kỹ thuật, những nhân tố thuộc

về tâm lý xã hội như: thị hiếu, thói quen, lối sống, đặc điểm dân cư…)

+ Trong điều kiện có độ bất định lớn của đối tượng của đối tượng dự báo, độ tin cậy thấp về hình thức biểu hiện, về chiều hướng biến thiên và về phạm vi cũng nhưng quy mô và cơ cấu

4 Phương pháp điều tra trực tiếp người tiêu dùng

Đây là phương pháp lấy ý kiến khách hàng hiện tại và tiềm năng cho kế hoạch của doanh nghiệp Việc nghiên cứu do phòng nghiên cứu thị trường thực hiện bằng nhiều hình thức như tổ chức các cuộc điều tra lấy ý kiến của khách hàng, phỏng vấn trực tiếp, phỏng vấn qua điện thoại, gửi phiếu điều tra tới gia đình hoặc cơ sở tiêu dùng…

Ưu điểm của phương pháp này là không những giúp cho doanh nghiệp chuẩn bị

dự báo mà còn có thể hiểu được những đánh giá của khách hàng về sản phẩm của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp cải tiến hoàn thiện sản phẩm cho phù hợp

Nhược điểm chính của phương pháp này là đòi hỏi sự tốn kém về tài chính, thời gian và cần có sự chuẩn bị thật chu đáo và khoa học trong việc thiết kế và soạn thảo phiếu điều tra Đôi khi phương pháp này cũng vấp phải những khó khăn là ý kiến của khách hàng không thực sự xác thực hoặc quá tin cậy

2.2.2 Các phương pháp dự báo định lượng

Phương pháp dự báo định lượng là phương pháp dự báo dựa trên việc sử dụng những số liệu thống kê để tính toán lượng hóa cụ thể kết quả của dự báo Để dự báo người ta thiết lập các mô hình toán học thể hiện mối quan hệ giữa nhu cầu và các yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu và dùng số liệu thống kê thu được trong các giai đoạn trước để dự báo Phương pháp dự báo định lượng bao gồm các mô hình dự báo theo chuỗi thời gian

và hàm số nhân quả Sau đây là một số mô hình dự báo định lượng chủ yếu:

2.2.2.1 Phương pháp dự báo theo dãy số thời gian (Phương pháp ngoại suy)

Phương pháp dự báo theo dãy số thời gian được xây dựng trên giả thiết các nhân

tố ảnh hưởng đến quá khứ và hiện tại sẽ còn ảnh hưởng trong tương lai Trong phương pháp này đại lượng cần dự báo được xác định trên cơ sở phân tích chuỗi các số liệu về

Trang 39

nhu cầu sản phẩm thống kê được trong quá khứ Để dự báo người ta thể hiện mối quan hệ bằng những công thức toán học với một bên là nhu cầu về sản phẩm và bên kia là thời gian

Chuỗi thời gian là tập hợp các dữ liệu số cách quãng đều có được bằng cách quan sát biến đáp ứng tại những thời điểm cách đều nhau Ví dụ, chuỗi số liệu doanh số hàng tháng, quý, hoặc năm

Các thành phần của chuỗi thời gian bao gồm 4 thành phần chính là chuỗi xu thế (Trend), chuỗi chu kỳ (Cycles), chuỗi mùa vụ (Seasonality) và chuỗi ngẫu nhiên (Random variations)

- Chuỗi xu thế (T): Tính xu thế của dòng nhu cầu sản phẩm thể hiện sự thay đổi của các dữ liệu theo thời gian (nhìn chung xu thế của dòng sản phẩm có thể đi lên hoặc đi xuống), thời gian của chuỗi xu thế thường diễn ra trong dài hạn thường là lớn hơn 3 năm

Ví dụ, nhu cầu đáp ứng công nghệ

- Chuỗi mùa vụ (S): Thể hiện sự dao động hay biến đổi dữ liệu theo thời gian, dữ liệu được lặp đi lặp lại theo những chu kỳ đều đặn do sự tác động của một hay nhiều nhân

tố môi trường xung quanh như tập quán sinh hoạt, do thời tiết, hoạt động kinh tế xã hội…

Ví dụ, nhu cầu tiêu thụ bia không đồng đều theo các mùa trong năm

- Chuỗi chu kỳ (C): Chu kỳ là yếu tố lặp đi lặp lại sau một giai đoạn thời gian nhất định Ví dụ, chu kỳ sinh học, chu kỳ phục hồi kinh tế…

- Chuỗi ngẫu nhiên (R): Chính là sự dao động của dòng nhu cầu sản phẩm do các yếu tố ngẫu nhiên gây ra, không mang tính quy luật Ví dụ, các yếu tố ngẫu nhiên như cuộc đình công của công nhân, thiên tai…

Nhu cầu thay đổi theo thời gian dưới những dạng khác nhau Một công thức tổng hợp cho kết quả chính xác nhất phải thể hiện được đầy đủ các thay đổi này Có hai dạng

mô hình kết hợp các thành phần của chuỗi số thời gian là môi hình nhân và mô hình cộng

Mô hình nhân giả định nhu cầu (Y) là tích số của 4 thành phần:

Y = T x S x C x R

Mô hình nhân giả định nhu cầu (Y) là tổng số của 4 thành phần:

Y = T + S + C + R Trong phần lớn các mô hình dùng trong thực tế, các nhà dự báo giả thiết các biến

số ngẫu nhiên được loại ra trong suốt thời gian dự báo Do đó, họ chỉ tập trung vào các thành phần theo mùa vụ, xu thế và chu kỳ

a Bình quân giản đơn (simple average)

Phương pháp bình quân giản đơn cho kết quả dự báo là giá trị trung bình của nhu cầu thực trong những giai đoạn đã qua Bình quân giản đơn dựa trên giả định tác động

Trang 40

Công thức:

1

n i i t

A F

A: Nhu cầu thực của giai đoạn i

n: Số giai đoạn dùng làm căn cứ dự báo (Số giai đoạn quan sát)

Ví dụ 1: Một doanh nghiệp kinh doanh đạm Urê có doanh số bán hàng trong 3

tháng đầu năm lần lượt là 17 tỷ VNĐ; 19 tỷ VNĐ; 21 tỷ VNĐ Hãy dự báo doanh số của tháng 4 bằng phương pháp bình quân giản đơn

Theo phương pháp bình quân giản đơn, doanh số dự báo cho tháng 4 là:

Ft = (17+19+21)/3 = 19 (tỷ VNĐ)

Ưu điểm của phương pháp này đơn giản, dễ tính, cho kết quả nhanh Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là độ chính xác không cao vì bỏ qua nhiều yếu tố do không tính tới những thay đổi của thời gian và ảnh hưởng của những thay đổi đó đến dự báo, đồng thời phương pháp này có tính linh hoạt thấp

b Bình quân di động

Trong thực tế khi thời gian thay đổi thì tác động của các giai đoạn đến nhu cầu cũng thay đổi Phương pháp này vẫn sử dụng công thức trên để tính giá trị trung bình nhưng có tính tới yếu tố trượt về thời gian Phương pháp bình quân di động dùng kết quả trên cơ sở thay đổi liên tục khoảng thời gian trước đây cho dự báo giai đoạn tiếp theo, công thức:

1

t i

i t n t

A F

Ví dụ 2: Một công ty có doanh số (triệu VNĐ) bán hàng trong các tháng của năm

2018 được thống kê trong bảng sau Hãy dự báo bằng phương pháp bình quân di động với số giai đoạn là 4

Công ty đã sử dụng phương pháp bình quân di động với số giai đoạn là 4 tháng để

dự báo cho các tháng, kết quả như sau:

Ngày đăng: 13/07/2021, 08:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm