Chủ thể của chuyển nhượng cổ phần gồm bên bán là các cổ đông trong công ty cổ phần và bên mua có thể là tổ chức, cá nhân có nhu cầu góp vốn. Tổ chức ở đây có thể là các tổ chức Việt Nam hoặc nước ngoài chỉ cần đáp ứng đủ các điều kiện về mua cổ phần trong công ty cổ phần.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ BÀI………1
NỘI DUNG……….……… 1
I.Khái niệm ……… 1
II.Chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần.………2
1.Chủ thể của chuyển nhượng cổ phần……….……… 2
2 Điều kiện chuyển nhượng ……… ……….………2
3 Một số trường hợp khác trong chuyển nhượng cổ phần.………7
4.Về cách thức chuyển nhượng cổ phần……….……… 8
5.Hồ sơ chuyển nhượng cổ phần……….………10
6 Thủ tục chuyển nhượng cổ phần……….……… 10
7 Xử lý cổ phần trong một số trường hợp khác……….….… 11
8 Hệ quả pháp lý của chuyển nhượng cổ phần……….………12
KẾT BÀI……….……….….………12 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2MỞ BÀI
Trong tình hình nền kinh kế ở nước ta hiện nay, công ty cổ phần đang là loại hình được nhiều nhà đầu tư lựa chọn và được nhà nước thúc đẩy mở rộng do những ưu thế và tính tích cực của nó Không thể phủ định rằng trước tình hình toàn cầu hóa kinh tế lúc bấy giờ, công ty cổ phần là một loại hình phù hợp với yêu cầu thực tiễn cũng như xu thế thời đại Với vốn đã bỏ ra để mua cổ phần mà công
ty chào bán, cổ đông không nhất thiết phải gắn bó lâu dài với công ty nếu họ không muốn Tính tự do chuyển nhượng của cổ phần đem lại cho công ty cổ phần lợi thế hơn hẳn so với các loại hình công ty khác Tuy nhiên trước xu thế kinh tế thị trường hiện nay cũng có nhiều vấn đề phát sinh và chưa được làm rõ từ công ty
cổ phần Để nghiên cứu rõ hơn việc Luật Doanh nghiệp 2014 quy định như thế
nào về vấn đề này em xin được chọn đề tài: “Phân tích các quy định pháp luật về
chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần”
NỘI DUNG I.Khái niệm
Cổ phần là phần vốn nhỏ nhất của công ty cổ phần Theo điểm a, khoản 1,
điều 110, Luật Doanh nghiệp 2014 thì : “Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần
bằng nhau được gọi là cổ phần.” Người sở hữu cổ phần gọi là cổ đông Cổ đông
có thể là cá nhân hoặc tổ chức Tùy theo loại cổ phần họ sở hữu mà có thể có tên gọi khác nhau
Theo Điều 113 Luật doanh nghiệp 2014 cổ phần bao gồm cổ phần phổ thông
và cổ phần ưu đãi Công ty cổ phần bắt buộc phải có cổ phần phổ thông Cổ phần
ưu đãi gồm các loại sau: Cổ phần ưu đãi biểu quyết; Cổ phần ưu đãi cổ tức ; Cổ phần ưu đãi hoàn lại; Cổ phần ưu đãi khác do điều lệ công ty quy định
- Cổ phần phổ thông: là cổ phần bắt buộc phải có của công ty cổ phần Người
sở hữu cổ phần phổ thông được gọi là cổ đông phổ thông Các cổ đông sáng
Trang 3lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán và phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn chín mươi ngày, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
- Cổ phần ưu đãi biểu quyết là cổ phần có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với
cổ phần phổ thông Số phiếu biểu quyết của một cổ phần ưu đãi biểu quyết do Điều lệ công ty quy định (Khoản 1 Điều 116) Chỉ có tổ chức được Chính phủ
uỷ quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết
- Cổ phần ưu đãi cổ tức: là cổ phần được trả cổ tức với mức cao hơn so với mức
cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hằng năm Cổ tức được chia hằng năm gồm cổ tức cố định và cổ tức thưởng ( Khoản 1 Điều 117)
- Cổ phần ưu đãi hoàn lại: là cổ phần được công ty hoàn lại vốn góp theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ phần
ưu đãi hoàn lại ( Khoản 1 Điều 118)
Chuyển nhượng cổ phần là việc thay đổi chủ sở hữu của cổ phần mà không làm thay đổi cấu trúc vốn của công ty cổ phần Việc chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần linh hoạt hoạt hơn so với chuyển nhượng vốn của công ty TNHH
II.Chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần.
1.Chủ thể của chuyển nhượng cổ phần
Chủ thể của chuyển nhượng cổ phần gồm bên bán là các cổ đông trong công
ty cổ phần và bên mua có thể là tổ chức, cá nhân có nhu cầu góp vốn Tổ chức ở đây có thể là các tổ chức Việt Nam hoặc nước ngoài chỉ cần đáp ứng đủ các điều kiện về mua cổ phần trong công ty cổ phần
2 Điều kiện chuyển nhượng
Khoản 1 Điều 126 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định về điều kiện để
chuyển nhượng cổ phần: “Cổ phần được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp
quy định tại khoản 3 Điều 119 của Luật này và Điều lệ công ty có quy định hạn
Trang 4chế chuyển nhượng cổ phần… ”.Như vậy, luật đã khẳng định cổ đông có quyền
tự do chuyển nhượng cổ phần trừ trường hợp bị hạn chế bị hạn chế theo quy định pháp luật Quy định cổ đông tự do chuyển nhượng cổ phần đã tạo nên thị trường vốn, thị trường chứng khoán Luồng vốn đầu tư xã hội sẽ được luân chuyển trên thị trường, điều đó tạo ra cơ hội cho các nhà đầu tư thay đổi, điều chỉnh mục tiêu đầu tư hết sức dễ dàng, tạo cho những ai có ý tưởng đầu tư vào một lĩnh vực nào
đó, có điều kiện thực hiện ý tưởng đầu tư của mình thông qua việc mua cổ phần đến mức đủ lớn để có thể điều hành được công ty Chuyển nhượng cổ phần bị hạn chế trong những trương hợp:
- Thứ nhất theo quy định tại khoản 3 Điều 119 Luật doanh nghiệp: “Trong thời
hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp,
cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông Trường hợp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền
biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó.”
Như vậy nếu không thuộc thời hạn 3 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng
cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông Quy định chuyển nhượng cổ phần cho người ngoài công ty là quy định mềm mang tính thỏa thuận giữa các cổ đông trong công
ty Việc thỏa thuận này có thể được quy định trong điều lệ công ty hoặc trong nghị quyết họp đại hội đồng cổ đông Như vậy các cổ đông sáng lập có thể quy định một số người phải giữ đủ 20% số cổ phần hoặc quy định mỗi người phải giữ 20%
cổ phần
- Thứ hai căn cứ vào quy định tại khoản 3 Điều 116 Luật Doanh nghiệp: “Cổ
đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó
Trang 5cho người khác.” Như vậy, cổ đông có cổ phần ưu đãi biểu quyết sẽ không thể tự
do chuyển nhượng cổ phần đó
Điều lệ công ty là bản cam kết của tất cả thành viên trong công ty về thành lập và hoạt động công ty Như vậy, khi điều lệ công ty quy định về việc hạn chế chuyển nhượng cổ phần, tức là thành viên công ty đã cam kết tuân thủ những quy định đó Khi đó, thành viên công ty sẽ bị hạn chế chuyển nhượng theo quy định tại
điều lệ công ty “Trường hợp Điều lệ công ty có quy định hạn chế về chuyển
nhượng cổ phần thì các quy định này chỉ có hiệu lực khi được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng” Đây là một điểm bổ sung mới so với Luật Doanh
nghiệp 2005, nó làm tăng quyền quyết định của thành viên trong công ty mà chủ yếu là người sáng lập công ty khi cho phép Điều lệ công ty có quy định về hạn chế chuyển nhượng cổ phần
a) Đối với cổ phần phổ thông
Ba năm, là khoảng thời gian các nhà làm luật nhận định là khoảng thời gian cần thiết cho doanh nghiệp có thể ổn định kinh doanh, đưa hoạt động của công ty
đi vào quỹ đạo Chuyển nhượng phần vốn góp trong giai đoạn này có thể dẫn đến
sự bất ổn trong bộ máy quản lý, hoạt động của công ty Sau thời hạn ba năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận, mọi hạn chế đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập đều được bãi bỏ Quy định nàykhông thay đổi so với Luật Doanh nghiệp 2005 ( quy định tại khoản 5, điều 84)
Đối với các loại cổ phần khác, cổ đông có thể chuyển nhượng tư do nhưng riêng cổ phần phổ thông nếu muốn chuyển nhượng cho người không phải thành viên công ty thì phải được đại hội đồng cổ đông chấp thuận Nó nhằm bảo đảm các cổ đông sáng lập, các nhà đầu tư sẽ không tự ý rời bỏ công ty khi công ty chưa
đi vào quỹ đạo ổn định, bên cạnh đó quy định trên còn mang tính chất ràng buộc nghĩa vụ vật chất của cổ đông sáng lập với người mua nhằm tránh tình trạng tuyên truyền lừa đảo.Quy định này chỉ nhằm tập trung vào việc bãi bỏ hoàn toàn các hạn chế nếu một hoặc một số cổ đông sáng lập muốn chuyển nhượng cổ phần của
Trang 6mình cho người khác không phải là cổ đông sáng lập của công ty sẽ được tự do thực hiện mà không phải chờ sự đồng ý của những cổ đông sáng lập còn lại
Quy định nàynhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của các cổ đông sáng lập còn lại trong trường hợp một hoặc một số cổ đông sáng lập khác có ý định chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác không phải là cổ đông sáng lập, đề cao
ý nghĩa của cổ đông sáng lập – người tham gia khởi xướng cho sự ra đời của công
ty Mặt khác, điều này cũng nhằm mang đến tính ổn định cho công ty cổ phần mới thành lập trong khoảng thời gian ba năm đầu
b)Cổ phần ưu đãi biểu quyết
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 116, riêng cổ phẩn ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng Chỉ có tổ chức do Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập mới được quyền nắm giữ cổ phiếu ưu đãi biểu quyết Như vậy nếu muốn chuyển nhượng loại cổ phần này, người sở hữu cổ phần phải chuyển đổi từ cổ phần ưu đãi biểu quyết sang cổ phần phổ thông
Nếu tổ chức do Chính phủ ủy quyền tự do chuyển nhượng thì không còn mang đúng tính chất"ủy quyền" của nhà nước nữa Và đối với cổ đông sáng lập,
họ là người đã sáng lập và có ý tưởng phát triển công ty nên không thể dễ dàng chuyển nhượng loại cổ phần này cho người khác Hơn nữa cổ đông nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết sẽ có nhiều lá phiếu biểu quyết hơn), loại cổ phần này giúp người nắm giữ có quyền quyết định cao hơn so với những người nắm giữ cùng lượng cổ phần nhưng loại khác, chính quyền quyết định ấy sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của công ty, nhất là trong giai đoạn đầu đi vào hoạt động Do đó nhằm đảm bảo cho những thành viên sáng lập có thể duy trì được ý tưởng kinh doanh ban đầu của mình, tránh cho công ty mất tính ổn định trong những năm đầu thành lập thì cổ đông nắm giữ loại cổ phần này không được chuyển nhượng.Và trong trường hợp họ vì quyền lợi riêng của mình mà bán tháo cổ phần cho đối thủ, để đối thủ dễ dàng kiểm soát và dẫn đến thất bại của công ty, gây ra sự xáo trộn trong quản lý
và gây mất ổn định trong hoạt động Pháp luật quy định như vậy vì để tránh không
Trang 7cho 1 cá nhân làm việc trong nội bộ có ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của tập thể
c)Cổ phần ưu đãi cổ tức
Đối với cổ phần ưu đãi cổ tức do luật hiện hành không đề cập gì tới việc có
bị cấm hay tự do chuyển nhượng nên tùy từng điều lệ của công ty quy định mà có những điều kiện khác nhau để được chuyển nhượng
Có thể nhận thấy sự khác nhau rõ ràng giữa việc chuyển nhượngcổ phần ưu đãi cổ tức và cổ phần ưu đãi biểu quyết, cùng là loại cổ phần ưu đãi nhưng không phải cả hai loại cổ phần đều được chuyển nhượng Có sự khác nhau trên bởi cổ phần ưu đãi cổ tức chỉ mang giá trị về mặt vật chất, tức là được nhận nhiều cổ tức hơn so với các cổ phần khác, nó không mang tính ảnh hưởng lớn đến hoạt động của công ty bởi cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức không có quyền biểu quyết, không được dự họp Đại hội đồng cổ đông, đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát (khoản 3, điều 117 Luật Doanh nghiệp 2014
Đây có thể được xem là một điểm mới của Luật Doanh nghiệp 2014 bởi trong Luật Doanh nghiệp 2005 không tồn tại quy định về việc chuyển nhượng cổ phần ưu đãi cổ tức mà việc chuyển nhượng phụ thuộc hoàn toàn vào quy định của Điều lệ công ty Về mặt hình thức có thể thấy được sự quan tâm của Nhà nước trong điều chỉnh việc chuyển nhượng cổ phần bằng cách đưa yếu tố pháp lý vào làm hoạt động chuyển nhượng thêm phần minh bạch, cụ thể
d) Cổ phần ưu đãi hoàn lại
Giống như cổ phần cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại cũng được
tự do chuyển nhượng vì pháp luật không có quy định cụ thể trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác về việc hạn chế chuyển nhượng cổ phần Điều này là hoàn toàn phù hợp bởi tính chất của cổ phần ưu đãi hoàn lại, cũng không khác so với cổ phần ưu đãi cổ tức bởi ngoài việc người sở hữu sẽ có quyền yêu cầu hoàn lại vốn góp hoặc việc hoàn lại sẽ được thực hiện khi đáp ứng các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi hoàn lại thì cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi
Trang 8hoàn lại cũng giống như cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức đó là không có quyền biểu quyết, không được dự họp Đại hội đồng cổ đông, đề cử người vào Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, tức là không mang tính ảnh hưởng lớn đến hoạt động của công ty
3 Một số trường hợp khác trong chuyển nhượng cổ phần.
- Trường hợp chuyển nhượng cổ phần phát hành riêng lẻ, cổ phần của ngân hàng thương mại cổ phần, cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có một số điểm khác
so với các trường hợp chuyển nhượng cổ phần khác nhưng Luật doanh nghiệp
2014 chưa có nghị định hướng dẫn đối với những trường hợp này Theo nghị định 01/2010/NĐ-CP thì chào bán cổ phần riêng lẻ là việc chào bán cổ phần hoặc quyền mua cổ phần trực tiếp và không sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng cho một trong các đối tượng sau: Các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, dưới 100 nhà đầu tư không phải nhà đầu tư chuyên nghiệp (điểm a, b, khoản 1, điều 4) Cũng theo đó, cổ phần mà các công ty cổ phần khi phát hành riêng lẻ không được chuyển nhượng trong thời hạn một năm kể từ ngày phát hành
- Đối với ngân hàng thương mại cổ phần cổ phần phổ thông của thành viên sáng lập của ngân hàng thương mại cổ phần mới thành lập, trong vòng 5 năm kể
từ ngày được cấp giấy phép, chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông trong tổng số cổ phần góp vốn khi thành lập ngân hàng cho cổ đông sáng lập khác Đối với cổ đông không phải thành viên sáng lập của ngân hàng, trong thời gian 3 năm
kể từ ngày cấp giấy phép thành lập, chỉ được phép chuyển nhượng số cổ phần vốn góp của mình khi ngân hàng thành lập cho cổ đông khác của ngân hàng
- Là đại diện theo ủy quyền của cổ đông là tổ chức bị sáp nhập, hợp nhất, chia tách, giải thể, phá sản theo quy định pháp luật;
- Bị bắt buộc chuyển nhượng cổ phần theo quyết định của Tòa án Đồng thời, phải có sự chấp thuận của ngân hàng nhà nước nếu có sự chuyển nhượng cổ phần của ngân hàng cổ phần do nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ
- Đối với nhà đầu tư nước ngoài thì theo khoản 5, điều 14, nghị định 01/2014/
Trang 9NĐ-CP thì nhà đầu tư chiến lược nước ngoài chỉ được phép chuyển nhượng cổ phần thuộc sở hữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác (kể cả trong nước và ngoài nước) tối thiểu sau 5 năm kể từ khi trở thành là nhà đầu tư chiến lược nước ngoài tại một ngân hàng Việt Nam ghi trong văn bản chấp thuận tại Ngân hàng Nhà nước Đồng thời tại khoản 6, điều 14, nghị định 01/2014/ NĐ-CP cũng có quy định nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức sở hữu 10% vốn điều lệ tại một ngân hàng Việt Nam chỉ được phép chuyển nhượng cổ phần thuộc sở hữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác (kể cả trong nước và ngoài nước) tối thiểu sau 3 năm kể từ khi
sở hữu 10% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam
4.Về cách thức chuyển nhượng cổ phần
Về cách thức chuyển nhượng cổ phần, Khoản 2 Điều 126 có quy định:
“Việc chuyển nhượng được thực hiện bằng hợp đồng theo cách thông thường
hoặc thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán Trường hợp chuyển nhượng bằng hợp đồng thì giấy tờ chuyển nhượng phải được bên chuyển nhượng
và bên nhận chuyển nhượng hoặc đại diện ủy quyền của họ ký Trường hợp chuyển nhượng thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán, trình tự, thủ tục
và việc ghi nhận sở hữu thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán.”
Theo quy định tại khoản 2, điều 126 Luật Doanh nghiệp 2014 thì việc chuyển nhượng có thể được thực hiện theo hai cách là chuyển nhượng bằng hợp đồng theo cách thông thường hoặc thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán
Chuyển nhượng theo cách thông thường bằng hợp đồng là một loại giao dịch dân sự mà đối tượng là giấy tờ có giá, cơ sở hình thành đó là sự thỏa thuận từ hai bên Vì thế thủ tục giao dịch cũng do hai bên tự thỏa thuận theo quy định của Luật dân sự Các hành vi chuyển nhượng khác như tặng - cho, thừa kế cũng thuộc hình thức chuyển nhượng này Yêu cầu đối với trường hợp chuyển nhượng bằng hợp đồng là giấy tờ chuyển nhượng phải được bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng hoặc đại điện của họ ký
Trang 10Các cổ đông có thể chuyển nhượng cổ phần cho nhau, cho người khác ngoài công ty thông qua việc trao đổi trực tiếp( giao kết hợp đồng), ở đây người mua có điều kiện trực tiếp xác định, đánh giá chất lượng hàng hóa, và trực tiếp trả giá cho người bán Hành vi chuyển nhượng này do hai bên mua bán tự thỏa thuận theo quy định giao dịch dân sự
Khoản 2, điều 126 Luật Doanh nghiệp cũng quy định trường hợp chuyển nhượng thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán, trình tự, thủ tục và việc ghi nhận sở hữu thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán Các công
ty cổ phần được bán cổ phần trên thị trường chứng khoán phải tuân thủ các điều kiện nghiêm ngặt về tính minh bạch tài chính, về khả năng sinh lời, phải được ủy ban chứng khoán thẩm định và phải tuân thủ các quy tắc kiểm toán theo pháp luật
về chứng khoán
Theo đó căn cứ vào Luật chứng khoán 2006 sửa đổi bổ sung tại Luật chứng khoán 2010 thì hiện nay có 2 cách thức để giao dịch chứng khoán trên thị trường chứng khoán đó là:
- Mua chứng khoán trực tiếp tại tổ chức phát hành: Nhà đầu tư phải đăng ký mua và nộp tiền trực tiếp tại tổ chức phát hành chứng khoán Hình thức này rất bất cập, nhất là về mặt địa lý Mua thông qua trung gian: Trung gian ở đây là các nhà đại lý hoặc các nhà bảo lãnh phát hành, thông thường là các công ty chứng khoán
và các ngân hàng thương mại Nếu mua chứng khoán của tổ chức phát hành chưa niêm yết trên Trung tâm giao dịch chứng khoán thì việc chuyển nhượng hoặc bán lại chứng khoán đó cho người khác hiện nay gặp nhiều khó khăn vì không dễ tìm được người mua Hơn nữa, bên bán phải trực tiếp đến công ty (hoặc uỷ quyền) để thực hiện chuyển nhượng cho người mua
- Mua bán chứng khoán niêm yết trên Trung tâm giao dịch chứng khoán: Chứng khoán niêm yết là chứng khoán có đủ điều kiện và tiêu chuẩn được đăng
ký để mua bán, thường là các công ty kinh doanh có hiệu quả phát hành, tình hình tài chính đã được kiểm toán và thông tin về doanh nghiệp được công bố công khai