TRÍCH YẾU LUẬN VĂNTên tác giả: Phạm Thị Phương AnhTên luận văn: Đánh giá phát triển tăng trưởng xanh tại Công ty cổ phần bia Ninh Bình, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Ngành: Khoa họ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM THỊ PHƯƠNG ANH
ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN TĂNG TRƯỞNG XANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN BIA NINH BÌNH, THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
Người hướng dẫn khoa học:TS Đinh Thị Hải Vân
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan
và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 26 tháng 06 năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Thị Phương Anh
i
Trang 3LỜI CẢM ƠNTrong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi
đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình.
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc TS Đinh Thị Hải Vân đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,
Bộ môn Quản lý môi trường, Khoa Môi trường - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Công
ty CP bia Ninh Bình, Sở Tài nguyên và Môi trường Ninh Bình đã giúp đỡ
và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./.
Hà Nội, ngày 26 tháng 06 năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Thị Phương Anh
ii
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các ký hiệu v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
Phần 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Tổng quan về tăng trưởng xanh 4
2.2 Lợi ích và khó khăn khi thực hiện tăng trưởng xanh 55
2.3 Tổng quan về ngành công nghiệp sản xuất bia 7
2.3.1 Tình hình sản xuất bia ở Việt Nam 7
2.3.2 Công ty cổ phần Bia Ninh Bình 9
2.3.3 Các vấn đề môi trường trong hoạt động sản xuất Bia 10
2.4 Thực trạng phát triển tăng trưởng xanh trên thế giới và ở Việt Nam 14 2.4.1 Thực trạng phát triển tăng trưởng xanh trên thế giới 14
2.4.2 Thực trạng phát triển tăng trưởng xanh ở Việt Nam 16
2.4.3 Tăng trưởng xanh trong sản xuất bia 23
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 23
3.1 Địa điểm nghiên cứu 27
3.2 Thời gian nghiên cứu 27
3.3 Đối tượng nghiên cứu 27
3.4 Nội dung nghiên cứu 27
3.5 Phương pháp nghiên cứu 27
iii
Trang 5Phần 4 Kết quả và thảo luận 30
4.1 Thực trạng phát triển công ty cổ phần bia ninh bình 3030
4.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần bia Ninh Bình 30 4.1.2 Thực trạng sản xuất của Công ty cổ phần bia Ninh Bình 31
4.2 Phân tích dòng thải 36
4.2.1 Cân bằng vật liệu của quy trình sản xuất bia 36
4.2.2 Đánh giá dòng thải 39
4.2.3 Định giá dòng thải 42
4.2.4 Hiện trạng môi trường của Công ty CP bia Ninh Bình 44
4.3 Đề xuất các giải pháp xanh hóa sản xuất 45
4.3.1 Mục tiêu của chiến lược tăng trưởng xanh của Công ty CP bia Ninh Bình 45 4.3.2 Tiêu chí tăng trưởng xanh cho Công ty CP bia Ninh Bình 47
4.3.3 Giải pháp xanh hóa sản xuất 48
4.3.4 Những lợi ích và khó khăn của Công ty CP bia Ninh Bình khi phát triển tăng trường xanh 60
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 62
5.1 Kết luận 62
5.2 Kiến nghị 63
Tài liệu tham khảo 64
Phụ lục 66
iv
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆUChữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
BộKH&ĐT Bộ Kế hoạch và Đầu tư
IPCC Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu
IUCN Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
UNDP Chương trình phát triển Liên hợp quốc
UNEP Chương trình Môi trường Liên Hợp quốc
UNESCAP Ủy ban kinh tế xã hội khu vực châu Á- Thái Bình Dương Liên
Hợp Quốc UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc UNFCCC Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu UNIDO Tổ chức phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc
WBCSD Hội đồng Doanh nghiệp thế giới về Phát triển bền vững
v
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Các vấn đề môi trường theo các công đoạn trong quy trình sản xuất bia
11
Bảng 2.2 Tính chất nước thải của quá trình sản xuất bia 12
Bảng 2.3 Lượng chất thải rắn phát sinh khi sản xuất 1 hectolit bia 13
Bảng 2.4 Chỉ số đánh giá tăng trưởng kinh tế xanh 20
Bảng 2.5 Ước tính tiềm năng tiết kiệm có thể đạt được tại các nhà máy bia Việt Nam 24 Bảng 4.1 Sản lượng bia của Công ty năm 2016 32
Bảng 4.2 Cân bằng vật liệu cho 1 mẻ với sản lượng 9.000 lít bia thành phẩm 38 Bảng 4.3 Đặc tính dòng thải cho 1 mẻ (9.000 lít bia thành phẩm) 42
Bảng 4.4 Tiêu thụ tài nguyên và nhiên liệu thô 42
Bảng 4.5 Chi phí bên ngoài của công ty trong 1 năm 43
Bảng 4.6 Kết quả phân tích nước thải 45
Bảng 4.7 Các tiêu chí lựa chọn 47
Bảng 4.8 Phân tích tồn tại theo hướng xanh hóa sản xuất 48
Bảng 4.9 Đề xuất các giải pháp chung về xanh hóa sản xuất 49
Bảng 4.10 Các giải pháp xanh hóa sản xuất có thể thực hiện ngay 52
Bảng 4.11 Các giải pháp xanh hóa sản xuất có thể áp dụng cần đầu tư kinh phí 53
Trang 8vi
Trang 9DANH MỤC HÌNHHình 2.1 Quy trình công nghệ sản xuất bia 9
Hình 4.1 Sơ đồ tổ chức của Công ty cổ phần bia Ninh Bình 31
Hình 4.2 Sơ đồ dòng thải chi tiết (cho 1 mẻ bia) 37
Hình 4.3 Các quá trình sản xuất bia gây ra ô nhiễm môi trường do khí thải,
nước thải và chất thải rắn 40
Hình 4.4 Sơ đồ công nghệ thu hồi bia từ cấn men 53
Hình 4.5 Sơ đồ công nghệ của hệ nấu 56
Hình 4.6 Sơ đồ nguyên lý tận dụng lượng nhiệt bay hơi 57
vii
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂNTên tác giả: Phạm Thị Phương Anh
Tên luận văn: Đánh giá phát triển tăng trưởng xanh tại Công ty cổ phần bia Ninh Bình, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình
Ngành: Khoa học môi trường Mã số:
60.44.03.01 Tên cơ sở đào tạo: Học viện
Nông nghiệp Việt Nam Mục đích nghiên cứu
Đề tài có 03 mục tiêu cụ thể: Đánh giá thực trạng sản xuất Công ty cổ phần bia Ninh Bình, các dòng thải phát sinh và hiện trạng quản lý môi trường của Công ty cổ phần bia Ninh Bình Tìm hiểu thực trạng phát triển Công ty cổ phần bia Ninh Bình theo hướng xanh hóa sản xuất Nghiên cứu đề xuất giải pháp hỗ trợ và thúc đẩy các doanh nghiệp sản xuất bia nói chung và cụ thể tại Công ty cổ phần bia Ninh Bình phát triển hướng đến tăng trưởng xanh.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính: Phương pháp thu thập số liệu: Thu thập và nghiên cứu các tài liệu sẵn có từ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Ninh Bình, Cục Thống kê tỉnh Thu thập các thông tin và số liệu thực tế về thực trạng sản xuất của Công ty CP bia tỉnh Ninh Bình, trong đó tập trung thu thập các thông tin,
số liệu về nguyên liệu sản xuất, hiện trạng môi trường, chất thải và tiến hành điều tra với nội dung phỏng vấn sâu tập trung thu thập những thông tin về hoạt động, tình trạng vận hành của các khu vực sản xuất và xử lý nước thải tại Công ty Bên cạnh đó, đề tài
sử dụng phương pháp đánh giá cân bằng vật chất nhằm xác định đầu vào, đầu ra và lượng chất thải phát sinh trong quá trình sản xuất bia Phương pháp phân tích môi
trường được thu thập từ các số liệu quan trắc của nhà máy được so sánh với một số Tiêu
chuẩn Quy chuẩn kĩ thuật.
Kết quả chính và kết luận
1 Quá trình sản xuất bia có 9 công đoạn chính Chất thải phát sinh ở cả 3 dạng rắn, lỏng, khí Chi phí dòng thải của công ty trong 1 năm là: 1.978.871.215 đồng Trong đó chi phí bên trong là 1.957.920.600 đồng, chi phí bên ngoài là 20.950.615 đồng.
2 Dòng thải của Công ty bao gồm 8 dòng thải từ các công đoạn khác nhau với 12 nguyên nhân khác nhau.
3 Có 16 giải pháp được đề xuất hạn chế 12 nguyên nhân nói trên.Trong đó có 13 giải pháp có thể thực hiện ngay và 3 giải pháp cần phân tích thêm Qua đánh giá và
viii
Trang 11phân tích 3 giải pháp đó thì có 2 giải pháp đáp ứng được các yếu tố về kinh tế, môi trường và kỹ thuật có thể áp dụng cho công ty giúp đảm bảo việc giảm thiểu phát sinh chất thải ra môi trường đó là: (1) Thu hồi nước từ máy thanh trùng và máy làm mát, (2) Thu hồi và bảo quản cấn men để tận dụng lại hàm lượng bia.
ix
Trang 12THESIS ABSTRACT
Master candidate: Pham Thi Phuong Anh
Thesis title: Evaluate the development of green growth in Ninh Binh Brewery Joint Stock Company, Ninh Binh City, Ninh Binh Province
Major: Environmental Science Code: 60.44.03.01
Educational organization: Vietnamese Academy of
Agriculture Research Objectives
The thesis has three specific objectives: assess of Ninh Binh Brewery Company's current production status, waste current and situation of environmental management of Ninh Binh Brewery Joint Stock Company Prapose the development status of Ninh Binh Brewery Joint Stock Company
in the direction of green production Research and propose solutions to support and promote the brewing enterprises in general and specific in Ninh Binh Brewery Joint Stock Company to develop towards green growth.
Materials and Methods
The topic uses the main research methods: Data collection method: Collect and study available materials from the Department of Natural Resources and Environment of Ninh Binh Province, Provincial Statistics Office Collecting information and actual data on the status of production of Ninh Binh Brewery, focusing on collecting information and data on production materials, environmental status, waste and Conducting an in-depth interview focused on collecting information on the operation, operating status of the production and waste water treatment areas at the Company In addition, the subject uses a physical equilibrium assessment method to determine inputs, outputs and waste generated during the brewing process The environmental analysis method collected from the monitoring data of the plant is compared with some of the standards.
Main findings and conclusions
1 The brewing process has 9 main stages The waste generated in all three forms of solid, liquid, gas Cost of waste stream of the company in a year is: 1.978.871.215 VND Of which the cost is internal cost 1,957,920,600, the external cost is VND20,950,615.
x
Trang 132 The waste stream of the Company consists of 8 waste streams from different stages due to 12 different causes.
3 There are 16 proposed solutions that limit the 12 causes mentioned above There are 13 possible solutions to be implemented and 3 solutions needed for further analysis By evaluating and analyzing the three options, there are two possible solutions
to the economic suitable with environmental and technical factors that can be applied to the company to help reduce the generation of waste into the environment leaves: (1) Reclaim water from pasteurizer and cooler, (2) Recover and preserve beer to take advantage of the beer content.
xi
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Tăng trưởng xanh hiện là một trong những trọng tâm được ưu tiên hàng đầu trong chính sách phát triển của nhiều quốc gia, khu vực, vì sự phát triển bền vững.
Nó được coi là sự tăng trưởng hiệu quả trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu ô nhiễm và tác động môi trường Đặc biệt, Hội nghị Thượng đỉnh của Liên Hợp Quốc về Phát triển bền vững (Rio+20) với chủ đề “Tương lai mà chúng ta mong muốn” đã đặt nền móng để hướng tới một nền kinh tế xanh toàn cầu.
Ở Việt Nam, trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội, tốc độ ô nhiễm và suy thoái tài nguyên, môi trường ở nước ta đang gia tăng nhanh Một trong những nguyên nhân chính là do mô hình tăng trưởng kinh tế thời gian qua chưa thực sự bền vững Tăng trưởng còn chủ yếu dựa trên khai thác tài nguyên, sử dụng các công nghệ cũ, lạc hậu, tiêu hao tài nguyên, năng lượng lớn, làm phát sinh nhiều chất thải, khí nhà kính, gây ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu Vì thế, việc tiếp cận và xây dựng một nền kinh tế xanh là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh hiện nay.
Nhận thức rõ ý nghĩa của cơ hội này, Chính phủ đã ban hành Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và Kế hoạch quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020 Trong đó, nhấn mạnh quan điểm: “Tăng trưởng xanh là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, các cấp chính quyền, các Bộ, ngành, địa phương, các doanh nghiệp và tổ chức xã hội” Ngoài ra, Chiến lược cũng xác định mục tiêu: “Khuyến khích phát triển các ngành kinh tế sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên với giá trị gia tăng cao, hạn chế, tiến tới xóa bỏ những ngành sử dụng lãng phí tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường, tạo điều kiện phát triển các ngành sản xuất xanh mới” Có thể nói, đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để các ngành kinh tế phát triển hướng đến tăng trưởng xanh, trong đó doanh nghiệp được coi là đối tượng quan trọng, có tính chất quyết định.
Ngành sản xuất bia của nước ta là một ngành lâu đời, chiếm tỉ trọng không nhỏ trong ngành công nghiệp chế biến bia, rượu, nuớc giải khát nói riêng và chế biến lương thực – thực phẩm nói chung Tốc độ tăng truởng của ngành bình quân đạt 12 – 13%/năm Năm 2003, sản lượng bia đạt 1,29 tỷ lít Năm 2010, sản lượng sản xuất bia của Việt Nam là khoảng 2,7 tỷ lít bia thì đến năm 2013 là khoảng 3 tỉ
1
Trang 15lít Dự báo nếu giữ tốc độ tăng trưởng ổn định như hiện nay thì năm 2025, sản lượng sản xuất và tiêu thụ bia trong nước sẽ đạt 6 tỉ lít (Bộ Công Thương, 2009) Có thể nói, ngành công nghiệp sản xuất bia đang là ngành tạo ra nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước với hiệu quả kinh tế cao Hiện nay, cả nước có khoảng trên 110 nhà máy, cơ sở sản xuất bia có trụ
sở ở hầu khắp các tỉnh thành trên cả nước và tiếp tục tăng mạnh về số lượng với tổng năng lực sản xuất đạt trên 800 triệu lít/năm.
Công ty CP Bia Ninh Bình với công suất 5 triệu lít bia/năm Với tốc độ phát triển nhanh về số lượng và quy mô của các doanh nghiệp sản xuất bia như hiện nay đã kéo theo nhiều vấn đề về tiêu tốn tài nguyên và ô nhiễm môi trường Bên cạnh đó, ngành sản xuất bia vốn là ngành sử dụng và tiêu thụ một lượng nước
và năng lượng khá lớn trong quá trình sản xuất, phát sinh nhiều chất thải, gây ô nhiễm môi trường và mất cân bằng sinh thái Theo thống kê của Bộ Công Thương, lượng nước sử dụng của các nhà máy sản xuất bia có công nghệ trung bình ở Việt Nam ước tính tiêu thụ khoảng 0,7-1,5 m 3 cho 100 lít bia, trong khi với công nghệ tốt nhất chỉ tiêu tốn 0,4 m 3 nước cho 100 lít bia (Bộ Công Thương, 2008) Đây là những hạn chế, thách thức lớn của các doanh nghiệp sản xuất bia của cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Ninh Bình nói riêng.
Vì vậy luận văn tiến hành nghiên cứu với đề tài là: “Đánh giá phát triển tăng trưởng xanh tại Công ty cổ phần bia Ninh Bình, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình”, là hết sức cấp thiết, nhằm tìm ra các giải pháp vừa đảm bảo lợi nhuận của Công ty nhưng không gây ảnh hưởng đến môi trường hướng tới phát triển bền vững trong bối cảnh hiện nay 1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đánh giá thực trạng phát triển của Công ty cổ phần bia Ninh Bình từ đó đề xuất các giải pháp hỗ trợ và thúc đẩy doanh nghiệp sản xuất phát triển theo hướng xanh hóa sản xuất.
Mục tiêu cụ thể:
1 Đánh giá thực trạng sản xuất Công ty cổ phần bia Ninh Bình.
2 Xác định các dòng thải phát sinh và hiện trạng môi trường của Công ty cổ phần bia Ninh Bình.
3 Nghiên cứu đề xuất giải pháp hỗ trợ Công ty cổ phần bia Ninh Bình phát triển theo hướng xanh hóa sản xuất và phát triển bền vững.
2
Trang 161.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Phạm vi không gian: Nhà máy bia Ninh Bình trực thuộc Công
ty cổ phần bia Ninh Bình trên địa bàn thành phố Ninh Bình.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 02 năm 2016 đến tháng 02 năm 2017.
1.4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Kết quả của đề tài nghiên cứu - nhóm các giải pháp xanh hóa sản xuất cho Công ty cổ phần bia Ninh Bình được đề xuất là những thông tin hữu ích giúp cho
Công ty cổ phần bia Ninh Bình phát triển theo hướng Tăng trưởng xanh.
Các kết quả thu được tại Công ty cổ phần bia Ninh Bình sẽ là cơ sở cho các nhà quản lý, các nhà quy hoạch ngành, đặc biệt đối với ngành công nghiệp sản xuất bia tham khảo để xem xét và điều chỉnh các chính sách phát triển ngành theo hướng xanh, góp phần sử dụng tài nguyên thiên nhiên, kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải một cách có hiệu quả.
3
Trang 17PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 TỔNG QUAN VỀ TĂNG TRƯỞNG XANH
Hiện nay, tăng trưởng xanh là chủ đề quan tâm của nhiều diễn đàn và tổ chức quốc tế Từ năm 2005, Uỷ ban Liên hợp quốc về kinh tế và xã hội khu vực châu Á-Thái Bình Dương – UNESCAP đã tổ chức các Diễn đàn đối thoại chính sách “Hướng tới tăng trưởng xanh ở châu Á – Thái Bình Dương” Theo đó, tăng trưởng xanh là cách tiếp cận để đạt được tăng trưởng kinh tế, nhằm để giảm nghèo, đồng thời đảm bảo sự bền vững về môi trường Tăng trưởng xanh tập trung vào chất lượng tăng trưởng thông qua thúc đẩy hiệu quả về sinh thái Tăng trưởng xanh khác với tăng trưởng bình thường ở chỗ không lấy phương châm “phát triển trước, bảo vệ môi trường sau”, mà lấy việc phòng ngừa, bảo vệ môi trường, giảm phát thải cac-bon trong sản xuất kinh doanh làm động lực để tăng trưởng Sáu nội dung mà UNESCAP đề ra về tăng trưởng xanh là: (i) Sản xuất và tiêu dùng bền vững; (ii) Xanh hóa thị trường và các hoạt động sản xuất kinh doanh; (iii) Xây dựng cơ sở hạ tầng bền vững; (iv) Cải tổ thuế và ngân sách xanh; (v) Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và hệ sinh thái; (vi) Xây dựng và thực hiện các chỉ số hiệu quả về sinh thái.
Tháng 10/2008, Chương trình môi trường của Liên hợp quốc (UNEP)
đã công bố Sáng kiến về nền kinh tế xanh (Green Economy Initiative - GEI) với mục tiêu hỗ trợ chính phủ các nước trong việc “xanh hóa” nền kinh tế của họ Định nghĩa về tăng trưởng xanh, GEI cho rằng “tăng trưởng xanh là quá trình tái cơ cấu lại hoạt động kinh tế và cơ sở hạ tầng để thu được kết quả tốt hơn từ các khoản đầu tư tài nguyên, nhân lực và tài chính, đồng thời giảm phát thải khí nhà kính, khai thác và sử dụng ít tài nguyên thiên nhiên hơn, tạo ra ít chất thải hơn và giảm sự mất công bằng trong xã hội” (Green Economy Initiative, Desta Mebratu, UNEP).
Tăng trưởng xanh được xác định là một trong hai chủ đề chính của Hội nghị cấp cao của Liên hợp quốc về phát triển bền vững (RIO+20) sẽ được tổ chức vào năm 2020 tại Brazil.
Còn theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế - OECD, tăng trưởng xanh
là thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, đồng thời đảm bảo rằng các nguồn tài sản tự nhiên tiếp tục cung cấp tài nguyên và dịch vụ môi trường thiết yếu cho
4
Trang 18cuộc sống của chúng ta Hay theo Ngân hàng thế giới (WB, 2012), tăng trưởng xanh là sự tăng trưởng hiệu quả trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên, là sự tăng trưởng sạch vì nó giảm thiểu ô nhiễm
và tác động môi trường, là sự tăng trưởng có sức chống chịu.
Theo Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh: “Tăng trưởng xanh
là phương thức thúc đẩy quá trình thay đổi các mô hình tăng trưởng, tái
cơ cấu nền kinh tế, nhằm khai thác tối đa lợi thế cạnh tranh, tăng hiệu quả kinh tế và khả năng cạnh tranh thông qua nghiên cứu và ứng dụng công nghệ tiên tiến, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại, nhằm sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, ứng phó với biến đổi khí hậu, góp phần xóa đói, giảm nghèo, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững“ (Thủ tướng Chính phủ, 2012c).
2.2 LỢI ÍCH VÀ KHÓ KHĂN KHI THỰC HIỆN TĂNG TRƯỞNG XANH Chiến
lược tăng trưởng xanh của Việt Nam đã xác định 3 mục tiêu là: i)
Khuyến khích các ngành kinh tế sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên với giá trị gia tăng cao, hạn chế tiến tới xóa bỏ những ngành sử dụng lãng phí tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường; ii) Ứng dụng và phát triển công nghệ hiện đại nhằm
sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải KNK, góp phần ứng phó hiệu quả với BĐKH, và iii) Nâng cao đời sống nhân dân thông qua việc tạo thêm việc làm từ các ngành công nghiệp xanh và cải thiện chất lượng cuộc sống thông qua việc xây dựng lối sống thân thiện với môi trường.
Để thực hiện các mục tiêu trên, Chiến lược cũng đã đề ra ba nhóm nhiệm vụ quan trọng là:
Giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo.
Xanh hóa sản xuất:
Trang 19động b, Sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả và giảm cường độ phát thải KNK trong giao thông vận tải bao gồm 03 hoạt động c, Đổi mới kỹ thuật canh tác và hoàn thiện quản lý để giảm cường độ phát thải KNK trong nông lâm nghiệp, thủy sản gồm 06 hoạt động d, Phát triển nguồn năng lượng sạch, năng lượng tái tạo bao gồm 03 hoạt động.
Chủ đề 3: Thực hiện xanh hóa sản xuất bao gồm 25 hoạt động theo 4
nhóm: a, Rà soát, kiến nghị điều chỉnh các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển và xây dựng đề án tái cơ cấu kinh tế theo hướng TTX gồm 10 hoạt động b,
Sử dụng hiệu quả và bền vững các nguồn lực tự nhiên phát triển khu vực kinh tế
xanh bao gồm 09 hoạt động Phát triển kết cấu hạ tầng bền vững bao gồm 03 hoạt
động Thúc đẩy phong trào “doanh nghiệp phát triển bền vững”, nâng cao năng
lực và thị trường dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật và quản lý phục vụ TTX bao gồm 03
hoạt động.
Trong đó, hoạt động ưu tiên của giai đoạn 2014 - 2020 tập trung thực hiện
23 hoạt động ưu tiên, trong đó, nhằm vào thực hiện Hoạt động số 16: Nâng cao năng lực quản lý năng lượng trong công nghiệp và xây dựng Hoạt động số 40:
Sử dụng tài nguyên nước hiệu quả và bền vững (Thủ tướng Chính phủ, 2012c).
Thực hiện sản xuất xanh mang lại hiệu quả kinh tế đầu tiên cho doanh nghiệp sản xuất bia Trong đó, bài toán môi trường đã được giải mã và có kết quả thực tiễn.
Tiêu chuẩn ISO 14001: 1996 được áp dụng cho bất kì tổ chức nào mong muốn, trong đó nó được coi là “chìa khóa” để doanh nghiệp thực hiện, duy trì và cải tiến hệ thống quản lý môi trường (HTQLMT); Tự đảm bảo sự phù hợp với chính sách môi trường đã công bố; Chứng minh sự phù hợp cho tổ chức khác; Được chứng nhận phù hợp cho HTQLMT do một tổ chức bên ngoài cấp; Tự xác định và tuyên bố phù hợp với tiêu chuẩn Khi doanh nghiệp áp dụng ISO 14001 đạt được các lợi ích
cơ bản: Cải tiến quá trình sản xuất, giảm thiểu chất thải và chi phí Giảm ô nhiễm môi trường, đáp ứng các yêu cầu của pháp luật, giảm các phàn nàn từ các bên hữu quan, nâng cao hình ảnh doanh nghiệp, đạt lợi thế cạnh tranh Hơn thế, phát triển kinh tế “xanh” giúp cải thiện mối quan hệ giữa các doanh nghiệp với chính quyền,
cơ quan truyền thông, nhà cung cấp, đồng nghiệp, khách hàng, cộng đồng xung quanh bằng những hành động thân thiện với môi trường.
Trong khi đó hiện nay, Doanh nghiệp sản xuất bia đang chịu sức ép môi trường bởi vì sự gia tăng áp lực từ các bên liên quan, các tác động môi trường
6
Trang 20của doanh nghiệp sản xuất bia đã thúc đẩy các nhà quản lý môi trường trong các quyết định; Các chi phí do tác động môi trường của doanh nghiệp đã tăng lên đáng kể; Việc dỡ bỏ các rào cản thương mại và toàn cầu hoá đã dẫn đến một sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các doanh nghiệp, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập WTO; Hỗ trợ cho lập kế hoạch chiến lược và kế hoạch hoạt động của doanh nghiệp bao gồm xác lập mục tiêu, dự đoán các kết quả tiềm năng theo các kịch bản khác nhau và đưa ra các biện pháp, lộ trình để đạt được mục tiêu đó Bởi vậy, giải pháp để doanh nghiệp thực hiện sản xuất xanh hướng đến TTX, PTBV rất cần sự hỗ trợ về vốn và kỹ thuật từ cơ quan quản lý.
Tuy nhiên con đường thực hiện tăng trưởng xanh còn nhiều khó khăn:
Hệ thống pháp luật đang trong thời kỳ chuyển đổi chưa đồng bộ, chưa thật phù hợp với xu thế toàn cầu hóa và hướng tới tăng trưởng xanh Hệ thống tổ chức, bộ máy quản lý còn chia cắt chưa phù hợp với
sự phát triển trong liên kết của đất nước trong hội nhập.
Hiệu quả sử dụng tài nguyên thấp, còn nhiều lãng phí, tài nguyên thiên nhiên nhất là tài nguyên sinh vật bị suy thoái nghiêm trọng, tài nguyên không tái tạo cạn kiệt Trong khi công nghệ sản xuất còn lạc hậu, tiêu tốn nhiều năng lượng làm cho chất lượng sản phẩm thấp, phát sinh nhiều chất thải gây
ô nhiễm, suy thoái môi trường, gia tăng phát thải khí nhà kính.
Các ngành sản xuất năng lượng sạch như năng lượng hạt nhân, năng lượng gió, mặt trời, sinh khối, địa nhiệt… chưa phát triển Thêm vào đó, nhiều ngành hỗ trợ, giải quyết vấn đề môi trường, dịch vụ môi trường, công nghiệp tái chế… còn yếu kém 2.3 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP SẢN XUẤT BIA
2.3.1 Tình hình sản xuất bia ở Việt Nam
Bia là một loại đồ uống chứa cồn được sản xuất bằng quá trình lên men đường lơ lửng trong môi trường lỏng và nó không được chưng cất sau khi lên men Dung dịch đường không bị lên men thu được từ quá trình ngâm nước được gọi là hèm bia Quá trình sản xuất bia được gọi là nấu bia.
Tại Việt Nam, ngành công nghiệp sản xuất bia đã có lịch sử hơn 100 năm Trong quá trình hình thành và phát triển, ngành sản xuất bia có mức tăng trưởng mạnh vào thời kỳ mở cửa và trở thành một ngành công nghiệp thế mạnh khi Việt Nam gia nhập WTO (Tổ chức thương mại thế giới) (Bộ Công Thương, 2008).
7
Trang 21Bộ Công Thương đã thống kê vào đầu những năm 1990, việc đầu tư xây dựng các nhà máy bia được phát triển mạnh mẽ với nhiều quy mô khác nhau từ
100 nghìn lít/năm đến 100 triệu lít/năm Về số lượng doanh nghiệp thì năm 1998
có 468 nhà máy sản xuất bia Do đời sống của các tầng lớp dân có những bước cải thiện quan trọng khiến mức tiêu thụ tăng mạnh đến năm 2000 cả nước có hơn 500 nhà máy ở tất cả các địa phương Trong 5 năm tiếp theo số doanh nghiệp sản xuất chỉ còn 329 Do quá trình đổi mới doanh nghiệp, mô hình doanh nghiệp thay đổi cũng như nhà nước ra quyết định quy hoạch ngành bia thì đến nay trên cả nước chỉ còn 117 nhà mày đang hoạt động (Bộ Công Thương, 2008).
Theo thống kê của Tổ chức nghiên cứu thị trường Eurowatch công bố, 3
tỷ lít bia tiêu thụ ở Việt Nam trong năm 2013, tương đương khảng 3 tỷ USD Tuy nhiên, 3 tỷ lít bia lại gần như chỉ phục vụ cho nhu cầu trong nước, ước tính trung bình mỗi người Việt có nhu cầu sử dụng khoảng 32 lít bia trên một năm Với mức tiêu thụ đó, Việt Nam luôn nằm trong top 25 nước uống bia nhiều nhất thế giới, đứng thứ 3 ở Châu Á chỉ sau Trung Quốc và Nhật Bản (Châu Long,2014) Để lý giải cho mức tiêu thụ trên ta có thể thấy ảnh hưởng lớn nhất là do sự phát triển của đất nước ngày một đi lên, với sự gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) là bước đầu tiên phong cho việc mở cửa thị trường góp phần phát triển kinh tế Đời sống vật chất tăng thì nhu cầu tiêu thụ bia tăng theo tỉ lệ thuận Bên cạnh đó Việt Nam cũng là một nước có dịch vụ du lịch phát triển nên sản lượng
sử dụng bia là rất cao Minh chứng cho điều đó có thể thấy năm 2003, Việt Nam sản xuất 1,29 tỷ lít bia, sau 5 năm đã tăng lên đến 2 tỷ lít Khi lập quy hoạch phát triển ngành bia- rượu- nước giải khát đến năm 2010 tầm nhìn 2015, Bộ Công Thương đưa ra sản lượng dự báo sẽ đạt 2,7 tỷ lít vào năm 2010, tuy nhiên chỉ sau 2 năm lập ra quy hoạch Bộ Công Thương đã phải xem xét điều chỉnh lên 3 tỷ lít để phù hợp với tốc độ tăng trưởng về sản xuất và mức tiêu dùng trong thực
tế Có thể thấy ngành bia là một ngành công nghiệp mũi nhọn của Việt Nam.
Thông qua sản lượng và mức tiêu dùng thì vai trò của ngành công nghiệp bia đóng góp và quá trình phát triển kinh tế của đất nước là rất lớn Không chỉ đóng góp cho ngân sách nhà nước mà ngành bia còn giải quyết một lượng lớn lao động giúp đất nước xóa đói giảm nghèo Báo cáo năm 2013 của Bộ Công Thương cho biết tổng giá trị gia tăng tạo bởi chuỗi giá trị ngành bia đạt gần 50.000 tỷ đồng, trong đó khu vực sản xuất bia tạo ra khoảng 30.000 tỷ đồng, các hoạt động đầu vào của sản xuất trên 7500 tỷ đồng, các hoạt động đầu ra gần
8
Trang 2212.500 tỷ đồng Ngành đã giải quyết một lượng lớn lao đồng bao gồm khoảng
14.330 lao động tham gia trực tiếp vào khu vực sản xuất cùng với trên 280.000 người tham gia vào hoạt động của hệ thống phân phối, dịch vụ
và các ngành công nghiệp hỗ trợ khác Ngân sách mà ngành bia nộp cho nhà nước đạt 19.135 tỷ đồng chiếm gần 4,5% khoản thu ngân sách nhà nước ở lĩnh vực sản xuất kinh doanh (Quang Lộc, 2014).
2.3.2 Công ty cổ phần bia Ninh bình
Quy trình công nghệ sản xuất hiện nay đang được áp dụng tại Công ty:
Hình 2.1 Quy trình công nghệ sản xuất bia tại Công ty
9
Trang 23Từ năm 2014 đến nay sản lượng sản xuất ổn định của Công ty vào khoảng 1.608.285 lít bia; Dây chuyền công nghệ sản xuất được nhập khẩu từ Cộng hòa Liên bang Đức Công ty đã thực hiện nghiêm túc các nghĩa vụ về nộp thuế, phí bảo vệ môi trường Đối với các vấn đề về quản lý môi trường: Công ty
đã áp dụng biện pháp xử lý nước thải sản xuất đảm bảo nước thải trước khi thải
ra môi trường đạt QCVN 40:2011/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp; Có hệ thống sử dụng biện pháp thu hồi khí CO 2 từ quá trình lên men để tái sử dụng Đối với khí thải từ lò hơi đốt than: Công ty chỉ có hệ thống lọc bụi, chưa có hệ thống xử lý khí thải từ lò hơi.
2.3.3 Các vấn đề môi trường trong hoạt động sản xuất Bia
Trong quá trình sản xuất bia có 3 dòng thải chính là rắn, lỏng, khí Trong đó, vấn đề môi trường lớn nhất trong nhà máy bia là lượng nước thải rất lớn chứa nhiều chất hữu cơ, pH cao, nhiệt độ cao Mỗi ngành công nghiệp khác nhau thì đặc tính dòng thải phát sinh có nguồn gốc và đặc tính khác nhau Dưới đây là bảng tóm tắt các vấn đề môi trường theo các công đoạn trong quá trình sản xuất bia.
10
Trang 24Bảng 2.1 Các vấn đề môi trường theo các công đoạn trong quy trình sản
xuất bia Công đoạn Tiêu hao/Thải/Phát thải Các vấn đề môi trường
- Tiêu tốn năng lượng nhiệt - Tiêu tốn tài nguyên và ô
- Tiêu tốn nhiều nước nhiễm không khí
- Xút và axit cho hệ CIP - Góp phần vào việc làm Nấu - Thải lượng hữu cơ cao ấm lên toàn cầu do phát
- Gây mùi ra các khu vực xung - Gây khó chịu cho dân cư
- Tiêu tốn năng lượng - Gây phì dưỡng sông, hồ
- Tiêu tốn nhiều nước và nguy cơ cho dân cư
- Xút và axit cho hệ CIP xung quanh Lên men - Phát thải CO 2 - Ảnh hưởng đến đa dạng
- Thải lượng hữu cơ cao do nấm men sinh học
và việc vệ sinh thiết bị gây nên, nước thải có nồng độ chất hữu cơ, nitrat và phot pho cao
- Tiêu tốn nhiều nước - Gây phì dưỡng sông, hồ
- Tiêu tốn bột trợ lọc và nguy cơ cho dân cư Lọc bia - Thải lượng hữu cơ cao xung quanh
- Ảnh hưởng đến đa dạng sinh học
- Tiêu hao năng lượng - Tiêu tốn tài nguyên và ô
- Nước thải pH cao và chất lơ lửng nhiễm không khí
- Tiêu hao nhiều nước nóng và nước ấm lên toàn cầu do phát
lạnh,… - Nguy cơ rò rỉ và phát thải CFC - CFC là chất phá hủy tầng
ozon
Nguồn: Bộ Công thương (2008)
Trang 2511
Trang 26Nước thải
Nước thải vệ sinh các thiết bị.
Nước thải từ công đoạn rửa chai, thanh trùng bia chai Nước thải từ phòng thí nghiệm.
Nước thải vệ sinh nhà xưởng.
Nước thải sinh hoạt nhà máy.
Bảng 2.2 Tính chất nước thải của quá trình sản xuất bia
Các Đơn Mức hiện QCVN 24:2009/BTNMT
Tác động đến chất gây vị tại ở Việt Giá trị C
B- Cột B quy định giá trị của các thông số ô nhiễm trong nước thải công nghiệp
khi xả vào nguốn tiếp nhận không dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt.
C- Là giá trị của thông số ô nhiễm có trong nước thải công nghiệp.
Nước thải của nhà máy bia thường có đặc tính chung là nồng độ hữu cơ rất cao, nước thải thường có màu đen xám và khi thải vào các thủy vực thường gây
ô nhiễm nghiêm trọng do sự phân hủy của các chất hữu cơ diễn ra rất nhanh Thêm vào đó là các hóa chất sử dụng trong quá trình sản xuất như CaCO 3, CaSO 4 … Những chất này có khả năng đe dọa nghiêm trọng tới môi trường thủy vực đón nhận Nước thải của quá trình sản xuất bia có nồng độ BOD (nhu cầu oxy sinh hóa học), COD ( nhu cầu oxy hóa học) và hàm lượng chất rắn lơ lửng rất cao.
Trang 2712
Trang 28Khí thải
Phát sinh do quá trình đốt nhiên liệu tại nồi hơi, mùi hóa chất
sử dụng, mùi sinh ra trong quá trình nấu và của các chất thải hữu
cơ như bã hèm, men chưa được xử lý.
Khí thải tại nhà máy bia là không có vấn đề lớn gây ảnh hưởng đến ô nhiễm không khí Chỉ có 2 khu vực cần lưu ý nhất là ống khói nồi hơi và máy lạnh vì 2 khu vực này có phát thải khí CO 2 , SO 2 , NH 3 Chất thải rắn
Phát sinh từ quá trình sản xuất bia bao gồm bã hèm, bã men, các mảnh thủy tinh chai vỡ, két vỡ, nhãn thải từ khu vực đóng gói, bột trợ lọc từ khu vực lọc, bột giấy từ quá trình rửa chai, giấy, nhựa, kim loại từ các bộ phận phụ trợ, xỉ than, dầu thải, dầu phanh Bã hèm và bã men là chất hữu cơ, sẽ gây mùi cho khu vực sản xuất nếu không được thu gom và xử lý kịp thời.
Bảng 2.3 Lượng chất thải rắn phát sinh khi sản xuất 1 hectolit bia
Bã hèm kg 21-27 Gây ô nhiễm nguồn nước, đất, gây mùi
khó chịu
Nấm men kg 3-4 Gây ô nhiễm nguồn nước, đất gây mùi
khó chịu
Vỏ chai vỡ chai 0,9 Gây tai nạn cho người vận hành
Bùn hoạt tính kg 0,3-0,4 Gây ô nhiễm cho nguồn nước, đất, gây
Trang 2913
Trang 30bố trí hệ thống thông gió hợp lý để giảm ô nhiễm cục bộ Tương tự với các
cơ sở sản xuất cũ dùng hầm lạnh cần trang bị áo chống lạnh cho công nhân.
Ô nhiễm tiếng ồn
Tiếng ồn trong các nhà máy bia chỉ xảy ra cục bộ của từng phân xưởng khi thiết bị hoạt động, từ khâu xay nghiền nguyên liệu, xưởng động lực… Khi sử dụng các thiết bị cũ, tiếng ồn thường xuyên lên tới trên 85 dB Tuy nhiên, các bộ phận sinh ồn lớn đều có thể khống chế giảm tác động tới bên ngoài bằng cách đóng kín cửa, ghi biển báo 2.4 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TĂNG TRƯỞNG XANH TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
2.4.1 Thực trạng phát triển tăng trưởng xanh trên thế giới
Hiện các nước trên thế giới, nhất là khu vực Tây Âu và khu vực Đông
Á đã và đang đầu tư mạnh vào chiến lược tăng trưởng xanh Trung Quốc, Hàn Quốc trong quá trình đưa ra các gói kích thích kinh tế sau khủng hoảng kinh tế mấy năm trước đều dành ưu tiên cao cho tăng trưởng xanh (cơ cấu của Trung Quốc là 35%, của Hàn Quốc lên đến 80%) Theo đó, đầu tư tập trung cho lĩnh vực năng lượng sạch, giao thông thân thiện môi trường, đô thị hóa bền vững, nông nghiệp sinh thái, du lịch sinh thái, công nghiệp văn hóa,
xử lý chất thải, thúc đẩy tiêu dùng bền vững và xây dựng lối sống xanh.
Ở châu Á, nhiều nội dung của tăng trưởng xanh đã bắt đầu được triển khai áp dụng Hàn Quốc là một trong những quốc gia đầu tiên xây dựng và ban hành Chiến lược tăng trưởng xanh, ít các-bon, làm định hướng phát triển trong 60 năm tới Các điểm trọng tâm của Chiến lược bao gồm: (i) Duy trì tăng trưởng kinh
tế trong khi giảm đến mức tối đa việc sử dụng năng lượng và tài nguyên; (ii) Hạn chế tối đa các tác động lên môi trường; (iii) Dùng công nghệ xanh và năng lượng sạch làm động lực phát triển.
Thách thức lớn nhất của phần lớn các nước châu Á hiện nay là thực hiện xanh hóa các hoạt động sản xuất, kinh doanh, do các hoạt động này thường có chi phí cao, trong khi nền kinh tế còn phát triển ở mức thấp, chưa có đủ nguồn lực.
Ở châu Âu, với nền kinh tế phát triển hơn, các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng xanh thông qua bảo vệ môi trường trong sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng đã được tích cực áp dụng Nhiều nước đã và đang hướng tới các hoạt động cắt giảm phát thải khí nhà kính như sử dụng năng lượng tái tạo, công nghệ xanh,
14
Trang 31thúc đẩy giao thông phi cơ giới, giao thông công cộng… Với một nền kinh tế đã đạt được mức phát triển cao, cơ cấu kinh tế chủ yếu là dịch vụ, thì thách thức lớn nhất đối với các nước châu Âu là phát thải từ tiêu dùng Mức sống và nhu cầu cao về tiêu dùng đã thúc đẩy phát triển sản xuất chế biến, gây phát thải không chỉ ở bản thân châu Âu mà hầu hết còn ở nhiều nơi sản xuất ra hàng hoá ở châu Á.
Trong lĩnh vực xanh hóa các hoạt động sản xuất, nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế cũng đã có những nghiên cứu sâu và cụ thể Năm 2008, Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc- UNIDO khởi xướng Sáng kiến Công nghiệp Xanh (UNIDO, 2008), xem đây là ưu tiên chiến luợc của các tổ chức nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp bền vững tại các quốc gia Công nghiệp xanh đưa ra cách tiếp cận hiệu quả trong bối cảnh môi truờng ngày càng suy thoái, biến đổi khí hậu, và tài nguyên ngày càng hạn chế: (i) thông qua việc “xanh hoá các ngành công nghiệp”, giúp làm giảm lượng tài nguyên thiên nhiên sử dụng, lượng chất thải và ô nhiễm phát sinh trong tất cả các lĩnh vực kinh doanh; (ii) thông qua việc tạo dựng “các ngành công nghiệp xanh”, hiện thực hoá việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ môi trường chất lượng cao một cách hiệu quả và mang tính công nghiệp, bao gồm cả những lĩnh vực như năng lượng tái tạo, tái chế chất thải và thu hồi tài nguyên, và dịch vụ tư vấn môi truờng Có thể nói, công nghiệp xanh là một chiến luợc ngành giúp đạt tới một nền kinh tế xanh Công nghiệp xanh đảm bảo an ninh tài nguyên thiên nhiên (nước, nguyên liệu và năng lượng…), góp phần giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu bằng cách giảm phát thải khí nhà kính Công nghiệp xanh mở ra nhiều cơ hội phát triển hơn Và ở cấp độ doanh nghiệp, xanh hóa sản xuất sẽ giúp họ quản lý môi truờng tốt hơn, cải thiện hiệu suất sử dụng tài nguyên và hiệu quả môi truờng
( UNIDO, Green Industry Innitiative, 2008 ).
Theo tính toán của UNEP, năm 2009, Cộng đồng Châu Âu và Mỹ đã tạo
ra 2 – 3,5 triệu việc làm khi xây dựng các tòa nhà xanh, Trung Quốc tạo nên
10 triệu việc làm trong lĩnh vực tái chế và năng lượng tái tạo với doanh thu 17
tỷ đô la Mỹ/năm Ngân hàng Thế giới đánh giá nhu cầu đầu tư phát triển cơ
sở hạ tầng kinh tế xanh như xây dựng, năng lượng, vận tải ở các nước đang phát triển có thể lên tới 563 tỷ đô la Mỹ vào năm 2030 cùng với 100 tỷ đô la
Mỹ để thích nghi với biến đổi khí hậu Những dữ liệu thực tế này cho thấy, gieo mầm kinh tế xanh tạo nên năng lượng xanh là chiến lược cho phát triển bền vững trong tương lai (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2012).
15
Trang 32Năm 2009, Cục bảo vệ môi trường Mỹ đã đưa ra "Các bước hướng đến phát triển bền vững- Hướng dẫn xanh hóa cho các doanh nghiệp nhỏ" Trong
đó, hướng dẫn đã chỉ ra những lợi ích và cơ hội của các doanh nghiệp khi phát triển theo hướng xanh Hướng dẫn cũng đưa ra 5 bước cơ bản để giúp doanh nghiệp hướng đến phát triển bền vững bao gồm: bước sẵn sàng, khởi đầu, xây dựng mục tiêu, hướng tới xanh, đảm bảo cải tiến liên tục Năm 2012,
Tổ chức Carbon Trust của Anh cũng đưa ra một hướng dẫn quản lý về "Xanh hóa doanh nghiệp hướng tới tăng trưởng- Green your business for Growth" Trong đó, hướng dẫn đã mô tả chi tiết một chu trình xanh hóa và cách thức
để triển khai một chiến lược tăng trưởng xanh cho doanh nghiệp Một trong những bước đầu tiên là cần phải xác định những cơ hội cho doanh nghiệp khi triển khai tăng trưởng xanh thông qua bảng hỏi các nhóm vấn đề về giảm thiểu năng lượng và cacbon; quản lý nước và chất thải; cam kết bền vững với khách hàng Trên cơ sở cho điểm từng vấn đề và mức thang điểm tổng, doanh nghiệp có thể đánh giá mức độ sẵn sàng của họ cũng như đánh giá được họ đang đứng ở giai đoạn nào và cần có những bước đi nào tiếp theo.
2.4.2 Thực trạng phát triển tăng trưởng xanh ở Việt Nam
Tăng trưởng xanh là một nội dung của Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 nhằm đảm bảo phát triển kinh tế theo hướng hiệu quả và bền vững, đồng thời góp phầm giảm nhẹ và phòng chống tác động của BĐKH trong giai đoạn hiện nay (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2012).
Chính phủ đã ban hành và đang triển khai nhiều văn bản như: Chiến lược quốc gia về Biến đổi khí hậu tại Quyết định 2139/QĐ-TTg ngày 05/12/2011; Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011- 2020 tại Quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 12/4/2012; Chiến lược quốc gia về BVMT đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 05/9/2012; Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012; Đề án tổng thể Tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013-2020; Kế hoạch quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020 tại Quyết định 403/QĐ-TTg ngày 20/3/2014 Nội dung các văn bản này đã bao quát hầu như hết nội hàm, ý nghĩa, mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc, giải pháp, cách thức thực hiện tăng trưởng xanh, và là cơ sở pháp
lý để thúc đẩy tăng trưởng xanh ở Việt Nam.
16
Trang 33Tăng trưởng xanh ở Việt Nam là một nội dung quan trọng của phát triển bền vững, đảm bảo phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả, bền vững và góp phần quan trọng thực hiện Chiến lược quốc gia về Biến đổi khí hậu.
Hơn nữa, các văn bản trên cũng nhấn mạnh vai trò của các doanh nghiệp trong tăng trưởng xanh và đây cũng là những cơ sở pháp lý quan trọng để các doanh nghiệp tập trung xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh hướng đến tăng trưởng xanh Cụ thể:
Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đã xác định ba nhóm nhiệm
vụ quan trọng là: (i) giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; (ii) xanh hóa sản xuất; và (iii) xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững“ (Thú tướng Chính phủ, 2012c).
Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đã đưa ra nhiều nhóm nội dung, biện pháp để thực hiện các mục tiêu giảm các nguồn hiện đang gây ô nhiễm môi trường trong đó có nội dung:“Hạn chế phát triển các nhóm ngành có nguy cơ cao gây ô nhiễm, suy thoái môi trường; từng bước xây dựng hạ tầng, môi trường pháp lý thuận lợi cho nền kinh tế xanh; nghiên cứu, xây dựng và áp dụng bộ tiêu chí xác định ngành, khu vực kinh tế xanh”và giải pháp “Thúc đẩy các mô hình cơ
sở sản xuất thân thiện với môi trường” (Thú tướng Chính phủ, 2012a).
Kế hoạch quốc gia về tăng trưởng xanh cũng đề ra nhiệm vụ
“Thúc đẩy phong trào doanh nghiệp phát triển bền vững”, trong đó cần xây dựng tiêu chuẩn "doanh nghiệp phát triển bền vững" vào hệ thống đánh giá công khai và minh bạch kết quả hoạt động kinh doanh và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Thú tướng Chính phủ, 2014).
Năm 2009, Tổ chức Tài chính Quốc tế đã phối hợp với Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam thực hiện một nghiên cứu so sánh hiệu quả sử dụng năng lượng trong ngành chế biến thủy sản Mục tiêu của nghiên cứu là cung cấp thông tin cho các nhà máy chế biến thủy sản về các mức tiêu thụ năng luợng tham khảo để nhà máy có thể tự đánh giá hiệu quả sử dụng năng luợng của đơn vị, từ đó
có hướng để nhận dạng các giải pháp tiết kiệm năng luợng nhằm giảm chi phí sản xuất, tăng cuờng tính cạnh tranh của hàng hóa Đây cũng là một trong những mục tiêu hướng đến tăng trưởng xanh của Việt Nam Nghiên cứu này do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển về Tiết kiệm Năng lượng, Việt Nam thực hiện, với sự hợp tác của Trung tâm Tiết kiệm Năng lượng Tiền Giang Phần
17
Trang 34chính của báo cáo này tập trung vào so sánh hiệu quả sử dụng năng lượng của phân ngành chế biến tôm và chế biến cá da trơn Các chỉ số được lựa chọn để
so sánh bao gồm: suất tiêu thụ năng lượng tổng thể (tổng tiêu thụ năng lượng tính trên mỗi đơn vị sản phẩm); suất và tỷ lệ tiêu thụ năng lượng của từng công đoạn sản xuất; suất tiêu thụ năng lượng tính trên nhân công; tổng chi phí năng lượng trên mỗi đơn vị sản phẩm; suất tiêu thụ nước của sản phẩm; suất phát thải CO 2 của sản phẩm; tuổi thọ trung bình của thiết bị sản xuất; hiện trạng quản
lý năng lượng Sau đó, các chỉ số được so sánh theo 3 nhóm nhà máy sau: nhóm 25% các nhà máy có chỉ số tốt nhất, nhóm 50% có chỉ số trung bình, và nhóm 75% có chỉ số thấp nhất (Tổ chức Tài chính Quốc tế đã phối hợp với Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam, 2009).
Năm 2010, Viện Môi trường và Tài nguyên, Đại học Quốc Gia Thành phố
Hồ Chí Minh đã có một nghiên cứu về đề xuất mô hình và xây dựng bộ tiêu chí đánh giá khả năng hướng tới không phát thải cho doanh nghiệp ngành sản xuất bia trong điều kiện Việt Nam Mục tiêu của nghiên cứu này là thiết lập mô hình không phát thải (zero emission model) phù hợp, hiệu quả và khả thi cho doanh nghiệp ngành sản xuất bia trong điều kiện Việt Nam, nghiên cứu điển hình là cho Nhà máy Bia Việt Nam ở quận 12, TP.HCM Trong đó xác định rõ các khả năng có thể quay vòng và tận dụng các dòng năng luợng, dòng vật chất trong nội vi quy trình sản xuất nhằm mục đích tiết giảm nhu cầu bổ sung từ các nguồn bên ngoài cũng như giảm thiểu nhu cầu bỏ chất thải ra môi trường ngoài, hướng tới không phát thải Bên cạnh đó, nghiên cứu đã đề ra giải pháp triển khai áp dụng mô hình với mức ưu tiên tiến hành cũng như xây dựng một bộ tiêu chí đánh giá khả năng
áp dụng nhân rộng mô hình cùng với lộ trình thực hiện kiến nghị.
Năm 2012, Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc đã có một nghiên cứu “Hướng đến tăng trưởng xanh từ phát triển công nghiệp xanh tại Việt Nam“ Đây là một trong những báo cáo rất ít của Việt Nam về phát triển công nghiệp hướng đến tăng trưởng xanh Báo cáo đã chia sẻ những kết quả đánh giá cơ hội và hạn chế đối với việc giải quyết một số những vấn dề cấp bách nhất về môi truờng công nghiệp, có quan tâm đầy đủ đến bối cảnh kinh tế xã hội liên quan Trong đó, 3 mô hình thí điểm đã được triển khai gồm: (i) Đối chuẩn hiệu suất sử dụng tài nguyên cho ngành thép Việt Nam; (ii) Phát triển Ðô thị Sinh thái Hội An vào năm 2030; (iii) Mô hình tái chế bền vững quy mô nhỏ va` rất nhỏ Kết quả
18
Trang 35của ba mô hình thí điểm này cho thấy rõ rằng các phuong pháp tiếp cận của Công nghiệp Xanh hướng tới Tăng truởng Xanh đã đưa ra giải pháp sạch cho những mô hình phát triển với tốc độ chóng mặt đã lỗi thời truớc đây và hài hòa các quan ngại
về môi truờng với các vấn đề kinh tế-xã hội Ngoài ra, kết quả nghiên cứu giúp cung cấp thông tin và huớng dẫn xây dựng khung chính sách để triển khai rộng rãi các phương pháp tiếp cận của Công nghiệp Xanh nhằm đạt tới tăng trưởng xanh tại Việt Nam (Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp Quốc, 2011).
Qua tổng kết kinh nghiệm cho thấy, một trong những giải pháp chính của các quốc gia hiện nay hướng đến tăng trưởng xanh là xanh hóa sản xuất từ quy mô doanh nghiệp đến quy mô ngành, lĩnh vực Tuy nhiên,
để các doanh nghiệp, các ngành tự nguyện phát triển theo hướng tăng trưởng xanh, cần thiết phải chỉ ra những lợi ích, cơ hội cho họ trong tiến trình xanh hóa Trong đó, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và quản
lý môi trường tốt hơn là những yếu tố chính để đạt mục tiêu này.
Theo hướng dẫn của Hội đồng Phát triển bền vững Liên Hiệp quốc (viết tắt là UNCSD), bộ chỉ tiêu thử nghiệm đầu tiên của Việt Nam được Cục Môi trường tổ chức nghiên cứu và công bố năm 1998, gồm 80 chỉ tiêu về các lĩnh vực sau: lĩnh vực môi trường được quan tâm hơn (44 chỉ tiêu); lĩnh vực kinh tế (3 chỉ tiêu); lĩnh vực xã hội (17 chỉ tiêu); quản lý môi trường (16 chỉ tiêu).
Sau đó, thông qua các hoạt động khác nhau, bộ chỉ tiêu được nhiều
cơ quan tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện Gần đây, trong khuôn khổ Dự án VIE/01/021, triển khai tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đề tài “Xác định bộ chỉ tiêu phát triển bền vững cho Việt Nam” được tiến hành nhằm xác định một bộ chỉ tiêu phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam và thông lệ quốc tế Bộ chỉ tiêu mới được xây dựng trên cơ sở các bộ chỉ tiêu đã hình thành trước đó:
Bộ chỉ tiêu của UNCDS, Bộ chỉ tiêu trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001- 2010, Bộ chỉ tiêu trong Chiến lược toàn diện tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo, Bộ chỉ tiêu theo Agenda 21 của Việt Nam và Bộ chỉ tiêu mà Tổng cục Thống kế dự kiến đề xuất Bộ chỉ tiêu mới bao gồm 55 chỉ tiêu trong 4 lĩnh vực: Kinh tế (14 chỉ tiêu), Xã hội (23 chỉ tiêu), Tài nguyên – Môi trường (13 chỉ tiêu), Thể chế (5 chỉ tiêu), trong đó có một số chỉ tiêu đặc thù riêng của Việt Nam như: chỉ tiêu về cơ cấu các ngành kinh tế quốc dân; tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng số lao động
19
Trang 36Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế (OECD) cũng có bộ tiêu chí đánh giá tăng trưởng xanh nhưng chỉ đóng vai trò định hướng cho các nước trong việc
tự xây dựng bộ chỉ tiêu cho chính mình, bởi mỗi nước có trình độ phát triển kinh
tế, điều kiện tự nhiên, môi trường, trình độ dân trí khác nhau Bên cạnh đó, trong từng giai đoạn của nền kinh tế, mỗi chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng xanh có mức tác động khác nhau đối với chính sách trong ngắn hạn, dài hạn của Chính phủ.
Bảng 2.4 Chỉ số đánh giá tăng trưởng kinh tế xanh Nhóm chỉ số đánh giá tăng trưởng kinh tế xanh của OECD
lượng, năng suất dụng năng lượng
nhân tố tổng hợp - TFP - Cơ cấu sử dụng năng lượng theo ngành
kinh tế
- TFP
- Tài nguyên tái tạo: Nước rừng, thủy sản
- Tài nguyên Môi trường tự
2 không tái tạo: nhiên
khoáng sản
- Đa dạng sinh học và
- Tỷ lệ trữ lượng cá trong giới hạn
an toàn về môi trường
- Tỷ lệ khai thác/trữ lượng khoáng sản
- Tình trạng đất canh tác, đất nông nghiệp
bị ảnh hưởng bởi xói mòn, nhiễm mặn,…
Trang 37sức khỏe con - Tỷ lệ dân số sống trong vùng ô nhiễm
- % giá trị gia tăng của khu vực: sản
Cơ hội kinh tế và vụ môi trường
- GDP và cơ cấu GDP
- Xuất khẩu + Nhập khẩu/ GDP
- Tăng trưởng và - Năng suất lao động
- Chỉ số năng lực cạnh tranh
cơ cấu kinh tế
- Chỉ số giá tiêu dùng Bối cảnh kinh tế - Năng suất và
- Giá thực phẩm, dầu thô, khoáng sản,
xã hội và đặc thương mại
điểm của tăng - Thị trường lao
-Tỷ lệ thất nghiệp/dân số trong độ tuổi lao trưởng động, giáo dục và
Trang 3821
Trang 39Để xây dựng phương pháp tính toán các chỉ tiêu đánh giá tăng trưởng kinh tế xanh, Việt Nam cần hạch toán được các tài khoản
“xanh” gắn kết với các tài khoản kinh tế quốc gia Việc lựa chọn các tài khoản xanh để phát triển cho Việt Nam dựa vào các tiêu chí sau:
Thứ nhất, tập trung vào các tài khoản “xanh” quan trọng đối với nền kinh tế Đối với các tài khoản tài nguyên thiên nhiên, các tài khoản quan trọng đối với nền kinh tế như tài nguyên khoáng sản, nước, rừng, đất có thể được lựa chọn Tương tự như vậy, liên quan đến môi trường, các tài khoản liên quan đến một vài vấn đề môi trường nổi bật hiện nay như ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí (đặc biệt là khí thải CO 2 ), chất thải rắn cũng có thể được lựa chọn Ngoài ra, chi tiêu cho môi trường cũng nên tách ra khỏi chi tiêu khác của hệ thống tài khoản quốc gia để phân tích vai trò và trách nhiệm của nhà nước, doanh nghiệp và hộ gia đình trong bảo vệ môi trường.
Thứ hai, bước đầu tập trung vào các tài khoản mà thông tin đầu vào hoặc
là có sẵn hoặc là có thể thu thập được trong tương lai Hệ thống thống kê hiện nay của Việt Nam có thể cung cấp thông tin đầu vào cơ bản cho một số tài khoản xanh như tài khoản tài nguyên khoáng sản, tài khoản chi tiêu công cho môi trường mặc dù thông tin có thể còn phân bố rải rác và chưa thống nhất Việc lựa chọn các tài khoản “xanh” để phát triển dựa trên nguyên tắc này sẽ giúp Việt Nam (đặc biệt là cơ quan thống kê) một mặt sử dụng được thông tin có sẵn và mặt khác tích cực xác lập nguồn thông tin đầu vào Đó chính là nhân tố quan trọng nhất trong việc phát triển thành công các tài khoản “xanh” cho Việt Nam.
Thứ ba, cần xây dựng các tài khoản mà phương pháp luận tính toán đã
rõ ràng và thống nhất Theo sổ tay hướng dẫn SEEA của Liên Hiệp Quốc cũng như kinh nghiệm của nhiều nước, việc tiếp cận phát triển các tài khoản xanh và gắn kết các tài khoản này vào hệ thống SNA là rõ ràng nhưng cũng
có một vài vấn đề với phương pháp tính toán và việc áp dụng trong thực tế Trong một vài trường hợp, nó được dựa trên một số giả định trừu tượng Đối với Việt Nam, các tài khoản mà đã có phương pháp tính toán rõ ràng nên được lựa chọn để tránh thảo luận không cần thiết sau đó.
Thứ tư, các tài khoản “xanh” được lựa chọn nên được xây dựng ở cả hai dạng hiện vật và giá trị Thiệt hại tài nguyên và môi trường có thể chia ra thành thiệt hại ẩn và thiệt hại hiện.
22
Trang 40Thiệt hại ẩn: Là những thiệt hại làm tổn thất đến tài nguyên thiên nhiên, ảnh hưởng xấu đến môi trường sống mà ta không thể quan sát được, không thể tính thành tiền các thiệt hại một cách cụ thể.
Thiệt hại hiện: Làm tổn hại đến môi trường mà ta có thể quan sát được và có thể tính thành tiền các thiệt hại.
Về tài khoản tài sản tài nguyên: Chúng ta sẽ lựa chọn tài khoản tài nguyên khoáng sản để xây dựng, tập trung vào năng lượng không tái tạo là dầu mỏ, than, và khí đốt Đó là vì tài nguyên năng lượng không tái tạo đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của Việt Nam, phục vụ cả nhu cầu sản xuất trong nước và nhu cầu xuất khẩu Giá trị sản lượng của ba tài nguyên này chiếm đến 90% tổng sản lượng của công nghiệp mỏ năm 2009 Hàng năm, Việt Nam xuất khẩu hàng triệu tấn dầu thô và than, chiếm khoảng 12-14% tổng giá trị xuất khẩu
và vì thế đóng góp khoảng 14-18% tổng thu ngân sách nhà nước.
Về các tài khoản ô nhiễm: Thiết lập các tài khoản xanh về phát thải khí và sẽ tập trung vào CO 2 Về thông tin đầu vào, Việt Nam vẫn chưa thống kê lượng nước thải và khí thải hàng năm từ các hoạt động sản xuất và của hộ gia đình Tuy nhiên, thông tin này có thể thu thập được từ hệ thống thống kê hiện nay về các hoạt động kinh tế Hơn nữa, Việt Nam đang thực hiện một chương trình về công bố dữ liệu phát thải khí nhà kính dựa trên kiểm kê từ nhiều nguồn thông tin khác nhau Dự án này đang được Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện Thực tế, có những chất ô nhiễm khí khác ở Việt Nam, tuy nhiên, với mục đích minh hoạ phương pháp của nghiên cứu này, CO 2 có thể được sử dụng như một ví dụ tốt cho việc tính toán Ngoài ra, những chất ô nhiễm khí khác có thể được chuyển đổi tương đương sang
CO 2 và như vậy nghiên cứu đối với trường hợp của CO 2 có thể áp dụng được đối với những ô nhiễm không khí khác (Trần Quang Phú, 2016).
Tuy nhiên, nghiên cứu về tăng trưởng xanh trong các doanh nghiệp vẫn là chủ đề khá mới ở Việt Nam Vì vậy, qua tổng quan tài liệu cho thấy vẫn còn rất ít nghiên cứu về chủ đề này và chưa đi sâu nghiên cứu thế nào là một doanh nghiệp xanh, giải pháp toàn diện và lộ trình để giúp các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp trong ngành sản xuất bia nói riêng phát triển theo hướng tăng trưởng xanh.
2.4.3 Tăng trưởng xanh trong sản xuất bia
Theo các chuyên gia, tiềm năng tiết kiệm trong ngành bia là rất lớn.
23