Cơ sở lý luận và thực tiễn về QLNN về bảo hiểm xã hội bắt buộc
Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Khái niệm về BHXH và BHXH BB a Khái niệm về BHXH
Ngày 10/12/1948, Tuyên ngôn về nhân quyền của Liên Hợp Quốc khẳng định rằng "Tất cả mọi người, với tư cách là thành viên của xã hội, có quyền hưởng bảo hiểm xã hội" Bảo hiểm xã hội không chỉ là một phần thiết yếu của an sinh xã hội mà còn là cơ chế chính trong hệ thống này Do đó, chính sách bảo hiểm xã hội được coi là một trong những chính sách quan trọng nhất của an sinh xã hội.
Bảo hiểm xã hội (BHXH) tại Việt Nam được định nghĩa theo Điều 3 của Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13, ngày 20/11/2014, là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp phải tình huống giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc qua đời, dựa trên việc đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội BHXH bắt buộc là một phần quan trọng trong hệ thống bảo vệ an sinh xã hội, giúp người lao động an tâm hơn trong cuộc sống.
Theo Điều 3 của Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13, được ban hành ngày 20/11/2014, bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, yêu cầu cả người lao động và người sử dụng lao động tham gia Bảo hiểm xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an sinh xã hội, bảo vệ quyền lợi của người lao động và hỗ trợ họ trong các trường hợp khó khăn.
Bảo hiểm xã hội (BHXH) đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nguồn thu nhập cho người lao động và gia đình họ khi gặp rủi ro giảm hoặc mất thu nhập BHXH giúp người lao động tích lũy những khoản tiết kiệm nhỏ nhưng đều đặn, tạo thành nguồn dự phòng cho các trường hợp như mất sức lao động, ốm đau, tuổi già hay sinh con Chủ sử dụng lao động phải đóng góp một khoản tiền lớn hơn so với người lao động, cụ thể là 26% tiền lương, trong đó người lao động đóng 8% và chủ sử dụng lao động đóng 18% Điều này không chỉ thể hiện sự quan tâm của chủ sử dụng lao động mà còn thể hiện sự bảo hộ của Nhà nước, giúp người lao động yên tâm làm việc và đóng góp vào sự phát triển của xã hội, từ đó góp phần ổn định xã hội.
Bảo hiểm xã hội (BHXH) giúp người sử dụng lao động thực hiện trách nhiệm đối với nhân viên, từ đó xây dựng mối quan hệ chủ thợ bền vững và giảm thiểu nguy cơ biểu tình hay đình công Nhờ đó, người lao động có thể tập trung vào công việc, góp phần gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Hơn nữa, BHXH còn giúp doanh nghiệp ổn định nguồn chi, tránh áp lực tài chính khi nhiều nhân viên gặp rủi ro cùng lúc, đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra suôn sẻ.
Bảo hiểm xã hội (BHXH) hoạt động dựa trên nguyên tắc "chia sẻ rủi ro", góp phần nâng cao tính cộng đồng và đoàn kết trong xã hội, từ đó tạo ra sự bình đẳng cho tất cả người lao động, bất kể ngành nghề hay địa bàn Quỹ BHXH được hình thành từ sự đóng góp của người lao động và chủ sử dụng lao động, giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước và đảm bảo an sinh xã hội bền vững Mặc dù mức lương khác nhau tùy thuộc vào trình độ và năng lực, BHXH giúp phân phối lại thu nhập, nơi người có thu nhập cao hơn đóng góp nhiều hơn để hỗ trợ những người yếu thế Điều này thể hiện tư tưởng "lá lành đùm lá rách", khẳng định tính nhân văn và sự gắn kết giữa các cá nhân trong cộng đồng.
Một chức năng quan trọng của bảo hiểm xã hội (BHXH) là quản lý quỹ BHXH, trong đó quá trình thu chi không diễn ra đồng thời, dẫn đến sự tồn tích lớn của quỹ Do đó, BHXH cần đảm bảo quỹ tự bảo tồn và phát triển, bao gồm cả việc đầu tư phần nhàn rỗi của quỹ Đây là nguồn vốn quan trọng, ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, giúp tạo ra cơ sở sản xuất kinh doanh mới, giải quyết việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp và tăng thu nhập cá nhân, góp phần vào tăng trưởng tổng sản phẩm quốc dân Quản lý nhà nước về BHXH bắt buộc là một yếu tố thiết yếu trong việc thực hiện các chức năng này.
Theo C.Mác, quản lý là cần thiết để phối hợp các lao động cá nhân trong một quy mô lớn, nhằm đạt được sự thống nhất trong toàn bộ quá trình sản xuất Ông ví von rằng, trong khi một nhạc công có thể tự điều khiển, thì một dàn nhạc cần có nhạc trưởng để chỉ huy Mục đích của quản lý là đảm bảo sự phối hợp hiệu quả giữa các hoạt động lao động đơn lẻ Các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý hiện nay cũng khẳng định rằng quản lý là sự tác động có tổ chức và có định hướng của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý, nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.
Quản lý là yếu tố quan trọng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người, đặc biệt trong các hoạt động liên quan đến bảo hiểm xã hội (BHXH) Việc quản lý giúp tạo sự phối hợp hành động thống nhất giữa các cá nhân, đảm bảo đạt được mục tiêu đề ra và phù hợp với định hướng của nhà quản lý Do đó, quản lý không chỉ cần thiết cho BHXH nói chung mà còn đặc biệt quan trọng trong hoạt động thu BHXH.
Quản lý nhà nước là quá trình tổ chức và điều chỉnh các hoạt động xã hội bằng quyền lực nhà nước, nhằm duy trì trật tự pháp luật và phát triển mối quan hệ xã hội Điều này hỗ trợ thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Quản lý nhà nước là hoạt động quyền lực nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội Trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội (BHXH), quản lý nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo quyền lợi cho người lao động và duy trì sự công bằng xã hội.
Hiện tại, chưa có định nghĩa cụ thể về quản lý nhà nước đối với hoạt động bảo hiểm xã hội (BHXH) nói chung và BHXH bắt buộc nói riêng Tuy nhiên, từ việc làm rõ các khái niệm trước đó cùng với một số văn bản liên quan, chúng ta có thể xác định những đặc trưng cơ bản về quản lý nhà nước trong lĩnh vực BHXH bắt buộc.
Quản lý nhà nước về BHXH bắt buộc là quá trình mà nhà nước sử dụng quyền lực của mình để tổ chức và điều chỉnh các quan hệ liên quan đến hoạt động BHXH Mục tiêu là đảm bảo rằng BHXH bắt buộc tuân thủ đúng quy định pháp luật và thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình.
Quản lý nhà nước đối với hoạt động bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc bao gồm nhiều bước quan trọng, bắt đầu từ việc xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan Đồng thời, cần tuyên truyền và phổ biến các chế độ, chính sách pháp luật về BHXH để nâng cao nhận thức cộng đồng Việc tổ chức thực hiện chiến lược và chính sách BHXH bắt buộc cũng rất cần thiết, bao gồm cả việc thiết lập bộ máy thực hiện và tiến hành thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong lĩnh vực này.
Theo quy định tại Điều 8 Luật Bảo hiểm xã hội, các cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội gồm (Chính phủ, 2014):
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội.
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội.
- Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội.
Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội (BHXH) trong khu vực địa phương, theo phân cấp của Chính phủ Quản lý nhà nước về BHXH có những đặc điểm và công cụ riêng, nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động và thực hiện các chính sách xã hội hiệu quả.
2.1.2.1 Đặc điểm của quản lý nhà nước về BHXH BB
Phương pháp nghiên cứu
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội huyện Gia Lâm
Huyện Gia Lâm, nằm ở phía Đông thủ đô Hà Nội, có các ranh giới giáp với thị xã Từ Sơn và huyện Tiên Du (Bắc Ninh) ở phía Bắc, huyện Đông Anh ở phía Tây Bắc, quận Long Biên và quận Hoàng Mai ở phía Tây, huyện Thanh Trì ở phía Tây Nam, huyện Thuận Thành (Bắc Ninh) ở phía Đông, và huyện Văn Giang (Hưng Yên) ở phía Đông Nam.
2016, diện tích tự nhiên của huyện là 114,79 km 2 bao gồm 20 xã và 2 thị trấn với dân số 260,18 nghìn người(UBND huyện Gia Lâm, 2016).
Gia Lâm là một vùng kinh tế trọng điểm và có vị trí quân sự chiến lược ở phía Đông Hà Nội, với nhiều tuyến đường giao thông quan trọng đang được đầu tư xây dựng Các tuyến đường này bao gồm Quốc lộ 1A, 1B, Quốc lộ 3 mới Hà Nội - Thái Nguyên, Quốc lộ 5, đường ôtô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, đường Hà Nội - Hưng Yên, đường 181, cùng với hệ thống đường thủy sông Hồng, sông Đuống, ga Yên Viên, và mạng lưới đường sắt kết nối lên phía Bắc, Đông Bắc và cảng biển Hải Phòng.
Huyện Gia Lâm đã phát triển mạnh mẽ với nhiều khu đô thị, khu công nghiệp và trung tâm thương mại Đến cuối năm 2016, trên địa bàn huyện có 2.189 đơn vị doanh nghiệp phải đóng bảo hiểm xã hội cho 32.905 lao động Ngoài ra, huyện còn nổi tiếng với nhiều làng nghề truyền thống như Bát Tràng, chuyên sản xuất gốm sứ, thu hút đông đảo khách du lịch trong và ngoài nước.
Kỵ, Ninh Hiệp, Đông Dư và Phù Đổng là những vùng có tiềm năng kinh tế lớn, với các hoạt động như dát bạc, trồng thuốc Bắc, buôn bán vải vóc, trồng dưa cải và nuôi bò sữa Những hoạt động này không chỉ thúc đẩy phát triển kinh tế thương mại mà còn tạo ra cơ hội du lịch, dịch vụ giao thông, giao lưu hàng hóa và việc làm cho người lao động trong hiện tại và tương lai.
Năm 2016, giá trị sản xuất các ngành kinh tế chủ yếu do Huyện quản lý tăng 10,22% so với năm 2015, với cơ cấu giá trị sản xuất gồm công nghiệp và xây dựng 58,05%, dịch vụ 32,95% và nông, lâm nghiệp, thủy sản 9,00% Tổng thu ngân sách nhà nước đạt 1.136,6 tỷ đồng, trong đó thu ngân sách trên địa bàn đạt 453,3 tỷ đồng, bằng 78% so với năm trước (UBND huyện Gia Lâm, 2016).
3.1.2 Đặc điểm cơ bản của BHXH huyện Gia Lâm
3.1.2.1 Quá trình phát triển của Bảo hiểm xã hội huyện Gia Lâm
Bảo hiểm xã hội huyện Gia Lâm được thành lập theo quyết định 01/QĐ-TCCB ngày 02/7/1995 của BHXH Thành Phố Hà Nội, trên cơ sở tiếp nhận một số bộ phận từ Phòng Lao Động TB-XH huyện và Liên Đoàn Lao Động huyện Từ tháng 1/2004, BHXH huyện Gia Lâm hoạt động độc lập sau khi địa giới hành chính được chia tách thành huyện Gia Lâm và quận Long Biên Ban giám đốc của BHXH huyện Gia Lâm hiện có 03 thành viên.
- 01 giám đốc: Chịu trách nhiệm chung và trực tiếp phụ trách bộ phận kế toán tài chính, chính sách và văn phòng.
- 02 phó giám đốc: 01 phó giám đốc chịu trách nhiệm về quản lý thu BHXH-Sổ thẻ và bộ phận tiếp nhận và QLHS(bộ phận một cửa)
Phó giám đốc phụ trách giám định y tế tại địa điểm khám chữa bệnh của người lao động trong huyện Gia Lâm Hiện tại, BHXH huyện Gia Lâm đã bố trí 25 lao động theo sơ đồ cụ thể.
Bộ phận tiếp nhận và QLHS
Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức của BHXH huyện Gia Lâm
Nguồn: Bảo hiểm xã hội huyện Gia Lâm, 2014-2016
Đơn vị được tổ chức thành 5 bộ phận: bộ phận tiếp nhận và quản lý hồ sơ, bộ phận thu-sổ thẻ, bộ phận kế toán, bộ phận chính sách, và bộ phận giám định bảo hiểm y tế (BHYT).
3.1.2.2 Chức năng nhiệm vụ của BHXH huyện Gia Lâm
BHXH huyện Gia Lâm là đơn vị trực thuộc BHXH thành phố Hà Nội, tọa lạc tại Thị trấn Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội, và thuộc hệ thống BHXH Việt Nam.
BHXH huyện Gia Lâm có nhiệm vụ hỗ trợ giám đốc BHXH thành phố trong việc thực hiện các chính sách và chế độ bảo hiểm xã hội, cũng như quản lý tài chính BHXH tại huyện Cơ quan này hoạt động dưới sự quản lý trực tiếp và toàn diện của giám đốc BHXH thành phố, đồng thời phải tuân thủ các quy định hành chính của UBND huyện Gia Lâm.
BHXH huyện có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản và trụ sở riêng
Các nhiệm vụ chính của BHXH huyện Gia Lâm (BHXH huyện Gia Lâm, 2014-2016):
- Xây dựng chương trình, kế hoạch công tác năm trình giám đốc Bảo hiểm xã hội TP Hà Nội phê duyệt và tổ chức thực hiện.
Hướng dẫn các đơn vị sử dụng lao động lập danh sách tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) và đôn đốc theo dõi việc thu nộp BHXH tại các đơn vị trên địa bàn huyện là rất quan trọng Việc này không chỉ giúp đảm bảo quyền lợi cho người lao động mà còn tăng cường quản lý và giám sát việc thực hiện chính sách BHXH Các đơn vị cần nắm rõ quy trình và trách nhiệm của mình để thực hiện hiệu quả công tác này.
Tiếp nhận và quản lý kinh phí cùng danh sách các đối tượng hưởng chế độ bảo hiểm xã hội (BHXH) từ BHXH TP Hà Nội theo phân cấp Theo dõi và cập nhật các thay đổi về địa chỉ, cũng như danh sách tăng, giảm đối tượng hưởng chế độ trong quá trình chi trả.
- Tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo về chế độ, chính sách BHXH để giải quyết theo thẩm quyền hoặc báo cáo BHXH thành phố
Hà Nội xem xét giải quyết.
- Tổ chức kí kết hợp đồng và quản lý hệ thống chi trả BHXH ở các xã, thị trấn
- Quản lý các đối tượng khám chữa bệnh bắt buộc và tự nguyện theo quy định của BHXH TP Hà Nội trên địa bàn huyện phụ trách.
- Hướng dẫn, đôn đốc các đơn vị làm thủ tục gia hạn, phát hành thẻ BHYT theo phân cấp của BHXH TP Hà Nội.
- Thực hiện thông tin, tuyên truyền, giải thích chế độ, chính sách BHXH trên địa bàn huyện.
- Quản lý, sử dụng công chức, viên chức, tài chính, tài sản của BHXH huyện.
3.1.2.3 Tình hình tổ chức, lao động của BHXH huyện Gia Lâm
Tính đến ngày 31/12/2016, BHXH huyện Gia Lâm có 25 cán bộ, viên chức, trong đó tỷ lệ nữ chiếm đa số và 100% đạt trình độ đại học và trên đại học Số lượng cán bộ viên chức này tương đối ổn định, với sự tăng trưởng không đáng kể qua các năm từ 2014 đến 2016.
Cán bộ viên chức BHXH huyện Gia Lâm chủ yếu là lao động trẻ có chuyên môn nghiệp vụ, với số lượng tập trung nhiều ở bộ phận thu, chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng thể.
Bảng 3.1 Tình hình lao động của BHXH huyện Gia Lâm (2014 - 2016)
Bộ phận tiếp nhận và
Bộ phận thu-sổ thẻ
Nguồn: BHXH huyện Gia Lâm (2016)
Bên cạnh những thuận lợi, BHXH Gia Lâm cũng còn một số khó khăn:
Huyện Gia Lâm, một huyện ngoại thành, có số lượng doanh nghiệp hạn chế, chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ Trên địa bàn, nhiều đơn vị hoạt động trong lĩnh vực cầu đường và xây dựng, điều này dẫn đến khó khăn trong việc thu BHXH do tình trạng nợ đọng.
Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu a Chọn đối tượng sử dụng lao động
Dựa trên cơ cấu các đơn vị quản lý tại huyện Gia Lâm, chúng tôi đã tiến hành khảo sát 60 cán bộ quản lý từ các doanh nghiệp trên địa bàn Cụ thể, khảo sát bao gồm 10 cán bộ quản lý từ doanh nghiệp nhà nước (DNNN), 30 từ doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DN NQD), và 20 từ đơn vị hành chính sự nghiệp (HCSN) Trong bối cảnh thực hiện chủ trương cổ phần hóa, một số DNNN đã được chuyển đổi thành công ty cổ phần và thành lập thêm một số công ty cổ phần mới Hiện tại, số lượng DNNN trên địa bàn huyện còn khá ít, do đó chúng tôi đã chọn mẫu khảo sát như trên Đồng thời, chúng tôi cũng lựa chọn cán bộ lãnh đạo và cán bộ chuyên trách thuộc đơn vị quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tại huyện Gia Lâm.
Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn 10 người, bao gồm 3 thành viên từ ban Giám đốc BHXH huyện và 7 người từ các bộ phận chuyên môn khác nhau Mỗi bộ phận như Bộ phận một cửa, chế độ BHXH, thu phát hành Sổ, thẻ, kế toán tài chính, và giám định đều cử một đại diện tham gia phỏng vấn Ngoài ra, chúng tôi cũng kết hợp quan sát để thu thập thông tin một cách hiệu quả hơn, tùy thuộc vào chức năng và nhu cầu của từng bộ phận.
Tiến hành điều tra 60 lao động trong đó 30 người là lao động NQD, 10 lao động DNNN và 20 lao động thuộc đơn vị HCSN trên địa bàn huyện Gia Lâm
3.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu
3.2.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Các dữ liệu thứ cấp phục vụ cho nghiên cứu này thu thập từ các tài liệu được tổng hợp ở bảng sau:
Cơ sở lý luận và thực tiễn về
BHXH ở Việt Nam và trên thế giới.
Số liệu chung về địa bàn nghiên cứu: Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội (dân số, lao động, phát triển kinh tế - xã hội).
Thực trạng quản lý nhà nước về
BHXH bắt buộc tại BHXH huyện
3.2.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
Việc thu thập dữ liệu sơ cấp được thực hiện thông qua các phương pháp tiếp cận trực tiếp hoặc gián tiếp đối với các đối tượng liên quan như cán bộ quản lý nhà nước, doanh nghiệp và người lao động Các phương pháp này bao gồm phỏng vấn điều tra theo bảng câu hỏi đã chuẩn bị sẵn và phỏng vấn sâu Dữ liệu sơ cấp thu thập được sẽ giúp hoàn thiện nội dung đề tài nghiên cứu và kiểm chứng kết quả nghiên cứu.
Cán bộ lãnh đạo, cán bộ chuyên trách của BHXH huyện Gia Lâm
Cán bộ quản lý của các đơn vị sử dụng lao động trên địa bàn huyện Gia
Người lao động tại huyện Gia Lâm đã được khảo sát thông qua phỏng vấn trực tiếp, sử dụng bảng hỏi đã được thiết kế sẵn.
3.2.2.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý dữ liệu a Tổng hợp dữ liệu
Sau khi nhập dữ liệu vào máy tính, chúng tôi đã xử lý thông tin dưới dạng bảng biểu, sơ đồ và đồ thị để phản ánh tình hình quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội bắt buộc tại huyện Gia Lâm.
Sau khi thu thập đầy đủ phiếu điều tra phỏng vấn tại thực địa, chúng tôi tiến hành kiểm tra và điều chỉnh thông tin dữ liệu Sau đó, dữ liệu được nhập vào máy tính bằng phần mềm Excel để phục vụ cho việc phân tích thông tin.
3.2.3.1 Phương pháp thống kê mô tả
Phương pháp này áp dụng các chỉ tiêu phân tích như số tuyệt đối, số tương đối và số bình quân nhằm mô tả và phân tích thực trạng quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội bắt buộc tại huyện Gia Lâm.
Từ năm 2014 đến 2016, luận văn này áp dụng phương pháp nghiên cứu nhằm phản ánh mức độ hoàn thành quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội (BHXH) tại huyện Nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về BHXH tại cơ quan BHXH huyện, đồng thời đánh giá mức độ hài lòng của doanh nghiệp về công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực BHXH trên địa bàn huyện.
So sánh các chỉ tiêu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước trong công tác bảo hiểm xã hội (BHXH) là cần thiết, bao gồm số lượng đơn vị và người lao động hoạt động trên địa bàn so với số lượng tham gia đóng BHXH Kết quả thu chi BHXH qua các năm cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về BHXH tại địa phương.
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
3.2.4.1 Chỉ tiêu phản ánh tuyên truyền, phổ biến chính sách
- Hình thức tuyên truyền, phổ biến chính sách.
- Số buổi tuyên truyền được thực hiện
3.2.4.2 Các chỉ tiêu phản ánh tổ chức bộ máy quản lý, đào tạo, tập huấn
- Số cán bộ của bộ máy quản lý BHXH huyện Gia Lâm.
- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ cán bộ;
- Thời gian công tác tại đơn vị;
Các hoạt động quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội bắt buộc (BHXH BB) đã được triển khai hiệu quả trên địa bàn, bao gồm việc tổ chức nhiều lớp tập huấn cho cán bộ chuyên môn trong năm và thực hiện số lượng bài tuyên truyền, phát thanh về chính sách BHXH bắt buộc hàng năm.
3.2.4.3 Chỉ tiêu quản lý đối tượng BHXH (người lao động và chủ sử dụng lao động)
- Số DN, đơn vị hoạt động trên địa bàn;
- Số DN, đơn vị tham gia BHXHBB cho NLĐ;
- Tổng lao động phải tham gia BHXHBB theo quy định;
- Số lao động thực tế tham gia BHXHBB;
- Tỷ lệ DN, đơn vị tham gia BHXHBB;
- Tỷ lệ lao động tham gia BHXHBB;
3.2.4.4 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình thu - chi, quản lý quỹ BHXH bắt buộc
- Số tiền thu BHXHBB theo kế hoạch hàng năm;
- Số tiền thu BHXHBB thực tế hàng năm;
- Tỷ lệ hoàn thành thu BHXHBB so với kế hoạch;
- Tỷ lệ số tiền BHXH đã nộp/ tổng số tiền BHXH phải nộp;
- Nợ đọng BHXH: Nợ đọng BHXH là khi tính đến ngày cuối tháng đơn vị chưa nộp tiền BHXH cho cơ quan BHXH (đvt: triệu đồng);
Tỷ lệ nợ đọng BHXH là chỉ tiêu quan trọng thể hiện tiến độ nộp tiền bảo hiểm xã hội của các đơn vị sử dụng lao động, được đo lường theo đơn vị tháng.
3.2.4.5 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình thanh tra kiểm tra, giải quyết kiếu nại, tố cáo
- Số đợt thanh tra, kiểm tra; tỷ lệ giải quyết kiếu nại tố cáo;
- Tỷ lệ người sử dụng lao động vi phạm đóng BHXH cho người lao động; -Tổng thu từ nguồn phạt vi phạm.