1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) phát triển hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện cao phong, tỉnh hòa bình

121 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Hợp Tác Xã Nông Nghiệp Trên Địa Bàn Huyện Cao Phong, Tỉnh Hoà Bình
Tác giả Nguyễn Thế Anh
Người hướng dẫn TS. Trần Văn Thể
Trường học Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại thesis
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 581,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần 1. Mở đầu (14)
    • 1.1. Tính cấp thiết của để tài (14)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (15)
      • 1.2.1. Mục tiêu chung (15)
      • 1.2.2. Mục tiêu cụ thể (16)
    • 1.3. Câu hỏi nghiên cứu (16)
    • 1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (16)
      • 1.4.1. Đối tượng nghiên cứu (16)
      • 1.4.2. Phạm vi nghiên cứu (16)
    • 1.5. Ý nghĩa khoa học và đóng góp mới của luận văn (17)
  • Phần 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển hợp tác xã nông nghiệp (18)
    • 2.1. Cơ sở lý luận đề tài (18)
      • 2.1.1. Một số khái niệm có liên quan đến đề tài (18)
      • 2.1.2. Nguyên lý về xây dựng hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới (19)
      • 2.1.3. Vai trò và đặc thù của hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới (21)
      • 2.1.4. Hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới (28)
      • 2.1.5. Nội dung phát triển hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới (36)
      • 2.1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới (38)
    • 2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài (41)
      • 2.2.1. Kinh nghiệm các nước trên thế giới về phát triển hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới (41)
      • 2.2.2. Thực tiễn về phát triển các hợp tác xã nông nghiệp của Việt Nam (50)
  • Phần 3. Phương pháp nghiên cứu (58)
    • 3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu (58)
      • 3.1.1. Điều kiện tự nhiên (58)
      • 3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội (61)
      • 3.1.3. Về văn hoá - xã hội (63)
      • 3.1.4. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Cao (65)
      • 3.2.1. Chọn điểm nghiên cứu (66)
      • 3.2.2. Phương pháp thu thập số liệu (67)
      • 3.2.3. Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu (68)
      • 3.2.4. Phương pháp phân tích số liệu (70)
      • 3.2.5. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu (70)
  • Phần 4. Kết quả và thảo luận (72)
    • 4.1. Thực trạng phát triển hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới tại huyện Cao (72)
  • Phong 54 4.1.1. Thực trạng về quy mô của các hợp tác xã nông nghiệp huyện Cao Phong (0)
    • 4.1.2. Thực trạng về phát triển sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và các loại hình dịch vụ khác tại các hợp tác xã huyện Cao Phong 55 4.1.3. Thực trạng tình hình tài chính và đất đai của hợp tác xã (73)
    • 4.1.4. Kết quả và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Cao Phong 60 4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới tại huyện Cao Phong 64 4.2.1. Cơ chế chính sách (79)
    • 4.2.2. Các yếu tố thuộc về nguồn lực của hợp tác xã (87)
    • 4.2.3. Các yếu tố thuộc thành viên hợp tác xã và cán bộ hợp tác xã ........................... 69 4.3. Một số giải pháp phát triển hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện (90)
    • 4.3.1. Nâng cao chất lượng nhân lực cho hợp tác xã thông qua đào tạo tập huấn (93)
    • 4.3.2. Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý hợp tác xã và hộ nông dân (94)
    • 4.3.3. Tăng cường các hoạt động huy động vốn cho phát triển các hợp tác xã nông nghiệp (96)
    • 4.3.4. Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng cho phát triển các hợp tác xã (98)
    • 4.3.5. Tăng cường công tác tổ chức thực hiện và hoàn thiện cơ chế chính sách cho phát triển các hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới (98)
    • 4.3.6. Xây dựng cơ chế phối hợp có hiệu quả giữa tổ chức Đảng, chính quyền và hợp tác xã trên từng địa bàn (106)
  • Phần 5. Kết luận và kiến nghị (111)
    • 5.1. Kết luận (111)
    • 5.2. Kiến nghị (112)
      • 5.2.1. Đối với cấp Trung ương (112)
      • 5.2.2. Đối với tỉnh Hòa Bình (112)
  • Tài liệu tham khảo (113)
  • Phụ lục (115)

Nội dung

Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển hợp tác xã nông nghiệp

Cơ sở lý luận đề tài

2.1.1 Một số khái niệm có liên quan đến đề tài

2.1.1.1 Khái niệm hợp tác xã

Vào ngày 23/9/1945, Đại hội liên minh HTX quốc tế (ICA) lần thứ 31 tại Manchester, Vương quốc Anh, đã định nghĩa hợp tác xã (HTX) là một tổ chức tự chủ, nơi các cá nhân liên kết tự nguyện để đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng chung về kinh tế, xã hội và văn hóa HTX hoạt động như một tổ chức kinh tế mà các thành viên cùng nhau làm chủ và kiểm tra theo phương thức dân chủ.

Theo khuyến nghị phát triển HTX của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) được thông qua tại kỳ họp thứ 90 vào tháng 6/2002 tại Geneva, HTX được định nghĩa là tổ chức tự chủ của những người tình nguyện liên kết để đáp ứng nhu cầu và mong muốn về kinh tế, văn hóa và xã hội HTX hoạt động thông qua việc thành lập doanh nghiệp sở hữu tập thể, với vốn góp bình đẳng, chia sẻ lợi ích và rủi ro, cùng sự tham gia tích cực của các thành viên trong quản lý và điều hành theo phương thức dân chủ.

Liên hiệp HTX là tổ chức kinh tế tập thể, do ít nhất 04 HTX tự nguyện thành lập, nhằm hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau trong sản xuất, kinh doanh Theo Luật HTX 2003, HTX được định nghĩa là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân tự nguyện góp vốn để phát huy sức mạnh tập thể, giúp nhau thực hiện hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, đồng thời góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Hợp tác xã (HTX) hoạt động như một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, tự chủ và chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài chính trong giới hạn vốn điều lệ, vốn tích lũy cùng các nguồn vốn khác theo quy định của pháp luật.

Luật HTX 2012 đã định nghĩa lại khái niệm hợp tác xã (HTX) như một tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân HTX được thành lập bởi ít nhất 7 thành viên tự nguyện, nhằm hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau trong sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm để đáp ứng nhu cầu chung Tổ chức này hoạt động trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, và đảm bảo sự bình đẳng, dân chủ trong quản lý.

So với Luật HTX năm 2003, Luật HTX năm 2012 đã làm rõ bản chất của hợp tác xã (HTX) là tổ chức kinh tế thuộc thành phần kinh tế tập thể, được thành lập trên cơ sở tự nguyện và nhằm phục vụ lợi ích chung của các thành viên.

Năm 2012, quy định “HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp” đã bị bãi bỏ, dẫn đến hai luồng ý kiến trái chiều Đa số cho rằng, HTX là tổ chức kinh tế tự chủ do các thành viên tự nguyện thành lập để đáp ứng nhu cầu chung mà từng cá nhân không thể thực hiện hiệu quả Ngược lại, một số ít ý kiến nhấn mạnh cần khẳng định HTX như một loại hình doanh nghiệp đặc thù, với quyền hoạt động bình đẳng và kinh doanh trong những ngành nghề không bị pháp luật cấm.

2.1.1.2 Khái niệm hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới

Luật HTX năm 2012 định nghĩa “HTX nông nghiệp kiểu mới” là mô hình HTX hoạt động hiệu quả trong lĩnh vực nông nghiệp HTX nông nghiệp không chỉ là hình thức tổ chức sản xuất mà còn thể hiện đặc trưng riêng của từng vùng, miền và ngành hàng nông sản.

Hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới là một hình thức tổ chức sản xuất hiện đại, đóng vai trò như một thể chế kinh tế Khác với các vật thể cụ thể, HTX nông nghiệp kiểu mới hoạt động dựa trên một khung pháp lý rõ ràng cùng các quy định không mang tính pháp lý Điều này có nghĩa là các HTX này phải tuân thủ và điều chỉnh theo các quy định và luật chơi đã được thiết lập, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững và hiệu quả trong lĩnh vực nông nghiệp.

2.1.2 Nguyên lý về xây dựng hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới

Theo Luật Hợp tác xã năm 2012, hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới cần tuân thủ bốn nguyên tắc chính, trong đó nguyên tắc đầu tiên là phải đảm bảo tuân thủ các quy định của hệ thống pháp luật hiện hành.

Đề xuất về hợp tác xã (HTX) nông nghiệp kiểu mới cần tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật hiện hành tại Việt Nam, đặc biệt là Luật HTX 2012 và các luật liên quan như Luật phá sản (19/6/2014) và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (sửa đổi năm 2013, ban hành 19/6/2013).

2008 ban hành 03/6/2008; luật sửa đổi các luật về thuế 2014 ban hành 26/11/2014; Luật việc làm 2013 ban hành 16/11/2013; Luật đầu tư 2005 ban hành 29/11/2005

Luật đầu tư 2014 được ban hành vào ngày 26/11/2014, cùng với Luật thi đua khen thưởng sửa đổi năm 2013 (16/11/2013) và Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi năm 2013 (19/6/2013), đã tạo nền tảng pháp lý cho sự phát triển của hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới Các văn bản pháp quy hướng dẫn thi hành Luật, như Nghị định số 193/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013, cũng góp phần quan trọng trong việc quy định chi tiết một số điều của Luật HTX, đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trong hoạt động của các hợp tác xã này.

Hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới cần đảm bảo tính khả thi trong thực tiễn, với mục tiêu phục vụ thành viên là chính, không đặt lợi nhuận lên hàng đầu Thiết kế HTX phải ưu tiên các mục đích hoạt động theo thứ tự: cung cấp dịch vụ cho thành viên, phát triển cộng đồng, và cuối cùng là lợi nhuận Để đảm bảo tính khả thi, cần xác định mục tiêu thực tế, cụ thể và thiết thực, xuất phát từ nhu cầu của cộng đồng, đồng thời đảm bảo lợi ích bền vững cho các thành viên tham gia Hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới cũng phải đảm bảo tính tiên tiến trong hoạt động.

Hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới cần phải tiên tiến hơn so với các hợp tác xã hiện tại, thể hiện qua việc đảm bảo quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong nông nghiệp Đồng thời, hợp tác xã cũng phải thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa, hình thành chuỗi giá trị nông sản, kết nối sản xuất với chế biến và tiêu thụ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng thu nhập cho các thành viên và lợi ích chung của hợp tác xã Hơn nữa, hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới cần có khả năng nhân rộng để phát triển bền vững.

Các tiêu chí đánh giá khả năng nhân rộng của là:

-Phù hợp với lộ trình phát triển kinh tế đất nước.

-Hiệu quả hoạt động của cao, được đông đảo thành viên thừa nhận.

-Có thể áp dụng rộng rãi tại các địa phương có điều kiện tương tự e Khung pháp lý

Luật Hợp tác xã (HTX) 2012 là khung pháp lý quan trọng nhất cho tổ chức HTX tại Việt Nam Theo luật này, Nghị định số 193/2013/NĐ-CP, ban hành ngày 21/11/2013, đã quy định chi tiết một số điều của Luật HTX, nhằm hướng dẫn và điều chỉnh hoạt động của các HTX.

Cơ sở thực tiễn của đề tài

2.2.1 Kinh nghiệm các nước trên thế giới về phát triển hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới

2.2.1.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản

* Tổ chức hệ thống HTX a)Về cơ cấu tổ chức:

Cấp quốc gia phân theo ngành kinh tế bao gồm nhiều tổ chức quan trọng như Liên đoàn thịnh vượng HTXNN quốc gia, Liên đoàn tín dụng HTXNN quốc gia, Ngân hàng nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, cùng với Liên hiệp HTXNN quốc gia Nhật Bản và Liên đoàn Bảo hiểm HTXNN quốc gia Ngoài ra, Tổng công ty du lịch Nokyo và Liên đoàn xuất bản và thông tin HTXNN quốc gia cũng đóng vai trò quan trọng, bên cạnh hiệp hội IE-NO-HIKARI liên quan đến xuất bản, giáo dục và văn hoá.

Cấp địa phương tại Nhật Bản được quản lý bởi Liên hiệp HTXNN và Liên đoàn HTX địa phương, hoặc văn phòng của các Liên đoàn Quốc gia, có nhiệm vụ thực hiện chức năng quản lý các hợp tác xã nông nghiệp.

Cấp thành phố, làng, xã và thị trấn có Hợp tác xã nông nghiệp đa chức năng sơ cấp, bên cạnh đó, trong Hợp tác xã nông nghiệp còn có Hội phụ nữ nhằm nâng cao đời sống và Hội thanh niên khuyến khích sự tham gia của thanh niên vào các hoạt động của Hợp tác xã nông nghiệp.

Hình 2.4 Sơ đồ tổ chức hệ thống hợp tác xã tại Nhật Bản

Trong hệ thống ba cấp, giám đốc hợp tác xã cơ sở (JA) thường được bầu làm giám đốc liên đoàn hoặc liên hiệp cấp tỉnh, đồng thời có thể đảm nhận vai trò này ở cấp quốc gia.

Một trong những điểm nổi bật trong quản lý kinh doanh của JA là hệ thống tích hợp, nơi các hoạt động diễn ra một cách thống nhất và song song Sự liên kết giữa các hoạt động kinh doanh như tiếp thị, tiêu thụ, tín dụng và bảo hiểm tạo ra lợi thế cho các thành viên của HTX, cho phép họ tận hưởng nhiều dịch vụ đa dạng.

Mỗi mảng hoạt động của JA được liên kết chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau, vì vậy nếu có thua lỗ phát sinh từ hoạt động tiếp thị và kinh doanh, nó sẽ ảnh hưởng đến các lĩnh vực khác.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh khốc liệt, việc bù đắp doanh thu từ các hoạt động như tín dụng và bảo hiểm không còn hiệu quả lâu dài Do đó, JA đã nghiên cứu và thay đổi phương pháp quản lý hoạt động kinh doanh nhằm đạt được độc lập tài chính cho từng hoạt động của hợp tác xã (HTX).

Phần lớn nông dân Nhật Bản đều tham gia vào HTXNN Thành viên tham gia HTX có 2 loại:

Thành viên thường xuyên của hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) bao gồm nông dân, hộ nông dân, hội nông nghiệp và doanh nghiệp tham gia sản xuất nông nghiệp Điều kiện trở thành thành viên HTX được quy định bởi Điều lệ của từng HTX, thường yêu cầu người xin gia nhập phải tham gia sản xuất nông nghiệp ít nhất 90 ngày trong một năm Các tổ chức cũng có thể gia nhập HTX, và các thành viên trong một gia đình có thể trở thành thành viên nếu họ là nông dân tham gia sản xuất nông nghiệp Tính đến năm 2008, có khoảng 9.490.000 thành viên HTXNN, trung bình khoảng 12.330 thành viên cho mỗi HTX.

Thành viên liên kết của hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) là những người cư trú trong khu vực hoạt động của HTX Họ được sử dụng dịch vụ của HTX nhưng không có quyền biểu quyết trong Đại hội thành viên hoặc bầu hội đồng giám đốc Dịch vụ mà các thành viên liên kết nhận được bị giới hạn ở mức 20% so với tổng dịch vụ mà HTX cung cấp.

Các thành viên trong hợp tác xã (HTX) có thể thành lập các nhóm dựa trên nhu cầu chung, nhằm tăng cường sự gắn kết Những nhóm này có thể bao gồm các nhóm sản xuất theo địa bàn, nhóm sản xuất theo sản phẩm, Hội thanh niên, Hội phụ nữ, và các nhóm sử dụng dịch vụ khác của HTX.

Trước đây, tham gia hợp tác xã (HTX) là bắt buộc đối với nông dân ở Nhật Bản, nhưng hiện nay, nhiều nông dân có kỹ thuật cao đã không còn tham gia HTX hiện nay chủ yếu đại diện cho lớp nông dân trung bình và đã phát triển thành một hoạt động độc lập trong nền nông nghiệp Nhật Bản.

DN tư vấn, chuyển giao, kết nối, tiêu thụ sản phẩm. c) Hoạt động sản xuất kinh doanh

Hỗ trợ trực tiếp từ Chính phủ cho các hợp tác xã (JA) gần như không tồn tại, chủ yếu thông qua các chính sách chung cho nông nghiệp và nông dân Các JA cũng không mặn mà với việc nhận hỗ trợ trực tiếp do các ràng buộc đi kèm, trong khi họ đã vững mạnh và có khả năng huy động nguồn lực độc lập Do đó, sự hỗ trợ lớn nhất từ Chính phủ là tạo ra một hành lang pháp lý thông thoáng và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại, như các chợ đầu mối lớn do Nhà nước quản lý.

Các hoạt động của HTX cơ sở chủ yếu tập trung vào các dịch vụ sau:

-Hướng dẫn: hướng dẫn kỹ thuật canh tác, hướng dẫn sinh kế tốt hơn

-Tín dụng: gửi tiết kiệm và cho vay

-Bảo hiểm: bảo hiểm nhân thọ và các bảo hiểm khác

- Hoạt động thu mua và cung ứng vật tư: thu mua nông sản, sản phẩm và cung ứng vật tư cho sản xuất.

Người nông dân ký gửi sản phẩm nông nghiệp tại các HTX địa phương để bán, và sau khi bán, HTX thanh toán tiền cho nông dân qua chuyển khoản hoặc tiền mặt, trừ đi khoản hoa hồng từ 2-5% giá trị sản phẩm Đổi lại, nông dân được hưởng nhiều dịch vụ từ HTX, bao gồm phân loại, đánh giá chất lượng, vận chuyển, giao hàng, và sử dụng chung các thiết bị, máy móc lớn, cùng với các dịch vụ tài chính liên quan đến gửi và vay vốn do HTX quản lý.

Dịch vụ chung bao gồm việc tổ chức và quản lý các cơ sở cung cấp dịch vụ thiết yếu cho các thành viên, chẳng hạn như cơ sở xay xát gạo, phân loại và đóng gói hoa quả.

-An sinh xã hội: khám chữa bệnh, nhà dưỡng lão, trường học d) Quản lý điều hành:

Các hoạt động của JA được điều chỉnh bởi Luật Hợp tác xã nông nghiệp và các luật chuyên ngành khác Luật này quy định về Đại hội thành viên, viên chức, lao động, nguyên tắc hoạt động của JA, cũng như hướng dẫn và giám sát từ Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu

4.1.1 Thực trạng về quy mô của các hợp tác xã nông nghiệp huyện Cao Phong

Ngày đăng: 13/07/2021, 06:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chi cục Thống kê huyện Cao Phong (2018). Báo cáo thống kê tình hình kinh tế xã hội huyện Cao Phong Khác
2. Chính phủ (2011). Nghị định số 122/2011/NĐ-CP ngày 27/12/2011 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập DN Khác
3. Chính phủ (2013). Nghị định số 193/NĐ-CP ngày 21/11/2013 quy định chi tiết một số điều của Luật HTX Khác
4. Chính phủ (2013). Quyết định 62/2013/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn Khác
5. Chính phủ (2013). Quyết định số 250/2013/QĐ-TTg ngày 29/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc việc giải quyết chế độ chính sách đối với Chủ nhiệm HTX có qui mô toàn xã trong thời kỳ bao cấp chưa được hưởng chế độ của Nhà nước Khác
6. Chu Tiến Quang (2012). Vai trò và giải pháp nâng cao vai trò của HTX đối với thành viên trong nông nghiệp, nông thôn Việt Nam Khác
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
8. Hoàng Vũ Quang (2015). Nghiên cứu đề xuất chính sách và giải pháp phát triển HTX trong nông lâm ngư nghiệp, Đề tài khoa học cấp Bộ Khác
9. Liên minh HTX tỉnh Hòa Bình (2010-2015). Báo cáo tổng kết phong trào thi đua khối kinh tế hợp tác và HTX tỉnh Hòa Bình Khác
10. Liên minh HTX tỉnh Hòa Bình (2016). Báo cáo tình hình kinh tế hợp tác - HTX tỉnh Hòa Bình Khác
11. Liên minh HTX tỉnh Hòa Bình (2017). Báo cáo tình hình hoạt động, phương thức kinh doanh của các hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Hòa Bình Khác
12. Nguyễn Đình Chính (2011). Nghiên cứu Chính sách bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam. Đề tài khoa học tuyển chọn cấp bộ Khác
13. Nguyễn Đình Chính (2013). Phát triển chuỗi giá trị gà ta bản địa. Gói thầu dịch vụ tư vấn dự án 3 PAD Bắc Kạn Khác
14. Nguyễn Thiện Nhân (2015). HTX kiểu mới: Giải pháp đột phá phát triển nông nghiệp Việt Nam, http://vietnamnet.vn truy cập ngày 16/10/2016 Khác
15. Phòng Tài nguyên và môi trường huyện Cao Phong (2018). Báo cáo tình hình sử dụng đất huyện Cao Phong giai đoạn 2016-2018 Khác
16. Quốc hội (2012). Luật HTX (Luật số 23/QH 13 ngày 20/11/2012) Khác
17. UBND huyện Cao Phong (2018). Cổng thông tin điện tử huyện Cao Phong Khác
18. Vũ Duy Hưng (2013). Đánh giá tổng quát kết quả chuyển đổi HTX kiểu cũ sang HTX kiểu mới theo Luật HTX. Nghiên cứu chuyên đề Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w