Nhận xét chung: Việc khai thác và sử dụng đất ở vùng sinh thái nông thôn đồng bằng có những đặc điểm chính sau đây : - Đất chủ yếu được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp
Trang 1BO KHOA HOC CONG NGHE CHUONG TRINH KC.08
“BAO VE MOI TRUONG VA PHONG TRANH THIEN TAI”
mI
_ ĐỀ TÀI KC - 08 - 06
"NGHIÊN CÚU CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN VIỆT NAM THEO CÁC
VÙNG SINH THÁI ĐẶC TRƯNG, DỰ BÁO XU THẾ DIỄN BIẾN, ĐỀ XUẤT CÁC
CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP KIẾM SOÁT THÍCH HỢP”
BẢO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CÚU CHUYÊN ĐỀ
"XU THẾ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
VA CAC DIEN BIEN MOI TRUONG TAI CAC VUNG
SINH THÁI ĐẶC TRƯNG"
Cơ quan thực hiện : Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Chủ nhiệm để tài : PGS.TS Trần Khắc Hiệp
ThS Trần Thiện Cường
HÀ NỘI, 12/2003
SMA-9 44
Trang 2MUC LUC
1 Hiện trạng sử dụng tài nguyên thiên nhiên
1.1.2 Vùng sinh thái nông thôn trung du
1.1.3 Vùng sinh thái nông thôn đồng bằng
1.1.4 Vùng sinh thái nông thôn ven đô thị
1.1.5 Vùng sinh thái nông thôn ven biển 22222222221 rue 8
1.1.6 Đánh giá chung về tỉnh hình sử dụng tải nguyên đất:
1.2 Tài nguyên nước
1.2.1 Tình hình sử dụng tài nguyên nước ở Việt Nam
1.2.2 Hiện trạng tài nguyên nước ở các vùng sinh thái nông thôn 13
1.3 Tải nguyên rùng
1.3.1 Hiện trạng sử dụng tài nguyên rừng "
43.2 Tai nguyên rừng ở các vùng sinh thái nông thôn c2 irire 24 1.4 Tài nguyên đa dạng sinh học
1.4.1 Đa dạng sinh học ở Việt Nam
1.4.2 Nguyên nhân giảm sút ĐDSH ở Việt Nam
1.8 Tài nguyên du lịch
II Xu thế sử dụng TNTN tại các vùng sinh thái
21 Xu thế sử dụng tài nguyên đất
24, Tai nguyén da dang sinh hoc
2.5 Banh gid chung vé xu thế sử dụng tài nguyên
III Tác động của các chính sách trong việc sử dụng TNTN eeiiiieerie 41
Trang 3
DANH MUC BANG VA HINH
L DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Hoà Bình năm 2001
Bảng 2 Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Đắklắk năm 2002 {6]
Bang 3 Cây trồng và lượng đất xói mòn (độ dốc 5-8', mưa 1.905mm)
Bang 4 Quản lý và ỉ lệ phân bổ đất đai tính đến 01/01/2000 (ha)
Bang 5 Hiện trạng sử dụng đất ở một số huyện trung du Nghệ An
Bang 6 Hiện trạng sử dụng đất ở Thái Bình năm 2002 [4] (ha)
Bang 7 Hiện trạng sử dụng đất ở tỉnh Quảng Nam (ha)
Bảng 8 Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Ninh Thuận năm 2001
Bảng 9 Thống kê lượng nước dùng trong công nghiệp
Bảng 10 Hiện trạng cấp nước sinh hoạt nông thôn Tỉnh Hoa Binh (năm 2002) I9
Bảng 11 Lưu lượng nước các sông chính tỉnh Quảng Nam
Bảng 12 Chế độ thuỷ văn sông Cái, Phan Rang theo thời gian trong năm
Bảng 13 Hiện trạng rừng của Việt nam vảo thời điểm cuối năm 2002
Bang 14 Hiện trạng tải nguyên rừng tỉnh Ninh Thuận
Bang 15 Phan hang các loài động vat bi de doa ghi trong sách đỏ Việt Nam
Bang 16 Tinh hinh biến động đất của cả nước trong 10 năm (1990 - 2000)
Bảng 17 Diễn biến diện tích rừng nước ta từ 1990 đến 2002
Bảng 18 Diễn biến diện tích rừng tự nhiên giai đoạn 1992 - 1999
Bảng 19 Diễn biến diện tích cây ăn quả và cây công nghiệp lâu năm, qua các năm
Bảng 20 Tỉnh trạng nhà ở của nhân dân tại các làng nghề (%)
Bảng 21 Vị trí nhà ở so với xưởng sản xuất tại các làng nghề nghiên cứu
Bảng 22 Các triệu chứng tai, mũi, họng thường gặp tại các làng nghề nghiên cứu
Bảng 23 Các triệu chứng da thường gặp tại các làng nghề nghiên cứu
Bảng 24 Phân bố các loại hình làng nghề ở các vùng nông thôn Việt Nam [2]
Bảng 25 Phân bố các làng nghề tái chế trong cả nước
Bảng 26 Đặc tính nước thải ở các làng nghề dệt nhuộm Phương La - Thái Phương - Hưng Hà - Thái
Bảng 27, Diện tích và năng suất tôm sú trong các năm 1996 - 2001
Bảng 28 Tương quan giữa diện tích RNM và diện tích nuôi tôm nước lở một số tỉnh năm 2002 49
Bảng 29: Nuôi tôm trên cát ở Ninh Thuận qua các năm [10] s22 22eree 50
Bảng 30 Du lịch Cà Mau qua các năm 1995 - 2001
Bảng 31 Áp lực về nguồn nước ngot va chat thai [5]
DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Giảm diện tích đất canh tác trên đầu người ở Việt Nam
Hình 2 Tỷ lệ diện tích các loại đất được sử dụng tỉnh Bắc Giang năm 2001
Trang 4I HIEN TRANG SU DUNG TAI NGUYEN THIEN NHIEN
1.1 Tài nguyên dat
Việt Nam có diện tích tự nhiên là 32.924.060 ha, trong đó diện tích sông suối và
núi đá gần 1,8 triệu ha (chiếm 5,5% diện tích đất tự nhiên, phần đất liên 31,2 triệu
ha (chiếm 94,5% diện tích tự nhiên), xếp hàng thứ 58 trong tổng số 200 nước trên thế giới, nhưng vì dân số đông (80 triệu người), nên diện tích đất bình quân đầu
người thuộc loại rất thấp, (4.288 m”/người) xếp thứ 159 và bằng 1/6 bình quân của thế giới Đặc biệt diện tích đất canh tác vốn đã thấp nhưng lại giảm theo thời gian do sức ép tăng dân số, đô thị hoá, công nghiệp hoá và chuyển đổi mục đích sử dụng (Hình L)
Hình 1 Giám diện tích đất canh tác trên đâu người ở Việt Nam
Sau 10 năm thi hành luật đất đai (1993-2003) có thể có thể nhận thấy:
- Việc lập và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai bước đầu đi vào nền
nếp Hiện cả nước đã có 59 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoàn thành việc lập quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh đến năm 2010 và đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, 223 huyện, quận, thị xã của 40 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và 3.596 xã, phường, thị trấn trong cả nước đã hoàn thành việc lập và phê duyệt quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, xã
- Đã cơ bản giao xong đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân và đang triển khai trên diện rộng việc giao đất lâm nghiệp, cho thuê đất sử dụng vào mục đích chuyên dùng Đến nay nước ta đã có trên 13 triệu hộ gia đình, cá nhân và tổ chức đã được giao đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp với diện tích gần 9,4 triệu ha (vụ
đất đai, Bộ TN và MT, 2003), trong đó đã cấp được trên 11,49 triệu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cho hộ gia đình cá nhân và tổ chức (đạt 92,7% số hộ
gia đình, cá nhân và tổ chức được giao đất nông nghiệp) Từ năm 1993 đến nay đã thực hiện đền bù giải phóng mặt bằng cho hàng vạn hộ dân tại 11.278 công trình với
tổng diện tích 66.350 ha, ít để xây ra những trường hợp khiếu nại gay cấn
- Trước đây, nước ta phải nhập khẩu lương thực (1980 nhập 1,274 triệu tấn,
1988 nhập 0,5 triệu tấn) Ngày nay, nhờ chính sách giao đất đến hộ sử dụng ổn định
Trang 5lâu dài vào mục đích nông - lâm nghiệp đã tạo điều kiện vượt bậc về năng suất và sản lượng lương thực, chẳng những đáp ứng nhu cầu lương thực trong nước mà còn
dư thừa để xuất khẩu
1.1.1 Tài nguyên đất vùng sinh thái nông thôn miền núi:
Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp được dẫn ra ở bảng 1
Bảng 1 Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Hoà Bình năm 2001
2 Đất lâm nghiệp, trong đó: 196.000 420
Số liệu bảng 1 cho thấy, Hoà Bình là một tỉnh miền núi, diện tích đất lâm nghiệp
chiếm 43,1%, đất nông nghiệp 14,3%, đất hoang đồi núi chiếm 36,9% diện tích đất
tự nhiên Diện tích cây hàng năm, chủ yếu là lúa, chiếm 67,4% đất nông nghiệp, cây trồng lâu năm chiếm 9%
Hệ số sử dụng đất ruộng tương đối khá (đạt 1,71 lần/năm), điện tích đất nương
rẫy có xu hướng giảm dần
- Đất vườn hiện có 16.330,65 ha chiếm 24,46% đất nông nghiệp Tỉnh Hoà Bình vừa qua đã thực hiện chương trình cải tạo vườn tạp làm kinh tế trang trại
nên đất vườn tạp hiện nay đã sử dụng có hiệu quả, góp phần nâng cao mức sống
của các hộ nông dân
- Diện tích ao hồ dùng vào nông nghiệp, chủ yếu nuôi cá có 900 ha, chiếm 1,35% đất nông nghiệp
- Diện tích đồng cỏ dùng vào chăn nuôi hiện có 429,82 ha, chiếm 0,65% đất
nông nghiệp Diện tích này hiện được sử dụng nuôi thả trâu bò tự nhiên, chưa có
tác động cải tạo đất đồng cỏ
Về hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp, qua kết quả điều tra ở một số điểm cho thấy hiệu quả kinh tế chưa cao Cụ thể:
+ Giá trị sản phẩm trên I ha đất ruộng lúa 2 - 3 vụ đạt 15 - I7 triệu đồng
+ Giá trị sản phẩm trên I ha đất trồng mía đạt 18 - 20 triệu đồng
+ Giá trị sản phẩm trên 1 ha đất trồng chè đạt 15 - 16 triệu đồng
+ Giá trị sản phẩm trên 1 ha đất cây ăn quả đạt 27 - 28 triệu đồng
Trang 6b Tinh Daklak
Đắklắk có diện tích tự nhiên 1.959.950 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp
chiếm 28,72% và diện tích đất lâm nghiệp chiếm 51,94% so với đất tự nhiên Sản
xuất nông nghiệp chiếm tý trọng trên 70% Trong sản xuất nông nghiệp đã hình
thành được các vùng chuyên canh rõ rệt:
- Vùng chuyên canh cây lúa nước, tập trung ở các huyện: Lắk, Krông Bông, Ea
Soup, Krông Ana và một phần của các huyện Ea Kar, M'Drak, Krong Pak, Krong
Nô
- Vùng chuyên canh cây công nghiệp lâu năm, tập trung ở các huyện: Dak MII,
ĐăkRlấp, Cư Mgar, Krông Buk, EaHleo, Krong Nang, Kréng Pak, Ea Kar
Hiện trạng sử dụng tài nguyên đất được thể hiện ở bảng 2
Bang 2 Hién trang sử dụng dit tinh Daklik ndm 2002 [8]
Lượng mưa hàng năm khá cao, tập trung vào một mùa cùng với địa hình dốc của
phần lớn diện tích đất, đã tạo điều kiện hình thành dòng chảy trên mặt, ngay cả khi cường độ mưa không lớn Ở thời kỳ đầu mùa mưa trên đất bazan sau một mùa khô
khốc liệt đất không còn liên kết Quá trình xói mòn bề mặt với lượng đất trôi bình quân hàng năm trên diện tích cây ngắn ngày cao gấp 8-9 lần so với rừng tái sinh và gấp 7-7,5 lần so với cà phê ¡8 tuổi Cà phê mới trồng 2 năm tuổi, lượng đất trôi nhiều gấp 4,7 lần cà phê 18 tuổi (bảng 3)
Bang 3 Cây trồng và tượng đấf xói món (độ dốc 5-, mua 1.908mmj
(Nguôn: Lương Đức Loan, 1998)
Tổng kết nhiều điểm quan trắc trên các độ dốc và vùng đất khác nhau cho thấy
rằng: lượng chất dinh dưỡng trung bình hàng năm trên một ha đất sản xuất bị cuốn
trôi đi: L7ikg N; 19kg P;O;; 337,5kg K;O và I.125kg chất hữu cơ.
Trang 71.1.2 Vùng sinh thái nông thôn trung du
a Tinh Bac Giang
Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh theo kết quả kiểm kê tháng 7/2000 là 382.200
ha, giảm 65 ha so với năm 1998 do việc tính lại và chuyển một phần về tỉnh Thái
Nguyên Hiện trạng sử dụng đất được trình bày ở hình 2
Hình 2 TỶ lệ diện tích các loại đất được sử dụng tỉnh Bắc Giang năm 2001
Số liệu cho thấy, diện tích đất nông nghiệp chiếm tỉ lệ cao nhất (32,5%) và lâm nghiệp 30,61% so với diện tích đất tự nhiên Diện tích đất chưa sử dụng còn lớn,
chiếm 19,37%, chủ yếu là đất trống, đổi núi trọc
Về quản lý và tỉ lệ phân bổ đất đai tính đến 01/01/2000 được thể hiện ở bảng 4
Bảng 4 Quản lý và tỉ lệ phân bổ đất đai tính đến 01/01/2000 (ha)
Lo -= 2 ow |g Hộ gia Cáctổ | UBND | Các tổ chức
Nông nghiệp 423733 | 3237 | 141334205 | 17496 | 83268 286.3 Lâm nghiệp 110600 | 28.94 41500
Đất chuyên dùng 54892 | 1436 128 3663 25034 26067 Đất ở 411604 | 3/04 11604
Tổng số : 382200 | 100
Như vậy diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp cơ bản đã có chủ quản lý, khai
thác và sử dụng, nhưng diện tích đất chưa sử dụng vẫn còn lớn chiếm 19,37% diện
tích tự nhiên
b Nghệ An:
Nghệ An có diện tích tự nhiên 1.648.991 ha, do ảnh hưởng của địa hình, khí hậu
và thảm thực vật nên đất đai của các vùng sinh thái nông thôn miền núi và trung dụ
rất đa dạng Đất đốc chiếm tới 83,29% diện tích tự nhiên Trong đó:
- Đất có độ đốc > 8° chiếm gần 80% diện tích (khoảng 1,4 triệu ha)
- Đất có độ đốc > 25” chiếm gần 38% điện tích (trên 400.000 ha)
- Riêng vùng sinh thái nông thôn trung du có 600.000 ha, gấp 3,28 lần đất nông
nghiệp ở vùng đồng bằng Hiện trạng sử dụng đất ở một số huyện trung du được trình bày ở bảng 5
Trang 8Bang § Hién trạng sử dụng đất ở một số huyện trung du Nghệ An
(Nguồn: Sở Địa chính, Nghệ An, 2001)
Số liệu ở bảng 5 cho thấy, diện tích đất chưa sử dụng còn khá lớn
1.1.3 Vùng sinh thái nông thôn đồng bằng
a Tỉnh Thái Bình
Hiện trạng sử dụng đất ở Thái Bình được thể hiện ở bảng 6
Bang 6 Hiện trạng sử dụng đất ở Thái Bình năm 2002 /4J (ha)
5 Đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản 6842
Trang 9Số liệu của bảng 6 cho thấy Thái Bình là một tỉnh thuần nông Diện tích đất
nông nghiệp chiếm 67,4%, diện tích đất lâm nghiệp rất ít (1,6%) Trong đất nông nghiệp thì diện tích cây hàng năm là chủ yếu
+ Đất trồng cây ăn quả: 46.900,6 ha
- Đất lâm nghiệp: 8.265,1 ha, chiếm 3,6%
~- Đất chuyên dùng: 15.886,8 ha, chiếm 6,8%
- Đất có sông rạch: 23.417,3 ha, chiếm 10,5%
Trong các năm qua, xu thế sử dụng đất có nhiều thay đổi: đất trồng cây hàng năm - cây lúa giảm, đất trồng cây ăn trái tăng từ 34.813 ha năm 1996 lén 46.900 ha
năm 2002; đất lâm nghiệp tăng từ 2.851 ha năm 1996 lên 8.265 ha năm 2002 Các
loại đất chuyên dùng, đất ở cũng tiếp tục tăng: đất chưa sử dụng giảm 10.000ha
Đất ở bên bờ sông Tiền và tại các cù lao trên sông Tiền thuộc tỉnh Tiền Giang bị
sạt lở và xói mòn nhiều Đất ven các kênh rạch vùng lũ cũng bị sụp lở do nước lũ ngập làm mềm đất và nước lũ chảy xiết
c Nhận xét chung:
Việc khai thác và sử dụng đất ở vùng sinh thái nông thôn đồng bằng có những
đặc điểm chính sau đây :
- Đất chủ yếu được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp ít
- Khai thác và sử dụng có hiệu quả các loại đất phục vụ cho các mục đích sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở như :
+ Truyền thống canh tác lúa nước, rau màu
+ Áp dụng kỹ thuật mới trong sản xuất nông nghiệp
+ Thâm canh tăng vụ
+ Có hệ thống thủy lợi tốt
+ Quản lý sản xuất nông nghiệp được chú ý
+ Có quy hoạch sử dụng đất đai đến từng huyện, xã
Trang 10- Các mục đích sử dụng đất có tính ổn định đặc biệt đối với đất sử dụng cho sản xuất nông nghiệp
- Diện tích đất đành cho các khu công nghiệp ngày càng gia tăng
- Diện tích đất nông thôn chuyển thành đất đô thị (quá trình đô thị hóa) ngày
càng tăng
- Tranh chấp trong sử dụng đất khá phổ biến ở nhiều địa phương
1.1.4 Vùng sinh thái nông thôn ven đô thị
Tình hình sử dụng đất ở Thanh Trì cụ thể như sau
Tổng diện tích tự nhiên : 9.791 ha, trong đó:
Diện tích nông nghiệp là 5.622, 009 ha, chiếm 57,4% gồm:
- Diện tích mặt nước nuôi cá : 794,78 ha
- Đất chuyên trồng lúa, lúa màu : 4.035,31 ha (có 900 ha ruộng úng trũng)
Đất ở Thanh Trì được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, trong đó quan
trọng nhất là cho trồng trọt (trồng lúa, hoa màu, cây ăn quả), nuôi thả cá, làm đất ở
và các công trình công nghiệp, công cộng
Đặc điểm chung của sử dụng đất ở vùng ven đô là :
~ Tính ổn định về mục đích sử dụng đất: Do quá trình mở rộng đô thị, đô thị hoá
nên mục đích sử dụng đất không ổn định lâu dài Đất nông nghiệp dễ bị chuyển
sang đất công nghiệp, giao thông, xây dựng các công trình văn hoá, thể thao, dịch vụ Ngay trên cùng thửa đất canh tác, sự thay đổi mục đích gieo trồng cũng xảy ra
khá phổ biến và thường xuyên (theo thời vụ, năm) Sự thay đổi này trong một số
trường hợp phụ thuộc vào thời tiết, trong các trường hợp khác phụ thuộc vào biến
động về nhu cầu của thị trường (thí dụ về đất trồng rau, trồng hoa, nuôi thuỷ sản )
- Cũng do quá trình mở rộng đô thị (nội thành) nên diện tích đất nông nghiệp có
xu hướng ngày càng giảm, đất chưa sử dụng được đưa vào sử dụng nhanh hơn cho các mục đích khác phi nông nghiệp
- Mua bán đất vùng ven đô (đặc biệt ở các thành phố lớn) đang diễn ra khá phổ
biến và sôi động
- Hiệu quả sử dụng đất cao
- Tranh chấp đất đai thường xảy ra giữa các hộ gia đình và giữa các hộ gia đình
với tập thể
Trang 111.1.5 Vùng sinh thái nông thôn ven biển
a Tỉnh Quảng Nam
Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Quảng Nam được trình bày ở bảng 7
Bảng 7 Hiện trạng sử dụng đất ở từnh Quảng Nam (ha)
Diện tích % so với diện tích tự nhiên
Tông diện tích tự nhiên: 1.040.742 1000
- Cây hàng năm 82.685
+ Lúa, lúa màu 49.334
+ Đất chuyên màu và cây CN hàng năm 21.226
+ Cay CN lau nam 3.666
+ Cay an qua 2.137
+ Cây lâu năm khác 1.485
- Đất có mặt nước đang dùng vào ngư nghiệp 2.022
- Đất vườn liền nha 19.460
b Tinh Ninh Thuận
(Nguồn: Niên giám thống kê Quảng Nam 2002)
Diễn biến sử dụng tài nguyên đất của tỉnh Ninh Thuận được thể hiện ở bằng 8
Số liệu ở bảng 8 cho thấy, có tới 50% diện tích đất của Ninh Thuận là đất lâm
nghiệp, diện tích đất nông nghiệp ít, chỉ chiếm 18,1%, nhưng diện tích chưa sử dụng
còn nhiều chiếm 31,0%
Trang 12Bảng 8 Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Ninh Thuận năm 2001
c Nhận xét chung về tình hình sử dụng tài nguyên đái vàng ven biển:
Việc khai thác và sử dụng đất vùng ven biển có những đặc điểm chính sau đây :
- Sử dụng chưa hợp lý các loại đất ngập mặn
- Diện tích nuôi trồng thuỷ sản ngày càng gia tăng
- Diện tích đất cát, bãi; cồn cát ven biển đang được cải tạo để trồng các loại cây
chịu hạn, chịu nhiệt và đặc biệt là nuôi tôm trên cát
- Nhiều khu vực ven biển đang được khai thác, sử dụng cho mục đích du lịch
(bãi tắm biển, nghỉ dưỡng, xây dựng khách sạn )
- Nhiều khu vực đất ven biển thuộc một số tỉnh miền Trung đang được quy
hoạch thành khu công nghiệp, cụm công nghiệp (Chu Lai, Dung Quất)
1.1.6 Đánh giá chung về tình hình sử dụng tài nguyên đất:
- Hiệu quả sử dụng đất trong nông nghiệp chưa cao, năng suất lao động thấp, giá
trị thu nhập mới đạt bình quân 17 triệu VNĐ/ha Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi còn chậm Chính sách đất đai đối với đồng bào các đân tộc thiểu số chưa
tốt, nhất là đồng bào khu vực Tây Nguyên, dẫn tới tình trạng đồng bào ngày -càng phải vào những vùng đất quá sâu, quá xa để tạo lập cuộc sống, đời sống ngày một khó khăn
- Việc sử dụng đất vào lĩnh vực công nghiệp - dịch vụ của nhiều công trình, đự
án còn kém hiệu quả, lãng phí
Nguyên nhán:
- Chưa nhìn nhận một cách thấu đáo mặt giá trị của đất đai Nội hàm của quyền
sở hữu toàn dân về đất đai chưa rõ Pháp luật về đất đai chưa thể chế hoá, ai được quyền đại điện về quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai, trong 3 quyền: chiếm hữu, định đoạt và sử dụng thì người đại diện toàn dân (Nhà nước) để quản lý đất đai có
những quyền gì? Quan hệ đất đai giữa Nhà nước và người sử dụng đất còn chưa dân chủ mập mờ thể hiện rõ nhất là trong việc lập và công bố quy hoạch sử dụng đất
- Công tác thanh tra, kiểm tra còn yếu, đặc biệt là công tác hậu kiểm, số vụ việc
vi phạm chế độ quản lý sử dụng đất đai mà thanh tra chủ động phát hiện còn quá
thấp so với tổng số vụ đã phát hiện Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật còn
Trang 13yếu, tham những trong quản lý và đầu cơ đất đai trong sử dụng tiếp tục gây hậu quả xấu tới xu thế phát triển của nên kinh tế
- Lý luận về chế độ sở hữu toàn dân về đất đai còn bỏ ngỏ, hiện cả nước chưa có
một công trình tầm cỡ nào đi sâu nghiên cứu lĩnh vực này mà chỉ dừng lại xử lý ở
từng góc độ như: đất 5%, nông dân thiếu đất và không có đất ở, sản xuất và lập trang
tral
1.2 Tài nguyên nước
1.2.1 Tình hình sử dụng tài nguyên nước ở Việt Nam
a Sử dụng nước cho nông nghiệp
Theo số liệu của Bộ NN & PTNT, hiện nay cả nước có 75 hệ thống thuỷ nông
lớn, vừa và nhiều hệ thống nhỏ, bao gồm 659 hồ, đập lớn và vừa, trên 3.500 hồ đập
nhỏ, 1.000 cống tiêu, trên 2000 trạm bơm lớn nhỏ, trên 10.000 máy bơm các loại
Ngoài ra để để phòng chống lũ lụt, đã có 5.716 km đê sông, 2.700 km đê biển, trong
đó miền Bắc có 3.509 km đê sông và 759 km đê biển Các hệ thống công trình thuỷ
lợi đã phục vụ tưới cho khoảng 5,4 triệu ha lúa, 5O -55 vạn ha rau, màu và cây công
nghiệp ngắn ngày, hàng năm tiêu úng vụ mùa cho 86 vạn ha, góp phần quan trọng trong việc cải tạo đất vùng chua phèn Theo tính toán, tổng nhu cầu dùng nước của
nước ta vào năm 2010 là 122 tỷ mỶ, trong đó ngành nông nghiệp dùng 92 tỷ mỶ, công nghiệp 17 tỷ mỶ, dịch vụ dùng L1 tỷ mỶ Đến năm 2040, tổng lượng nước cần
dùng tăng lên 260 tỷ mỶ Tỷ trọng của các ngành cũng có những thay đổi đáng kể
nông nghiệp và dịch vụ dùng 134 tỷ mỶ, công nghiệp 40 tỷ mỶ (Chương trình KC-]2) Lượng nước cung cấp hàng năm cho nông nghiệp rất lớn và ngày càng tăng lên
Năm 1985 đã sử dụng 40,65 tỷ mỶ chiếm 89,8 tổng lượng nước tiêu thụ, năm 1990
đã sử dụng 51 tỷ m chiếm 91%
Điều này đã góp phân đưa sản lượng lương thực có hạt (chỉ gồm lúa và ngô)
năm 2000 đạt 34,27 triệu tấn và tăng lên 36,38 triệu tấn 2002
b Sử dụng nưóc cho công nghiệp
Lượng nước dùng trong công nghiệp được tính bằng lượng nước để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc có thể xác định theo giá trị sản phẩm đơn vị 1.000 đô la Thống kê lượng nước dùng trong công nghiệp mấy năm gần đây cho thấy, lượng
nước sử dụng ngày càng tăng cao, điều này cũng phù hợp với sự phát triển về công nghiệp ngày càng mạnh của nước ta, đặc biệt ở kiểu vùng sinh thái đồng bằng, ven
đô và ven biển
Một số ngành công nghiệp ở Việt Nam sử dụng nước khá lớn, chẳng hạn ngành
nhiệt điện (nhà máy nhiệt điện Phả Lại l, công suất 400 MW một ngày cần trên
1.800.000 mỶ nước), hoặc sản xuất 1 tấn sợi nhân tạo cần 1.300 mẺ nước, 1 tấn cenlulo cần 600 - 1.200 m”, 1 tấn giấy cần 200 - 300 mỶ nước, tấn đường cần 70 -
80 mỶ nước Nước sử dụng để sản xuất bia không những cần nhiều vẻ khối lượng mà
còn yêu cầu cao về chất lượng (bảng 9)
Trang 14Bảng 9 Thống kê lượng nước dùng trong công nghiệp
| Năm Lượng nước sử dụng trong năm (ty m”) Tỷ lệ % lượng nước sử dụng
Nguồn : Niên giám thống kê 2002
c Sử dụng cho sinh hoạt
* Cấp nước đô thị
Nước ta có 63 đô thị, trong đó có 5 thành phố trực thuộc trung ương, 81 thành
phố, thị xã trực thuộc tỉnh Nhu cầu nước đối với đối tượng này ngày càng tăng mạnh Tuy nhiên, hiện nay đối với các thành phố lớn như Hà Nội, T.p Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng cũng chỉ giải quyết được 60% dân được cấp nước, các đô thị trung bình phạm vi phục vụ còn dưới 50%, các thị xã nhỏ, nước cấp chỉ đạt dưới
30%, so với tiêu chuẩn cấp nước trung bình mới chỉ 50 - 60 lít/người/ngày Như vậy, hiện nay có khoảng hơn 8 triệu dân, tức gần 1/2 dân số đô thị được cấp nước Tổng lượng nước cấp cho các đô thị đạt công suất 2,6 triệu mỶ/ngày trong đó 2/3 từ nguồn
nước mặt và từ 1/3 từ nước ngầm
Với sự tăng trưởng kinh tế - xã hội của cả nước, quá trình đô thị hoá sẽ diễn ra
mạnh mẽ, dân số các đô thị vào năm 2010 sẽ tăng thêm 20 - 30%, do đó nhu cầu về
nước sinh hoạt và công nghiệp cũng sẽ tăng lên không ngừng
* Cấp nước nông thôn
Hiện nay có khoảng 80% dân đang sinh sống ở nông thôn Nhu cầu dùng nước
sinh hoạt (nước sạch) rất lớn Mặc dù có sự hỗ trợ của Nhà nước và các tổ chức quốc
tế, nhưng vấn đề giải quyết nước sinh hoạt cho các vùng nông thôn vẫn còn nhiều khó khăn Cho đến nay, mới chỉ đảm bảo cấp nước cho khoảng 32% dân số (tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng, ven đô và ven biển), trong đó sử dụng nước ngầm (thông qua các giếng khoan, giếng đào), nước từ sông ngòi (đã được xử lý) khoảng
28%, nước mưa 10% còn lại là các nguồn khác
Ở miền núi, trung du việc khai thác nước ngầm cho sinh hoạt gặp nhiều khó khăn do mực nước ngầm nằm ở sâu Ở vùng đá vôi Đồng Văn, Mèo Vạc tỉnh Hà Giang và nhiều nơi khác nước ngầm rất khan hiếm, người dân phải tích trữ nước mưa để đùng lâu dài Sử dụng nước sinh hoạt cho nông thôn đồng bằng Bác Bộ, Nam Bộ có nhiều thuận lợi do trữ lượng nước ngầm phong phú Người dân đồng
bằng sử dụng chủ yếu nước giếng đào (độ sâu 5 đến I0 mét) và giếng khoan (UNICEP)
Tuy ở vùng đồng bằng có khối lượng nước ngầm đôi dào đủ cung cấp cho sinh hoạt nhưng chất lượng nước chưa thật đảm bảo Ở các vùng đồng bằng đông dân,
không gian sinh sống chật hẹp, nguy cơ nước bị nhiễm Coliorm, Fecal coliorm khá
lớn
Trang 15Ở vùng duyên hải, khai thác nước ngầm cho mục đích sinh hoạt cũng gặp nhiều khó khăn do nước bị nhiễm mặn Có nhiều địa phương ở duyên hải miền Trung, người đân nông thôn phải sử dụng nước mặt ô nhiễm cho sinh hoạt hàng ngày Hiện nay hầu hết các hộ gia đình ở kiểu vùng sinh thái ven đô chưa có nước máy để đùng cho sinh hoạt Nguồn nước cấp ở đây chủ yếu là nước ngầm, nước mưa
và cả nước mặt Nước ngầm cũng có nguy cơ bị ô nhiễm bởi Coliorm, Fecal coliorm
và các hợp chất của nitơ (NO)
d Sử dụng vào mục đích thuỷ điện
Với điều kiện lượng nước mưa hàng năm phong phú và 3/4 lãnh thổ là đổi núi nên nước 1a là một trong số 14 nước trên thế giới có tiềm năng thuỷ điện to lớn Căn
cứ vào các kết quả khảo sát, nghiên cứu đối với các hệ thống sông chính có thể khẳng định :
Trữ lượng nguồn thuỷ điện lý thuyết của Việt Nam đạt khoảng 270 - 300 tỷ KWh - tương đương 120 triệu tấn than
Trữ lượng kinh tế kỹ thuật có thể khai thác từ 80 - 100 tỷ KWh - tương đương
e Sử dụng nước vào giao thông
Cùng với giao thông đường bộ, đường sắt, đường hàng không, giao thông thuỷ
không chỉ đáp ứng yêu cầu giao thông vận tải mà còn đảm nhận vai trò trung tâm của hạ tầng cơ sở, thực hiện giao lưu văn hoá - kinh tế - xã hội, tạo điều kiện phân
bố lại lực lượng sản xuất và nâng cao dân trí Việt Nam có tổng chiều dài các sông
và kênh tới 40.000 km, trong đó có khoảng 15.000 km đã đưa vào khai thác cho hoạt
động giao thông với 7.000 km đã được quản lý
Tất cả các sông lớn và phần lớn các sông nhỏ trong cả nước đều được khai thác
và sử dụng cho hoạt động giao thông thuy Các hệ thống lớn như sông Hồng, sông
Thái Bình, sông Mã, sông Lam, sông Gianh, sông Thạch Hãn, sông Hương, sông
Trà, sông Cửu Long đang là hệ thống giao thông thuỷ quan trọng của miền Bắc, Trung, Nam, nối miền đồng bằng với trung du và miền núi
Ở đồng bằng sông Cửu Long với mật độ kênh rạch rất lớn đã và đang được sử dụng triệt để vào mục đích vận chuyển hàng hoá và hành khách bằng thuyền cỡ
trung bình và nhỏ giữa các địa phương trong vùng
Trang 16Nước dùng cho du lịch nói chung không nhiều (hiện chưa có đánh giá chính
xác) nhưng đòi hỏi chất lượng cao, với khối lượng nước cấp cho đầu người cao hơn tiêu chuẩn bình thường Mặt khác, các trung tâm du lịch cũng là nơi thải ra nhiều loại các chất thải ran, nước thải rất dé gây ô nhiễm môi trường
g Sử dụng nước cho thuỷ sản
Theo thống kê, cả nước ta hiện nay có khoảng! triệu ha diện tích mặt nước ngọt, 400.000 ha mặt nước lợ và 1.470.000 ha mặt nước sông ngòi Trong đó tổng diện
tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là 819.800 ha Khu vực có diện tích nước mật sử dụng cho nuôi trồng thuỷ sản lớn nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long với 571.700 ha chiếm 69,77% tổng diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản cả nước Ngoài ra còn hơn I triệu ha mặt nước nội thuỷ lãnh hải Tuy nhiên, cho tới nay mới
chỉ sử dụng 12,5 % diện tích mặt nước lợ, nước mặt và 31% diện tích mặt nước ngọt, tính chung mới chỉ sử dụng 28,5% diện tích mặt nước hiện có để khai thác, nuôi
trồng thuỷ sản
1.2.2 Hiện trạng tài nguyên nước ở các vùng sinh thái nông thôn
a Vùng sinh thái nông thôn miền núi:
* Tỉnh Hoà Bình
Nguồn nước mặt của Hoà Bình chủ yếu là do các sông, hồ chính sau đây cung cấp: Sông Đà, Sông Bôi, Sông Bưởi, Sông Lạng, Sông Bùi, Sông Cò Hồ Đồng Chanh ở huyện Lương Sơn có diện tích 45 ha; Hồ Hoà Bình có diện tích mặt
nước 208km? ở cao trình 115m, với dung tích 5.680 triệu mỶ ở cao trình 75m và
9,45 tỷ mỶ ở cao trình 115m
Tuy lượng nước trên các sông, suối ở Hoà Bình lớn, song do độ đốc lớn nên
lượng nước bị đốc kiệt khá nhanh, trong mùa mưa sau các trận mưa lớn thường bị
lũ quét xây ra làm ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của cư đân
Do đặc điểm ở Hoà Bình là một tỉnh miền núi với địa hình chia cắt phức
tạp, núi đổi, thung lũng, sông suối xen kẽ nhau tạo thành nhiều dải hẹp nên sự
phân bố nước ngầm không đồng đều Tập trung nhiều ở vùng các lưu vực sông, suối và vùng ven hồ, bị ảnh hưởng bởi lượng mưa và mực nước sông trong khu
vực Lượng nước ngầm tập trung rất ít ở những huyện vùng cao, có những khu vực sử dụng nước giếng sâu hàng chục mét mà chỉ đến đầu mùa khô đã không
có nước để sử dụng Trữ lượng nước ngầm còn bị ảnh hưởng bởi độ che phủ của
Trang 17thảm thực vật với điện tích rừng bị thu hẹp do phá rừng và nhiều nguyên nhân khác
Như vậy tài nguyên nước (kể cả nước mặt và nước ngầm) ở Hoà Bình tương đối đồi dào đáp ứng được yêu cầu phát triển của nông - lâm - ngư nghiệp, công
nghiệp và phục vụ đời sống của cư đân trong tỉnh
Hoà Bình cũng như một vài địa phương trong cả nước được sự ưu đãi hiếm
có của thiên nhiên, đó là nguồn nước khoáng
Nước khoáng Kim Bôi khai thác từ độ sâu trong lòng đất, có chất lượng tốt
Trong nước khoáng có các nguyên tố vi lượng và các chất vô cơ với hàm lượng
thích hợp, có thể sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, như xử lý đóng chai
làm nước khoáng, phục vụ cho giải khát
* Sứ dụng nước phục vụ sinh hoại
Trong nhiều năm qua vấn đề cung cấp nước sinh hoạt nông thôn ở Hoà Bình đã
được các ngành, các cấp hết sức quan tâm
Tính đến nay toàn tỉnh đã có 29.517 giếng đào (chỉ tính những giếng đủ tiêu chuẩn nước sạch như được xây thành, có sân rửa, chất lượng nước tốt), 1.104 bể
chứa nước mưa, 140 công trình cấp nước tập trung (trong đó có 132 công trình cấp nước bằng hệ thống tự chảy) Trong đó 2 huyện vùng cao xây dựng được 1.453
giếng đào, 249 bể nước mưa và 90 hệ thống tự chảy (Bảng 10)
Bảng 10 Hiện trạng cấp nước sinh hoạt nông thôn Tỉnh Hoà Bình (năm 2002) [9]
Hạng mục Giống | Bể nước C.T cấp nước Số người được sử dụng
` : đào (cái) | mưa (cái) | tập trung (công trình) nước sạch (người) Toàn tỉnh 29.517 1.104 140 230.264
mắc bệnh phụ khoa
* Sử dụng nước phục vụ sản xuất nông nghiệp
Hiện nay trên địa bàn Hoà Bình có 308 hồ chứa, 275 phai đập kiên cố, 24I1 phai, đập tạm, 26 trạm bơm điện, 31 trạm thủy luân, l6 trạm thủy điện nhỏ và 4 hệ
thống đê bao chống lũ Trong những năm qua tỉnh đã chú ý đến việc đầu tư sửa
chữa, nâng cấp, tu bổ thường xuyên hàng năm, nên đã nâng cao được hiệu quả tưới
tiêu của các công trình Theo báo cáo của ngành thủy lợi, hiện nay các công trình
Trang 18trên tưới được cho khoảng gần 13.000 ha vụ xuân, trên 20.000 - 22.000 ha vụ mùa
và ngoài ra còn tưới thêm cho 1 số diện tích hoa màu trong vùng tưới của công trình Diện tích tiêu úng an toàn cho gần 300 ha
* Tinh Daklak
Đắklắk có lượng mua bình quân 1800mm ước tính hàng năm nhận được trung bình khoảng 34 tỉ mỸ, trong đó có khoảng trên 17 tỷ mỶ (chiếm 50%) hình thành
dong chảy mặt Vùng có lượng mưa lớn trên 2000mm (Đãk Nông, Dak RLấp, phía
Đông của huyện Lak & 1 phần của M'Drak) dòng chảy lớn, Mạ= 30-321/s/km° Mùa
lũ thường xuất hiện từ tháng 7 đến II Vùng có lượng mưa trung bình từ 1600- 1900mm (Buôn Ma Thuột, Krông Ana, Krông Pak, Eakar, Krông Bông) dòng chảy
trung bình, Mẹ = 20-251/s/km” Mùa lũ thường xuất hiện từ tháng 7 đến 12 Vùng có
lượng mưa thấp, khoảng trên dưới 1500mm (Ea Soup, Buôn Đôn, Ea Hleo, Krông
buk, Krông Năng), dòng chảy nhỏ, Mẹ < 201/s/km? Mùa lũ thường xuất hiện từ
tháng 7 đến 12 (Ngô Đình Tuấn, 2003) [6]
Trữ lượng nước mặt ở Đấklắk lớn nhưng phân bố không đều theo không gian và thời gian Về mùa mưa lượng dòng chảy lớn, chiếm 75- 85% tổng lượng dòng chảy
cả năm, về mùa khô lượng dòng chảy chỉ còn 15-25% Mùa khô Đáklắk rơi vào tình
trạng thiếu nước, để giải quyết vấn đề này trong những năm qua Đắklắk đã xây dựng
trên 500 công trình thuỷ lợi
Tổng dung tích các hồ chứa đạt 205 - 210 triệu mỶ, song do tinh trạng rừng đầu nguồn nhiều nơi bị khai thác bừa bãi, quá trình xói mòn gia tăng cùng với canh tác
không hợp lý và quá trình khai thác, bảo dưỡng không tốt đã làm cho nhiều công trình bị bồi lắng, tuổi thọ và dung tích giảm
Nước dưới đất trên địa bàn tỉnh tồn tại chủ yếu dưới 2 dạng: Nước lỗ hổng và nước khe nứt Nước lỗ hổng tồn tại chủ yếu trong các tầng chứa nước Đệ tứ không phân chia (q) và các tầng chứa nước Holocen (qh), bề dây tầng chứa nước mỏng, khả năng chứa nước rất hạn chế, nằm trong các bãi bồi và bậc thềm phân bố dọc theo các
thung lũng sông và hồ lớn Nước lỗ hổng chỉ có thể cấp nước sinh hoạt và sản xuất ở
dạng quy mô nhỏ Chất lượng nước đạt tiêu chuẩn nước cấp sinh hoạt (độ khoáng hoá M = 0,1-0,6g/1) Nước khe nứt tồn tại trong các khối đá nứt nẻ thuộc các thành
ˆ tạo phun trào bazan (hình thành các tầng chứa nước quan trọng), các trầm tích và trầm tích - phun trào (hình thành các tầng chứa nước kém và trung bình), các thành tạo thuộc phức hệ Macma xâm nhập được coi là không chứa nước Trong các thành tạo chứa nước (nhất là trong Bazan) sự phân bố theo không gian và giàu nghèo rất
phức tạp, ít có tính quy luật, bề mặt mực nước ngầm thường có dạng bậc thang; độ
sâu mực nước thay đổi từ 5 - 15m, có nơi sâu hơn Nguồn cung cấp chủ yếu là nước
mưa và nước mặt Động thái của nước biến đổi theo mùa, giao động mực nước giữa mùa mưa và khô trong Bazan từ 0,7 - 8,5 m (bình quân 2,44m), trong trầm tích 2,5m
Tiểm năng nước dưới đất trên diện tích 12.600 km” thuộc 2 tầng chứa nước có:
- Trữ lượng động tự nhiên (m”/ngày) = 6.578.500
Trang 19- Trữ lượng khai thac tiém nang (m*/ngay) = 9.615.500
Nước ngầm dang được khai thác sử dụng cho nhiều mục đích, dưới nhiều hình
thức và quy mô khác nhau, đặc biệt là cho tưới cà phê Theo ước tính của Đoàn địa
chất thuỷ văn 704 hiện tại nước ngầm đang khai thác sử dụng cho sinh hoạt trung bình 50.000m/ ngày, cho công nghiệp từ 2000 - 2500m”/ngày Còn theo Chi cục
Thuỷ lợi chỉ tính khoảng 30% diện tích cà phê được tưới bằng nước ngầm trong mùa khô thì mỗi ngày đã khai thác khoảng 1.000.000 mỶ, với mức này ở vào thời kỳ cao điểm đã khai thác quá mức so với tiểm năng của nước dưới đất trong Bazan Song qua kết quả điều tra 19 xã vào mùa khô năm 2000 cho thấy mức độ sử dụng nước ngầm cho cà phê là rất lớn, có xã tới 90 - 96%, trung bình 66,8% vượt xa con số ước
tính, Điều đó đã làm suy giảm và cạn kiệt tài nguyên nước ngầm Tổng hợp kết quả
điều tra mực nước ngầm một số địa bàn từ 1994 - 1998 mức độ suy giảm mực nước
1.173.320 người chiếm 73,8% tổng số dân sử dụng từ các loại hình cấp nước Tỷ lệ
số dân sử dụng nước cao nhất loại hình này là huyện Krông Pak 95,4%; Dak mil
90,9%; Eakar 88,5%; Đăk Nông 87,8%
Ngoài ra tại Đấklắk còn có loại hình dự trữ nước mưa bằng bể để cấp nước cho sinh hoạt, toàn tỉnh có 2.878 bể với dung tích 2-10 mỶ, phổ biến là 5 m” Hệ thống
cấp nước tập trung trên toàn tỉnh hiện có 27 công trình, cấp cho 19.900 người chiếm
1,3% Loại hình khai thác nước phổ biến ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nước được lấy từ nước rỉ ở các khe núi trong lòng đất bằng các dụng cụ lu, ống bương,
bầu (bầu trái) Toàn tỉnh có 88 công trình cấp cho 3.235 hộ sử dụng trong đó chỉ có
22 công trình đạt tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt Bên cạnh đó còn một số loại hình
khai thác khác trực tiếp trên hồ, sông, suối tổng số dân sử dụng loại hình này
chiếm 24,6%
* Nguyên nhân gây suy giảm nước ngắm do:
+ Khai thác quá mức nước ngầm tầng nông, khai thác không theo quy hoạch, thiếu hiểu biết về đặc điểm phân tầng chứa nước trong Bazan thành 2 - 3 tầng nên một số giếng khoan, giếng đào đã chọc thủng tầng cách ly giữa các tầng gây hiện tượng chảy tầng Kết quả tầng trên bị tháo khô, mực nước ngầm tụt sâu 3 -5 m, có
vùng tụt sâu 10 -20 m (Hoà Hiệp)
+ Một nguyên nhân quan trọng khác là do suy giảm độ che phủ rừng, mất khả
năng điều tiết và cung cấp bổ sung nguồn nước mặt cho nước ngầm
Trang 20b Vùng sinh thái trung du
* Tỉnh Bắc Giang
Nguồn nước ở Bắc Giang khá dồi dào do nhiều hồ đập chứa, trữ nước mặt được
xây dựng (454 hồ nhân tạo), diện tích rừng tăng nhanh (10% độ che phủ sau 7 năm)
nhưng sử dụng nguồn nước chưa khoa học Nước ngầm vẫn được dùng phổ biến cho các hoạt động canh tác nông nghiệp, nhất là tưới vải ở các vùng trồng vải, nhãn tập trung từ tháng #1 đến tháng 4 năm sau làm hạ thấp mực nước ngầm (điển hình mùa
khô năm 1997-1998 và 2002-2003 hầu hết các giếng khoan tại Lục Ngạn không còn
nude để bơm), hồ Khuôn Thần, Cấm Son huyén Luc Ngan năm 2002, mức nước hồ
đã xưống dưới mức kiệt nhiều mét Lượng nước sông ngày một cạn dần Năm 1998
mực nước trung bình năm của 3 sông trong tỉnh thấp hơn năm 1994 từ 2lcm- 42 cm
Lượng nước sông Lục Nam năm 1998 thấp hơn trung bình nhiều năm khoảng 90
triệu m°
* Tỉnh Nghệ An
Việc sử dụng tài nguyên nước tỉnh Nghệ An có những đặc điểm sau:
- Nước cho tưới cây: Nguồn nước sử dụng để tưới cho cây trồng ở tỉnh Nghệ An
là nước mặt, nước mưa và một phần là nước ngầm Ước tính có khoảng 80% diện tích lúa ở Nghệ An cần phải tưới nước hàng năm, khoảng 150.000 ha bằng hệ thống thuỷ lợi vừa và nhỏ Tuy nhiên vào những thời kỳ khô hạn, nguồn nước hồ, suối quá
ít không đáp ứng yêu cầu về nước tưới cho các loại cây trồng
- Nước cho chăn nuôi: Khối lượng nước sử dụng cho chăn nuôi trâu, bò, lợn ở tỉnh Nghệ An ước tính khoảng 20 triệu m năm 2001, chủ yếu cho súc vật uống và tắm
- Sử dụng nước cho sản xuất công nghiệp: Theo niên giám thống kê năm 2002,
toàn tỉnh Nghệ An có 22.795 cơ sở sản xuất công nghiệp vừa và nhỏ với các ngành
chủ yếu là sản xuất vật liệu xây dựng và chế biến lương thực, thực phẩm Các ngành công nghiệp đó đã sử dụng một khối lượng nước đến hàng trăm triệu mỶ/năm, ước tính khoảng 300-400 triệu Riêng nhà máy nhiệt điện Vinh cũng đã sử dụng đến
hàng ngàn mỶ nước mỗi ngày để làm nguội Tuốcbin
- Sử dụng nước cho sinh hoạt: Ước tính người dân nông thôn Nghệ An hàng năm
sử dụng khoảng 66-90 triệu mì cho sinh hoạt Nguồn nước sử dụng cho sinh hoạt
chủ yếu là nước ngầm (nước giếng đào và giếng khoan) Người dân sử dụng nước sông suối để sinh hoạt Một số địa phương ở miền núi, ven biển khan hiếm nước còn
sử dụng nước mưa cho mục đích sinh hoạt
- Sử dụng nước để nuôi trồng thuỷ sắn: Diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ
sản của Nghệ An tăng không đáng kể từ 13,2 ngàn năm 2001 đến 13,8 ngàn năm
2002 Diện tích này chiếm khoảng 0,8% tổng diện tích toàn tỉnh
Trang 21c Vàng Sinh thái nông thôn đồng bằng
* Tỉnh Thái Bình
Theo số liệu điều tra, Thái Bình có 3 nguồn nước có thể cung cấp cho sinh hoạt,
sản xuất cho nhân đân địa phương là nước mặt, nước ngầm và nước mưa Nhưng
thực tế hiện nay Thái Bình cũng dang đối mặt về vấn để cung cấp nước cho sinh
hoạt và công nghiệp trong tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Theo số liệu điều tra, tính đến tháng 8/2002 cả tỉnh đã triển khai được 108.000 giếng khoan các loại để cung cấp nước sạch và 46 trạm cấp nước vừa và nhỏ, công suất từ 50-250mỶ/ngày đêm để cung cấp nước cho khu vực nông thôn Theo tài liệu của Trung tâm NS-VSMT nông thôn, đến nay đã cung cấp được 60% dân số ở khu vực nông thôn được đùng nước sạch và phấn đấu đến năm 2005 có 80% dân số
- Về hiện trạng tài nguyên nước trên địa bàn huyện Đông Hưng tỉnh Thái Bình
là rất tốt, tại đây nguồn nước mặt rất phong phú như sông Trà lý, sông Tiên Hưng, đặc biệt nguồn nước ngầm không bị nhiễm mặn, qua các công trình khoan thăm dò
ở ngay thị trấn Đông Hưng, tại giếng khoan số 10 sâu 70m có lưu lượng I1l/s thuộc loại nước ngọt có thể cung cấp cho sinh hoạt và công nghiệp quy mô lớn Qua tài liệu điều tra đến tháng 10/2001 đã có 18.000 giếng khoan lấy nước và 22.747 giếng đào, 50.554 bể nước mưa, bảo đảm cho 60% dân số ở khu vực nông thôn dùng nước sạch Tại thị trấn Đông Hưng mới có một trạm cấp nước nhỏ khoảng 5Om/ngđ, song hiện nay UBND huyện Đông Hưng đã lập dự án khả thi để xây dựng nhà máy nước
công suất 2000m”/ngđ để cung cấp cho cả thị trấn, các cơ quan và cho phát triển
công nghiệp
* Tỉnh Tiên Giang
Nước mặt được cấp chủ yếu từ nguồn nước sông Tiển với ranh giới mặn cách biển Đông 30 - 35km, nằm phía hạ lưu so với thành phố Mỹ Tho 15 - 20km Do đó
việc khai thác nước mặt có những đặc điểm:
- Bốn huyện phía Tây của tỉnh Tiền Giang thường xuyên nhận trực tiếp nguồn nước sông Tiền đưa vào sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt trừ thời gian lũ phải nhận nước tiêu lũ từ các vùng thượng nguồn chảy tràn qua mặt đất Do úng lũ nên vùng này đã thực hiện rất nhiều ô đê bao để bảo vệ diện tích trồng trọt, nuôi thủy sản dẫn tới nước tù đọng và gây ô nhiễm môi trường nước khá cao ảnh hưởng tới đời sống và
sức khỏe nhân dân
- Bốn huyện phía Đông chỉ nhận được nước từ sông Tiền tùy theo thời gian Các cống lấy nước chỉ mở ra để cho nước sông Tiền vào khi độ mặn trên sông Tiền đạt yêu cầu chất lượng nước phục vụ sản xuất nông nghiệp Vào mùa khô, độ mặn tăng
cao trên sông Tiền, các cống đều đóng, nước ngọt được bơm và dẫn theo các kênh
thủy lợi chuyển nước từ Mỹ Tho về các huyện gần biển để phục vụ canh tác điều
hòa Chính vì thế mà mùa khô ô nhiễm môi trường nước mặt tăng cao ở các kênh
rạch vùng ngọt hóa Gò Công
Chương trình khai thác nước ngầm của tỉnh Tiền Giang bắt đầu từ năm 1990, năm 1994 sau khi Thủ Tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 200/TTg về đảm bảo cung
Trang 22cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn trong tinh đã triển khai khoan hàng
loạt giếng nước tầng sâu và tầng nông, trong đó có nhiều giếng nước không đảm bảo
chất lượng Đến năm 1998 trước tình hình khai thác nước ngầm 6 at trong tỉnh nảy
sinh nhiều vấn đề bất lợi về quản lý tài nguyên ở địa phương UBND tỉnh đã ban
hành Chỉ thị 16/CT-UB qui định việc tổ chức quản lý nước sinh hoạt nông thôn để điều chình việc khai thác cấp nước sạch nông thôn, trong đó tập trung vào việc quản
lý khai thác và sử dụng nguồn nước ngầm
Về khai thác nước ngầm tầng nông, qua hơn 10 năm trên địa bàn tỉnh đã khoan khoảng 15.000 giếng nước tầng nông ở độ sâu trung bình 45 - 60m với tỉ lệ khai thác chưa tới 50% số giếng đã khoan, lưu lượng khai thác khoảng 25.000m”/ngày
Về khai thác nước tầng sâu, tính đến tháng 10/2003 trong tỉnh đã khoan tổng
cộng trên 900 giếng nước tầng sâu ở độ sâu phổ biến trên 300m Ước tính lưu lượng
khái thác nước ngầm trong tỉnh hiện nay là 102.617m /ngày, trong đó cấp cho nông
thôn 39.217m/ngày, cấp cho đô thị khoảng 63.400m/ngày
Tuy nhiên số giếng sâu được UBND tỉnh cấp phép khai thác chính thức chỉ có
205 giếng và gần 100% các giếng này đều có chất lượng nước đạt tiêu chuẩn qui định Do chất lượng nước tầng sâu tốt và ổn định, đa số các giếng khoan sâu được
khai thác để cấp nước sạch sinh hoạt cho vùng nông thôn trong tỉnh, hiện nay toàn
tỉnh có 458 trạm cấp nước tập trung khai thác từ các giếng tầng sâu Qua kiểm tra
giám sát chất lượng nước tại các trạm cấp nước nông thôn này trong năm 2002 đã
phát hiện ở một số giếng bị nhiễm vị khuẩn và thông tầng trong quá trình khai thác Riêng nước ở các giếng tầng nông có chất lượng không đồng đều, số giếng bị nhiễm phèn và nhiễm mặn không dùng được cho sinh hoạt lên đến hơn 50% số giếng đã khoan Hiện nay số giếng không dùng được chưa được lắp tram kin day du nên nguy cơ ô nhiễm từ bên trên và nguy cơ thông tầng làm suy giảm hoặc ô nhiễm nguồn nước trong lòng đất rất đáng lo ngại Việc khảo sát và thực hiện lắp kín các
giếng hở là điều rất cần thiết nhưng tỉnh chưa làm được Ngược lại, ở huyện Gò công Đông nằm ven biển hiện nay lại có nhu cầu khoan giếng nông khai thác nước mặn
để phục vụ việc nuôi trồng thủy sản, tỉnh đang xem xét giải quyết vấn đề này
Về giám sát mức sụt giảm mực nước ở các giếng sâu chưa thực hiện thường xuyên được để có số liệu theo dõi cụ thể, tuy nhiên vào mùa khô kéo dài thì ở một
số giếng đã có hiện tượng lượng nước bơm lên ít đần đi và không đủ cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt của nhân dân
Qua thực trạng khai thác nước ngầm của tỉnh TG cũng như các tỉnh khác trong khu vực cũng cần được xem xét và điều chình thích hợp để bảo vệ tài nguyên nước ngầm quí giá này nhất là trong xu thế xâm nhập mặn đang đe dọa sản xuất và đời sống của nhân dân toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long
Nhìn chung, Nguồn nước sử dụng cho sinh hoạt của tỉnh Tiển Giang chủ yếu là
nước ngầm Ước tính trong năm 2002 vùng nông thôn tỉnh Tiển Giang tiêu thụ khoảng 35-50 triệu mỶ nước Tính đến nay trong tỉnh đã khoan tổng cộng trên
10.000 giếng nước tầng nông ở độ sâu 45-60 m và gần 700 giếng ở tầng sâu phổ biến trên 300m Đến cuối năm 2002, toàn tỉnh có gần 90% hộ dân dùng nước sạch
Trang 23từ nước máy, nước mưa, giếng khoan và nước sông có xử lý lắng trong và tiệt trùng,
trong đó có 55% hộ dân dùng nước sạch cơ bản (nước máy, nước giếng khoan có chất lượng tốt quanh năm) Tính riêng chương trình cấp nước sạch nông thôn đã xây dựng và cho hoạt động 415 trạm cấp nước, trên 260 giếng sâu khác và 3000 giếng
nông có chất lượng tốt, trên 100 bể chứa nước mưa loại 1-3m*, 324 bể lọc nước phục
vụ nước sạch cho gần 60% người dân nông thôn (Báo cáo Sở KHCM&MT tỉnh Tiền
Giang) /
- Sử dụng nước cho trồng trọt: Tỉnh Tiền Giang là một tỉnh có địa hình bằng
phẳng và thấp với độ cao phổ biến từ 0,8-1,1 m so với mực nước biển Việc khai
thác nguồn nước tự nhiên (nước mặt) cho trồng lúa và hoa màu của Tiền Giang nói chung là thuận lợi Đồng ruộng lúa khu vực Đồng Tháp Mười hầu như ngập nước
quanh năm
- Sử dụng nước cho chăn nuôi: Nước sử dụng cho chăn nuôi chủ yếu là nước sông, rạch, hồ, ao và nước ngầm Ước tính ở tỉnh Tiền Giang chăn nuôi trâu, bò, lợn
và gà tiêu thụ khoảng 4-5 triệu m°
- Sử dụng nước cho nuôi trồng thuỷ sản: Diện tích nước nuôi trồng cho thuỷ sản của tỉnh Tiền Giang biến động rất ít kể từ năm 1995 đến nay, dao động trong khoảng từ 8,5 đến 10 ngàn ha
đ Vùng sinh thái nông thôn ven đô
Đối với khu vực Thanh Trì tình hình sử dụng nước như sau:
* Sử dụng nước cho sinh hoạt:
Nguồn nước sử dụng cho sinh hoạt của vùng ven đô Hà Nội chủ yếu là nước ngầm (giếng đào và giếng khoan) Ước tính trong năm 2002 ở Hà Nội có khoảng 0,96 triệu người dân nông thôn đang sử dụng nước giếng đào, giếng khoan và
khoảng 0,25 triệu người sử dụng nước máy Nói chung chất lượng nước giếng đào kém hơn nước giếng khoan và thường bị nhiễm Coliform, Fecal Coliform Nước giếng đào và giếng khoan thường có hàm lượng sắt khá cao, vượt TCVN 5944-1995
Khối lượng nước sử dụng cho sinh hoạt của vùng ven đô ngoại thành Hà Nội và các
thị trấn năm 2002 ước tính vào khoảng 30-42 triệu mỶ
Việc khai thác nước ngầm ở Hà Nội hiện nay được tiến hành theo nhiều hình
thức khác nhau và qui mô khác nhau Khai thác nước tập trung theo qui mô lớn do công trình kinh doanh nước sạch Hà Nội đảm nhiệm và cung cấp nước chủ yếu cho
nội thành Công ty hiện nay quản lý 9 giếng lớn và một số trạm cấp nhỏ với tổng số
khoảng 130 giếng khai thác với công suất từ vài trăm đến vài ngàn m/ngày/giếng Khai.thác qui mô nhỏ bằng cách khoan kiểu công nghiệp công suất từ vài trăm đến vài ngàn m”/ngày/đêm, với khoảng 500 lỗ khoan kiểu này
Theo kết quả điều tra của Sở NN&PTNT tiến hành năm 2000, toàn thành phố đã
có trên 100.000 lỗ khoan UNICEF tại các hộ gia đình Nếu mỗi lỗ khoan khai thác trung bình khoảng 2m/ngày thì khu vực nông thôn ngoại thành Hà Nội cũng có được khoảng 200.000m” nước mỗi ngày dùng cho sinh hoạt
Trang 24Hiện nay tổng sản lượng khai thác mỗi ngày từ các giếng của các nhà máy nước
đo công ty KDNS Hà Nội quản lý và từ các giếng khoan đơn lẻ do các nhà máy, xí
nghiệp quản lý lên tới 400.000-450.000m” Nếu kể cả nước khai thác từ các lỗ khoan đường kính nhỏ kiểu UNICEF của các hộ gia đình thì lượng nước ngầm đang khai
thác mỗi ngày lên tới 600.000-650.000 mỶ
Sử dụng nước cho trồng trọt
Hiện tại vùng ngoại thành Hà Nội có khoảng 62 ngàn ha trồng cây lương thực
có hại, trong đó có 52,2 ngàn ha trồng lúa, nhu cầu nước tưới khoảng 6-8 triệu mÌ/năm Nguồn nước tưới chủ yếu là nước mặt (sông, hồ) với hệ thống thuỷ lợi khá phát triển
Sử dụng nguồn nước cho chăn nuôi
Nguồn nước sử dụng cho chăn nuôi chủ yếu là nước mặt và một phần nhỏ là nước ngầm Ước tính khối lượng nước sử dụng để nuôi trâu, bò, lợn ở Hà Nội
khoảng 4-4,5 triệu m”/năm
Sử dụng nước để nuôi trồng thuỷ sản
Diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản ở Hà Nội hầu như không thay đổi kể
từ năm 2000 đến nay, với khoảng 3,4 ngàn ha Riêng huyện Thanh Trì, diện tích mặt nước nuôi cá là 794,78 ha năm 2002 và thêm vào đó có 600 ha từ diện tích trồng lúa
có khả năng nuôi cá
Sứ dụng nước cho sẵn xuất công nghiệp
Ở Hà Nội năm 2001, theo niên giám thống kê có 13769 cơ sở sản xuất công nghiệp Hầu hết các cơ sở sản xuất công nghiệp đầu có sử dụng nước, thấp nhất khoảng 1-2 m” mỗi ngày, cao nhất có thể tới hàng trăm mỶ mỗi ngày Nước sử dụng
để sản xuất công nghiệp chủ yếu là nước ngầm và một phần nhỏ là nước máy Các nhà máy, xí nghiệp đã tự khoan giếng để lấy nước sử dụng cho sản xuất Theo thống
kê chưa đầy đủ, ở Hà Nội hiện có khoảng 500 giếng khoan kiểu này khai thác mỗi
ngày từ 50.000-60.000 mỉ Ước tính mỗi ngày ngành công nghiệp và địch vụ ở Hà
Nội tiêu thụ khoảng 180.000-200.000 m° nước
e Vùng sinh thái nông thôn ven biển
* Tỉnh Quảng Nam
Do lượng nước mặt phụ thuộc chủ yếu vào lượng mưa nên đã tạo cho Quảng
Nam có một tiềm năng nước mặt khá đồi dào Song sự phân bố lại không đồng đều
theo thời gian và không gian: 4 tháng mùa mưa ở Quảng Nam cũng chính là mùa lũ,
vào mùa lũ mực nước của các triển sông rất lớn, gây ra lũ lụt tàn phá mùa màng, nhà cửa Ngược lại mùa khô kéo dài 8 tháng làm cho mực nước của các con sông giảm
đi, nhất là vào những tháng cuối mùa khô
Quảng Nam có mạng lưới sông hồ tương đối dày, gồm 3 sông lớn (sông Vu Gia,
sông Thu Bồn, sông Tam Kỳ), 8 sông nhỏ, 72 hồ chứa, hàng trăm con suối và khe lạch lớn nhỏ khác nhau Các sông Vu Gia, Thu Bồn và Tam Kỳ là nguồn chủ yếu
Trang 25cung cấp nước mặt cho hoạt động kinh tế - xã hội của tỉnh Lưu lượng nước trong các sông này được trình bày ở bảng II
Bảng T1 Luu lượng nước các sông chính tỉnh Quảng Nam
Sông chính (Thanh My) (Nông Sơn} Sông Tam Kỳ
{Tài liệu thống kê 26 năm từ 1977-2002)
Hầu hết các sông đều chảy trong phạm vị nội tỉnh, bất nguồn từ vùng miền núi,
độ dốc lớn, chiều dài ngắn Vì vậy mùa mưa dễ xảy ra lũ lụt lớn, mùa khô thoát nước nhanh nên đồng chảy của các con sông, suối bị giảm lưu lượng, gây ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình khai thác sử dụng nguồn nước mặt
Ngoài ra Quảng Nam còn có một hệ thống hồ chứa với tổng diện tích lưu vực là
514,66km? và tổng dung tích trung bình đạt khoảng 488,52! x 10”m° Trong đó hồ
chứa nước Phú Ninh thuộc thị xã Tam Kỳ đặc biệt quan trọng, với diện tích mặt hồ
khoảng 32km?, dung tích trung bình khoảng 344 x 10 km°
Nước ngầm ở tỉnh Quảng Nam đã được nghiên cứu từ những năm cuối thập kỷ
70, song mới chỉ dừng ở mức độ thăm dò sơ bộ Kết hợp giữa 3 lỗ khoan thăm dò bổ
sung Địa chất thuỷ văn do Công ty Công nghệ Địa vật lý khoan trên phạm vi tỉnh Quảng Nam và số liệu báo cáo giai đoạn thăm dò sơ bộ về Địa chất - Địa chất thuỷ
văn vùng Đà Nắng - Tam Kỳ của Đoàn Địa chất thuỷ văn 708 thuộc Liên đoàn Địa
chất thuỷ văn - Địa chất công trình Miền Trung cho kết quả như sau:
Nước ngầm có khả năng cung cấp nhiều nhất, đa phần nằm trong các trầm tích
bở rời Đệ tứ; với nguồn gốc sông, biển, gió và hỗn hợp, phân bố rộng rãi trên khắp
bề mặt đồng bằng Thành phần thạch học chủ yếu là cát, cát pha, sét, sét pha, cuội, sôi Chiều dày thay đổi từ (10 đến 40)m Qua thăm dò, khảo sát vùng Bình Sơn - Hải
Vân cho ty lệ lưu lượng các lỗ khoan từ (0,7 đến 7,7) l/sm, thường gặp (1.0 đến
2,0)1/sm
Nước tồn tại trong các đới dập vỡ, khe nứt của đá gốc cũng đóng vai trò quan
trọng trong việc khai thác và sử dụng nước phục vụ dân sinh
Tổng trữ lượng khai thác tiềm năng của nước ngầm trên địa bàn tỉnh khoảng:
3.148.918 m/ngày đêm
* Ninh Thuận:
Nước mặt:
Ninh Thuận có hai hệ thống sông: Sông Cái Phan Rang và các sông độc lập
Sông Cái Phan Rang bắt nguồn từ sườn Đông của núi Gia Rích (1923m) giáp
tinh Lam Đồng với tổng chiều dài 120 km, tổng diện tích lưu vực là 3.000 km2
Trong đó, diện tích lưu vực nằm ở địa bàn tỉnh Ninh Thuận là 2.722km? chiếm 85%
Có 51/58 xã, phường thuộc lưu vực sông Cái Đặc điểm chế độ thủy văn sông Cái
Phan Rang các tháng trong năm thể hiện ở bảng 12
Trang 26Bảng 12 Chế độ thuỷ văn sông Cái, Phan Rang theo thời gian trong năm
TB (m/s)
Sông Cái Phan Rang có 28 nhánh phân bố theo hình chân chim, gồm 24 nhánh cấp I và 4 nhánh cấp II
Tổng diện tích lưu vực các sông độc lập ngoài hệ thống sông Cái Phan Rang chiếm khoảng 8,2§% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Trong các sông độc lập trên thì có
3 sông sau đáng quan tâm là: Sông Quán Thẻ; Sông Trâu; Sông Bà Râu
Nước ngầm:
Dựa vào những đặc điểm về địa tầng, thành phần thạch học, đặc trưng tính thấm, tính chứa nước của đất đá, trong phạm vi lãnh thổ tỉnh Ninh Thuận có thể chia 8 đơn
vị chứa nước Tuy nhiên, đáng chú ý và có nhiều triển vọng trong việc khai thác sử
dụng chỉ có các tầng chứa nước nằm trong trầm tích bở rời đệ tứ (tất cả 8 đơn vị), đó
là tầng chứa nước lỗ hổng trầm tích đệ tứ nhiều nguồn gốc, tuổi Holoxen (QIV) gọi tắt là tầng Holoxen và tầng chứa nước lỗ hồng trầm tích đệ tứ có nhiều nguồn gốc,
tuổi Pleistoxen- Holoxen (QII-IV) gọi tat là tầng Pleistoxen- Holoxen
- Tầng chứa nước Holoxen: Phân bố chủ yếu ở đồng bằng Phan Rang Đất đá chứa nhiều nước hình thành từ nhiều nguồn gốc: sông đầm lây, sông - biển- đầm
_ lây, biển và biển - gió
- Tầng chứa nước Pleistoxen- Holoxen(QII-IH): Phân bố rộng rãi ở đồng bằng Phan Rang, nhưng phần lớn diện tích bị phủ bởi các trần tích Holoxen và chúng chỉ
lộ thiên trên mặt đất thành những khoảnh ở rìa phía bắc, phía tây và phía nam đồng bằng, được thành tạo từ nhiều nguồn gốc khác nhau Chất lượng nước ngầm tốt
1.3 Tài nguyên rừng
1.3.1 Hiện trạng sử dụng tài nguyên rừng
Hiện trạng rừng ở Việt Nam đến thời điểm cuối năm 2002 được thể hiện ở bang 13
Bảng 13 Hiện trạng rừng của Việt nam vào thởi điểm cuối năm 2002
Diện tích | Tổng diện | Diện tích | Diện tích | Độ che phủ
Vùng địa lý tự nhiên đất đai tự | tích rừng | rừng tự |rừng trồng | rừng trên đất
nhiên (ha) (ha) nhiên(ha) (ha) | đai tự nhiên %
Toàn quốc 32.894.396| 10.915.592 9.444.19811471.394 33,2 Đông Bắc (13 tỉnh) 6.746.293| 2368.982| 1.890.595 478.387 35,1
Trang 27Độ che phủ rừng phân bố không đồng đều trên lãnh thổ, ví dụ: Kontum 63,7%;
Daklak 52%; Hoà Bình (35,8%); Bắc Giang (25,6%); Sơn La (22%) Trong những
năm gần đây có sự gia tăng đáng kể về độ che phủ rừng: Năm 1995 là 28,2%; năm
2000 là 33,2% đến 2002 là 35,8% Tuy nhiên chất lượng rừng lại giảm sút đáng lo ngại, diện tích rừng nghèo tăng, diện tích rừng giàu thì giảm mạnh
1.3.2 Tài nguyên rừng ở các vùng sinh thái nông thôn
a Vùng sinh thái nông thôn miền núi:
* Tỉnh Hoà Bình
Tài nguyên rừng là một thế mạnh của tỉnh Hoà Bình với các kiểu rừng:
+ Khu vực cao dưới 700m gặp hai kiểu rừng chính là:
- Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới
- Kiểu rừng kín nửa rụng lá vùng nóng và khô có chế độ khí hậu 2 mùa: mùa khô và mùa mưa
- Kiểu phụ thổ nhưỡng rừng trên núi đá vôi
+ Khu vực cao 700 m trở lên có các kiểu rừng chính là:
- Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp
- Kiểu rừng kín hỗn hợp cây lá rộng và lá kim
- Kiểu phụ thổ nhưỡng rừng trên núi đá vôi
- Kiểu phụ thổ nhưỡng rừng trên núi đá hoa cương
Trong rừng ở Hoà Bình đã xác định được 2566 loài thuộc 6 ngành: Ngành hạt kín, ngành hạt trần, ngành lá thông, ngành cô tháp bút, ngành thông đất và ngành
dương xỉ Rừng gỗ đa số phân bố ở vùng núi có độ cao từ 600 m trở lên Những loài
thực vật có số lượng nhiều và phát triển mạnh thuộc các họ Mộc lan, họ Nong Não,
họ Cáng Lò, họ Sau Sau, họ Thông, họ Dầu, họ Dẻ, họ Chè Các loài thuộc nhóm
tre, nứa có số lượng nhiều, mọc ven bờ sông Đà có thể kể đến như: Tre sâng, Tre
hoóc, Vầu đắng, Mạy sang, Mạy sọt, và Nứa lá nhỏ v.v
Trong thành phần hệ thực vật có nhiều loài quý hiếm có giá trị cao như: Thông (Pinus) (Pa cd, Mai châu, Hoà Bình) và các loài cần được bảo tồn như Tam that, 6 đâu, Thông đỏ Những loài thuộc điện khoanh nuôi tái sinh như: Nghiến, Lát, Hà
nhân Đây là nguồn tài nguyên quý, có giá trị kinh tế cao nếu được đầu tư nghiên
cứu kỹ đồng thời có kế hoạch trồng, khai thác sẽ là nguồn thu đáng kể
Ngành lâm nghiệp Hoà Bình, trong gần 10 năm qua đã tập trung vào giao đất
giao rừng cho các hộ quản lý sử dụng, đẩy mạnh công tác trồng rừng, chăm sóc tu
bổ rừng theo các chương trình dự án, nên đã đạt được những kết quả khả quan, đưa
độ che phủ của rừng năm 2000 đạt 37,2% gần đạt mức đảm bảo yêu cầu sinh thái ở
Trang 28một tỉnh miền núi, giá trị sản lượng ngành lâm nghiệp đạt 208.669 triệu đồng (giá 1994) tăng khoảng 100.000 triệu đồng so với năm 1995 Nguyên nhân chủ yếu là:
- Do làm tốt công tác giao đất khoán rừng nên hầu hết rừng đã có chủ, mặt khác tỉnh đã xây dựng nhiều dự án phát triển vốn rừng thông qua các chương trình dự án
327, 747, 5 triệu ha rừng đã làm cho các hộ gia đình yên tâm trồng chăm sóc bảo
vệ và phát triển rừng
- Về công tác trồng rừng: Từ năm 1992 đến 2002 đã trồng được khoảng 60.000
ha rừng (bình quân mỗi năm trồng- 5.000 - 5.500 ha rừng mới) Trong năm 2002 đã trồng được khoảng 8.154 ha rừng tập trung
- Về công tác khoanh nuôi, bảo vệ rừng: Trong gần 10 năm qua đã khoanh nuôi
bảo vệ được gần 70.000 ha rừng, xây dựng và bảo vệ rừng đặc dụng 12.890 ha Với kết quả của công tác xây dựng phát triển vốn rừng như trên, nên đến năm
2003 diện tích rừng của tỉnh đã đạt 194.308,24 ha, chiếm 41,67% diện tích tự nhiên trong đó rừng tự nhiên là 146.470,06 ha và rừng trồng là 47.831,53 ha
Kết quả phát triển vốn rừng như trên đã làm cho độ che phủ của thảm thực vật
rừng tăng dần từ 28% (giai đoạn 1992 - 1994) lên 30% (năm 1995), 41% (năm 2003)
* Tỉnh ĐắkLáắk
Tổng diện tích rừng: 1.017.955 ha chiếm 52% tổng diện tích, trong đó: Rừng
sản xuất: 585.000 ha, rừng phòng hộ 156.733 ha, rừng đặc dụng: 276.222 ha
Rừng của tỉnh Đắklấk có trữ lượng gỗ 108.237.162m”, trữ lượng tre nứa 979.999
nghìn cây Trong đó chia ra:
+ Rừng phòng hộ chiếm 15,4% diện tích, có trữ lượng rừng gỗ 36.603.832mỶ,
trữ lượng tre nứa 352.316,6 nghìn cây
+ Rừng đặc dụng chiếm 27 % diện tích có trữ lượng 20.855.087m”, trữ lượng tre nứa 149.869,6 nghìn cây
Rừng sản xuất có diện tích lớn nhất chiếm 57,6 % diện tích, trữ lượng rừng gỗ
50.778.243 mỶ, trữ lượng tre nứa 477.812,8 nghìn cây
- Rừng tự nhiên có diện tích và trữ lượng lớn nhất là rừng gỗ, chiếm 86,5% diện tích và 94,2% trữ lượng, rừng có cấp trữ lượng III là lớn nhất chiếm 34,9% diện tích,
53,1% trữ lượng gỗ
- Rừng trồng chỉ chiếm 1% về diện tích và 0,6% trữ lượng gỗ
b Vàng sinh thái nông thôn trung du