Một số nhận xét chung về giới trong việc sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng nông thôn trung du 42 Kết luận chung và định hướng giải pháp cải thiện vấn đề giới 43 1.. Giới thi
Trang 1Đề tài cấp nhà nước KC 08.06 Nghiên cứu các vấn đề môi trường nông thôn Việt Nam
-
Nguyễn Đình Hoè
Báo cáo chuyên đề Vấn đề giới trong sử dụng, quản lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường nông thôn
tại các vùng sinh thái đặc trưng
Mã số 05/2001/CG/KC 08.06
Hà Nội, tháng 01/2004
Trang 22 Vấn đề giới trong sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi
3 Vấn đề giới trong sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi
trường vùng nông thôn ven biển
15
3.1 Đặc trưng tài nguyên và môi trường vùng nông thôn ven biển 153.2 Vấn đề phân công lao động theo giới trong khai thác tài nguyên 15
3.4 Nhận xét bước đầu và định hướng cải thiện vấn đề giới vùng
nông thôn ven biển
18
4 Vấn đề giới trong sử dụng quản lý tài nguyên và bảo
vệ môi trường vùng nông thôn miền núi
19
4.1 Đặc điểm chung về tài nguyên và môi trường vùng nông thôn
miền núi Việt Nam
19
4.2 Vấn đề giới trong sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng
nông thôn miền núi
21
Trang 34.3 Nhận xét bước đầu và định hướng cải thiện vấn đề giới trong sử
dụng, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường khu vực nông thôn
5.3 Nhận xét bước đầu và định hướng cải thiện vấn đề giới trong sử
dụng, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng nông thôn
đồng bằng
34
6 Vấn đề giới trong sử dụng, quản lý tài nguyên thiên
nhiên và bảo vệ môi trường vùng nông thôn trung du
35
6.1 Đặc điểm chung về tài nguyên thiên nhiên và môi trường vùng
nông thôn trung du
35
6.2 Vai trò của giới trong sử dụng, quản lý tài nguyên thiên nhiên và
bảo vệ môi trường
37
6.3 Một số nhận xét chung về giới trong việc sử dụng tài nguyên và
bảo vệ môi trường vùng nông thôn trung du
42
Kết luận chung và định hướng giải pháp cải thiện vấn
đề giới
43
1 Về phân công lao động, sử dụng và khai thác tài nguyên 43
2 Về vai trò giới trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường 43
3 Dự báo biến động về vai trò giới trong sử dụng tài nguyên và bảo
vệ môi trường
44
4 Định hướng cải thiện vấn đề giới trong lĩnh vực sử dụng tài nguyên
và bảo vệ môi trường nông thôn Việt Nam
45
Trang 41 Giới thiệu chung: Lịch sử vấn đề, phương pháp và đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề giới trong sử dụng, quản lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường tại các vùng sinh thái đặc trưng (vùng núi cao, trung du, đồng bằng, ven biển và ven đô) là chuyên đề 05/2001/CG/KH 08.06 của đề tài nghiên cứu cấp nhà nước KC 08.06 "Nghiên cứu các vấn đề môi trường nông thôn Việt Nam" Việc đưa vấn đề giới vào lĩnh vực nghiên cứu môi trường nông thôn là một việc làm đúng đắn,
đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của việc lồng nghép các vấn đề xã hội và môi trường vào chương trình phát triển bền vững nông thôn theo tinh thần nghị quyết TW 6 khoá
IX Đảng cộng sản Việt Nam
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề Giới - Môi trường và Phát triển ở nước ta
Bình đẳng giới nghĩa là phụ nữ và nam giới đều có quyền lợi công bằng về lợi nhuận cũng như có trách nhiệm với xã hội, công bằng trước pháp luật, trong việc hưởng các nguồn lợi, các dịch vụ xã hội và giáo dục
Đến nay đã có bốn Hội nghị Thế giới về Phụ nữ được tổ chức tại các nước Mexico năm 1975, Copenhagen (Đan Mạch) năm 1980, Nairobi (Kenya) năm 1985 và Bắc Kinh (Trung Quốc) năm 1995 Bản Tuyên bố Bắc Kinh đã thừa nhận: "Mặc dù phụ nữ đã đạt được nhiều tiến bộ song những tiến bộ này còn chưa vững chắc, bất bình
đẳng nam nữ còn tồn tại trên thực tế" và cũng nêu bật quyết tâm của các Chính phủ tiến tới mục tiêu bình đẳng, phát triển và hoà bình cho phụ nữ vì lợi ích của toàn thể nhân loại Điều đó chứng tỏ rằng giới là vấn đề của toàn cầu chứ không phải là vấn đề của riêng quốc gia nào
Theo Chương trình Phát triển Liên Hiệp quốc UNDP (2003) về chỉ tiêu phát triển liên quan đến giới (GDI), hiện nay chưa có một quốc gia nào trên thế giới đạt được sự bình đẳng toàn diện
ở Việt Nam đến nay gần như chỉ có các dự án phát triển được các tổ chức Quốc
tế tài trợ mới đề cập đến vấn đề giới, các dự án phát triển trong nước hầu như không đề cập đến vấn đề giới, có chăng thì cũng rất mờ nhạt Tuy nhiên mỗi dự án hay kế hoạch
phát triển đều tiềm ẩn trong nó các yếu tố giới Theo UNDP (2000) Phụ nữ thuộc về nhóm dân cư chịu thiệt thòi nhất trong xã hội nông thôn Việt Nam, và những người phụ nữ làm chủ gia đình là nhóm người thiệt thòi nhất trong số những người nghèo sinh sống tại vùng cao [29] Dựa vào thực tế là 73% dân số Việt Nam sống ở nông thôn và
71% số người thuộc diện nghèo (đói) ở nông thôn là phụ nữ nên việc tìm hiểu và phân tích những vấn đề về giới ở nông thôn Việt Nam là việc làm rất cần thiết (Nguyen Nhat Tuyên, 1997 [28]
Trang 5ở Việt Nam, nghiên cứu về giới mới được quan tâm từ đầu những năm 1990, chủ
đề chính là những quan điểm tiếp cận "Giới và Phát triển" Trọng tâm của quan điểm này là nghiên cứu 2 giới (nam và nữ) trong sự so sánh chức năng xã hội, phân công lao
động sản xuất và lao động gia đình, nhu cầu và lợi ích giới [4, 5]
Vấn đề liên kết giữa giới và môi trường bắt đầu được chú ý từ năm 1994 qua hội thảo "Giới, Môi trường và sự phát triển" được Trung tâm Nghiên cứu Phụ nữ tổ chức dưới sự hỗ trợ của Đại sứ quán Canada và Bộ KHCN-MT, nhưng chưa có nhiều nghiên cứu
Sau đó, việc tập huấn về giới được nhiều bộ, ngành tổ chức, đặc biệt là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Các môn học có liên quan đến giới cũng đã được đưa vào giảng dạy ở trường Đại học khoa học XHNV, Học viện chính trị Quốc gia Nhiều trung tâm nghiên cứu - với tư cách NGO - đã ra đời chuyên nghiên cứu về "Giới và Phụ nữ"
Đối với khu vực nông thôn, trong những năm qua, đối tượng nghiên cứu thường tập trung vào phụ nữ nông dân và nông nghiệp trong kinh tế hộ gia đình, nhằm vào việc làm rõ điều kiện làm việc và sinh sống của phụ nữ nông dân, kể cả nông thôn đồng bằng và miền núi Nghiên cứu về giới phụ nữ nông thôn làm các nghề phi nông nghiệp còn ít, chỉ mới được quan tâm trong những năm gần đây [10, 17, 18, 19, 20] Vai trò của phụ nữ nông dân trong quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường lại còn ít được chú
ý hơn, mặc dù nhiều tài liệu nghiên cứu về tri thức bản địa vùng núi cũng đã ít nhiều nói đến vai trò của phụ nữ [2, 16]
Trong những năm qua, Chính phủ đã thực sự quan tâm và có những chính sách mạnh về bình đẳng giới Quyền bình đẳng giữa nam giới và nữ giới được đảm bảo bằng một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đầy đủ và chặt chẽ thể hiện qua Hiến pháp, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Lao động và nhiều nghị quyết, chỉ thị Gần đây nhất
là nghị quyết số 37 của Trung ương Đảng năm 1994 trong đó quyết định tăng cường sự tham gia của nữ giới vào hệ thống lãnh đạo và chính trị (các cơ quan Đảng và Chính phủ ở mọi cấp phải có ít nhất 20% vị trí được bầu là nữ giới)
Tuy nhiên phụ nữ vẫn phải chịu những gánh nặng của các cuộc cải cách kinh tế xã hội do vẫn tồn tại một khoảng cách khá lớn về vị thế giữa nam giới và nữ giới trong gia đình, khi kinh tế gia đình được thừa nhận như một trong những đơn vị cơ bản của nền kinh tế nhiều thành phần Nhận thức được vấn đề này, Chính phủ đã có những cam kết mạnh mẽ tại hội nghị Bắc Kinh năm 1995 và trên thực tế đã có những hành động thiết thực để bảo vệ và thúc đẩy bình đẳng giới Điều này được thể hiện qua việc tăng cường đầu tư, mở rộng các cơ quan chịu trách nhiệm về vấn đề giới như Uỷ ban Quốc gia về sự tiến bộ của phụ nữ và Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam Đây là những tổ chức hoạt động như những cơ quan Nhà nước từ cấp xã trở lên và trên thực tế đã đóng vai trò tích cực trong việc lập các kế hoạch hành động, đào tạo phụ nữ và đảm bảo cho họ quyền tự chủ về tài chính, tín dụng và tiết kiệm
Trang 61.2 Điểm qua về phương pháp nghiên cứu
Giới là một khái niệm mới xuất hiện ở các nước nói tiếng Anh vào cuối thập kỷ
60 và ở nước ta vào đầu thập kỷ 90 Sự ra đời của khái niệm này nhằm làm rõ sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trên bình diện xã hội Giới bao gồm các mối quan hệ tương quan về địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới trong một bối cảnh cụ thể Phân tích giới là thu thập và phân tích thông tin về các hoạt động của phụ nữ và nam giới tại một địa bàn cụ thể, nhằm đánh giá ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực của phát triển kinh
tế, xã hội đối với phụ nữ và nam giới để đưa ra biện pháp điều chỉnh, bổ sung nhằm nâng cao hiệu quả của phát triển kinh tế, xã hội song hành với việc đảm bảo lợi ích của cả hai giới
Có nhiều quan niệm sai lệch về giới cho rằng giới chỉ là vấn đề về phụ nữ, là các hoạt động liên quan đến phụ nữ và phát triển Trên thực tế giới đề cập đến sự khác biệt xã hội giữa nam giới và nữ giới thường là về phân công lao động Sự phân công lao
động này không phải là bất biến Không phải vì phụ nữ hay làm việc gia đình hơn thì
đàn ông không thể làm công việc này, không phải vì đàn ông thường hay đưa những quyết định nhiều hơn trong cộng đồng thì phụ nữ không thể tham gia vào quá trình ra quyết định, không phải vì số năm đi học của phụ nữ thường ít hơn nam giới mà có nghĩa họ không có khả năng học tập và tích luỹ những kiến thức về xã hội xung quanh Tuy vậy thông thường "giới" tập trung vào phụ nữ vì vai trò và địa vị của họ thường thấp hơn so với nam giới và vẫn tiếp tục bị bỏ qua trong rất nhiều hoạt động phát triển kinh tế cũng như các dự án xã hội
Cho đến nay, lĩnh vực nghiên cứu về giới và môi trường mới chủ yếu được các nhà khoa học xã hội quan tâm Sự tham gia của các nhà môi trường vào lĩnh vực giới còn ít ỏi Giới và môi trường là lĩnh vực đòi hỏi nghiên cứu bằng tổ hợp các phương pháp xã hội học và môi trường học, đó là một thách thức không nhỏ đối với các nhà nghiên cứu vốn quen với các phương pháp nghiên cứu truyền thống chuyên ngành Cho
đến nay, phương pháp chủ đạo dùng để nghiên cứu giới là:
- Phương pháp điều tra x∙ hội học qua các bảng hỏi, phỏng vấn nhóm, phỏng
vấn sâu cá nhân, nặng về thu thập hiện trạng của các địa phương cụ thể, tính khái quát chưa cao Các đề xuất kiến nghị còn chung chung, ít thực tế và tính khả thi [4]
- Tập hợp tài liệu và phân tích văn bản Phương pháp này cung cấp chủ yếu tình
hình kinh tế - xã hội trên địa bàn nghiên cứu Tuy nhiên các tài liệu cơ sở lại hầu như không có hoặc rất ít các số liệu về giới
Để nghiên cứu về giới như là một khoa học liên ngành, ngoài hai phương pháp trên cần ứng dụng thêm các phương pháp chuyên ngành của Môi trường như hệ phương pháp PRA (hệ phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia) và đặc biệt, khi nói về giới, nhà nghiên cứu phải coi mình như là một thành viên của hệ thống chứ không phải đứng ngoài hệ thống
Trang 71.3 Về đối tượng nghiên cứu của chuyên đề
Chuyên đề "Vấn đề Giới trong sử dụng, quản lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường nông thôn tại các vùng sinh thái đặc trưng: núi cao, trung du, đồng bằng, ven biển và ven đô" được yêu cầu đáp ứng các nội dung sau:
1- Hiện trạng vấn đề giới trong quan hệ với tài nguyên môi trường hiện nay ở các vùng sinh thái nghiên cứu
2- Những ảnh hưởng giới đối với việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
3- Các giải pháp và chính sách về giới trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên
Đây là một chuyên đề chuyên gia, sử dụng chủ yếu những tài liệu mà chuyên gia
đã thu thập từ các chương trình nghiên cứu khác để phân tích sâu hơn về Giới
- ở vùng nông thôn ven đô: Nghiên cứu điển hình được chọn tại xã Phú Đô (Mễ Trì - Hà Nội) nghề làm bún; xã Cát Quế (Hà Tây): làm bột sắn, đường, miến khô, mì, bánh kẹo, nha, dịch vụ xăng dầu, vận tải
- ở vùng ven biển, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu điển hình tại Vĩnh Hải (Ninh Thuận) nơi có chương trình cộng đồng tham gia khai thác bền vững và bảo vệ rạn san hô; các xã Quỳnh Phương và Quỳnh Lập (Nghệ An): nghề cá, xã Vinh Quang (Tiên Lãng - Hải Phòng): nghề nuôi trồng thuỷ sản và khai thác bãi triều, và xã Giao Lâm (Giao Thuỷ - Nam Định): nghề làm muối
- Vùng nông thôn miền núi: Nghiên cứu điển hình được chọn ở xã Kim Lũ, Na Rì, Bắc Kạn, và xã Phương Thiện, huyện Vị Xuyên, Hà Giang
- Vùng nông thôn trung du: Nghiên cứu điển hình ở xã Ngọc Quan, huyện Đan Hùng, Phú Thọ
- Vùng nông thôn đồng bằng: Một số xã thuộc huyện Nam Trực và Giao Thuỷ Nam Định, và đồng bằng Nam Bộ
2 Vấn đề giới trong sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường ở vùng nông thôn ven đô thị
2.1 Biến động tài nguyên và môi trường ở vùng nông thôn ven đô thị
Do tác động của đô thị hoá và công nghiệp hoá, vùng nông thôn ven đô thị là nơi
có những biến động mạnh về tài nguyên và môi trường
- Hệ thống kinh tế xã hội ven đô là một hệ thống hở, gắn bó và chịu ảnh hưởng sâu sắc với vùng đô thị cận kề Một mặt, vùng ven đô là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên liệu, sức lao động, quỹ đất cho đô thị hoá Mặt khác, là nơi tiếp nhận các dòng vào, xuất phát từ đô thị như hàng hoá, vốn, thông tin, chất thải, lối sống Trong mối tương tác đó, sự phát triển của nông thôn ven đô phụ thuộc vào
Trang 8những yêu cầu từ đô thị lớn đến mức có tác giả gọi vùng ven đô là "thuộc địa" hoặc
0 5 10 15 20 25 30
Trang 9Trong bối cảnh biến động nghề nghiệp và nguồn thu như vậy, tài nguyên cơ bản như đất nông nghiệp không còn là phương tiện sản xuất chính Nông dân không quan tâm nhiều đến sản lượng nông nghiệp, có nơi nông dân cho thuê đất canh tác để giữ đất
là chính (Ô 1)
Ô 1 Lúa không ai gặt
Nông dân Từ Sơn (Bắc Ninh) trở nên ít quan tâm đến mùa vụ Đến mùa lúa chín, nhiều thửa ruộng cỏ tốt hơn lúa, không ai gặt Chị Chủ tịch Hội Phụ
nữ Từ Sơn cho biết bây giờ nguồn thu chính là nghề thủ công Nông dân nhiều
nhà đã là triệu phú, chỉ thuê người làm ruộng để giữ đất
Tình trạng làm qua loa để giữ đất chờ đền bù cũng đang phát triển ở các xã Mễ Trì, Cổ Nhuế (Từ Liêm, Hà Nội) Mỗi sào đất được giải toả làm khu thể
thao ở Mễ Trì được đền bù từ 30 triệu đến 70 triệu đồng tuỳ hạng đất Do được
đền bù, nhiều ngôi nhà kiểu biệt thự xinh xắn đã mọc lên ở Phú Đô, nhân dân
gọi là "nhà Seagames" Chị Dung (Phú Đô) cho biết giá bán đất sang tay cho
người trên phố đến làm nhà còn cao hơn nhiều giá đền bù
Trong khi đất nông nghiệp chủ yếu được duy trì chỉ để giữ đất thì những tài nguyên không truyền thống khác lại trở nên có giá: đấy là vốn kinh doanh và kỹ thuật sản xuất (Ô 2)
Ô 2 Vốn sản xuất ở Cát Quế
Ngay tại Cát Quế có cả một chi nhánh của Ngân hàng Nông nghiệp, một chi nhánh của Ngân hàng Công thương Hà Tây và Quỹ tín dụng nhân dân Cát
Quế Doanh số cho vay trên 1000 hộ năm 2001 đạt đến trên 14 tỷ đồng Các hộ
vay đều có khả năng hoàn trả cao
Phỏng vấn anh Hoàn, Phó Chủ tịch xã Cát Quế
Vốn kinh doanh có thể vay ngân hàng, tuy nhiên vấn đề sử dụng vốn và các bí quyết kỹ thuật chủ yếu do sự quản lý và duy trì tuỳ thuộc vào trình độ của hộ sản xuất
- Sự gia tăng tỷ trọng thủ công nghiệp ở các xã ven đô đã làm phức tạp thêm các vấn đề môi trường ở giai đoạn trước đây khi nông nghiệp là chính, vấn đề nổi cộm về môi trường chỉ là quản lý phân rác và hoá chất bảo vệ thực vật Hiện nay, sự gia tăng xả thải phân - rác (do phát triển chăn nuôi) tiếp tục bức xúc trong khi vấn đề hoá chất BVTV ở các làng thủ công có xu hướng giảm; bên cạnh đó các vấn đề ô nhiễm nước, khí và môi trường nhân văn lại nảy sinh và gia tăng liên quan đến sản xuất các nghề phi nông nghiệp (bảng 1)
Cũng do kinh tế được cải thiện, các vấn đề vệ sinh môi trường như nhà vệ sinh,
đường giao thông nông thôn, đầu tư cho y tế - giáo dục đã gặt hái được nhiều thành công Vấn đề giao lưu kinh tế - văn hoá - lối sống được mở rộng làm cho môi trường xã hội làng nghề đang phải đối mặt với những thách thức mới (Vd tệ nạn)
Trang 10Bảng 1 Biến động 10 vấn đề môi trường xã Cát Quế qua đánh giá hồi cố (2001)
đa dạng hơn) 5 vấn đề còn lại trở nên kém bức xúc hơn 5 vấn đề trên
2.2 Vấn đề Giới trong quan hệ với tài nguyên - môi trường ở vùng nông thôn ven đô
Do những nghề nghiệp lâu nay vẫn được gọi là "nghề phụ" đã trở thành nghề chính, làng nông nghiệp truyền thống trở thành làng "công nghiệp - thủ công nghiệp và dịch vụ" nên những nội dung giới của vùng nông thôn ven đô cũng có nhiều đặc điểm chuyên biệt Có thể nhận thấy sự đảo lộn vai trò của phụ nữ và nam giới trong phân công lao động gia đình Phụ nữ có thể làm những việc trước đây của đàn ông và ngược lại, đàn ông có thể làm những công việc trước đây dành cho phụ nữ Sự phân công lại lao động gia đình là một thực tại khách quan, liên quan đến cải thiện thu nhập và tính
ổn định của kinh tế gia đình Ví dụ trong nghề làm bún ở Phú Đô (Mễ Trì), nam giới có thể làm được một số công đoạn, còn phụ nữ làm tất cả các công đoạn, trong đó công
đoạn đi bán bún phụ nữ làm là chính Từ đó, vai trò quán xuyến ngân quỹ gia đình và
kế hoạch hoá sản xuất gia đình dần dần chuyển qua tay phụ nữ (bảng 2 - 5) Kết quả
điều tra 200 hộ gia đình tham gia làm bún như sau:
Trang 11Việc cần khéo léo
Bảng 3 Người quản lý ngân quỹ gia đình (kể cả vốn sản xuất) ở Phú Đô (2001)
Chồng quản lý Vợ quản lý Cả hai cùng quản lý
16,5% 43,5% 40%
Bảng 4 Người quyết định công việc sản xuất kinh doanh bún ở Phú Đô (2001)
Chồng quyết định Vợ quyết định Cả hai
20% 46,5% 33,5%
Bảng 5 người lập kế hoạch sản xuất kinh doanh bún Phú Đô (2001)
10% 50% 40%
Do phải thu xếp, tính toán, cải tiến kỹ thuật làm bún nên trình độ học vấn của
phụ nữ trong nghề làm bún Phú đô cũng cao hơn nam (bảng 6)
Bảng 6 Trình độ học vấn của những người làm bún ở Phú Đô (2001)
Trình độ Giới tính
Nguồn: UBND xã Phú Đô, 2001
Trang 12Mặc dù nắm vai trò chính trong bộ máy kinh tế gia đình và có học vấn cao hơn nam, nhưng phụ nữ Phú Đô ít tham gia công tác xã hội Đội ngũ lãnh đạo ở thôn Phú
Đô và cả ở xã Mễ Trì, trừ chức Hội trưởng phụ nữ, còn lại đều do nam giới đảm nhiệm
Sự bất cập này được giải thích như sau:
- Người phụ nữ giành phần lớn thời gian để làm việc, chăm sóc gia đình, lo lắng kinh tế gia đình nên không còn thời gian để tham gia hoặc quan tâm đến công tác xã hội ("Ra đình: Bà sợ ông; về nhà: Ông sợ bà") Có lẽ đây cũng là lối sống và cách suy nghĩ của phần lớn các gia đình nông thôn ven đô khi người phụ nữ nắm vai trò quản lý và chỉ huy kinh tế Nhiều trường hợp, người vợ chi phối ý kiến của người chồng trong công việc làng - xã theo kiểu "buông rèm nhiếp chính" Sự thay đổi tỷ lệ nữ lãnh đạo ở nông thôn ven đô, vì thế còn phụ thuộc vào vấn đề là phụ nữ có thích làm hay không Đây không phải là lí do duy nhất giải thích cho việc lãnh đạo làng - xã vẫn chủ yếu là đàn ông, nhưng có lẽ là một lí do chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào nói tới (?)
ở Cát Quế có đến 25% chủ hộ là phụ nữ, họ làm ăn không kém, thậm chí giỏi hơn chủ hộ đàn ông (Ô 3)
Ô 3 Bà triệu phú
Chị Nguyễn Thị H, 36 tuổi, 4 con, văn hoá lớp 5, chồng 40 tuổi, gia đình sống chung với bố chồng Chị làm nghề bóc vỏ đậu xanh và chăn nuôi Chị có
4 - 10 người làm ruộng Mỗi tháng chị lãi 10 triệu đồng Sau 2 năm chị tích
luỹ được: 100 triệu đồng nhưng vẫn cần vay thêm 200 triệu nữa để mở rộng
sản xuất
Nguồn: Nguyễn Thị Kim Hoa, 2000 [17]
Như vậy có thể nói tỷ lệ lãnh đạo thuộc nam giới ở các làng ven đô đã không hoàn toàn phản ánh việc phụ nữ bị xem nhẹ và mất tiếng nói ở địa phương Lãnh đạo là
bộ mặt của làng, nhưng nắm vững kinh tế hộ (vai trò chính của phụ nữ) mới thực sự là quyền lực của làng - xã Sự sắp xếp này một phần là sự phân công chưa hợp lí của xã hội, mặt khác phản ánh lối sống truyền thống của phương Đông: chức vụ xã hội của chồng là niềm sĩ diện, niềm tự hào của vợ Quan niệm này vẫn được người dân ven đô coi là "nét đẹp của lối sống truyền thống" và người lưu giữ các đặc trưng văn hoá truyền thống của bất cứ cộng đồng nào ở nước ta, cơ bản lại vẫn là phụ nữ
- Mặc dù có vai trò rất lớn trong việc phát triển kinh tế - xã hội ở các làng ven đô, nhưng vì là người chủ yếu chăm sóc gia đình nên phụ nữ nông thôn ven đô cũng như bất cứ ở cộng đồng nông thôn Việt Nam nào ngoài việc tham gia sản xuất còn phải lo trăm công việc trong nhà Rất khó tách bạch đâu là thời gian nghỉ ngơi, đâu là thời gian lao động Rất tiếc là xã hội còn chưa đánh giá đúng vai trò này của phụ nữ, hoặc nói thẳng ra, là chưa thể hiện đủ sự biết ơn đối với người mẹ, người vợ Gia đình truyền
Trang 13thống Việt Nam được xây dựng trên sự hy sinh vô cùng tận của người phụ nữ và họ sẵn sàng chịu đựng hết thảy để được chồng con yêu thương và đánh giá đúng [17] Đây có
lẽ là yêu cầu thực tế của phụ nữ Việt Nam chứ chưa phải là yêu cầu "cưa đôi mọi việc mới là bình đẳng" (Ô 4)
Ô 4 Đàn ông sao cho đáng mặt anh hào
Đàn ông giỏi giang thì phải gánh vác việc nước Đàn ông ở nhà giỏi nấu cơm, giặt giũ, rửa bát, quét nhà chắc là ế vợ!
Chị Dung - Phú Đô - Mễ Trì
Do các ngành nghề thủ công nghiệp trở nên yếu tố chính trong vùng nông thôn ven đô, ô nhiễm nước, phân, rác v.v do xả thải sản xuất và sinh hoạt là những vấn đề môi trường hàng đầu của các làng nghề ven đô Tuỳ theo nghề nghiệp có thể còn những vấn đề khác nổi cộm như ô nhiễm kim loại nặng, hoá chất, ô nhiễm khí Ô nhiễm môi trường và biện pháp xử lý là vấn đề đòi hỏi nhận thức cao, kỹ thuật cao và
tổ chức xã hội tốt Vấn đề là ở chỗ khi nhận ra những bất cập về môi trường thì mọi sự
đã rồi Việc cải thiện môi trường rất khó khăn đối với những làng quê đã định hình lối sống nhiều đời
Để tháo gỡ những khó khăn đó, tiếp cận chính sách - quy hoạch - công nghệ - kinh tế chỉ là thứ yếu trong giai đoạn hiện nay vì đó là công cụ đặc thù của các nước phát triển Chính tiếp cận cộng đồng mới phù hợp với những làng quê còn nghèo "Mọi giải pháp đều ở trong cộng đồng" Vì lý do này, chương trình truyền thông môi trường, nhất là kiểu truyền thông theo mô hình đang thu hút được sự chú ý của dư luận vì tính hiệu quả cao của nó
Điều cần nhấn mạnh là, tất cả các mô hình quản lý cấp cộng đồng thành công đều
có vai trò không thể thiếu của Hội phụ nữ Các mô hình quản lý rác, biogas, năng suất xanh ở bất cứ đâu cũng cần sự tham gia nhiệt tình của Hội phụ nữ địa phương (Ô 5)
Ô 5 Rác Vĩnh Hiệp và 2 bà ngoại
Vĩnh Hiệp là xã ven Thành phố Nha Trang, nơi mà Công ty Môi trường Thành phố chưa kiểm soát được rác thải ở đây thấy rác ở mọi nơi Có những
bãi rác lưu cữu từ trước năm 1975 Phí vệ sinh không thu được Chị kỹ sư
Trương Thị Sửu, phó phòng Công thương, là người phụ trách thực hiện dự án
xây dựng mô hình quản lý rác cho xã Với những kết quả đã đạt được chị tin
tưởng chỉ đầu năm 2003, mô hình quản lý rác xã ven đô Vĩnh Hiệp sẽ hoàn
chỉnh Chị có ý định dùng mô hình này để truyền thông và nhân rộng ra các
xã ven Thành phố khác của Nha Trang
Nhóm dự án ngoài chị Sửu còn có một đồng nghiệp nữa cũng là phụ nữ:
đó là chị Nga, kỹ sư Cả hai đều đã là bà ngoại.
Trang 14Một quy luật gần như không ngoại lệ trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cấp cộng
đồng là: "X∙ hội hoá bảo vệ môi trường ở Việt Nam chỉ có thể thành công khi có
phụ nữ tích cực tham gia" Thực tế các mô hình thành công cho thấy ngoài việc là
thành viên của cộng đồng, phụ nữ còn khéo động viên chồng con tham gia mô hình và bản thân họ có rất nhiều sáng kiến độc đáo
2.3 Những nhận xét bước đầu và định hướng giải pháp cải thiện vấn đề giới vùng nông thôn ven đô thị
• Nông thôn ven đô là nơi trực tiếp giao lưu với đô thị, nên vai trò của phụ nữ đã thay
đổi nhiều so với các làng nông nghiệp truyền thống: trình độ học vấn, vai trò quản
lý kinh tế - kế hoạch sản xuất và ngân sách gia đình đã bước đầu thay đổi theo hướng tích cực Mặc dù vẫn còn rơi rớt tàn dư của tư tưởng phong kiến trọng nam hơn nữ, nhưng ở môi trường nông thôn ven đô, phụ nữ đang trở thành một bộ phận quan trọng trong cơ cấu kinh tế - văn hoá và xã hội
• Cái khó trong việc xoá bỏ hẳn các quan niệm truyền thống về phân công lao động
và quản lý xã hội (ở những chỗ chưa hợp lí) không chỉ là thay đổi cách nghĩ của
nam giới, mà chính là thay đổi cách nghĩ của phụ nữ "Phụ nữ chết vì điều mình
yêu" Có lẽ nhận xét này là cội nguồn của những gì khó khăn nhất trong cuộc cách
mạng Bình đẳng Giới ở nông thôn
• Xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường nông thôn ven đô chỉ có thể thành công khi phụ nữ nhận thức được vai trò không thể thiếu của họ Những nơi phụ nữ tình nguyện tham gia tích cực, họ có nhiều sáng kiến và đưa các dự án môi trường đến thành công, ngay cả trong điều kiện còn rất nghèo
• Vì lẽ đó, Bình đẳng Giới trong sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường, vùng ven đô thị quan trọng hơn cả trước hết là làm thay đổi cách nghĩ truyền thống của chính phụ nữ, rằng trách nhiệm của họ trong xã hội cũng quan trọng như ở gia
đình; sau đó là cơ chế tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia công tác xã hội Và phải chứng tỏ cho đàn ông nhận thấy là khi các bà vợ tham gia công tác xã hội thì hạnh phúc gia đình của họ sẽ chắc chắn hơn và có chất lượng hơn để các ông chồng ủng
hộ và hỗ trợ vợ mình Với phụ nữ Việt Nam, sự ủng hộ của chồng con quan trọng hơn hết thảy Nếu không gắn được hạnh phúc gia đình, sự yêu thương, quý trọng của chồng con với Bình Đẳng Giới thì phụ nữ sẽ không bao giờ thiết tha với sự
nghiệp này "Vì chàng thiếp phải mua mâm, những như thân thiếp bốc thầm
cũng xong" (Ca dao) Đây chính là xuất phát điểm để định hướng chiến lược Bình
Đẳng Giới ở nước ta khác các nước phương Tây - nơi xuất phát của Khoa học về Giới và Phụ nữ
Trang 153 Vấn đề Giới trong sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng nông thôn ven biển
3.1 Đặc trưng tài nguyên và môi trường vùng nông thôn ven biển
Vùng nông thôn ven biển là nơi rất đa dạng về tài nguyên nhưng cũng có nhiều kiểu tai biến môi trường đan xen Ngoài lĩnh vực đánh bắt thuỷ sản, chế biến thuỷ sản, vùng ven bờ cũng là nơi phát triển nuôi trồng thuỷ sản đa dạng (nuôi biển, nuôi đầm, nuôi hồ nước mặn, nuôi nước ngọt), có thể có diện tích trồng lúa, trồng cói, có diện tích làm muối, có nghề khai thác bãi triều và có cả những vùng có tiềm năng du lịch Tai biến môi trường ven biển cũng rất đa dạng Bão và nước dâng do bão, triều cường, nhiễm mặn, cát bay là những hiện tượng thường xảy ra
Những vấn đề môi trường biển như ô nhiễm biển, tràn dầu, thuỷ triều đỏ, đánh bắt thuỷ sản bằng các phương tiện huỷ diệt là những vấn đề mà các cộng đồng ven biển ngày càng gặp nhiều hơn
Trong điều kiện tài nguyên môi trường đa dạng và biến đổi nhanh (do hệ thống này là một hệ thống cân bằng động), các cấu trúc xã hội trong đó có vấn đề giới cũng phải mang tính thích ứng cao Bởi lẽ con người và cộng đồng nông thôn vùng ven biển cũng là một trong các phân hệ của hệ thống sinh thái nhân văn vùng bờ Mỗi phân hệ vừa tác động và kiểm soát các phân hệ khác, lại vừa là sản phẩm và bị các phân hệ khác tác động trở lại Quan hệ lan toả trong một cấu trúc hệ thống phức tạp, phụ thuộc vào đầu vào (năng lượng, vật chất, thông tin) cũng như khả năng tải của hệ thống tài nguyên và môi trường
Phân tích giới trong các cộng đồng ven biển, rõ ràng phải dựa chắc chắn lên tiếp cận hệ thống Việc đánh giá về giới trong các cộng đồng ven biển bằng quan điểm của người ngoài thường dẫn đến những nhận định sai lầm
3.2 Vấn đề phân công lao động theo giới trong khai thác tài nguyên
Vùng nông thôn ven biển có sự phân công lao động theo giới thích ứng tuyệt vời các kiểu khai thác tài nguyên khác nhau để đảm bảo sản xuất và tái sản xuất Nguyên tắc phân công lao động là:
a- Nam giới tập trung vào các công việc nặng nhọc, nguy hiểm
b- Nữ giới tập trung vào các công việc nhẹ hơn, an toàn hơn, có điều kiện chăm sóc gia đình thường xuyên
c- Những việc trung gian giữa a và b thấy có sự tham gia của cả hai giới (bảng 7)
Trang 16Bảng 7 Các hoạt động theo Giới ở làng cá Quỳnh Lập
Sự tham gia Hoạt động
Nguồn: Chu Chí Thiết và nnk, 2002 [19]
Trong tổng số 13 kiểu hoạt động chính trên đây, đàn ông tham gia 9/13 (gần
70%) công việc, phụ nữ tham gia 10/13 (72%) công việc 3 công việc đòi hỏi sức khoẻ
và kỹ thuật cao (đánh cá, đóng đáy, cơ khí) do đàn ông đảm nhiệm 100%, 4 công việc
đòi hỏi khéo léo, ít tốn sức là chế biến, giặt giũ, khai thác bãi triều (don, dắt, hàu) và
làm nón là do phụ nữ đảm nhiệm Hai giới chung sức trong 6 công việc, tất nhiên tuỳ
việc và tuỳ nơi mà nam làm là chính hay nữ làm là chính Theo đánh giá của Chu Chí
Thiết và nnk (2002) [19] tại Quỳnh Lập, 41% thời gian trong ngày của đàn ông dành
cho hoạt động sản xuất (nữ: 21%), trong khi đó 46% thời gian trong ngày của phụ nữ
dành cho hoạt động tái sản xuất (năm giới dành có 21%) Vì là những công việc cần
nhiều sức lực nên thời gian nghỉ ngơi của nam giới nhiều hơn so với thời gian nghỉ
ngơi của phụ nữ (38% so với 33%)
Một vài tác giả cho rằng với thời gian nghỉ ngơi ít, phụ nữ đã vất vả hơn và bị bóc
lột sức lao động Nhận xét này không đúng với hoạt động nghề cá vì không làm rõ
cường độ lao động mà người đàn ông phải thực hiện
Trường hợp Quỳnh Lập phản ánh sự phân công lao động theo giới khá điển hình
cho vùng nông thôn ven biển chuyên nghề đánh bắt thuỷ sản
Nuôi trồng thuỷ sản cũng là một lĩnh vực kinh tế sôi động và đem lại hiệu quả
kinh tế cao Trong lĩnh vực này, vai trò của nam giới nổi trội hơn nữ giới (bảng 8)
Trang 17Bảng 8 Phân công lao động theo giới tại đầm nuôi thuỷ sản (Tiên Lãng, Hải Phòng, 2002)
Nguồn: Nguyễn Thị Thu 2002 [20]
Công việc nam giới đảm nhận ở đầm nuôi thuỷ sản là gần 82% so với phụ nữ là 36,4%
Có thể thấy, sự phân công lao động theo giới phản ánh trình độ công nghệ, kiến thức kỹ thuật, sức khoẻ và kỹ năng của từng giới, nó là sự hợp lí qua một quá trình dài
cọ xát, thử thách, tuyển chọn của lịch sử Ngay cả hoạt động lúc nông nhàn là khai thác bãi triều, thì phụ nữ cũng tập trung vào khai thác còng, cáy, còn nam giới tập trung vào cào ngao, xắn cá lác, đào cua là lĩnh vực cần nhiều sức lực hơn (Nguyễn Thị Thu
lên mới bán Con gái tôi chở muối bằng xe đạp lên bán tận Nam Định, Cầu
Họ, đổi mỗi "phương" được 10 bơ gạo, tính ra được giá gấp đôi nếu bán tại
địa phương Để được lãi 5 bơ gạo 1 "phương", cháu phải đi từ sáng đến tối mịt
mới về đến nhà
Phỏng vấn anh Kiện, xóm Lâm Thọ, Giao Lâm, Nam Định
Mỗi lần đánh cá về, việc mang cá đi bán là do vợ, đàn ông chúng tôi không biết đến tiền Việc biến cá đánh được thành mọi khoản chi tiêu trong
gia đình đều do phụ nữ đầu tắt mặt tối mà có
Phỏng vấn anh Cung, ngư dân Ngọc Hải - Đồ Sơn (Hải Phòng)
Nỗi nhọc nhằn, vất vả của cả vợ lẫn chồng thực khó so sánh
Trang 183.3 Giới và môi trường vùng nông thôn ven biển
Do đàn ông tiêu phí phần lớn sức lực trên biển hoặc ở đầm nuôi, nên vai trò của phụ nữ trong bảo vệ môi trường thôn xóm là rất nổi trội ở những địa phương Hội Phụ nữ tham gia tích cực vào các lĩnh vực vệ sinh môi trường thì nơi đó môi trường nơi cư trú được cải thiện trông thấy (Ô 7)
Hai thôn khác: Thái An và Mỹ Hoà, cùng xã, giàu có hơn nhưng không
có phong trào này Rác đổ ra biển bị sóng đẩy vào bờ thành con đê rác, hôi
thối không chịu nổi
Phỏng vấn chị Thanh, Phó Chủ tịch Hội Phụ nữ
xã Vĩnh Hải, Ninh Hải, Ninh Thuận
Tuy nhiên, vấn đề gìn giữ môi trường biển lại phụ thuộc vào nhận thức, thái độ và hành vi của đàn ông vì họ là những người đánh cá Ngăn chặn các hành động đánh bắt huỷ diệt như thuốc nổ, chất độc, lưới mắt nhỏ phải do chính các ngư dân nam giới thực hiện Việc ngư dân Vĩnh Hải (Ninh Thuận), Vạn Hưng (Khánh Hoà) xây dựng mô hình cộng đồng tham gia bảo vệ rạn san hô bước đầu thành công là do sự tham gia tình nguyện và tích cực của nam giới là chính
Như vậy, việc bảo vệ môi trường mỗi giới có thế mạnh riêng và nhiệm vụ bảo vệ môi trường chỉ thành công nếu được lồng ghép vào đúng lĩnh vực hoạt động của mỗi giới Tuy nhiên, do nghề đi biển đầy rủi ro, nguy hiểm, nên đàn ông làm nghề biển bao giờ cũng được yêu quý và được chăm sóc đặc biệt bởi chính mẹ, vợ con của họ Đấy là
lí do tại sao làng chài vẫn thích có đông con trai và quý con trai hơn con gái Đây cũng
là lẽ thường tình đối với ngư dân ven biển và không ai thắc mắc về điều đó, và cũng không vì thế mà vai trò của phụ nữ ít được tôn trọng: họ là người biến cá thành tiền và thành sự ấm cúng, mạnh khoẻ và hạnh phúc của mỗi gia đình
3.4 Nhận xét bước đầu và định hướng cải thiện vấn đề giới vùng nông thôn ven biển
1 Sự phân công lao động, quyền quản trị lao động và xã hội trong cộng đồng nông thôn ven biển là kết quả của việc khai thác tài nguyên đa dạng cũng như khả năng của mỗi người, và phụ thuộc vào một trình độ công nghệ nhất định Quan điểm "của chồng, công vợ" là quan niệm truyền thống tốt đẹp của xã hội nông thôn Việt Nam Cũng như các vùng nông thôn khác, phụ nữ ven biển cũng chủ yếu làm việc thu vén gia đình Điều này trước hết là do xã hội, sau đó một phần vì phụ nữ đã quen và trở nên "thích" như vậy Sự nâng cao vị
Trang 19thế của phụ nữ trong xã hội nông thôn ven biển chỉ thành công khi gắn kết với sự bền vững kinh tế gia đình và quan hệ gia đình
2 Vấn đề sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường cần được lồng ghép vào các hoạt động sản xuất và tái sản xuất của từng giới Người nông dân nghèo ven biển không quan tâm nhiều đến những việc xa lạ với cuộc sống của họ
4 Vấn đề giới trong sử dụng quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng nông thôn miền núi
4.1 Đặc điểm chung về tài nguyên và môi trường vùng nông thôn miền núi Việt Nam
Tài nguyên quan trọng số một đối với đời sống của cộng đồng nông thôn miền núi là rừng Rừng không chỉ là tài nguyên gỗ hay phi gỗ, rừng còn là nguồn nước, là
đất đai, là vi khí hậu, đặc biệt rừng còn là văn hoá, là lối sống của toàn bộ cư dân miền núi, bao gồm đại diện của toàn bộ 54 dân tộc sống trên mảnh đất Việt Nam, kể cả người Kinh Hiện nay độ che phủ rừng (2002) là trên 34,4%, kể cả rừng nguyên liệu cho công nghiệp và cây ăn quả đã khép tán Rừng tự nhiên còn rất ít (23%) và đa phần
là rừng tái sinh Sinh thái rừng in đậm trong lối sống, quan hệ xã hội của các cộng
đồng miền núi Theo chiến lược Bảo vệ môi trường Quốc gia, đến 2010, chúng ta có thể khôi phục lại vốn rừng đạt tỷ lệ an toàn sinh thái (43 - 45% diện tích tự nhiên)
Diễn biến hiện trạng rừng từ thập kỷ 1990 đến nay theo xu thế tích cực Dưới tác
động của chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng, chương trình 135 xoá đói giảm nghèo
và các chính sách mới theo Nghị định 661 của Chính phủ, diện tích rừng ngày càng tăng, kiểm soát các vụ vi phạm làm luật và cháy rừng ngày càng có hiệu quả Điều đó
đã làm diện tích rừng che phủ toàn quốc tăng từ 27,2% (1990) lên 28,8% (1998) và 34,4% (tháng 6/2002) Từ 1998 đến nay, rừng bị mất khoảng 10.000 ha, rừng trồng lại mỗi năm 150.000 ha và rừng khoan nuôi tự nhiên đạt đến 250.000 ha (Báo cáo hiện trạng Môi trường Việt Nam, 2002)
Đất nông nghiệp và nương rẫy miền núi rất đa dạng, phù hợp với nhiều tập đoàn cây trồng và thực vật tự nhiên, trong đó có nhiều loài cây đặc sản Tuy đất đai manh mún, khó phát triển nông sản hàng hoá (trừ Tây Nguyên) nhưng bù lại, ít dịch hại cây trồng nên các sản phẩm nông - lâm nghiệp ít bị ảnh hưởng bởi hoá chất bảo vệ thực vật
Đa phần nông sản là sản phẩm sạch và có nhiều điều kiện để phát triển một nền nông nghiệp sinh thái và đa dạng
Trang 20Miền núi Việt Nam cũng là nơi tập trung phần lớn khoáng sản rắn của đất nước trong đó có nhiều mỏ từ cỡ trung bình (sắt, apatit, đồng ) đến lớn (than đá) Việc khai thác mỏ đã góp phần thúc đẩy sự hình thành nhiều đô thị và hệ thống giao thông miền núi, nhưng đồng thời, cũng là những vùng có vấn đề nghiêm trọng về môi trường liên quan đến khai thác mỏ
Sông suối miền núi cũng chứa đựng tiềm năng lớn về thuỷ điện và kết hợp với khả năng xây dựng các kho nước lớn Tuy nhiên những công trình này thường gây ra nhiều tác động tiêu cực đến môi trường rất khó cải thiện Một trong những tác động này là tái định cư một số lượng dân cư đông đảo Sự yếu kém trong công tác ĐTM và năng lực thực hiện các giải pháp mà báo cáo ĐTM đã hoạch định khiến cho các tác
động tiêu cực của một số công trình thuỷ điện lớn vẫn còn chưa thể khắc phục sau khi công trình đã hoàn tất cả mấy chục năm
Còn có thêm 2 vấn đề môi trường nan giải đối với nông thôn miền núi
Vấn đề nan giải thứ nhất là nhiều loại thiên tai đặc biệt cho miền núi thường xảy
ra như lũ, lũ quét, trượt lở Nhiều nơi, chi phí khắc phục thiên tai lớn hơn cả tổng thu ngân sách của cả tỉnh trong cả năm (ví dụ Bắc Kạn 2002: chi phí khắc phục thiên tai hết 25 tỷ đồng so với 22 tỷ thu ngân sách) Một vài nơi còn có động đất (ví dụ Điện biên Phủ 2001) Những thiên tai khác như hạn hán, gió xoáy, mưa đá, các ổ sinh thái
độc hại (phóng xạ, ổ dịch địa phương) cũng gây thiệt hại khó tính hết
Vấn đề nan giải thứ hai là các tác động tiêu cực đến môi trường do một số thói quen, lối sống đã trở nên lạc hậu của một số cộng đồng địa phương (chăn thả rông gia súc, đốt nương làm rẫy tràn lan, chưa sử dụng hoặc chưa xây dựng nhà vệ sinh phù hợp tiêu chuẩn môi trường, khai thác gỗ trái quy định, hệ thống canh tác đất dốc chưa hợp
lý gây xói mòn đất v.v ) Cháy rừng cũng là một sự cố thường liên quan đến hoạt động thiếu ý thức của con người
Những đặc thù nêu trên của hệ tài nguyên môi trường khu vực nông thôn miền núi khiến cho nghèo, đói vẫn là vấn đề nan giải Địa hình đèo dốc khó khăn nhiều thiên tai thường ngốn hết các khoản đầu tư vốn còn chưa đủ cho các dịch vụ xã hội cơ bản, cộng với những khó khăn trong việc thay đổi một số phong tục tập quán lạc hậu và mô hình canh tác chưa hợp lý khiến cho nghèo đói và trình độ dân trí thấp là những trở ngại lớn nhất cho phát triển kinh tế xã hội nông thôn miền núi
Những vấn đề giới trong sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường khu vực nông thôn miền núi là sản phẩm của một cấu trúc xã hội thích nghi với những đặc điểm đã phân tích trên Cấu trúc xã hội nông thôn miền núi là môi trường của các vấn đề về giới, đòi hỏi nhà phân tích phải đứng trong chính môi trường đó mới có thể nhận định
đúng đắn những vấn đề nghiên cứu
Trang 214.2 Vấn đề giới trong sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng nông thôn
miền núi
Nông thôn miền núi là nơi cư trú của toàn bộ 54 dân tộc, vấn đề giới phụ thuộc
rất nhiều vào phong tục, tập quán mỗi dân tộc Đó là một bức tranh đa dạng và phức
tạp, biến đổi từ chế độ mẫu hệ - mẫu quyền đến chế độ phụ hệ - phụ quyền, đòi hỏi
một công trình nghiên cứu lớn Trong phạm vi chuyên đề nhỏ này, chỉ có thể đưa ra
những nhận xét chung và nhạy cảm nhất
• Giới trong kinh tế hộ
Từ khi các hộ gia đình được giao quyền sử dụng đất, rừng lâu dài, hình thức kinh
tế hộ trở thành phổ biến và có vai trò quyết định trong xã hội nông thôn miền núi
Trong bối cảnh nền kinh tế chưa phát triển, mục tiêu tự cung tự cấp còn là mục tiêu cơ
bản của phần lớn các hộ gia đình nông thôn miền núi, việc phân công lao động và
quyền lực trong gia đình là sự phân công tự phát, thừa kế sự phân công lao động truyền
thống:
- Đàn ông đảm nhiệm các việc đòi hỏi sức vóc, hướng ngoại và độc hại hơn,
thời gian làm việc ít hơn
- Đàn bà đảm nhiệm các việc đòi hỏi khéo léo, tỉ mẩn, mất nhiều thời gian và
hướng nội hơn, thời gian làm việc nhiều hơn (bảng 10, 11)
Bảng 10: Vai trò giới trong hoạt động kinh tế hộ - bản Châng, xã Phương Thiện,
huyện Vị Xuyên, Hà Giang (2003)
Cả hai (%)
Ghi chú: Số hộ điều tra: 30 hộ = 100%
Bản Châng là bản dân tộc Tày Tuy vợ là "Nhà chiến lược" của lập kế hoạch sản
xuất, nhưng lại có vai trò phụ thuộc trong quản lý ngân sách gia đình Đây cũng là đặc
trưng của đại đa số các hộ gia đình người Tày - Nùng Chồng là chủ sở hữu các tài sản
lớn: nhà cửa, ruộng nương, trâu bò, vốn liếng; người vợ chỉ là chủ sở hữu chiếc xa quay
sợi và khung cửi Các kết quả điều tra ở Cao Lộc (Lạng Sơn) cũng cho những kết quả
tương tự
Kết quả nghiên cứu về hoạt động khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường tại
bản Châng, Vị Xuyên, Hà Giang năm 2003 như sau (bảng 11)
Trang 22Bảng 11: Vai trò Giới trong việc quản lý, bảo vệ môi trường Bản Châng 2003
Cả hai (%)
Ghi chú: Số hộ điều tra: 30 hộ = 100%
Phân tích bảng 11 cho thấy đàn ông bản Châng tham gia chủ yếu vào việc khai
thác gỗ, khai thác nguồn nước và sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật (3/9 lĩnh vực hoạt
động), trong khi đó phụ nữ đóng vai trò lớn trong 6 lĩnh vực còn lại, đặc biệt trong các
lĩnh vực liên quan đến vệ sinh môi trường như thu gom và sử dụng phân gia súc, thu
gom và xử lý rác sinh hoạt chăn nuôi
Phụ nữ bản Châng ngoài công việc sản xuất, thời gian còn lại chủ yếu dành cho
chăm sóc con cái và người già và làm việc nhà Công việc làng xã chủ yếu do đàn ông
đảm nhiệm
Phụ nữ bản Châng cũng có tỷ lệ mù chữ lớn hơn nam giới và trẻ em gái bỏ bọc
cũng nhiều hơn Tuy nhiên cũng phải nhận thấy rằng phụ nữ bản Châng thọ hơn nam
giới Điều này cho thấy những vất vả của đàn ông làm họ hao tổn sức lực chưa thể được
Nguồn: Số liệu thống kê 2003 của UBND xã Phương Thiện, Vị Xuyên, Hà Giang
Trang 23Theo bảng 12 thấy rõ sự bất bình đẳng đối với phụ nữ trong lĩnh vực quản lý và lao động, học tập Số trẻ em nữ (<15 tuổi) không được đi học lớn hơn số trẻ em nam rất nhiều (14%), sở dĩ có hiện tượng như trên là do quan niệm của người dân ở đây
Là con gái làm ruộng thì cần gì phải học nhiều, chỉ cần biết cái chữ, biết tính toán
là được rồi, con gái người Tày cần chăm lo cho gia đình còn chuyện học hành để dành cho con trai - được hỏi tại sao con gái lại bỏ học sớm như vậy, một ông bố bản Châng
trả lời
Kết quả nghiên cựu của Nguyễn Linh Khiếu (2002) [5] tại xã Thái Hoà, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang cũng cho những kết quả đáng chú ý (bảng 13) Cộng
đồng Thái Hoà gồm người Kinh, người Tày, người Cao Lan và người Dao.\
Bảng 13: Phân công lao động theo giới ở xã Thái Hoà - Tuyên Quang
Số
Chồng làm (%)
Vợ làm (%)
Cả hai (%)
Trang 24Trong số 14 loại công việc trên đây, đàn ông ở xã Thái Hoà có vai trò lớn hơn trong các lĩnh vực quyết định việc trong nhà, việc đòi hỏi sức vóc và tham gia công việc làng xã, cộng đồng: mua sắm đồ dùng đắt tiền, chọn giống cây trồng, cày bừa, sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật, nghề phụ, họp thôn xã và ma chay cưới xin (7/14 lĩnh vực hay 50%) Phụ nữ chủ yếu lo việc nhà, chợ búa, con cái, chăn nuôi những việc không đòi hỏi nhiều cường độ lao động nhưng lại yêu cầu thời gian lao động, sự khéo tay, khéo thu vén Cũng theo Nguyễn Linh Khiếu [5], đàn ông người Dao ở Thái Hoà khi đã lên ông (có thể ở tuổi 40) họ có thể không làm gì, trừ việc đi săn khi nào họ thích, mọi việc đã có con trai, con dâu và vợ lo hết
Hoạt động săn bắn ở những người đàn ông có nhiều thời gian rỗi và ở độ tuổi giàu kinh nghiệm săn bắn là công việc được cộng đồng đánh giá cao do kết quả mang lại cho cuộc sống của gia đình và cộng đồng, đặc biệt khi họ săn được những con thú lớn như gấu, bò tót, nai, heo rừng ở nhiều nơi từ Tây Nguyên đến các tỉnh miền núi phía Bắc, mỗi lần săn được thú lớn, cả bản/buôn như mở hội Người ta chia thịt, ăn uống, hò hát suốt đêm Những phong tục này đang giảm dần do thú lớn ngày một hiếm và do sự quản lý chặt chẽ của ngành kiểm lâm cũng như nhận thức của người dân đã thay đổi Tuy nhiên việc săn bắn thú rừng ở nhiều nơi vẫn diễn biến nhưng lặng lẽ hơn Chính thời gian săn bắt thú rừng trong nhiều năm qua đã làm cho các nhóm động vật này trở nên hiếm hoi và nhiều loài đã tuyệt chủng
• Giới và kiến thức bản địa trong bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên
Phụ nữ miền núi không tham gia vào săn bắn hay đánh bẫy thú như đàn ông, nhưng họ là người đặc biệt tài giỏi về thuốc nam Kiến thức y học dân tộc của phụ nữ dân tộc miền núi là một kho tàng vô giá Họ biết nhiều vị thảo dược đặc biệt chữa nhiều chứng bệnh nan y mà y học hiện đại vẫn bó tay Việc chuyển giao kiến thức về y học dân tộc thường do mẹ dạy truyền khẩu cho con gái khiến nhiều vị thuốc, bài thuốc
bị thất truyền Rừng suy thoái cũng làm cho nhiều loài cây thuốc trở nên hiếm hoi hay mất hẳn (Ô 8)
Ô 8 Những cây thuốc độc đáo ở miền núi Ninh Thuận
Khi sinh đẻ, phụ nữ Raglay thường ăn một nắm rễ cây "Zrao dih apui" mọc hoang trong hốc đá Chỉ 3 ngày sau khi đẻ đã có thể đi làm rẫy, lấy củi, tắm táp ngoài suối bình thường Khi sinh đủ con, không muốn sinh đẻ nữa, họ ăn một nắm lá của một loài dây leo bị sét đánh cụt ngọn có tên là "Cayio diloh kasik" là "thôi" luôn Nếu đứt dập bàn tay, chỉ bôi một thứ bột củ "Zrao u răh" bằng cách mài củ vào một viên đá cuội, 1 tuần sau sẽ lành Mà không bôi trực tiếp vào vết thương, bôi phía trên cánh tay
Người phụ nữ Raglay còn biết nhiều thứ cây thuốc lắm, chỉ sợ rừng hết thì không biết hái cây thuốc ở đâu thôi
(Phỏng vấn chị Phanh, bác sỹ người Raglay - Giám
đốc Trung tâm Y tế huyện Ninh Sơn, Ninh Thuận).