1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổng quan về hệ thống vũng vịnh ven bờ biển việt nam

62 744 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng Quan Về Hệ Thống Vũng - Vịnh Ven Bờ Biển Việt Nam
Tác giả TS. Trần Đức Thạnh, TS. Mai Trọng Thông, TS. Đỗ Công Thung, TS. Nguyễn Hữu Cử
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Hữu Cử
Trường học Viện Khoa Học Và Công Nghệ Việt Nam
Chuyên ngành Tài Nguyên Và Môi Trường Biển
Thể loại Chuyên đề
Năm xuất bản 2005
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 378,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vũng - vịnh ven bờ biển Việt Nam đa dạng về kiểu loại, hình dáng và kích thước, phân bố rộng rãi nhưng tập trung chủ yếu ở vùng bờ biển Đông bắc, tạo nên bộ phận cấu trúc hình thái của k

Trang 1

Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam

Viện Tài nguyên và Môi trường biển

Đề tài cấp Nhà nước KC 09 - 22

Đánh giá hiện trạng, dự báo biến động

và đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên một số vũng - vịnh chủ yếu

ven bờ biển Việt Nam

Chủ nhiệm: TS Trần Đức Thạnh Phó chủ nhiệm: TS Mai Trọng Thông

TS Đỗ Công Thung Thư ký: TS Nguyên Hữu Cử

Trang 2

Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam

Viện Tài nguyên và Môi trường biển

Đề tài cấp Nhà nước KC 09 - 22

Đánh giá hiện trạng, dự báo biến động

và đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên một số vũng - vịnh chủ yếu

ven bờ biển Việt Nam

Chủ nhiệm: TS Trần Đức Thạnh Phó chủ nhiệm: TS Mai Trọng Thông

TS Đỗ Công Thung Thư ký: TS Nguyên Hữu Cử

Trang 3

có 1 vũng - vịnh

Vũng - vịnh ven bờ biển Việt Nam đa dạng về kiểu loại, hình dáng và kích thước, phân bố rộng rãi nhưng tập trung chủ yếu ở vùng bờ biển Đông bắc, tạo nên bộ phận cấu trúc hình thái của kiểu bờ dalmatic và karst cấu tạo từ các đá vụn lục nguyên và carbonat, và ở vùng bờ biển miền Trung (từ Thanh Hóa tới Vũng Tầu), tạo nên bộ phận cấu trúc của kiểu bờ riat đang trong giai đoạn san bằng bờ, cấu tạo từ các đá vụn lục nguyên và macma Hệ thống vũng - vịnh ven

bờ biển Việt Nam giàu tài nguyên, có giá trị sử dụng cao cho phép phát triển đa ngành và trên thực tế, hành động phát triển kinh tế - xã hội đang dần trở nên sôi

động, tạo sức ép tới tài nguyên và môi trường Để có cơ sở đánh giá hiện trạng,

dự báo biến động và đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên vũng - vịnh trong khuôn khổ nhiệm vụ của đề tài cấp Nhà nước KC 09 - 22, cần thiết đề cập tổng quan về hệ thống vũng - vịnh ven bờ Việt Nam với các nội dung chính:

1 - Kiểm kê và phân loại vũng - vịnh

2 - Điều kiện tự nhiên hệ thống vũng - vịnh

3 - Điều kiện kinh tế - xã hội liên quan tới vũng - vịnh

4 - Tiềm năng tài nguyên vũng - vịnh

5 - Hiện trạng môi trường vũng - vịnh

Trang 4

Định nghĩa này hết sức khái quát theo trực quan, mới chỉ phản ánh hình dáng dị thường “lõm” của đường bờ trên bình đồ, ngược với hình dáng “lồi” của mũi nhô hay bán đảo, mà chưa phản ánh được hình thái trắc lượng, cấu trúc, thành phần vật chất, cơ chế hình thành, phát triển và tiến hóa

Dù sao, định nghĩa này cũng hàm ý cơ bản và cho thấy:

(1) - là một phần của biển lõm vào lục địa

(2) - là một loại hình thủy vực ven bờ nhưng động lực biển (sóng, dòng chảy, thủy triều) thống trị

(3) - mặc nhiên là một thể địa chất - bồn tích tụ hiện đại ven bờ, một kiểu môi trường địa chất hay một kiểu hệ sinh thái vực nước ven bờ - được xác định bởi phạm vi một phần của biển lõm vào lục địa hay nằm giữa

2 mũi nhô (1) và động lực biển thống trị (2), mà không tùy thuộc vào phụ hệ (địa hệ thứ cấp) như vùng cửa sông hay đầm phá trong đó

1.1.2 Định danh

Ngược với định nghĩa đơn giản, định danh vũng - vịnh hết sức phức tạp không riêng gì ở nước ta Các từ Định danh vũng - vịnh hiện nay không theo tiêu chuẩn địa lý - địa chất mà theo ý niệm trừ quan tùy thuộc vào:

(1) - bản ngữ

(2) - tập quan, thói quen của người dân ven biển

(3) - tôn trọng lịch sử thư tịch ngay cả khi có khái niệm khoa học rõ ràng về

ở Việt Nam, các tên gọi vũng, vụng, vịnh, đầm, phá và cửa sông được sử dụng lộn xộn, tất yếu dẫn đến hiện tượng đồng âm nhưng dị nghĩa và ngược lại Trước đây, hải đồ của Pháp có ghi “baie de Courbe” - lâu nay gọi là vịnh Cửa Lục (Quảng Ninh) mà thực chất đây là một vùng cửa sông hình phễu (estuary)

Trang 5

quy mô nhỏ nhưng điển hình, có nguồn gốc ngập chìm thung lũng kiến tạo Vũng Đông, Vũng Tây và Vụng Cầu Hai là các bộ phận tạo nên một lagun ven

bờ gần kín, nước lợ điển hình và nổi tiếng với tên gọi địa phương hiện nay - hệ

đầm phá Tam Giang - Cầu Hai và thậm chí gọi chung là phá Tam Giang Cũng ở tỉnh Thừa Thiên Huế, các tên gọi khác nhau như Vũng Lập An, Vụn An Cư,

Đầm An Cư hay Đầm Lăng Cô được dùng để chỉ một thủy vực có bản chất một lagun ven bờ rất kinh điển, chuẩn về cấu trúc hình thái, hành phần vật chất, lịch

sử hình thành và phát triển địa chất (Nguyễn Hữu Cử, 1996) Tên gọi Đầm Nha Phu ở Khánh Hòa lại dùng để chỉ một vịnh ven bờ thực thụ có nguồn gốc ngập chìm và gặm mòn (embayment) bờ đá gốc, trong khi một vực nước tự nhiên hay nhân tạo dùng để nuôi thủy sản cũng được gọi là đầm Vịnh Ghềnh Rái như được ghi trên bản đồ là một bộ phận cấu trúc của vùng cửa sông Đồng Nai, một vùng cửa sông hình phễu kinh điển mà nhiều tác giả trên thế giới đã từng đề cập tới (Samoilov, 1952; v.v.), chỉ là vùng nước cửa sông (firth) Tương tự, Vịnh Đồng Tranh trước cửa Soài Rạp, Vịnh Rạch Giá và Vịnh Cây Dương ở Kiên Giang, cũng là các vùng nước cửa sông, bộ phận cấu trúc của vùng cửa sông châu thổ (delta) Mekon

Trong tiếng Việt, từ “vịnh” không phản ánh được quy mô Từ “vịnh” dùng

để chỉ Vịnh Bắc Bộ, Vịnh Thái Lan, Vịnh Ba Tư, Vịnh Bengal, Vịnh Mexico, v.v có quy mô lớn, trong khi đó từ này cũng được dùng để gọi vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long, vịnh Lan Hạ, vịnh Diễn Châu, vịnh Đà Nẵng, vịnh Cam Ranh, v.v Tuy nhiên, theo các đặc điểm địa chất - địa mạo thông qua hình thái cấu trúc, cấu tạo vật chất, đặc điểm hình thành và phát triển, có thể phân biệt chúng

và tên gọi tương ứng như sau (chi tiết ở phần 1.3):

(1) - Vịnh biển (gulf) như Vịnh Bắc Bộ (the Tonkin Gulf) hay vịnh Thái Lan (the Gulf of Siam), v.v

(2) - Vịnh ven bờ (bay) như vịnh Hạ Long (Halong bay, vịnh Bái Tử Long (Bai Tư Long bay), vịnh Đà Nẵng (Da Nang bay), v.v

(3) - Vịnh bờ đá (embayment) như Vụng Xuân Đài (Xuan Dai embayment) hay Đầm Nha Phu (Nha Phu embayment)

(4) - Vũng (bight) như Vụng Quán Lạn, Vũng áng, vũng Chân Mây, Vụng

An Hòa, vụng Làng Mai, Vũng Rô, v.v

(5) - Vụng, tùng áng (shelter) như phổ biến ở vùng đảo đá vôi Cát Bà - Hạ Long

1.2 Kiểm kê vũng - vịnh

Hệ thống vũng - vịnh ven bờ biển Việt Nam được kiểm kê trên hải đồ tỷ lệ 1:100 000 bao gồm cả ven bờ biển và đảo ven bờ Theo đó, các đối tượng có kích thước nhỏ hơn lưới 1x1 cm hay diện tích nhỏ hơn 1 km2 không được kiểm kê Nội dung kiểm kê gồm tên gọi truyền thống theo hải đồ, tọa độ địa lý, kích thước cơ bản (chiều dài, chiều rộng, độ sâu trung bình/lớn nhất) và diện tích mặt nước

ở mực biển trung bình (bảng 1) tới cửa vịnh được quy ước là chiều rộng, khoảng

Trang 6

cách giữa 2 mũi nhô là chiều rộng cửa và giữa 2 bờ tương ứng được quy ước là

chiều dài cửa vũng - vịnh Kết quả kiểm kê xác nhận có 48 vũng - vịnh có diện

tích trong khoảng 2 - 560 km2 và tổng diện tích khoảng 3 997,5 km2, gấp gần 9

lần tổng diện tích hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam

1.3 Phân loại vũng - vịnh

1.3.1 Vị trí tương đối của các loại hình thủy vực ven bờ

Vị trí tương đối giữa các loại hình thủy vực ven bờ và biển, như mô phỏng

trên hình 1, biểu hiện qua quan hệ không gian, tính chất chuyển tiếp kiểu loại địa

hệ và quan hệ phụ thuộc

(lagoon)

Hình 1 Vị trí tương đối giữa các loại hình thủy vực ven bờ và biển

Trang 11

Vịnh biển và biển nông ven bờ là một bộ phận của biển (1, 2) và trong nhiểu trường hợp, biển nông ven bờ cũng là một bộ phận của vịnh biển (3) ví như vịnh Bắc Bộ và vịnh Thái Lan Trong vịnh biển, như vịnh Bắc Bộ, có thể có địa

hệ thứ cấp như vũng - vịnh (vịnh hạ Long, vịnh Bái Tử Long, vịnh Diễn Châu) (7), các vùng cửa sông (vùng cửa sông hình phễu Bạch Đằng, châu thổ sông Hồng, v.v.) (8) và đầm phá (hệ đầm phá tam Giang - Cầu Hai, đầm Lăng Cô) (9)

ở vùng biển nông ven bờ, cũng có thể có đủ các loại hình thuỷ vực khác nhau như vũng - vịnh Văn Phong, Đầm Nha Phu, vịnh Nha Trang, vịnh cam Ranh, v.v.) (4), các vùng cửa sông (Cửa Đại, cửa Trà Khúc, Cửa Đà Rằng, v,v.) (5) và

đầm phá (An Khê, Trà ổ, Nước Ngọt, Ô Loan, v.v.) (6) Tuy nhiên, vị trí tương

đối của các loại hình thuỷ vực ven bờ biểu hiện phức tạp hơn thông qua quan hệ chuyển tiếp (10, 11) Bản chất của Vịnh Cửa Lục là một vùng cửa sông ngập chìm đồng thời do sụt hạ kiến tạo và dâng cao mực nước, là một vùng cửa sông hình phễu nhưng có hình thái vịnh, tương tự với trường hợp vịnh Tiên Yên - Hà Cối và vùng cửa sông hình phễu Tiên Yên - Hà Cối Theo định nghĩa, vùng cửa sông nằm giữa đảo Cát Bà và bán đảo Đồ Sơn cũng là một vịnh ven bờ và được gọi là vụng Đồ Sơn, nhưng về nguồn gốc, vùng nước này là kết quả của quá trình hình phễu hóa vùng cửa sông Bạch Đằng vốn là bộ phận rìa đông bắc của châu thổ sông Hồng (Bắc bộ) Đây là trường hợp tương tự với vùng cửa sông Đồng Nai mà vùng nước trước cửa sông nằm giữa Vũng Tầu và Cần Giờ có tên gọi

“vịnh” Ghềnh Rái Tính chất chuyển tiếp cũng biểu hiện giữa vùng cửa sông và

đầm phá Đầm Thị Nại có cửa ăn thông với vịnh Làng Mai ở Quy Nhơn, là một lagun ven bờ gần kín nhưng có bản chất một vùng cửa sông (sông Kôn) được che chắn bởi đê cát đồ sộ (Cát Chánh) để tạo nên một thủy vực ven bờ có cấu trúc hình thái và đặc trưng khối nước của một lagun (estuarine lagoon)

Thông thường, vũng - vịnh và đầm phá đều có sông đổ vào Dù lớn hay nhỏ, các vùng cửa sông do chúng tạo ra trở thành địa hệ thứ cấp (10, 11), chẳng hạn vùng cửa sông Bu Lu (kiểu liman) là địa hệ thứ cấp của vũng Chân Mây, vùng cửa sông Hàn và vùng cửa sông Cu Đê (kiểu liman) là các địa hệ thứ cấp của vịnh Đà Nẵng, vùng cửa sông Ô Lâu, vùng cửa sông Hương hay vùng cửa sông Truồi (kiểu delta) là các địa hệ thứ cấp của hệ đầm phá Tam Giang - Càu Hai

Đầm phá cũng trở thành địa hệ thứ cấp của vũng - vịnh (12), điển hình là đầm Thủy Triều với vịnh Cam Ranh

1.3.2 Kiểu loại vũng - vịnh

Các vực nước được ghi nhận theo định nghĩa vũng - vịnh rất đa dạng về quy mô, cấu trúc, lịch sử hình thành và phát triển địa chất, nhưng có thể phân biệt chúng thành:

(1) - Vịnh biển (gulf) có quy mô lớn, rộng hàng chục ngàn km2 và sâu tới vài chục mét, như Vịnh Bắc Bộ, Vịnh Thái Lan, Vịnh Ba Tư, vịnh Bengal, chiếm một bộ phận lớn của thềm lục địa, chỉ bị phơi lộ trong

kỳ băng hà làm hạ thấp mực nước đại dương thế giới, đáy vịnh còn lưu giữ nhiều di tích địa hình cổ, trầm tích cổ trong biển tiến sau băng hà

Trang 12

lần cuối ở đới bờ của vịnh biển có thể có đủ loại hình thủy vực ven bờ (hình 1) như vũng - vịnh, các vùng cửa sông và đầm phá

(2) Vịnh ven bờ (bay) như vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long, vịnh Diễn Châu, vịnh Đà Nẵng, vịnh Cam Ranh, v.v có quy mô nhỏ hơn, thường dưới 500 km2 và sâu tối đa 25 - 30m, là địa hệ thứ cấp của vịnh biển và vùng biển nông ven bờ, có thể bị phơi lộ hoàn toàn vào thời điểm trước

6 000 năm trước, ở đáy thường ít hoặc không còn di tích địa hình cổ hay trầm tích cổ do tương tác lục địa - biển ở đới bờ mạnh mẽ Vịnh ven bờ biển Việt Nam cũng như của thế giới, hình thành phổ biến ở khoảng thời gian 6 000 - 3 000 năm trước (Emery, 1967, Gorsline,

1967, v.v.) Vịnh ven bờ cũng thường có các phụ hệ khác như vùng cửa sông châu thổ (vùng cửa sông Hàn (delta) ở vịnh Đà Nẵng, vùng cửa sông Cu Đê (liman) ở vịnh Đà Nẵng, vùng cửa sông Bu Lu (liman) ở vũng Chân Mây, hay vùng cửa sông hình phễu (vùng cửa sông Tiên Yên (hình phễu) ở vịnh Tiên Yên - Hà Cối, v.v

(3) - Vịnh bờ đá (embayment), thường có quy mô nhỏ hơn vịnh ven bờ, hình dáng kéo dài và hẹp, ít khi đẳng thước, đồng thời do ngập chìm và gặm mòn bờ tạo thành, nơi phổ biến các dạng địa hình xâm thực như

đá sót, vách biển, rãnh sâu Thuộc kiểu này điển hình là Vụng Xuân

Đài, Đầm Nhu Phu, Vũng Rô, v.v

(4) - Vũng (bight), có kích thước nhỏ và hình dáng đẳng thước đôi khi là một bộ phận của vịnh ven bờ, chẳng hạn, vụng Quán Lạn là một bộ phận của vịnh Bái Tử Long, nhưng thường ăn thông trực tiếp với vùng biển ven bờ như Vũng Chân Mây, vụng An Hòa, vụng Làng Mai, v.v (5) - Vụng, tùng áng (shelter), có kích thước nhỏ, thường có hình dạng túi,

đẳng thước và tương đối kín, đôi khi hình dáng thon dài, bờ đá gốc khúc khuỷu, rất phổ biến ở vùng đảo đá vôi như Cát Bà, Hạ Long, mà dân địa phương quen gọi là tùng, áng

1.3.3 Phân loại vũng - vịnh theo mức độ kín

Độ kín của thủy vực ven bờ chỉ quan hệ hình thái - động lực giữa thuỷ vực

và biển kề cận Việc xác định độ kín của thủy vực thông qua các yếu tố hình thái

và yếu tố động lực là rất khó khăn bởi các yếu tố động lực, đặc biệt là sóng, dòng chảy, dòng bồi tích, thay đổi theo mùa Do đó, có thể sử dụng chỉ số hình học của thủy vực ven bờ của Cục Môi trường Nhật Bản (EAJ) (Nippon Koei Co Ltd., 1998) mô phỏng quan hệ giữa thể tích khối nước và giao diện

Theo đó, chỉ số đóng kín (I) của thuỷ vực ven bờ được xác định theo công thức:

SD 1

I =

WD 2

Trang 13

Trong đó: S - là diện tích mặt nước trung bình của thuỷ vực (km2)

D1 - là độ sâu cực đại của thủy vực (m)

W - là chiều rộng của cửa (km) D2 - là độ sâu cực đại của cửa (m) Nếu I > 1, thủy vực có độ kín cao và tiềm ẩn nguy cơ phù dưỡng Hệ thống vũng

- vịnh ven bờ biển Việt Nam có chỉ số đóng kín I trong khoảng 0,05 - 1,83

Kết quả phân loại cho thấy:

- 2 vũng - vịnh thuộc loại rất kín: vịnh Cửa Lục (I = 1,83) và vịnh Cam

Ranh (I = 1,43)

- 1 vũng - vịnh thuộc loại gần kín: vịnh Tiên Yên - Hà Cối (I = 0,78)

- 14 vũng - vịnh thuộc loại nửa kín, trong đó có vịnh Bái Tử Long, vịnh Hạ

Long, vịnh Đà Nẵng, vịnh Xuân Đài, vịnh Văn Phong, Đầm Nha Phu, v.v

- 22 vũng - vịnh thuộc loại hở, trong đó có vịnh Diễn Châu, vũng Chân

Mây, v.v

- 9 vũng - vịnh thuộc loại rất hở, trong đó có vụng Mỹ Hàn, vụng Moi, vịnh

Phan Rang, vũng Pa Da Răng, vụng Phan Rí, vịnh Phan Thiết, v.v

1.3.4 Phân loại vũng - vịnh theo quy mô

Phân loại vũng - vịnh theo quy mô căn cứ vào diện tích mặt nước ở mực

biển trung bình Diện tích của hệ thống vũng - vịnh ven bờ biển Việt Nam trong

khoảng 2 - 560 km2

Theo đó, ven bờ biển Việt Nam có 13 vũng - vịnh loại lớn (chiếm 27% tổng

số), trong đó lớn nhất là vịnh Bái Tử Long, với tổng diện tích 3 055,4 km2

(chiếm 76,4% tổng diện tích hệ thống vũng - vịnh ), có 6 vũng - vịnh loại trung

bình, 17 vũng - vịnh loại nhỏ và 12 vũng - vịnh rất nhỏ (bảng 2)

Bảng 2 Phân loại vũng - vịnh ven bờ biển Việt Nam theo quy mô

Cấu tạo nên bờ vũng - vịnh có thể từ vật liệu bở dời (bùn, cát) và có thể là

đá gốc (lục nguyên, macma, carbonate) thường ở mũi nhô, đảo chắn, đảo trong

vịnh, hoặc từ hỗn hợp các thành tạo bở rời, phân lớp và kết tinh Vũng - vịnh

thành tạo do đảo chắn thường có độ kín cao hơn, đạt tới gần kín và rất kín Trong

báo cáo chuyên đề “Phân tích đánh giá các chỉ tiêu hình thái - động lực hệ thống

Trang 14

vũng - vịnh ven bờ biển Việt Nam “, các tính chất phân dị khác của vũng - vịnh

đã được đề cập đầy đủ, trong đó có phân dị độ sâu, hình dáng (đẳng thước, kéo dài), ảnh hưởng của sóng, thủy triều từ triều lớn (macrotide, độ lớn triều trên 4m), triều trung bình (mesotide, độ lớn triều trong khoảng 2 - 4m) tới triều nhỏ (vi triều - microtide, độ lớn triều dưới 2m), xu thế phát triển địa chất và tiến hóa,

sự khác nhau của các hệ sinh thái thuộc vịnh và hệ sinh thái tiêu biểu, ảnh hưởng của chế độ thuỷ văn các sông đổ vào vịnh

2 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

2.1 Đặc điểm khí hậu

2.1.1 Phân bố vũng - vịnh theo các vùng khí hậu

Vũng - vịnh ven bờ biển Việt Nam có mặt chủ yếu ở vùng bờ biển Đông bắc (Quảng Ninh, Hải Phòng) và miền Trung Việt nam (từ Thanh Hóa tới Bình Thuận), nơi có chế độ khí hậu nhiệt đới phân dị phức tạp, hình thành 2 miền có ranh giới ở vĩ tuyến 16o và nhiều vùng khác nhau (bảng 3) Bắc vĩ tuyến 16o (lấy Hải Vân là ranh giới) là miền khí hậu nhiệt đới gió mùa cận chí tuyến, có mùa

đông lạnh, chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa đông bắc về mùa Đông, và nam vĩ tuyến 16o là miền khí hậu nhiệt đới cận xích đạo (điển hình hơn), có mùa đông

ấm và nóng, ít chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc về mùa đông nhưng chịu

ảnh hưởng chủ yếu của gió mùa tây nam về mùa Hè

Bảng 3 Phân vùng khí hậu lãnh thổ Việt Nam

Các vùng khí hậu Miền

1 Vùng khí hậu nhiệt đới có mùa

đông lạnh (Quảng Ninh - Thanh Hóa)

2 Vùng khí hậu nhiệt đới có mùa

đông lạnh vừa (Nghệ An - Thừa Thiên Huế)

7 Trung và Nam Trung bộ (Hải

Vân - Mũi Dinh)

8 Tây Nguyên

9 Đồng bằng Nam bộ

Nam

3 Vùng khí hậu nhiệt đới có mùa

đông ấm (Hải Vân - Mũi Dinh)

4 Vùng khí hậu nhiệt đới có mùa

đông ấm

Trang 15

ở mỗi vùng khí hậu, các vũng - vịnh chịu ảnh hưởng chung của khí hậu lục

địa và khí hậu biển, mang tính chất điều hòa của vùng duyên hải Do đó, các số liệu quan trắc minh họa chế độ khí hậu ảnh hưởng tới vũng - vịnh được khai thác trực tiếp từ các đài/trạm ven bờ biển

- Các vũng - vịnh như Tiên Yên - Hà Cối, Bái Tử Long, Cô Tô, Quán Lạn, Hạ Long và Cửa Lục chịu ảnh hưởng của khí hậu duyên hải Đông bắc Việt Nam,

được minh họa bởi các số liệu quan trắc của các trạm Móng Cái, Tiên Yên, Cô Tô, Cửa Ông, Hòn Gai và Hòn Dấu

- Tương tự các vũng - vịnh như vụng nghi Sơn, vụng Quỳnh Lưu, vịnh Diễn Châu, vũng áng, vụng Chân Mây chịu ảnh hưởng của khí hậu duyên hải Bắc Trung bộ - các trạm Quỳnh Lưu, Hòn Ngư, Huế

- Các vũng - vịnh từ Đà Nẵng tới vịnh Phan Thiết chịu ảnh hưởng của khí hậu duyên hải Trung và Nam Trung bộ - các trạm Đà Nẵng, Tam Kỳ, Lý Sơn, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Tuy Hòa, Nha Trang, Cam Ranh, Nha Hố và Phan Thiết

- Các vũng - vịnh ven bờ đảo Côn Sơn và Phú Quốc chịu ảnh hưởng của khí hậu duyên hải Nam bộ - các trạm Cà Mau và Rạch Giá

Số liệu minh họa từ các trạm nói trên được quan trắc chủ yếu trong thời gian 1956 - 2003

- Mây và nắng

Lượng mây tổng quan trung bình năm khoảng (7,2 - 7,7)/10 bầu trời và lượng mây dưới trung bình trong khoảng (6,2 - 6,5)/10 bầu trời Nhiều mây vào các tháng 1 - 4 và nhiều nhất vào tháng 3 Tổng số giờ nắng trung bình năm đạt trên 1 500 giờ, trong khoảng 1 504,6 - 1 672,5 giờ, nắng nhiều vào các tháng

5 - 10, cao nhất vào tháng 7, đạt 148,8 - 230 giờ Nắng ít nhất ở khu vực Tiên Yên

- Mưa, ẩm và bay hơi

Trang 16

Số ngày mưa trung bình năm trong khoảng 130,1 - 162,9 ngày, ít nhất ở Cô

Tô (119,9 ngày) Số ngày mưa nhiều vào các tháng 7 - 8 và mưa ít vào các tháng

12 và 1 Tổng lượng mưa trung bình năm trong khoảng 1 693,8 - 2 679,6 mm

Phân bố mưa trong khu vực không đều nhiều nhất ở Móng Cái (2 679,6 mm),

giảm dần về phía nam (Tiên Yên - 2 315,3 mm, Cửa Ông 2 217,9 mm và Hòn

Gai - 1 967,9 mm) và giảm dần về phía biển (Cô Tô - 1 693,8 mm) Lượng mưa

lớn nhất vào tháng 7 - 8, nhưng lượng mưa ngày lớn nhất không đồng thời, chẳng

hạn, ở Móng Cái vào tháng 5 (348,8 mm), ở Tiên Yên vào tháng 7 (471,5 mm), ở

Cô Tô vào tháng 7 (322,7 mm), ở Cửa Ông vào tháng 7 (471,5 mm) và ở Hòn

Gai thì vào tháng 7 (350,4 mm) Nếu lấy tháng có lượng mưa trung bình trên

100 mm thì mùa mưa từ tháng 4 tới tháng 10, thường chiếm trên 80% tổng lượng

mưa cả năm, chẳng hạn, ở Móng Cái - 86,8% hay Hòn Gai - 88,4%

Độ ẩm tương đối của không khí trung bình năm đạt trên 80%, trong khoảng

82 - 85% Độ ẩm cao nhất vào tháng 3, tháng có nhiều mưa phùn, thấp nhất vào

tháng 9 Độ ẩm không khí thấp nhất trung bình trong khoảng 68 - 74% và thấp

tuyệt đối trong khoảng 8 - 18% vào các tháng 12 và 1 Độ ẩm không khí thấp

tuyệt đối tăng dần về phía nam, chẳng hạn, 8% ở Móng Cái vào tháng 12, 9% ở

Tiên Yên vào tháng 1, 14% ở Cửa Ông vào tháng 1 và 18% ở Hòn Gai vào tháng

1 và tăng dần về phía biển, đạt tới 20% ở Cô Tô vào tháng 1

Tổng lượng bốc hơi trung bình năm trong khoảng 850,8 - 1 079,3 mm

Lượng bốc hơi cao vào các tháng 9 - 11, thấp nhất vào tháng 2 - 3, tháng có mưa

phùn và độ ẩm cao

- Gió

Khu vực chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc (từ tháng 10 tới tháng 3) và

gió mùa tây nam về mùa Hè (từ tháng 5 tới tháng 8) Các tháng 4 và 9 được coi

là chuyển tiếp, gió thịnh hành hướng đông Tốc độ gió trung bình trong khoảng

1,7 - 4,3 m/s, tăng dần về phía nam và về phía biển Tốc độ gió trung bình ở

Móng Cái đạt 1,8 m/s, trong khi ở Cửa Ông đạt 3,1 m/s hay ở Hòn Gai đạt 2,7 m/s, tốc độ gió trung bình ở Tiên Yên đạt 1,7 m/s trong khi ở Cô Tô đạt 4,3 m/s Tốc độ gió lớn nhất vào các tháng có bão có thể đạt 40 - 47 m/s

Số liệu quan trắc trong 10 năm gần đây (1991 - 2001) cho thấy tốc độ gió

trung bình tăng ít nhiều (bảng 4)

Bảng 4 Tốc độ gió trung bình (m/s) và hướng thịnh hành

trong khu vực Tiên Yên - Hà Cối

Tháng Trạm

Trang 17

- Các hiện tượng thời tiết đặc biệt

Hàng năm từ tháng 9 tới tháng 4 năm sau, có tới 20 - 25 đợt gió mùa đông

bắc ảnh hưởng tới khu vực nhưng chủ yếu vào các tháng 11, 12 và tháng 1

Trong các đợt gió mùa đông bắc, nhiệt độ không khí giảm 4 - 5oC và thậm chí

10oC và kéo dài 3 - 4 ngày Tốc độ gió trung bình 5 - 10 m/s và cao nhất tới

15 m/s Đây là khu vực chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc mạnh nhất ở vùng

bờ biển Việt Nam

Dông xuất hiện trong khu vực tương đối nhiều so với các vùng bờ biển khác

của Việt Nam với số ngày dông trong khoảng 74,1 - 94,7 mỗi năm vào các tháng

3 - 10, chủ yếu vào các tháng 5 - 8 Số ngày dông giảm dần về phía nam từ

Móng Cái (94,7 ngày), Tiên Yên (89,6 ngày), Cửa ông (67,5 ngày) tới Hòn Gai

(74,1 ngày) và giảm dần về phía biển tới Cô Tô (65,6 ngày)

Khu vực nằm trong vùng chịu ảnh hưởng chung của bão và áp thấp nhiệt

đới từ Quảng Ninh tới Ninh Bình, kể cả khu vực Đông Hưng của Trung Quốc

Trong thời gian 1884 - 1997 có 403 cơn bão và áp thấp nhiệt đới xảy tới vùng bờ

biển Việt Nam, trong đó vùng bờ biển từ Quảng Ninh tới Ninh Bình chiếm 31%

tổng số và lớn nhất so với các vùng khác (Nguyễn Văn Viết, 1985) Tương tự,

mật độ bão (số cơn bão và áp thấp nhiệt đới trên 1o vĩ) cũng lớn nhất, đạt 0,97

trong thời gian 1956 - 1995 (Lê Văn Thảo, 2001) Bão tập trung chủ yếu vào

tháng 8 - 10 Trong thời gian 1970 - 1996, có 28 cơn bão đổ bộ trực tiếp vào

vùng bờ biển Quảng Ninh - Hải Phòng, trong đó có bão Sarah đổ bộ trực tiếp vào

vùng bờ biển Hải Phòng ngày 21/7/1977 với sức gió mạnh trên cấp 10, tốc độ

gió đạt 51 m/s hay cơn bão Vera đổ bộ vào Quảng Yên ngày 18/7/1983 với tốc

độ gió đạt 40m/s

Trong khu vực hầu như không xuất hiện mưa đá và sương muối nhưng phổ

biến mưa phùn vào các tháng 1 - 4 và 12, chủ yếu vào tháng 2 - 3, có 10,6 - 32,6

ngày sương mù Ngược với mưa phùn, sương mù nhiều nhất ở Cô Tô (32,6

ngày)

2.1.2.2 Vùng duyên hải bắc Trung bộ

- Bức xạ và nhiệt độ không khí

So với vùng duyên hải Đông bắc Việt Nam, lượng bức xạ thực tế cao hơn,

tăng dần tới 126,2 Kcal/cm2/năm ở Quảng Trị và 124,8 Kcal/cm2/năm ở Huế

Tương tự, nhiệt độ không khí tăng đáng kể Nhiệt độ trung bình năm trong

Trang 18

khoảng 23,4 - 25,2oC và tăng dần về phía nam tới Huế (25,2oC) Nhiệt độ không

khí cao nhất trung bình trong khoảng 26,2 - 29,5oC và thấp nhất trung bình trong

khoảng 21,2 - 22,1oC Nhiệt độ tối cao trong khoảng 39,9 - 41,3oC và tối thấp

trong khoảng 5,5 - 8,8oC Chế độ nhiệt hình thành 2 mùa rõ rệt Mùa nóng từ

tháng 5 tới tháng 10 và nóng nhất vào tháng 7 với nhiệt độ không khí trung bình

29 - 29,3oC Mùa lạnh vào các tháng 11 tới tháng 2 năm sau, lạnh nhất vào tháng

1 với nhiệt độ thấp hơn trung bình năm 5 - 6oC

- Mây và nắng

Lượng mây tổng quan trung bình năm khoảng (7,7 - 7,8)/10 bầu trời và

lượng mây dưới trong khoảng (5,7 - 6,4)/10 bầu trời Lượng mây nói chung

tương tự vùng bờ biển đông bắc Việt Nam nhưng nằng nhiều hơn đáng kể và

tăng dần về phía nam từ Quỳnh Lưu (1 748,8 giờ) tới Huế (1 972,8 giờ) Nắng

nhiều vào các tháng 4 - 10, nhiều nhất vào các tháng 5 - 8 và đạt trên 200

giờ/tháng

- Mưa, ẩm và bay hơi

Số ngày mưa trung bình trong khoảng 127,6 - 166,5 ngày hàng năm Phân

bố số ngày mưa theo thời gian tương đối đều nhưng phân bố lượng mưa rất thấp

không đều Mưa muộn dần về phía nam tới Huế và trùng vào mùa gió đông bắc

Lượng mưa cũng tăng dần về phía nam từ Quỳnh Lưu ( 1 573,4 mm/năm), Hòn

Ngư (1 965,4 mm/năm) tới Huế (2 867,2 mm/năm) và Bạch Mã (3 200

mm/năm) Lượng mưa ngày lớn nhất đạt tới 710,1 mm ở Quỳnh Lưu (tháng 9) và

977,6 mm ở Huế (tháng 11) ở Nghệ An, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 tới tháng

11, chủ yếu vào tháng 9 - 10, nhưng ở Huế, mùa mưa từ tháng 7 tới tháng 12,

chủ yếu vào tháng 11 - 11

Độ ẩm tương đối của không khí trung bình trong khoảng 84 - 86%, thấp vào

các tháng 6 - 8 và cao vào các tháng 1 - 2 Độ ẩm thấp tuyệt đối trong khoảng

19 - 29%, trong đó ở Hòn Ngư đạt 19% vào tháng 4, ở Quỳnh Lưu đạt 20% vào

tháng 12 và ở Huế đạt 29% vào tháng 6 Độ ẩm không khí thấp nhất trung bình

trong khoảng 66 - 75%

Lượng bốc hơi tăng dần về phía nam từ Quỳnh Lưu (936,1 mm/năm) tới

Huế (1 026,8 mm/năm) Lượng bay hơi cao vào các tháng 6 - 8, đạt trên

120 mm/tháng ở Quỳnh Lưu , trên 130 mm/tháng ở Huế

- Gió

Do ảnh hưởng của địa hình Trường Sơn và các tiểu hoành sơn, tốc độ và

hướng gió thay đổi Tốc độ gió trung bình năm ở Quỳnh Lưu đạt 1,9 m/s và ở

Huế đạt 1,5 m/s (chuối số liệu 1976 - 2003) Tuy nhiên trong thời gian 1959 -

2000 (Nguyễn Việt và nnk, 2004), tốc độ gió trung bình ở Huế đạt 1,8 m/s và

thấp hơn ở Quảng Bình và Quảng Trị Tốc độ gió lớn nhất ở Quỳnh Lưu đạt

40 m/s vào các tháng 10, ở Hòn Ngư đạt tới 56 m/s vào tháng 10 trong khi ở Huế

chỉ đạt 30 m/s vào tháng 4 Theo số liệu quan trắc trong thời gian 1959 - 2000,

Trang 19

tốc độ gió lớn nhất ở Huế đạt 38 m/s vào tháng 9 theo hướng BTB Tần suất gió

lặng ở (bảng 5) Do ảnh hưởng của địa hình, gió tây bắc có tần suất cao hơn gió

bắc và đông bắc về mùa đông

Bảng 5 Tần suất gió P (%) và tốc độ trung bình V (m/s) theo hướng tại Huế theo

số liệu quan trắc trong thời gian 1959 - 2000 (Nguyễn Việt và nnk, 2004)

Tháng Hướng Tần suất

- Các hiện tượng thời tiết đặc biệt

Gió Tây khô nóng (gió hướng tây, nhiệt độ không khí > 35oC và độ ẩm

không khí < 55% thường xuất hiện từ tháng 4 tới tháng 9, chủ yếu vào tháng

7 - 8 Mỗi năm trung bình có trên 20 ngày gió tây khô nóng, riêng ở Huế có tới

Trang 20

34,9 ngày, nhiều nhất váo tháng 6 (10,2 ngày) Mỗi đợt gió tây kéo dài 2 - 5

ngày, trong điều kiện cực đoan tới 1 tháng và góp phần sinh hạn

Gió mùa đông bắc gây thời tiết lạnh ít ảnh hưởng so với không khí lạnh kết

hợp với dải hội tụ nhiệt đới gây mưa trong thời gian tháng 9 - 11 và thậm chí gây

mưa lớn 200 - 300 mm/đợt kéo dài trên diện rộng, sinh lũ và ngập lụt, điển hình

ở khu vực Huế

Dông xuất hiện ở hầu hết các tháng trong năm nhưng chủ yếu vào các tháng

5 - 9 Mỗi năm trung bình có 77,4 ngày dông ở Quỳnh Lưu, 108 ngày dông ở

Huế ở Huế, dông nhiều nhất vào tháng 5 (20 ngày), các tháng 4, 6 - 9 có

13 - 16 ngày dông Trong cơn dông, có thể có mưa rào và đôi khi có mưa đá kèm

theo

Trong số 403 cơn bão trong thời gian 1884 - 1977, có 19% số cơn bão đổ

bộ vào vùng bờ biển Thanh Hóa - Hà Tĩnh, 18% số cơn bão đổ bộ vào vùng bờ

biển Quảng Bình - Thừa Thiên Huế (Nguyễn Văn Viết, 1985) Bão xuất hiện

trong thời gian từ tháng 5 tới tháng 11, chủ yếu vào các tháng 9 - 10 Trong thời

gian 1884 - 2000, có 98 cơn bão đổ bộ vào vùng bờ biển Bình - Trị - Thiên, trong

đó có 1 cơn vào tháng 5, 5 cơn vào tháng 6, 7 cơn vào tháng 7, 18 cơn vào tháng

8, 34 cơn vào tháng 9, 27 cơn vào tháng 10 và 6 cơn vào tháng 11 Tốc độ gió

trung bình 15 - 20 m/s và lớn nhất đạt 38 m/s (cấp 13) trong cơn bão Tilda ngày

22/9/1964

So với vùng bờ biển Đông bắc Việt Nam, số ngày sương mù ở đây giảm

đáng kể, chỉ có 8,7 ngày ở Quỳnh Lưu hay 14 ngày ở Huế mỗi năm

1.1.2.3 Vùng duyên hải Trung và Nam Trung bộ

- Bức xạ và nhiệt độ không khí

Lượng bức xạ thực tế trung bình năm đạt 156 Kcal/cm2, tăng dần về phía

nam từ Đà Nẵng (147 Kcal/cm2) Đây là vùng khí hậu nhiệt đới cận xích đạo và

điển hình với tất cả các yếu tố đánh giá

Nhiệt độ không khí trung bình năm trong khoảng 25,7 - 27,0oC, tăng dần về

phía nam từ Đà Nẵng (25,7oC), Quảng Ngãi (25,9oC), Quy Nhơn (26,9oC) tới

Cam Ranh (27oC) Vào các tháng 5 - 9, nhiệt độ không khí cao hơn đáng kể so

với trung bình năm

Nhiệt độ không khí cao nhất trung bình trong khoảng 29,8 - 31oC và thấp

nhất trung bình trong khoảng 22,8 - 24,0oC Nhiệt độ tối cao trong khoảng 38,7 - 40,9oC và tối thấp trong khoảng 9,2 - 15,4oC Các giá trị này tăng dần về

phía nam tới Tuy Hòa và cao nhất vào các tháng 5 - 8 tùy nơi

- Mây và nắng

Vùng này có mây ít hơn vùng Bắc Trung bộ và Đông bắc Bắc bộ và lượng

mây giảm dần về phía nam Lượng mây tổng quan trung bình năm trong khoảng

(5,5 - 7,0)/10 bầu trời, giảm dần từ Đà Nẵng (7,0/10), Tam Kỳ (6,9/10), Quảng

Ngãi (5,9/10), Quy Nhơn (5,8/10), Cam Ranh (5,8/10) tới Phan Thiết (5,5/10)

Trang 21

Tương tự, lượng mây dưới trong khoảng (3,8 - 5,5)/10 bầu trời, giảm dần từ Đà

Nẵng (5,5/10), Quy Nhơn (5,3/10), Tuy Hòa (4,9/10), Nha Trang (5,0/10), Cam

Ranh (4,6/10) tới Phan Thiết (3,8/10) Mây nhiều vào các tháng 1 - 3 và 11 - 12

Số giờ nắng trong khu vực trên 2 000 giờ/năm, trong khoảng 2 182,6 -

2 860,9 giờ/năm, tăng dần về phía nam từ Đà Nẵng (2 182,6 giờ), Tam Kỳ (2 205,4 giờ), Quảng Ngãi (2 249,3 giờ), Quy Nhơn (2 458,2 giờ), Tuy Hòa (2 462,1 giờ), Nha Trang (2 542,1 giờ), Cam Ranh (2 670,1 giờ) tới Phan Thiết

(2 860,9 giờ) Khu vực Quy Nhơn - Phan Thiết nhiều nắng nhất nước ta

- Mưa, ẩm và bay hơi

Về phía nam, số ngày mưa và lượng mưa giảm dần nhưng lượng bay hơi

tăng dần, thậm chí vượt quá lượng mưa (từ Nha Trang tới Phan Thiết)

Tổng số ngày mưa trung bình năm trong khoảng 85,8 - 154,7 ngày, trong

đó, ở Đà Nẵng có 139,9 ngày, Tam Kỳ 143,9 ngày, Quảng Ngãi 154,7 ngày,

giảm dần tới Quy Nhơn 137,1 ngày, Tuy Hòa 131,3 ngày, Nha Trang 118,6

ngày, Cam Ranh 100,8 ngày, Nha Hố (Phan Rang) 85,8 ngày và tới Phan Thiết

108,9 ngày

Tổng lượng mưa trung bình năm trong khoảng 728,8 - 2 709,9 mm ở Đà

Nẵng, lượng mưa đạt 2 127,4 mm/năm, ở Tam Kỳ 2 709,9 mm/năm rồi giảm dần

về phía nam tới Quảng Ngãi 2 344,4 mm, Quy Nhơn 1 752 mm, Tuy Hòa

1 795,6 mm, Nha Trang 1 352 mm, Cam Ranh 1 220,2 mm, Phan Rang 728 mm

và Phan Thiết 1 126,2 mm

Lượng mưa ngày lớn nhất trong khoảng 122,8 - 628,9 mm vào các tháng 10

- 12

ở Quảng Nam và Phan Thiết, mùa mưa vào các tháng 5 - 10 trong khi khu

vực Đà Nẵng và Quảng Ngãi - Ninh Thuận, mùa mưa vào các tháng 9 - 11

Lượng bay hơi trong khoảng 875 - 1 934,6 mm, giảm dần từ Đà Nẵng tới

Quảng Ngãi, Lý Sơn, rồi tăng dần về phía nam (bảng 6)

Bảng 6 So sánh lượng mưa và lượng bay hơi trung bình năm (mm)

tại một số trạm ven biển Trung và Nam Trung bộ

Trạm Lượng mưa Lượng bay hơi

Trang 22

Nha Hố (Phan Rang) 728,0

Căn cứ vào lượng mưa, số ngày mưa, lượng mưa trung bình lớn nhất, phân

bố mưa theo thời gian và lượng bay hơi, có thể thấy vùng Nam Trung bộ có tiền

đề sinh hạn cao

Độ ẩm tương đối của không khí trung bình năm của khu vực trong khoảng

76 - 85%, tăng dần từ Đà Nẵng (82%), Tam Kỳ (83%) tới Quảng Ngãi (85%), rồi giảm dần tới Quy Nhơn (79%), Tuy Hòa (81%), Nha Trang (80%), Cam Ranh (76%) và Phan Thiết (80%) Khu vực Đà Nẵng - Tuy Hòa, độ ẩm cao vào các tháng 1 - 3 và 10 - 12 nhưng ở khu vực Nha Trang - Phan Thiết, độ ẩm cao vào các tháng 9 - 11

Độ ẩm không khí thấp nhất trung bình năm trong khoảng 61 - 77%, giảm dần về phía nam từ Đà Nẵng (65%), Tam Kỳ (65%), Quảng Ngãi (64%), Quy Nhơn (64%), tới Cam Ranh (61%) và Phan Thiết (62%)

Độ ẩm tối thấp trong khoảng 14 - 33%, cũng giảm dần về phía Nam từ Tam

Kỳ (30%), Quy Nhơn (28%), Tuy Hòa (21%), Nha Trang (17%) tới Cam Ranh (14%)

Qua đó có thể thấy khu vực Cam Ranh - Ninh Thuận là khô nhất

- Gió

Tốc độ gió trung bình năm có xu hướng tăng dần về phía nam từ Đà Nẵng tới Phan Thiết nhưng tốc độ gió lớn nhất tăng dần tới Quy Nhơn rồi giảm mạnh tới Phan Thiết

Tốc độ gió trung bình năm trong khoảng 1,2 - 4,4 m/s, tăng dần về phía nam từ Đà Nẵng (1,5 m/s), Tam Kỳ (1,7 m/s), Quy Nhơn (1,9 m/s), Tuy Hòa (2,3 m/s), Nha Trang (2,4 m/s), Cam Ranh (2,8 m/s), tới Phan Thiết (3,2 m/s), tăng dần về phía biển từ Quảng Ngãi (1,2 m/s) tới Lý Sơn (4,4 m/s)

Tốc độ gió lớn nhất trong khoảng 25 - 59 m/s, tăng dần về từ Tam Kỳ (28 m/s), Lý Sơn (34 m/s), Quảng Ngãi (40 m/s) tới Quy Nhơn (59 m/s), rồi giảm mạnh tới Tuy Hòa (44 m/s), Nha Trang (30 m/s), Cam Ranh (28 m/s), tới Phan Thiết (25 m/s)

Hướng thịnh hành (với tần suất trên 10%), tốc độ gió và phân bố thời gian khác nhau rõ rệt giữa các trạm (bảng 7)

- Các hiện tượng thời tiết đặc biệt

Gió Tây khô nóng xuất hiện trong thời gian tháng 3 - 9, chủ yếu vào các tháng 5 - 7, với tổng số ngày trung bình năm đạt 48 ngày Tuy nhiên, thời tiết khô nóng ở đây không cực đoan như ở vùng Bắc Trung bộ

Trong thời gian 1884 - 1977, có tới 403 cơn bão đổ bộ vào vùng bờ biển Việt Nam, trong đó có 24% số cơn bão đổ bộ vào vùng bờ biển Đà Nẵng - ???và 8% - từ Khánh Hòa trở vào (Nguyễn Văn Viết, 1985) Trong thời gian 1956 -

1995, mật độ bão ở khu vực Quảng Trị - Quảng Ngãi đạt 0,37 cơn/1o vĩ riêng Đà

Trang 23

Nẵng - Quảng Nam có mật độ 0,39 cơn/1ovĩ, khu vực Bình Định - Ninh Thuận có

mật độ 0,44 cơn/1ovĩ và khu vực Bình Thuận - Cà Mau có mật độ bão 0,07

cơn/1ovĩ (Lê Văn Thảo, 2001) Tương tự với khu vực Bình - Trị - Thiên, bão chủ

yếu vào tháng 9 - 10, kèm theo mưa lớn dài ngày trên diện rộng, sinh lũ và gây

ngập lụt đồng bằng ven biển và các vùng cửa sông

Bảng 7 So sánh sự khác nhau về gió thịnh hành giữa các trạm trong khu vực

Trạm quan trắc Đà Nẵng Quảng Ngái Tuy Hòa Nha Trang Phan Thiết

Trang 24

Số ngày dông ở vùng này ít hơn vùng Bắc Trung bộ và Bắc bộ Số ngày dông trong khoảng 35,3 - 77,5 ngày/năm, giảm dần về phía nam từ Đà nẵng (74,2 ngày), Tam Kỳ (77,5 ngày), Quảng Ngãi (73,3 ngày), Quy Nhơn (51,9 ngày), Tuy Hòa (41,5 ngày), tới Nha Trang (35,3 ngày) hay Cam Ranh (40,5 ngày) Đặc biệt sương mù và mưa phùn không đáng kể và từ Quy Nhơn trở vào gần như không xuất hiện

2.1.2.4 Vùng duyên hải Nam bộ và đảo

30,9

23,4

38,3

15,3

- Mây và nắng

Trang 25

Mây ở khu vực này thường nhiều hơn so với khu vực Cam Ranh - Phan Thiết và số giờ nắng ít hơn

Lượng mây tổng quan trong khoảng (6,3 - 7,2)/10 bầu trời và lượng mây dưới trong khoảng (4,5 - 5,0)/10 bầu trời Mây nhiều vào các tháng 6 - 10 với lượng mây tổng quan trong khoảng(7,0 - 7,9)/10 bầu trời và mây dưới trong khoảng (5,6 - 6,5)/10 bầu trời

Tổng số giờ nắng trung bình năm trong khoảng 2 279,6 - 2 381,0 giờ Vào các tháng 1 - 4 và 12 ở Cà Mau có trên 200 giờ nắng/tháng, cũng như ở Rạch Giá vào các tháng 1 - 4 và 11 - 12

- Mưa, ẩm và bay hơi

Số ngày mưa trung bình năm trong khoảng 169,6 - 172,7 ngày, tổng lượng mưa trung bình 2130,1 - 2397,1 mm Mùa mưa từ tháng 5 tới tháng 11, mưa nhiều vào các tháng 6 - 10 ở Cà Mau với lượng mưa trên 300 mm/tháng, tương tự

ở Rạch Giá vào các tháng 7 - 8 Phân bố mưa trong năm ở Cà Mau đều hơn ở Rạch Giá Lượng mưa ngày lớn nhất ở Cà Mau chỉ đạt 172,9 mm (tháng 11) trong khi ở Rạch Giá đạt tới 386,7 mm (vào tháng 10)

Độ ẩm tương đối của không khí trung bình trong khoảng 82 - 84%, thấp nhất trung bình trong khoảng 63 - 68% và thấp tuyệt đối trong khoảng 24 - 34%

Độ ẩm không khí thấp dần về phía tây, cao vào các tháng 5 - 11, cao nhất vào tháng 9 - 10 ở Cà Mau, cao vào các tháng 5 - 10, cao nhất vào tháng 9 ở Rạch Giá

Lượng bay hơi trung bình năm trong khoảng 1 080,6 - 1 299,6 Lượng bay hơi trên 100 mm/tháng ở Cà Mau vào các tháng 1 - 4 và ở Rạch Giá vào các tháng 1 - 5 và 11 - 12, cao nhất ở Rạch Giá vào tháng 12 (161,4 mm)

- Gió

Tốc độ gió trung bình năm đạt 1,3 m/s, cao vào các tháng 1 - 3 và 12 ở Cà Mau, trung bình 3,0 m/s, cao vào các tháng 6 - 9 ở Rạch Giá (số liệu quan trắc trong thời gian 1978 - 2003) Tốc độ gió cực đại ở Cà Mau đạt 28 m/s và ở Rạch Giá đạt 40 m/s vào tháng 10 - 11 (số liệu quan trắc trong thời gian 1959 - 2003) Tuy nhiên so với số liệu lịch sử (Nguyễn Văn Viết, 1985) trong thời 1939 -

1971, tốc độ gió cực đại không tương xứng (bảng 9) có thể do biến đổi khí hậu khu vực và đương nhiên khác nhau giữa vùng đảo và duyên hải

ở Cà Mau ít gió nhất, với tần suất lặng tới 35,0 - 62,4%, tần xuất gió nam

và tây bắc thường dưới 5% ở các tháng, tần suất lặng ở Rạch giá chỉ vào khoảng 5,2 - 43,4% và ở Phú Quốc khoảng 5,7 - 25% (bảng 10) Gió tây, đặc biệt là gió tây nam, thịnh hành nhất trong khu vực bởi tần suất lớn, có thể đạt tới trên 50% Nếu tính tần suất trên 10%, các gió này hoạt động trong thời gian dài, các tháng

2 - 10 và tốc độ gió trung bình hướng tây có thể tới 6,2 m/s ở Phú Quốc vào tháng 6

Trang 26

Bảng 9 Tốc độ trung bình V tb (m/s) của gió thịnh hành và tốc độ gió cực đại

V max (m/s) tại một số trạm ven bờ và đảo vùng Nam Bộ

Tháng Trạm Yếu tố

Trang 27

- Các hiện tượng thời tiết đặc biệt

Đây là vùng ít bão nhất nước ta Từ Khánh Hòa trở vào, số cơn bão chỉ chiếm 8% tổng số 403 cơn bão trong thời gian 1884 - 1977 (Nguyễn Văn Viết, 1985), mật độ bão chỉ đạt 0,07 cơn/1o vĩ mỗi năm từ Bình Thuận tới Cà Mau trong thời gian 1956 - 1995 (Lê Văn Thảo, 2001) Mùa bão ở đây vào các tháng

10 - 12, muộn nhất ở nước ta Trong thời gian 1955 - 1985, có 12 cơn bão hay trong thời gian 1968 - 1988 chỉ có 9 cơn bão hoạt động, trong đó có bão Thelma (10/1968), Hester (10/1968), Ruth (11/1970), Nora (11/1970), Thelma (11/1973), Mamie (11/1981), Nina (11/1983), Lucy (11/1985) hay Kate (11/1988)

Tuy ít bão nhưng nhiều dông nhất nước ta Hàng năm có trung bình 116,8 ngày dông ở Cà Mau, 97,8 ngày dông ở Rạch Giá Các hiện tượng mưa phùn, sương muối, mưa đá hầu như không xuất hiện, mỗi năm chỉ có 2,2 ngày sương

mù ở cà Mau, 0,1 ngày sương mù ở Rạch Giá

2.2 Đặc điểm thuỷ văn

2.2.1 Phân bố vũng - vịnh theo vùng thủy văn

Theo các đặc trưng địa lý thủy văn lục địa, lãnh thổ Việt Nam có thể được phân biệt thành 9 vùng (Nguyễn Lập Dân và nnk, 1999), trong đó có 7 vùng liên

Trang 28

quan tới vùng bờ biển Việt Nam, 4 vùng liên quan tới hệ thống vũng - vịnh ven

bờ biển Việt Nam, bao gồm:

(1) - Vùng ven biển Quảng Ninh, nơi các vũng - vịnh Tiên Yên - Hà Cối, Bái Tử Long, Hạ Long, Lan Hạ, v.v

(2) - Vùng đồi núi thấp Thanh Hóa - Nghệ An, nới có chế độ thuỷ văn ảnh hưởng tới vịnh Diễn Châu, vụng Nghi Sơn, Quỳnh Lưu, v.v

(3) - Vùng sườn đông Trường Sơn, nơi có chế độ thuỷ văn ảnh hưởng tới các vũng - vịnh từ Vũng áng (Hà Tĩnh) tới các vũng - vịnh thuộc Phú Khánh

(4) - Vùng khô Thuận Hải, nơi có chế độ thuỷ văn ảnh hưởng tới các vũng - vịnh thuộc Phan Rang - Phan Thiết

Theo chế độ lớn triều, vũng - vịnh ven bờ biển Việt Nam có mặt ở các vùng

có độ lớn triều từ lớn tới nhỏ, trong đó có 14 vũng - vịnh chịu ảnh hưởng của triều lớn (macrotide, độ lớn triều trên 4m), 3 vũng - vịnh chịu ảnh hưởng của triều vừa (mesotide, độ lớn triều trong khoảng 2 - 4m) và 31 vũng - vịnh chịu ảnh hưởng của triều nhỏ (microtide, độ lớn triều dưới 2m)

Theo tính chất triều, vũng - vịnh ven bờ biển Việt Nam có mặt ở những khu vực có tính chất triều khác nhau, cả nhật triều và bán nhật triều, đều và không

đều:

- Vùng bờ biển Quảng Ninh - Thanh Hóa: nhật triều đều, độ lớn triều giảm dần vùng bờ biển về phía nam, mực nước trung bình 2,06m tại Hòn Gai, 1,86m tại Hòn Dấu, mực nước lớn nhất 4,2m ở Hòn Gai và 3,6m ở Hòn Dấu

- Vùng bờ biển Nghệ An - Quảng Trị: nhật triều không đều, mực nước trung bình 1,71m ở Cửa Hội, 1,07m ở Cửa Gianh, mực nước lớn nhất 3,0m ở Cửa Hội và 1,9m ở Cửa Gianh

- Vùng bờ biển Quảng Trị - Quảng Nam: bán nhật triều không đổi, mực nước trung bình 0,6m ở Cửa Việt, 0,9m ở Đà Nẵng, mực nước lớn nhất 1,0m ở Cửa Việt, 0,7m ở cửa Thuận An và 1,6m ở Đà Nẵng

- Vùng bờ biển Quảng Ngãi - Khánh Hòa: nhật triều không đều, mực nước trung bình 1,25m và lớn nhất 2,2m ở Quy Nhơn

- Vùng bờ biển Ninh Thuận - Cà Mau: bán nhật triều không đều, mực nước trung bình 2,24m, lớn nhất 4,6m ở Vũng Tầu

- Vùng bờ biển Cà Mau - Kiên Giang: nhật triều tương đối đều, mực nước trung bình 0,8m và cực đại 1,6m ở Hà Tiên

2.2.2 Đặc điểm thuỷ văn

2.2.2.1 Các vũng - vịnh ven bờ đông bắc Việt Nam

- Thủy văn sông

Trang 29

Hệ thống các sông Đông bắc Quảng Ninh tuy có lưu lượng nhỏ, ngắn và

dốc nhưng ảnh hưởng trực tiếp tới các vũng - vịnh như Tiên Yên - Hà Cối, Bái

Tử Long, Hạ Long, Cửa Lục và ở chừng mực nào đó ảnh hưởng gián tiếp tới vịnh

Lan Hạ và vụng Cô Tô

Đổ vào vịnh Tiên Yên - Hà Cối có các sông Tín Coóng, Hà Cối, Đầm Hà,

Cái Xương, Hà Thanh, Tiên Yên và Ba Chẽ, trong đó lớn nhất là sông Tiên Yên

và Ba Chẽ, với tổng diện tích lưu vực các sông đạt 2 651 km2 Lưu lượng trung

bình của sông Hà Cối (trạm Tài Chi) đạt 7,4 m3/s và của sông Tiên Yên (trạm

Bình Liêu) đạt 22,1 m3/s Lưu lượng phù sa (lơ lửng) của sông Tiên Yên (trạm

Bình Liêu) đạt 1,69 kg/s

Sông Tiên Yên bắt nguồn từ độ cao 1 175m, dài 82 km, chiều dài lưu vực

65 km, diện tích lưu vực 1 070 km2, độ cao trung bình của lưu vực 371m, độ dốc

trung bình 28,1%, rộng trung bình 16,4m, có 7 phụ lưu chính, mật độ lưới sông

1,34 km/km2, độ uốn khúc 2,48, lưu lượng lũ (tháng 6 - 10) 42,1 m3/s, modun lũ

83 l/s/km2, tổng thuỷ lượng mùa lũ 0,556 x 109m3 (chiếm 79,88% tổng thuỷ

lượng năm), lưu lượng mùa kiệt 7,58 m3/s, tổng thủy lượng mùa kiệt

0,140x109m3, modun mùa kiệt 15,5l/s/km2, tổng thủy lượng năm 0,696x109m3,

tổng lượng bùn cát lơ lửng 0,052 x 106 tấn hàng năm (trạm Bình Liêu)

Sông Ba Chẽ đổ vào phần tây nam vịnh Tiên Yên - Hà Cối, cùng với 2 sông

nhỏ Đồng Mỏ và Mông Dương đổ vào vịnh Bái Tử Long qua lạch Cửa Ông Hai

sông nhỏ này không đáng kể với tổng diện tích lưu vực chỉ đạt 151 km2 Về mùa

lũ (tháng 6 - 10), ảnh hưởng của các sông này tới vịnh Bái Tử Long cũng không

lớn, chế độ triều ở Cửa Ông vẫn thống trị

Các sông đổ vào vụng Cửa Lục và vịnh Hạ Long gồm sông Trới, sông man

và sông Diên Vọng với tổng diện tích lưu vực 533 km2, trong đó lớn nhất là sông

Diên Vọng với tổng thủy lượng năm đạt 0,092 x 109m3 và tổng tải lượng phù sa

0,0125 x 106 tấn Sông Yên Lập đổ vào phía tây vịnh Hạ Long cũng là sông nhỏ,

chiều dài 32 km, diện tích lưu vực 182 km2 với tổng thuỷ lượng năm đạt 0,088 x 109m3 và tổng tải lượng 0,008 x 106 tấn

Trong số các vũng - vịnh ven bờ đông bắc Việt Nam, vịnh Tiên Yên - Hà

Cối và Cửa Lục chịu ảnh hưởng nhiều nhất của chế độ thuỷ văn lục địa theo mùa

Trên thực tế, các vùng cửa sông hình phễu cũng phát triển ở các vịnh này Chịu

ảnh hưởng ít nhất của nước lục địa là vụng Cô Tô và vịnh Lan Hạ (Cát Bà)

- Hải văn

Các vũng - vịnh ven bờ Đông bắc Việt Nam chịu ảnh hưởng chung của chế

chế độ hải văn vùng bờ biển Quảng Ninh - Thanh Hóa Độ cao sóng trung bình

năm đạt 0,78m, độ cao sóng lớn nhất các tháng trong khoảng 2,2 - 4,9m

(Nguyễn Văn Viết, 1985) Hướng sóng hợp với trường gió hoạt động theo mùa

Độ cao sóng trung bình các hướng đông bắc về mùa đông và nam, tây nam về

mùa hè thường lớn hơn các hướng khác nhưng độ cao sóng lớn nhất có hướng

nam và đông nam về mùa hè Do có đảo chắn, sóng trong các vịnh Tiên Yên -

Hà Cối, Bái Tử Long, Hạ Long hay Cửa Lục không lớn, không quá 1,5m Ngay

Trang 30

cả vụng Cô Tô hay vịnh Lan Hạ, độ cao sóng lớn nhất cũng chỉ vào khoảng 2,0 -

2,5m do ảnh hưởng của địa hình bờ và đáy

Khác với sóng, dòng chảy trong các vịnh Tiên Yên - Hà Cối, Bái Tử Long,

Hạ Long và Cửa Lục khá lớn do kết hợp giữa dòng chảy sông và dòng triều, đặc

biệt khi triều rút, tốc độ dòng chảy có thể tới 1,3 m/s ở Cửa Lục, 0,9 m/s ở vịnh

Bái Tử Long, Cửa Vạn, Cửa Mô Trong điều kiện hải văn bình thường, tốc độ

dòng chảy tầng mặt trong vịnh Bái Tử Long cũng đạt tới 0,6 m/s lúc triều rút

Thủy triều là yếu tố động lực biển thống trị ở khu vực với độ lớn triều lớn

nhất nước ta, cực đại trên 4m Mực nước lớn nhất 4,2m và trung bình 2,06m ở

Hòn Gai, tương tự 3,6m và 1,8m ở Hòn Dấu Độ lớn triều và tính thuần nhất của

thủy triều giảm dần về phía nam: nhật triều đều từ Quảng Ninh tới Thanh Hóa,

nhật triều không đều từ Thanh Hóa tới Quảng Trị, v.v

Theo dự báo (Phạm Văn Ninh và nnk, 1991) và số liệu quan trắc tại các

trạm khí tượng - thuỷ văn ven bờ, nước dâng trong bão tại khu vực này không lớn

(lớn nhất ở giữa bờ tây Vịnh Bắc Bộ, 3m, tương ứng với vùng bờ biển Thanh Hóa

- Hà Tĩnh), cực đại dưới 1,5m Trong thời gian 1966 - 1996, độ cao nước dâng

trong bão tại vùng bờ biển Hải Phòng trong khoảng 0,24 - 1,94m Theo quy luật,

độ cao nướ dâng đồng thời ở vùng bờ biển Quảng Ninh nhỏ hơn Các hiện tượng

thuỷ văn bất thường liên quan tới vũng - vịnh không gây ảnh hưởng lớn về kinh

tế - xã hội như những vùng khác do sông ngắn và dốc đã hạn chế nhiễm mặn về

mùa khô, không gây ngập lụt, thoát lũ nhanh về mùa mưa, đảo chắn và đảo trong

vịnh đã hạn chế đáng kể tác động của sóng lớn, v.v

2.2.2.2 Các vũng - vịnh ven bờ Bắc Trung bộ

Các vũng - vịnh ven bờ được kiểm kê bao gồm vụng Nghi Sơn, Quỳnh Lưu,

Diễn Châu, Vũng áng và Chân Mây

- Thủy văn sông

Tất cả các sông đổ vào các vũng - vịnh nói trên đều nhỏ không đáng kể, lớn

nhất là sông Bùng đổ vào vịnh Diễn Châu với chiều dài 48 km và diện tích lưu

vực 753 km2 và nhỏ nhất là sông Bu Lu đổ vào vịnh Chân Mây với chiều dài

17 km và diện tích lưu vực 118 km2

- Hải văn

Độ cao trung bình của sóng trong năm từ Nghệ An tới Thừa Thiên Huế đạt

0,86m Độ cao sóng trung bình lớn nhất vào các tháng mùa đông (tháng 1; 9 -

12) và có hướng đông bắc Độ cao sóng lớn nhất theo các hướng trong khoảng

3 - 4m, lớn nhất là sóng đông bắc vào các tháng 1 và 12

Do tính chất hở của vũng - vịnh, đường bờ tương đối thẳng và vùng bờ biển

giàu bồi tích cát, sóng là động lực thống trị trong các vũng - vịnh, bờ biển đang ở

giai đoạn san bằng tích tụ bởi đồng thời cơ chế phá hủy mũi nhô đá gốc và tích

tụ cát ven bờ Thực tế, bờ sau vũng - vịnh chủ yếu cấu tạo bằng các dạng tích tụ

cát bờ rời do sóng di chuyển ngang và dòng bồi tích dọc bờ Các sông đổ vào

Trang 31

vũng - vịnh đều nhỏ không đáng kể và độ lớn triều giảm dần về phía Thừa Thiên Huế đã cho thấy rõ hơn vai trò thống trị của sóng

2.2.2.2 Các vũng - vịnh ven bờ Nam Trung bộ

Vùng này bao gồm các vũng - vịnh từ Đà Nẵng (vịnh Đà Nẵng) tới Bình Thuận (vịnh Phan Thiết)

- Thủy văn sông

Các sông đổ vào vũng - vịnh ven bờ biển Nam Trung bộ tương đối lớn, phần lớn thuộc kiểu vùng cửa sông châu thổ như sông Hàn đổ vào vịnh Đà Nẵng, sông Côn đổ vào Đầm Thị Nại và vụng Làng Mai, sông Cái đổ vào vịnh Nha Trang hay sông Lũy đổ vào vịnh Phan Rí, và một số vùng cửa sông liman, điển hình trong đó là vùng cửa sông Cu Đê đổ vào vịnh Đà Nẵng Mặc dù sông tương đối lớn, giữ vai trò đáng kể làm biến dạng bờ và đáy nhưng động lực biển (sóng) vẫn thống trị

Lưu lượng bình quân cả năm của các sông trong khoảng 10 - 100 m3/s và phân bố không đều: lượng chảy mùa lũ tập trung trong thời gian ngắn (các tháng

10 - 12) nhưng chiếm 75 - 80% tổng lượng chảy cả năm Đặc điểm này là một trong những nguyên nhân sinh hạn về mùa khô, sinh lũ và ngập lụt đồng bằng ven bờ vũng - vịnh về mùa mưa

Sông Cu Đê là đoạn hạ lưu dài 38 km của 2 sông (phụ lưu): sông Bắc (dài

23 km) và sông Nam (dài 47 km), với tổng diện tích lưu vực 426 km2 Sông này

có lưu lượng bình quân mùa kiệt 2,7 m3/s, mùa lũ 26,73 m3/s, cả năm đạt 10,96

m3/s; tổng thủy lượng mùa kiệt 56,75 x 106m3, mùa lũ 283,36 x 106m3 và cả năm

đạt 340,11 x 106m3

Sông Hàn chảy qua thành phố Đà Nẵng và đổ vào vịnh Đà Nẵng là phần hạ lưu của sông Vu Gia và sông Yên Sông Hàn có chiều dài cơ bản 204 km và tổng diện tích lưu vực 5 180 km2 Lưu lượng bình quân mùa kiệt đạt 65 m3/s, mùa lũ

265 m3/s và cả năm đạt 105 m3/s; tổng thuỷ lượng mùa kiệt 1 190 x 106m3, mùa

lũ 2 123 x 106m3 và cả năm đạt 3 313 x 106m3

Sông Côn (đổ vào Đầm Thị Nại và vịnh Làng Mai) dài 171 km, có diện tích lưu vực 2 980 km2, lưu lượng lũ (tháng 10 - 12) 198 m3/s, tổng thủy lượng lũ 1,58 x 109m3, lưu lượng kiệt 26,2 m3/s, tổng thủy lượng kiệt 0,66 x 109m3, tổng thuỷ lượng năm 2,24 x 109m3 (trạm Bình Tường)

Sông Cái (đổ vào vịnh Nha Trang) dài 79 km, có diện tích lưu vực 1 900

km2, lưu lượng mùa lũ (tháng 10 - 12) đạt 168 m3/s, tổng thuỷ lượng mùa lũ 1,34

x 109m3, lưu lượng mùa kiệt 40,1 m3/s, tổng thủy lượng mùa kiệt 0,935 x 109m3, tổng thuỷ lượng năm đạt 2,27 x 109m3 (trạm Đồng Trăng)

Sông Lũy (đổ vào vịnh Phan Rí) dài 98 km, có diện tích lưu vực 1 910 km2, lưu lượng mùa lũ (tháng 11 - 12) đạt 40,5 m3/s, tổng thuỷ lượng mùa lũ 0,319 x

109m3, lưu lượng mùa kiệt 7,59 m3/s, tổng thủy lượng mùa kiệt 0,180 x 109m3, tổng thuỷ lượng năm đạt 0,5 x 109m3

Ngày đăng: 18/12/2013, 00:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3. Phân vùng khí hậu lãnh thổ Việt Nam - Tổng quan về hệ thống vũng vịnh ven bờ biển việt nam
Bảng 3. Phân vùng khí hậu lãnh thổ Việt Nam (Trang 14)
Bảng 4. Tốc độ gió trung bình (m/s) và hướng thịnh hành - Tổng quan về hệ thống vũng vịnh ven bờ biển việt nam
Bảng 4. Tốc độ gió trung bình (m/s) và hướng thịnh hành (Trang 16)
Bảng 5. Tần suất gió P (%) và tốc độ trung bình V (m/s) theo hướng tại Huế theo - Tổng quan về hệ thống vũng vịnh ven bờ biển việt nam
Bảng 5. Tần suất gió P (%) và tốc độ trung bình V (m/s) theo hướng tại Huế theo (Trang 19)
Bảng 6. So sánh l−ợng m−a và l−ợng bay hơi trung bình năm (mm) - Tổng quan về hệ thống vũng vịnh ven bờ biển việt nam
Bảng 6. So sánh l−ợng m−a và l−ợng bay hơi trung bình năm (mm) (Trang 21)
Bảng 7. So sánh sự khác nhau về gió thịnh hành giữa các trạm trong khu vực - Tổng quan về hệ thống vũng vịnh ven bờ biển việt nam
Bảng 7. So sánh sự khác nhau về gió thịnh hành giữa các trạm trong khu vực (Trang 23)
Bảng 8. Đặc tr−ng nhiệt độ không khí ( o C) tại các trạm ven bờ Nam bộ và đảo - Tổng quan về hệ thống vũng vịnh ven bờ biển việt nam
Bảng 8. Đặc tr−ng nhiệt độ không khí ( o C) tại các trạm ven bờ Nam bộ và đảo (Trang 24)
Bảng 9. Tốc độ trung bình V tb (m/s) của gió thịnh hành và tốc độ gió cực đại - Tổng quan về hệ thống vũng vịnh ven bờ biển việt nam
Bảng 9. Tốc độ trung bình V tb (m/s) của gió thịnh hành và tốc độ gió cực đại (Trang 26)
Bảng 10. Đặc tr−ng gió - tần suất lặng P l  (%), tần suất (&gt; 10%) theo h−ớng P (%)  tốc độ trung bình V (m/s) trong khoảng thời gian T (tháng) ở một số trạm                duyên hải và đảo Nam bộ quan trắc trong thời gian 1976 - 2003 - Tổng quan về hệ thống vũng vịnh ven bờ biển việt nam
Bảng 10. Đặc tr−ng gió - tần suất lặng P l (%), tần suất (&gt; 10%) theo h−ớng P (%) tốc độ trung bình V (m/s) trong khoảng thời gian T (tháng) ở một số trạm duyên hải và đảo Nam bộ quan trắc trong thời gian 1976 - 2003 (Trang 26)
Bảng 11. Diện tích và dân số các tỉnh, huyện liên quan tới hệ thống                            vũng - vịnh ven bờ biển Việt Nam tính tới tháng 4 năm 1999 - Tổng quan về hệ thống vũng vịnh ven bờ biển việt nam
Bảng 11. Diện tích và dân số các tỉnh, huyện liên quan tới hệ thống vũng - vịnh ven bờ biển Việt Nam tính tới tháng 4 năm 1999 (Trang 37)
Bảng 12. Phân bố các hệ sinh thái liên quan tới các đơn vị                                        cấu trúc hình thái vũng - vịnh ven bờ biển Việt Nam - Tổng quan về hệ thống vũng vịnh ven bờ biển việt nam
Bảng 12. Phân bố các hệ sinh thái liên quan tới các đơn vị cấu trúc hình thái vũng - vịnh ven bờ biển Việt Nam (Trang 46)
Bảng 13. Thành phần khu hệ (số loài) sinh vật biển ở một số vũng - vịnh tiêu biểu - Tổng quan về hệ thống vũng vịnh ven bờ biển việt nam
Bảng 13. Thành phần khu hệ (số loài) sinh vật biển ở một số vũng - vịnh tiêu biểu (Trang 48)
Bảng 14. Khách du lịch nội địa và quốc tế đến các tỉnh ven biển                                   trong thời gian 1995 - 2003 (Viện nghiên cứu phát triển du lịch, 2004) - Tổng quan về hệ thống vũng vịnh ven bờ biển việt nam
Bảng 14. Khách du lịch nội địa và quốc tế đến các tỉnh ven biển trong thời gian 1995 - 2003 (Viện nghiên cứu phát triển du lịch, 2004) (Trang 54)
Bảng 15. Công cụ và đối t−ợng nuôi theo các đơn vị cấu trúc hình thái, - Tổng quan về hệ thống vũng vịnh ven bờ biển việt nam
Bảng 15. Công cụ và đối t−ợng nuôi theo các đơn vị cấu trúc hình thái, (Trang 56)
Bảng 16. Giá trị sử dụng của vũng - vịnh ven bờ biển vào mục đích phòng thủ bờ biển - Tổng quan về hệ thống vũng vịnh ven bờ biển việt nam
Bảng 16. Giá trị sử dụng của vũng - vịnh ven bờ biển vào mục đích phòng thủ bờ biển (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w