1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài nguyên thiên nhiên vũng vịnh trọng điểm bái tử long và chân mây

112 378 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tài Nguyên Thiên Nhiên Vũng, Vịnh Trọng Điểm Bái Tử Long Và Chân Mây
Tác giả Đỗ Công Thung, Đàm Đức Tiến, Nguyễn Đăng Ngải, Lê Thị Thúy, Nguyễn Thị Thu, Nguyễn Thị Minh Huyền, Trần Mạnh Hà
Người hướng dẫn TS. Trần Đức Thạnh, TS. Mai Trọng Thông, TS. Đỗ Công Thung
Trường học Viện Khoa Học Và Công Nghệ Việt Nam
Thể loại Báo cáo tổng kết chuyên đề
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 6,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhìn chung biên độ dao động ngày đêm của nhiệt độ ít thay đổi trong năm, nhưng cũng có một thời kỳ nhiệt độ dao động ít nhất đó là vào các tháng ẩm ướt cuối mùa đông I-III, biên độ ngày

Trang 1

_

Đề tài cấp Nhà nước KC 09 - 22

Đánh giá hiện trạng, dự báo biến động

và đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên một số vũng - vịnh chủ yếu

ven bờ biển Việt Nam

Chủ nhiệm: TS Trần Đức Thạnh Phó chủ nhiệm: TS Mai Trọng Thông

TS Đỗ Công Thung Thư ký: TS Nguyễn Hữu Cử

báo cáo tổng kết chuyên đề

tài nguyên thiên nhiên vũng, vịnh trọng điểm

bái tử long và chân mây

Thực hiện: đỗ công thung, đàm đức tiến, nguyễn đăng ngải,

lê thị thúy, nguyễn thị thu, nguyễn thị minh huyền,

Trang 2

2.1.4 Kết quả nghiên cứu một số nhóm sinh vật điển hình 11

3.1.3 Giá trị tài nguyên đất và cảnh quan tự nhiên 38

Trang 3

Tài nguyên thiên nhiên hai vũng vịnh trọng điểm

1 Mở đầu

Các vũng vịnh chủ yếu của Việt Nam gồm vịnh Đầm Hà- Hà Cối với diện tích

37800 ha, Đồng Rui (6000 ha), Cô Tô (2250 ha), Quán Lạn (10500 ha), Bái Tử Long (56000), Hạ Long (8000 ha), Cửa Lục (2700 ha), Lan Hạ (3300 ha), Diễn Châu (237 ha), Chân Mây (700 ha), Đà Nẵng (11600 ha), Dung Quất (6070 ha), Văn Phong (45270 ha), Nha Trang (2250 ha), Phan Rí (13500 ha), Phan Thiết (28710 ha), vụng Mũi Cà Mau (12380 ha) Các kết quả nghiên cứu cho thấy mặc dù diện tích vũng vịnh chỉ bằng 1,4 % diện tích đất liền và 0,44 % diện tích vùng biển nhưng lại đóng vai trò trọng điểm trong phát triển kinh tế các tỉnh miền Duyên Hải Vũng vịnh chính là cửa thông ra biển, là nơi tập trung của nhiều đô thị lớn vì vậy ngoài ý nghĩa kinh tế vũng vịnh còn đóng vai trò quan trọng về an ninh và quốc phòng Để sử dụng hợp lý vũng vịnh thì cần phải hiểu rõ bản chất của tài nguyên thiên nhiên và khu hệ sinh vật cũng như khả năng diễn thế của chúng là hết sức quan trọng Vịnh Bái Tử Long và Vịnh Chân Mây là hai vịnh điển hình cho vùng phía Bắc

và miền Trung Việt Nam , có ý nghĩa rất lớn cho việc phát triển kinh tế của khu vực Trong hai năm 2004 - 2005, đề tài KC09-22 đã tổ chức nhiều cuộc khảo sát về tài nguyên của hai Vịnh này Báo cáo được trình bày dưới đây là tập hợp các kết quả nghiên cứu của đề tài trong hai năm qua và sử dụng số liệu nghiên cứu trong nhiều năm của nhiều thế hệ các nhà khoa học;

Hy vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ bản chất của vũng vịnh ven bờ Việt Nam Đặc biệt là bản

chất tài nguyên của hai Vịnh này

được hệ thống đảo che chắn bảo vệ, đảm bảo sự phát triển an toàn nhất Chính vì vậy

vị thế quan trọng trong an ninh quốc phòng, phát triển kinh tế và giao thông vận tải biển của vịnh Bái Tử Long là điều rất hiển nhiên và cũng là thế mạnh của vịnh Bái Tử Long

2.1.2 Tài nguyên phi sinh vật

Vịnh Bái Tử Long có diện tích mặt nước 560km2 cách thị xã Cẩm Phả 1km trải dài từ 107o07’ đến 107o42’ độ kinh Đông và 20o52’ đến 21o17’ độ vĩ Bắc Có 4 trên tổng số 15 sông có chiều dài lớn hơn 10km thuộc địa phận Quảng Ninh đổ ra vịnh Bái

Tử Long là sông Tiên Yên, sông Ba Chẽ, sông Mông Dương và sông Đồng Mỏ Vịnh Bái Tử Long thuộc ranh giới quản lý hành chính của hai huyện là Cẩm Phả và huyện

Trang 4

Vân Đồn và bị chia cắt bởi các dãy núi thuộc cánh cung Đông Triều và phần đảo nhỏ thuộc vịnh Bái Tử Long Do đặc thù địa hình chủ yếu là đồi núi và phần biển của Vịnh Bái Tử Long, nên đặcc điểm nổi bật của tài nguyên phi sinh vật là các cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ với nhiều hang động đẹp rất lợi thế cho phát triển du lịch, nuôi trồng thuỷ sản và bảo tồn thiên nhiên

• Khí hậu

Khí hậu được coi kà dạng tài nguyên đặc biệt của Vịnh Bái Tử Long Theo phân vùng khí hậu, vịnh Bái Tử Long nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa

đông lạnh thuộc vùng khí hậu duyên hải vùng núi Đông bắc nước ta Đặc trưng cơ bản

là có chế độ bức xạ dồi dào, và một sự phân hoá theo mùa rõ rệt phụ thuộc vào sự thay

đổi theo mùa của hệ thống hoàn lưu quy mô lớn Khí hậu vừa mang tính chất của miền

ôn đới, vừa mang tính chất của miền nhiệt đới đồng thời mang tính chất của biển và lục

địa Mùa đông chịu sự khống chế của gió mùa đông bắc và mùa hạ là gió mùa Tây Nam có tính chất xích đạo hay nhiệt đới

- Bức xạ tổng cộng trung bình năm là 106,5 Kcal/cm2 Từ tháng I đến tháng IV

là thời kỳ cực tiểu của bức xạ tổng cộng, với tổng lượng bức xạ tháng trong khoảng 6,6 Kcal/cm2/tháng Từ tháng V đến tháng IX là thời kỳ có bức xạ tổng cộng lớn nhất trong năm, với tổng lượng bức xạ đạt trên 10 Kcal/cm2 Lượng mây tổng quan trung bình năm chiếm khoảng7/10 bầu trời Mây nhiều trong những tháng vào cuối mùa

5-đông, tháng II, III, IV, lượng mây trong các tháng này thường từ 8-9/10 bầu trời Ngược lại với biến đổi của mây là số giờ nắng So với các vũng vịnh khác thì đây là khu vực có ít nắng Tổng số giờ nắng năm dao động trong khoảng 1534-1812 giờ Trong đó hai tháng ít nắng nhất là tháng II, III (cũng là các tháng có nhiều mây nhất), trung bình có 43-58 giờ nắng/tháng Trong suốt mùa hạ từ tháng V đến tháng IX, X

đều có nhiều nắng, thường có trên 150 giờ nắng/tháng

- Hoàn lưu gió mùa và chế độ gió: Vịnh Bái Tử Long nằm trong hệ thống gió mùa châu á, và đồng thời cũng chịu tác động của đới tín phong, thứ gió đặc trưng cho vùng nội chí tuyến Gió mùa mùa đông bị chi phối bởi tác động giao tranh giữa hai hệ thống gió mùa từ áp cao Xibia và gió mùa tín phong từ áp cao phụ biển Đông Trung Hoa Hai

hệ thống này khi thì tác động luân phiên xen kẽ, khi thì đồng thời tác động đã gây nên tình trạng biến động khá mạnh mẽ của thời tiết trong mùa Hệ thống gió mùa từ áp cao cực đới chiếm ưu thế vào các tháng giữa mùa đông, lấn át hẳn hệ thống tín phong Trái lại vào những tháng đầu và cuối mùa đông hệ thống tín phong lại vượt lấn át hệ thống cực đới Do đó trong thời kỳ mùa đông thời tiết thường có những giai đoạn lạnh (khô hay ẩm) đặc trưng cho gió mùa cực đới xen kẽ với những ngày nóng ấm đặc trưng của thời tiết tín phong Mùa đông tần suất gió Đông bắc chiếm trên 50% Vào thời kỳ mùa

hè Vào mùa hè thịnh hành gió Nam với tần suất 32,2% (tháng VII) Tiếp đến là gió có hướng Tây nam và Đông nam Trong những tháng chuyển mùa (tháng IV và tháng X) chủ yếu thịnh hành gió Đông bắc và gió Đông Nhìn chung ở hệ thống vũng vịnh vùng

Đông bắc có tốc độ gió không lớn Tuỳ thuộc vào địa hình khu vực và khoảng cách so với bờ mà tốc độ gió có những giá trị rất khác nhau ở những khu vực thoáng và càng cách xa bờ tốc độ gió càng lớn Tốc độ gió hầu như không thay đổi quanh năm, trung bình 3-4,3m/s và ít có gió mạnh trừ gió bão Tốc độ gió mạnh nhất trong bão có thể đạt 40-47m/s

Trang 5

- Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí trung bình năm khoảng từ 22,8oC Mùa đông (từ tháng XII đến tháng III năm sau) nhiệt độ trung bình xuống dưới 20oC Tháng lạnh nhất trong năm là tháng I với nhiệt độ trung bình tháng dao động từ 15,2-15,5oC Nhiệt độ thấp nhất có thể xuống tới 4,4oC Mùa nóng kéo dài 5 tháng, từ tháng V đến tháng IX, với nhiệt độ không khí trung bình trong dao động trong khoảng từ 26,2-28,6oC Trong mùa nóng chỉ gặp 1 hoặc 2 ngày có nhiệt độ cao vượt quá 35oC Biên độ dao động ngày đêm của nhiệt độ tương đối nhỏ do ảnh hưởng điều hoà của biển Trung bình năm dao động trong khoảng 4,5-6oC Nhìn chung biên độ dao động ngày đêm của nhiệt độ ít thay đổi trong năm, nhưng cũng có một thời kỳ nhiệt độ dao động ít nhất đó là vào các tháng

ẩm ướt cuối mùa đông (I-III), biên độ ngày chỉ vào khoảng 4-4,8oC

- Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí tương đối trung bình năm vào khoảng 83-84% Thời kỳ đầu mùa đông là thời kỳ khô nhất trong năm do thời gian này thịnh hành gió mùa mùa đông với những khối khí có nguồn gốc lục địa lạnh và khô, độ ẩm thường xuống dưới 80% Tháng cực tiểu là tháng XI, độ ẩm chỉ vào khoảng 76%

- Mưa: Mưa trong khu vực phong phú cả về lượng mưa và số ngày mưa Lượng mưa trung bình năm dao động trong khoảng 1696 - 2200mm với 130-140 ngày mưa/năm Mùa mưa bắt đầu vào tháng V và kết thúc vào tháng X, kéo dài 6 tháng Cực đại của lượng mưa rơi vào tháng VIII với lượng mưa trung bình khoảng 400-500mm/tháng Những trận mưa lớn ở đây thường gặp khi có bão Lượng mưa ngày lớn nhất có thể đạt tới trên 300-400mm Lượng mưa mùa mưa chiếm 86-91% tổng lượng mưa năm Thời

kỳ mùa đông thường ít mưa, trong đó tháng XII và tháng I là hai tháng có lượng mưa thấp nhất, lượng mưa trung bình tháng khoảng 20mm/tháng với từ 5-10 ngày mưa Các tháng tiếp theo trong mùa ít mưa (II, III, IV) tuy lượng mưa không tăng đáng kể nhưng

số ngày mưa tăng gần gấp đôi, trung bình từ 10-17 ngày mưa/tháng do mưa trong thời gian này chủ yếu là mưa phùn, lượng mưa không lớn nhưng nó gây nên một tình trạng thời tiết ẩm ướt kéo dài trong nhiều ngày

- Các hiện tượng thời tiết đặc biệt: Vịnh Bái Tử Long nằm trong khu vực có tần suất bão xuất hiện nhiều nhất so với các vùng khác, chiếm 26,7% Trong khoảng 51 năm (1954-2004) có 84 cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới đổ bộ trực tiếp hoặc tiếp cận vùng bờ biển này, trung bình mỗi năm có 1,6 cơn Dông cũng là một hiện tượng thời tiết khá nguy hiểm cho các hoạt động trên biển Dông thường kết hợp với mưa to và gió lớn Những cơn dông mạnh xảy ra thường đi kèm với hiện tượng lốc, tố và gió dật gây nguy hiểm cho tàu thuyền trên biển Mùa dông thường trùng với mùa gió mùa mùa hạ, bắt

đầu từ tháng IV và kết thúc vào tháng X Hàng năm trung bình có khoảng 66-68 ngày dông Những tháng đầu và cuối mùa dông trung bình có 3-5 ngày dông/tháng Vào những tháng đầu mùa dông thường có tính hệ thống liên quan đến hoạt động của front Sương mù trung bình hàng năm có 24-31 ngày sương mù Sương mù xuất hiện từ tháng

XI đến tháng V năm sau, nhưng suất hiện nhiều từ tháng I đến tháng IV, trung bình mỗi tháng có 4-10 ngày sương mù và xuất hiện nhiều nhất vào tháng III Sương mù thường đậm đặc hơn trong buổi sáng Trong những ngày có sương mù tầm nhìn bị hạn chế đáng kể, gây khó khăn cho giao thông vận tải trên biển Mưa phùn là hiện tượng phổ biến xuất hiện trong các tháng cuối mùa đông ở khu vực này Hàng năm quan sát

được 12-18 ngày mưa phùn, đây là loại mưa phùn có hệ thống kèm theo front cực đới sau mỗi đợt gió mùa Đông bắc tràn về hoặc khi kết thúc những đợt gió mùa Tháng II

và III là các tháng có nhiều mưa phùn nhất, trung bình mỗi tháng có 4-6 ngày mưa phùn

Trang 6

• Tài nguyên đất

Xét về đặc điểm, tính chất thổ nhưỡng cho thấy đất đai phổ biến là loại đất

feralit màu xám, xám đen hoặc vàng phát triển trên đá mẹ sa phiến thạch, cuội kết

thạch anh và đá granit Nhìn chung đất nông nghiệp là đất thịt nhẹ, pha cát, tầng đất

mỏng, độ phì thấp chủ yếu hạng đất 5 - 6 - 7 Đất đai khu vực Bái Tử Long nằm trong

ranh giới hành chính thuộc hai huyện Cẩm Phả và Vân Đồn Theo thống kê năm 2003,

tổng diện tích đất đai của hai huyện này vào khoảng 87553 ha, trong đó, huyện Cẩm

Phả có 33574 ha và Vân Đồn là 53973 ha Phân tích tỷ mỉ cơ cấu sử dụng đất cho thấy

khả năng đất để phát triển nông nghiệp chỉ chiếm 1,6 %, diện tích đất có rừng bao phủ

chiếm tới 44,4 %, còn lại khoảng 49 % là diện tích mặt nước và sông suối Với cơ cấu

đất đai như vậy, rõ ràng vấn đề nông nghiệp ở Bái Tử Long được coi là thứ yếu, lâm

nghiệp, thuỷ sản và du lịch sẽ là thế mạnh của khu vực (bảng 1)

• Cảnh quan thiên nhiên

Khu vực vịnh Bái Tử Long vốn là một đồng bằng thung lũng sông cổ bị ngập chìm

với nhiều luồng lạch, các dạng đáy cứng, đáy mềm, rạn san hô ven bờ Hầu hết các đảo

được cấu tạo bởi đá lục nguyên xen một phần nhỏ đá cacbonat, bờ đảo có nhiều bãi cát

đẹp, nhiều thềm đá trải rộng tới 1 - 2 cây số Trên nhiều đảo, có nhiều mỏ nước ngầm

(nước ngọt) tạo nên những loại hình cảnh quan như miệng mó nước, mạch nước sủi

ngầm, nước chảy ngầm trong các hang động đá vôi, nước chảy trên bề mặt hình thành

các dòng suối (nhiều suối có nước chảy quanh năm) Những vịnh, vũng, lạch ở vùng

Bái Tử Long lặng sóng, hoàn lưu nước biển đều đặn, mạnh do nhật triều biên độ cao,

điều kiện tự nhiên thuận lợi cho các hoạt động du lịch sinh thái

(Bảng được xây dựng trên cơ sở thống kê của hai huyện Cẩm Phả và Vân Đồn năm 2003)

Vịnh Bái Tử Long nằm phía trong quần đảo Cô Tô, được hình thành bởi hệ thống

đảo chắn ngoài và gồm nhiều kiểu cảnh quan đặc trưng cho vùng đảo đá vôi ven bờ là:

- Các đảo đá gốc dạng chạy song song với đường bờ lục địa và có nhiều lạch biển xen

kẽ

Trang 7

- Bờ tích tụ do thuỷ triều với chế độ nhật triều biên độ lớn điển hình của thế giới

- Các cù lao, đảo đá vôi với các ngăn vách, cửa thông, hang luồn vô vàn dáng hình độc

đáo ngoạn mục hình thành do ăn mòn hoá học, tác động biển tiến và sụt lở

- Hang động kastơ

Theo thống kê của dự án xây dựng vườn Quốc Gia Bái Tử Long, có tới 17 dạng cảnh quan thiên nhiên có mặt tại Vịnh Bái Tử Long (bảng 2) Trong đó có thể chia ra thành hai nhóm cảnh quan sinh học và cảnh quan phi sinh học Các cảnh quan phi sinh học chính bao gồm:

- Các bãi cát: thường là bãi cát nhỏ, phân bố ở các cung lõm của các đảo nhỏ nằm rải rác trên vịnh hoặc cá bãi cát chạy dài hàng km phân bố ở các đảo Lớn như khu vực Cái Rồng, Minh Châu- Quán Lạn, Ngọc Vừng v.v

- Các bãi đá thềm đá, thềm đá mài mòn: Phân bố xung quanh các đảo đá vôi

- Các bãi đá ngầm: Phân bố rải rác trên vịnh

- Các luồng lạch biển: rất có giá trị cho giao thông vận tải

2 Bãi đá, thềm đá không ngập triều 11 Thảm cỏ biển

3 Bãi lầy ngập triều không có cây 12 Bãi rong, tảo

4 Bãi lầy ngập triều có cây (cây nhỏ,

rừng mangrove)

13 Bãi đá ngầm

6 Thảm cỏ biển bán ngập triều 15 Đồng bằng mài mòn ngầm đáy

biển

8 Đảo đất, đá lục nguyên (Ba Mùn,

Sậu Nam, Trà Ngọ Nhỏ)

17 Vực, trũng, máng xâm thực

9 Đảo đất xen đá vôi (Trà Ngọ Lớn)

Nguồn: Dự án đầu tư xây dựng Vườn quốc gia Bái Tử Long, 2000

• Tài nguyên khoáng sản

Tài nguyên khoáng sản lớn nhất của Cẩm Phả là than đá Hiện nay Cẩm Phả

đang là khu vực công nghiệp khai thác than lớn nhất cả nước, chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng giá trị sản lượng công nghiệp của thị xã Cẩm Phả nói riêng và của tỉnh Quảng Ninh nói chung Khu vực Cẩm Phả có nhiều mỏ lộ thiên lớn (Cao Sơn, Cọc 6,

Trang 8

Đèo Nai) và nhiều mỏ lộ thiên vừa và công trường lộ thiên (Mông Dương, Khe Chàm,

Xí nghiệp tuyển than Cửa Ông: Cửa Ông 1, Cửa Ông 2) Khai thác hầm lò khu vực Cẩm Phả có các mỏ Mông Dương, Thống Nhất, Khe Chàm, Khe Tam Việc sàng tuyển than được thực hiện tại nhà máy sàng tuyển than Cửa Ông Năm 2000 than sạch mới

đạt 7.488 nghìn tấn thì năm 2004 đã tăng gấp hơn hai lần, đạt 16.055 nghìn tấn Hiện tại, giá trị sản xuất công nghiệp hàng năm của ngành than chiếm tỷ trọng trên 50% giá trị sản xuất công nghiệp của toàn tỉnh

2.1 3 Tài nguyên sinh vật

2.1.3.1 Các hệ sinh thái nhiệt đới điển hình

Vịnh Bái Tử Long gồm hàng trăm đảo đá vôi, có phần đảo nổi và phần đất ngập nước rộng lớn bao quanh chân đảo từ vùng triều dến vùng dưới triều Phần đảo nổi có thảm thực vật rừng che phủ còn phần đất ngập nước bao gồm một tổ hợp các hệ sinh thái (HST) khác nhau Các hệ sinh thái trên cạn và dưới nước góp phần làm tăng tính đa dạng cho vùng biển đảo này

1- Hệ sinh thái rừng nhiệt đới : Rừng thường xanh che phủ từ 98% đến 100% diện tích

đảo nổi của hầu hết các đảo trong khu vực Cờu trúc của các quần xã động vật, thực vật trong rừng khá phức tạp có số lượng loài phong phú (thường từ trên 100 loài cây đến gần 400 loài và kèm theo khoảng gần 200 loài động vật) Rừng thường phân tầng, tầng thấp nhất là các trảng cỏ, tiếp theo là cây bụi, tầng cao nhất là các cây thân gỗ

2- Hệ sinh thái thực vật ngập mặn (TVNM): Thường kém phát triển, quần xã TVNM

chỉ là các cây bụi thân gỗ như mắm, vẹt dù, trang, đước, giá, sú, na…, hoặc cây thân cỏ như náng, dứa dại, vạng hôi, cỏ gà, cói, cỏ lào, tổng cộng có 13 loài

3- Hệ sinh thái vùng triều : Bao quanh các đảo với diện tích rất khác nhau, chia thành

hai tiểu hệ - hệ sinh thái bãi triều đá và hệ sinh thái bãi cát

B∙i triều đá:

Hình thành trên các bãi đá với kích thước tảng 1000 – 2000 mm và lớn hơn, xen kẽ giữa các bãi tảng là các bãi cuội-sỏi-sạn (Md = 1-1000 mm) phân bố chủ yếu ở trong các cung lõm hoặc trong các máng trũng sâu Các bãi triều đá là nơi phân bố của của hệ sinh vật vùng triều rạn đá Đáng chú ý những loài đặc sản quí hiếm như ốc nón,

vú nàng, ốc nhảy, ốc mắt, ốc hương… đều phân bố chủ yếu ở các bãi đá kiểu này ở nơi hướng sóng

B∙i triều cát bùn:

Chất đáy chủ yếu là cát nhỏ và bùn bột, phân bố chủ yếu ở khu triều cao và có kích thước hạt tương đối lớn (Md = 0,062-0,098 mm) ở khu bãi cao, bột có màu nâu xám, xám đen do nằm trong vùng có thực vật ngập mặn và có độ chọn lọc kém, giảm dần từ bãi triều thấp lên bãi triều cao Cát hạt nhỏ, phân bố chủ yếu ở khu triều thấp, (Md = 0,12 mm), độ chọn lọc kém (So = 4,08), hàm lượng bột – sét chiếm khoảng 45% Bãi triều có loại chất đáy này rất phù hợp cho sự phân bố của quần xã đáy mềm

Có thể tìm thấy các loài thuộc họ cua bơi (Portunidae), họ tôm he (Peneidae), tôm gõ

mõ (Alpheidae) hoặc các loài vùng triều vùi mình trong nền đáy như ngao, ngán, vọp,

phi v.v

Trang 9

4- Hệ sinh thái rạn san hô: Rạn san hô là một dạng đặc thù của vùng biển nhiệt đới và

cũng rất điển hình cho các đảo vùng đông bắc Việt Nam khu vực Bái Tử Long đảo

đều có các rạn san hô phân bố như: Ba Mùn, Hạ Mai Sự phân bố và phát triển của chúng bị hạn chế rất lớn bởi độ trong thấp và chịu ảnh hưởng của khối nước từ lục địa

đổ ra (nhất là vào mùa mưa) và do vùng biển thường xuyên có sóng gió mạnh Vì vậy trong cấu trúc thành phần loài, san hô dạng khối và bán khối chiếm số lượng chủ yếu còn san hô cành chỉ có rất ít, chúng ít khi phân bố thành các rạn điển hình mà chủ yếu phân bố rải rác thành các mảng “đốm da báo” và độ phủ chỉ đạt từ 20-60% (nơi gần bờ) đến 80% (nơi xa bờ) như ở đảo Ba Mùn

Sinh vật sống kèm theo vùng rạn khá phong phú bao gồm đại diện của các nhóm rong biển, trai, ốc, cầu gai và hải sâm Đáng chú ý hầu hết các loài động vật vùng rạn

đều là các đối tượng kinh tế chủ yếu như cầu gai gai ngắn, hải sâm đen, hải sâm trắng,

ốc nón, vv…

5- Hệ sinh thái cỏ biển: Cỏ biển thường phát triển trên nền đáy cát ít bùn, phân bố từ

vùng triều đến chân rạn san hô Giống như san hô, cỏ biển cũng phân bố theo kiểu da

báo Thành phần loài chủ yếu có Halophylla ovalis và Syringodium isoctofolium với độ

phủ 10-30% và sinh khối đạt 30- 50 g/m2 Loài ĐVĐ điển hình của các thảm cỏ biển là

Cerithidea cingulata, Cliothona owalaniensis Ngoài ra thảm cỏ biển còn là nơi phân

bố của nguồn giống hải sản thuộc tôm, cua, cá Cùng với rạn san hô, thảm TVNM, các thảm cỏ biển góp phần bảo tồn và phát tán nguồn giống ở vùng biển đảo

2.1.3.2 Đa dạng loài, giống sinh vật biển

• Thành phần loài

Trong số 1459 loài sinh vật đã biết tại Vịnh Bái Tử Long, thì có khoảng 795 loài sinh vật biển Xét theo từng nhóm sinh vật biển cho thấy: Số loài rong 45 loài (chiếm 5,7 %); Cỏ biển 5 loài và thực vật ngập mặn 15 loài, thấp nhất, cả hai nhóm chỉ chiếm 2,5 %; Thực vật phù du 217 loài (27,3 %); Động vật phù du 103 loài (chiếm

13 %); San hô 106 loài (13,3 %); Động vật đáy 185 loài (23,3 %); cá biển 119 loài (chỉ tính Hạ Mai) chiếm 15 % (xem bảng danh mục) Theo các kết quả nghiên cứu trước đây, hai đảo Hạ Mai (756 loài) và Ba Mùn (561 loài) là khu vực có số loài cao của Bái Tử Long

• Chỉ số đa dạng

Kết quả khảo sát 3 đợt đại diện cho các mùa khô và mưa ở khu vực này cho thấy chỉ số đa dạng khu vực các đảo tương đối cao, động vật đáy trung bình biến đổi từ 2,4 - 2,8, động vật phù du trung bình đạt 2,4 - 3,1, thực vật phù du đạt trị số trung bình cao nhất 3,1 - 3,7 (bảng 4) đây là chỉ số khá cao, biểu hiện một môi trường thuận lợi để xây dựng các khu bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển nuôi trồng thuỷ sản

Trang 10

Bảng 3 Thống kê nguồn gen một số đảo thuộc Bái Tử Long

Bảng 4 Chỉ số đa dạng (H') của các nhóm sinh vật hải dương tại vùng nước

quanh một số đảo thuộc Bái Tử Long

7/2000

Tháng 7/2001

Tháng 12/2001

Trung bình

Trang 11

2.1.4 Kết quả nghiên cứu một số nhóm sinh vật điển hình

2.1.4.1 Rong cỏ, biển

Vịnh Bái Tử Long có 45 loài thuộc 4 ngành Trong số này, bao gồm 1 loài rong Lam (0,04%), 16 loài rong Đỏ (35,5%), 16 loài rong Nâu (35,5%) và 12 loài rong Lục (26,6%)

Dùng chỉ số Cheny để tính cho đặc trưng khu hệ, ta thấy: tyr số giữa tổng số loài rong Đỏ và rong Lục chia cho rong Nâu là 16 + 12 /16 = 1,75 <3 Tỷ số này cho biết, khu hệ rong biển vịnh Bái Tử Long mang tính cận nhiệt đới

Kết quả nghiên cứu về trữ lượng tức thời của các nhóm rong biển chủ yếu tại khu vực Bái Tử Long vào khoảng trên 250 tấn, như sau:

Các kết quả nghiên cứu về cấu trúc thành phần loài TVPD phù du tại Bái Tử

Long thu trong hai mùa khô và mưa năm 2004 - 2005 được 217 loài Lớp tảo Si lic (Bacillariophycaea) có 124 loài, chiếm 57,1 %, Tảo Giáp (Dinophycaea) 88 loài -40,6

% và tảo Kim (Dictyochophycaea) 2 loài - 0,9 %, Tảo Lam (Cyanophiacea) 2 loài - 0,9

% và tảo Lục (Chlorophyceae) 1 loài - 0,4 % (hình 1) Các kết quả nghiên cứu chi tiết từng vùng (từ Ba Mùn đến Hạ Mai) trước đây đã xác định xung quanh mỗi đảo thường

có số loài TVPD biến đổi từ 147 loài đến 163 loài Ưu thế thường thuộc về ngành tảo Silic chiếm tới trên 80 - 88 % tổng số loài, tảo Giáp chiếm khoảng 10 - 12 %, ngành tảo Lam có số loài ít nhất chỉ chiếm 1- 2 % Các chi tảo chiếm ưu thế về số loài cũng

như mật độ bao gồm chi Chaetoceros, Rhizosolenia, Nitzschia, Coscinodiscus,

bacteriastrum, Pleurosigma Đặc biệt chi Cheatoceros, Rhiosolenia thường có số loài

cao có khi đạt đến 43 loài

• Mùa mưa

- Số loài: Kết quả khảo sát vào tháng 7/2004 (mùa mưa), đã phát hiện được 173

loài Bình quân đạt 60,4 loài/ trạm tầng mặt Cao nhất thuộc về các trạm 1,2,6,10,18 với biến động từ 66 - 74 loài/ trạm và thấp nhất là 47 loài/ trạm (trạm 28) So sánh với các kết quả khảo sát năm 2000 ở các trạm nằm ở độ sâu trên 10 m nước, số loài trung bình toàn khu vực nghiên cứu 36 loài/trạm, cao nhất (46,5 loài) Khu vực có độ sâu từ 10 m nước đến sát bờ đảo, vào tháng 7/2001, trung bình toàn khu vực khảo sát

đạt 42,9 loài/trạm, cao hơn khu vực xa bờ khoảng 7 loài/trạm, cao nhất 56 loài, thấp nhất 29,5 loài/ trạm Kết quả phân tích này cho thấy, trong đợt khảo sát náy số lượng loài thu được phong phú hơn nhiều so với trước đây (hình 2, bảng 5)

Trang 12

Dictyochophycaea 1%

Cyanophiacea 1%

Bacillariophycaea 56%

Chlorophyceae 1%

Dinophycaea

41%

Hình 1 Thành phần loài thực vật phù du ( khảo sát năm 2004 - 2005

- Mật độ: Vào mùa m−a tháng 7/2004, mật độ trung bình 66720 tb/L, cao hơn so

với toàn vùng từ Trà Cổ đến Hòn Gai ( năm 2000, 2001 là 31265 tế bào/lít ) Các trạm

có mật độ cao gồm trạm số 1 , trạm số 5 , trạm 10 (127480 tb/L - cao nhất), trạm 18 Thấp nhất ở trạm số 9 chỉ đạt 3960 tb/L (hình 2, bảng 5)

- Chỉ số đa dạng TVPD: Khu vực gồm Minh Châu - Quán Lạn, Vạn cảnh -

Ngọc Vừng đều có giá trị tổng đa dạng lớn hơn 3,000 Xếp lần l−ợt từ cao tới thấp nh− sau: Vạn Cảnh - Ngọc Vừng (3,707), Minh Châu - Quán Lạn (3,439)

Bảng 5 Các chỉ số cơ bản TVPD vào mùa m−a tháng 7 năm 2004

Trang 13

• Mùa khô

- Số loài: Tổng số loài thu được vào mùa khô là 140 loài (tháng 3/2005) Trung bình

toàn khu vực đạt 40,4 loài/trạm So sánh với kết quả nghiên cứu vào mùa khô năm

2001 thì gần tương tự nhau (41,6 loài/trạm); Cao nhất trạm 28 đạt 60 loài/trạm, thấp

nhất trạm số 6 chỉ có 14 loài/trạm ( Bảng 6, hình 3)

- Mật độ: Mùa khô năm 2005, mật độ thực vật phù du thu được rất thấp, chỉ đạt trung

bình 1762 tb/L Mật độ này thấp hơn rất nhiều so với các kết quả nghiên cứu trước

đây (bình quân toàn khu vực đạt 31265 tb/L, năm 2001 Trạm 15 có mật độ cao nhất

Trang 14

0 10

- Chỉ số đa dạng: ở hầu hết các khu vực nghiên cứu, thực vật phù du đều có giá trị

tổng đa dạng lớn hơn 3,000, chỉ có Cái Chiên - Vĩnh Thực trị số này nhỏ hơn đôi chút (2,997) Xếp theo giá trị tổng đa dạng từ cao tới thấp như sau: Vạn Cảnh - Ngọc Vừng (3,479), Minh Châu - Quán Lạn (3,053), Ba Mùn (3,049) và Cái Chiên - Vĩnh Thực (2,997)

2.1.4.4 Động vật phù du

- Số lượng loài: Vùng Vịnh Bái Tử Long gồm 103 loài Số loài mùa khô và mùa mưa

không thay đổi, đều ở khoảng 84-85 loài Số loài ĐVPD phân bố không đều, tập trung

chủ yếu vào các giống Eucalanus, Oithona, Labiocera, Acartia với số loài từ 6 - 8 loài/ giống; 4 giống : Paracalanus, Sagitta, Corycaeus, Centropages mỗi giống có 4 loài;

48 giống còn lại, phần lớn chỉ có 1 loài /giống Các loài ưu thế bao gồm cả loài đặc trưng cho khối nước ven bờ, có khả năng thích nghi rộng nhiệt, rộng muối như

Paracalanus aculeatus, Paracalanus parvus và đặc trưng cho khối nước biển khơi như

Undinula vulgaris và Eucalanus subcrasus (xem danh mục)

Mùa mưa số loài thu được là 85 loài, trung bình 16,6 loài/trạm Các trạm có số lượng loài cao là các trạm 1, trạm 5, trạm 9, trạm 16 và 28 đều có trên 20 loài/trạm; Các trạm 2, trạm 6, trạm 10, trạm 11, trạm 13 , trạm 19, trạm 25 có số lượng loài thấp dưới 16 loài/trạm (Bảng 7)

Vào mùa khô (tháng 3/2005) số lượng loài ĐVPD gần như không thay đổi (84 loài), nhưng bình quân số loài thu được ở mỗi tram đạt 18,4 loài/trạm, cao hơn so với mùa mưa Các trạm số 1, 9,10,13,15, 18,28 có số loài cao từ 20 - 26 loài/trạm Trạm

số 2 và số 5 có số loài thấp nhất (11 và 12 loài) (bảng 7)

Trang 15

Bảng 7 Phân bố số lượng ĐVPD theo mùa tại Vịnh Bái Tử Long

T16 21 6000 18 40750 T18 18 2750 22 24000 T19 11 5250

T25 14 9500 13 8750 T28 22 2000 23 32000

Mùa mưa mật độ trung bình đạt 7414 con/m3; các trạm có số lượng cao là các trạm 1, trạm 2 đều có mật độ trên 15000 con/m3; Các trạm 9, trạm 18, trạm 28 mật độ thấp dưới 3000 con/m3 (Bảng 7, hình 4)

0 5 10

Mùa khô (tháng 3/2005) mật độ ĐVPD thu được cao hơn hẳn so vơía mùa mưa,

đạt trung bình 19400 con/m3 các trạm có số lượng cao là các trạm 2, trạm 6, 11, 16,

Trang 16

18, 28 đều có mật độ trên 20.000 con/m3; Các trạm 5,13 mật độ thấp dưới 3000 con/m3 (Bảng 7, hình 5)

0 5 10 15 20 25 30

T1 T2 T4 T5 T6 T9 T10 T11 T13 T15 T16 T18 T25 T28

0 5000 10000 15000 20000 25000 30000 35000 40000 45000

- Chỉ số đa dạng: Vào mùa mưa, ở các trạm ven bờ, tổng đa dạng thấp hơn nhiều so

với các trạm xa bờ Mùa mưa năm 2001 chỉ số đa dạng của ĐVPD trung bình 2,803 , cao nhất 3,657 (trạm 214 - Cái Chiên Vĩnh Thực) và nhỏ nhất 1,293 (trạm 163 - Minh Châu - Quán Lạn) Mùa khô, tổng đa dạng ĐVPD cũng thấp hơn mùa mưa, giá trị trung bình 2,495, cao nhất 4,065 và thấp nhất 1,939

2.1.4.5 Động vật đáy vùng nước ven đảo

Động vật đáy là nguồn thức ăn chính của các loài cá sống ở tầng đáy và cũng là nguồn thức ăn của các loài đặc sản như tôm, cua sống đáy Kết quả nghiên cứu đã xác

định được 230 loài ĐVĐ tại Bái Tử Long Kết quả nghiên cứu cũng đã chứng minh nhóm thân mềm thường có số loài cao nhất với 128 loài, chiếm tỷ lệ 55 %; Giun nhiều tơ 47 loài- 20 % , Giáp xác 36 loài - 16 %: Da gai 19 loài - 9 % (xem phụ lục và hình 6)

Giun 20%

Thân mềm 55%

Da gai 9%

Giáp xác 16%

Hình 6 Tỷ lệ % số loài Động vật đáy tại Bái Tử Long

Trang 17

• Mùa mưa

- Biến đổi số lượng loài: Kết quả khảo sát khu vực có độ sâu từ 10 m nước đến sát bờ

đảo vào tháng 7/2004, cho thấy số loài trung bình toàn khu vực khảo sát đạt 5,4 loài/ trạm, thấp hơn khá nhiều so với các kết quả khảo sát năm 2001 (9,77 loài/trạm) Các trạm 3,6,9,6, 21, 24, 25 có số loài cao hơn giá trị trung bình Trạm 14 và trạm 28 có

số loài thấp nhất (3 loài/trạm)

số 10/ 20, 28 có số lượng thấp nhất 60 - 80 con/m2

Khối lượng trung bình đạt 30,9 gam/m2, thấp hơn đôi chút so với các kết quả khảo sát trước đây (39,9 g/m2) Trạm 24 là trạm có khối lượng cao nhất (115,6 g/m2)

và thấp nhất thuộc về trạm số 2 (1g/m2) và trạm 28 (4,4 g/m2)

Trang 18

- Chỉ số đa dạng sinh học mùa mưa: trung bình năm 2004 đạt 2,14 so với năm 2000

thấp hơn đôi chút ( 2,49) Cao nhất trong mùa mưa năm 2004 cũng chỉ đạt 2,73 (trạm

24) và thấp nhất là trạm 17 chỉ đạt giá trị H' = 0,26 (bảng 8)

0 500 1000 1500 2000 2500

Số loài Mật độ (con/m2)

vịnh Bái Tử Long tháng 7/2004

• Mùa khô năm 2005 (bảng 9, hình 8)

- Số lượng loài: kết quả khảo sát mùa khô năm năm 2005 ở một số trạm điển hình đã

phát hiện số lượng loài trung bình toàn khu vực nghiên cứu đạt 5,9 loài/trạm, thấp hơn

so với năm 2000 (9,6 loài/ trạm) Cao nhất thuộc về

- Mật độ động vật đáy vào mùa khô: Mật độ động vật đáy trung bình toàn khu vực

thấp, chỉ đạt 185,3 con/m2, cao nhất 320 con/m2 (trạm 14 và 20) và thấp nhất 80

con/m2 (trạm 12)

- Khối lượng: Kết quả khảo sát vào mùa khô năm 2005 cho thấy sinh khối trung bình

cao đạt thấp 23,7 g/m2, thấp hơn nhiều so với mùa mưa Khối lượng cao nhất thuộc về

trạm 25 (51,7 g/m2) và thấp nhất là trạm 2 (2,9 g/m2)

- Tổng đa dạng động vật đáy vào mùa khô: Tổng đa dạng ĐVĐ cũng gần tương tự

như các giá trị thu được vào mùa mưa, giá trị trung bình 2,22, cao nhất 3,00 (trạm 25)

Trang 19

2 3 7 9 11 12 13 14 17 19 20 21 24 25 28

0 50 100 150 200 250 300 350

Số loài Mật độ (con/m2)

Hình 8 Biến động số loài, mật độ (con/m2) ĐVĐ tại các trạm đáy

mềm vịnh Bái Tử Long tháng 3/2005 - Mùa khô

• Tiềm năng nguồn lợi động vật đáy

+ Nguồn lợi thân mềm: Thân mềm là nhóm quan trọng trong cấu trúc nguồn lợi động

vật đáy ở các đảo, cho đến nay chúng tôi đã thống kê đ−ợc 59 loài thân mềm có giá trị kinh tế và quý hiếm Trong đó nhóm ốc (Lớp một mảnh vỏ) chiếm 13 loài, lớp hai mảnh vỏ 37 loài (bảng 10), lớp chân đầu 18 loài

Trang 20

- Lớp một mảnh vỏ (Gastropoda): Gồm 13 loài có ý nghĩa kinh tế, chia thành 3 nhóm

chính: Nhóm quý hiếm, nhóm có giá trị thực phẩm xuất khẩu, nhóm dùng làm đồ mỹ nghệ

Nhóm quý hiếm: Gồm 3 loài thuộc giống Trochus, Tectus, Epitonium Trong số này hai

loài thuộc nhóm ốc nón (Tectus pyramis, Trochus maculatus) đều là loài có kích thước

lớn, thịt thơm ngon, vỏ có ánh xà cừ dùng để khảm xà cừ rất đẹp Chúng phân bố chủ yếu ở rạn san hô, hoặc các khe đá dưới triều Hai loài này đều đang bị khai thác rất mạnh, nên có nguy cơ bị cạn kiệt nguồn gen Cả hai loài cũng đã được đưa vào Sách

Đỏ Việt Nam, đề nghị phải có biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt Loài ốc xoắn vách

Epitonium scalare thuộc nhóm hiếm ít tìm thấy ở Việt Nam

- Nhóm loài làm thực phẩm: Cả 13 loài ốc được thống kê ở bảng 2 đều có giá trị dinh

dưỡng cao Giống Monodonta và Nerita (ốc hương), Lunella (ốc mắt) phân bố tập

trung ở các bãi triều rạn đá Chúng có mật độ phân bố cao tạo thành những bãi hải sản

có giá trị khai thác Ngư dân đánh cá ở các nơi thường tập trung về đây bắt các loài ốc

này bán cho tầu thuyền Trung Quốc ốc mắt (Turbo), ốc nhảy (Strombus) phân bố từ

vùng triều thấp tới vùng dưới triều ốc này có kích cỡ lớn, thịt ngon và sống tập trung trên các bãi triều có nền đáy cứng dễ khai thác Đặc biệt sự hình thành các bãi bào ngư

(Haliotis diversicolor) ở Cô Tô là những nguồn lợi đặc biệt có giá trị cao về dinh

dưỡng và xuất khẩu

- Nhóm loài làm đồ mỹ nghệ: Là các loài ốc có hình thù kỳ dị, màu sắc đẹp Các loài

ốc này được dân khai thác lấy thịt ăn, còn vỏ mang đánh bóng làm các đồ mỹ nghệ rất

đẹp Nhóm ốc này tập trung ở 4 nhóm: Cypraeidae, Muricidae và Architectonicidae,

Haliotidae

- Lớp hai mảnh vỏ (Bivalvia): Có tới 37 loài chúng là những loài có giá trị kinh tế, chủ yếu tập trung ở các họ Sò (Arcidae), Ngao (Vereridae), Phi (Psammobiidae).v.v

- Họ sò (Arcidae): Đã phát hiện thấy 5 loài sò phân bố ở các rạn đá và trong rạn

san hô Các loài thường hay gặp là Anadara granosa, Anadara antiquata, Arca

ventricosa và Arca (Barbatia) decussata

- Họ trai ngọc (Pteridae): Kết quả khảo sát đã tìm thấy 2 loài trai đều có khả năng tạo

ngọc gồm loài Pteria (Pinctada) martensii và Pinctada margaritiferra Các loài này

sống chủ yếu trong rạn san hô, thịt của trai ngọc ngon, vỏ có ánh xà cừ, ngọc trai do chúng tiết ra rất được ưa chuộng trên thị trường thế giới Vì lẽ đó mà các loài này bị săn bắt đến mức cạn kiệt, chúng đang là những đối tượng được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam, đòi hỏi phải có biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt

- Họ Ngao (Vereridae): Là họ có số loài có giá trị kinh tế nhiều nhất so với các họ

khác của lớp hai mảnh vỏ Đặc biệt là các loài: Dosinia laminata, Venus puerpera,

Gafrarium divaricatum, Meretrix meretrix, Meretrix lusoria, Calista sinensis, Venus calophilla, Anomalocardia flexuosa là những loài có cá thể lớn, thịt ngon có giá trị

sử dụng cao.- Họ vẹm (Mytilidae): Loài Modiolus phillipinarum thường phân bố

trong các rạn san hô, thịt thơm ngon là loài đặc sản rất dược ưa chuộng trong khu vực này

- Họ bàn mai (Pinnidae): Có 3 loài, gồm: Pinna attenuata, P vexilium, P pectinatum, đều là những loài có kích thước phần vỏ cũng như phần ruột lớn, sống

Trang 21

chủ yếu ở trong các rạn san hô, ở các loại nền đáy cứng, các loài này thường bị ngư dân khai thác lấy thịt ăn, còn phần vỏ mang gia công làm đồ mỹ nghệ

Phi (Psammobiidae) và họ trùng trục (Solecurtidae): Bao gồm 4 loài: vọp tím

(Asaphis dichotoma), con phi (Sanguinolaria diphos), trùng trục (Sinovacula

constricta) cả 3 loài đều sống ở vùng triều và dưới triều, thường phát triển mạnh có

khả năng tạo thành bãi hải sản, có giá trị thương mại

Ngoài các họ nêu trên, còn có các họ móng tay (Solenidae), họ hầu (Ostreidae),

họ điệp (Pectinidae), mỗi họ đều có từ 1-3 loài và là những đối tượng kinh tế được

dân ven biển ưa dùng Đặc biệt đáng lưu ý 18 loài mực thuộc lớp chân đầu (Cephalopoda) phân bố ven bờ các đảo đã tạo thành những ngư trường câu mực lớn nhất của Việt Nam như: Bạch Long Vĩ, Cô Tô, Hạ Mai, đảo Trần v.v

+ Nguồn lợi giáp xác

Cho đến nay đã thống kê trên 13 loài giáp xác có giá trị kinh tế cao, sống ở vùng nước quanh các đảo vùng Đông Bắc, tập trung ở hai nhóm chính, bao gồm 6 loài thuộc nhóm cua và 7 loài thuộc nhóm tôm he biển và hai loài cua có giá trị cao đó

là loài ghẹ xanh (Portunus pelagicus ) và loài ghẹ 3 chấm (Portunus trituberculatus)

+ Nguồn lợi da gai

Mới chỉ phát hiện 3 loài thuộc hải sâm đen, hải sâm trắng và dưa biển là những loài được dân sử dụng như các vị thuốc bổ, chúng có giá trị thương mại tương đối cao

+ Các nhóm khác

Ngoài các nhóm đã thống kê trên, còn có hai loài sá sùng (Sipunculus nudus)

và bông thùa (Phascosoma similis) phân bố trên các bãi triều cát ở các khu vực Cô Tô,

Thanh Lân, Trà Cổ v.v là những đối tượng được cư dân khai thác cho hiệu quả kinh tế khá lớn

Bảng 10 Các loài động vật đáy có giá trị kinh tế ở vùng biển ven các đảo

Trang 24

Tổng số 106 loài san hô cứng thuộc 34 giống 12 họ đã phát hiện đ−ợc trên 13

điểm khảo sát trong khu vực Bái Tử Long Số l−ợng giống loài của các họ và tỷ lệ phần trăm của chúng đ−ợc thể hiện trong bảng 11

Nếu xét mức độ đa dạng về số l−ợng giống thì họ Faviidae có số l−ợng giống nhiều nhất và v−ợt trội so với các giống khác là 12 giống, chiếm 35,3%, tiếp đến là

4 họ có 3 giống (8,8%) là Siderastreidae, Fungiidae, Pectinidae, Mussidae, các họ còn lại chỉ có từ 1 đến 2 giống Xét về mức độ đa dạng về loài cho thấy họ Faviidae cũng

Trang 25

có số loài nhiều nhất 42 loài (chiếm 39,6%), tiếp theo là Acroporidae có 17 loài (chiếm 16,0%), đứng ở vị trí thứ 3 là Poritidae có 16 loài (15,1%), họ Siderastreidae có 8 loài (7,5%) Các họ còn lại có số loài thấp từ 1 - 5 loài

Bảng 11 Số l−ợng giống loài và tỉ lệ phân trăm của chúng trong khu hệ

san hô Bái Tử Long

Trang 26

So sánh số lượng loài trong khu vực này với các vùng biển lân cận như Cô Tô,

Thanh Lân, Hạ Long, Cát Bà thấy rằng Vườn Quốc gia Bái Tử Long có số lượng loài

san hô cứng khá phong phú Tuy nhiên san hô chỉ tập trung ở phía ngoài đảo Ba Mùn,

Sậu Nam và Phượng Hoàng các đảo khác hầu như không có san hô chỉ duy nhất có

một đảo nhỏ nằm phía trong có san hô phân bố với độ phủ cao và tập trung đó là đảo

Khơi Ngoài Đảo này có lẽ có san hô tốt nhất ở vườn quốc gia Bái Tử Long, nhưng nó

chỉ phân bố thành dải hẹp và kéo dài

• Độ phủ san hô sống

Dựa trên kết quả khảo sát bằng phương pháp mặt cắt điểm (point transect) và

đánh giá nhanh trên 6 rạn trong khu vực Bái Tử Long, dựa vào tiêu chuẩn Gome và

Alcala (1984), xác định được độ phủ san hô sống khu vực Bái Tử Long thuộc vào loại

trung bình (có độ phủ san hô sống bình quân 46,8%) trong đó có 3 rạn thuộc vào loại

rạn tốt là Khơi Ngoài, Dời Xô và Biên Phòng, còn lại các rạn đều thuộc loại trung bình

Cây bàng *

- Sự phân bố của san hô theo mặt rộng

Sự phân bố mặt rộng của san hô phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ, độ muối, địa hình

và chế độ thuỷ động học Do có nhiều đảo đất nên khu vực phía trong có nhiều trầm

tích bùn, chất đáy là bùn cát và sỏi cuội nên không thích hợp cho san hô phân bố Mặt

khác khu vực này gần các cửa sông như Tiên Yên, Cửa Ông vào mùa mưa lượng nước

ngọt và trầm tích trên các lưu vực sông này đổ ra biển rất lớn đồng thời nước mưa bào

mòn lớp đất trên các đảo đổ xuống làm đục hoá và ngọt hoá san hô không phát triển

Trang 27

được Khảo sát chi tiết cho thấy san hô chỉ phân bố ở phía ngoài của đảo Ba Mùn, Sậu Nam, Phượng Hoàng và một đảo nhỏ phía trong Cửa Vành là hòn Khơi Ngoài còn các khu vực khác đều không có san hô hoặc có với số lượng không đáng kể, không tạo thành rạn

- Phân bố theo độ sâu

Sự phân bố theo độ sâu của san hô cứng cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:

địa hình (độ nghiêng, nền đáy, độ sâu, ), độ trong và cường độ thuỷ động học Nhưng quan trọng nhất là độ trong của nước biển vì trong san hô có chứa hàng triệu tế bào tảo

Zooxanthellae cộng sinh, nhờ năng lượng mặt trời tảo quang hợp tạo nguồn thức ăn rất

quan trọng cho san hô và tăng sự vôi hoá Do sự sói mòn lớp đất đá trên đảo kết hợp với sóng to khuấy đục nền đáy và ảnh hưởng của khối nước lục địa nên ở khu vực này

có độ trong thấp san hô không vươn xuống sâu Đồng thời chất đáy thường là các đá tảng, dưới có nhiều trầm tích bùn nên san hô ở khu vực này không vươn xuống sâu quá 8m so với 0mHĐ

- Đặc điểm hình thái rạn san hô Bái Tử Long

Xét theo quan điểm hình thái, các rạn san hô khu vực Bái Tử Long đều thuộc kiểu rạn viền bờ ven đảo (island fringing reef) Với 5 đới cấu trúc: đới khe rãnh ven bờ (lagoon ven bờ), đới mặt bằng, đới mào rạn, đới sườn dốc và đới mặt bằng chân rạn Do

đặc điểm là rạn hở chịu tác động mạnh của sóng và dòng chảy để lộ ra các tảng đá gốc lớn, địa hình đáy gồ ghề nên rạn thường hẹp và không phân đới rõ ràng (khó phân biệt giữa các đới)

2.1.5 Tài nguyên sinh vật trên cạn

Các kết quả nghiên nghiên cứu cho thấy hầu hết các đảo đều được bao phủ từ 98

- 100 % bởi rừng nhiệt đới xanh tốt quanh năm Thảm thực vật rừng là lá phổi xanh của

đảo và là nguồn cung cấp dược liệu, thực phẩm, lâm sản rất có giá trị Theo các số liệu nghiên cứu gần đây, riêng đảo Ba Mùn đã phát hiện tới 396 loài thực vật thuộc 109 họ khác nhau, trong đó có cây làm thuốc (63 loài), thức ăn cho người (39 loài) và gia súc (28 loài), cây cho gỗ (27 loài) Đã phát hiện một số cây làm thuốc quý như Bá bệnh, Ba chạc, Lá khôi tía, Quầng quầng, Đáng chân chim, Mã kích, Bạch truật, Sa nhân, vv Trong khu vực hoạch định Vườn quốc gia Bái Tử Long có 17 đảo có rừng che phủ với tổng diện tích rừng tự nhiên đạt 4.161ha với độ che phủ từ 50 - 98%, trung bình 70% Rừng trên đảo có 494 loài thực vật bậc cao, hầu hết là loài bản địa, thành phần loài ít thay đổi từ nhiều thế kỷ nay, trong đó có 11 loài bị đe doạ nằm trong Sách đỏ Việt Nam và Danh lục đỏ Thế giới như: Kim Giao, Giác Đế, Sao Hồng Gai, Mật Cật Bắc

Bộ, Lim Xanh Hầu hết các đảo này đều có rừng già nguyên sinh bị thay đổi thành rừng thứ sinh, phẩm chất bị giảm sút nhưng vẫn duy trì được sinh cảnh thích nghi cho các loài động vật hoang dã trên cạn cũng như ở các vùng biển và ngoài thềm biển của

đảo do đặc điểm tái sinh liên tục, sinh trưởng mạnh và tổng lượng sinh khối cao Tổng trữ lượng rừng 231.771m3, đối với rừng thường xanh trữ lượng bình quân đạt từ 52 - 82m3/ha và số cây tái sinh 950 - 3200 cây/ha

Động vật rừng là những loài hoang dã và được coi là nguồn đặc sản của nước ta hiện vẫn còn hoẵng, lợn rừng, nhím, chồn, cáo, nai, sơn dương, gà lôi, đại bàng đất, một số lưỡng cư và bò sát, vv tổng cộng khoảng 170 loài và chiếm 68% số lượng

động vật hoang dã của toàn tỉnh Quảng Ninh Đặc trưng cho hệ động vật đảo: thú -21

Trang 28

loài, chim - 58 loài, bò sát - 23 loài, lưỡng cư - 3 loài và côn trùng - 35 loài Số lượng các loài động vật có kích thước lớn hoặc có giá trị kinh tế chỉ khoảng 12 loài Chim có Cao Cát bụng trắng, 2 loài Diều Thú có Lợn Rừng, Nai, Mang, Khỉ v.v Bò sát có Trăn, Tắc kè Không có loài đặc hữu, nhóm động vật quí hiếm chỉ có 4 loài thuộc lớp thú và 5 loài bò sát [16]

Nhìn chung khu hệ động vật rừng đang bị suy giảm mạnh về số lượng trong thời gian gần đây nhưng thành phần loài ít bị biến động Đặc biệt các loài có giá trị kinh tế hay bảo tồn vẫn còn như Gấu, Nai, Sơn Dương, các loài chim thuộc họ Hồng Hoàng

2.2 Giá trị tài nguyên

2 2.1 Nuôi trồng thủy sản

Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng mạnh của khối nước (mặn, mặn- lợ) xen kẽ nhau trong hai mùa khô và mùa mưa của 1 chu kỳ năm cùng với môi trường trầm tích, các chế động động lực khác nhau tạo điều kiện cho nguồn lợi sinh vật phát triển Đi kèm theo với nghề khai thác nguồn lợi là các nghề nuôi trồng thuỷ sản biển

đã phát triển mạnh mẽ tại vịnh Bái Tử Long Đây là khu vực có diện tích và có tiềm năng NTTS lớn nhất tỉnh Quảng Ninh Chỉ tính riêng huyện Cảm Phả là thị xãđã có khoảng 3.000 ha bãi triều với khả năng nuôi hải sản vào khoảng 1.000 ha, tập trung ở các xã Cẩm Hải, Cộng Hoà, Cẩm Phú Đặc biệt vùng nước thuộc Vịnh bái Tử Long có hàng vạn ha mặt nước thuộc áng, vụng có độ sâu và môi trường thích hợp để phát triển nuôi cá lồng bè, nuôi trai lấy ngọc Tốc độ tăng trưởng nuôi trồng thuỷ sản ước tính mỗi năm tăng bình quân 100.000 ha (năm 2003 diện tích nuôi 395000 ha, năm 410.000 ha) Sản lượng nuôi

đạt khoảng 410 tấn (năm 2003), riêng tôm sú, tôm rảo, tôm he đạt 128 tấn Đặc biệt tốc độ nuôi cá lồng bè ở vịnh Bái Tử Long tăng một cách đáng kể Đầu năm 1996, nghề nuôi cá lồng bè ở vịnh Bái Tử Long mới bắt đầu với quy mô nhỏ ở một vài hộ gia đình, chỉ vài năm sau số hộ nuôi cá biển bằng lồng bè đã phát triển nhanh Năm 2001 có 1200 ô lồng nuôi cá biển, đến năm 2003 đã có trên 4500 lông nuôi Tổng sản lượng nuôi lồng bè năm

2001 là 250 tấn, năm 2003 là 950 tấn, tăng 700 tấn, doanh thu ước tính đạt 70 tỷ đồng Ngoài nuôi cá bằng lồng bè trên biển, BTL còn nuôi cá biển bằng rào chắn trên các eo vịnh và trong ao đầm

Đối tượng nuôi chủ yếu là cá Song, cá Hồng, cá Giò, cá Tráp Ngoài nuôi cá biển còn có lợi thế nuôi thân mềm, tôm, cua v.v

Theo các kết quả thống kê tại hiện trường chúng tôi đã xác định được các hình thức nuôi chủ yếu tại Bái Tử Long dưới đây:

- Nuôi lồng, bè: là hình thức nuôi phát triển rất mạnh trong các năm gần đây Với

thể tích các lồng phổ biến là 3m x 2m x2,5m, một số có thể tích lớn hơn 4m x 3m x 2m

Từ 10 - 20 lồng được liên kết lại với nhau tạo thành hệ thống bè nuôi Các lồng bè được thả trong vùng nước khá yên tĩnh về sóng, gió cũng như dòng chảy Đối tượng thả thường

là cá song, cá mú, tôm hùm v.v Mật độ và thời gian nuôi phụ thuộc vào khả năng kinh tế,

kỹ thuật và đặc biệt là môi trường nước vùng nuôi thả

- Nuôi bằng cách xây dựng đầm trên bãi triều: các đầm nuôi thường có diện tích nhỏ

vài ha hoặc vài chục ha Đối tượng nuôi thường là tôm sú, cua, tôm rảo

Trang 29

- Nuôi thân mềm trên các bãi triều: được phát triển trên các bãi triều đáy cát có

nguồn gốc sinh vật xốp hoặc đáy bùn dưới các dải rừng ngập mặn, đáy cát, cát bùn, bùn cát v.v Mỗi loại nền đáy phù hợp cho một đối tượng nuôi nhất định như tu hài, sò lông, sò huyết, ngao, ngán v.v

- Nuôi giàn: Đây là phương pháp nuôi các đối tượng thân mềm, đặc biết sử dụng nuôi

trai lấy ngọc Ví dụ với diện tích nuôi trên 200 ha mặt biển thuộc các xã Hạ Long, thị trấn Cái Rồng, Thắng Lợi… hàng năm nuôi trai cấy ngọc thu hoạch từ 13 - 23 triệu con, đã thu

được hàng chục tỷ đồng, giải quyết cho gần 500 lao động Hiện nay trên địa bàn huyện có các Công ty, xí nghiệp đang nuôi trai lấy ngọc: Công ty Ngọc trai Phương Đông, Công ty TNHH trai ngọc Trường An, Công ty thuỷ sản II và 2 Công ty liên doanh của Nhật

2.2.2 Xây dựng cầu cảng, luồng lạch phục vụ giao thông đường thuỷ

Quảng Ninh là một tỉnh bị bao bọc bởi hệ thống đồi núi chằng chịt, nên rất khó cho việc xây dựng hệ thống giao thông đường bộ Nhưng bù lại, hệ thống Vũng Vịnh chạy dọc theo chiều dài của tỉnh đã tạo cho Quảng Ninh lợi thế lớn về phát triển giao thông trên biển Quảng Ninh tỉnh hiện có mạng lưới 500 km đường thuỷ ( Trung ương quản lý khoảng 396 km, do địa phương quản lý 105 km) Hầu hết các tuyến đường thuỷ đều nằm hoặc chạy qua vịnh Bái Tử Long Do được bao bọc bởi các đảo, nên các tuyến đường thuỷ tránh

được sóng to gió lớn và đi lại rất an toàn Kèm theo với tiềm năng phát triển giao thông đường thuỷ, Vịnh Bái Tử Long còn có nhiều vị trí thuận lợi để xây dựng hệ thống cấu cảng Trong tổng số 12 cảng đã xây dựng ở tỉnh Quảng Ninh thì có tới 7 cảng được xây dựng ở ranh giới Vịnh Hạ Long

- Cảng Hòn Nét - Hạ Long là cụm cảng trung chuyển hàng hóa cách bờ khoảng 6 hải lý với độ sâu 20 m nước cho tàu 10 - 15 vạn tấn cập cảng

- Cảng Cửa Ông chuyên dùng để xuất than, năng lực bốc xếp hàng hoá qua cảng từ 3 - 5 triệu tấn phục vụ cho các mỏ than ở Cẩm Phả

- Cảng Nam Cầu Trắng dùng để xuất than cho các mỏ Hà Lầm, Hà Tu Năng suất thông qua cảng 3,5 triệu tấn/ năm

- Cảng Mũi Chùa: là cảng nằm giữa khu vực Hòn Gai - Hải Ninh có khả năng đón tàu từ 1

- 1,5 vạn tấn ra vào rất thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hoá

- Cảng Bang: phục vụ công nghiệp xi măng ở khu vực Hoành Bồ và xuất than

- Cảng Cô Tô (huyện đảo Cô Tô): nối đất liền và huyện đảo, vừa phục vụ mục đích dân sinh, vừa đảm bảo an ninh quốc phòng

2.2.3 Giá trị Du lịch:

Kết quả nghiên cứu về các HST đ ã trình bày ở trên, chúng ta có thể thấy tồn tại 7 dạng HST ở mức độ khác nhau đều có thể phục vụ cho các hoạt động du lịch, gồm: hệ sinh thái đảo và rừng mưa nhiệt đới, HST thực vật ngập mặn, HST rong - cỏ biển, HST bãi cát, HST vùng triều, HST rạn san hô, HST tùng, áng

Tiềm năng phục vụ cho du lịch của các hệ sinh thái bao gồm 8 giá trị cơ bản sau:

1 Không gian phát triển du lịch rộng lớn và đa dạng với diện tích khoảng 560 km2

được phủ kín bởi 7 kiểu HST khác nhau tạo nên không gian du lịch vô cùng hấp dẫn

Trang 30

2 Các cảnh quan đẹp: gồm 2000 hòn đảo lớn nhỏ khác nhau, mỗi đảo mang những dáng dấp, hình thù kỳ dị khác nhau rất hấp dẫn khách du lịch

3 Các hang động kaster đẹp và mang những dấu ấn lịch sử hào hùng như hang Đúc tiền, hang Soi nhụ, Hà Giắt, hang Nhà Trò v.v

5 Các bãi cát đẹp: Bãi cát có diện tích từ 0, 1 ha đến 10 ha Các bãi cát đều có địa hình

và cấu trúc bãi thuận lợi cho phát triển hình thức du lịch từ tập thể đến từng nhóm người

6 Các rạn san hô: tập trung chủ yếu ở rìa phía ngoài Bái Tử Long, rạn san hô chính là hạt nhân để tổ chức các dạng sinh thái ngầm của khu vực

7 Những khu rừng nguyên sinh, rừng thuần chủng:

8 Nguồn gen đa dạng và nhiều loài quý hiếm và nhiều loài đặc sản được ưa chuộng

Để phục vụ cho phát triển du lịch các giá trị cụ thể sau đây có thể được khai thác từ các hệ sinh thái (bảng 13)

- Nghỉ ngơi an dưỡng: Nhu cầu nghỉ ngơi an dưỡng dành cho du khách có điều kiện

nghỉ dài ngày để tĩnh dưởng, giải tỏa tinh thần, trút bỏ mệt nhọc sau những kỳ làm việc dài ngày căng thẳng Địa điểm tĩnh dưởng yêu cầu nơi khá yên tĩnh, cảnh quan đẹp, có

vị trí tắm biển, có rừng cây Các hệ sinh thái đảo (Ba Mùn, Ngọc Vừng) có thể sử dụng cho hướng khai thác này vì đáp ứng được tính tổng hợp của tài nguyên

- Tắm biển: Là nhu cầu của phần đông đu khách đi du lịch biển Phục vụ cho tắm biển

là tài nguyên nước và bãi cát của HST Hệ thống bãi biển ở khu vực là những nơi sử dụng làm các bãi tắm lý tưởng với những bãi rất nổi tiếng khu vực Van Đồn, Minh Châu, Ngọc Vừng

-Ăn: Là nhu cầu hàng ngày, đồng thời là một dạng văn hóa Các HST vùng triều, rừng

ngập mặn và rạn san hô có thể cung cấp nhiều đặc hải sản cao cấp làm tăng chất lượng

du lịch Tuy nhiên, lượng du khách ngày càng đông làm cho nguồn lợi này ngày càng cạn kiệt, nếu khai thác tự nhiên Để tiến hành cung cấp, nuôi các đặc hải sản và nhập nguồn từ nơi khác về Dù nhập hay nuôi, du khách được ăn đặc sản tại vị trí HST mà

nó tồn tại vẫn gây ấn tượng sâu sắc

- Vui cho giải trí và hoạt động thể thao: Là một khả năng khai thác du lịch hiệu quả

cao Tài nguyên khai thác là không gian mặt nước và vị thế cảnh quan của các HST tùng áng, vịnh nhỏ, bãi cát biển Quy mô vui chơi giải trí rất khác nhau từ lễ hội đua thuyền thu hút hàng vạn người tham gia đến mức du thuyền thủy cá nhân, câu cá vài

ba người Các hình thức vui chơi giải trí trên mặt rộng rất phong phú, đa dạng từ đua thuyền, lướt ván, nhào lộn, bóng nước cho đến giải trí trên bờ như chơi gôn, cassino.v.v

- Thăm xem: Là lượng khai thác chủ đạo của du lịch Bái Tử Long Đối tượng thăm xem

rất phong phú ở tất cả các HST Tài nguyên khai thác thăm xem đa dạng, nhưng chủ yếu là cảnh quan tự nhiên với các đặc tính: Tự nhiên, nguyên sinh, Thẩm mỹ, Độc đáo,

đặc sắc và mới lạ, Tính hùng vĩ, Tính hài hòa, gợi cảm, Tính huyền thoại Đối với cảnh quan ngầm, đối tượng khai thác là các HST san hô, cỏ biển và HST bờ đảo Các giá trị

Trang 31

khai thác của cảnh quan ngầm: Tính huyền bí của thủy cung, thế giới mầu đơn sắc và sặc sỡ dưới đáy biển, tính đa dạng và hình dạng kỳ quặc của các loài thủy tộc, cảnh quan ''rừng san hô, và cỏ biển Ngoài tài nguyên tổng hợp cảnh quan ngầm mà mỗi đối tượng thăm xem cụ thể còn rất nhiều dạng: rừng nguyên sinh, rừng ngập mặn, hang

động và địa hình karster Các aquarium nhân tạo, bán tự nhiên và tự nhiên

- Thám hiểm: Nhiều du khách ham hiểu biết, khám phá và ưa phiêu lưu, mạo hiểm

Cac HST đảo - rừng mưa nhiệt đới và HST rạn san hô có tiềm năng lớn cho du lịch thám hiểm Thực chất là một dạng du lịch sinh thái đặc biệt Thám hiểm hang động, kể cả hang động nổi và ngầm có khả năng thu hút nhiều khách nước ngoài - Leo núi cũng

là hình thức thám hiểm, hoạt động thể thao được khách nước ngoài ưa chuộng

- Du lịch lặn ngầm đã khá phát triển ở các nước trong khu vực và thu được hiệu quả kinh tế cao Để phát triển du lịch ngầm, ngoài các hình thức đơn giản như dùng thuyền kính, đường ngầm dưới nước bằng thủy tinh, sử dụng kính lặn nên phát triển lặn có khí tài (SCUBA diving), kèm theo là dịch vụ huấn luyện có cấp bằng, cho thuê phương tiện và hướng dẫn lộ trình đáy biển

Bảng 13 Cỏc dạng hoạt động du lịch sử dụng tài nguyờn Hệ sinh thỏi

và rừng mư a

Rừng ngập mặn

Rong,

cỏ biển

Bãi cát biển

Tùng

áng

Vùng triều

Rạn San hô

Trang 32

- Du lịch khoa học: Ngày càng nhiều cơ hội cho những tour du lịch khoa học phục vụ

các hội thảo khoa học tổ chức tại Hạ Long, Hải Phòng, Hà Nội Đó là chưa kể các đoàn cán bộ khoa học đến Hạ Long - Cát Bà - Bai Tu Long khảo sát nghiên cứu về địa chất,

địa mạo, hang động, đa dạng sinh học, bảo vệ tự nhiên và sinh thái môi trường Tất cả các HST trong khu vực đều có giá trị khai thác cao theo hướng này Trong đó, đặc biệt

là các HST rạn san hô, rừng ngập mặn, rừng mưa nhiệt đới và vùng triều

- Du lich Thương mại: Các sản phẩm phục vụ thương mại cho du khách lấy từ các giá

trị sử dụng trực tiếp không nhiều và cần phải hạn chế Đặc biệt nghiêm cấm lấy san hô

và các sinh vật cảnh khác bán cho du khách Về tâm lý, các du khách đều có nhu cầu mua đồ lưu niệm Các hướng khai thác sau đây có thể phát triển: Các bưu thiếp, in ảnh

có giá trị nghệ thuật cao, đặc sắc Loại bỏ các bưu thiếp kém chất lượng bán tràn lan hiện nay vì chúng phủ nhận các giá trị quý có thật của vịnh Hạ Long - đảo Cát Bà Các sản phẩm sinh học nuôi trồng trong điều kiện sinh thái của khu vực mà ngọc trai và một ví dụ Các đồ thủ công, mĩ nghệ mô tả cảnh quan và các giá trị của khu vực có tính chất tuyên truyền và quảng cáo Các đồ mĩ nghệ bằng sừng, đá, mây, tre, mô phỏng các đối tượng sinh học và tự nhiên tồn tại trong khu bảo tồn

Tuy nhiên phai coi du lịch sinh thái là định hướng phát triển ưu tiên ở khu vực Bai Tu Long vì nó có khả năng biến giá trị không sử dụng thành giá trị sử dụng không tiêu hao, giá trị gián tiếp thành trực tiếp mà vẫn bảo tồn được chức năng của HST

2.2.4 Giá trị an ninh quốc phòng

Hải quân là lực lượng nòng cốt trong lực lượng tổng hợp phòng thủ bờ biển Việc

bố trí các công trình phòng thủ và địa bàn tác chiến đều phải được thực hiện trong các khu vực ven biển Như vậy các đặc trưng về địa hình, địa mạo vùng đất ven biển là rất

quan trọng đối với công tác an ninh quốc phòng vùng duyên hải Vịnh Bái Tử Long,

phía Bắc giáp với đất liền, phía nam là Vịnh Bắc Bộ, hai phía đông và tây được bao bọc bởi hàng ngàn hòn đảo thuộc Hạ Long - Cát Bà và các đảo Đông Bắc Việt Nam Hệ

Trang 33

thống các đảo tạo thành bức tường thành vững chắc bảo vệ vùng đông bắc Việt Nam

Với một địa hình nhiều hang động như (hang Đúc Tiền, Vạn Gió

2.2.5 Các giá trị bảo tồn

Mô hình nuôi trồng thuỷ sản và phát triển du lịch sinh thái tại vinh Bái Tử Long một cách bền vững không thể tách rời các biện pháp bảo Từ kết quả phân tích trên có thể thấy rất rõ các giá trị bảo tồn là rất lớn và đa dạng

- Bảo tồn các habitat đặc biệt: như các dạng tùng áng, hang động

- Bảo tồn các cảnh quan tự nhiên

- Bảo tồn đa dạng sinh học, đặc biệt các loài quý hiếm, các rạn san hô

- Bảo vệ môi trường trong sạch

Các hoạt động của bảo tồn gồm 7 nhóm vấn đề

- Bảo vệ các bờ bãi khỏi bị xói lở

2 Hoạt động phục hồi

- Phục hồi các nguồn gen quý hiếm, đặc hữu có nguy cơ bị tiêu diệt (Lan hài, Tu hài, rùa biển, tôm hùm, cá ngựa v.v

- Phục hồi các rạn san hô đang bị suy giảm nghiêm trọng

- Phục hồi lại các bãi cát đã bị biến dạng do khai thác quá mức

3 Các hoạt động cần nghiêm cấm

- Khai thác đá, cát làm vật liệu xây dựng

- Khai thác, mua bán các loài quý hiếm đặc biệt buôn bán các loài đã bị nghiêm cấm trong danh mục Cites

- Khai thác măng đá, nhũ đá

- Khai thác thuỷ sản bằng phương pháp huỷ diệt như dùng mìn, dùng điện, lưới mắt nhỏ v.v

4 Hạn chế một số hoạt động sau

- Hạn chế việc khai thác ven bờ

- Hạn chế việc nuôi cá lồng, giàn lan tràn

- Khoanh đắp đầm nuôi trong rừng ngập mặn

Trang 34

- Hạn chế xây dựng các cơ sở hạ tầng làm mất cảnh quan, nhất là các cảnh quan đặc thù như hang động, hồ nước mặn, các bãi cát, các đảo nằm trên biển

5 Các hoạt động giảm thiểu

- Giảm thiểu ô nhiễm chất thải, đặc biệt là chất thải rắn, chất hữu cơ, dầu mỏ

- Giảm thiểu ô nhiễm tiếng ồn

- Giảm thiểu sự tăng độ đục của Vịnh

6 Các hoạt động phòng ngừa

- Cháy rừng

- Phì dinh dưỡng, thuỷ triều đỏ, tảo độc hại

- Phòng ngừa sự tràn dầu, đổ hoá chất ra vịnh

- Phòng ngừa tai nạn giao thông trên biển

- Khai thác quá mức nguồn lợi, cảnh quan thiên nhiên

7 Phát triển ngành nghề hỗ trợ cho bảo tồn

- Phát triển nghề cá vùng khơi

- Xây dựng các khu bảo tồn tự nhiên

- Phát triển mạnh dịch vụ du lịch sinh thái

- Nuôi trồng hải sản ở quy mô vừa ít ảnh hưởng đến hệ sinh thái

- Tập trung phát triển nuôi các đối tượng bản địa có giá trị kinh tế cao và có giá trị làm sạch môi trường

2.3 Các khả năng khai thác sử dụng tài nguyên

Khai thác sử dụng tài nguyên chính là khai thác và sử dụng các giá trị của hệ sinh thái Hệ sinh thái rất có giá trị cho tự nhiên và cho con người, nếu chúng ta sử dụng chúng một cách hợp lý Hệ sinh thái biển là hệ rất nhạy cảm nên mức độ tổn thương của hệ sinh thái lại rất cao Để có được một dạng hệ sinh thái hoàn chỉnh, thiên nhiên phải mất hàng triệu năm Nhưng con người chỉ cần vài năm, thậm chí vài tháng

đã có thể hoàn thành việc phá đi một hệ sinh thái hoàn chỉnh Vì vậy vấn đề cốt lõi của khả năng sử dụng hệ sinh thái là sử dụng bền vững, không làm lệch sự cân bằng của hệ Xem xét chi tiết khả năng tài nguyên của Vịnh Bái Tử Long thì khả năng sử dụng tài nguyên trong các hệ sinh thái phải đảm bảo các định hướng sau đây

- Coi du lịch, đặc biệt du lịch sinh thái là hướng phát triển kinh tế và sử dụng tài nguyên có hiệu quả nhất phù hợp với các mục tiêu bảo tồn tự nhiên bảo vệ hệ sinh thái cho các thế hệ sau

- Khai thác các hệ sinh thái từ các giá trị lấy ra được như nguồn lợi thuỷ sản, rừng, vật liệu xây dựng, vật liệu sinh học và vật liệu dược học phải tính toán mối quan hệ mật thiết giữa trữ lượng tài nguyên và sản lượng khai thác nhằm mục đích bảo đảm cho nguồn tài nguyên này có đủ năng lực tự tái tạo lại

Trang 35

- Tăng cường khai thác các giá trị không lấy ra được của hệ sinh thái như du lịch, nghỉ dưỡng, nghiên cứu, giáo dục thẩm mỹ v.v để giảm thiểu sự khai thác quá mức các giá trị khác

- Khai thác hệ sinh thái phải đảm bảo an toàn chức năng và di trì chất lượng của hệ sinh thái

Chức năng cơ bản của hệ sinh thái là chức năng nơi sống, môi trường trao đổi chất, chính là chu trình sống khép kín giữa môi trường và sinh vật Nếu khai thác hệ sinh thái làm ảnh hưởng đến chức năng habitat, chức năng cung cấp, chức năng chuyển

đổi của dòng năng lượng thì đều làm tổn hại đến nguồn tài nguyên của thuỷ vực

- Khai thác các hệ sinh thái phải đặc biệt lưu ý đến mức độ nhạy cảm, mức độ tổn thương của mỗi hệ riêng biệt Ví dụ hệ sinh thái san hô là hệ đặc biệt nhạy cảm, nên việc sự dụng các giá trị lấy ra được từ hệ này phải được cân nhắc kỹ lưỡng Các hồ nước mặn là giá trị đặc biệt của Vịnh thì không nên sử dụng chúng vào mục đích nuôi thuỷ sản v.v

- Cách thành phố Huế 49km, cách thành phố Đà Nẵng 55km

- Cách bãi biển Lăng Cô 12km

- Cách sân bay Phú Bài (Huế) 36km, sân bay Đà Nẵng 32km

- Cách biên giới Việt Lào 240km theo quốc lộ 9 - quốc lộ 1 và cách khu vực cảng Liên Chiểu 43km

- Cách đường hàng hải quốc tế 320 hải lý

- Vịnh Chân Mây tuy có diện tích không lớn nhưng là vịnh nước sâu (độ sâu trong và ngoài cửa vịnh đều khoảng 14m), ít bị ảnh hưởng bởi dòng bồi tích cả từ sông và từ biển, hiện tượng bồi - xói ở các đoạn bờ lân cận và trong vịnh diễn ra không đáng kể

Trang 36

Ngoài ra, khu du lịch Cảnh Dương thuộc vịnh Chân Mây cùng với các cảnh quan thiên nhiên phục vụ phát triển du lịch của tỉnh như núi Bạch Mã, đèo Hải Vân, bãi biển Lăng Cô, đầm An Cư, đầm Cầu Hai, núi Tuý Vân, Suối Tiên tạo thành một quần thể khu du lịch nổi tiếng và độc đáo ở miền Trung Tuy nhiên, phần lớn mạng lưới giao thông của tỉnh vẫn ở mức lạc hậu và mới phát triển theo tuyến bắc - nam (tuyến đường Quốc Gia), các tuyến xương cá đông - tây chưa phát triển Nên việc đưa Chân mây thành địa điểm du lịch còn gặp nhiều khó khăn

3.1.2 Khí hậu

Chân Mây thuộc miền khí hậu Đông Trường Sơn và phần cực Nam của vùng khí hậu Bình Trị Thiên, khí hậu khu vực vũng Chân Mây có những nét dị thường trong sự phân hoá mùa mưa ẩm, phản ánh tác động quan trọng của địa hình Trường Sơn với hoàn lưu

- Chế độ mưa ẩm ở đây có sự lệch pha đặc sắc so với các miền khí hậu phía Bắc và phía Nam Mưa chỉ bắt đầu khi luồng gió mùa mùa hạ thổi từ phía Nam lên, vào khoảng tháng VIII Mùa mưa kéo dài tận đến tháng I nhờ hoạt động mạnh mẽ của các nhiễu động khí quyển và các cơn bão cuối mùa

- Một đặc điểm quan trọng khác là chế độ nhiệt mang tính chất chuyển tiếp giữa miền khí hậu phía Bắc và phía Nam Luồng không khí cực đới hoạt động ở khu vực này đã bị biến tính rất nhiều nên ở đây không còn mùa lạnh nữa Nhiệt độ trung bình của tất cả các tháng trong năm đều trên 20oC Chỉ trong những đợt gió mùa Đông bắc mạnh nhiệt độ có thể xuống dưới 10oC

- Trong mùa hạ do hiệu ứng fơn của luồng gió ẩm phía Tây đã đem lại một kiểu thời tiết khô nóng rất đặc trưng của khu vực Mặc dù có vị trí trên biển nhưng đây là một trong những khu vực có số ngày khô nóng nhiều nhất nước ta Trung bình hàng năm ở

đây cũng có đến 58 ngày khô nóng, tuy nhiên mức độ khô nóng xảy ra không trầm trọng như trong đất liền

- Mùa đông là mùa mưa ẩm Thời kỳ mưa ẩm kéo dài 4-5 tháng, từ tháng X, XI đến tháng II năm sau Độ ẩm trong những tháng này thường xấp xỉ 90% Nguyên nhân dẫn

đến tình trạng ẩm ướt trong thời gian này là do sự gia tăng hàm lượng ẩm của gió mùa

Đông bắc thổi qua biển tới bị chặn lại ở sườn Đông của dãy Trường Sơn

- Lượng mây tổng quan trung bình năm chiếm 7,7/10 bầu trời Thời kỳ nhiều mây từ tháng VIII đến tháng XII Hai tháng nhiều mây nhất là tháng XI và XII với lượng mây tổng quan 8,3/10 bầu trời Mây ít trong thời kỳ mùa xuân, đầu mùa hè tháng III, IV, V lượng mây tổng quan trung bình trong các tháng này dao động trong khoảng 6,9-7,3/10 bầu trời

- Tổng số giờ nắng năm khoảng 1973 giờ Trong mùa xuân tương đối ít mây và nhiều nắng vì không còn bị tác động nhiều của hoàn lưu gió mùa Đông bắc Mùa hè cũng rất

Trang 37

nhiều nắng do nằm ở khu vực khuất gió trong mùa gió mùa Tây nam Vì vậy thời kỳ nhiều nắng kéo dài trong suốt thời kỳ xuân - hè, từ tháng III cho đến tháng VIII, IX Cực đại của

số giờ nắng rơi vào tháng VII với khoảng 247 giờ nắng/tháng Thời kỳ mùa đông thời gian nắng giảm sút rõ rệt, ít nắng nhất là tháng XII với khoảng 86 giờ nắng/tháng

• Hoàn lưu gió mùa và chế độ gió

Vũng Chân Mây nằm trong vùng ranh giới khí hậu giữa miền Bắc và miền Nam

- Vào mùa đông có thể xem như đới gió chính là tín phong Đông bắc của Bắc bán cầu Tuy nhiên, chế độ gió vẫn còn bị chi phối bởi tác động của hệ thống gió mùa từ áp cao Xibia Hướng gió thịnh hành trong mùa đông (XI-III) là Tây bắc với tần suất dao động

từ 14-34%

- Vào mùa hạ, tín phong từ Nam bán cầu dịch chuyển lên, tạo thành gió có hướng Tây Nam vào đầu mùa và hướng Nam trong suốt thời kỳ mùa hè Dãy Trường Sơn chắn luồng gió Tây thổi tới hình thành nên một kiểu gió Tây khô nóng mà thường gọi là

“gió Lào” Mùa hạ thịnh hành gió Nam và Tây nam với tần suất 10-17% Tần suất lặng gió không lớn, trung bình 28-37%

• Nhiệt độ

Nhiệt độ không khí trong một khu vực luôn biến đổi theo thời gian và không gian phụ thuộc vào tác động của ba nhân tố: chế độ bức xạ, hoàn lưu khí quyển và điều kiện địa phương mà chủ yếu là yếu tố địa hình Do đặc điểm của vũng Chân Mây là một vũng nhỏ sát với dải đồng bằng ven bờ, và không có đảo nên yếu tố chủ yếu quyết

định chế độ nhiệt ở khu vực là chế độ bức xạ và hoàn lưu khí quyển

- Chế độ nhiệt mang tính chất chuyển tiếp giữa miền khí hậu phía Bắc và phía Nam So với nền nhiệt ở các vũng vũng phía Bắc, nhiệt độ ở đây tương đối cao do ảnh hưởng của hoàn lưu gió mùa Đông bắc đến khu vực đã giảm nhiều Nhiệt độ không khí trung bình năm khoảng 25oC với tổng nhiệt năm xấp xỉ 9100oC Biên độ nhiệt năm thấp so với khu vực ở phía Bắc, đạt giá trị xấp xỉ 9oC

- Nhiệt độ trung bình của tất cả các tháng đều trên 20oC Tháng lạnh nhất là tháng I, nhiệt độ không khí trung bình cũng đạt 20,1oC Tuy nhiệt độ tương đối cao nhưng trong những đợt gió mùa Đông bắc mạnh nhiệt độ không khí tối thấp tuyệt đối có thể xuống dưới 10oC và nhiệt độ không khí tối thấp trung bình đạt 17-18oC

Mùa nóng kéo dài 7 tháng, từ tháng IV đến tháng X dài hơn 2 tháng so với vùng Bắc Trung bộ Trong đó có 4 tháng, từ tháng V đến tháng VIII nhiệt độ không khí trung bình đều trên 28oC, nhiệt độ cao trung bình vượt quá 33oC vànhiệt độ thấp trung bình vượt quá 24oC Trong mùa hè có khả năng gặp nhiệt độ tối cao tuyệt đối trên 40oC trong những tháng đầu mùa hè (IV-VI) vào những ngày có gió Tây khô nóng hoạt động

Biên độ dao động ngày đêm của nhiệt độ khoảng 7,4oC Thời kỳ nhiệt độ dao

động mạnh nhất là các tháng mùa hạ từ tháng IV đến tháng VIII, đạt 8,3-9,6oC đây là thời kỳ nhiều nắng Biên độ nhiệt ngày giảm xuống thấp vào thời kỳ thu đông (tháng X-XII) khoảng 5-6oC, đây là thời kỳ nhiều mây và mưa lớn

• Độ ẩm không khí

Trang 38

Độ ẩm không khí tương đối trung bình năm tương đối lớn, đạt 84% Thời kỳ khô nhất trong năm vào giữa mùa hạ từ tháng V đến tháng VIII; Khi vào mùa mưa thì

ở đây thịnh hành kiểu thời tiết khô nóng nhất với độ ẩm trung bình có giá trị 74-76%

Độ ẩm thấp nhất trung bình đạt 66% và độ ẩm tối thấp tuyệt đối có thể xuống tới 29% trong những ngày có gió Tây khô nóng hoạt động Tháng XII là thời kỳ ẩm nhất trong năm, độ ẩm đạt đến 90%

• Mưa

Đây là khu vực có chế độ mưa rất phong phú, nằm trong vùng có lượng mưa lớn nhất của miền khí hậu Đông Trường Sơn Với vị trí nằm ở phía Đông bắc của dãy Bạch Mã, vũng Chân Mây hàng năm có lượng mưa trung bình trên 2800mm với 167 ngày mưa.Mùa mưa ở đây lệch pha so với mùa mưa tại các vùng khác trên toàn quốc do tác

động của hệ thống hoàn lưu gió mùa Đông bắc và các nhiễu động gây mưa khác như bão, áp thấp, dải hội tụ Mùa mưa lệch về mùa đông, kéo dài 6 tháng từ tháng VIII đến hết tháng I năm sau Trong những tháng đầu và cuối mùa mưa (tháng VIII, I) lượng mưa trung bình 100-150mm, các tháng khác lượng mưa trung bình đều trên 300mm với khoảng 16-21 ngày mưa mỗi tháng Hai tháng mưa lớn nhất là tháng X và tháng XI với lượng mưa trên 500mm/tháng Thời kỳ ít mưa kéo dài từ tháng II đến tháng VII Tuy nhiên lượng mưa trong thời kỳ này không phải là quá ít, mỗi tháng trung bình cũng có từ 46mm đến xấp xỉ 100mm với từ 8-13 ngày mưa Tháng ít mưa nhất là tháng III, trung bình có khoảng 46-47mm/tháng Trong thời kỳ ít mưa có một cực đại phụ của biến trình mưa vào tháng VI, với lượng mưa khoảng trên dưới 100mm

• Các hiện tượng thời tiết đặc biệt

- Gió Tây khô nóng: Gió Tây khô nóng xuất hiện trong mùa gió mùa mùa hạ khi luồng

gió ẩm vượt qua dãy Trường Sơn đem lại kiểu thời tiết khô nóng rất đặc trưng Gió Tây khô nóng xuất hiện nhiều tháng VI, tháng VII, trung bình mỗi tháng có 13-15 ngày khô nóng

- Bão: Vũng Chân Mây nằm trong vùng tác động của bão và áp thấp, đứng thứ 3 so với

các vùng ven biển khác trên cả nước với tần suất là 17,5% Trong khoảng 51 năm (1954-2004) có 55 cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới đổ bộ trực tiếp hoặc tiếp cận vùng bờ biển này, trung bình mỗi năm có 1 cơn Mùa bão kéo dài 6 tháng từ tháng VI đến tháng

XI

- Dông: Vũng Chân Mây có tương đối nhiều dông Cũng giống như các vũng vũng

khác, mùa dông ở đây trùng với mùa gió mùa mùa hạ, bắt đầu từ tháng III và kết thúc

vào tháng X Hàng năm trung bình có khoảng 96-97 ngày dông

- Sương mù: So với các vũng vũng ở phía Bắc thì số ngày có sương mù ở đây đã giảm

nhiều Trung bình hàng năm có 17-18 ngày sương mù Sương mù chủ yếu xuất hiện trong các tháng cuối đông, từ tháng I đến tháng III và nhiều nhất vào tháng III

- Mưa phùn: So với các vũng vũng ở phía Bắc, hiện tượng mưa phùn ở đây đã giảm rất

nhiều Hàng năm quan sát được khoảng 5 ngày mưa phùn

3.1.3 Giá trị tài nguyên đất và cảnh quan tự nhiên

Theo số liệu thống kê, tổng diện tích của 3 xã là 162 Km2, trong đó khoảng 20

Km2 mặt nước Vịnh Chân Mây Trong số này có tới trên 50 % là đồi núi Núi Phước

Trang 39

Tượng và Vinh Phong ở phía Tây, Núi phú Gia và núi Tròn ở phía Đông và vùng núi thấp Dẫy Trường Sơn nằm ở phía Nam Tại Vịnh Chân Mây, ngoài 20 Km2 mặt nước, còn có khoảng 70 Km2 đất bằng phẳng, lý tưởng để hình thành khu đô thị mới trong tương lai gần Ngay nội tại Vịnh Chân Mây, đất đai chủ yếu là đồi núi, các cồn cát biển

và phần cảng nước sâu Vì vậy, ngoài sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp là các nghề truyền thống thì tiềm năng phát triển mạnh cảng nước sâu, du lịch sinh thái của khu vực sẽ là thế mạnh trong tương lại Gắn liền với Vịnh Chân Mây là huyện phú Lộc với tổng diện tích là 72.808,5ha, chiếm 14,4% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Đất đai của huyện rất đa dạng, phong phú, bao gồm 19 loại và được chia làm 8 nhóm Trong đó có một số nhóm có giá trị đối với sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp như:

- Nhóm đất phù sa sông chiếm 6,9% diện tích tự nhiên, đây là phần diện tích có giá trị nhất đang được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp với các loại cây trồng chính là lúa và màu

- Nhóm đất cát và cồn cát biển chiếm 18,8%, tập trung ở vùng ven biển và các cửa sông Loại đất này thích hợp cho trồng các loại hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả như khoai, lạc, đậu, đỗ, cam, chanh Hiện nay, nhóm đất này đang được

sử dụng vào sản xuất nông, lâm nghiệp trong đó chủ yếu là trồng rừng phòng hộ và rừng sản xuất

- Nhóm đất mặn và phèn mặn chiếm 5%, phân bố ở vùng ven biển, cửa sông, ven đầm Diện tích này đang được sử dụng vào trồng lúa và qui hoạch để nuôi trồng thuỷ sản

- Nhóm đất đỏ vàng (Feralit) chiếm 60,3%, được phát triển từ quá trình phong hoá đá macma bazơ Diện tích này rất thích hợp với việc trồng cây ăn quả, sản xuất lâm nghiệp Hiện nay, nhóm đất này cũng đang được sử dụng cho lâm nghiệp và một phần nhỏ cho nông nghiệp Hiện nay, toàn huyện Phú Lộc còn khoảng 27.902,3ha đất chưa

sử dụng, chiếm khoảng 38,3% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện, trong đó có 2.093,4ha đất bằng, 12.968ha đất đồi núi và 12.042ha đất có mặt nước (UBND huyện Phú Lộc, 2003) Diện tích đất này chủ yếu phân bố ở những nơi không có điều kiện thuận lợi về tưới tiêu và giao thông đi lại Đây là diện tích tiềm năng có thể khai thác

sử dụng vào sản xuất nông lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản nếu được đầu tư tốt về cơ

sở hạ tầng

Như vậy đất đai của Chân Mây, ngoài các diện tích đất, nước của chính bản thân Vịnh, còn được sự hỗ trợ của một vùng đất rộng lớn thuộc huyện Phú Lộc Tạo ra khả năng phát triển các ngành kinh tế cảng- du lịch- nông - lâm nghiệp du lịch sinh thái của khu vực sẽ là thế mạnh trong tương lại

3.2 Tài nguyên sinh vật

3.2.1 Các hệ sinh thái

3.2.1.1 Các hệ sinh thái trên cạn

Khu vực cảng Chân Mây nằm ở phía nam của tỉnh Thừa Thiên - Huế Về mặt khí hậu, đây là vùng nối tiếp giữa hai miền khí hậu: miền bắc và miền nam (vùng Bình - Trị Thiên, trong đó có cảng Chân Mây) Vùng có tổng bức xạ năm lớn 120-140 kcal/cm2, có 1800-2000 giờ nắng/năm, tổng nhiệt độ 8100-8200 0C, vượt nhiều so với

đồng bằng trung du sông Hồng Đây cũng là vùng chịu nhiều ảnh hưởng của thời tiết bất lợi, áp thấp nhiệt đới, bão lũ lụt Trung bình hàng năm có 4-5 cơn bão và áp thấp

Trang 40

nhiệt đới ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp, nhiều trận lụt lớn xảy ra do nạn phá rừng bừa bãi Tuy vậy, với vị trí đặc biệt của vùng lãnh thổ nên vùng nam Thừa Thiên - Huế

là vùng chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng trong các hệ sinh thái khác nhau, là vùng có sự giao lưu giữa hai luồng sinh vật Bắc và Nam (Đặng Huy Huỳnh - 1991) Căn cứ vào vùng cảnh quan có thể thấy 3 hệ sinh thái chính đóng vai trò quan trọng nhất đối với đời sống kinh tế-xã hội cộng đồng là hệ sinh thái rừng núi, hệ sinh thái đồng bằng nông nghiệp và hệ sinh thái vùng cát ven biển

• Hệ sinh thái rừng núi

Trong phạm vi ảnh hưởng của vườn quốc gia Bạch Mã đến vịnh Chân Mây, hệ sinh thái Bạch Mã thuộc hệ sinh thái rừng núi tiêu biểu của vùng Bạch Mã-Hải Vân là một nhánh của dãy Trường Sơn ăn ra biển, vùng này có sự đa dạng cao về loài động thực vật và có nhiều loài quí hiếm Chỉ trong phạm vi vườn quốc gia với diện tích 22.031 ha

đã thống kê được 501 loài thực vật bậc cao thuộc 251 chi, 124 họ, 9 bộ Đặc biệt có

nhiều loài đặc hữu chỉ gặp ở rừng quốc gia Bạch Mã như dầu bọt tím (Dipterocarpus

grandiflorus), dầu bọt đỏ (D .basselltis), lan kim thấp lá tán to Ngoài các loài đặc

hữu, nơi đây còn thể hiện là nơi hội nhập của hai luồng thực vật bắc-nam Một số loài của phía bắc chỉ xuống đến dãy Bạch Mã như gụ lai, lim vàng trâm, chay lá bồ đề

(Artocarpus styrycafolius) trong khi đó có một số loài phương nam cũng chỉ đến Bạch

Mã như kiền kiền, kim giao, chò đen, cẩm lai

Về tài nguyên động vật, vườn quốc gia Bạch Mã dã thống kê được 55 loài thú thuộc

23 họ, 9 bộ; 150 loài chim thuộc 37 họ, 14 bộ Nét nổi bật là tài nguyên động vật Bạch Mã cũng như cả vùng Thừa Thiên - Huế mang yếu tố đặc hữu trội so với các nơi khác,

ví dụ gà lôi lam màu đen (Lophura imperialis), gà lôi lam màu trắng (L edwardsi), trĩ sao (Rheinareditia ocelata), gà lôi hồng tía (Lophura diardii) Theo các nhà nghiên

cứu chim quốc tế thì Bạch Mã có thể coi là trung tâm phát tán các loài trĩ, gà lôi ở vùng

Đông Nam á Bên cạnh các loài chim quí hiếm, ở đây còn gặp một số loài thú quí hiếm

như: Voọc ngũ sắc (Pygathrix nemaeus), vượn (Hylobates concolor), hổ (Pantheria

tigris), gấu ngựa (Henarotos thibetanus), chó sói (Cuon alpilus), báo hoa mai

(Panthera pardus), voi (Elephas maximus) Trong số các loài đã biết có đến 25 loài thú

và 7 loài chim thuộc diện quí hiếm không những đối với nước ta mà còn cả thế giới Đó

là nguồn gen vô cùng quí giá cần được bảo vệ Chính nguồn tài nguyên rừng và các dạng tài nguyên sinh vật đặc hữu luôn luôn giữ vai trò đặc hữu tong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, cung cấp nguyên liệu nông lâm và du lịch phục vụ quá trình phục hồi và phát triển kinh tế văn hoá ở địa phương

• Hệ sinh thái đồng ruộng

ở khu vực sinh thái nói riêng, huyện Phú Lộc nói chung có đặc điểm của vùng

đất savan phần lớn bị hoang hoá Quá trình hình thành đất savan là kết quả tác động của nhiều yếu tố: địa hình, đá mẹ, khí hậu động thực vật và tác động của con người Sự hình thành đất cát ven biển do tác động của biển đóng vai trò chủ đạo được tiến hành trong thời kỳ Đệ tứ đến nay Đặc trưng thổ nhưỡng là loại vỏ phong hoá sialic và đất cát phù sa hội tụ Đất có phẫu diện đặc trưng gồm 3 tầng: Tầng canh tác, tầng vàng nâu

và tầng xanh lơ Nhìn chung là loại đất kém dinh dưỡng, thành phần cơ giới là cát rời

Ngày đăng: 18/12/2013, 00:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Bảng thống kê  tình hình sử dụng đất                                                  (vịnh Bái Tử Long năm 2003) - Tài nguyên thiên nhiên vũng vịnh trọng điểm bái tử long và chân mây
Bảng 1. Bảng thống kê tình hình sử dụng đất (vịnh Bái Tử Long năm 2003) (Trang 6)
Bảng 3. Thống kê nguồn gen một số đảo thuộc Bái Tử Long - Tài nguyên thiên nhiên vũng vịnh trọng điểm bái tử long và chân mây
Bảng 3. Thống kê nguồn gen một số đảo thuộc Bái Tử Long (Trang 10)
Bảng 4. Chỉ số đa dạng (H') của các nhóm sinh vật hải d−ơng tại vùng n−ớc - Tài nguyên thiên nhiên vũng vịnh trọng điểm bái tử long và chân mây
Bảng 4. Chỉ số đa dạng (H') của các nhóm sinh vật hải d−ơng tại vùng n−ớc (Trang 10)
Hình 1. Thành phần loài thực vật phù du ( khảo sát năm 2004 - 2005 - Tài nguyên thiên nhiên vũng vịnh trọng điểm bái tử long và chân mây
Hình 1. Thành phần loài thực vật phù du ( khảo sát năm 2004 - 2005 (Trang 12)
Bảng 5.  Các chỉ số cơ bản TVPD vào mùa m−a tháng 7 năm 2004 - Tài nguyên thiên nhiên vũng vịnh trọng điểm bái tử long và chân mây
Bảng 5. Các chỉ số cơ bản TVPD vào mùa m−a tháng 7 năm 2004 (Trang 12)
Bảng 6.  Các chỉ số cơ bản TVPD vào mùa khô tháng 3 năm 2005 - Tài nguyên thiên nhiên vũng vịnh trọng điểm bái tử long và chân mây
Bảng 6. Các chỉ số cơ bản TVPD vào mùa khô tháng 3 năm 2005 (Trang 13)
Bảng 7. Phân bố số l−ợng ĐVPD theo mùa tại Vịnh Bái Tử Long - Tài nguyên thiên nhiên vũng vịnh trọng điểm bái tử long và chân mây
Bảng 7. Phân bố số l−ợng ĐVPD theo mùa tại Vịnh Bái Tử Long (Trang 15)
Hình 6. Tỷ lệ % số loài Động vật đáy tại Bái Tử Long - Tài nguyên thiên nhiên vũng vịnh trọng điểm bái tử long và chân mây
Hình 6. Tỷ lệ % số loài Động vật đáy tại Bái Tử Long (Trang 16)
Hình 5.  Biến động mật độ và số loài ĐVPD tháng 3/2005 tại các trạm                   Vịnh Bái Tử Long - Tài nguyên thiên nhiên vũng vịnh trọng điểm bái tử long và chân mây
Hình 5. Biến động mật độ và số loài ĐVPD tháng 3/2005 tại các trạm Vịnh Bái Tử Long (Trang 16)
Hình  7. Biến động só loài, mật độ (con/m 2 ) ĐVĐ tại các trạm đáy mềm                            vịnh Bái Tử Long  tháng 7/2004 - Tài nguyên thiên nhiên vũng vịnh trọng điểm bái tử long và chân mây
nh 7. Biến động só loài, mật độ (con/m 2 ) ĐVĐ tại các trạm đáy mềm vịnh Bái Tử Long tháng 7/2004 (Trang 18)
•  Mùa khô năm 2005 (bảng 9, hình 8) - Tài nguyên thiên nhiên vũng vịnh trọng điểm bái tử long và chân mây
a khô năm 2005 (bảng 9, hình 8) (Trang 18)
Bảng 10.  Các loài động vật đáy có giá trị kinh tế ở  vùng biển ven các đảo - Tài nguyên thiên nhiên vũng vịnh trọng điểm bái tử long và chân mây
Bảng 10. Các loài động vật đáy có giá trị kinh tế ở vùng biển ven các đảo (Trang 21)
Bảng  11. Số l−ợng giống loài và tỉ lệ phân trăm của chúng trong khu hệ  san hô Bái Tử Long - Tài nguyên thiên nhiên vũng vịnh trọng điểm bái tử long và chân mây
ng 11. Số l−ợng giống loài và tỉ lệ phân trăm của chúng trong khu hệ san hô Bái Tử Long (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w