Đề tài nghiên cứu các vấn đề môi trường nông thôn việt nam theo các vùng sinh thái đặc trưng, dự báo xu thế diễn biến, đề xuất các chính sách và giải pháp kiểm soát thích hợp Tác động
Trang 1Đề tài
nghiên cứu các vấn đề môi trường nông thôn việt nam theo các vùng sinh thái đặc trưng,
dự báo xu thế diễn biến, đề xuất các chính sách
và giải pháp kiểm soát thích hợp
Tác động của các chính sách
và giải pháp sử dụng tài nguyên
và vấn đề môi trường nông thôn
Báo cáo chuyên đề của đề tài nhánh KC 08.0611
Chủ biên: Lê Thạc Cán Viện Môi trường và Phát triển Bền vững
hà Nội, 5/2003
Trang 2mục lục
1 Khái niệm về nông thôn ở nước ta 3
2 Tài nguyên thiên nhiên và môi trường nông thôn 3
3 Các chính sách và giải pháp liên quan tới tài nguyên thiên nhiên và môi trường nông thôn 6
4 Tác động của các chính sách và giải pháp sử dụng tài nguyên thiên nhiên ở nông thôn 9
5 Tác động của các chính sách và giải pháp sử dụng tài nguyên thiên nhiên ở nông thôn theo kiểu vùng sinh thái 16
6 Nhận xét chung 31Tài liệu tham khảo 31
Trang 3các vấn đề môi trường nông thôn việt nam
theo các vùng sinh thái đặc trưng,
dự báo xu thế diễn biến, đề xuất các chính sách
và giải pháp kiểm soát thích hợp
1 Khái niệm về nông thôn ở nước ta
Nông thôn là từ ghép hai khái niệm “nông nghiệp” và “thôn làng” ở vùng
đồng bằng hoặc “thôn bản” ở vùng đồi núi Nông thôn vừa là nơi diễn ra các hoạt động sản xuất nông nghiệp vừa là địa bàn cư trú của những người làm nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng gồm cả nông, lâm, ngư và các hoạt động sản xuất, dịch vụ liên quan Xét về môi trường và sinh thái mỗi đơn vị nông thôn
có thẻ xem là một hệ sinh thái trong các hệ sinh thái lớn hơn của vùng và của cả nước Nông thôn với khái niệm như vậy chiếm khoảng 4/5 diện tích lãnh thổ nước ta Số cư dân trên đó cũng chiếm khoảng 80% tổng dân số Hiện nay với
sự phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa nông thôn Việt Nam đang đi vào quá trình chuyển đổi mạnh mẽ Một phần diện tích đất sản xuất nông nghiệp đang nhường chỗ cho các khu công nghiệp, các tuyến giao thông vận tải và các công trình cơ sở hạ tầng khác Một số vùng nông thôn đang được đô thị hóa do sự mở rộng các đô thị đã có, hoặc do thành lập các thị tứ, thị trấn mới Tại nhiều vùng nông thôn các hoạt động sản xuất thủ công nghiệp, công nghiệp đã xen lẫn với các hoạt động nông nghiệp Một
số vùng nông thôn mới đang lan dần một cách tự phát, hoặc theo kế hoạch, vào những vùng đồi núi, đất ngập nước ven sông hồ và biển Nông thôn là vùng
đang chuyển đổi mạnh mẽ về kinh tế, xã hội, cũng như tài nguyên và môi trường
2 Tài nguyên thiên nhiên và môi trường nông thôn
Với địa bàn rộng lớn, theo quan niệm như trên, vùng nông thôn có tài nguyên thiên nhiên hết sức phong phú, đa dạng: đất, nước, rừng, khoáng sản, năng lượng, đa dạng sinh học, cảnh quan, vị thế địa lý và các nhân tố khí hậu Trong phạm vi chuyên đề này không thể mô tả, phân tích về các tài nguyên thiên nhiên cụ thể trên đất nước ta, mà chỉ quan tâm tới các tác động môi trường của việc sử dụng, khai thác các tài nguyên này Trong đó quan trọng nhất và phổ biến nhất là các tài nguyên đất, nước (bao gồm cả nước ngọt, lợ, mặn), rừng, đa dạng sinh học đã được sử dụng rộng rãi trong nông, lâm, ngư, thủ công và công nghiệp Tài nguyên cảnh quan, với khả năng phục vụ đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân địa phương và phục vụ du lịch đang ngày
Trang 4càng thêm có ý nghĩa quan trọng Tài nguyên năng lượng và khoáng sản với quy mô nhỏ, khai thác tại chỗ cũng có giá trị rất lớn với môi trường nông thôn Các công trình và công trường xây dựng cơ sở hạ tầng sử dụng vị trí, địa hình,
địa mạo địa phương, các hoạt động khai thác khoáng sản và năng lượng lớn, thường do các cấp quốc gia, tỉnh, thành phố quản lý, có tác động môi trường trực tiếp, to lớn và lâu dài tới điều kiện môi trường của các địa phương cụ thể Tài nguyên thiên nhiên phân bố khác nhau trên các kiểu vùng sinh thái nông thôn Các chuyên đề trong đề tài KC 08.06 đã nhất trí phân biệt trên lãnh thổ Việt Nam 5 kiểu vùng sinh thái: kiểu vùng sinh thái (KVST) miền núi; KVST trung du; KVST đồng bằng; KVST ven biển và KVST ven đô thị Đặc
điểm tài nguyên thiên của các vùng này khái quát tại bảng 1 sau đây
Bảng 1 Đặc điểm tài nguyên thiên nhiên của các kiểu vùng sinh thái
trên lãnh thổ Việt Nam hiện nay Kiểu vùng
sinh thái
Các tài nguyên thiên nhiên chính
Tình hình sử dụng
(1) KVST
miền núi
Đất Nước
Khai thác nhiều, tại nhiều nơi đã bị tàn phá,
đang có xu thế hồi phục Khai thác nhiều, có phần đã bị suy thoái, đã
có một số cố gắng bảo vệ các giống loài đặc hữu đã được phát hiện
Phần dễ khai thác đã được sử dụng, khai thác không hợp lý, còn tiềm năng
Một phần đã được khai thác, còn tiềm năng lớn
Khai thác một phần, tiềm năng còn lớn Một phần đã được khai thác, còn tiềm năng lớn
Khai thác một phần, tiềm năng còn lớn
(2) KVST
trung du
Đất Nước
Khai thác một phần, còn một số tiềm năng Khai thác một phần, còn tiềm năng, thiếu một ít trong mùa khô hạn
Trang 5Rừng
Đa dạng sinh học
Khoáng sản
Năng l−ợng Cảnh quan
Vị thế địa lý Các nhân tố khí hậu
Đã bị khai thác nhiều, có nhiều nơi đã bị tàn phá nặng, đang có xu thế hồi phục một bộ phận
Khai thác nhiều, một phần lớn đã bị suy thoái,
Phần dễ khai thác đã đ−ợc sử dụng, có những hoạt động khai thác không hợp lý, còn tiềm năng
Đã khai thác một phần, còn tiềm năng Khai thác một phần, tiềm năng còn lớn Khai thác một phần, tiềm năng còn lớn
Vị thế địa lý Các nhân tố khí hậu
Đã khai thác phần lớn, vẫn còn một số tiềm năng nh−ng không đủ đáp ứng nhu cầu
Đã khai thác phần lớn, còn một số tiềm năng, thiếu hụt trong mùa khô
Không nhiều, phần lớn đã bị khai thác, tàn phá dẫn đến suy thoái
Khai thác nhiều, phần lớn đã bị suy thoái, nhiều giống loài mới đã đ−ợc du nhập Phần dễ khai thác đã đ−ợc sử dụng, có những hoạt động khai thác không hợp lý, còn một ít tiềm năng
Đã khai thác một phần, còn một ít tiềm năngKhai thác một phần, tiềm năng còn lớn
Đã khai thác một phần, tiềm năng còn lớn Khai thác một phần, tiềm năng còn lớn
Đã khai thác phần lớn, còn một số tiềm năng, thiếu hụt nặng trong mùa khô
Không nhiều, chủ yếu là rừng ngập mặn, đã
bị khai thác và tàn phá nhiều lần
Trang 6Đa dạng sinh học
Khoáng sản
Năng lượng Cảnh quan
Vị thế địa lý Các nhân tố khí hậu
Khai thác nhiều, phần lớn đã bị suy thoái, nhiều giống loài mới đã được du nhập Phần dễ khai thác đã được sử dụng, có những hoạt động khai thác không hợp lý, còn một ít tiềm năng
Đã khai thác một phần, còn tiềm năng Khai thác một phần, tiềm năng còn lớn
Đã khai thác một phần, tiềm năng còn lớn Khai thác một phần, tiềm năng còn lớn
Vị thế địa lý
Các nhân tố khí hậu
Đã khai thác phần lớn, vẫn còn một ít tiềm năng nhưng không đủ đáp ứng nhu cầu
Đã khai thác phần lớn, thiếu hụt trong mùa khô
Không nhiều, phần lớn đã bị khai thác Không nhiều, nhiều gióng loài bản địa đã bị suy thoái, một số giống loài mới đã được du nhập
Không nhiều, phần dễ khai thác đã được sử dụng
Đã khai thác một phần, còn một ít tiềm năngKhai thác một phần, còn một ít tiềm năng
Đã khai thác một phần, tiềm năng còn lớn Khai thác một phần, tiềm năng còn lớn
3 Các chính sách và giải pháp liên quan tới tài nguyên thiên nhiên và môi trường nông thôn
Các cơ quan của Đảng và Nhà nước ở các cấp trung ương và địa phương đã ban hành hàng loạt chính sách và giải pháp liên quan tới sử dụng tài nguyên thiên nhiên trên toàn quốc và tại từng địa phương Trong phạm vi chuyên đề này chỉ có thể đề cấp đến các chính sách và giải pháp lớn ở cấp trung ương Các chính sách này có thể phân thành hai loại: loại chính sách chung về phát triển kinh tế – xã hội chung cho cả nước, và loại chính sách liên quan đến các hoạt động mang tính ngành trong xã hội
Trang 7Các chính sách chung về phát triển kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà nước
được thể hiện cụ thể trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001 – 2010
đã được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam Dựa trên văn bản Chiến lược có thể xác định các chính sách chung về phát triển cho tất cả mọi vùng, mọi miền trên đất nước ta như sau: (1) Chính sách về kinh tế: Phát triển nhanh về kinh tế đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, sản xuất ở trong nước và xuất khẩu, tăng nhanh GDP, tăng tỷ trọng trong GDP của công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng của nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp
(2) Chính sách về con người và xã hội: Nâng đáng kể chỉ số phát triển con người thông qua: giảm gia tăng dân số, xoá đói, giảm nghèo, giải quyết nhu cầu về việc làm ở nông thôn và thành thị, nâng cao mức phổ cập giáo dục, cải thiện dịch vụ y tế, tạo môi trường xã hội lành mạnh, bảo vệ và cải thiện môi trường tự nhiên
(3) Chính sách về khoa học và công nghệ: nâng cao năng lực khoa học và công nghệ để ứng dụng thành tựu tiên tiến của thế giới và tự phát triển trên một
số lĩnh vực
(4) Chính sách phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng: về giao thông, thuỷ lợi,
điện, viễn thông, cơ sở của trường học, bệnh viện
(5) Chính sách thiết lập thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với các thành phần: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể với vốn của nhà nước, của tập thể, của tư nhân và của nước ngoài
(6) Chính sách về môi trường: phát triển kinh tế – xã hội gắn chặt với bảo
vệ và cải thiện môi trường trong mỗi quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự
án phát triển, bảo vệ môi trường, phòng tránh thiên tai.1
Đối với nông thôn và nông nghiệp, cùng các chính sách chung nêu trên, chiến lược đã xác định 5 chính sách / định hướng lớn2
(1) Đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, (2) Xây dựng hợp lý cơ cấu sản xuất nông nghiệp,
(3) Tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ trong nông nghiệp,
(4) Tiếp tục phát triển và hoàn thiện hệ thống thuỷ lợi, nâng cao năng lực phòng chống thiên tai,
(5) Phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn
1
/ ĐCSVN Văn kiện Đại hội IX, trang 162 - 168
2 / ĐCSVN, Văn kiện Đại hội IX, trang 171, 173
Trang 8Chiến lược phát triển KTXH 2001 – 2010 cũng xác định các chính sách phát triển cụ thể đối với các kiểu vùng sinh thái3
- Đối với vùng nông thôn miền núi và trung du:
o Phát triển mạnh cây dài ngày, chăn nuôi đại gia súc và công nghiệp chế biến,
o Bảo vệ và phát triển vốn rừng,
o Hoàn thành và ổn định vững chắc định canh, định cư,
o Bố trí lại dân cư, lao động và đất đai theo quy hoạch đi đôi với xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế –xã hội để khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên,
o Phát triển kinh tế trang trại,
o Có chính sách đặc biệt để phát triển KTXH ở các vùng sâu, vùng xa, biên giới, cửa khẩu
- Đối với vùng nông thôn đồng bằng:
o Phát triển nông nghiệp sinh thái đa dạng và ứng dụng phổ biến tiến bộ khoa học và công nghệ trong sản xuất, chế biến, bảo quản, tiêu thụ sản phẩm,
o Hoàn thành điện khí hóa, thực hiện cơ giới hóa ở những khâu cần thiết
o Nâng cao thu nhập trên đơn vị diện tích,
o Chuyển lao động sang khu vực công nghiệp, dịch vụ,
o Phát triển mạnh thủ công nghiệp, mạng lưới công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản và các dịch vụ
- Đối với vùng nông thôn ven đô:
o Đưa quy hoạch và quản lý đô thị, kể cả vùng ven đô, vào nề nếp,
o Tạo vành đai nông nghiệp hiện đại ở các thành phố lớn
Tất cả các chính sách chung về phát triển kinh tế – xã hội trong cả nước, các chính sách riêng về nông nghiệp và nông thôn và chính sách đối với các kiểu vùng sinh thái nông thôn đều có tác tác động tới nguồn tài nguyên thiên nhiên trên các kiểu vùng sinh thái Trong các chính sách này thì những chính sách liên quan nhiều và trực tiếp tới tài nguyên thiên là:
(1) Chính sách xây dựng nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu
(2) Chính sách chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp
3 / ĐCSVN Văn kiện Đại hôi IX, trang 180 - 188
Trang 9(3) Chính sách phát triển mạnh hệ thống kết cấu hạ tầng về giao thông, thuỷ lợi, điện lực, viễn thông, điện khí hóa, cơ giới hóa, đưa tiến bộ công nghệ
và khoa học vào nông thôn
(4) Chính sách phát triển thủ công nghiệp, công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn
(5) Chính sách xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm ở nông thôn
(6) Chính sách phát triển giáo dục, đào tạo, văn hóa, nâng cao dịch vụ y tế
ở nông thôn
(7) Chính sách kế hoạch hóa dân số, kiểm soát di cư ở nông thôn
(8) Chính sách bảo vệ rừng và các tài nguyên thiên nhiên khác, vệ sinh, nước sạch, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường, phòng tránh thiên tai ở nông thôn
Các giải pháp lớn để thực hiện các chính sách nêu trên thể hiện chủ yếu trong các kế hoạch, chương trình và dự án của nhà nước cấp trung ương, tỉnh / thành phố, huyện / quận / thị xã
4 Tác động của các chính sách và giải pháp sử dụng tài
nguyên thiên nhiên ở nông thôn
Việc thực hiện các chính sách nêu trên và những giải pháp liên quan đã có những tác động như sau đối với môi trường các vùng nông thôn Môi trường nói ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên và yếu
tố chất lượng môi trường sống của con người Nhân tố môi trường rộng lớn và hết sức đa dạng Số lượng chính sách và giải pháp thực hiện chính sách cũng rất nhiều Báo cáo chuyên đề này không thể phân tích các tác động của chính sách cụ thể, trên một địa bàn nhất định như trong đánh giá tác động môi trường các chương trình và dự án phát triển, mà chỉ có thể trình bày những tác động khái quát của một số chính sách bao quát nhất trong cả nước
4.1 Tác động của chính sách xây dựng nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu
Đây là chính sách cơ bản của công cuộc đổi mới đã được triển khai trong
16 năm qua ở nước ta và đang tiếp tục diễn ra mạnh mẽ Với chính sách này khái niệm về quyền sử dụng tài nguyên ở nước ta đã thay đổi một cách cơ bản Một số dạng tài nguyên quan trọng như đất, rừng, mặt nước, cảnh quan trước
đây thuộc sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước, hoặc tập thể nay đã thuộc về quyền sử dụng của tư nhân và những thành phần kinh tế khác
Trang 10Chính sách này có tác động tích cực do các dạng tài nguyên như nêu ở phần 2 có chủ cụ thể nên được bảo vệ và khai thác hợp lý Chủ trương giao đất giao rừng cho dân với những tác dụng tích cực tới tài nguyên đất, tài nguyên rừng là một thí dụ cụ thể ở một số vùng trung du và miền núi các trang trại với năng suất kinh tế cao, môi trường tươi đẹp đã thay thế thôn bản nghèo nàn xơ xác trước đây
Mặt khác trong một số trường hợp quyền sử dụng tự do và phân tán đã dẫn
đến sản xuất tự phát, chạy đua theo những hấp dẫn của thị trường trước mắt,
mà kết quả là sự khai thác quá mức đất đai và tài nguyên khác, thua lỗ trong kinh doanh, bần cùng hóa người sản xuất nông nghiệp Tình trạng khai thác tài nguyên nước ngầm quá mức, cung cấp nông sản sản quá yêu cầu của thị trường, gây ứ đọng sản phẩm cà phê, trái cây tại nhiều vùng trên khắp cả nước
là thí dụ cụ thể Cơ chế thị trường đơn thuần, không có sự hướng dẫn, điều tiết
vĩ mô của nhà nước, tổ chức hợp tác bảo vệ quyền lợi của các hộ sản xuất có thể dẫn tới sự lãng phí tài nguyên, thua thiệt nặng về kinh tế
Việc sử dụng tự do tài nguyên đất mà nông hộ đã được giao quyền sử dụng cũng dẫn tới việc tự do áp dụng những biện pháp nông nghiệp gây tác hại lâu dài tới môi trường Sử dụng quá mức phân bón vô cơ, hóa chất bảo vệ thực vật, hóa chất kích thích tăng trưởng, và gần đây cả các hóa chất bảo lưu trái cây là một tai hoạ môi trường với những tác động hết sức lâu dài và nguy hiểm Kết quả của nhiều đợt điều tra, khảo sát và đề tài nghiên cứu về vấn đề này đã nêu lên tính nghiêm trọng của các tác động này
4.2 Tác động của chính sách chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp
Để đạt các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội phải chuyển nền nông nghiệp thiên về độc canh lúa gạo với mục đích tự túc lương thực, thực phẩm thành nền nông nghiệp hàng hóa đa canh Trong các thập kỷ vừa qua chính sách này đã đem lại cho nước ta những thắng lợi to lớn về nông nghiệp nói riêng và kinh tế nói chung Xét yêu cầu về kinh tế cũng như về tài nguyên và môi trường trong thời gian tới nước ta phải tiếp tục thực hiện chính sách này
Tuy nhiên việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp nếu không dựa vào quy hoạch, có cơ sở đầy đủ về khoa học, công nghệ và thị trường có thể dẫn những thất bại nghiêm trọng về tài nguyên, môi trường và kinh tế Chuyển các vùng đất lúa đã được ngọt hóa sau nhiều năm cải tạo đất gian khổ sang
đầm nuôi tôm; đầu tư lớn để lấp ruộng, biến đất ruộng thành đất trồng cây vải, rồi tôm bị bệnh, quả vải không có thị trường tiêu thụ là những thí dụ cụ thể Công tác quy hoạch sản xuất của thôn xã, nông hộ phải dựa trên quy hoạch sử dụng đất theo vùng do các cơ quan của nhà nước thực hiện Phát triển cà phê
Trang 11quá mức tại Tây Nguyên dẫn tới những biến đổi quan trọng về tài nguyên nước ngầm, ảnh hưởng rộng lớn tới giá sản phẩm cũng là một thí dụ cụ thể
Trong chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp việc phát triển chăn nuôi tại địa bàn thôn xóm, mở các lò mổ gia súc tại khu dân cư tại một số nơi đã dẫn tới những tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, tác động sâu sắc tới sức khoẻ của nhân dân và cảnh quan địa phương
4.3 Tác động của chính sách phát triển thủ công nghiệp, công nghiệp, dịch vụ
ở nông thôn
Chính sách chuyển đổi cơ cấu sản xuất không chỉ vận dụng riêng trong phạm vi nông nghiệp mà phải mở rộng cho toàn bộ nền kinh tế nông thôn Cùng với nông nghiệp tất cả các vùng nông thôn, trước hết là nông thôn thuộc kiểu vùng sinh thái đồng bằng và trung du phải ra sức phát triển thủ công nghiệp, công nghiệp và dịch vụ
Chính sách này là phương hướng tất yếu để giải quyết việc làm cho người lao động tại các vùng nông thôn đã đất chật, người đông, không còn đất đai, mặt nước làm phương tiện sản xuất, sinh sống cho người lao động Các vùng nông thôn hiện có thu nhập bình quân đầu người tương đối cao đều là những vùng có hoạt động phi nông nghiệp
Tuy nhiên việc đem sản xuất hàng hóa thủ công nghiệp với quy mô lớn, hoặc hàng hóa công nghiệp đơn giản vào vùng nông thôn thường có những tác
động môi trường rất phức tạp Nông thôn thường không có nhà xưởng, mặt bằng sản xuất, kho tàng rộng rãi phục vụ hoạt động sản xuất, cũng không có những điều kiện cơ sở hạ tầng thích hợp để xử lý khí thải, nước thải, rác thải Nơi sản xuất xen vào nơi sinh sống, vật thải sản xuất lẫn vào vật thải sinh hoạt Nếu không có quy hoạch cụ thể, bố trí sản xuất một cách tự phát thì có thể xẩy ra những khó khăn và xung đột vô cùng phức tạp về môi trường Các
đề tài nghiên cứu về làng nghề thực hiện trong các năm qua đã cho biết mức độ nghiêm trọng của ô nhiễm môi trường tại các làng này và sự phức tạp về giải pháp Một lò mổ trâu, bò, lợn loại nhỏ đặt trong một xóm có thể tác động hết sức tiêu cực đến môi trường sống và sức khoẻ của hàng trăm con người Một số xã ở đồng bằng Bắc Bộ đã có sáng kiến xây dựng các khu công nghiệp của xã, tách rời khỏi khu sinh hoạt của dân Biện pháp này có phần bảo
vệ được môi trường sống cho thôn xóm, tuy nhiên vẫn có những trở ngại do giá thành của sản phẩm bị đội lên, việc tận dụng lao động nhàn rỗi của các thành viên trong gia đình bị hạn chế Trong thủ công nghiệp một số hộ không muốn sản xuất ở khu công nghiệp chung, do muốn giữ bí mật một số thủ thuật công nghệ
Trang 124.4 Tác động của chính sách phát triển mạnh hệ thống kết cấu hạ tầng về giao thông, thuỷ lợi, điện lực, viễn thông, điện khí hóa, cơ giới hóa, đưa tiến bộ công nghệ và khoa học vào nông thôn
Chính sách này nói chung có thể gọi là chính sách công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông thôn, chỉ ra con đường tất yếu nông thôn cần đi theo trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đaị hóa đất nước Trong các năm qua chính sách này đã tạo nên những chuyển biến lớn ở các thôn xã thuộc kiểu vùng sinh thái ven đô, đồng bằng và một phần nhỏ ở vùng trung du, miền núi và ven biển Một bộ phận nhỏ của nông thôn đã được đô thị hóa (thị trấn, thị tứ mới) hoặc bán đô thị hóa (nông thôn có điều kiện tốt về điện, đường, trường, trạm, chợ) Môi trường sống vật chất và tinh thần của những nơi này được cải thiện rõ rệt
ở một số nơi chất lượng môi trường còn tốt hơn nhiều khu vực trong thành thị Tuy nhiên việc thực hiện một số chính sách cụ thể, do không được xem xét kỹ về mặt môi trường, nên không hạn chế được một số tác động tiêu cực về môi trường Một số dự án về hệ thống đường giao thông, công trình thuỷ điện
là những thí dụ cụ thể Hệ đường giao thông là điều kiện cơ bản cần thiết cho phát triển kinh tế – xã hội Có cơ sở hạ tầng giao thông tốt mới có thể nói tới công nghiệp hóa, huy động đầu tư từ trong nước và thu hút đầu tư từ nước ngoài Tuy nhiên tuyến đường giao thông đi qua một vùng có nhiều giá trị đa dạng sinh học có thể có những tác động nghiêm trọng tới các giá trị này theo các phương thức:
- Tạo điều kiện thuận lợi cho chặt cây, tàn phá rừng, săn bắt các động vật,
kể cả động vật quý hiếm;
- Gây nhiễu động làm các động vật hoang dã phải lánh xa, trốn tránh;
- Chia cắt nơi cư trú và các tuyến di chuyển của chúng;
- Cô lập một số động vật, hạn chế sinh tồn và sinh đẻ của chúng
Một hệ thống đường ngang dọc, như các tuyến đường Trường Sơn đông, Trường Sơn tây, kết hợp với các tuyến ngang hướng đông tây tại các tỉnh ven biển miền Trung, nếu không được đánh giá tác động môi trường chu đáo và quy hoạch tốt có thể dẫn tới những tác động như vậy
Hồ chứa nước của công trình thuỷ điện thường có tác dụng nhiều mặt: phát
điện, phòng lũ, cấp nước, tạo điều kiện cho giao thông thuỷ, thuỷ sản, du lịch Mặt khác thường có tác động tiêu cực là ngập đất, ngập rừng, ngập cơ sở hạ tầng, huỷ hoại một số giá trị đa dạng sinh học, làm cho một số lượng lớn dân chúng phải rời bỏ nơi quê hương quen thuộc để di cư đến những vùng đất xa lạ Những tác động tiêu cực này chỉ có thể giảm bớt hoặc khắc phục trên cơ sở có
đánh giá đầy đủ tác động môi trường và kế hoạch chu đáo để khắc phục các tác
động tiêu cực
Trang 134.5 Tác động của chính sách xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm ở nông thôn
Chính sách này là một chính sách tổng hợp bao gồm nhiều biện pháp trên nhiều mặt kinh tế, xã hội, quản lý tài nguyên, môi trường tự nhiên, cải thiện môi trường xã hội Nhìn chung việc thực hiện đúng đắn chính sách này vừa giải quyết được nhiều vấn đề kinh tế – xã hội cấp bách trước mắt, vừa ngăn chặn khai thác cạn kiệt tài nguyên, góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường nhìn một cách lâu dài Tuy nhiên tại các vùng nghèo, nguồn vồn cơ bản để phát triển sản xuất, cải thiện đời sống vẫn là tài nguyên thiên nhiên Nếu không có một hệ thống chính sách và biện pháp thích hợp để khai thác và
sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý, nâng cao trình độ giáo dục, cung cấp kiến thức công nghệ, hỗ trợ về vốn, phương pháp quản lý, tạo đầu ra
ổn định cho sản phẩm thì việc xoá đói nghèo có thể xâm hại nghiêm trọng tới tài nguyên thiên nhiên
4.6 Tác động của chính sách phát triển giáo dục, đào tạo, văn hóa, nâng cao dịch vụ y tế, vệ sinh môi trường ở nông thôn
Chính sách nâng cao dịch vụ y tế, vệ sinh môi trường nông thôn trực tiếp
đóng góp vào nhiệm vụ bảo vệ môi trường ở địa bàn này Chính sách phát triển giáo dục, đào tạo, văn hóa trực tiếp góp phần xây dựng năng lực con người, tạo điều kiện cơ bản cho việc thực hiện thành công chính sách sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và cải thiện môi trường nông thôn Để phát huy tác dụng một cách bền vững của chính sách này cần xây dựng năng lực tại chỗ để thực hiện Trong một giai đoạn ban đầu có thể sử dụng các lực lượng từ ngoài tới hỗ trợ, nhìn một cách lâu dài các chính sách này phải do lực lượng tại chỗ đảm nhiệm
4.7 Tác động của chính sách kế hoạch hóa dân số, kiểm soát di cư tự do ở nông thôn
Chính sách kế hoạch hóa dân số, giảm bớt áp lực dân số đối với các vùng nông thôn có tác động trực tiếp tới nhiệm vụ bảo vệ môi trường áp lực dân số cùng suy thóai tài nguyên đất, nước, rừng, biển tại những vùng nông thôn khác nhau trong nhiều năm qua đã tạo nên những luồng di cư phức tạp từ nông thôn vào thành thị và từ nông thôn tới nông thôn trong nước ta Một số luồng di cư
tự do từ những vùng đông dân tới các vùng rừng núi, kể cả vùng rừng đặc dụng
đang gây những tác động nghiêm trọng tới tài nguyên đất, nước, rừng và đa dạng sinh học Chính sách kiểm soát di cư có mục đích ngăn chặn các tác động này Tuy nhiên tới nay chính sách này chưa phát huy được tác động cần có
4.8 Tác động của chính sách bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, chất lượng môi trường sống, đảm bảo vệ sinh, nước sạch, phòng tránh thiên tai
Trang 14Chính sách bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, trước hết là tài nguyên rừng với các biện pháp quản lý, khoa học và công nghệ thích hợp đã góp phần tích cực vào việc ngăn chặn suy giảm rừng trong cả nước Việc bảo vệ tài nguyên đất, nước cũng đã được chú ý Các chương trình quốc gia về vệ sinh, cung cấp nước sạch cho nông thôn cũng đã thu được những kết quả tốt Tuy nhiên việc đạt các mục tiêu chiến lược đã xác định cho các năm 2010, 2015 vẫn còn rất nhiều khó khăn Các chính sách phòng chống lũ lụt, hạn hạn, dịch bệnh thực hiện với sự
đầu tư lớn của nhà nước và đóng góp của đông đảo nhân dân cúng đã thu được nhiều kết quả tốt
Bảng 2 sau đây trình bày một cách khái quát các tác động tích cực và tiêu cực có thể có đối với môi trường của việc thực hiện các chính sách nói trên
Bảng 2 Khái quát về các tác động môi trường ở nông thôn của các chính
sách phát triển liên quan tới tài nguyên thiên nhiên
- Môi trường, cảnh quan một
số vùng nông thôn được cải thiện
- Khái thác tài nguyên quá sức chịu tải do chạy theo cơ chế thị trường trước mắt
- Do lợi nhuận trước mắt một
số nông hộ đã sử dụng các hóa chất nông nghiệp nguy hại cho môi trường và sức khoẻ con người; phát triển những giống cây con nhập ngoại có hại cho môi trường
- Phát triển các cơ cấu sản xuất nông nghiệp không hợp
lý, chạy theo lợi nhuận tạm thời, trước mắt, gây tai hại lâu dài về môi trường và khó khăn về kinh tế cho nhân dân
- Có thể tạo nên những vấn
đề ô nhiễm môi trường phức tạp trong nông thôn
- Ô nhiễm trong các làng nghề, ô nhiễm của các lò mổ súc vật ở nông thôn
- Gây xung đột môi trường
Trang 15- Nếu không được quy hoạch, thiết kế hợp lý, có xem xét đầy đủ các tác động môi trường và có kế hoạch phòng tránh, giảm thiểu có thể gây nên việc lãng phí, huỷ hoại tài nguyên, gây ô nhiễm lớn về môi trường, suy thoái đa dạng sinh học
ép của đói nghèo lên tài nguyên và môi trường
Một số dự án, giải pháp cụ thể có thể có các tác động tiêu cực tới tài nguyên và môi trường
kỹ năng về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
Một số dự án, giải pháp cụ thể có thể có các tác động tiêu cực tới tài nguyên và môi trường
- Hợp lý hóa các luồng di cư
nông thôn vào thành thị
Một số dự án, giải pháp cụ thể có thể có các tác động tiêu cực tới tài nguyên và môi trường
- Góp phần phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai
Một số dự án, giải pháp cụ thể có thể có các tác động tiêu cực tới tài nguyên và môi trường Thí dụ giếng khoan phát triển tự phát có thể làm suy giảm chất lượng nguồn nước ngầm