Để đưa ra các giải pháp thích hợp một trong những việc cần làm là đánh giá sức khoẻ cộng đồng và vệ sinh môi trường nông thôn theo các vùng sinh thái đặc trưng Núi cao, trung du, đồng b
Trang 1BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHƯƠNG TRÌNH KC-08
“BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ PHÒNG TRÁNH THIÊN TAI”
ĐỀ TÀI KC.CĐ.08.06.15
“NGHIÊN CỨU CÁC VẤN ĐỂ MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN VIỆT NAM THEO CÁC
VÙNG SINH THÁI ĐẶC TRƯNG, DỰ BÁO XU THẾ DIỄN BIẾN, ĐỀ XUẤT CÁC
CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT THÍCH HỢP”
TRUNG TÂM Y TẾ DỰ PHÒNG HẢI PHÒNG
BAO CAO KET QUA NGHIEN CUU CHUYEN DE:
SỨC KHOẺ CỘNG ĐỒNG VÀ VỆ SINH MÔI
TRƯỜNG NÔNG THÔN THEO CÁC VÙNG SINH
THÁI ĐẶC TRƯNG (NÚI CAO, TRUNG DU,
ĐỒNG BẰNG, VEN BIỂN VÀ VEN ĐÔ) KHU VỰC
PHÍA BẮC (TỪ NGHỆ AN TRỞ RA)
HÀ NỘI, 9/2003
Trang 2MỤC LỤC
` cee e nee nee eee e tne Eee EE een ented SHEE SES GES eE EEE EEE Anopheles HCBVTTV TQ nh so hoá chất bảo vệ thực vật KSTĐR cQQ nhe Hee Horye ký sinh trùng đường ruột KST-CT - cọ vn Hs nh ky ch ký sinh trùng côn trùng
NĐTP Đ TQ TQ Q0 2H H* Hs HH 1111k kg ngộ độc thực phẩm
VSMT TQ HT TH SH nh ch ch se vệ sinh môi trường YHLĐ TQ HH nh nhà Hà y học lao động
VSDTH TQ 1 31131131 2 2 2n se, vệ sinh dịch tễ học
vu ảảnnnln vệ sinh an toàn thực phẩm PCSRQG - TQ eesee phòng chống sót rét Quốc gia
MT uc nh nh TK ch nh nà non kh kEnxty sến môi trường
MỞ đầu ĐC TQ nnnnn HT HH TH nà nh TH tu cu nk chu
Chương 1 Hiện trạng cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường 2
1.1 Hiện trạng cung cấp nước sạch theo các vùng sinh thái 2
1.1.1 Tình hình chung về cung cấp nước sạch 2
1.1.2 Hiện trạng cung cấp nước sạch theo các vùng sinh thái 3
1.1.3 Vùng đồng bằng phía bắc -.SQà nà, 6 1.1.4 Vùng trung du - c ch nh nh hy 7 1.2 Hiện trạng vệ sinh môi trường nông thôn theo các vùng sinh thái 12 1.2.1 Vùng ven biỂn - QQT ST ng nghe ray 12 1.2.2 Vùng ven đÔ -.cQ HQQnn TH TH nh chư 49 1.2.3 Vùng đồng bằng . .- Q2 nen TT TH ng này 22 1.2.4 Vùng trung dU . - n1 SH nh nh nhà cớ 27 1.2.5 Vùng núi GaO HH HH TH TH TH ky nh nh vài 29 Chương 2 Vệ sinh an toàn thực phẩm ẶcẶẶ2Sc cà 32 2.1 Tình hình ngộ độc thực phẩm của toàn quốc năm 1999-2001 32
2.2 Thực trạng về vệ sinh an toàn thực phẩm khu vực phía bắc 33
2.2.1 Tình hình ngộ độc thực phẩm và nguyên nhân gây ngộ độc 33 2.2.2 Những tồn tại chính :-.- HQ n TH ng ng ve 38 Chương 3 Đánh giá hiện trạng và những diễn biến về sức khoẻ cộng
bi 9 HHddtidẳẳẳẢ 40
Trang 33.2 Tình hình một số bệnh có liên quan tới môi trường theo vùng
3.2.1 Vùng ven biển - - - T0 TS TH ngư 41
3.2.4 Vùng †rung dU - SH» HH nh kh 43 3.2.5.Vùng núi caO - cc nnn nàn HH THn HH nh kh nà kh cà 44 3.3 Mối quan hệ giữa vệ sinh môi trường và tình hình phát sinh bệnh
tật đối với môi trường nông thôn .ccc Q cọ 2n ky 45
3.3.1 Thiếu nước sạch và điều kiện vệ sinh 46
3.3.2 Ô nhiễm môi trường bởi hoá chất thực vật 50 3.3.3 Ô nhiễm môi trường bởi chất thải bỏ trong sản xuất 50 Chương 4 Các giải pháp dam bảo sức khoẻ cộng đồng và vệ sinh
môi trường nông thôn c.nQ TH HH HH HT sn nh nà nh ha 51
4.1 Một số giải pháp về cung cấp nước sạch 51
4.1.1 Đẩy mạnh xã hội hoá công tác nước sạch — vệ sinh môi trường 51
4.1.2 Đối với việc sử dụng các nguồn nước -.-.: << 52
4.1.3 Áp dụng các mô hình cấp nước phù hợp với từng vùng sinh
UNA eee cece cceseceececee es eeeeteceseseesseeeeeesseeesaneaseceeneugaeseeteeaaeas 53
4.2 Cac dich vu vé sinh mdi trudng 6 cdc ving sinh thai 53 4.3 Một số giải pháp về an toàn vệ sinh thực phẩm 55 4.3.1 Đối với sản XUẤT -QLQQQQ HT HH HT TH ng nhu cég 55
4.3.2 Quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm 55 4.3.3 Một số vấn đề cần giải quyết .- co sà cài 56 4.4 Các giải pháp về công trình vệ sinh ST say 56
4.4.1 Nhà tiêu loại khôÔ -. .c- Q Quy 56 4.4.2 Nhà tiêu dội nưỚc - ‹-c HH HH nHỲ nh ke 57
4.4.3 BE Khi SiNN HOC ecceecceeceseeccecescscesausesesaesversueeeenneess 57
PHUN) cãsi )RỊI.eiaiaaaẳẳaảảỶŸÝŸẢ4 58 Phụ lục 1: Nhà tiêu hai ngăn sinh thái - - - - 58 Phụ lục 2: Nhà tiêu chìm có ống thông hơi - se 59 Phụ lục 3: Nhà tiêu thấm dội nước -cc cà c2 60 Phu lục 4: Nhà tiêu tự hoại - - cQnQQQ nhe, 61
Phụ lục 5: Bể khí sinh học ¿L0 S HS SH ng vưec 62 Tài liệu tham khảo -‹cc cc cv SH HH TT SS ng rky 63
Trang 4- Ô nhiễm không khí trong nhà: 60 % bệnh hô hấp là do môi trường không trong sạch gây ra Hiện nay vấn đề ô nhiễm không khí trong nhà là yếu tố gây nguy hại cho các nước đang phát triển và là vấn đề lớn đối với các vùng nông thôn Từ việc đun nấu bằng than củi mà bếp không được thông khí tốt cho đến nhà cửa ẩm thấp, gần chuồng gia súc đã làm ô nhiễm môi trường trong nhà gây ảnh hưởng rõ rệt đến sức khoẻ tất cả mọi người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em
- Nguy cơ bệnh tật do côn trùng: Hai bệnh chính liên quan đến môi trường là sốt rét và sốt xuất huyết Hiện nay hai bệnh này vẫn đang là vấn để bức xúc mà một trong những nguyên nhân cơ bản là do hoạt động của chính con người
- Trong các yếu tố gây hại cho sức khoẻ phải kể đến ô nhiễm nguồn nước
do các chất thải, việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu sai qui cách Đặc biệt chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm có liên quan trực tiếp, hàng ngày, thường xuyên, liên tục, trước mắt, lâu dài đến sức khoẻ con người Việc sử dụng thực phẩm không đảm bảo chất lượng, vệ sinh sẽ dẫn đến ngộ độc cấp tính, ngộ độc mãn tính, các bệnh nhiễm trùng do thực phẩm và ngộ độc tích luỹ Không những thế nó còn ảnh hưởng đến phát triển kinh tế xã hội, an ninh chính trị và quan hệ quốc tế
Giải quyết các yếu tố trên phải tiến hành sao cho phù hợp với thực tiễn từng địa phương, từng vùng sinh thái
Để đưa ra các giải pháp thích hợp một trong những việc cần làm là đánh giá sức khoẻ cộng đồng và vệ sinh môi trường nông thôn theo các vùng sinh thái đặc trưng ( Núi cao, trung du, đồng bằng, ven biển và ven đô)
(Trong chuyên đề này chúng tôi chỉ giới thiệu phân tích và đánh giá các vùng sinh thái trên ở khu vực từ Nghệ An trở ra)
Trang 5Chương
1
Hiện trạng cung cấp nước sạch và
vệ sinh môi trường
1.1
HIỆN TRẠNG CUNG CẤP NƯỚC SẠCH THEO CAC VUNG SINH THÁI
1.1.1 Tình hình chung về cung cấp nước sạch
Theo hướng dẫn của ban chỉ đạo quốc gia về cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường thì các nguồn nước sau đây là nước sạch:
- Nước sạch hay nước cấp từ các trạm cấp nước sạch
- Nước giếng khoan tầng nông hay tầng sâu có chất lượng tốt và ổn định
- Nước mưa hứng trữ sạch
- Nước mặt (nước sông, rạch, ao .) có xử lý lắng trong và diệt trùng Ngày 29 tháng 4 năm 1994 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 200/TTE về đảm bảo nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn (NS-VSMT)
Sau 8 năm thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ có thể nói chúng ta
đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ trong lĩnh vực nước sạch - vệ sinh môi
trường Khấp nơi trong cả nước đã xuất hiện nhiều mô hình điển hình tiên tiến trong phong trào thực hiện cung cấp nước sạch - vệ sinh môi trường như:
+ Mô hình công nghệ cấp nước sạch cho miền núi
+ Mô hình cấp nước hệ thống tự chảy
+ Mô hình cung cấp nước hệ tập trung vừa và nhỏ
Tuy vậy theo đánh giá của Viện y học lao động và vệ sinh môi trường năm
1999 qua khảo sát 61 tỉnh và 7 vùng sinh thái đã kết luận như sau:
* Ving nui phía Bắc:
Hình thức cung cấp nước chủ yếu là giếng khơi 82,8 % đến 91,5 % (Tuyền Quang, Thái Nguyên) Sau đó đến nước mặt 43% và 78,3% (Cao Bằng, Sơn La) Nguồn nước dân thường dùng để ăn uống và sinh hoạt hàng ngày là giếng khơi, nước mặt Nhận xét về chất lượng nước đang dùng của người dân và của điều tra
Trang 6* Vang déng bằng Sông Hồng:
Hình thức cung cấp nước chủ yếu là giếng khoan và nước mưa (70,1% ở Hưng Yên, 67 % ở Hà Nam) Nguồn nước dân thường dùng để ăn uống và sinh hoạt hàng ngày là giếng khoan (60,6% ở Bắc Ninh), nước mưa (90,5% ở Hà Nam) Nhận xét về chất lượng nước đang dùng của người dân và của điều tra viên
là trên 50 % thuộc loại tốt
* Vàng Bắc Trung bộ
Hình thức cấp nước chủ yếu là giếng khơi (80%) giếng khoan là dưới 20% Nhận xét về chất lượng nước đang dùng của người dân và của điều tra viên là 50% đến 60 % thuộc loại bị nhiễm bẩn ( chỉ tiêu vi sinh vật )
1.1.2 Hiện trạng cung cấp nước sạch theo các vùng sinh thái
1.1.2.1 Vùng ven biển Tình hình cung cấp nước sạch ở một số tỉnh ven biển được trình bày ở bảng 1
Bảng I1: Tình hình cung cấp nước sạch ở một số tỉnh ven biển phía Bắc
( Nguồn: Trung tâm y tế dự phòng cung cấp)
Hộ dùng nước giếng khoan (%) 11/7| 10,87 0,27 4,11 1,52
Hộ dùng nước giếng khơi (%) 296| 4269) 5626| 6646| 74,60
Bóng 2: Nguồn nước sử dụng ở nông thôn Thanh Hoá
(Nguồn: Viện y học lao động và vệ sinh môi trường)
Trang 7- Tỷ lệ dân được dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đến hết quý II năm
2002 mới đạt 58 %
- Các công trình cấp nước sạch tập trung cho dân cư nông thôn mới chỉ tập trung xây dựng cho miền núi, các vùng còn lại trong đó có khu vực dân cư ven biển xây dựng chưa được nhiều
Thái Bình là một tỉnh ven biển dân số với 1,8 triệu người, mật độ bình quân 1.200 người/kmẺ với 90% dân số sống ở nông thôn Các khu vực ven biển như Tiền Hải, Thái Thuy, Kiến Xương nguồn nước ngầm đều bị nhiễm mặn Với
sự cố gắng nhiều mặt hết năm 2001 cũng mới chỉ đáp ứng cung cấp nước sạch cho 60% dân số mà chủ yếu lại ở vùng tỉnh ly, huyện ly và làng nghề
Tại Hải Phòng là Thành phố ven biển, ở khu vực nông thôn việc sử dụng nước sạch cũng còn nhiều bất cập Theo điều tra của Trung tâm y tế Kiến Thuy năm 2001 tại 3 xã ven biển, tình hình sử dụng các nguồn nước như sau:
Bỏng 3: Tình hình sử dụng nước tại xã ven biển của Hải Phòng
(Nguồn: Trung tâm y tế dự phòng , 2001)
Giéng khoan 1.273 71,3| 1.387 61,3 | 1.087 45,7 Giéng khoi (dao) 355 19,9 978 43,2 1.334 56,1
Nước khác (ao, hồ .) 13 0,7 20 0,9
Cũng trong năm 2001 một nghiên cứu về nguồn nước được sử dụng trong
ăn uống và sinh hoạt tại 3 xã ven biển của Hải Phòng (Bảng 4) cho thấy nguồn nước được sử dụng nhiều nhất là nước mưa ở cả 3 xã Tuy vậy vẫn còn một số hộ vẫn sử dụng nước bề mặt nước ao hồ (bảng 4)
Bảng 4: Các nguồn nước được dùng trong ăn uống và sinh hoạt
(Nguồn : TTYTDP Hải Phòng và Viện y học lao động và VSMT 2001)
Trang 8
Qua các điều tra, vùng ven biển do nguồn nước ngầm bị nhiễm mặn nên tỷ
lệ các hộ gia đình, sử dụng nước để sinh hoạt cho ăn uống chủ yếu vẫn là nước mưa Khu vực ven biển Thái Bình, Nam Định và Thanh Hoá lại sử dụng nước giếng khơi là chủ yếu
1.1.2.2 Vàng ven đô
Đây là vùng có nhiều sự biến đổi trong cơ cấu của nên kinh tế thị trường
và sự phát triển chung của xã hội Người dân sống ở khu vực này luôn tiếp cận với cái mới, do tác động trực tiếp của cuộc sống đô thị hoá, song lại vẫn giữ những thói quen của nếp sống cũ cũng như chưa đủ điều kiện vẻ kinh tế trong sinh hoạt hàng ngày Đặc biệt vùng này thường là vùng trồng rau màu để cung ứng cho thị trường đô thị do vậy với tập quán lạc hậu đó có việc sử dụng các nguồn nước trong sinh hoạt sẽ gây những hậu quả lớn cho từng gia đình và cả cộng đồng Số liệu điều tra về sử dụng nước tại một số xã ven đô của Hải phòng được minh hoạ ở bảng 5
Bảng 5: Nguồn nước sử dụng ở xã Trường Sơn-huyện An Lão (Nằm sát quận Kiến An)
(Số hộ y tế năm 2000: 1.528; Năm 2001 - 1.537; Nam 2002: 1.620)
Một nghiên cứu của nhóm tác giả ở Trường đại học y Hải Phòng về thực trạng vệ sinh môi trường của cộng đồng tại 12 xã huyện An Hải là khu vực bao quanh Thành phố Hải Phòng cho kết quả ở bảng 6
Bang ó: Nguồn nước sử dụng của 12 xã huyện An Hải
Trang 9
Như vậy số lượng sử dụng nước ao vẫn còn tới 27,97% Giếng khơi chiếm 15,38 % trong khi đó mới chỉ có 11,01 % là nguồn nước giếng khoan Nguồn nước được sử dụng nhiều nhất là nước mưa
1.1.3 Vùng đồng bàng phía Bác
Đây là vùng có mật độ dân số cao nhất 1.085 người/km” bao gồm rất nhiều
tỉnh Mỗi địa phương có phong tục tập quán riêng đặc biệt trong việc sử dụng nguồn nước (bảng 7)
đo bị ô nhiễm và ý thức vệ sinh ăn ở của người dân Tuy vậy ở mỗi địa phương tỷ
lệ sử dụng nước ăn và sinh hoạt khác nhau Tại Hà Nam tỷ lệ hộ có bể nước mưa
là 67,4% và sử dụng nước ăn uống sinh hoạt lại tới 90,8% Tại Hưng Yên tỷ lệ hộ
có giếng khoan tới 70%, song có 60% dùng nước mưa còn giếng khoan chỉ có 58,2% Tại Bắc Ninh do cấu tạo địa chất đặc thù nguồn nước ngầm dễ khai thác
và trong nước ít có sắt nên có số gia đình dùng nước giếng khoan tới 60,6%
Trong báo cáo tại Hội nghị trao đổi kinh nghiệm sau 8 năm thực hiện Chỉ thị số 200/TTg của Thủ tướng Chính phủ (Thái Bình, tháng 11 năm 2002) Tỉnh Hải Dương là vùng đồng bằng với 85% dân số sống ở nông thôn, đến hết
Trang 10Trong khi đó vẫn còn tới 18.104 ao, hồ và 1.138 giếng làng (Có 719 giếng là loại xấu) vẫn được người dân sử dụng
Tại Hà Tây dân số nông thôn được dùng nước sạch đến năm 2002 cũng mới được 50,5% (số liệu của Sở khoa học công nghệ và môi trường Hà Tây), còn tại Ninh Bình mới đảm bảo việc cung cấp nước sạch ở thị trấn, Ở nông thôn mới
đáp ứng được 30%
1.1.4 Vùng Trung Du và Núi cao
1.1.4.1 Vang Trung Du
Đây là khu vực gặp nhiều khó khăn trong việc cung cấp nước sạch và cũng
là nơi còn giữ nhiều tập quán lâu đời, sự biến đổi theo cơ chế thị trường tương đối
ít (Trừ khu vực tỉnh ly và vùng của khẩu), về sử dụng nước sinh hoạt vùng này phụ thuộc nhiều vào việc cấu tạo địa tầng Số liệu điều tra về tình hình cung cấp nước được thể hiện ở bảng 9
Bảng 9: Tình hình cung cấp nước của một số tỉnh trung du
Theo Nguyễn Xuân Hoà (Giám đốc Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn) đến hết năm 2002 tỉnh Bắc Giang mới đảm bảo cho 694.800 người dân nông thôn đạt 46,7% được dùng nước sạch
Theo số liệu điều tra của Viện y học lao động và vệ sinh môi trường với
892 hộ điều tra tại Thái Nguyên có tới 91,5% hộ sử dụng giếng khơi, giếng khoan là 2,6% đặc biệt có 0,9% hộ không có nguồn nước sử dụng trong sinh hoạt (bảng 10)
Trang 11Bảng 10: Tình hình sử dụng nguồn nước tại Thái Nguyên
( Nguồn: Viện YHLĐ và VSMT, 2002)
Bỏng 11: Tình hình cung cấp nước ở một số tỉnh Miền Núi
( Nguồn: TTYTDP., 2002)
Qua bảng 11 thấy khu vực núi cao người dân sử dụng chính là nguồn nước
bề mặt, có nơi tới 89,38% (Hà Giang) Ở một số vùng có thể đào giếng khơi như Lạng Sơn, Yên Bái tỷ lệ dùng nước giếng khơi và nước bề mặt tương đương nhau Vùng này khó khăn trong đào giếng nên tỷ lệ sử dụng giếng khoan không đáng
kể
Kết quả điều tra việc sử dụng các nguồn nước của Viện y học lao động và
vệ sinh môi trường được thể hiện ở bảng 12
Bỏng 12: Nguồn nước sạch sử dụng tại một số tỉnh miễn núi
Trang 12
Như vậy, nguồn nước phổ biến cho ăn uống và sinh hoạt ở vùng núi phía Bác là giếng khơi và nước suối, nước mạch lộ đo chất lượng nước nguồn tự nhiên khá tốt về mặt lý hoá học Tại Tuyên Quang, do dễ khai thác nên được sử dụng nhiều Ở hai tỉnh Sơn La và Cao Bằng là vùng núi đá vôi nên đào và khoan khó vì thế dùng nước sông, suối là chính
1.1.4.3 Chất lượng nước được sử dụng trong ăn uống và vệ sinh:
Chất lượng nước là vấn đề bức xúc nhất hiện nay bởi nó liên quan trực tiếp đến sức khoẻ cộng đồng, đặc biệt là vùng nông thôn Ngô Thị Nhu và Cộng sự (Trường Đại học y Thái Bình - 1998), đưa ra những nhận xét về chất lượng nguồn nước dùng trong ăn uống và sinh hoạt ở một số vùng nông thôn Thái Bình như sau:
- Nguồn nước giếng khơi và giếng làng có mức độ ô nhiễm cao, không đảm bảo cho ăn uống và sinh hoạt
- Tất cả các nguồn nước được điều tra đều không đạt tiêu chuẩn về chỉ tiêu
Faecal coliform, (thấp nhất là nước giếng khoan: 5 +1 VK/100ml, nước mưa là 13+ 1/100ml, nước giếng làng là 119+ 22VK/100ml ) và giếng khơi cách nguồn
ô nhiễm dưới 5m nên chất lượng nguồn nước kém hơn cả
Một nghiên cứu về nguồn nước dùng trong ăn uống và sinh hoạt đạt và không đạt tiêu chuẩn vệ sinh ở huyện An Hải của Hải Phòng, do các tác giả Hoàng Quốc Hợp, Nguyễn Văn Chỉnh, Phạm Văn Hán (Đại học y Hải Phòng - 1999) cho kết quả ở bảng 13:
Bỏng 13: Chất lượng nguồn nước uống và sinh hoạt
hồ, sông, kênh đêu không đạt tiêu chuẩn vệ sinh
Theo GS.Lé Ngoc Bảo (Viện VSDTH Hà Nội) chất lượng nước giếng khoan ở một số vùng các tỉnh phía Bắc như ở bảng 14:
Trang 13Bảng 14: Sự phản bố các mẫu duong tinh va dm tinh vé Faecal coliform
11 chiếm 45,8% Tại Hưng Nguyên số mẫu bị nhiễm vi sinh vật tới 60% Đây có thể do giếng đặt nông I0-20m hoặc bị ô nhiễm bởi quá trình sử dụng và bảo quản
Viện Y học lao động và vệ sinh môi trường đã đánh giá về chất lượng nước như sau:
Kết quả các mẫu nước ngầm ở Bắc Ninh, Hưng Yên và Hà Nam có độ đục cao 19/20 mẫu và 12/21 mẫu có TDS và độ ôxy hoá đều vượt trên 50%, sắt tổng
số 13/21 mẫu và 2/20 mẫu đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép Đặc biệt ở Hưng Yên nước ngầm có hàm lượng Clorua tương đối cao
Kết quả phân tích nước mặt cho thấy hàm lượng Nitrit tại Hưng Yên 7/20 mẫu nước vượt quá tiêu chuẩn cho phép Hai tỉnh Hưng Yên và Hà Nam số mẫu nước có hàm lượng sắt cao hơn tiêu chuẩn cho phép ( 5/36 và 3/36 mẫu )
Tại Bắc Ninh thì 12,5% mẫu nước không đạt chỉ tiêu về Nitrit, 83% về TDS, với nguồn nước ngầm thì 31% không đạt tiêu chuẩn vệ sinh về độ oxy hoá
và 36,8% số mẫu không đạt tiêu chuẩn về sắt trong nước
Theo đánh giá của các điều tra viên và kết quả phân tích tại Thái Nguyên loại tốt chỉ chiếm 33,6% và Sơn Là là 44,4%
Qua một số kết quả nghiên cứu trên cho thấy:
Trang 14- Nước bề mặt (ao, hồ, sông, suối ) ở các vùng sinh thái đều bị ö nhiễm
vi sinh vật, đặc biệt là các ao làng và giếng đào cách nguồn ô nhiễm (hố xí, chuồng gia súc, nước thải .) đưới 5m
- Nguồn nước ngầm: Nước giếng khoan tầng nông (dưới 60m) hay tầng sâu (thường hơn 250m) có ưu điểm là ít nhiễm vi khuẩn gây bệnh, song nhiều giếng khoan thường chứa chất hoà tan làm chất lượng nước không tốt cho sinh hoạt và ăn uống Thường hay nhiễm phèn sắt làm cho nước chua, có màu vàng, mùi tanh Một số địa phương giếng khoan bị nhiễm mặn Nhiều giếng khoan bị nhiễm vi khuẩn do không giữ vệ sinh xung quanh khu vực giếng Hiện tại ở nhiều địa phương có các đội khoan giếng lưu động, không đúng qui cách cũng làm cho chất lượng nước của giếng khoan kém do bị thâm nhiềm chất độc hoá học và vi khuẩn Một thực trạng nữa hiện xảy ra ở một số nơi thuộc Đồng bằng Bác Bộ - lưu vực Sông Hồng là sự ô nhiễm thạch tín vào nguồn nước ngầm Theo Th.S Nguyễn Huy Nga Vụ y tế dự phòng việc nghiên cứu lâm sàng về nhiễm độc thạch tín trên cộng đồng dân cư còn chưa được triển khai, song qua nghiên cứu
sơ bộ của UNICEF phối hợp với Đại học quốc gia và Cục địa chất khoáng sản trong thời gian gần đây đã cho thấy có nhiều mẫu nước ngầm vượt quá tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam và WHO Tại một số điểm có tới 34% số mẫu vượt quá tiêu chuẩn Việt Nam 1a 0,05 mg/l va 92,2%, vượt quá tiêu chuẩn của WHO là 0,01 mg/l Do vậy cần có một nghiên cứu toàn điện về mức độ ô nhiễm của nước ngầm do Thạch Tín và ảnh hưởng tới sức khoẻ của cộng đồng
11
Trang 151.2
HIỆN TRẠNG VỆ SINH MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN THEO CÁC VÙNG SINH THÁI: 1.2.1 Vùng ven biển:
1.2.1.1 Hiện trạng nhà tiêu:
Hiện trạng VSMT ở một số tỉnh được đưa ra ở bảng 15
Bỏng 15: Tình hình vệ sinh môi trường của các tỉnh vùng ven biển
( Nguồn: Trung tâm y tế dự phòng , 2002 )
1 | Nhà tiêu i ngăn (%) 32,70 27,00 4,02
2 | Nha tiéu 2 ngăn (%) * % 13,00 24,61
3 | Nha tiéu thấm dội nước (%) 7,79 1,40 2,76
Tại Hai Phong trong cuộc điều tra về tình hình vệ sinh môi trường năm
2002 ở 3 xã ven biển đã đưa ra kết quả về nhà tiêu như ở bảng ló6, 17:
Bảng !ó: Tình hình VSMT ở một số xã ven biển Hải Phòng
( Nguôn:Trung tâm YTDP Hải Phòng và Viện YHLĐ và VSMT Hà Nội)
2 | S6 nha tiéu hop vé sinh
(Theo cdm quan cia| 15| 75| 13] 65] 80] 40] 108] 18,0
nguoi diéu tra)
3 | Khong cé nha tiéu 4| 2,0 9| 4,5 8 4} 21] 3,5
Trang 16
Bang 17: Loại nhà tiêu được sử dụng
XA
3 _| Nhà tiêu thùng, đào, cầu 45 | 229| 106 | 55,78; 53 | 2746; 204 | 3523
4 | Nhà tiêu thấm dối nước 1; 05 3| 157 8| 414| 12| 207
5 | Nhà tiêu tự hoại 6| 3Œ6| 14] 736| 52| 2690) 72| D43
6 | Cầu cá 0 3| 157 0 051
Qua nghiên cứu trên các loại nhà tiêu hiện có ở 3 xã là 96,5% nhưng vẫn
có 3,5% số hộ không có nhà tiêu Điều đáng lưu ý là số nhà tiêu hợp vệ sinh theo cảm quan của người điều tra tương đối thấp (18,0%) Về loại nhà tiêu thì loại 2 ngăn là 8,29, đại đa số là loại 1 ngăn và thùng, đào, cầu Điều này phù hợp với việc sử dụng phân vào mục đích trồng trọt, đặc biệt là trồng các loại rau, màu (ở xã Tú Sơn và Bạch Đằng)
Trong hội nghị trao đổi kinh nghiệm về thực hiện Chỉ thị 200/TTg của Thủ tướng chính phủ sau 8 năm thực hiện, Sở khoa học công nghệ và môi trường tỉnh Thái bình cho biết đến hết năm 2002 toàn tính mới có 37,19% nhà tiêu đạt tiêu chuẩn (Tính cả tỉnh ly và các thị trấn) Tại xã An Khê, huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình, mặc dù đây là một xã có phong trào vệ sinh môi trường tương đối tốt của Tỉnh cũng mới chỉ có 546 hộ (chiếm 32%) có nhà tiêu hợp vệ sinh
Tai Thanh Hoá một nghiên cứu năm 1999 về các loại nhà tiêu của vùng nông thôn cho thấy: (bảng 18)
Bang 16: Tỷ lệ % loại nhà tiêu tại nông thôn Thanh Hoá
( Nguồn: Viện Y học lao động và vệ sinh môi Irường, 1999 )
Trang 17Như vậy người dân sử dụng nhà tiêu một ngăn là chính (chiếm 52,8%), loại 2 ngăn chỉ mới có 17,2% trong tổng số hộ điều tra, đáng lưu ý vẫn còn 1,7%
số hộ sử dụng loại cầu cá và tỷ lệ số hộ có nhà tiêu cũng chỉ đạt 91,1%
1.2.1.2- Chuồng gia súc và khả năng gây ô nhiễm:
Chăn muôi gia súc là tăng thêm sản phẩm cho xã hội và thu nhập kinh tế của các gia đình Tuy vậy nếu không quản lý tốt thì rất dễ gây ô nhiễm môi trường và nguồn nước, ảnh hưởng đến vệ sinh nhà ở, sức khoẻ và bệnh tật của người dân
Trong một nghiên cứu về tỷ lệ các hộ có chuồng gia súc ở 3 xã của Hải Phòng cho kết quả ở bảng 19:
Trang 181.2.1.3 Quản lý và xử lý rác thải:
Hiện nay tình hình quản lý và xử lý rác thải nông thôn vùng ven biển còn nhiều bất cập gây ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn nước và vệ sinh gia đình Kết quả điều tra tại 3 xã ven biển Thành phố Hải Phòng được thể hiện ở bảng 21:
Bang 21: Quan ly va xii ly rác thải tại 3 xã ở Hải Phòng:
XÃ
Như vậy vẫn còn tới 11,5% số hộ không biết đổ rác vào đâu (đổ bừa bãi),
một lưu ý là thiếu ý thức phân loại rác (rác vô cơ và rác hữu cơ)
Tại Thanh Hoá theo điều tra của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường cho cho kết quả ở bảng sau:
Đổ vào chuồng gia súc 36,3
15
Trang 191.2.1.4- Tình hình sử dụng vật liệu đun nấu và thuốc trừ sáu
Số liệu điều tra tại 3 xã ven biển Hải Phòng được minh hoạ ở bảng 22: Bỏng 22: Tình trạng sử dụng vật liệu dun nấu tại 3 xã ven biển HP
( Nguồn: Tài liệu do TTYTDP và Viện YHLĐ và VSMT Hà Nội 2001)
Các xã trên thuộc ven biển vừa cấy lúa, vừa trồng hoa màu nên tỷ lệ hộ
sử dụng thuốc trừ sâu rất cao tới 82,5%và dùng thường xuyên (76,5%)
Tại nông thôn Tỉnh Thanh Hoá qua điều tra 900 hộ gia đình của Viện Y học lao động và vệ sinh môi trường được minh hoạ ở hình I:
Trang 20_— IDGas điệm đu WThan OCui QRom, c6 | |
hình 1: Tỷ lệ sử dụng chất đốt tại Thanh Hoá
Như vậy nông thôn vùng ven biển chủ yếu sử dụng chất đốt là rom ra, cd, than là chính
Về sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật (HCBVTTV) tại Thanh Hoá cũng cho kết quả tương tự như ở vùng ven biển Hải Phòng, tỷ lệ hộ dùng HCBVTV là
hỉnh 2: Tỷ lệ % số hộ dùng HCBVTV tai Thanh Hoá
1.2.1.5- Hiện trạng nghề phụ, chát thải nghề phụ ở nông thôn vùng ven biển
Kết quả điều tra về vệ sinh môi trường nông thôn tại 3 xã ven biển Hải Phòng năm 2001 cho kết quả tại bảng 22:
17
Trang 21Bang 23: Hiện trạng nghề phụ, chất thải nghề phụ và xử lý chất thải
tại 3 xã ven biển của Hỏi Phòng
XÃ
Trang 22
1.2.2- Vùng ven đô:
1.2.2.1- Hiện trạng nhà tiêu
Theo nghiên cứu của nhóm tác giả tại trường đại học Y Hải Phòng ở một huyện bao quanh thành phố, mặc đù có điều kiện tiếp cận những tiến bộ, song với tập quán lâu đời và nhu cầu sử dụng phân trong việc chăm bón cây trồng, hoa màu vẫn khá phổ biến (bảng24: hình 3)
Bỏng 24: Các công trình sử lý phân ở 12 xã huyện An Hỏi Hải Phòng
- Nha tiéu 2 ngăn 528 14,4 204 38,6 324 61,3
- Nha tiêu 1 ngan 2.208 60,5 192 8,6 2.106 91,3
- Cac loai khac 310 8,5 0 0 312 100
i ~~ ONhé tiéu tu hoại ‘GNhea tiéu thấm
| Nhà tiêu 2 ngăn [1142 laat bế» Nhà tiêu 1 ngăn
hình3: Loại nhà tiêu sử dụng tại huyện An Hải Như vậy tỷ lệ nhà tiêu 1 ngăn vẫn chiếm nhiều nhất 60,5% sau mới đến nhà tiêu thấm và nhà tiêu 2 ngăn (15,1% và 14,4%) Quan trọng nhất là tỷ lệ nhà tiêu không đạt tiêu chuẩn vệ sinh chiếm tới 85,5%
19
Trang 23Xã Trường Sơn, huyện An Lão nằm sát Quận Kiến An việc sử dụng các loại nhà tiêu được thể hiện ở bảng 25:
Bảng 25: Tình hình sử dụng nhà tiêu ở xã Trường Sơn
( Nguồn: Trưng tâm y tế huyện An Lão 2002)
tonwianey | sốmệsửme | S VỆ NHÔN | nevenuiuve sins
1.2.2.2- Chuồng gia súc và khả năng gây ô nhiễm:
Theo điều tra tại một số xã ven đô Thành phố Hải Phòng tỷ lệ số hộ có chuồng gia súc được thể hiện ở bảng 25
Bồng 26: Tỷ lệ hộ có chuồng trại ở một số xã ven đô Thành phố Hải Phòng
( Nguồn: Trung tâm YTDP Hải Phòng và Viện YHLD và VSMT Hà Nội)
ĐỊA DƯ XÃ CHUỒNG GIA SÚC ĐÁNH GIÁ SẠCH NGUỒN NƯỚC
S.LƯỢNG % S.LƯỢNG % > 10M < 10M Trường Sơn
Trang 24Tại xã Trường Sơn số người làm dịch vụ phục vụ khu công nghiệp cao hơn (thu nhập khá hơn so với chăn nuôi) do vậy tỷ lệ hộ có chuồng gia súc giảm
so với các vùng khác (chỉ chiếm 63%)
Tuy nhiên xã Anh Dũng là xã nằm ven thành phố song vẫn sống chủ yếu bằng nghề nông nên tý lệ chuồng gia súc cao hơn (84,3%)
Như vậy ở các vùng ven đô tỷ lệ các hộ có chuồng gia súc phụ thuộc vào
sự phát triển của từng khu vực, đặc biệt là khả năng đô thị hoá và sự phát triển của các khu công nghiệp mới
lệ vệ sinh kiểu cũ không còn hiệu lực
Một kiểu ven đô thứ hai cũng đang được diễn ra đó là: Nhà nước hoặc các Công ty đầu tư xây dựng hoàn chỉnh một khu dân cư rồi bán cho dân hoặc chia đất cho cán bộ rồi quy hoạch phải xây dựng theo thiết kế tổng thể trên địa bàn một làng xã cũ nhưng không nằm trong khu cư trú cũ của làng nên rác thải
và nước bẩn từ tầng trên vứt thẳng xuống sân chung, năm này qua năm khác thành những đống rác khổng lồ mà xử lý đống rác lưu cữu kiểu này thật vô cùng tốn kém chưa nói đến tác hại lâu đài của nó đến sức khoẻ con người sống
ở khu này
21
Trang 251.2.3- Vùng đồng bằng:
1.2.3.1- Hiện trạng nhà tiêu:
Theo điều tra của Viện YHLĐ và VSMT cho kết quả sau:
Bang 27: Tỷ lệ hộ gia đình có nhà vệ sinh
TỈNH N SỬ DỤNG NHÀ TIÊU | TIÊU CHUAN VE SINH | _TIEU CHUAN VỆ SINH
| |1 ngăn m2 ngan OTy hoa C1 Thùng câu đào|
ŒThấm dội nước Thùng câu đào |
hinh 5: tinh Nam Ha
Trang 26
|
Glngan | M2ngan [Tự hoại
[Thùng câu đào ER Thấm dội nước [ Côu cá
hình 6: tỉnh Bắc Ninh Như vậy loại nhà tiêu chiếm tỷ lệ cao là nhà tiêu 1 ngăn: Hà Nam 50,9%; Hưng Yên 42,9%; Bắc Ninh 47,5% Điểm đáng lưu ý là tại Hưng Yên tỷ lệ nhà tiêu cầu đào chiếm tới 37%
Theo báo cáo của các Sở khoa học công nghệ và môi trường Tỉnh Hà Nam đến năm 2002 toàn tỉnh đã đạt được 45% số hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh, ở tỉnh Hải Dương số nhà tiêu hợp vệ sinh tại khu vực nông thôn là 32,45%
1.2.3.2- Chuồng gia súc và khả năng gây ô nhiễm:
Vùng đồng bằng người dân tận dụng triệt để nguồn thức ăn để chăn nuôi gia súc tăng thêm thu nhập cho gia đình nên tỷ lệ chuồng gia súc ở các hộ là rất cao (bảng 27) Tại Hưng Yên là 91,5%; Hà Nam là 98,6% và Bắc Ninh là 83,2% Do đất chật người đông nên khoảng cách chuồng gia súc đến nguồn nước đạt yêu cầu vẫn thấp và tuyệt đại đa số được đánh giá là tương đối sạch và bẩn
Trang 27Vào chuồng gia súc
Hầu hết các hộ đều đổ rác vào chuồng gia súc để làm phân bón, bên cạnh
đó người dân đã có ý thức đổ rác vào hố rác gia đình
Tỉnh Hưng Yên là tỉnh nằm trong vùng đồng bằng Sông Hồng những nằm gần đây đã có nhiều tiến bộ trong việc thu gom rác thải do các tổ, đội vệ sinh môi trường Theo thống kê hiện toàn tỉnh đã có 132 tổ, đội vệ sinh môi trường và hoạt động có hiệu quả Hình thức hoạt động khá phong phú và góp phần lớn vào việc thu gom rác thải trong nhân dân
Một số tồn tại hiện nay ở hầu hết vùng nông thôn, vùng đồng bằng là nơi
đồ rác tập trung vẫn là tạm bợ chưa được xử lý đúng kỹ thuật
1.2.3.4- Tình trạng sử dụng vật liệu đun nấu và thuốc trừ sâu:
Theo nghiên cứu của các tác giả Viện Y học lao động và vệ sinh môi trường cho thấy, (biểu đồ 7) đa số các hộ gia đình dùng chất đốt rơm rạ là chính
từ 77,9% (Bác Ninh) đến 92,9% (Hưng Yên); Tỷ lệ các hộ dùng than ở Bắc Ninh 69,8 và Hưng yên là 51,3 Tỷ lệ dùng Gas, điện, dầu ở cả ba tỉnh đều thấp: (hình 7)
Trang 28Bảng 90: Tỷ lệ các bộ gia đình dùng thuốc HCBVTYV tại 3 tỉnh điều tra:
( Nguồn: Viện YHLĐ và Vệ sinh môi trường )
25
Trang 29
Theo thống kê của Chi cục Bảo vệ thực vật Hưng Yên năm 2000 toàn tỉnh đã sử dụng 198.670 kg các loại hoá chất, thuốc bảo vệ thực vật gồm:
+ Thuốc trừ sâu + Thuốc trừ bệnh
67.900 kg
93.270 kg
Trang 30+ Thuốc trừ cỏ + Thuốc kích thích + Thuốc trừ chuột
vỏ bao bì được vứt bừa bãi trên đồng ruộng, kênh mương làm ô nhiễm môi trường Đây là mối nguy hiểm tiềm tàng cho sức khoẻ con người
1.2.4- Vùng Trung Du:
1.2.4.1- Hiện trạng nhà tiêu:
1.2.4.1.1- Hiện trạng nhà tiêu ở một số tỉnh khu vực phía Bắc được trình bày ở bang 32
Bảng 32: Tình hình vệ sinh môi trường của các tỉnh vùng ven biển
( Nguôn: Tài liệu do Trung tâm y tế dự phòng )
27
Trang 31Bỏng 33: Tỷ lệ ?% các loại nhà tiêu điều tra tại Thái Nguyên
( Nguồn: Viện YHLĐ và VSMT )
Như vậy với đặc điểm của vùng trung du ít phù hợp với loại thấm đội nước
mà hố xí hợp vệ sinh vẫn là loại 2 ngăn Tuy nhiên loại l ngăn vẫn chiếm cao nhất vì người dân chưa có thói quen dùng các loại nhà tiêu dội nước, tự hoại
và vì kinh tế còn khó khăn
1.2.4.1.2- Chuồng gia súc và khả năng gây ô nhiễm:
Theo báo cáo của các Trung tâm y tế dự phòng tại một số tỉnh vùng Trung
du tỷ lệ hộ có chuồng gia súc tương đối cao, nhất là vùng Quảng Ninh và Bắc Giang (Bang 31)
Tại Thái Nguyên điều tra 892 hộ có 659 hộ có chuồng gia súc chiếm 73,9% (Viện y học lao động và vệ sinh môi trường) Về mức độ gây ô nhiễm theo đánh giá là khoảng cách đến nguồn nước trên 10m dưới 40%, cách nhà dưới 10m chiếm đại bộ phận
1.2.4.1.3- Quản lý và xử lý rác thải
Theo điều tra của Viện y học và vệ sinh môi trường tại nông thôn tỉnh Thái Nguyên rác thải chủ yếu được đổ ra vườn, đào hố đổ đầy, lấp đất và đào hố
khác
1.2.4.1.4- Tình hình sử dụng vật liệu dun nấu và thuốc trừ sâu:
Theo điều tra của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường tại Thái Nguyên tỷ lệ hộ dùng củi chiếm 71,7% (Bảng 33), điều đó cho thấy các Tỉnh vùng trung du sử dụng củi là chính, phù hợp với điều kiện tự nhiên
Bỏng 34: Tình hình sử dụng nhiên liệu tại Thái Nguyên
Trang 32Cũng theo điều tra tại Thái Nguyên tỷ lệ hộ có bình phun thuốc hoá chất bảo vệ thực vật tới 70% và tỷ lệ hộ dùng hoá chất bảo vệ thực vật như sau:
bang 35: Hiện trạng VSMT ô một số lính miền núi
BẮC CẠN HÀ GIANG YÊN BÁI LAI CHÂU
Trang 33Bỏng đó: Tỷ lệ ?o các loại nhà tiêu vùng Miền Núi
(Tài liệu do Viện YHLĐ và VSMT cung cấp)
N 2 NGĂN 1 NGĂN THÙNG ĐÀO _| THẤM DỘI | TỰ HOẠI | CẦU CÁ
nị%jIn | @\/ ni @ |[n!%(n| @\n\| %
Cao Bang 881; 7 |1,8 |77 |19,7 {295 |66,4 |38 |9,8 | 3 |0,7 | 6 {1,5 Son La 900! 4 |0,6 |175 |25 517 J73,8 12 10,3 ¡3 40.4 |010 Tuyên Quang |899 | 48 |6,3 {451 J59,4 |230 |30,3 |7 [0,9 | 8 |1,1 |15]2
Như vậy số hộ có nhà tiêu ở 3 tỉnh nghiên cứu tương đối cao, Cao bằng tới 55,7%; Sơn La là 22,1% và Tuyên Quang là 14,8% Tỷ lệ sử dụng nhà tiêu thùng, đào là rất cao ở Sơn La (73,8%) Cao Bằng (66,4%) các loại nhà tiêu thấm dội nước và tự hoại là rất ít
1.2.5.2- Tình hình chuồng gia súc và khả năng gây ô nhiễm
Theo báo cáo của Trung tâm y tế dự phòng thì tỷ lệ hộ có chuồng gia súc của các tỉnh Miền núi có sự khác nhau, ở Bắc Cạn là 85,1% trong khi đó ở Lai Châu chỉ có 25% Qua điều tra của Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường cho thấy ở Cao Bằng và Tuyên Quang ( tỷ lệ hộ có chuồng nuôi gia súc khá cao (94,6% và 90,1%) trong khi đó ở Sơn a chỉ có 37% (bảng 36)
Bang 37: Tỷ lệ % số hộ có chuồng nuôi gia súc ở một số tình Miền núi:
( Nguồn: Tài liệu do Viện YHLĐ và VSMT )
La 76,8% chuồng gia súc dưới gầm nhà sàn
1.2.5.3- Tình hình sử dụng vật liệu đun nấu và thuốc trừ sâu
Đối với vùng rừng núi nhiên liệu để đun nấu vừa tiện lợi vừa sẵn đó là củi Theo các nghiên cứu tại vùng này đều thống nhất với nhận định đó tại cả 3 tỉnh điều tra chỉ rõ nhiên liệu củi chiếm từ 96,8% tới 99,8% (bảng 37) trong sử dụng của các hộ Các nhiên liệu khác chiếm một tỷ lệ không đáng kể
Trang 34Bảng 3ê: Tỷ lệ hộ sử dụng nhiên liệu tại một số tĩnh Miền Núi:
( Nguồn: Viện YHLĐ và VSMT )
Về sử dụng hoá chất thuốc bảo vệ thực vật
Vùng núi phía Bắc sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật chủ yếu để bảo vệ cây công nghiệp là chính, cho nên mức độ sử dụng so với vùng đồng bằng là thấp hơn khá nhiều Theo điều tra cho thấy các hộ sử dụng thường xuyên chỉ từ 12,7% đến 23,9%, hộ không dùng chiếm cao hơn từ 30% đến 41,2% (Bảng 39)
Bang 39: Tỷ lệ số hộ dùng HCBVTV thuộc miền núi phía bắc
( Nguén: Vién YHLD và VSMT )
31