Bảng 3 cho thấy tỷ lệ gia tăng dân số của từng vùng địa lý rất khác nhau, khu vực Đông Nam bộ và Duyên hải Nam Trung bộ và Đồng bằng sông Cửu long tỷ lệ gia tăng dân số nông thôn rất thấ
Trang 1BỘ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CHƯƠNG TRÌNH KC.08
“BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ PHÒNG TRÁNH THIÊN TAI”
i weer eer n nen nnn n nn oe) onto eee ener eran ne
DE TAI KC - 08 - 06
"NGHIÊN COU CAC VAN DE MOI TRUONG NONG THON VIET NAM THEO CAC
VÙNG SINH THÁI ĐẶC TRƯNG, DỰ BÁO XU THẾ DIỄN BIẾN, ĐỀ XUẤT CÁC
CHÍNH SÁCH VÀ GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT THÍCH HỢP"
BẢO CÁO KẾT QUÁ NGHIÊN CUU CHUYEN ĐỀ
"SUC KHOE CONG DONG VA VE SINH Môi TRƯỜNG NÔNG THON TAI CAC TINH PHIA NAM
THEO CAC VUNG SINH THÁI DAC TRUNG"
Cơ quan thực hiện: Hội Kế hoạch hoá Gia đình
Chủ nhiệm dé tai: Bác sĩ Lê Thị Phước
HÀ NỘI, 12/2003
5tM- D94#
ALM LOT
Trang 2PHAN I: KHAI QUAT TINH HINH KINH TE-XA HOI
VUNG NONG THON CAC TINH PHIA NAM
_ 1 THUC TRANG DAN SỐ, DÂN CƯ Ở VŨNG NÔNG THÔN CUA CÁC TINH MIEN NAM VIET NAM (KE TU THANH PHO DA NANG TRO VAO)
1 Khái quát về dân số, dân cư
Các tỉnh phía nam Việt Nam từ thành phố Đà Nẵng trở vào bao gồm
30 tỉnh, thành phố được phân chia thành 4 vùng địa lý: vùng Duyên hải Nam
trung bộ có 6 đơn vị hành chính đó là thành phố Đà Nắng, tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Khánh Hoà; vùng Tây Nguyên có 4 tỉnh
đó là Kom Tum, Gia Lai, Đắc Lác và Lâm đồng; vùng Đông Nam Bộ có 8 đơn vị hành chính đó là Thành Phố Hồ Chí Minh, tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Bình Thuận và Bà Ria-Viing Tau; vùng Đồng bằng sông Cửu Long có l2 tỉnh đó là Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Kiên Giang, Cần
Thơ, Trà Vinh, Sóc Trang, Bạc Liêu và Cà Mau
Tổng diện tích tự nhiên 161.989 km”, chiếm 49,2% tổng diện tích cả
nước Vùng Duyên hải Nam Trung bộ chiếm 20,4% diện tích các tỉnh phía
nam Việt Nam, vùng Tây Nguyên 33,6%, vùng Đông Nam bộ 21,4% và
vùng Đồng bằng sông Cửu Long là 24,6%
Dân số năm 2001 là 39,9 triệu người chiếm 50,7% so với dân số cả nước, mật độ dân số 246 người/km” Trong đó, vùng Duyên hải Nam Trung
bộ có 6,67 triệu người, vùng Tây Nguyên là 4,33 triệu người, vùng Đông Nam bộ 10,69 triệu người và vùng Đồng bằng sông Cửu Long là 16,42 triệu người Dân số phân bố không đồng đều giữa các vùng, mật độ dân số vùng _ Đồng bằng sông Cửu Long cao gấp trên 5 lần vùng Tây Nguyên (xem bảng 1)
Trang 3Bảng 1: Điện tích tự nhiên - dân số và mật độ dân số
Duyên hải Nam trung bộ là 71,8%, vùng Tây Nguyên là 72,9%, vùng Đông
Nam bộ 47,3% và vùng Đồng bằng sông Cửu Long là 81,9% (xem bảng 2)
Bảng 2: Dân số nông thôn năm 2001
| _ Dan s6 nam 2001 Tỷ lệ dân số
Duyên hải Nam Trung bộ 6693700} 4806200 71.80
2 Gia tăng dân số:
Vào năm 1995 đân số khu vực nông thôn miền Nam Việt Nam từ
thành phố Đà Nắng trở vào là'26,22 triệu người, đến năm 2001 tăng lên 27,33 triệu người, tăng I,I13 triệu người, ty lệ gia tăng đân số bình quân
Trang 4hàng năm từ 1995-2001 là 0,69% Bảng 3 cho thấy tỷ lệ gia tăng dân số của
từng vùng địa lý rất khác nhau, khu vực Đông Nam bộ và Duyên hải Nam
Trung bộ và Đồng bằng sông Cửu long tỷ lệ gia tăng dân số nông thôn rất
thấp, trong khi đó vũng Tây Nguyên tỷ lệ gia tăng đân số bình quân hàng năm là trên 3,4%
Phân tích tốc độ gia tăng dân số khu vực nông thôn ở từng vùng địa lý cho thấy:
Vùng Duyên hải Nam Trung bộ có ty lệ gia tăng dân số bình quân hàng năm là 0,22%, lý do chủ yếu dân số nông thôn thành phố Đà Nẵng và
tỉnh Bình Định năm 2001 giảm về qui mô so với năm 1995, ngoài ra do điều
kiện kinh tế khu vực nông thôn ở các tỉnh thành Duyên hải Nam Trung bộ phát triển chạm, đời sống khó khăn nên dân cư nông thôn ở đây đã di cư sang các vùng khác có điều kiện tốt hơn để làm ăn sinh sống
Vùng Tây nguyên có tý lệ gia tầng dân số bình quân hàng năm là : 3,45%, đây là vùng có tỷ lệ gia tăng dân số cao nhất so với các vùng khác trong cả nước, lý do chủ yếu ngoài mức sinh ở vùng này còn cao thì ở Tây Nguyên trong những năm vừa qua số người từ các tính trong cả nước đến nhập cư rất cao, đây là nơi đến của người di cư kể cả theo qui hoạch của Nhà
nước và kể cả di cư tự do, đặc biệt ở các tỉnh phía Bác
Vùng Đông Nam bộ có tỷ lệ gia tăng dân số bình quân hàng năm là 0,008%, lý do chủ yếu khu vực này tốc độ đô thị hoá rất cao đã thu hút số lượng lớn đân số nông thôn sinh sống
Tương tự như vùng Đông Nam bộ và Duyên hải Nam Trung bộ, khu vực nông thôn vùng Đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ gia tăng dân số bình quân hàng năm là 0,54% Tỷ lệ gia tăng dân cư nông thôn thấp ở vùng này không phải do tỷ lệ sinh thấp, mà chủ yếu do dân cư ở đây chuyển đến các
đô thị rất lớn
Trang 5Bảng 3: Dân số và tốc độ tăng dân số chỉa theo vùng địa lý
II/ KẾT CẤU HẠ TẦNG KHU VUC NÔNG THÔN CỦA, CÁC
TINH MIEN NAM VIỆT NAM (KE TU THANH PHO DA NANG TRO
Số liệu ở bang 4 cho thấy tỷ lệ số xã ở các vùng nông thôn phía nam
có điện năm 2000 gia tăng đáng kể so với nam 1997, đặc biệt vùng Tây
nguyên và Duyên hải Nam Trung bộ Vùng Đồng bằng sông Cửu Long và
Trang 6Đông Nam bộ tỷ lệ số xã có điện cao hơn các vùng khác Vùng Tây nguyên
tỷ lệ số xã có điện thấp hơn mức bình quân chung cả nước
2 Về đường ô tô đến xã và đến thôn
Số liệu ở bảng 5 cho thấy ty lệ số xã có đường ô tô đến xã năm 2000 ở
ving Dong Nam bộ xấp xỉ gần 100% cao nhất so với các vùng khá, vùng Đồng bằng sông Cửu Long có ty lệ dưới 80% thấp nhất và thấp hơn mức bình quân chung cả nước, tuy nhiên so với năm 997 tỷ lệ số xã có đường ô
tô đến ở vùng này tăng cao hơn các vùng khác và cao hơn mức tăng bình quân cả nước
Bang 6: Tỷ lệ % xã có đường ô tô đến xã
Số liệu bảng 6 cho thấy các vùng nông thôn các tỉnh phía nam có tỷ lệ
số xã có đường ô tô đến thôn xóm năm 2002 tăng đáng kể so với năm 1997
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long có mức tăng cao nhất (1 1,7%) cao gấp trên
25 lần so với mức tăng binh quân cả nước Tuy nhiên so với các vùng khác ở các tỉnh khu vực phía nam năm 2000 số xã có đường ô tô đến thôn chỉ chiếm 66.1% thấp nhất và thấp hơn mức bình quân cả nước
Trang 73 Số xã có trường tiểu học
Bảng 7: Tỷ lệ % xã có trường tiểu học
Về mạng lưới tiểu học tại các xã vùng nông thôn ở các tỉnh phía nam ở
bảng 7 cho thấy năm 2000 tỷ lệ số xã có trường tiểu học vùng Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên giảm so với năm 1997 và thấp hơn mức bình
quân cả nước Trong khi đó vùng Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu
Long tỷ lệ này chiếm gần 100% và tăng so với năm 1997
Số liệu bảng 8 cho thấy ty lệ số xã có trạm y tế vùng Duyên hải Nam
Trung bộ Tây Nguyên và Đông Nam bộ thấp hơn mức bình quân cả nước,
đặc biệt năm 2000 vùng Tây Nguyên và Đông Nam tỷ lệ số xã có trạm y tế lại giảm so với năm 1997
Trang 81Ư Đời sống khu vực nông thôn của các tỉnh miền Nam Việt Nam
(kế từ thành phố Đà Nẵng trở vào)
Bảng 9 Thu nhập bình quân đầu người tháng
Đông Nam bộ 275.3 327.8 191.7
+ Của nhóm 20% số hộ có thu nhập thấp nhất 93.7 137.2 146.4
+ Của nhóm 20% số hộ có thu nhập cao nhất | - 693.6 1416.0 204.1
+ Chênh lệch giữa nhóm cao nhất và thấp nhất | 74 | 103 1394 —-
Đồng bằng sông Cửu Long 181.7 342.1 188.2 + Cha nhém 20% sé hocé thu nhapthipnhat | 718 112.0 155.9
+ Của nhóm 20% số hộ có thu nhập cao nhất 436.6 879.6 201.4
+ Chênh lệch giữa nhóm cao nhất và thấp nhất 6.0 7.8 129.1
+ Của nhóm 20% số hộ có thu nhập thấp nhất 38.9 83.0 140.9 + Của nhóm 20% số hộ có thu nhập cao nhất 318.2 529.3 166.3 + Chênh lệch giữa nhóm cao nhất và thấp 54 | 63 | [18.0
Thu nhập bình quân đầu tháng của khu vực nông thôn theo các vùng
địa lý ở miền nam năm 1999 có nhiều tiến bộ so với năm 1994 Ving Duyén
hải Nam Trung bộ thu nhập bình quân đầu tháng năm 1999 là 252,8 nghìn
đồng tăng 74,7% so với năm 994 Tuy nhiên, chênh lệch giữa nhóm hộ có
thu nhập cao và thấp năm I999 so 1994 ngày càng tăng lên, năm 1994 chênh giữa nhóm hộ có thu nhập cao với thu nhập thấp là 6,3 lần tăng 1,4 lần so với
Trang 9năm 1994; vùng Tây nguyên thu nhập bình quân đầu người tháng năm 1999
là 334,7 nghìn đồng tăng 67,7% so với năm 1994 và chênh lệch giữa nhóm thu nhập cao và thu nhập thấp năm 1999 lên đến 12,9 lần tăng 2,9 lần so với
nam 1994; vùng Đông Nam bộ thu nhập bình quân đầu người tháng năm
1999 là 527,8 nghìn đồng tăng 91,7% so với năm 1994 và chênh lệch giữa nhóm thu nhập cao và thu nhập thấp năm 1999 lên đến 10,3 lần tăng 2,9 lần
so với năm 1994; vùng Đồng bằng sông Cửu Long thu nhập bình quân đầu người thắng năm 1999 14 342,1 nghin đồng tăng 88,2% so với năm 1994 và chênh lệch giữa nhóm thu nhập cao và thu nhập thấp năm 1999 lên đến 7,2 lần tăng 1,8 lần so với năm 1994
Thu nhập bình quân đầu người năm 999 ở vùng nông thôn các tỉnh phía nam cao hơn mức bình chung cả nước Tuy nhiên hố ngăn cách giữa
nhóm hộ giàu và nghèo cả về số lần và tốc độ cao hơn mức bình quân cả
“nước, đây là một vấn đề cần xem xét
II Tình hình sản xuất nông nghiệp các tỉnh phía nam
Giá trị sản xuất nông nghiệp (tính theo gia số sánh 1994) các tỉnh phía
nam từ Đà Nắng trở vào năm 2000 chiếm tỷ lệ 61,3% so với cả nước, trong
khi đó dân số chỉ chiếm 50,9% Giá trị sản xuất nông nghiệp các tỉnh phía
nam năm 2000 tăng 40,9% so với năm 1995 cao hơn mức bình quân cả nước
Trang 10chiếm hơn 57% trong khi đó vùng Duyên hải Nam Trung bộ có tỷ trọng chưa
đến 9% (xem bảng 10)
Bảng 11 Diện tích và sản lượng lương thực theo các vùng
Dan sé Diện tích cây | Sản lượng cây | Lương thực
2000 lương thực có| lương thực có |có hạt/ngươi (1000 người) | hạt (1000 ha) | hạt (1000 tấn) (kg)
Tay Nguyén 3101.7 263.6 907.1 214.1 Đông Nam bộ 5778.9 649.3 2081.1 172.5
Đồng bằng sông Cửu Long 13459.0 3964.8 16754.5 1025.1
Cộng các tỉnh phíanam | 271429 532871 -21495.9| 792/0
(Chungcanude ~ 388301 8396.53L 34535.4 444.8
Trang 11
PHẦN II: ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH VỆ SINH MÔI TRƯỜNG
VÀ SỨC KHOẺ CỘNG ĐỒNG
Ở CÁC TỈNH PHÍA NAM VIỆT NAM
A ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH VỆ SINH MÔI TRƯỜNG KHU VỰC
NONG THON
I PHAM VI, DOI TUGNG NGHIÊN CỨU
1 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu được khu trú ở vấn đề về vệ sinh môi trường, và sức
khoẻ cộng đồng ở khu vực nông thôn các tỉnh phía mm Việt Nam
2 Đối tượng nghiên cứu và địa bàn được chọn lựa đại điện cho vùng
nghiên cứu
Cac tinh phía nam Việt Nam thành phố Đà Nẵng trở vào bao gồm 30
tỉnh thành phố được chia thành 4 vùng địa lý đó là vùng Duyên hải Nam
Trung bộ, Tây Nguyên, Đông Nam bộ và vùng Đồng bằng sông Cửu Long Các vùng này có đặc điểm và điều kiện về địa lý, dân cư, dân tộc, kinh tế-xã hội, tập quán vệ sinh môi trường rất khác nhau Chính vì vậy, việc lựa chọn địa phương đại điện cho toàn vùng là vấn để quan trọng
Vùng Duyên hải Nam Trung bộ bao gồm 6 tỉnh đó lì thành phố Đà nắng, tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và tính Khánh Hoà nhóm nghiên cứu đã chọn tỉnh Quảng Nam đại diện cho vùng nghiên
cứu
Vùng Tây Nguyên bao gồm 4 tỉnh đó là tỉnh Kom Tum, Gia Lai, Đắc
Lac va tinh Lam Đồng, nhóm nghiên cứu đã chọn tỉnh Đắc Lắc đại điện cho
vùng nghiên cứu
Vùng Đông Nam bộ bao gồm 8 tính đó là thành phố Hồ chí Minh, tỉnh
Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai và
Trang 12tỉnh Bà Ria-Vũng Tàu, nhóm nghiên cứu chọn tỉnh Ninh Thuận đại diện cho
~
vùng nghiên cứu
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm 12 tỉnh đó là tỉnh Long An,
Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Kiên Giang, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau, nhóm nghiên cứu chọn
tỉnh Tiền Giang đại điện cho vùng nghiên cứu
II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Bao gồm các nội dung chính sau dây:
+ Các đặc điểm về hiện trạng và không gian phát triển kinh tế-xã hội
của các vùng
+ Hiện trạng vệ sinh môi trường nông thôn và sức khoẻ cộng đồng ở 4 tỉnh đại diện
Khuyến nghị các giải pháp
B KẾT QUÁ NGHIÊN CỨU
L Hiện trạng và không gian phát triển kinh tế- xã hội của các vùng thuộc miền nam Việt Nam
1 VUNG DUYEN HAI NAM TRUNG BO
Diện tích tự nhiên: 33.733 km”, chiếm gần 20,4% diện tích miền nam
và 10,04% diện tích cả nước Dân số 6.693.700 người, chiếm 16,77% dân số
của miền nam và 8,5% dân số cả nước, mật độ dân số 202 ngudi/km? bao
gồm các tỉnh thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và tỉnh Khánh Hoà
1.1 Tiểm năng và hiện trạng phát triển kinh tế-xã hội
1.1.1 Tài nguyên thiên nhiên
Trang 13Biển là tiểm năng lớn nhất của vùng với bờ biển đài khoảng 800 km từ Hải Vân đến cực Nam Trung bộ Sát bờ, biển khá sâu Dọc bờ biển có nhiều
cửa sông, eo biển, vũng, vịnh trong đó có những vũng, vịnh nổi tiếng như
Đà Nẵng, Cam Ranh, Van Phong, vũng Rõ Đó là địa bàn tập trung động vat
biển ven bờ, nơi trú đậu của các ghe, thuyền, tàu biển, đồng thời là nơi xây dựng các hải cảng tốt như Đà Nẵng, Qui Nhơn, Nha Trang Vùng có nhiều
bãi biển đẹp, nước trong, ấm áp thích hợp với phát triển an dưỡng và du lịch:
có nhiều đồng muối rộng chất lượng tốt như Sa Huỳnh, Cà Ná Trên biển
có nhiều đảo và quần đảo, lớn nhất là Trường Sa và Hoàng Sa, Đó là nơi trú đậu của tàu thuyền khai thác tiểm năng biển, là bình phong ngăn sóng ven bờ cho thuỷ sản trong lòng phát triển Đảo còn là nơi chứa đựng tài nguyên khoáng sản, đất trồng trọt và nơi trú đậu của các loài chim biển, đặc biệt là đảo có loài chim Yến làm tổ
Biển Nam Trung bộ có nhiều ngư trường tốt như cù lao Chàm, cù lao
Thu, Nha Trang Hải sản có nhiều loại, trong có có tôm, cá vc, cá song, Ốc, sd có thể khai thác quanh nâm Ngoài khơi có nhiều loại cá có giá trị Có loại ở tầng nổi như cá trích, cá nục; có loại ở tầng trung như cá thu ở độ sâu khoảng 2Im, cá chìm; có loại ở tầng đáy như cá hồng, cá phèn, cá mối, tôm hùm Những vũng, vịnh, đáy biển có phù sa là địa bàn để phát triển rong
biển Theo đánh giá của Viện Hải Dương học Nha Trang, động vật biển ở
vùng này có I77 loài, thuộc 81 ho, trong đó loại có sản lượng cao nhất là cá
mú xám và cá hồ
Đất nông nghiệp, lâm nghiệp là tiểm năng thứ hai của vùng Điện tích khoảng 4,5 triệu ha Dãy Trường Sơn Nam nằm sát biển, núi xen kẻ với đồng bằng, vì vậy từ xưa đến nay đã phát triển nông nghiệp theo cơ cấu lâm —
Trang 14Rừng và đất rừng thuộc sườn đông của dãy Trường Sơn Độ che phủ rừng chỉ còn khoảng 30-40%, Diện tích rừng hiện có khoảng I triệu ha chiếm 11% cả nước Rừng gỗ phần lớn thuộc sườn cao nguyên, những nơi khó khai thác Rừng còn một số đặc sản quí như qué Tra My, Tra Bong, ky
nam là những dược liệu quí
Khí hậu của vùng là đặc trưng của khí hậu Á xích đạo, bức xạ lớn, tổng
lượng nhiệt cao, biên độ giao động nhiệt thấp Tổng lượng mưa hàng năm ít hơn các vùng khác Tuy vậy, mưa tập trung vào cuối mùa mưa, thường kèm
theo bão trên địa hình đốc nên dễ gây lũ lụt
Tài nguyên khoáng sản chủ yếu là cát xây dựng, cát thuỷ tính và đá làm vật liệu xây dựng Ngoài ra còn một số khoáng sản khác như vàng (Bồng
Miêu), than đá (Nông Sơn)
1.1.2 Tài nguyên nhân văn
Dân cư của vùng thưa hơn các vùng ven biển khác, Năm 2000, mật độ dan số trung bình 202 người/km”; phần lớn tập trung ở vùng đồng bằng, đô thị, bến cảng
Dân tộc ít người chủ yếu là người Ba Na, H' Rê
Trình độ tay nghề trong sản xuất cao, có ý thức sản xuất hàng hoá trong
các ngành ngư nghiệp, cơ khí, thủ công mỹ nghệ Vùng có nhiều dị tích văn
hoá - lịch sử nổi tiếng như Đà Nẵng, Hội An, Mỹ Sơn, Nha Trang Số di
tích hiện có khoản 750 điểm Đây là tiểm năng lớn để phát triển ngành kinh
tế du lịch
1.2 Hiện trạng phát triển kinh tế- xã hội
Trong quá trình đổi mới cơ chế kinh tế, vùng Duyên hải Nam Trung bộ phát huy thế mạnh là du lịch, lao động kỹ thuật, nên cơ cấu kinh tế thay đổi theo xu hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, du lịch, đưa giá trị tổng sản lượng công nghiệp, du lịch lên ngang tâm và vượt giá trị tổng sản lượng nông nghiệp
Trang 15Về Công nghiệp
Năm 2001 tổng giá trị công nghiệp chiếm 5% so với công nghiệp cả nước Số cơ sở sản xuất công nghiệp tính đến thời điểm 31/12/2000 là 52.044
cơ sở chiếm 7,9% so với cả nước, trong đó các cơ sở công nghiệp lớn do
trung ương quản lý, cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài 72 cơ sở, các cơ sở này chủ yếu tập trung vào Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Khánh Hoà, Quảng Nam Trong những năm gần đây, nằm trong chiến lược phát triển của cả nước vùng Duyên hải Nam Trung bộ được xác định nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Thừa Thiên Huế - Đà Nẵng - Quảng Ngãi đã hình thành nhiều khu công nghiệp tập trung cao và then chốt đó là các khu công nghiệp Đà Nắng, khu kinh tế mở Chu Lai và khu công nghiệp lọc đầu và hoá dầu Dung Quất -
Quảng Ngãi sẽ làm thay đổi bộ mặt công nghiệp của vùng trong những năm
lương thực bình quân đầu người chỉ đạt 264,5 kg /người Điều đáng nêu lên
là sự đổi mới trong kỹ thuật thâm canh cây trồng lương thực trong vùng đã
tạo nên những chuyển biến trong năng suất cây trồng Ngoài ra trong những
năm qua sự chuyển đổi diện tích đất canh tác kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản đã làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất từ mục đích nông nghiệp sang mục tích sử dụng khác theo hướng giảm dần diện tích đất canh tác nông nghiệp ngày một cao hơn
Chãn nuôi chủ yếu vẫn là đàn bò Năm 2000 số lượng đàn bò toàn vùng
là 937.200 con, chiếm 22,7% tổng đàn bò cả nước và chiếm 44,8% so với số lượng đàn bò ở miền nam Việt Nam Môi trường sinh thái thích hợp đã tạo ra thế mạnh cho đàn bò phát triển Đàn trâu chỉ có 127.800 con Đàn lợn gắn
Trang 16với vùng lương thực và ven đô thị năm 2000 số đàn lợn là 1/725 triệu con chỉ chiếm 8,5% so với cả nước
Các cơ sở chế biến thuỷ hải sản ngày càng được mở rộng và hiện đại
hoá như Nha Trang, Sa Huỳnh, Đà Nẵng Sản phẩm chế biến chủ yếu là nước
mắm, tôm cá đông lạnh, đồ hộp và phơi khô Biển là thế mạnh của vùng
nhưng việc đầu tư và tổ chức sản xuất còn yếu chưa tương xứng với tiểm
nang
Ngoài ra còn sản xuất muối năm 2000 sản lượng muối chiếm khoảng 22% muối cả nước
Kinh tế dịch vụ du lịch được khai thác và phát triển mạnh Vùng là nơi
tập trung các di sản văn hoá lịch sử và cảnh quang thiên nhiên của cả nước như Đà Nắng, Hội An, Mỹ Sơn, Nha Trang và được xác định là | trong 4 trọng điểm du lịch của quốc gia Đặc biệt, Hội An và Mỹ Sơn là hai di sản văn hoá thế giới
1.3 Hướng tổ chức không gian kinh tế-xã hội
1.3.1 Xây dựng cơ cấu ngành
Các ngành kinh tế mũi nhọn của vùng Duyên hải Nam Trung bộ là:
Kinh tế biển: Để phát triển mạnh kinh tế biển, cần phải đầu tư đổi mới
qui trình công nghệ, thiết bị đánh bắt và chế biến hải sản; kết hợp với kinh tế
ven bờ và cảnh quan tự nhiên và văn hoá biển để phát triển ngành du lịch -
dịch vụ; phát huy vai trò và vị trí của trung phần Đông Dương, mối quan hệ giao thong hài hải quốc tế, tập trung xây dựng các cụm cảng Đà Nắng-Liên
Trang 17Chiểu, Chu Lai, Qui Nhơn, Vân Phong với ngành công nghiệp sửa chữa,
Về nông nghiệp cần phát huy thế mạnh nông sản xuất khẩu như tơ tằm,
dừa và vùng nguyên liệu cho các cơ sở công nghiệp trong nước như bông,
thuốc lá; đồng thời coi trọng thâm canh, Mở rộng qui mô đàn bò và lợn với qui mô lớn và chất lượng thịt cao
Về lâm nghiệp, phấn đấu phát triển rừng đặc sản như quế, sâm qui va
nguyên liệu cho sản xuất giấy; chú trọng trồng rừng và bảo vệ rừng đầu
nguồn; đồng thời trồng rừng chống gió, chống cát lấn ven bờ biển, đảm bảo cho độ che phủ rừng từ 30-50% điện tích của vùng
Về kết cấu hạ tầng, cần nâng cấp và phát triển các hệ thống giao thông,
bến cảng; phát triển các công trình thuỷ điện vừa và nhỏ
1.3.2 Hình thành cơ cấu lãnh thổ
Kết hợp khai thác mạnh cả 3 vùng miền núi, đồng bằng và biển trong
một cơ cấu cân đối hợp lý nhằm phát huy tối đa hiệu quả từng vùng; đồng
thời, bảo vệ môi trường-sinh thái đặc trưng của mỗi địa phương Phát huy lợi
thế và khả năng của từng tỉnh để phát triển các ngành chuyên môn hoá, tạo
ra nhiều sản phẩm hãng hoá; đồng thời chú ý xây đựng có trọng điểm các hạt
nhân tạo vùng như Đà Nẵng, Nha Trang; tạo hành lang đô thị, công nghiệp
của vùng theo kiểu dãi thành phố dọc theo đường quốc lộ 1A
2 VÙNG TÂY NGUYÊN
Điện tích tự nhiên: 54.476 km”, chiếm gần 33.6% diện tích miễn nam
và 16,9% diện tích cả nước Dân số 4.333.000 người, chiếm 10,8% dân số của miền nam và 5,5% dân số cả nước, mật độ dân số 79 người/km? bao gồm các tỉnh thành phố Kom Tum, Gia Lai, Đắc Lắc và Lâm đồng
Trang 182.1 Tiểm năng và hiện trang phát triển kinh tế-xã hội của vùng 2.1,1 Tài nguyên thiên nhiên
Đất và khí hậu là tài nguyên cơ bản để phát triển nông lâm nghiệp của vùng Mật độ cao trung bình 600-800m so với mặt biển, đất Tây Nguyên phổ
biển là đất đỏ bazan, có tầng phong hoá dày trên địa hình lượn sóng nhẹ, đã tạo nên những cao nguyên kéo dài từ Kom Tum đến Lâm Đồng Diện tích đất đô Bazan có trên 1,6 triệu ha, thích hợp với nhiều loại cây, đặc biệt là cây cao su, cà phê, hố tiêu và rừng ngoà ra còn có đất xám phát triển trên
các sườn thoải phía Tây Nam vùng và đất đen hình thành trong các thung lũng, thích hợp với cây lương thực
Hiện trạng sử dụng đất năm 2000, đất nông nghiệp của Tây Nguyên có
khoảng 1,2336 triệu ha nhưng chỉ có hơn 30% được sử dụng vào sản xuất
ˆ Điều đó chứng tỏ rằng tiềm năng đất nông nghiệp của vùng là rất lớn
Tây nguyên có vốn rừng lớn nhất trong cả nước chiếm trên 40% Trừ lượng rừng gỗ lớn nhất khoảng trên 51% rừng gỗ cả nước, với nhiều loại gỗ quí như cẩm lai, gụ, giáng hương Pơ mu có những cánh rừng thông thuần chuẩn Tây Nguyên còn có rừng khộp là rừng chỉ thích hợp cho vùng khô hạn với 3 loại cây chính là dấu trà bang, dấu đông và dấu lông Ngoài ra, còn
có rừng le, nứa, tre
Trong rừng Tây Nguyên còn có nhiều động vật quí như voi, bò tót, trâu rừng, hổ, gấu, công, trĩ, gà lôi và có khả năng có vượn người Voi nhiều nhất ở Bản Đôn
Khí hậu Tây Nguyên chụi ảnh hưởng của khí hậu cận xích đạo Nhiệt
độ trung bình khoảng 20°c, điều hoà quanh năm và có sự chênh lệch dáng kể
giữa ngày và đêm tổng nhiệt độ cao, nguồn năng lượng tự nhiên lớn, nên
sinh vật tăng trưởng nhanh, tạo ra cơ sở cho sự phát triển nông-lâm nghiệp
Khí hậu Tây Nguyên về cơ bản phân 2 mùa rõ rệt: Mùa khô và mùa mưa Về mùa khô nóng khô hạn thiếu nước trầm trọng để cung cấp cho cây trồng Về
mùa mưa, nóng ẩm, tập trung 85-90% lượng mưa cả năm, là mùa thừa nước,
gây khó khăn nhất định cho sản xuất và đời sống của vùng
Trang 19Tài nguyên khoảng sản của Tây Nguyên ít chủng loại, đáng kế nhất là boxit có trử lượng dự tính khoảng 10 tỷ tấn, tập trung ở Đắc Nông, măng
Đen (Kom Tum) Quãng bóit ở Tây Nguyên chiếm trên 95% trữ lượng bóit
cả nước Việc khai thác boxit còn pap nhiều khó khăn lớn do cơ sở hạ tầng
còn quá nghèo, boxit phủ trên tầng bazan màu mở ở diện rộng, nên nếu khai thác sẽ ảnh hưởng đến nông lâm nghiệp và môi trường tự nhiên, sinh thái của vùng tiếp cận Trử lượng thuy năng của các dòng sông khá lớn, chiếm
khoảng 40% trữ lượng thuỷ năng cả nước Đó là cơ sở để phát triển mạnh
thuỷ điện của vùng
2.1.2 Tài nguyên nhân văn
Tây nguyên có dân số vào loại ít nhất trong cả nước, chỉ đứng trên vùng
Tay Bắc (Bắc bộ, tuy trong những năm gần đây có nhiều thay đổi, lượng dan
di cư tự do đến rất lớn và phức tạp, đã làm tăng qui mô dân số và thay đổi cơ
cấu dân số Vùng đã tiếp nhận số lượng lớn dân cư và lao động từ các vùng
đồng bằng sông Hồng, Tây Bác, Đông Bác, Bắc Trung bộ đến để khai thác
lãnh thổ phát triển kinh tế, đến nam 2001 dân số đã lên đến 4,33 triệu người
tăng gần gấp 2 lần so với năm 1990, mật độ dân số 79 người/kmẺ
Trước năm 1990 các dân tộc ít người chủ yếu của vùng là Xơ Đăng, Ba
Na, Gia Rai, E đê, Cơ Ho, Mạ, Mơ Nông Tuy nhiên, hiện nay do các luồng
đi cư đến làm ăn sinh sông rất cao nên vùng Tây Nguyên có mặt đủ 54 dân
tọcc anh em sinh sống đã tạo nên một bản sắc đa sắc thái ở vùng đất này
Trước kia, sinh hoạt kinh tế của các dân tộc ít người là du canh, du cư, làm
nương rẫy, ngày nay một số đã định canh, định cư, làm lúa nước, trông cây công nghiệp, phát triển sản xuất hàng hoá Mỗi dân tộc ở Tây Nguyên có những đặc trưng văn hoá truyền thống Các lễ hội như đâm trâu, hội cồng
chiêng, các loại đàn đá, đàn tơ rưng, các điệu múa như giã gạo, hội mùa
đều mang đậm sắc thái dân tộc, phản ảnh tình yêu lao động yêu đất nước và con người chí khí quật cường Hình thái quần cư chủ yếu của các dân tộc Tây Nguyên là theo buôn làng bao quanh một nhà Rông (nhà công cộng)
2.1.3 Hiện trạng phát triển kinh tế-xã hội
Trang 20Trong quá trình khai thác lãnh thổ Tây Nguyên Nổi bậc nhất là trồng cây công nghiệp dài ngày cà phê, chè, cao su, có hai vùng chuyên canh cà phê lớn , tập trưng và vùng cà phê Buôn Mê Thuột và các vùng phụ cận
, Ngaòi ra cà phê cũng thích hợp với các vùng thuộc Gia Lái, Kom Tum và
Lâm Đồng
Ngoài 3 loại cây chủ lực trên, Tây Nguyên còn phát triển cây dâu tằm
nhiều nhất là Lam Đồng và Đắc Lắc Một số cây công nghiệp khác cũng
được đưa vào canh tác như cây bông, lạc, mía
Chăn nuôi chủ yếu là bò Đến năm 2000 là 524.900 con chiếm 12,7%
so với cả nước, đàn trâu ít chỉ 68.400 con, ngoài ra còn chăn nuôi lợn, gà
Lâm nghiệp Tây Nguyên thực hiện theo hướng phát triển tổng hợp : khai thác, nuôi trồng và chế biến Về khai thác năm 2000 sản lượng gỗ khai
thác là 372.800m'”, chiếm 13,8% so với cả nước, trồng được 13.000 ha rừng tập trung Vấn đề dáng quan tâm Tây Nguyên là nơi rừng bị chặt phá rất nghiêm trọng, chỉ tính năm 2000 vùng Tây Nguyên chặt phá 1547,6 ha chiếm 43,6% so với diện tích rừng bị chặt phá cả nước
Công nghiệp Tây Nguyên mới được xây dựng, nên phát triển còn yếu, chủ yếu là công nghiệp chế biến nông lâm san như chè, cà phê, cao su và các
xí nghiệp tiểu thủ công nghiệp Năm 2000, giá trị sản lượng công nghiệp Tây Nguyên chỉ bằng 2,2% so với giá trik sản lượng công nghiệp cả nước và bằng 3,2% so với giá trị sản lượng công nghiệp miền nam Việt Nam
Về Giao thông vận tải, chủ yếu là giao thông đường bộ trên các trục
chính, liên hệ kinh tế còn chậm, các cơ sở dịch vụ chưa đáp ứng đầy đủ như
trường học, bệnh viện,
2.2 Hướng tổ chức không gian kinh tế - xã hội
Để phát huy tiểm năng to lớn của Tây Nguyên, vấn đề cấp bách đặt ra là
vốn và lao động Giải quyết tốt những vấn đề đó sẽ tạo ra tiền dé co ban để đẩy nhanh phát triển kinh tế-xã hội của vùng Hướng tổ chức không gian Tây
Nguyên sẽ là
Trang 21Cơ cấu lãnh thổ hợp lý, đẩy mạnh chuyên môn hoá các cây công nghiệp, cà phê, chè, cao su, dâu tằm; thử nghiệm các loại cây công nghiệp
mới để phát triển tập đoàn cây công nghiệp qui mô lớn giá trị cao Phát triển
vùng trồng rau, hoa quả ở Lâm Đồng để xuất khẩu; mở rộng qui mô đàn bò;
khuyến khích phát triển chăn nuôi đàn bò để lấy thịt khắp vùng đến từng gia
đình nông dân; xây dựng các cánh đồng lúa nước, tiến đến định canh, định
cư để giải quyết chấm dứt nạm phá rừng làm nương rẫy, phát triển mạng
lưới điện, trường, trạm ở các vùng đồng dân tộc ít người, cải thiện chất lượng cuộc sống
Qui hoạch khai thác, tụ bổ rừng hợp lý theo hệ sinh thái tự nhiên đối với
từng tiểu vùng, đảm bảo rừng đầu nguồn, phát triển các cơ sở chế biến lâm sản đầu cửa rừng để tận dụng triệt để các loạt gỗ
Cùng với vùng Đông Nam bộ có kế hoạch khai thác boxit và xây dựng
nhà máy luyện nhôm
Xây dựng các cơ sở xây dựng nông lâm sản với kỹ thuật hiện đại nhằm taok ra những hàng hoá có giá trị xuất khẩu cao, khuyến khích phát triển các
nghề tiểu thủ công nghiệp
Tập trung xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng, trước hết hệ thống các
đường quốc lộ, tỉnh lộ, giao thông nông thôn
Phát triển thuỷ điện trên cơ sở xây dựng các nhà máy thuỷ định ở vùng Phát triển hệ thống trường học nội trú tập trung từ cấp xã cho đến cấp tỉnh xoá mù chử, khuyến nông, khuyến lâm, loại bỏ các bệnh sốt rét, xây
dựng mạng lưới y tế đến tận buôn làng
3 VÙNG ĐÔNG NAM BỘ
Diện tích tự nhiên: 34.733 km”, chiếm gần 21,4% diện tích miền nam
và 10,5% diện tích cả nước Dân số 12.066.800 người, chiếm 30,9% dân số
của miền nam và 15/7% dân số cả nước, mật độ dân số 355,9 người/km” bao gồm các tỉnh: thành phố Hồ Chí Minh, Ninh Thuận, Bình Phước, Tây Ninh,
Bình Dương, Đồng Nai, Bình Thuận và Bà Rịa-Vũng Tàu
Trang 223.1 Tiểm năng và hiện trạng phát triển kinh tế-xã hội
3.1.1 Tài nguyên thiên nhiên
Đất nông lâm nghiệp là thế mạnh của vùng, Nằm ở sườn Tây Nam
Trường Sơn, vùng Đông Nam bọ có địa hình thoái, độ cao trung bình dưới 20m so với mặt biển, có 2 loại đất chính đó là đất xám và đất đỏ bazan, thích
hợp với cây công nghiệp đài ngày như cao su, cà phê và các loại cây công
nghiệp ngắn ngày như lạc mía, cây lương thực
Tài nguyên rừng không lớn lắm , còn khoảng 532.000 ha chiếm 6% so
với cả nước, nhưng lại có ý nghĩa quan trọng trong việc phòng hộ cho cây công nghiệp dài ngày, đảm bảo cân đối sinh thái cho toàn vùng Đặc biệt, vùng có rừng quốc gia Cát Tiên một cơ sở khoa học lâm nghiệp và thắng cảnh lớn Rừng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp giấy Đồng Nai
Biển tuy hẹp hơn các vùng có biển khác, song có ý nghĩa kinh tế lớn
Thém luc địa có nguồn dầu khí với trữ lượng công nghiệp được xác định sơ
bộ khoảng I1 tỷ tấn (300 triệu tấn dầu và 700 triệu tấn khí qui dầu) Đây là loại tài nguyên có ý nghĩa chiến lược đối với cả nước và quốc tế Bãi biển Vũng tàu là nơi nghỉ mát lý tưởng của vùng
Khí hậu của vùng thuộc loại khí hậu cận xích đạo, nhiệt độ điều hoà
không khắc nghiệt như Tây Nguyên Độ ẩm tương đối lớn Có hai mùa: mùa
khô và mùa mưa Khí hậu thích hợp với sinh thái của nhiều loại cây trồng, vất nuôi
Khoảng sản của vùng không nhiều Có 2 loại đán chú ý là boxit và cao lanh dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp gốm sứ
Về năng lượng, ngoài giờ nắng cao, đáng kế là nguồn thuỷ năng của hệ
“thống sông Đồng Nai-Sài Gòn ( chiếm 20% dự trữ điện năng cả nước) tuy vậy, nếu khai thác hết nguồn thuỷ năng đó, thì cũng không thể đấp ứng đủ
nhu cầu về điện cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long
3.1.2 Tài nguyên nhân văn
Trang 23Quá trình đô thị hoá trong vùng diễn ra mạnh mẽ, Vùng kinh tế trọng điểm năng động và hiệu quả nhất hiện nay của nước ta nằm ở vùng này với 3
trung tâm công nghiệp là thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương-Đồng Nai và Vung Tau da tao thành một tam giác công nghiệp; cùng với thị xã Tây Ninh
và trên 50 thị xã thị trấn khác phát triển sẽ thu hút các vùng tiếp cận, hình thành nên một vùng động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế-xã hội
Mật độ dân số của vùng là 355.9 người/km”, số lượng lao động đã cung cấp cho các ngành kinh tế quốc dân Sự phát triển đô thị hoá đã tạo ra sự phân hoá nhanh nhân khẩu và lao động theo nghề nghiệp Hiện nay tỷ lệ dân
số đô thị đã đạt 51,6% tổng dân số; tập trung chủ yếu và thành phố Hồ Chí
Minh, Biên Hoà, Vũng Tàu
Quá trình phát triển kinh tế của vùng đã tạo cho vùng một cơ sở vật
chất-kỹ thuật, kết cấu hạ tầng tốt nhất trong cả nước
Thành phố Hồ Chí Minh với cảng Sai Sdn, san bay Ttan Son Nhat va các quốc lộ nối các địa phương trong vùng đã tạo ra một cơ cấu lãnh thổ tương đối hợp lý, hình thành dãi công nghiệp Thủ Đức, Biên Hoà, Bình Dương, vũng Tàu, sử dụng có hiệu quả cơ sở hạ tầng, nguyên liệu, kỹ thuật, công nghệ và thị trường
Vũng Tàu là thành phố có các chức năng chính là tiền cảng, trung tâm
du lịch, cơ sở dịch vụ dầu khí, được gắn kết với Biên Hoà, Bình Dương và
thành phố Hồ Chí Minh
Mặt khác quá trình phát triển kinh tế-kỹ thuật của vùng đã tạo ra một
đội ngũ khoa học-kỹ thuật có kỹ năng, kinh nghiệm sử dụng cơ giới hoá, tính
năng động cao, nhạy bén với khoa học và công nghệ hiện dại, với sản xuất hàng hoá và thị trường
Vùng có mật độ các di tích văn hóa, lịch sử lớn nhất so với vùng Đồng
bằng sông Cửu Long Nổi bậc là cảng Nhà Bè, Toà thánh Tây Ninh, định Độc Lập, địa đạo Củ Chi Các dị tích đó có ý nghĩa lớn đối với việc phát
triển ngành kinh tế du lịch
Trang 243.1.3 Hiện trạng phát triển kinh tế-xã hội
Công nghiệp đã có sự thay đổi nhanh chóng Từ chổ trước ngày giải
phóng chủ yếu là công nghiệp sản xuất tiêu dùng và thực phẩm, sau năm
1975 đến nay, công nghiệp nặng được chú ý phát triển như luyện kim và cơ
khí chế tạo, hoá chất, vật liệu xây dựng Các cơ sở công nghiệp được mở
rộng và được trang bị các thiết bị hiện đại, hoặc đang đổi hẳn qui trình công nghệ Vì vậy, công nghiệp của vùng đã đạt được giá trị tổng sản lượng lớn
nhất trong cả nước năm 2000, chiếm 53% so với giá trị tổng sản lượng công nghiệp trong cả nước
Nếu xét theo cơ cấu giá trị tổng sản lượng và cơ cấu lao động công nghiệp cho thấy, vùng Đông Nam bộ tuy chiếm tỷ trọng lao động công nghiệp không lớn (khoảng 16% năm 2000) nhưng đã tạo ra giá trị tổng sản lượng lớn nhất 53% so với cả nước Điều đó chứng tỏ lao động công nghiệp của vùng Đông Nam bộ đạt năng suất lao đông cao nhất nước
Với 3 cực phát triển nêu trên, hiện nay nhiều cơ sở công nghiệp lớn
đang được xây dựng, trong tương lại sẽ tạo thành một mũi nhọn phát triển
bên cạnh các mũi nhọn hiện có
- Công nghiệp năng lượng đang được phát triển mạnh lớn nhất là thuỷ điện Trị An, Thác Mơ, Hàm Thuận và các tổ hợp Khí-Điện-Đạm ở Bà Rịa- Vũng Tàu
Về nông nghiệp vùng Đông Nam bộ là vùng chuyên canh lớn cây công công nghiệp và cây ăn quả Cao su là cây trồng có diện tích lớn nhất trong
toàn vùng, cao su được trồng từ năm 1914 Do giá trị kinh tế lớn của cây cao
su, nên phát triển cao su là một mũi nhọn của toàn vùng Diện tích cao su ngày càng tăng, kỹ thuật thâm canh, tăng năng suất ngày càng được chú
trọng Ngoài ra, ở Đông Nam bộ còn phát triển cà phê, hố tiêu,
Cây công nghiệp ngắn ngày được phát triển chủ yếu là lạc, đậu tương,
mía ngoài ra còn có điều và thuốc lá
Trang 25Cây ăn quả cũng là một thế mạnh của vùng Các loại như chôm chôm, xoài, mít tố nữ được trồng nhiều ở lL.ái Thiêu, Thủ Đức và Đồng Nai
Cây lương thực chiếm tỷ lệ nhỏ và chỉ sản xuất ở những vùng có điều kiện Năm 2000 sản lượng lúa của vùng đạt [,769 triệu tấn
3.2 Tổ chức không gian kinh tế-xã hội
Đông Nam bộ là vùng phát triển sớm, nên trình độ tổ chức lãnh thổ
tương đối cao so với các vùng khác Vì vậy, trong những năm tới vấn đề nổi lên hàng đầu là khai thác lãnh thổ theo chiều sâu nhằm nâng cao hiệu qua trên cơ sở tăng cường đầu tư khoa học-kỹ thuật, vốn để tăng nhanh tổng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân; đồng thời sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo
vệ môi trường
Về Công nghiệp
Giữ vai trò chủ đạo trong việc cung cấp hàng tiêu dùng, máy móc phục
vụ nông, lâm, ngư nghiệp, vận tải cho đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và tham gia hợp tác trao đổi với các vùng khác, xuất khẩu
Phát triển trục công nghiệp Biên Hoà-Thành phố Hồ Chí Minh-Bình Dương-Vũng Tàu; tập trung xây dựng khu công nghiệp thành Tuy Hạ và dịch
Mở rộng và thâm canh cây cao su, cà phê xuất khẩu; tạo điều kiện để
mở rộng đầu tư, hợp tác nước ngoài trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt sản phẩm có hàm lượng giá trị khoa học kỹ thuật cao Mặt khác, theo thị trường và điều
kiện sinh thái thích hợp để phát triển cây điều, cọ đầu, hố tiêu gắn liền với
chế biến
Trang 26Đối với cây công nghiệp ngắn ngày, tận dụng tài nguyên để mở rộng
thâm canh cây lac, mia, dau tương, thuốc lá
Đối với cây thực phẩm, phát triển vành đai cây thực phẩm chung quanh vành đai các thành phố với thuật canh tác tiên tiến, hợp vệ sinh an toàn thực
Về du lịch-dịch vụ: Phát huy tiểm năng du lịch-dịch vụ to lớn của vùng
làm động lực thức dẩy sự phát triển của các tỉnh, đặc biệt là đầu tư phát triển,
hiện đại hoá tam giác Vũng Tàu-Biên Hoà-Thành phố Hồ Chí Minh
4 VUNG DONG BANG SONG CUU LONG
Điện tích tự nhién: 39.713 km?, chiém gan 21,4% dién tich mién nam
va 10,5% dién tich cA nude Din s6 16.344.700 ngừời, chiếm 41,3% dan số của miền nam và 20,9% dân số cả nước, mật độ dân số 415 người/km? bao gồm các tỉnh: Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến
Tre, Kiên Giang, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trang, Bạc Liêu và Cà Mau
4.1 Tiém nang va hiện trạng phát triển kinh tế-xã hội
4.1.1 Tài nguyên thiên nhiên
Đất phà sa là thế mạnh nhất của vùng Nằm ở hạ lưu sông Mê Kông,
đồng bằng đang được bồi dấp và mở rộng Độ cao trung bình của đồng bằng
là 3-5m Có 3 nhóm đất chính là:
+ Nhóm đất phù sa ngọt có khoảng 2,6 triệu ha, chiếm 65% diện tích
toàn vùng Trong đó có khoảng Ì triệu ha đất tốt nhất, phân bổ ven sông và
giữa sông Tiển, sông Hậu Đây là loại đất chủ yếu để sản xuất lúa ngô
Trang 27+ Nhóm đất phù sa nhiều phèn, hàng năm thường bị ngập úng vì trũng, phân bổ ở đồng bằng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên và Tây Hậu Giang + Nhóm đất phù sa nhiễm mặn, chủ yếu ở ven biển từ Gò Công qua Bến
Tre, Vĩnh Long, Minh Hải đến Kiên Giang
Diện tích hai nhóm đất phèn và mặn thay đổi theo mùa: về mùa khô, 2
nhóm này có khoảng 2,5 triệu ha, nhưng về mùa mưa, diện tích này chỉ còn khoảng 1,5 triệu ha Nếu cải tạo tốt, có thể sử dụng hai nhóm đất này vào trồng cây lương thực hoặc trồng dứa, mía bằng cách vượt tiếp (ầm luống) Phát huy tiểm năng đất dai của vùng, có thể đưa diện tích đất nông nghiệp lên 3,4 triệu ha Hiện nay, đất trồng lúa đã có 2,8 triệu ha, là diện tích
lớn nhất trong cả nước Ngoài ra nó còn thích hợp với các cây ngô, khoai lang, mía, đậu tương, lạc, đay, chuối, dứa Vùng đát mặn dùng để trồng cói
và trồng rừng ngập mặn (chàm, đước)
Khí hậu của vùng mang tính chất nhiệt đới ấm cận xích đạo, nhiệt độ cao Có 2 mùa: mùa khô và mùa mưa, có ít bão Các yếu tố khí hậu rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp nhiệt đới nhất là cây lương thực Có thể phát
triển 3 vụ lúa trong năm: Vụ đông xuân, vụ hè thu, vụ mùa
Nguồn nước ngọt Tổng lượng mưa của hệ thống sông Cửu Long là 500
tỷ mỶ, trong đó, sông Tiền chiếm 79%, sông Hậu 21% Nước được phân bổ không đều thco mùa: mùa mưa nước lớn, mùa khô nước giảm hẳn Nước
- được sử dụng để tưới tiêu, để phát triển giao thông đường thủy và cho chăn
nuồi thủy sản nước ngọt Ngoài nước ngọt, còn có nước lợ, được sử dụng để nuôi thủy sản, đặc biệt tôm càng xanh
Biển Vùng Đồng bằng sông Cửu Long có 700km bờ biển với nhiều cửa
sông, vịnh lớn nhất là Rạch Giá, chứa đựng nguồn hải sản thuộc loại nhiều nhất trong cả nước Trữ lượng tôm chiếm 50% tôm cả nước, cá nổi 20%, cá đáy 36% Ngoài ra, còn có các hải sản quý như đổi mồi, mực măng, mực
ống, Trên biển có nhiều đảo như: Thổ Chu, Phú Quốc giầu tiềm năng kinh
tế Ven bờ, đáng chú ý nhất là rừng ngập mặn rộng trên 150 nghìn ha, chủ yếu là chàm và đước là những cây cho sản phẩm quý như ta nanh, gỗ, củi,
Trang 28Trong rừng có nhiều vườn chim như vườn Ngọc Hiển, Cái Nước, Vĩnh Lợi, U
Minh, Hồng Dân, Gia Rai, Ngoài ra, còn có khi, rắn, trăn, Rừng ngập mặn còn là địa bàn để tôm cá ven bờ phát triển và ngăn sóng, bồi đắp phù sa,
mở rộng đồng bằng
Khoáng sản của vùng ít hơn các vùng khác Đáng chú ý là đá vôi Hà Tiên để sản xuất xi máng; cát, đá ở vùng Bảy Núi dùng làm vật liệu xây
dựng; than bùn ở U Minh, Mộc Hoá dưới độ sâu trung bình 3m với trữ lượng
thăm đò khoảng 300 triệu tấn, trữ lượng dự báo khoảng 1.000 triệu tấn, chủ
yếu đùng để làm phân bón
4.1.2 Tài nguyên nhân văn
Đồng bằng sông Cửu Long được khai thác muộn hơn các vùng khác
Vào thế ký 17, người Việt chính phục và khai thác đồng bằng để trồng lúa, đánh bắt thủy sản cùng với người Khơ me, người Chăm
Số dân buổi đầu có khoảng 20 vạn người Đến năm 1936 có khoảng
3,7 triệu người Hiện nay, có trên 15 triệu người Mật độ dân trung bình 415
người/km? (2001) Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên và cơ học đều cao (2,3%) Đực biệt trong 18 năm gần đây (1976-1991), số đân tăng trên 5,2 triệu người
Đó là tiểm năng lao động lớn để khai thác lãnh thổ Tuy vậy, phân bổ dân cư tập trung quá nhiều ở phía Đông (Tiền Giang: 708 người/km?, Vĩnh Long
714 người/km?); trong lúc đó ở phía Tây đồng bằng dân cư thưa hơn
Thành phần dân tộc của cư dân đồng bằng chủ yếu là người Việt, dân tộc Ít người chủ yếu là người Khơ me, có khoảng [ triệu người ở các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, và người Chăm ở Châu Đốc (An Giang) Tập quán và truyền thống sản xuất chủ yếu là gieo trồng lúa nước và đánh bất, chăn nuôi thủy sản Bản chất người lao động vùng đồng bằng sông Cửu Long là cần cù, thẳng thắn, thật thà, năng động, nhạy bén với sản xuất hàng hoá
Tài nguyên du lịch đáng kể là các cảnh quan tự nhiên như vườn chim,
rừng ngập mặn và các cảnh quan văn hoá như hệ thống quần cư đồng bằng ven biển, đảo, kiến trúc chùa chiến và một số di tích cách mạng, cơ sở sản
ˆ xuất, So với vùng Đông Nam bộ, mật độ di tích ở đây thấp hơn
Trang 294.1.3 Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng trọng điểm sản xuất lương thực hàng hoá chủ yếu ở nước ta Đến năm 2001 diện tích cây lương thực đã có
3.803,8 nghìn ha, chiếm trên 50% cây lương thực cả nước Sản lượng lương
thực có hạt là 16 triệu tấn, chiếm trên 50% sản lượng lương thực cả nước Trong đó, sản lượng lúa chiếm 60% (15,97 triệu tấn) Bình quân lương thực theo đầu người 972,4 kg/người Riêng lúa 850% kg/người
Khác với các vùng khác, người nông dân đồng bằng sông Cửu Long
rất năng động sản xuất nông nghiệp hàng hoá, biết tận dụng các yếu tố địa
sinh thái để tổ chức sản xuất với các hình thức đa dạng như lúa nổi, lúa sạ,
- lúa cấy 1 lần, lúa cấy 2 lần, trồng dứa, trồng mía thích hợp với đất phèn, vượt
liếp chế biến dường và đồ hộp Vì vậy, từ chỗ sản xuất I vụ, chủ yếu là vụ
mùa, nay đã tiến hành sản xuất 3 vụ
Hoa mầu được phát triển chủ yếu là ngô Năm 2001 có 22,8 nghìn ha ngô Cây ăn quả nhiều nhất là dứa, chuối, dừa cạn Cây công nghiệp nhiều
nhất là mía Ngoài ra còn có cói, đay, lạc
Chãn nuôi dược phát triển với mục đích là cung cấp thực phẩm hàng
hoá, chủ yếu là lợn, vịt và thủy sản Đến năm 2001, dan lợn có 2.912,1 nghìn
con Đàn vịt nuôi nhằm mục đích lấy trứng, lông và thịt xuất khẩu Nông dân
đã biết tận dụng nguồn thức ăn phong phú và điều kiện sinh thái thích hợp để nuôi vịt đàn, nuôi nhiều ở Cà Mau, Bạc Liêu, Cần Thơ, Sóc Trăng, Vĩnh
Long, Trà Vinh, Đàn trâu bò được phát triển chủ yếu là làm sức kéo và thực phẩm, đến năm 2000 đàn bò có 197.200 con, đàn trâu có 63.700 con Thuy va hai san được tiến hành nuôi trên quí mô lớn, với nhiều hình thức như
tôm nuôi trong các bãi triều ven biển, nuôi cá bè, cá lồng, cá trong ao, nuôi
tôm kết hợp với trồng l vụ lúa Có những giống cá chóng lớn như cá tra,
basa, bông lau, tôm càng xanh sản lượng thuy sản tính năm 2000 là 1,169
triệu tấn chiếm 51,9% so với cả nước, trong đó sản lượng thuỷ sản khai thác biển 0,803 triệu tấn chiếm 48,3% so với sản lượng thuỷ sản đánh bắt của cả
nước Trong vùng có nhiều cơ sở chế biến như Kiên Giang, Cà Mau, Phú
Quốc, Cần Thơ
Trang 30Công nghiệp của vùng chủ yếu là chế biến nông lâm thuy hải sản, trong đó lớn nhất là ngành xay xát gạo, chế biến thuỷ và hải sản
Kết cấu hạ tầng giao thông chủ yếu là đường thuỷ, giao thông đường
bộ có nhiêù hạn chế Trong vùng chỉ có những nhà máy nhiệt điện, hiện
chính phủ đang đầu tư xây dựng khu công công nghiệp Khí-Điện-Đạm qui
mô rất lớn ở Cà Mau Sản lượng điện không đủ cung cấp cho sản xuất và sinh
hoạt của dân cư trong vùng
4.2 Hướng tổ chức kinh tế-xã hội
Để phát huy tiém năng to lớn của vùng Đồng bằng sông Cửu Long,
cần định hướng không gian kinh tế-xã hội của vùng theo các mặt sau:
Mũi nhọn kinh tế của vùng là lương thực và thực phẩm, nên cần phấn
đấu mỗi năm đạt trên 50% sản lượng lương thực qui thóc của cả nước tương ứng từ 16-18 triệu tấn, trong đó chủ yếu là xuất khẩu và đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Giải pháp chủ yếu là thâm canh ở trình độ cao, cải tạo
các vùng trũng để tăng diện tích chuyển đổi một phần diện tích trồng lúa
kém hiệu quả qua trồng các lọai cây lương thực khác hoặc cây công nghiệp
ngắn ngày và nuôi trông thuỷ sản về thực phẩm chủ yếu phát triển thực
phẩm động vật, tăng đàn lợn lên ngang tầm với lương thực phấn đấu đạt từ 2-
3 con trên l ha gieo trồng Tăng cường việc đầu tư và khai thác nuôi trồng
- thuỷ hải sản nước ngọt, nước lợ và nước mặn Chú trọng phát triển tôm xuất
khẩu Phát triển đàn vịt, chú ý đến vịt thời vụ và giống vịt năng suất cao
Hình thành các vùng cây công nghiệp đặc biệt là mía, đay, cói, dừa xây dựng các vùng cây ãn quả qui mô lớn như dứa, cam, chuối, xoài để
tạo hàng hoá xuất khẩu
Duy trì và phát triển rừng ngập mặn, xây dựng rừng ngập mặn kết hợp
xây dựng các vành đai sinh thái bảo vệ môi trường
Công nghiệp của vùng sẽ chú ý đến phát triển công nghiệp chế biến nông, thuỷ, hải sản; phát triển cơ khí giao thông thuỷ, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền và tau sông-biển; xây dựng dường dây tải điện kết hợp với vùng Đông Nam bộ; nghiên cứu phát triển trạm điện nhỏ Ở cơ sở trên các nguồn năng lương tại chổ như gió, nang lượng mặt trời, trấu , than bùn
Trang 31Về giao thông đẩy mạnh phát triển vận tải biển Mở rộng hệ thống
_ kênh rạch, kết hợp với giao thông đường bộ liên xã, liên huyện, cũng cố và nâng cấp đương liên tỉnh và quốc lộ Xây dựng các cầu qua kênh, rạch với
kiến trúc hiện đại nhằm đảm bảo giao thông vận tải thuận lợi
Cũng cố và phát triển mạnh cơ sở hạ tầng xã hội, đặc biệt là trường
học, bệnh viện, các cơ sở thương mại-dịch vụ-du lịch sinh thái kết hợp với du
lịch vườn và xây dựng các công trình văn hoá
Phát triển kinh tế-xã hội của vùng phải gắn với việc bảo vệ môi trường
sinh thái Căn cứ vào điều kiện cụ thể của các tiểu vùng, có biện pháp cải tạo
đất trồng, địa hình, xây dựng thuỷ lợi, phát triển nông-ngư-công nghiệp Qui hoạch mở rộng rừng ngập mặn ven biển, nâng độ chc phủ của rừng lên thích đáng, đảm bảo cân bằng sinh thái của đồng bằng, thích ứng với các mục tiêu
phát triển kinh tế-xã hội của vùng
Xây dựng hệ thống công nghiệp chế biến theo trục giao thông lớn và
ven biển, có mối quan hệ với thành phố Hồ Chí Minh; xây dựng thành phố Cần Thơ thành trung tâm nhằm tạo ra sức hút mạnh mẽ đối với toàn vùng
IL HIỆN TRANG VỆ SINH MỖI TRƯỜNG VÀ SỨC KHOẺ CỘNG ĐỒNG VÙNG NÔNG THÔN CỦA 4 TỈNH ĐƯỢC CHON ĐẠI
DIỆN CHO 4 VÙNG NGHIÊN CỨU
1 HIỆN TRẠNG VỆ SINH MOI TRUONG VÀ SỨC KHOẺ CONG DONG NONG THON TINH QUANG NAM THUOC VUNG
DUYEN HAI NAM TRUNG BO
1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
1.1.1 Vị trí địa lý
Quảng Nam là tỉnh nằm ở trung lộ của cả nước thuộc vùng Duyên hải Nam Trung bộ, Cực Nam của tỉnh ở 15,02 và cưc bắc ở 16,03 độ vĩ Bắc Phía Bắc giáp với tỉnh Thừa Thiên-Huế và thành phố Đà Nắng, Phía Tây Giáp với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào và tỉnh Kom Tum, phía nam giáp với tỉnh Quảng Ngãi và phía đông giáp với biển Đông, ngoài đất liền Quảng
Nam còn có đảo Cù Lao Chàm, có bờ biển đài trên 125km, Chạy từ Nam
Trang 32vịnh Đà Nẵng đến vịnh Dung Quất Phía Bắc có thị xã Hội An, phía nam có vũng Án Hoà tiếp liền với khu lọc dầu Dung Quất Diện tích tự nhiên toàn
tỉnh là 10406,83 km2, có 14 đơn vị hành chính cấp huyện (hiện nay là 16),
gồm 2 thị xã (Tam Kỳ, Hội An) và 12 huyện
1.1.2 Đặc điểm địa hình, địa chất, thủy văn
Địa hình tỉnh Quảng Nam, phần lớn diện tích là đồi núi Một ít đổi thấp cùng dải đồng bằng hẹp chạy dài bờ biển Đồi núi có hướng Tây Bắc-Đông Nam và thấp dần từ Tây sang Đông Vùng đồng bằng nhỏ hẹp ven biển cũng
bị chia cất bởi nhiều ngọn núi bát úp, nghiều sông ngòi, trong đó đáng kể
nhất là hệ thống 3 sông chính: sông Vu Gia, sông Thu Bồn, sông Tam kỳ 1.1.3 Các yếu tố khí hậu
Khí hậu Quảng Nam có tính chất nhiệt đới gió mùa Tổng nhiệt độ năm
ở vùng có độ cao dưới 200m so với mặt nước biển là trên 9000°C, tại những
ving co do cao tir 800m đến 900m có nhiệt độ năm trên 7500°C Nhiệt độ trung bình năm trên 20°C ở hầu hết khắp địa bàn tỉnh
Các vùng đồng bằng ven biển của tỉnh có mùa mưa từ tháng 9 đến tháng
12, tổng lượng mưa trong 4 tháng này chiếm 70-75% tổng lượng mưa cả
năm Từ tháng 01 đến tháng 8 là mùa khô, tổng lượng mưa trung bình mỗi
Nhóm đất cồn cát và đất ven biển: Diện tích 33.674 ha, phân bổ các
huyện Điện Bàn, Hội An, Duy Xuyên, Tam Kỳ, Thăng Bình, Quế Sơn, Núi Thành
Trang 33Nhóm đất mặn: Diện tích 13.236 ha, phân bố các huyện Điện Bàn, Hội
An, Tam Kỳ, Duy Xuyên, Thăng Bình Có 3 loại đất mặn là: mặn sú vẹt-
Nhóm đất mòn sỏi đá: Diện tích 4.848 ha, phân bố ỏ Duy Xuyên, Điện
Bàn, Nam Giang, Hiên Tầng đất rất mỏng, chỉ vài cm, thành phần cơ giới
nhẹ, đá lẫn 80-90%
1,1.5, Dân số, lao động, phân bố dân cư
Năm 2002, dân số tỉnh Quảng Nam là 1.435.060 người trong đó dân
số vùng nông thôn là 1.211.285 người chiếm 84,8% so với tổng dân số Mật
độ dân số 137 người/kmỶ, trong đó vùng nông thôn là 118 ngudi/km? Lao
đông hoạt động trong lãnh vực Nông-Lâam-Ngư 520.030 người chiếm 74,4%
số lao động toàn tỉnh Phân bổ dân số trên 14 huyện thị Quảng Nam không
đồng đều, mật độ dân số nơi cao nhất là Thị xã Hội An lên đến
1.326người/km', trong khi đó ở Huyện Phước Sơn chỉ 17người/km°, chênh
lệch nhau gấp 78 lần
1.1.6 Đời sống dân cư
Trang 34Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRP) năm 2000 Quảng Nam: dạt | 113427
ˆ triệu đồng, GRP bình quân đầu người là 3 triệu đồng /năm
Tỷ lệ hộ đói nghèo có xu hướng giảm rõ rệt, tù 32.% năm 1999 xuống
còn 28.% năm 2000
1.1.7 Giáo dục, văn hoá, y tế
Tháng 01/1997 Tỉnh Quảng Nam được Bộ giáo dục và đào tạo công
nhận lả đơn vị đạt tiêu chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học Hiện
100% các xã, phường đều có mạng lưới trường THCS hoặc PTCS để các em
thiếu niên trong độ tuổi I1-18 vào học sau khi tốt nghiệp tiểu học
Các hoạt động văn hoá thông tin, báo chí, phát thanh - truyền hình, thể dục thể thao được tăng cường và phát triển
Cơ sở vật chất và mạng lưới y tế tiếp tục được nâng cấp và mở rộng đến cơ sở Hiện cả tỉnh có 2 bệnh viên cấp tỉnh, 13 bệnh viện quận, huyện với hệ thống , có 607 bác sỹ và 2.907 giường bệnh, hàng năm tiếp nhận 2.909.700 lượt bệnh nhân đến khám và điều trị
1.1.8 Sản xuất nông-lâm- ngư nghiệp
Quảng Nam là tính nông nghiệp Năm 2001 sản lượng lương thực có hạt đạt trên 366.100 tấn Bình quân lương thực một người dân đạt 400 kg/người Toàn tỉnh đã chuyển 100% diện tích sản xuất 3 vụ lúa sang 2 vụ/năm để tránh bạc mầu Diện tích các loại cây trồng khác như ngô, rau đậu, và cây công nghiệp, cây nguyên liệu công nghiệp đều tăng Cây dâu tăm
đã được khôi phục ở các địa phương ven sông Thu Bồn, với diện tích 508 ha
Tình hình chăn nuôi ổn định, có xu hướng phát triển, kiểm soát được
dịch bệnh Tổng đàn gia súc, gia cầm năm 2001 có 4.300.000 con, trong đó: trâu 52.668 con, bò 212.516 con, heo 474.116 con, gia cầm 3.800.000 con
Các chương trình giống cho miền núi, chương trình sind hoá đàn bò, chương trình nuôi bò sữa, nạc hoá đàn lợn được đẩy mạnh, và thử nghiệm nuôi vật
nuôi mới như: đà điểu, bò sữa
Trang 35Công tác quản lý bảo vệ, trồng, chăm sóc rừng có nhiều cố gắng Hiện
cả tỉnh còn 430.000 ha rừng, hàng năm trồng mới 25.000ha
Sản lượng hai sản khai thác hàng năm Quảng Nam đạt 37.050 tấn Diện
tích nuôi tôm phát triển mạnh, hiện có 1.925 hạ tôm, sản lượng thu hoạch là 2.350 tấn
1.1.9 Công nghiệp -TTCN
Sản xuất công nghiệp tăng trưởng khá, giá trị công nghiệp trên địa bàn đạt 1.262 tỷ đồng (gid CD 1994) Nhiều sản phẩm công nghiệp dạt chất lượng mong muốn nhờ đầu tư công nghệ, vốn và thiết bị, do đó tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu như: hải sản đông
lạnh, gạch Cemaric, gạch tuynen, hàng may mặc, giầu da,
Nhờ bổ sung kịp thời một số cơ chế chính sách thoáng mở hơn nên tốc
độ thu hút vốn đầu tư vào các cụm công nghiệp của tỉnh có tốc độ tăng khá nhanh, nhiều doanh nghiệp từ Đà Nắng cũng đã chuyển vào làm ăn Đặc biệt khu kinh tế mở Chu Lai sẽ tạo đà mới cho công nghiệp và kính tế Quảng
Nam đổi sắc trong tương lai
1.1.10 Thuong mai, du lich va dịch vụ
Thương mại, dịch vụ đáp ứng được yêu cầu kinh doanh, đảm bảo được nhu cầu phục vụ các vùng dân cư miền núi, phục vụ kịp thời các hàng hoá thiết yếu cho dân
Du lịch phát triển, Quảng Nam là I tính có 2 di sản văn hoá thế giới được UNESCO công nhận (Hội An, Mỹ Sơn) đã mở ra hướng đi mới trong hoạt động du lịch của tỉnh
1.2.2 Danh gia hiện trạng tài nguyên
Hiện tượng đất bị rửa trôi, xói mòn ở Quảng nam đang diễn ra mạnh Đất bị rửa trôi, xói mòn chủ yếu xẩy ra ở các vùng đất đốc và dọc bờ các con sông Nguyên nhân chính gây nên hiện tượng này là do lũ lụt Dưới tác động của lũ lụt các vùng rừng bị chặt phá bừa bãi chưa kịp phục hồi kịp, các vùng
Trang 36đất canh tác đồi dốc chưa hợp lý bị trôi rửa mạnh Chỉ tính riêng diện tích đất sông suối năm 2000 đã tăng lên 4.569 ha so với năm 1995 mà chủ yếu do
hiện tượng xói mòn gây ra
Một trình trạng phổ biến là khai thác nước ngầm tràn lan, tự phát, chưa được qui hoạch quản lý, điều này gây nên nguy cơ cạn kiệt và ô nhiễm tầng nước ngầm và càng nghiêm trọng hơn khi nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng Các nguồn nước ngầm phục vụ sinh hoạt cho nhân dân hầu hết không được giám sát
Quảng Nam là một tính có tài nguyên sinh học rất phong phú với các chủng loại quí hiếm như trầm, gụ mật, lim xanh, kiền kiền, dầu rái, Sâm
Ngọc Linh và các loài động vật hoang đã như Vọoc Chà Vá, Sao La, voli, Báo
hoa mai, Hồ, Khi mat đỏ nhưng do rừng bị mất nhiều đã ảnh hưởng đến số
lượng của các động vật hoang đã này
Trong phạm vi vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Nam, rạn san hô phát triển
tại hai khu vực: khu vực quần đảo Cù lao chàm (Hội An) và khu vực mũi An
Hoà (Núi Thành) Theo kết quả nghiên cứu của WWF (năm 19940 đã tìm
thấy 135 loài san hô thuộc 35 giống trong đó có 6 loài đầu tiên ghi nhận ở vùng biển Việt nam So sánh kết quả nghiên cứu trong đợt khảo sát tháng 6/2001 và số liệu khảo sát tháng 4/1994 cho thấy tất cả ở mặt cắt khảo sắt lặp lại giá trị độ che phủ của san hô đều gia tăng: san hô cứng tăng tư 1,2 đến
2 lần; san hô mềm gia tăng từ 1,39 lần trở lên
Sự chuyển đối các hệ thống canh tác Đầu tiên phải kể đến việc chuyển
đổi mô hình sản xuất lúa tư 3 vụ/năm sang 2 vụ/năm từ nhiều năm qua tồn
tại song song hai hệ thống canh tác trên chân ruộng có tưới chủ động 3 vụ
-_ lúa/näm (đông xuân — Xuân he — Vụ 3) và hai vụ lúa/năm (Đông xuân — Hè
thu) Từ năm 1995 diện tích lúa Xuân hè của tỉnh giảm dân tập trung ở các huyện phía bắc đến tháng 12/1999, UBND tỉnh đã cính thức có Chỉ thị
chuyển chân đất sẵn xuất 3 vụ/năm thành 2 vụ/năm Diện tích lúa xuân hè
giảm từ 21.000 ha năm 1993 xuống còn 1.009 ha năm 2001 Việc chuyển đổi tư lúa 3 vụ/năm sang 2 vu/năm đem lại nhiều kết quả cả về kinh tế lẫn môi trường
Trang 371.3 Những vấn đề bức xúc ở nông thôn Quảng Nam
1.3.1 Ảnh hưởng của việc khai thác vàng trái phép đến lâm sản
canh tác nông nghiệp
Ảnh hưởng của việc khai thác vàng trái phép đến lâm sản: Hầu hết các
tụ điểm khai thác vàng gốc đều nằm ở các sườn núi đỉnh núi cao ở các huyện miền núi và trung du nơi mà các rừng nguyên sinh còn đang được bảo tồn
- một cách nguyên vẹn Những người khai thác vàng, thiếc đã đào xới làm sat
lở những khu vực lớn của các sườn núi do đó việc phục hồi lại các khu rừng
nguyên sinh này rất khó khăn
Khai thác vàng ảnh hướng đến canh tác nông nghiệp: Phần lớn là do
khai thác vàng sa khoáng là những tụ điểm khai thác tại các thung lũng của các con sông suối như khu vực xã Ba xã Tư, Lãng, Ating huyện Hiên; Tiên
An, Tiên Lộc huyện Tiên Phước; Tam Phú, Tam Lãnh, thị xã Tam Kỳ, việc
khai thác vàng, thiếc sa khoáng đã làm phá hàng chục ngàn hecta đang trồng
cấy lúa, bắp, sắn, khoai dọc theo sông suối
Khai thác vàng trái phép ảnh hưởng đến nói trường sinh thái: Việc khai thác vàng sa khoáng trái phép đã làm ảnh hưởng đến các con sông suối trên địá bàn huyện trung du và miền núi và nguồn nước trên thượng nguồn cũng như các tài nguyên sinh vật ở các lưu vực này Ngoài ra còn gdp phan gia tăng lũ lụt trong mua mưa, bão
1.3.2 Hoạt động các làng nghề
Trên địa bàn toàn tỉnh có 52 làng nghề, trong đó có: 16 làng nghề hợp
vệ sinh, chiếm tỷ lệ 31% tổng số làng nghề; 36 làng nghề không hợp vệ sinh
chiếm 69% tổng số làng nghề đáng chú ý, Quảng Nam có hàng trăm lò
gạch thủ công nằm rải rác trên khắp địa bàn tính nhưng tập trung nhất là thôn
5 và thôn 6 xã Cẩm Hà, thị xã Hội An Những năm gần đây, do phát triển
kinh tế, mật độ dân cư tập trung đông đúc ở những nơi khả năng thu hút được lao động và vì thế ở những làng gạch này cũng là một trong những nơi có
mật độ dân số cao Đi đôi với tăng dân số thì nạn ô nhiễm không khí do bụi,
khí thải lò gạch cũng tăng phần đáng kể tại những vùng này
Trang 381.3.3 Nguồn ô nhiễm do sinh hoạt
a Chất thải từ bệnh viện
- Rác thải từ bệnh viện: với hơn 1.600 giường bệnh của 16 đơn vị Y tế cấp huyện trở lên đóng trên địa bàn tỉnh Phần rác thái y tế được quy hoạch một khu vực chôn lấp riêng tại bãi rác Tam Đàn Lượng rác còn lại do các
Trung tâm Y tế tự xử lý bằng phương pháp thủ công bằng cách đốt và chôn
lấp
- Nước thải các bệnh viện: hiện tại tỉnh Quảng nam có l6 cơ sở y tế cấp
huyện trở lên, có tổng số giường bệnh la 1.535 giường, với tổng lượng nước
thải 930m /tháng (24,65m/ngày) tuy số lượng không nhiều nhưng chứa nhiều chất hữu cơ, mầm bệnh được thải trực tiếp ra môi trường ngoài, chưa
có cơ sở nào có hệ thống xử lý
b Rác thải sinh hoạt ở các thị trấn, thị tứ
Hằng ngày, trên địa ban tỉnh Quảng Nam có trên 650 tấn rác thải trong
đó có khoảng 350 tán rác thải sinh hoạt ở các đô thị và ven đô với thành phần rác phức tạp trong đó chất hữu cơ có nguồn gốc động vật thực vật xà bần
gạch đá chiếm tỷ trọng lớn Nhưng hiện nay chỉ có khoảng 160 tấn rác sinh _ hoạt đô thị được thu gom xử lý
1.3.4 Các hoạt động du lịch dịch vụ
Sự gia tăng quá nhanh lượng khách du lịch tư 69.607 khách năm 1997 đến 164.838 khách năm 2001 tập trung chủ yếu ở Hội An (chiếm tỷ lệ từ
83%-91%) gây áp lực cho môi trường, nhất là công tác cung cấp nước sạch,
quản lý chất thải rắn chưa kể đến sự gia tăng dân số cơ học của lực lượng
lao động Đối với việc khai thác các tài nguyên du lịch thiên nhiên như Cù
Lao Chàm (Hội An) hồ Phú Ninh (Tam Kỳ) hay bãi tắm dọc theo 125km bờ biển của tỉnh cũng cần được quan tâm Hầu hết các bãi tắm ở Quảng Nam chưa có đơn vị quản lý do vậy công tác bảo vệ môi trường gần như được thả
lỏng rác thải sinh hoạt xả bừa bãi ngay tại các bãi tắm
1.3.5 Môi trường xã hội, nhân văn ở nông thôn
a Tác động của quá trình gia tăng dân số
Trang 39
Sự bùng nổ và gia tăng dân số là yếu tố ảnh hưởng đến môi trường, cần phải có đất để ở sinh sống và canh tác do đó nạn phá rừng làm rẫy hoặc do tác nhân con người sinh hoạt hằng ngày về nước thải, chăn nuôi gia súc cũng ảnh hưởng đến môi trường sống của chúng ta
b Các tranh chấp về tài nguyên và môi trường nông thôn
Đi đôi với việc phát triển kính tế, con người cần phải khai thác tài nguyên khoáng sản để phục vụ cho cuộc sống Tuy nhiên việc khai thác bừa bãi, chạy theo lợi nhuận đã gây tác hại không tốt, gây ô nhiễm môi trường như: khai thác các mỏ đá, các công công trình xây dựng lớn gần nơi đân cư sinh sống gây nên tiếng ồn, bụi bặm, gây ô nhiễm nặng, sự khai thác cát sạn trái phép trên dòng sông Thu Bồn và Vu Gia đã gây nên sự chuyển dòng của hai con sông lớn này dẫn đến mất trạng thái cân bằng của thiên nhiên làm nguồn nước tưới tiêu và sinh hoạt bị trở ngại và tốn kém
c Tác động phong tục tập quán sản xuất và đời sống
Do tập quán của nhân dân canh tác nông nghiệp còn theo thói quen,
chưa áp dụng đúng khoa học kỹ thuật; nạn di canh đi cư vẫn còn tổn tại; việc chặt cây phát rẫy hoặc việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu chưa đúng quy
trình kỹ thuật đã làm cho đất thoái hoá,
1.4 Tình hình sức khoẻ cộng đồng khu vực nông thôn Quảng Nam
Bảng 12: Giường bệnh và cán bộ y tế khu vực nông thôn
Trang 40bình quân tính trên dân số như : số người dân/] giường bệnh chỉ giảm hàng năm là 0.2%, số dân/1 bác sĩ giảm 0,2% và số dân/cơ sở y tế chỉ tăng 0,7%, Những số liệu trên cho thấy việc phát triển cơ sở, phương tiện và cán bộ y tế
trong những năm vừa qua ở khu vực nông thôn Quảng Nam được cải thiện
không đáng kể
Bảng 13: Khám và chữa bệnh ở khu vực nông thôn
|” 1996 2000 =| % tang BQ
nam
1 Số lượt người được khám bệnh (lượt người) 1.250.000] 1.354.000 , 197
' |2 Số lượt người được điều trị nội trú 49.200 51.600 1.19
3 Số lượt người được khám/l người dân 1.09 1.15 1.14
4 Số lượt người được điều trị nội trú/[000 dân 43.0 43.6 0.37
5 % số phụ nữ mang thai sinh đẻ có cán bộ y 56 59 1.32
tế chăm sóc
Vấn đề khám và chữa bệnh cho người dân ở vùng nông thôn tăng đáng
kể từ năm 1996-2000 Số liệu ở bảng 13 cho thấy năm 2000 số lượt người
được khám bệnh ở mức 1,354 triệu lượt người tăng 8,14% so với năm 1996,
bình quân hàng năm tăng 1,97% Số người được điều trị nội trú tại các cơ sở
y tế tăng bình quân hàng năm 4,8% Tuy nhiên, các chỉ tiêu bình quân về khám và điều trị so với dân số tăng không cao, chỉ tiêu số lượt người được
khám bệnh/1 người dân chỉ tăng 1,14% và số lượt người được điều trị nội trú trên 1000 dân chỉ tăng 0,37%
Bảng 14: Vấn đề chăm sóc frẻ em nông thôn