1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU SỰ XUẤT HIỆN VÀ PHÂN BỐ VI TẢO, TẢO ĐỘC HẠI Ở ĐẦM LĂNG CÔ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

168 726 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu sự xuất hiện và phân bố vi tảo, tảo độc hại ở đầm Lăng Cô, tỉnh Thừa Thiên Huế
Tác giả TễN Thất Pháp, Lương Quang Đốc, Nguyễn Hải Phong, Vế Văn Dũng, Trương Thị Hiếu Thảo, Phan Thị Thúy Hằng
Trường học Trường Đại Học Khoa Học - Huế
Chuyên ngành Sinh học
Thể loại Báo cáo chuyên đề
Năm xuất bản 2006
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 168
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SLARMES --- BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU SỰ XUẤT HIỆN VÀ PHÂN BỐ VI TẢO, TẢO ĐỘC HẠI Ở ĐẦM LĂNG CÔ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Thuộc đề tài KC 09-19: “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây

Trang 1

(SLARMES) -

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ

NGHIÊN CỨU SỰ XUẤT HIỆN VÀ PHÂN BỐ VI

TẢO, TẢO ĐỘC HẠI Ở ĐẦM LĂNG CÔ, TỈNH

THỪA THIÊN HUẾ

Thuộc đề tài KC 09-19:

“Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi

trồng thủy sản tập trung ven biển, đề xuất một số giải pháp

phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”

Thực hiện: TÔN THẤT PHÁP

LƯƠNG QUANG ĐỐC NGUYỄN HẢI PHONG

Trang 2

II ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2

2.1 Đối tượng nghiên cứu 2

2.2 Thời gian nghiên cứu 2

2.3 Địa điểm nghiên cứu 2

2.4 Phương pháp thu và cố định mẫu 3

2.5 Phương pháp phân tích mẫu 3

2.5.1 Phân tích định tính 3

2.5.2 Phân tích định lượng 3

2.5.3 Xử lí số liệu 4

III ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 4

3.1 Vị trí địa lý và đặc điểm địa hình 4

3.2 Khí hậu 4

3.3 Nhiệt độ 4

3.4 Chế độ mưa 4

3.5 Độ ẩm 4

IV KẾT QUẢ 5

4.1 Thành phần loài 5

4.2 Danh lục thành phần loài vi tảo 5

4.3 Phân bố 14

4.3.1 Sự phân bố tảo phù du theo không gian 14

4.3.2 Sự phân bố của tảo phù du theo thời gian 15

4.4 Tảo phù du có khả năng gây hại ở đầm Lăng Cô 16

4.4.1 Mô tả một số loài tảo độc xuất hiện ở đầm Lăng Cô 17

4.4.2 Sự phân bố của các loài tảo phù du độc hại 20

4.4.3 Mật độ tảo độc hại 21

4.4.3.1 Mật độ tảo độc hại theo không gian 21

4.4.3.2 Mật độ các vi tảo độc hại theo thời gian 22

V KẾT LUẬN 25

TÀI LIỆU THAM KHẢO 26

PHỤ LỤC 28

Trang 3

thành phố Huế 70km về phía Nam Đầm có vai trò quan trọng về đa dạng sinh học, kinh tế và xã hội đối với người dân ở đây cũng như tỉnh Thừa Thiên Huế, là nơi khai thác và nuôi trồng thuỷ sản với sản lượng cao, đồng thời cũng là nơi thu hút nhiều khách tham quan du lịch

Trong vài năm trở lại đây, hải sản chiếm một vị trí quan trọng đứng vào hàng thứ ba trong các mặt hàng xuất khẩu ở Việt Nam Các mặt hàng thuỷ sản nói chung và nhóm hai mảnh vỏ nói riêng cũng đã xuất khẩu một lượng lớn sang thị trường các nước Châu Á như Thái Lan, Nhật Bản, Singapore và cả Châu Âu Để bảo đảm chất lượng sản phẩm và an toàn cho người tiêu dùng, hoạt động giám sát môi trường vùng nguyên liệu và nghiên cứu độc tố tích luỹ trên động vật thân mềm hai mảnh vỏ đã và đang được thực hiện [7]

Thực vật phù du từ lâu đã được biết tới là nguồn thức ăn chủ yếu của các loài

ăn lọc, động vật phù du, cũng như một số các ấu trùng của tôm, cua, ghẹ vì vậy mà chúng đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống của các sinh vật ở môi trường nước Nghiên cứu thành phần và phân bố vi tảo ở vùng đầm phá Tỉnh Thừa Thiên Huế cũng như đầm Lăng Cô đã được tiến hành từ nhiều năm nay với nhiều công trình đã được công bố Nghiên cứu đầu tiên của Nguyễn Thị Ngân (1982) công

bố 20 taxon bậc loài và dưới loài tảo Silic, 35 taxon bậc loài và dưới loài tảo Giáp phù

du Năm 1997, Lương Quang Đốc đã đưa ra danh mục gồm 136 loài và dưới loài tảo

phù du, trong đó loài tảo độc Pseudonitzschia delicatissima có mật độ 430.000 tb/l

(9/1996) Tôn Thất Pháp, Lương Quang Đốc và Đường Văn Hiếu (2000) công bố chi tảo Giáp Alexandrium ở đầm phá và vùng biển ven bờ tỉnh Thừa Thiên Huế, có 3 loài

có khả năng sản sinh độc tố PSP: Alexandrium affine, Alexandrium tamarense,

Alexandrium tamyjavanichii Chương trình “Nghiên cứu phát triển bền vững đầm phá

Thừa Thiên Huế” (1998-2003) do vùng Nord Pas de Calais, cộng hoà Pháp tài trợ đã đưa ra kết quả về mật độ vi tảo ở Đầm Lăng Cô trong đó mật độ tảo Alexandrium thời điểm cao nhất đạt 650 tb/l (tháng 5/2003) Năm 2004, Võ Văn Dũng đã phát hiện loài

độc hại Protoperidinium crassipes với mật độ 129-375tb/l, Trương Thị Hiếu Thảo

phát hiện mật độ của nhóm tảo Alexandrium đạt từ 350 -1.356 tb/l [2, 3, 6, 8]

Bên cạnh các mặt lợi, các vi tảo còn có khả năng gây nở hoa nước khi gặp môi trường thuận lợi, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường cũng như đời sống của các loài sinh vật khác Một số loài tảo thuộc các chi như Alexandrium, Prorocentrum,

Dinophysis, Pseudonitzschia (như Pseudo-nitzschia spp., Protoperidinium crassipes,

Alexandrium tamarense, Alexandrium minutum ) có thể sản sinh các loại độc tố

thuộc các nhóm như PSP, ASP, DSP , các loại độc tố này thường được tích luỹ trong các loại thuỷ sản đặc biệt là nhóm hai mảnh vỏ và thông qua đó có thể gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người [21]

Do đó nghiên cứu về thành phần, phân bố cũng như biến động của các loài tảo độc, tảo gây hại sẽ mang lại ý nghĩa lớn, làm cơ sở cho sự khai thác và phát triển bền vững nguồn thuỷ sản trong vùng

Trang 4

2.2 Thời gian nghiên cứu

Năm 2004-2005, có 12 đợt thu mẫu

2.3 Địa điểm nghiên cứu

Đầm Lăng Cô, tỉnh Thừa Thiên Huế

Tiến hành thu mẫu tại 5 trạm, được ký hiệu là HCL1, HCL2, HCL3, HCL4, HCL5 Trong đó các trạm HCL1, HCL2, HCL3 và HCL5 ở trong đầm, còn HCL4 trong ao nuôi tôm (Bản đồ 2.1)

Trang 5

Bản đồ 2.1 Các trạm thu mẫu ở đầm Lăng Cô

2.4 Phương pháp thu và cố định mẫu

Thu mẫu định tính bằng lưới vớt phytoplankton với mắt lưới có đường kính 20µm Mẫu sau khi vớt được cố định bằng formol 4%

Mẫu định lượng được thu bằng ống đong 1lít tại mỗi trạm, được cố định bằng dung dịch lugol trung tính

2.5 Phương pháp phân tích mẫu

2.5.1 Phân tích định tính

Tách mẫu cần phân tích bằng pipet Pasteur Dùng kim mũi mác để phá vỡ tế bào, sau đó nhuộm bằng lugol hay calco-flour và quan sát, chụp ảnh bằng kính hiển vi huỳnh quang

Sử dụng phương pháp so sánh hình thái, và phương pháp công thức tấm vỏ của Kofoid (1909) cho nhóm tảo Giáp

Các tài liệu chính được dùng để định loại: Lebour M V (1925), Abé T H (1927,1936,1981), Hendey N.I (1964), Desikachary T.V (1988), Shirota A (1966),Trương Ngọc An (1993), Balech (1989,1995), Fukuyo (1990), Taylor (1995), Steidinger & Tangen (1997), Carmelo R Tomas (1997) [1, 9, 10, 11, 14, 15, 16, 17,

18, 23, 25, 26, 29, 31]

2.5.2 Phân tích định lượng

Mẫu được lắng và cô đặc sau 24h Dùng buồng đếm Sedgewick-Raffer có thể

tích 1ml để đếm số lượng tế bào tảo ở độ phóng đại ×200 lần của kính hiển vi đảo ngược Olympus CK40

Trang 6

3.1 Vị trí địa lý và đặc điểm địa hình

Đầm Lăng Cô có diện tích khoảng 1500ha, với tọa độ địa lý 16012,5'-16015' vĩ bắc, 10802'-10805' kinh đông, cách thành phố Huế 70km về phía nam và biệt lập với

các đầm phá khác trong hệ đầm phá Thừa Thiên Huế [4]

Đầm có dạng như một túi nước lớn ăn sâu vào đất liền, kéo dài từ chân đèo Phú Gia ở phía Bắc đến chân đèo Hải Vân ở phía Nam và thông với biển qua cửa Lăng Cô Phía Đông của đầm có quần cư dân sinh sống (thôn Lập An, Loan Lý, An

Cư Tân, Đông Dương và An Cư Đông) và phía Tây của đầm là dãy núi Bạch Mã, Hải Vân với quần cư dân sinh sống ít hơn gồm Hói Mít, Hói Dừa [4]

Địa hình và đất đai dọc theo bờ đầm có cấu trúc khác biệt, phía đông chủ yếu

là cát và cát bồi phù sa của biển với các bãi lầy do suối đổ xuống đầm đưa ra biển Phía Tây là các núi đá với các thảm thực vật, ngoài ra còn có các bãi phù sa hẹp

Độ sâu trung bình của đầm là 1,5-2m, có chất nền đáy chủ yếu là bùn hạt mịn, một vài nơi có dạng cát bùn Độ sâu của lạch cửa có thể đến 3,5 - 4m [5]

3.2 Khí hậu:

Thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, 2 mùa mưa nắng khá rõ rệt Mùa mưa chịu ảnh hưởng gió mùa Đông Bắc mưa và lạnh, mùa khô chịu ảnh hưởng gió mùa Tây Nam khô và nóng [4]

3.5 Độ ẩm:

Dao động trong khoảng 72-90%, trung bình cả năm là 83% [4]

Trang 7

tảo Silic Bacillariophyceae (142 loài và dưới loài chiếm 53%), tảo Giáp Dinophyceae (96 loài và dưới loài chiếm 36% ), tảo Lam Cyanophyceae (13 loài và dưới loài chiếm 5%), tảo Lục Chlorophyta (7 loài và dưới loài chiếm 3%), tảo Mắt Euglenophyta (4 loài chiếm 2%), tảo Vàng Chromophyta (2 loài chiếm 1%)

Biểu đồ 5.1 Tỷ lệ % số taxon bậc loài và dưới loài thuộc các nhóm tảo

Như vậy, thực vật phù du ở đầm Lăng Cô biểu hiện sự tập trung số lượng loài theo thứ tự giảm dần như sau:

Ngành Heterokontophyta (lớp Bacillariophyceae) > ngành Dinophyta (lớp Dinophyceae) > ngành Cyanophyta (lớp Cyanophyceae) > ngành Chlorophyta > ngành Euglenophyta > ngành Chromophyta

Số lượng taxon bậc loài và dưới loài cao nhất ở chi Protoperidinium (25 taxon), tiếp theo là chi Chaetoceros (22 taxon), chi Ceratium (14 taxon), chi Rhizosolenia (14 taxon), các chi còn lại có số lượng taxon bậc loài và dưới loài từ 10 trở xuống

4.2 Danh lục thành phần loài vi tảo

Trang 8

6 Oscillatoria pseudogeminata var unigranulata

Chi Lauderia Cleve 1873

1 Lauderia anulata Cleve

Chi Planktoniella Schutt

8 Planktoniella sol (Wallich) Schutt

9 Planktoniella blanda (A Schmidt) Syvertsen & Hasle

Chi Stephanopyxis Ehrenberg 1845

13 Stephanopyxis palmeriana (Greville) Grunow

14 Stephanopyxis turris

Chi Paralia Heiberg 1863

15 Paralia sulcata (Ehrenberg) Cleve

Họ Leptocylindraceae

Chi Leptocylindrus Cleve 1889

16 Leptocylindrus danicus

Trang 9

27 Rhizosolenia alata f gracillima

28 Rhizosolenia alata f indica

38 Rhizosolenia styliformis var latissima

39 Rhizosolenia styliformis var longispina

Chi Guinardia H Peragallo

40 Guinardia cylindrus (Cleve) Hasle

41 Guinardia flaccida ( Castracane) H Peragallo

42 Guinardia striata (Stolterfoth) Hasle

Chi Dactyliosolen Castracane 1886

43 Dactylisolen blavyanus (H.Peragallo) Hasle

44 Dactysolenia flaccida

45 Dactysolenia phuketensis (Sundstrom) Hasle

46 Dactysolenia sp

Họ Hemiaulaceae Jousé, Kisselev & Poretsky 1949

Chi Hemiaulus Heiberg

47 Hemiaulus haukii

48 Hemiaulus indicus

49 Hemiaulus membranaceus

50 Hemiaulus sinensis

Chi Climacodium Grunow

51 Climacodium biconcavum Cleve

52 Climacodium frauenfeldiceum Grunow

Chi Eucampia Ehrenberg

53 Eucampia cornuta (Cleve) Grunow

54 Eucampia zodiacus Ehrenberg

Trang 10

58 Bacteriastrum elongatum Cleve

59 Bacteriastrum furcatum Shadbolt

60 Bacteriastrum hyalinum Lauder

61 Bacteriastrum varians

Chi Chaetoceros Ehrenberg

62 Chaetoceros abnormis

63 Chaetoceros aequatorialis Cleve

64 Chaetoceros affinis Lauder

65 Chaetoceros affinis var circinalis

71 Chaetoceros didymus Ehrenberg

72 Chaetoceros didymus var protectus

79 Chaetoceros peruvianus Brightwell

80 Chaetoceros peruvianus f robusta

81 Chaetoceros pseudocurvisetus

82 Chaetoceros robusta

83 Chaetoceros subtilis Cleve

84 Chaetoceros tortissimum Gran

Họ Lithodesmiaceae H & M Peragallo

Chi Ditylum

85 Ditylum brightwellii

Họ Eupodiscaceae Kutzing 1849

Chi Odontella

86 Odontella aurita (Lyngbye) C A Agardh

87 Odontella mobiliensis (Bailey) Grunow

Trang 11

Họ Thalassionemataceae Round 1990

Chi Thalassionema

95 Thalassionema frauenfeldii (Grunow) Hallegraeff

96 Thalassionema nitzschoides (Grunow) Mereschkowsky

Chi Bacillaria J.F Gmelin 1791

121 Bacillaria paxillifera (O.F Muller) Hendey

Chi Cylindrotheca Rabenhorst 1859

122 Cylindrotheca closterium (Ehrenberg) Lewin & Reimann

Trang 12

Chi Dinophysis Ehrenberg 1883

8 Dinophysis acuta Ehrenberg 1839 *

9 Dinophysis caudata Saville-Kent 1881 *

10 Dinophysis miles

11 Dinophysis norvegica Claparède & Lachmann *

12 Dinophysis rotundata *

Trang 13

15 Phalacroma rotundata Kofoid & Michener 1911

Họ Gymnodiniaceae Lankester 1885

Chi Gymnodinium Stein 1878

16 Gymnodinium sanguineum Hirasaka 1922

Chi Balechina Loeblich Jr & Loeblich III 1968

20 Balechina coerulea F J R Taylor 1976

Bộ Brachydiniales Loeblich III ex Sournia 1984

Họ Brachydiniaceae Sournia 1972

Chi Brachydinium F J R Taylor 1963

21 Brachydinium capitatum F J R Taylor 1963

24 Ceratium furca (Ehrenberg) Claparède & Lachmann 1859

25 Ceratium furca var eugrammum

26 Ceratium fusus var fusus

27 Ceratium fusus var seta

28 Ceratium horridum (Cleve) Gran 1902

29 Ceratium inflatum (Kofoid) Jorgensen 1911

30 Ceratium lineatum (Ehrenberg) Cleve 1899

31 Ceratium massiliens (Gourret) Jorgensen 1911

32 Ceratium pentagonum Gourret 1883

33 Ceratium strictum

34 Ceratium trichoceros (Ehrenberg) Kofoid 1908

35 Ceratium tripos Nitzsch 1817

40 Alexandrium fraterculus Balech 1985 *

41 Alexandrium minutum Halim 1960 *

42 Alexandrium pseudogonyaulax Horiguchi ex Kita & Fukuyo 1992

43 Alexandrium spp **

Chi Goniodoma Stein 1883

44 Goniodoma polyedricum Jorgensen 1899

Trang 14

48 Gonyaulax polygramma Stein 1883 **

49 Gonyaulax scrippsae Kofoid 1911

50 Gonyaulax spinifera Diesing 1866

51 Gonyaulax verior Sournia 1973

Chi Lingulodinium

52 Lingulodinium polyedrum (Stein) Dodge 1989

Họ Pyrophacaceae Lindemann 1928

Chi Fragilidium

53 Fragilidium mexicanum Balech 1988

Chi Pyrophacus Stein 1883

54 Pyrophacus horologium Stein 1883

55 Pyrophacus steinii Wall & Dale 1971

Chi Peridinium Ehrenberg 1832

65 Peridinium inconspicuum Lemmermann

66 Peridinium quinquecorne Abé

Chi Podolampas Stein 1883

70 Podolampas palmipes Stein 1883

Họ Protoperidiniaceae F.J.Taylor 1987

Chi Protoperidinium Bergh 1881

71 Protoperidinium conicum (Gran) Balech

Trang 15

76 Protoperidinium globifera Abé, 1981

77 Protoperidinium granii

78 Protoperidinium minutum (Kofoid) Loeblich

79 Protoperidinium monovelum Abé

80 Protoperidinium multistriatum (Kofoid)

81 Protoperidinium multueis (sp)

82 Protoperidinium oblongum

83 Protoperidinium oceanicum (Van Hoffen) Balech

84 Protoperidinium ovum (Schiller) Balech

85 Protoperidinium pallidum (Ostefeld) Balech

86 Protoperidinium pellucidum Berg

87 Protoperidinium pentagonum (Gran) Balech

88 Protoperidinium quarnerense (Schroder) Balech

89 Protoperidinium roseum (Paulsen) Balech

90 Protoperidinium sp

91 Protoperidinium sphaericum Okamura

92 Protoperidinium spinulosum Schiller

93 Protoperidinium steinii (Jorgensen) Balech

94 Protoperidinium subinerme (Paulsen) Balech

95 Protoperidinium thulensen (Balech) Balech

96 Protoperidinium yonadei Abé 1981

4 Scenedesmus acuminatus var acuminatus

5 Scenedesmus acuminatus var maximus

Trang 16

Ghi chú: * là loài tảo độc, có khả năng tiết độc tố

** là loài có khả năng gây hại

Biểu đồ 4.2 Phân bố của tảo phù du theo không gian

Thành phần loài tảo phù du tập trung ở cửa Lăng Cô (HCL5) thường cao hơn so với các khu vực khác (trung bình có 50,3 loài), số loài xuất hiện trong các đợt thu mẫu tương đối đều nhau dao động từ 38- 59 loài, riêng đợt 1 số lượng loài vượt trội hơn hẳn đạt 75 loài

Tại các trạm khảo sát như phía Bắc của đầm (HCL1), phía Đông (HCL2), và phía Tây (HCL3) số loài phân bố tương đối đồng đều, dao động từ 16 - 54 loài trong

Sè loµi

Trạm

Trang 17

động từ 4 - 25 loài, riêng đợt 7 đạt 32 loài

Như vậy, số loài trung bình ở các trạm khảo sát giảm dần theo thứ tự: cửa Lăng

Cô HCL5 (53,3 loài) > phía Đông đầm HCL2 (32,6 loài) > phía Tây đầm HCL3 (28,9 loài) > phía Bắc đầm HCL1 (27,9 loài) > trong ao nuôi tôm HCL4 (14,6 loài)

Có thể thấy rằng tảo phù du xuất hiện ở đầm Lăng Cô chủ yếu có nguồn gốc từ biển, chúng tập trung đông tại vùng cửa biển nơi có độ mặn môi trường cao, và giảm xuống ở những nơi xa cửa biển ứng với nền độ mặn thấp hơn

4.3.2 Sự phân bố của tảo phù du theo thời gian

Biểu đồ 4.3 Phân bố của tảo phù du theo thời gian

Số lượng loài vi tảo xuất hiện ở đầm vào mùa khô (đợt 1-3, đợt 9-12) thường cao hơn vào mùa mưa, đỉnh cao rơi vào giữa mùa mưa ở đợt 1 (31/5/2004) và đợt 11 (29/5/2005) đạt 109 loài, đợt 12 (8/9/2005) đạt 102 loài Số loài vi tảo giảm xuống vào đầu và cuối mùa khô với 72 -76 loài (đợt 2,3,9), ổn định vào mùa mưa với 76 - 90 loài

Số loài xuất hiện tại các trạm trong các đợt khảo sát dao động từ 4 - 75 loài Trong đó, các đợt 5, 6, 7 có số loài tương đối đồng đều nhất, 31 - 54 loài (ngoại trừ HCL4 với 5-32 loài), đợt 1 có số loài tại các trạm dao động lớn nhất từ 22 - 75 (riêng HCL4 có 9 loài), các đợt còn lại số loài dao động từ 9 - 59 (riêng HCL4 có 4 - 25 loài) Như vậy số lượng loài vi tảo tại các trạm khảo sát tương đối đồng đều vào mùa mưa và có sự dao động lớn hơn vào mùa khô, đặc biệt là giữa các trạm trong đầm và

ao nuôi tôm

Tại khu vực ao nuôi tôm, số loài cao vào các đợt 6, 7, 8, 9, 10, 12 (15 - 32 loài), cao nhất vào mùa mưa (đợt 7, 8) với trên 20 loài, các đợt còn lại có 4 - 14 loài,

Trang 18

Tổng số vi tảo Tảo độc Tảo có hại

Biểu đồ 4.4 Tỷ lệ phần trăm cỏc nhúm tảo độc, hại

Trong số 264 taxon bậc loài và dưới loài đó xỏc định cú 12 loài cú khả năng tạo ra độc tố thuộc cỏc nhúm ASP, DSP, PSP, CFP, AZP và CTP (bảng 4.1) chiếm 4% tổng số loài và 9 loài cú khả năng gõy hại chiếm 3% tổng số loài (Biểu đồ 4.4).Số loài tảo độc ở đầm Lăng Cụ chủ yếu tập trung vào lớp Dinophyceae (10/12 loài chiếm 83,33%)

Bảng 4.1 Danh lục cỏc loài cú khả năng tạo ra độc tố

ASP: Amnesic shellfish poisoning

PSP: Paralytic shellfish poisoning

Trang 19

4.4.1 Mô tả một số loài tảo độc xuất hiện ở đầm Lăng Cô

1 Alexandrium fraterculus (Balech) Balech 1985 (Hình 1 a-g)

Tên đồng vật: Gessnerium fraterculum (Balech) Loeblich và Loeblich (1979),

Protogonyaulax fratercula (Balech) Taylor (1979)

Fukuyo 1990 p 90, figs A- F; Balech 1995 p 52, pl XII, figs 10- 26; Steidinger và Tangen1997 p 494, figs 37, Lam Nguyen- Ngoc, p 94- 95, pl 5, figs 1-5

Tảo thường sống thành tập đoàn dạng chuỗi nhiều tế bào Loài có kích thước

từ 38µm- 50µm Nắp trên có dạng hình nón, lồi ở phần đỉnh, hoặc dạng nửa bán cầu Nắp dưới thường tròn hơn, đôi lúc có dạng hình thang không đều, lõm sâu vào ở phần đối đỉnh APC rất đặc trưng, thường lớn, có dạng hình thoi Cấu trúc hình dấu phẩy

rõ, chiếm 2/3 kích thước của tấm, phía trên đầu, hơi chếch về phía bên phải của tấm

là một lỗ kết nối lớn Tấm 1’ có kích thước trung bình, dạng hình thoi hoặc nối trực tiếp với APC, hoặc gián tiếp do sự kéo dài của mép trên Lỗ nhỏ ở bên mép phải của tấm nằm vào khoảng giữa của tấm Tấm 6” có chiều rộng và chiều cao tương đương nhau Đai ngang có độ lệch đai khoảng bằng chiều rộng của chính nó Đai dọc lõm vào, rộng dần về phía cuối đai Tấm S.a có chiều dài tương đương hoặc lớn hơn chiều rộng Tấm S.p lớn, với chiều dài và chiều rộng xấp xỉ nhau, lỗ kết nối tròn, lớn, nằm

ở trung tâm của tấm và được nối với góc trên bên phải của tấm bằng một rãnh nhỏ, đôi khi nối với cả hai góc phải và trái của tấm

Gặp ở cửa đầm Lăng Cô HCL5

Hình 4.1 a- g: Alexandrium fraterculus, a: chuỗi 8 tế bào; chuổi 2 tế bào; c: cấu trúc

APC; d, e: 1’, 6”, S.a; f, g: tấm S.p.

Trang 20

22, ảnh 2a – d

Tế bào sống đơn độc, có dạng hình oval đến hình cầu Tế bào có kích thước từ 18- 30µm APC có cấu trúc hình dấu phẩy rõ, mép phía trên của cấu trúc này thường thẳng, xung quanh có thể có các lỗ nhỏ nằm ở gần mép bên trái Tấm 1’ có dạng hình thoi, nối trực tiếp với APC hoặc gián tiếp thông qua một sợi mảnh, sợi này được hình thành do sự kéo dài của góc trên Mép tiếp xúc với S.a có thể dày lên, lỗ nhỏ ở mép bên phải của tấm nằm ở vị trí khoảng 1/3 chiều dài của tấm Tấm 6” có chiều dài lớn gần gấp đôi chiều rộng Tấm S.a có chiều cao tương đương hoặc lớn hơn chiều rộng, mép phía trên nơi tiếp xúc với tấm 1’ thường thẳng Tấm S.p có chiều cao nhỏ hơn so với chiều rộng của tấm, mép phía trên có thể lượn sóng, mép phía dưới thường cong Nhìn chung tấm S.p của loài này giồng như hình chữ U rộng

Gặp ở phía Đông đầm Lăng Cô HCL2

Hình 4.2 a- d: Alexandrium minutum; a: hình thái ngoài tế bào; b: mặt bùng

của tế bào; c: Cấu trúc nắp trên; d: Nắp dưới

3 Protoperidinium crassipes (Kofoid) Balech (hình 39)

Tên đồng vật: Peridinium divergens Schutt, 1869; Peridinium crassipes f typica Broch, 1910; Peridinium crassipes f autumnalis Broch, 1910; Peridinium curtipes

Jorgensen, 1953

Stiedinger A K & Tangen K., 1997, p 583, pl 53

Tế bào có dạng hình 5 cạnh, rộng 70-150µm, cao 60-120µm Tế bào ép dẹt mạnh theo hướng trước sau, sừng đỉnh và sừng đối đỉnh ngắn, sừng phải rộng hơn sừng trái và trục đứng của tế bào không bị nghiêng so với trục thẳng đứng Có sựlấn đai và đai lệch xuống khoảng 1-1,5 lần so với chiều rộng của đai Công thức tấm: Po,

Trang 21

Hình 4.3 a-f Protoperidinium crassipes (Kofoid) Balech Tỷ lệ (Scale) 10µm

a Mặt bụng; c,d Tấm 1a và 2a; b Mặt bên ; e Các tấm vỏ nắp trên; c Tấm 1’; f Các tấm vỏ nắp dưới

4 Dinophysis caudata Saville-Kent 1881

Tên đồng vật: Dinophysis homunculus Paulsen 1908

M V Lebour 1925; A Shirota 1966; F J R Taylor

1976; C R Tomas 1997; Maria A Faust, Jacob Larsen vµ

Jvind Meostrup 1999; Y Fukuyo, H Takano, M Chihara, K

Matsuoka 1990; S Fujioka 1990; Hoµng Quèc Tr−¬ng 1963;

Nguyen Ngoc Lam 1997-1999; Nguyen Ngoc Lam 2002

Loài có kích thước trung bình, có mấu sau kéo dài thành

dạng ngón tay, các tế bào thường dính cặp ở mặt lưng Đường

mép lưng cong dần, trong khi đường mép bụng hầu như thẳng

dọc theo chiều dài chính của tế bào Chiều dài và hình dạng

mấu sau thay đổi Cánh dọc trái kéo dài gần bằng chiều dài

chính tế bào Bề mặt có vân lỗ

Loài xuất hiện ở hầu hết các trạm ở đầm Lăng Cô

5 Dinophysis rotundata Paulsen, 1908

Tên đồng vật: Phalacroma rotundatum (Clap & Lach.), 1889

M.V.Lebour 1925; C.R Tomas 1997

Tế bào có kích thước nhỏ đến trung

bình Ở mặt bên tế bào gần như tròn với mép

bụng và mép lưng lõm Cánh đai hẹp nhưng

thẳng hướng về phía trước, đôi khi toả tia

mạnh Cánh dọc trái khá hẹp, thường mở rộng

hơn ở phía sau với gai lớn dễ thấy Cánh dọc

trái kéo dài từ hơn 1/2 -3/4 chiều dài vỏ dưới

Hình 4.4 Dinophysis caudata

Hình 4.5 Dinophysis rotundata

Trang 22

Martin 1929

F J R Taylor 1976; Yasuwo Fukuyo, Hideaki

Takano, Mitsuo Chihara, Kazumi Matsuoka 1990;

Carmelo R Tomas 1997; Maria A Faust, Jacob

Larsen & Jvind Meostrup 1999

Mặt vỏ tế bào có hình oval nhỏ đến hình tam giác,

phẳng ở mặt bên Gai đỉnh ngắn đôi khi dễ nhìn

thấy Bề mặt vỏ tế bào có các gai ngắn có góc rộng, tuỳ theo góc nhìn có thể thấy như các nốt nhú tròn Các lỗ nhỏ nằm rãi rác trên bề mặt vỏ, các lỗ có kích thước lớn hơn nằm ở gốc của một số gai ngoại biên

HCL4

7 Prorocentrum mexicanum Tafall

Tên đồng vật: P maximum Schiller 1937, P

rhathymum Loeblich, Sherley & Schmidt 1979

Carmelo R Tomas 1997

Tế bào hình oval với bề ngoài mỏng mảnh

chứa tế bào chất vón lại và có màu sáng Lỗ roi phát

triển mạnh thành gai dạng cánh Lỗ túi lông tròn

đến oval lõm sâu được sắp xếp phóng xạ tạo thành

các đường lỗ chéo Những hàng lỗ toả tia này có

thể xuất hiện như các gai dưới kính hiển vi quang

học

8 Prorocentrum lima (Ehrenberg) Dodge 1975

Tên đồng vật: Exuviaella marina var lima (Ehrenberg) Schiller, Exuviaella lima (Ehrenberg) Butschli, Dinopyxis laevis Stein, Cryptomonas lima Ehrenberg

M V Lebour1925; F J R Taylor 1976; Carmelo

R Tomas 1997; Maria A Faust, Jacob Larsen vµ

Jvind Meostrup 1999; Nguyen Ngoc Lam

1997-1999; Nguyen Ngoc Lam 2002

ngược, phần dưới mở rộng, kích thước nhỏ đến

trung bình Hạt tạo bột nhận ở trung tâm tế bào và

nhân ở phần dưới của tế bào Vỏ mịn với ít lỗ lông

rải rác ở phần ngoại biên

Trang 23

Các loài khác phân bố hẹp hơn như Dinophysis rotundata, Dinophysis acuta,

Prorocentrum cordatum, Prorocentrum mexicanum, Alexandrium minutum xuất hiện

rãi rác ở các địa điểm nghiên cứu, Anabaena circinalis chỉ hiện diện ở phía Đông đầm Lăng Cô (HCL2), Prorocentrum lima chỉ xuất hiện trong ao nuôi tôm (HCL4), hay

Dinophysis norvegica xuất hiện tại cửa Lăng Cô (HCL5)

Tại khu vực ao nuôi tôm, các loài thuộc chi Prorocentrum hiện diện nhiều nhất

gồm 4 loài (P mexicanum, Prorocentrum lima, P micans, P cordatuum)

4.4.3 Mật độ tảo độc hại

4.4.3.1 Mật độ tảo độc hại theo không gian

Mật độ trung bình các nhóm tảo độc hại tại 4 trạm HCL1, HCL2, HCL3, HCL4 đạt trên 103 tb/l, cao nhất ở khu vực trong ao nuôi tôm (9.357,54 tb/l), 3 trạm phía Đông, phía Bắc và giữa đầm đều có mật độ trên 103 tb/l, riêng trạm HCL5 có mật

độ rất thấp chỉ xấp xỉ 50tb/l Nhóm Pseudo-nitzschia spp quyết định mật độ vi tảo

độc hại tại các điểm HCL1, HCL2, HCL3, tại điểm HCL4 quyết định bởi nhóm

Prorocentrum spp., tại điểm HCL5 mật độ các nhóm tảo độc hại đều thấp dưới

100tb/l riêng nhóm Pseudonitzschia spp đạt 169,58 tb/l (Hình 4.1) Như vậy mật độ tảo độc hại chiếm ưu thế ở đầm Lăng Cô chủ yếu do 2 nhóm Pseudo-nitzschia spp và

Prorocentrum spp., đặc biệt là nhóm Prorocentrum spp thường xuyên gây mật độ rất

cao tại khu vực ao nuôi tôm (55.147,85 tb/l)

Tại khu vực phía Đông đầm HCL2 có sự hiện diện của cả 6 nhóm tảo độc hại,

2 trạm phía Bắc đầm HCL1 và giữa đầm HCL3 có 5/6 nhóm tảo độc hại, cửa Lăng Cô HCL5 có 4/6 nhóm tảo độc hại, trong khi khu vực ao nuôi tôm HCL4 tuy đạt mật độ trung bình cao nhất nhưng chỉ có sự hiện diện của 3/6 nhóm tảo độc hại Trạm HCL4

là khu vực có môi trường ít biến động và cô lập nhất, ít chịu tác động của các yếu tố môi trường trong đầm nhưng lại chịu tác động của việc nuôi trồng thuỷ sản, chỉ 3

nhóm tảo độc hiện diện ở đây (gồm Alexandrium spp., Dinophysis spp.,

Prorocentrum spp.) nhưng lại gây mật độ cao

Hình 4.9 Nhóm tảo độc hại chiếm ưu thế về mật độ ở các trạm khảo sát

Trang 24

6807.3 9357.54

375 281.25

Nhóm Pseudo-nitzschia spp Nhóm Prorocentrum spp.

TB các nhóm Nhóm Alexandrium spp.

Protoperidinium crassipes Nhóm Dinophysis spp.

Nhóm Anabaena spp.

Biểu đồ 4.4 Mật độ trung bình các nhóm tảo độc hại (tb/l) tại các trạm khảo sát

Trong 6 nhóm tảo độc xuất hiện ở đầm Lăng Cô nhóm Anabaena spp chỉ duy

nhất xuất hiện tại điểm HCL2 vào đợt 3 (29/7/2004) với mật độ 3.375tb/l, các nhóm

Alexandrium spp và Prorocentrum spp đều hiện diện ở cả 5 trạm khảo sát Tảo

Alexandrium xuất hiện tại các trạm với mật độ thấp, trung bình dưới 1000tb/l riêng tại điểm HCL4 vào đợt 7 (6/12/2004) mật độ đạt cao nhất là 7.200tb/l Tảo Prorocentrum thường gây mật độ cao tại các trạm ngoài trừ ở HCL5 3 nhóm còn lại

Pseudo-nitzschia spp., Dinophysis spp., Protoperidinium crassipes xuất hiện rải rác ở

5 trạm khảo sát

Mật độ trung bình của các nhóm tảo độc tại các điểm khảo sát giảm theo thứ

tự sau: Nhóm Prorocentrum spp đạt 55.147,85tb/l tại HCL4 > nhóm

Pseudo-nitzschia spp đạt 6.807,3tb/l tại điểm HCL2 > Protoperidinium crasipes đạt 683,4tb/l

tại HCL1 > nhóm Alexandrium spp đạt 622,3tb/l tại HCL4 > nhóm Anabaena spp đạt 281,2tb/l tại HCL2 > nhóm Dinophysis spp đạt 375tb/l tại HCL4

4.4.3.2 Mật độ các vi tảo độc hại theo thời gian

Mật độ các loài vi tảo độc hại ở đầm Lăng Cô qua 12 đợt khảo sát không cao,

có 6/12 đợt khảo sát có mật độ thấp hơn 103 tb/l và 6/12 đợt có mật độ trên 103tb/l, đặc biệt vào đợt 7 (06/12/2004) tổng mật độ tảo độc hại ở các trạm khảo sát lên tới trên 105tb/l do các nhóm Pseudonitzschia spp., Alexandrium spp., Dinophysis spp và đặc biệt là nhóm Prorocentrum spp tăng đột biến với sự phát triển mạnh trên diện rộng của loài Prorocentrum minimum đạt 128.156,66tb/l Mật độ tảo độc biến động

mạnh vào mùa mưa từ 357,4tb/l (đợt 4) - 170.114,9tb/l (đợt 7) và ít biến động hơn vào mùa khô, đạt từ 228tb/l (đợt 10) - 9.540 tb/l (đợt 1) Mật độ cao vào giữa mùa khô (đợt 1) và mùa mưa (đợt 7), thấp nhất vào đầu mùa khô và mùa mưa (Biểu đồ 4.5)

Trạm

Trang 25

Biểu đồ 4.5 Mật độ các nhóm tảo độc hại trong các đợt khảo sát

Xét về thời gian thì trong 12 đợt khảo sát nhóm Prorocentrum spp có mật độ

thường xuyên cao, chiếm phần lớn tổng mật độ vi tảo độc hại tại các đợt Ở đợt 1, 2,

3, 7, 8, 9 và 11 nhóm quyết định mật độ là Prorocentrum spp (380 - 128.156,66 tb/l), các đợt 4, 6 và 10 nhóm quyết định mật độ là Pseudo-nitzschia spp (108 - 1.270 tb/l), đợt 5 nhóm Protoperidinum crassipes chiếm ưu thế (157tb/l), riêng đợt 12 mật độ các nhóm không chênh lệch lớn, chiếm ưu thế hơn là Alexandrium spp (355tb/l) Tảo

Alexandrium xuất hiện trong phần lớn các đợt khảo sát nhưng mật độ không cao 1.666,67tb/l) (Biểu đồ 4.6)

(30-Độc tố của tảo Alexandrium là một trong những độc tố được quan tâm hàng đầu trên thế giới, ở một số quốc gia đã sử dụng biện pháp như đóng cửa ngư trường hoặc khuyến cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng khi có sự nở hoa của tảo Alexandrium hoặc phát hiện ra mức độ độc tố tích luỹ trong thực phẩm hải sản vượt quá mức cho phép có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người, như ở Úc đã ra chỉ thị, nếu mật độ tế bào tảo Alexandrium catanella lớn hơn 4x104 tb/l sẽ đóng cửa ngư trường Hay ở đảo Balearic- Tây Ban Nha chính phủ đã ra lệnh đóng cửa ngư trường khi mật độ tế bào tảo Alexandrium chỉ đạt 103 tb/l [19,21] Tuy nhiên mật độ tảo Alexandrium ở đầm Lăng Cô cũng như đầm phá Thừa Thiên Huế không cao, so với nghiên cứu của Trương Thị Hiếu Thảo vào năm 2004 ( đạt 350 -1.356 tb/l) thì mật độ tảo Alexandrium tăng không đáng kể và cho đến nay vẫn chưa có dấu hiệu gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người

Trang 26

9471 4260

197.4

570

12701666.6666128156.66

00

465.85

00

Biểu đồ 4.6 Phần trăm mật độ của các nhóm tảo độc hại

Trang 27

2000 tảo gây hại xuất hiện nhiều nhất với 22 loài, năm 2004-2005 số loài gây hại tuy

có giảm nhẹ (21 loài) nhưng tảo có độc tố lại tăng lên 2 loài so với năm 2003 (10 loài) Tuy nhiên theo nghiên cứu của Đoàn Như Hải và cộng sự (2003) ở đầm Lăng

Cô có 17 loài có khả năng độc hại thuộc các chi Alexandrium (8 loài), Dinophysis (5 loài), Prorocentrum (3 loài) và tảo Pseudonitzschia spp., trong đó chỉ có tảo Pseudonitzschia gây mật độ cao ở khu vực phía Tây-Nam đầm đạt 8.160tb/l, 3 nhóm còn lại xuất hiện với mật độ thấp hoặc không bắt gặp trong mẫu định lượng Qua các đợt khảo sát của đề tài từ tháng 5/2004 - tháng 8/2005 cho thấy, thành phần tảo độc hại ở đầm có biến đổi so với trước, ngoài 4 nhóm tảo xuất hiện vào năm 2003 bắt

gặp thêm 2 nhóm khác là Anabaena circinalis và Protoperidinium crassipes, mật độ

tảo độc hại cũng có sự biến động lớn, nhóm chiếm ưu thế là Prorocentrum (380 - 128.156,66 tb/l) tiếp đến mới là Pseudonitzschia (108 - 1.270 tb/l) Bên cạnh đó nhóm Alexandrium cũng xuất hiện với mật độ tương đối chỉ sau 2 nhóm trên với 30-1.666,67tb/l

Biến động mật độ 3 nhóm chính Prorocentrum, Pseudonitzschia và Alexandrium:

Mật độ tảo Pseudonitzschia tập trung cao ở phía Bắc và Tây-Nam đầm đạt trên 4.103tb/l, trong khi vùng cửa đầm rất thấp và ao nuôi tôm thì không gặp trong mẫu định lượng Tảo Pseudonitzschia có biến động mật độ lớn giữa các đợt khảo sát, mật độ đỉnh cao rơi vào tháng 12/2004 (đợt 7) đạt 39.296 tb/l, các tháng mùa khô có

52.3714 3

8202.39 2

0 1000 2000 3000 4000 5000 6000 7000 8000 9000

Pseudo-nitzschia spp.(tb/l) 0

Pseudo-nitzschia spp.(tb/l)

0

5615 6807 4904

169 0

1000 2000 3000 4000 5000 6000 7000 8000

Biể đồ 1(a,b,c): Biế độ g mật độ ả

Pse d nitz chia

Trang 28

nghiên cứu mới đây của Đoàn Như Hải và cộng sự (2003), mật độ tảo Pseudonitzschia vào mùa mưa đạt trên 8.103tb/l ở khu vực phía Tây-Nam đầm, trong khi mùa khô lại có mật độ không đáng kể Như vậy phân bố mật độ tảo Pseudonitzschia cao vào mùa mưa và tập trung ở khu vực phía Bắc, Tây-Nam đầm, phân bố này có chiều hướng ổn định trong các năm gần đây

Mật độ tảo Alexandrium ở đầm Lăng Cô qua 12 đợt khảo sát không cao, thường thấp hơn 103tb/l, riêng vào tháng 12/2004 (đợt 7) có mật độ đạt trên 1.600tb/l, các đợt còn lại có mật độ tương đối thấp Mật độ Alexandrium không cao vào mùa khô nhưng xuất hiện đều, mật độ cao vào các tháng 5/2005(đợt 11), tháng 8/2005 (đợt 12) và tháng 7/2004 (đợt 3), mật độ trung bình đạt 240tb/l Vào mùa mưa mật độ tảo có sự chênh lệch lớn giữa các tháng, đỉnh cao rơi vào tháng 12/2004 (đợt 7), mật

độ trung bình đạt 365tb/l Theo nghiên cứu của nhóm ĐDSH Huế (1998-2003) thì

mật độ tảo Alexandrium thời điểm cao nhất đạt 650 tb/l (tháng 5/2003) Kết quả của

Đoàn Như Hải và cộng sự (2003) thì nhóm Alexandrium xuất hiện tại đầm tới 8 loài nhưng không phát hiện trong mẫu định lượng Đồng thời theo nghiên cứu của Trương

Thị Hiếu Thảo (2004) thì mật độ của tảo Alexandrium cao vào mùa khô (tháng 6),

thường tập trung ở vùng giữa tới Tây Bắc của đầm, tương ứng từ 350-1.356 tb/l Như vậy, mật độ Alexandrium xuất hiện trong thời gian này có tăng hơn so với các nghiên cứu trước, mật độ trung bình mùa mưa cao hơn mùa khô nhưng không chênh lệch lớn, đỉnh cao rơi vào giữa mùa mưa tháng 12/2004 khác với nghiên cứu của Trương Thị Hiếu Thảo (2004) là rơi vào tháng 6 mùa khô, mật độ tập trung cao ở phía Bắc và Tây-Nam đầm và thấp ở cửa đầm

Đ 4

Đ 5

Đ 6

Đ 7

Đ 8

Đ 9

Đ 10

Đ 11

Đ 12

Alexandrium spp.(tb/l)

365 240

0 50 100 150 200 250 300 350 400

Alexandrium spp.(tb/l)

0 200 400 600 800

Trang 29

Tảo Prorocentrum thường gây mật độ cao trong đầm tuy nhiên có sự chênh lệch lớn giữa mùa khô và mùa mưa, mật độ trung bình mùa mưa đạt 25.733tb/l trong khi mùa khô mật độ trung bình 2.360tb/l Mật độ tập trung cao ở khu vực ao nuôi tôm, đạt trên 55.103tb/l do sự phát triển mạnh trên diện rộng của loài Prorocentrum

minimum đạt tới 128.156,66tb/l vào tháng 12/2004

Như vậy, mật độ 3 nhóm tảo độc chính ở đầm Lăng Cô đều cao vào mùa mưa

và thấp hơn vào mùa khô, đều có mật độ cao vào tháng 12/2004 (đợt 7 khi môi trường nước có nhiệt độ và độ muối thấp nhất (22,50C và 27,4%o), hàm lượng nitrat cao 1,68mg/l, và đều tập trung cao ở phía Bắc và Tây-Nam đầm và rất thấp ở cửa đầm

Sự phát triển của các nhóm tảo độc hại đặc biệt là tảo Prorocentrum, Pseudonitzschia và Alexandrium ở các khu vực trong đầm (ngoại trừ cửa đầm có mật

độ rất thấp) có khả năng sản sinh các độc tố gây ngộ độc dạng CFP, ASP và DSP rất nguy hiểm, đáng chú ý là khu vực ao nuôi tôm có mật độ tảo Prorocentrum thường xuyên cao, điều này có thể gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người thông qua các loài thuỷ hải sản được nuôi trồng ở đây Các nhóm tảo độc khác tuy không gây mật độ cao nhưng cũng cần giám sát thường xuyên Ngoài ra các tảo có khả năng gây hại do mật

độ quá cao dẫn đến nghẽn mang các động vật ăn lọc và thiếu oxy cho các sinh vật

khác cũng nên được chú ý, như Ceratium strictum, C furca, Chaetoceros spp

thường xuất hiện với mật độ cao ở đầm

5000 10000 15000

Prorocentrum spp.(tb/l)

55147

0 10000 20000 30000 40000 50000 60000

Trang 30

Biểu đồ 4(a,b) Mật độ các nhóm tảo độc hại trong các đợt khảo sát

Hầu hết các nhóm tảo độc hại đều có mật độ thấp <103tb/l, riêng 3 nhóm Prorocentrum, Pseudonitzschia và Alexandrium có mật độ đạt trên 103tb/l và đây là các nhóm tảo độc hại xuất hiện thường xuyên và chiếm phần lớn tổng mật độ tảo độc hại trong các đợt khảo sát

Xét sự tương quan giữa mật độ của 3 nhóm này với các yếu tố môi trường, nhận thấy mật độ tảo độc hại chủ yếu thể hiện sự tương quan chặt chẽ với nhiệt độ và hàm lượng nitrat vào các mùa:

* Mật độ tảo Alexandrium có sự tương quan khá chặt chẽ với pH và muối nitrat [tăng khi pH (r = -0,75) và nitrat (r = -0,6) giảm]

Đ 3

Đ 4

Đ 5

Đ 6

Đ 7

Đ 8

Đ 9

Đ 10

Đ 11

Đ 12 Nhóm Alexandrium spp Protoperidinium crassipes

Nhóm Dinophysis spp Anabaena circinalis

0 20000 40000 60000

Đ 1

Đ 2

Đ 3

Đ 4

Đ 5

Đ 6

Đ 7

Đ 8

Đ 9

Đ 10

Đ 11

Đ 12

Nhóm Pseudo-nitzschia spp.(tb/l)

Nhóm Prorocentrum spp.(tb/l)

a b

Trang 31

Dinophyceae 96 loài và dưới loài chiếm 36%, tảo Lam Cyanophyceae 13 loài chiếm 5%, tảo Lục Chlorophyceae 7 loài và dưới loài chiếm 3%, tảo Mắt Cyanophyceae 4 loài chiếm 2%, tảo Vàng Chromophyta 2 loài chiếm 1%

2 Thành phần vi tảo tập trung cao nhất ở cửa Lăng Cô với số loài trung bình

là 50,3 loài, và thấp hơn hẳn ở khu vực ao nuôi tôm với trung bình 14,6 loài

3 Số loài vi tảo xuất hiện ở đầm vào mùa khô (đợt 1-3, đợt 10-12) cao hơn vào mùa mưa, đỉnh cao là vào giữa mùa khô ởđợt 1, đợt 11 và đợt 12 đạt 102 - 109 loài Số loài vi tảo giảm xuống vào cuối và đầu mùa khô với 72 -76 loài (đợt 2, 3, 9),

ổn định vào mùa mưa với 76 - 90 loài

4 Phát hiện 12 loài có khả năng sản sinh độc tố xuất hiện trong đầm Lăng Cô:

Alexandrium minutum, Alexandrium fraterculus, Prorocentrum lima, Pro mexicanum, Pro cordatum, Dinophysis acuta, Diniphysis caudata, D norvegica, D rotundata, Protoperidinium crassipes, Pseudonitzschia spp., Anabaena circinalis

HCL4 đạt trên 103 tb/l, cao nhất ở khu vực trong ao nuôi tôm (9.357,54 tb/l, riêng

trạm HCL5 có mật độ rất thấp xấp xỉ 50tb/l Nhóm Pseudo-nitzschia spp quyết định

mật độ vi tảo độc hại tại các trạm HCL1, HCL2, HCL3, HCL5, tại trạm HCL4 nhóm

Prorocentrum spp thường xuyên gây mật độ cao (55.147,85 tb/l)

6 Mật độ tảo độc ở đầm Lăng Cô biến động mạnh vào mùa mưa từ 357,4tb/l - 170.114,9tb/l và ít biến động hơn vào mùa khô, từ 228tb/l - 9.540 tb/l Đợt 7 (06/12/2004) tổng mật độ tảo độc hại ở các trạm khảo sát lên tới trên 105tb/l do các

nhóm Pseudonitzschia spp., Alexandrium spp., Dinophysis spp và đặc biệt là nhóm

Prorocentrum spp tăng đột biến với sự phát triển mạnh trên diện rộng của loài Prorocentrum minimum đạt 128.156,66tb/l

Trang 32

2 Võ Văn Dũng (2001), Góp phần nghiên cứu phân loại họ Peridiniaceae ở phá

Tam Giang - Cầu Hai tỉnh Thừa Thiên Huế, Luận văn tốt nghiệp Đại học,

Trường Đại học Khoa học Huế

3 Lương Quang Đốc (1997), Góp phần nghiên cứu thành phần loài tảo phù du

gây hại ở đầm Lăng Cô tỉnh Thừa Thiên Huế, Luận văn tốt nghiệp Đại học,

Trường Đại học Khoa học Huế

4 Đại Học Khoa Học Huế, Sở Khoa Học Công Nghệ, Sở Thuỷ sản & Đại Học

Lille 1 Ceremher (2003), Atlas des Lagunes de la Province de Thua Thien Hue

- Hiểu biết để phát triển bền vững

5 Tôn Thất Pháp, Đường Văn Hiếu, Lương Quang Đốc, (2000), "Phân loại chi

Alexandrium Halim ở vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế", Tạp chí Sinh Học

Tập 22-số 3b Tr 20-25

6 Lê Xuân Tài (2002), Đặc điểm địa hoá trầm tích và môi trường nước của hệ

đầm phá Tam Giang - Cầu Hai tỉnh Thừa Thiên Huế, Luận án Tiến sĩ Địa chất

Hà Nội

7 Trung tâm thông tin KHKT & KTTS- Bộ Thuỷ Sản (số 1, 2001), Thông tin

thương mại Thuỷ sản

8 Trương Thị Hiếu Thảo, (2004), “Nghiên cứu đặc điểm hình thái và phân bố của

chi tảo giáp Alexandrium Halim ở đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế”, Luận văn

Thạc sĩ khoa học, Trường Đại học Khoa học Huế

Tài liệu tiếng nước ngoài

9 Abé T H (1927), Notes on the Protozoan Fauna of Mutsu Bay: Peridiniales,

Science reports Tokyo Imperial University, Section A

10 Abé T H (1936b), Notes on the Protozoan Fauna of Mutsu Bay, Genus

Peridinium: Subgenus Archaeperidinium, Science reports Tokyo Imperial

University, Section A

11 Abé T H (1981), Studies on the family Peridinea an unfinished monograph of

the armoured Dinoflagellates, Publications of the Seto Marine Biological

Laboratory; Special publication series Volume VI

12 Allen W E & E E Cupp, (1933), "Plankton Diatoms of the Java Sea", Ann

Jard Bot Buitenz

13 Anderson, (1996), Design and Implementation of some Harmful Algal

Monitoring Systems, IOC, UNESCO

14 Balech E., (1989), "Redescription of Alexandrium minutum Halim (Dinophyceae) type species of the genus Alexandrium", Phycologia, pp 206-

211

15 Balech E., (1995), The genus Alexandrium Halim (Dinoflagellate), Sherkin

Island Marine Station, Sherkin Island, Co Cork, Ireland, 149p

16 Carmelo R Tomas (1997), Identifying marine phytoplankton, Academic Press

17 Desikachary T.V (1988), Marine Diatoms of the Indian Ocean Region, Atlas of

Diatoms, Fascicle V First edition, Madras Science Foundation, Madras, Plates

401-621

18 Dodge J D (1982), Marine Dinoflagellates of the British Isles, London: Her

Majesty’s Stationery Office

Trang 33

Harmful marine microalgae, UNESCO

22 Hashimoto Y (1979), Marine Toxins and Other Bioactive Marine Metabolites

Japan Scientific Societies Press, Tokyo

23 Hendey N.I (1964), An Introductory Account of the smaller Algae of British

Coastal Waters, Fishery Investigation, Series IV, Part V: Bacillariaceae

(Diatoms), London, Her Majesty’s Stationery Office

24 Lam Nguyen-Ngoc, (2002), Biology and Taxonomy of Dinoflagellates in

Vietnamese Coastal Waters, Ph D thesis, Department of phycology, Botanical

Insitute University of Copenhagen

25 Lebour M V (1925), The Dinoflagellates of Northern Sea, Marine Biologycal

Association of the United Kingdom

26 Patrick R & C W Reimer (1966), "The Diatoms of the United States, exclusive of Alaska and Hawaii, Vol 1, Fragilariaceae, Eunotiaceae,

Achnanthaceae, Naviculaceae", Monographic Series of Academy of Natural

Sciences of Philadelphia, No 13, Produced by the Livingston Publishing

Company

27 Patrick R & C W Reimer (1975), "The Diatoms of the United States, exclusive of Alaska and Hawaii Vol 2 Part 1 Entomoneidaceae,

Cymbellaceae, Gomphonemaceae, Epithemiaceae", Monographic Series of

Academy of Natural Sciences of Philadelphia, No 13, Produced by Sutter

House Lititz, Pennsylvania

28 Steidinger K.A & Tangen K., (1997), "Dinoflagellates", Identifying Marine

Phytoplankton, Tomas C R (ed) Academic Press, Harcourt Brace & Company

29 Shirota A (1966), The plankton of South Vietnam: Fresh water and Marine

Plankton, Overseas Technical Cooperation Agency, Japan

30 Steidinger & Tangen (1997), Identifying Marine Phytoplankton, Printed in the United States of America

31 Taylor F .J R (1925), The Biology of Dinoflagellates, Blackwell scientific

publications oxford London Edinburgh

Trang 34

Hình 5: Dinophysis rotundata Hình 6: Dinophysis caudata

Hình 1: Alexandrium minutum

Hình 3: Alexandrium affine

Hình 2: A fraterculus

Hình 4: A pseudogonyaulax

Trang 35

Hình 9: Prorocentrum mexicanum

Hình 8: Prorocentrum cordatum Hình 7: Prorocentrum micans

Hình 10: Prorocentrum foraminosum

Trang 36

Hình 13: Pseudo-nitzschia sp Hình 14: Anabaena circinalis

Trang 37

Ký hiệu mẫu: HCL1 Ngày thu: 31 tháng 5 năm 2004 (Đợt 1)

Trang 38

STT Tên loài STT Tên loài

Trang 39

Ký hiệu mẫu: HCL3 Ngày thu: 31 tháng 5 năm 2004 (Đợt 1)

Huế, ngày 12 tháng 6 năm 2004 Người thẩm định Người phân tích

PGS.TS Tôn Thất Pháp Võ Văn Dũng

Trang 40

STT Tên loài STT Tên loài

Ngày đăng: 18/12/2013, 00:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Danh lục các loài có khả năng tạo ra độc tố - NGHIÊN CỨU SỰ XUẤT HIỆN VÀ PHÂN BỐ VI TẢO, TẢO ĐỘC HẠI Ở ĐẦM LĂNG CÔ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Bảng 4.1. Danh lục các loài có khả năng tạo ra độc tố (Trang 18)
Hình 4.1. a- g: Alexandrium fraterculus, a: chuỗi 8 tế bào; chuổi 2 tế bào; c: cấu trúc - NGHIÊN CỨU SỰ XUẤT HIỆN VÀ PHÂN BỐ VI TẢO, TẢO ĐỘC HẠI Ở ĐẦM LĂNG CÔ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Hình 4.1. a- g: Alexandrium fraterculus, a: chuỗi 8 tế bào; chuổi 2 tế bào; c: cấu trúc (Trang 19)
Hình 4.2 a- d: Alexandrium minutum; a: hình thái ngoài tế bào; b: mặt bùng  của tế bào; c: Cấu trúc nắp trên; d: Nắp dưới - NGHIÊN CỨU SỰ XUẤT HIỆN VÀ PHÂN BỐ VI TẢO, TẢO ĐỘC HẠI Ở ĐẦM LĂNG CÔ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Hình 4.2 a- d: Alexandrium minutum; a: hình thái ngoài tế bào; b: mặt bùng của tế bào; c: Cấu trúc nắp trên; d: Nắp dưới (Trang 20)
Hình 4.4. Dinophysis caudata - NGHIÊN CỨU SỰ XUẤT HIỆN VÀ PHÂN BỐ VI TẢO, TẢO ĐỘC HẠI Ở ĐẦM LĂNG CÔ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Hình 4.4. Dinophysis caudata (Trang 21)
Hình 4.9. Nhóm tảo độc hại chiếm ưu thế về mật độ ở các trạm khảo sát - NGHIÊN CỨU SỰ XUẤT HIỆN VÀ PHÂN BỐ VI TẢO, TẢO ĐỘC HẠI Ở ĐẦM LĂNG CÔ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Hình 4.9. Nhóm tảo độc hại chiếm ưu thế về mật độ ở các trạm khảo sát (Trang 23)
BẢNG PHÂN TÍCH ĐỊNH TÍNH VI TẢO Ở ĐẦM LĂNG CÔ - NGHIÊN CỨU SỰ XUẤT HIỆN VÀ PHÂN BỐ VI TẢO, TẢO ĐỘC HẠI Ở ĐẦM LĂNG CÔ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
BẢNG PHÂN TÍCH ĐỊNH TÍNH VI TẢO Ở ĐẦM LĂNG CÔ (Trang 41)
BẢNG PHÂN TÍCH ĐỊNH TÍNH VI TẢO Ở ĐẦM LĂNG CÔ - NGHIÊN CỨU SỰ XUẤT HIỆN VÀ PHÂN BỐ VI TẢO, TẢO ĐỘC HẠI Ở ĐẦM LĂNG CÔ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
BẢNG PHÂN TÍCH ĐỊNH TÍNH VI TẢO Ở ĐẦM LĂNG CÔ (Trang 63)
BẢNG PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG VI TẢO Ở ĐẦM LĂNG CÔ - NGHIÊN CỨU SỰ XUẤT HIỆN VÀ PHÂN BỐ VI TẢO, TẢO ĐỘC HẠI Ở ĐẦM LĂNG CÔ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
BẢNG PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG VI TẢO Ở ĐẦM LĂNG CÔ (Trang 97)
BẢNG PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG VI TẢO Ở ĐẦM LĂNG CÔ - NGHIÊN CỨU SỰ XUẤT HIỆN VÀ PHÂN BỐ VI TẢO, TẢO ĐỘC HẠI Ở ĐẦM LĂNG CÔ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
BẢNG PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG VI TẢO Ở ĐẦM LĂNG CÔ (Trang 101)
BẢNG PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG VI TẢO Ở ĐẦM LĂNG CÔ - NGHIÊN CỨU SỰ XUẤT HIỆN VÀ PHÂN BỐ VI TẢO, TẢO ĐỘC HẠI Ở ĐẦM LĂNG CÔ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
BẢNG PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG VI TẢO Ở ĐẦM LĂNG CÔ (Trang 103)
BẢNG PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG VI TẢO Ở ĐẦM LĂNG CÔ - NGHIÊN CỨU SỰ XUẤT HIỆN VÀ PHÂN BỐ VI TẢO, TẢO ĐỘC HẠI Ở ĐẦM LĂNG CÔ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
BẢNG PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG VI TẢO Ở ĐẦM LĂNG CÔ (Trang 113)
BẢNG PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG VI TẢO Ở ĐẦM LĂNG CÔ - NGHIÊN CỨU SỰ XUẤT HIỆN VÀ PHÂN BỐ VI TẢO, TẢO ĐỘC HẠI Ở ĐẦM LĂNG CÔ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
BẢNG PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG VI TẢO Ở ĐẦM LĂNG CÔ (Trang 145)
BẢNG PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG VI TẢO Ở ĐẦM LĂNG CÔ - NGHIÊN CỨU SỰ XUẤT HIỆN VÀ PHÂN BỐ VI TẢO, TẢO ĐỘC HẠI Ở ĐẦM LĂNG CÔ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
BẢNG PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG VI TẢO Ở ĐẦM LĂNG CÔ (Trang 147)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w