Trờng đại học vinh khoa kinh tế === === ĐặNG THái phơng Khóa luận tốt nghiệp đại học một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thô
Trang 1Trờng đại học vinh
khoa kinh tế
=== ===
ĐặNG THái phơng
Khóa luận tốt nghiệp đại học
một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn huyện nghi xuân - hà tĩnh
Ngành quản trị kinh doanh
cả nhưng diễn biến đú xảy ra nhanh hơn nhưng gỡ mà chỳng ta biết Nhưng
Trang 2không phải là hệ thống ngân hàng tăng lên thì việc tiếp cận các nguồn tài chính
từ ngân hàng là dễ dàng hơn Đặc biệt đó là một trở ngại lớn cho các khu vựcnông thôn Bởi đây là vùng mà khách hàng chủ yếu là doanh nghiệp vừa vànhỏ, các hộ nông dân, trình độ dân trí thấp, năng lực tài chính chưa cao, thiếutài sản thế chấp, khả năng xây dựng các dự án có tính khả thi còn yếu… nêndưới con mắt của các nhà Ngân hàng những khách hàng này có độ rủi ro cao
Tuy nhiên đây là khu vực được sự quan tâm lớn của Đảng và Nhànước Do đó lượng khách hàng này được các ngân hàng đánh giá là đối tượngkhách hàng có tiềm năng lớn Gần đây nhiều Ngân hàng thương mại đã khôngngừng hoàn thiện và cung ứng nhiều sản phẩm dịch vụ dành riêng cho đốitượng khách hàng này trong đó có NHNo&PTNT Cho vay là một trong cácnghiệp vụ cơ bản của ngân hàng do đó việc phát triển thêm các sản phẩm dịch
vụ vào đặc biệt là các sản phẩm cho vay đã đem lại cho ngân hàng doanh sốhoạt động không nhỏ, góp phần nâng cao vị thế cạnh tranh của hệ thống ngânhàng trên thị trường tài chính Do đó việc quản lý hoạt động sử dụng vốn vaynhư thế nào để mang lại hiệu quả cao nhất là vấn đề cần thiết
Thực tế hoạt sử dụng vốn vay còn đang gặp nhiều khó khăn, nổi cộmvẫn là vấn đề hiệu quả tín dụng trung - dài hạn còn thấp rủi ro cao, dư nợ quáhạn tăng lên, vốn vay sử dụng kém hiệu quả Điều đó nói lên rằng vốn đầu tưcho chiều sâu chưa đáp ứng được đòi hỏi bức thiết ngày càng tăng của nềnkinh tế Ngoài ra, tỷ lệ nợ quá hạn còn cao cho vay ra nhưng không thu hồiđược cả gốc và lãi nên đã ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế nóichung và của hệ thống Ngân hàng nói riêng
Chính vì vậy, vấn đề hiệu quả hoạt động sử dụng vốn vay đang đượcmọi người trong và ngoài ngành quan tâm, giải quyết Và đây cũng đang là đềtài của nhiều cuộc trao đổi, thảo luận tại các hội thảo, diễn đàn nghiên cứu
Nghi Xuân là một huyện đồng bằng ven biển, nằm ở khu vực Bắc miềnTrung, có diện tích tự nhiên 217,76km2 Địa hình có núi, có sông, có biển và
có đồng bằng Toàn huyện có 3 vùng sinh thái: đó là vùng sinh thái thành thịgồm 2 thị trấn, vùng đồng bằng gồm 11 xã, và miền núi có 6 xã; về dân số có
Trang 323.360 hộ, trong đó 70% hộ nông nghiệp, 22% dịch vụ và thương mại, 8%khác Từ các yếu tố tự nhiên - kinh tế - xã hội tạo cơ sở cho huyện Nghi Xuânphát triển một nền kinh tế đa dạng phong phú, sản xuất hàng hóa phù hợp vớinền kinh tế đổi mới Nhưng hiện nay trồng trọt và ngư nghiệp vẫn là haingành chủ đạo của huyện, còn các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,dịch vụ và các ngành nghề khác còn ít phát triển, hoặc phát triển với quy mônhỏ lẻ Do đó vốn luôn là vấn đề được Đảng bộ và Ban ngành lãnh đạo huyệnquan tâm hàng đầu
Trong hoàn cảnh như vậy, để người dân có điều kiện khai thác nguồnlực, phát triển kinh tế của vùng những năm vừa qua NHNo&PTNT Nghi Xuân
đã không ngừng nỗ lực công tác huy động vốn cũng như việc đáp ứng nguồnvốn kịp thời cho người dân để họ có đủ vốn yên tâm đầu tư vào sản xuất,nâng cao thu nhập gia đình Có thể nói sự hoạt động tích cực củaNHNo&PTNT Nghi Xuân đã góp phần rất quan trọng trong công cuộc xóađói, giảm nghèo, công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa lớn lao của vấn đề trên, vớinhững kiến thức đã được học tập, nghiên cứu tại trường và sau một thời gianthực tập tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - một Ngânhàng giữ vai trò chủ lực trong cho vay của huyện Nghi Xuân nên em đã
chon đề tài: “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh” để
thực hiện khoá luận tốt nghiệp
Trang 43 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Do bị giới hạn về thời gian đề tài chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động
sử dụng vốn vay của ngân hàng và khách hàng vay vốn tại NHNo&PTNTNghi Xuân
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: phòng kinh doanh của NHNo&PTNT huyện Nghi Xuân
- Về thời gian: nghiên cứu và phân tích số liệu trong 03 năm từ 2007 - 2009
4 Phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài
4.1 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điêu tra phỏng vẫn có chon mẫu
- Phương pháp thu thập, tổng hợp, phân tích tài liệu
- Phương pháp thống kê, phân tích kinh tế
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
4.2 Ý nghĩa đề tài nghiên cứu
Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Đề tài nghiên cung cấp lý luận, phương pháp luận cho hoạt động quản
lý của ngân hàng trong lĩnh vực tín dụng
- Là khoa học về sự lựa chọn kinh tế trong phạm vi ngân hàng
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Đề tài cung cấp một số giải pháp nâng cao hoạt động sử dụng vốn vaycủa ngân hàng
- Giúp NHNo&PTNT huyện Nghi Xuân nâng cao được hiệu quả kinhdoanh, mở rộng thị phần, nâng cao chất lượng công tác tín dụng từ đó tănglợi nhuận
5 Kết cấu đề tài
Trang 5Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận gồm ba chương:
Chương 1 Hoạt động tín dụng của ngân hàng trong cơ chế thị
Chương 2 Hiệu quả sử dụng vốn vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn huyện Nhi Xuân, Hà Tĩnh Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay tại Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh.
Trang 6NỘI DUNG
Chương 1 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG
TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG 1.1 Tín dụng ngân hàng
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của tín dụng ngân hàng
Tín dụng là một phạm trù của kinh tế hàng hóa Bản chất của tín dụnghàng hóa là vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, làquan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn, là quan hệ bình đẳng vàhai bên cùng có lợi Hay nói một cách khác, tín dụng là một phạm trù kinh tế,trong đó mỗi cá nhân hay tổ chức nhường quyền sử dụng một khối lượng giátrị hay hiện vật cho một tổ chức khác với thời hạn hoàn trả cùng lãi suất, cáchthức vay mượn và thu hồi món vay… Tín dụng ra đời, tồn tại và phát triểncùng với nền sản xuất hàng hóa Trong điều kiện nền kinh tế còn tồn tại songsong hàng hóa và quan hệ hàng hóa tiền tệ thì sự tồn tại cuả tín dụng là mộttất yếu khách quan Trong nền kinh tế hàng hóa có nhiều loại hình tín dụngnhư: tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại, tín dụng nhà nước tín dụngtiêu dùng,…
TDNH là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa ngân hàng và các chủ thểkhác trong nền kinh tế Trong đó ngân hàng vừa đóng vai trò là người đi vay(nhận tiền gửi của các chủ thể khác trong nền kinh tế hoặc phát hành chứngchỉ tiền gửi: kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng để huy động vốn), vừa đóng vaitrò là người cho vay (cấp tín dụng cho các chủ thể khác trong nền kinh tếbằng việc thiết lập các hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ, ) Tín dụng ngânhàng là loại tín dụng chủ yếu và phổ biến nhất trong nền kinh tế thị trường
Từ đặc điểm đó có thể thấy tầm quan trọng của tín dụng ngân hàng trong nềnkinh tế quốc dân
TDNH mang bản chất của quan hệ tín dụng nói chung Đó là quan hệ
Trang 7tin cậy lẫn nhau trên cơ sở hoàn trả cả gốc lẫn lãi giữa người đi vay và ngườicho vay
Tín dụng được biểu hiện bằng sơ đồ sau:
huyện Nghi Xuân
- Đặc điểm của tín dụng ngân hàng
+ Chủ thể tham gia: một bên là ngân hàng, một bên là các chủ thể kháctrong nền kinh tế như các doanh nghiệp, các hộ gia đình, cá nhân,…
+ Đối tượng: là tiền tệ, có khi là tài sản
+ Thời hạn: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
+ Công cụ: kỳ phiếu, trái phiếu, hợp đồng tín dụng…
+ Tính chất: là hình thức tín dụng mang tính chất gián tiếp, trong đóngân hàng là trung gian tín dụng giữa những người tiết kiệm và những ngườicần vốn để sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng
+ Mục đích: nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng qua đóthu được lợi nhuận
-Ưu điểm, nhươc điểm của tín dụng ngân hàng
* Ưu điểm:
+ Về chủ thể: Rất linh hoạt, rộng lớn bao gồm: doanh nghiệp, hộ giađình, cá nhân, các tổ chức xã hội,…Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng vừa làngười cho vay đồng thời là người đi vay Với tư cách là người đi vay, ngân
Chủ thể đi vay
1 Cho vay vốn
2 Hoàn trả gốc và lãiChủ thể cho vay
Trang 8hàng nhận tiền gửi của các nhà doanh nghiệp, cá nhân hoặc phát hành chứngchỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn trong xã hội Với tư cách là người chovay, nó cung cấp tín dụng cho các nhà doanh nghiệp, cá nhân
+ Do là nguồn vốn huy động của xã hội với khối lượng và thời hạnkhác nhau, do đó nó có thể thoả mãn các nhu cầu vốn đa dạng về khối lượngcũng như thời hạn và mục đích sử dụng Nó không chỉ đáp ứng nhu cầu vốnngắn hạn để dự trữ vật tư hàng hoá, trang trải các chi phí sản xuất và thanhtoán các khoản nợ, mà còn tham gia cấp vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản vàđáp ứng một phần đáng kể nhu cầu tín dụng tiêu dùng cá nhân
+ Có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp vốn cho nhu cầukinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ vì những doanh nghiệp nàychưa có đủ điều kiện để tham gia vào thị trường vốn trực tiếp
+ Góp phần đẩy nhanh nhịp độ tích tụ, tập trung vốn và tăng cường khảnăng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
+ Còn được sử dụng như là một công cụ quan trọng để phát triển cácngành kinh tế chiến lược theo yêu cầu của chính phủ
+ Trong nền kinh tế thị trường, tiền tệ đóng vai trò vô cùng quan trọng,việc thắt chặt hay nới lỏng cung tiền tệ, kiềm chế lạm phát thông qua hoạtđộng của hệ thống ngân hàng sẽ tác động trực tiếp đến tình hình nền kinh tế
+ Việc quản lý không tốt năng lực trả nợ của người vay có thể dẫn tớitình trạng nợ xấu, nợ khó đòi Tình hình nợ xấu của các doanh nghiệp cổ phần
có chiều hướng gia tăng
Trang 91.1.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng
Hoạt động tín dụng ngân hàng ngày càng giữ vai trò quan trọng tronghoạt động tài chính Hoạt động này của ngân hàng không những mang lại lợiích cho người có vốn, người cần vốn, cho chính bản thân ngân hàng và cho cảnền kinh tế xã hội Điều này được thể hiện qua những nôi dung cơ bản sau:
- Thúc đẩy kinh tế phát triển
Trong quá trình sản xuất kinh doanh với mục tiêu duy trì và mở rộngquy mô kinh doanh liên tục đối với từng đơn vị kinh tế thì nhu cầu về vốn trởnên là mối quan tâm hàng đầu Với những diến biến nhanh chóng của tìnhhình kinh tế thị trường đã buộc các đơn vị kinh tế không chỉ có dựa vàonguồn vốn tự có và sự bổ sung từ kết quả kinh doanh mà phải tận dụng khaithác từ các nguồn khác trên thị trường Do tính chuyên môn hóa và thành thạotrong nghề nghiệp, các ngân hàng đã tập trung được nguồn vốn lớn và là nơiđáp ứng đẩy đủ, chính xác, kịp thời những nhu cầu cung và cầu về vốn đầu tưcho nền kinh tế Như vậy hoạt động của các ngân hàng giúp cho những chủthể tiết kiệm rút ngắn thời gian tích lũy vốn, chuyển vốn nhanh cho đầu tư mởrộng sản xuất kinh doanh, kích thích quá trình tập trung vốn cho phát triểnkinh tế
Mặt khác, trong điều kiện kinh tế thị trường, sự đa dạng trong hoạtđộng của ngân hàng đã thực hiện điều tiết các nguồn lực tìa chính vượt khỏiphạm vi quốc gia Điều này, góp phần đưa nền đất nước tham gia vào quátrình phân công lao động của thế giới, thúc đẩy tiến trình hội nhập phát triểnkinh tế
- Kích thích sự luân chuyển vốn đầu tư
Do cạnh tranh, đan xen và đa năng hóa trong hoạt động kinh doanh, cácngân hàng đã thay đổi lãi suất, từng bước làm cho lãi suất hình thành trên thịtrường ngày càng hợp lý, trên cơ sở cân bằng cung cầu vốn Điều này có tácdụng kích thích sự dịch chuyển các luồng vốn đầu tư tăng lên mức cao nhất.Ngân hàng thương mại đã thực hiện chuyển đổi thời gian đáo hạn của các
Trang 10công cụ tài chính để gia tăng hiệu suất luân chuyển vốn Nhờ có các ngânhàng mà cả người đầu tư và người đi vay đều có thể lựa chọn được nhữngthời hạn thích hợp với mục tiêu sử dụng vốn của mình
- Góp phần làm giảm chi phí xã hội
Hoạt động của các ngân hàng góp phần làm giảm bớt chi phí thông tin
và giao dịch lớn cho mỗi cá nhân, tổ chức và toàn bộ nền kinh tế Khi ngânhàng thực hiện hoạt động điều tiết vốn sẽ giảm thiểu được rủi ro với các đặctính chuyên môn hóa, giảm chi phí đầu tư, chi phí huy động vốn cho sản xuấtkinh doanh Mặt khác, trong quá trình hoạt động kinh doanh ngân hàng cònthực hiện hiệu quả các dịch vụ tư vấn, môi giới, tài trợ, trợ cấp và phòng ngừarủi ro
- TDNH tạo điều kiện phát huy các ngành nghề truyền thống, ngành nghề mới, giải quyết việc làm cho người lao động, góp phần ổn định chính trị
- xã hội.
Việt Nam là một nước có nhiều làng nghề truyền thống, nhưng chưađược quan tâm và đầu tư đúng mức Trong điều kiện hiện nay, bên cạnh việcthúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo đúng hướng CNH, HĐH, chúng tacần phải quan tâm đến các ngành nghề truyền thống có khả năng đạt hiệu quảkinh tế Phát huy được làng nghề truyền thống, cũng chính là phát huy đượcnội lực kinh tế hộ Do vậy TDNH sẽ là công cụ tài trợ cho các ngành nghềmới thu hút được đông đảo lực lượng lao động
TDNH không những đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy pháttriển kinh tế mà còn có vai trò to lớn về mặt xã hội TDNH thúc đẩy cácngành nghề phát triển, giải quyết việc làm cho lao động dư thừa ở nông thôn,hạn chế luồng di đân vào thành phố Các ngành nghề phát triển sẽ làm tăngthu nhập cho người nông dân, đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội tăng lên,khoảng cách giữa nông thôn và thành thị xích lại gần nhau, hạn chế sự chênhlệch bất hợp lý trong xã hội, giữ vững an ninh - chính trị
Trang 11Ngoài ra, TDNH góp phần thực hiện tốt các chính sách đổi mới củaĐảng và Nhà nước, điển hình là chính sách xóa đói giảm nghèo TDNH thúcđẩy các HSX phát triển nhanh, làm thay đổi bộ mặt nông thôn, giúp cho các
hộ sử dụng hiệu quả hơn các đồng vốn của mình, nắm bắt được cơ hội và thời
cơ trong kinh doanh, các hộ nghèo có khả năng thoát nghèo Do đó, tệ nạn xãhội dần được xóa bỏ như nạn rượu chè, cờ bạc, trộm cắp,… nâng cao trình độnhận thức, trình độ dân trí, trình độ sản xuất của lực lượng lao động
- TDNH góp phần điều tiết khối lượng tiền lưu thông và chống lạm phát.
Nền kinh tế hàng hóa luôn chuyển động theo hai chiều hướng phát triểnnhịp độ tăng trưởng hoặc giảm sút theo quy luật lạm phát Trong nền kinh tếthị trường tiền tệ đóng vai trò vô cùng quan trọng, việc thắt chặt hay nới lỏngcung tiền tệ, kiềm chế lạm phát thông qua hoạt động của hoạt động của hệthống ngân hàng sẽ tác động trực tiếp đến tình hình nền kinh tế
Khi nhà nước hoạch định một chiến lược kinh tế đúng đắn đều phảiphát huy tối đa vai trò và ưu thế của công cụ tài chính tiền tệ trên các phươngdiện thì chiến lược kinh tế mới hoàn thiện Tuy nhiên việc thực hiện chínhsách huy động vốn bằng cách thức phát hành trái phiếu hay phát hành thêmtiền mới vào lưu thông thì dễ vấp phải tình trạng lạm phát cao Điều này làmảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế của quốc gia
- TDNH tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế nước ngoài, là cầu nối cho việc giao lưu kinh tế và phương tiện để thắt chặt mối quan hệ kinh tế với các nước trên thế giới.
Bất cứ quốc gia nào muốn có nền kinh tế phát triển thì phải mở rộngquan hệ với kinh tế thế giới TDNH trở thành một trong những phương tiệnkinh tế nối liền các nước với nhau, bằng các hoạt động tín dụng Quốc tế nhưhoạt động tín dụng giữa các Chính phủ, các tổ chức, cá nhân Do đó, việc tạođiều kiện thuận lợi về tài chính là một công cụ có hiệu quả bên cạnh các yếu
tố cạnh tranh khác như: giá cả, chất lượng sản phẩm, dịch vụ thương mại,…Hoạt động thương mại ngày càng phát triển thì các hình thức thành toán và
Trang 12dịch vụ của ngân hàng ngày càng đa dạng Quản lý kinh tế đối ngoại hoạtđộng tín dụng thuận lợi bao nhiêu thì mối quan hệ thương mại càng mở rộng
bấy nhiêu
1.1.3 Khái niệm và kết cấu nguồn vốn Ngân hàng Thương mại
Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy độngđược dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác
Tùy thuộc vào nguồn hình thành và các yêu cầu quản lý, người ta chiavốn của Ngân hàng thành các loại vốn khác nhau nhưng về cơ bản vốn ngânhàng gồm: Vốn tự có, vốn huy động, vốn đi vay, vốn khác
- Vốn tự có của ngân hàng là vốn do chủ sở hữu đóng góp và vốn đượctạo ra trong quá trình kinh doanh
- Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà Ngân hàng huy động được từcác tổ chức kinh tế và các nghiệp vụ kinh doanh khác và được sử dụng làmvốn kinh doanh
- Vốn đi vay: là nguồn vốn mà ngân hàng vay của các NHTM, các tổchức tín dụng khác, vay NHNN hoặc của NHTW
- Vốn khác là nguồn vốn phát sinh khi ngân hàng thực hiện các nghiệp
vụ đại lý, thanh toán, nhận ủy thác,…
Trong thực tế của quá trình hoạt động đôi khi các ngân hàng lâm vàotình trạng thiếu vốn khả dụng Có nghĩa là khi đó ngân hàng sử dụng hết vốnkhả dụng mà vẫn không đủ vốn cho hoạt động Giải pháp thường được cácngân hàng sử dụng trong trường hợp này là đi vay
Vốn đi vay được hình thành trên cơ sở quan hệ vay mượn giữa NHTMvới NHNN hoặc giữa NHTM với nhau hay với các tổ chức tín dụng khác CácNHTM có thể vay vốn của nhau thông qua thị trường liên ngân hàng hoặc vayvốn của các TCTD trong và ngoài nước theo lãi suất thỏa thuận và có thể tínchấp Trong trường hợp vốn vay trên vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu sử dụngthì các NHTM sẽ sử dụng biện pháp cứu cánh cuối cùng: Vay NHTW Tùy
Trang 13theo mục đích sử dụng và hình thức vay vốn, vốn vay NHTW được chiathành các loại: Vốn vay ngắn hạn, vay để thanh toán và vay tái cấp vốn.
+ Vốn vay ngắn hạn: là hình thức NHTM xin vay để bổ sung vốn ngắnhạn của mình Trong hình thức vay này các NHTM chỉ được vay khi còn hạnmức tín dụng và trong hạn mức tín dụng thỏa thuận
+ Vốn vay để thanh toán: các NHTM vay NHTW nhằm thực hiện côngtác thanh toán giữa các ngân hàng nhằm bù đắp thiếu hụt tạm thời trong thanhtoán (thời hạn vay loại này thường ngắn hạn)
+ Tái cấp vốn: NHTW cho NHTM vay trên cơ sở chứng từ có giá.Chứng từ này thường là chứng từ có chất lượng tức là phải thỏa mãn nhữngđiều kiện: hợp lệ, đảm bảo an toàn
1.2 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay của Ngân hàng Thương mại
Thứ nhất: Doanh số cho vay
Doanh số cho vay hộ sản xuất là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng số tiềnngân hàng cho HSX vay trong thời hạn nhất định (thường là một năm)
Ngoài ra, ngân hàng còn dùng chỉ tiêu tương đối phản ánh tỷ trọng chovay hộ sản xuất trong tổng doanh số cho vay của ngân hàng trong một năm
Thứ hai: Doanh số thu nợ
Doanh số thu nợ hộ sản xuất chỉ là chỉ tiêu phản ánh tổng số tiền ngânhàng thu hồi sau khi đã giải ngân cho hộ suất trong một kỳ
Tỷ trong cho vay hộ sản xuất
Doanh số cho vayTổng doanh số cho vay
Doanh số thu nợTổng dư nợ
Trang 14Thứ ba: Dư nợ quá hạn
Dư nợ quá hạn HSX là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng số tiền ngânhàng chưa thu hồi được sau một thời gian nhất định kể từ ngày khoản cho vayđến hạn thánh toán tại thời điểm đang xét
Bên cạnh chỉ tiêu tuyệt đối, ngân hàng thường xuyên sử dụng chỉ tiêu
tỷ lệ nợ quá hạn HSX
Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả tín dụng HSX vàchất lượng tín dụng đâu tư cho vay với HSX Dư nợ quá hạn càng nhỏ, tỷ lệ
nợ quá hạn thấp, chất lượng tín dụng càng cao và ngược lại
Ngoài ra để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay HSX thì ngân hàng còn
sử dụng hệ thống chỉ tiêu GO, IV, VA, GO/IC, VA/IC
Thứ tư: Chi phí huy động vốn.
Việc xác định chi phí huy động vốn chính xác chính là cơ sở để ngân hàngđưa ra được mức lãi suất hợp lý từ đó nâng cao được lợi nhuận cho ngân hàng,đồng thời tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường tài chính Có 2 phương phápđược ngân hàng áp dụng phổ biến để tính toán chi phí huy động vốn là: chi phítrung bình theo nguyên giá, chi phí biên của từng nguồn vốn huy động
- Chi phí bình quân gia quyền theo phương pháp nguyên giá.
Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất Phương pháp này chútrọng vào cơ cấu hỗn hợp các nguồn vốn mà ngân hàng đã huy động đượctrong quá khứ và xem xét cẩn thận mức lãi suất mà thị trường đã áp đặt ngânhàng phải trả cho mỗi nguồn vốn đi vay Tích số của lãi suất phải trả và tổngmức vốn đi vay được sử dụng trong quá khứ tạo thành chi phí nguồn vốn bìnhquân gia quyền Nó được tính toán theo công thức lấy chi phí trả lãi chia chotổng số vốn đi vay và tiền gửi:
Doanh số dư nợ quá hạnTổng dư nợ
Trang 15
- Chi phí huy động vốn biên của từng nguồn vốn huy động
Phương pháp chi phí bình quân tuy có ưu điểm là đơn giản nhưng chỉnhìn về quá khứ để xem xét chi phí và tỷ suất lợi nhuận tối thiểu đã thực hiệncủa ngân hàng Trong khi đó, nhà quản trị ngân hàng còn cần phải hướng vềtương lai nữa với những quyết định của hôm nay và ngày mai Phương phápchi phí huy động vốn biên nhằm khắc phục nhược điểm của phương pháp chitrả lãi bình quân gia quyền dựa trên nguyên giá Chi phí biên là chi phí bỏ ra
để có thêm một đồng vốn huy động Căn cứ vào chi phí biên, ngân hàng xácđịnh mức lợi nhuận tối thiểu cần đạt được từ những tài sản có thêm từ cácnguồn vốn này
Lợi nhuận vẫn thu được từ tài sản có sinh lời tăng thêm nhờ sử dụngnguồn vốn huy động thêm:
Chi phí trả lãi bình quân gia quyền
của các nguồn vốn hưởng lãi
Chi phí trả lãiTổng số vốn đi vay tiền gửi =
Chi phí trả lãi bình quân gia quyền
Chi phí trả lãi tăng thêmTổng số vốn huy động tăng thêm
=
Tài sản có sinh lời tăng thêm
=Chi phí trả lãi bình quân gia quyền
Chi phí trả lãi tăng thêm
Chi phí trả lãi bình quân gia quyền
Chi phí trả lãiTổng số vốn đi vay tiền gửi =
Trang 16Thứ năm: Hiệu quả hoạt động cho vay đối với ngân hàng và với kinh tế - xã hội
- Hiệu quả kinh tế - xã hội
Hiệu quả kinh tế - xã hội phản ánh trình độ lợi dụng nguồn lực để đạtđược các mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định
Các mục tiêu kinh tế - xã hội thường là tốc độ tăng trưởng kinh tế; tổngsản phẩm quốc nội; thu nhập quốc dân và thu nhập bình quân; giải quyết công
ăn việc làm, xây dựng cơ sở hạ tầng; nâng cao phúc lợi xã hội, mức sống vàđời sống văn hóa, tinh thần cho người lao động; đảm bảo vệ sinh môi trường,
…
Hiệu quả kinh tế - xã hội gắn liền với nền kinh tế hỗn hợp và được xemxét ở góc độ vĩ mô
- Hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồnlực để đạt được các mục tiêu kinh doanh xác định Hiệu quả kinh doanh gắnliền với bản thân ngân hàng
Mục tiêu hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thể hiện bằng đơn vị giátrị có thể là đồng, triệu đồng, ngoại tệ,… Hiệu quả kinh doanh cũng được thểhiện hoàn toàn định tính như uy tín, thương hiệu, danh tiếng…
1.3 Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay của Ngân hàng Thương mại
1.3.1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay
* Đối với ngân hàng
- Hiện nay mức độ cạnh tranh ngày càng khốc liệt khi các ngân hàngkhông chỉ phải cạnh tranh với nhau mà cả với các ngân hàng ngoại; không chỉphải cạnh tranh nội ngành, các ngân hàng còn phải cạnh tranh với các kênhđầu tư khác như chứng khoán, vàng, bất động sản trong việc thu hút vốn đểđảm bảo khả năng thanh khoản vì hiện nay tiền gửi vẫn là nguồn vốn huy
Trang 17động chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn tổng vốn tín dụng của các ngân hàng.Việcnâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay sẽ giúp ngân hàng gia tăng được năng lựccạnh tranh trên thị trường tiền tệ đảm bảo thu hồi được nợ và thu được lãi.
- Do trên bình diện chung của cả nền kinh tế, năm 2010 sẽ là năm màViệt Nam phải đối mặt với không ít thách thức trong giai đoạn hậu khủnghoảng, hậu kích cầu Việc Chính phủ thực thi chính sách tiền tệ thắt chặtnhằm đối phó với nạn lạm phát đang rình rập nền kinh tế trong thời kỳ hậukhủng hoảng cũng như tình trạng thâm hụt cán cân thương mại đang có nguy
cơ gia tăng chắc chắn sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hệ thống ngân hàng Khinền kinh tế chưa hoàn toàn hồi phục, tỷ lệ thất nghiệp vẫn còn ở mức cao,nguồn tiền gửi tiết kiệm của khu vực dân cư giảm sẽ ảnh hưởng tiêu cực đếnkhối lượng tiền gửi cá nhân tại các ngân hàng khiến cho thanh khoản của cácngân hàng sẽ không còn dồi dào như trước, và tỷ lệ nợ xấu gia tăng
- Để nền kinh tế từng bước lấy lại đà tăng trưởng, trong đó phải kể tớivai trò của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế là rất quan trọng do đóngân hàng cần đảm bảo hoạt động an toàn, lành mạnh, tiếp tục tăng trưởng vàkinh doanh có lãi; hệ thống ngân hàng bảo đảm dòng vốn tín dụng lưu thôngbình thường và mở rộng tín dụng đến các lĩnh vực của nền kinh tế theonguyên tắc thương mại, kể cả trong việc triển khai chính sách hỗ trợ lãi suấtcũng không nới lỏng các điều kiện cấp tín dụng Từ đó, hệ thống ngân hàng
đã góp phần quan trọng trong việc đáp ứng đầy đủ, kịp thời vốn tín dụng chohoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển của nền kinh tế Để làm đượcđiều trên thì vốn vay cần được sử dụng hợp lý để đạt được kết quả tối ưu
- Ta nhận thấy các ngân hàng hướng mục tiêu cho vay tiêu dùng đến đủloại đối tượng khách hàng, với đa dạng các sản phẩm tín dụng Đó là từ chovay mua ôtô, sửa chữa hoặc mua nhà ở, đến mua sắm đồ gia dụng trả góp…
Có cả cho vay thế chấp cũng như cho vay tín chấp Món vay có thể chỉ500.000 đồng, hoặc đến cả tỷ đồng Nhưng khách hàng mà các ngân hàng đặtmục tiêu hướng đến nhiều nhất vẫn là tầng lớp có thu nhập thấp, nhất là công
Trang 18nhân viên với mức lương dưới 5 triệu đồng/tháng Với khách hàng loại này,kích thích tiêu trước trả sau là đúng, nhưng cần biết rõ và nắm chắc nguồn thunhập để thực hiện quản trị rủi ro Mức trả góp cho lịch trình thanh toán hiệuquả nhất thường bằng 30% mức thu nhập lương/kỳ Trong điều kiện thông tintín dụng cá nhân chưa được cập nhật, lưu trữ tốt nên hiệu quả cho vay tiêudùng phụ thuộc rất nhiều vào thẩm định khả năng thanh toán của khách hàng,vào mối quan hệ hợp đồng trách nhiệm trả nợ với cơ quan chủ quản của ngườivay vì vậy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay là điều tất yếu để đảm bảo trảđược nợ cho ngân hàng.
* Đối với nền kinh tế
- Để thực hiện mục tiêu CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn tốt đòi hỏichi phí đầu tư ban đầu rất lớn nhưng lại có khả năng sinh lời thấp và thời hạnthu hồi vốn lâu, như đầu tư vào cơ sở hạ tầng như năng lượng, đường xã, thuỷlợi, các ngành công nghiệp cơ bản, những ngành thâm dụng vốn mà tronggiai đoạn đầu phát triển, các thành phần kinh tế khác, nhất là thành phần kinh
tế tư nhân, vừa không muốn tham gia đầu tư, vừa không đủ tiềm lực vốn đểđầu tư Vì vậy, chỉ có Nhà nước, thông qua tín dụng nhà nước bằng nguồnvốn lớn huy động tập trung vào ngân sách và viện trợ nước ngoài mới có thểthực hiện được các dự án đầu tư này Tín dụng nhà nước cũng đóng vai tròquan trọng đối với phát triển nông nghiệp, từ đó tác động tích cực tới côngcuộc xoá đói giảm nghèo ở nông thôn
- Ngoài ra, tín dụng ngân hàng có tác dụng tích cực trong việc kíchthích đầu tư của các thành phần kinh tế khác trong giai đoạn kinh tế trì trệ,góp phần tạo ra tốc độ phát triển kinh tế
- Hoạt động tín dụng ngân hàng tiền đề cho thị trường vốn, thị trườnghàng hoá ở nông thôn phát triển Qua cho vay nền kinh tế đã thúc đẩy cácthành phần kinh tế của vùng Nghi Xuân vươn lên nắm bắt thị trường, bình ổngiá cả, tránh những biến cố bất lợi cho đời sống nhân dân, thúc đẩy nền kinh
Trang 19tế phát triển, làm thay đổi bộ mặt nông thôn, hộ nghèo đói giảm dần, cácngành nghề truyền thống được khôi phục và phát triển, lao động được tậndụng, hạn chế các tệ nạn xã hội, góp phần đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơcấu kinh tế theo đúng định hướng.
- Hoạt động tín dụng ngân hàng trở thành đòn bẩy kinh tế, góp phầnkhai thác tiềm năng đất đai, lao động, tài nguyên phát huy được thế mạnhcủa toàn huyện
- Hoạt động tín dụng của ngân hàng đã đóng góp quan trọng trong việcthực hiện có hiệu quả các đường lối, chủ trương, chính sách của Chính phủ và
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
* Đối với khách hàng
- Tiếp cận được với nguồn vốn của ngân hàng giúp giải quyết tình trạngthiếu vốn hiện tại, đầu tư phát triển hoạt động sản xuât kinh doanh góp phầnnâng cao đời sống, thu nhập,…
- Khi hoạt động cho vay của ngân hàng được nâng cao sẽ giảm thiểuchi phí, phiền hà cho khách hàng
Chính những lý do trên nên việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vaycủa ngân hàng là điều tất yếu, cần thiết với tất cả các ngân hàng đã, đang và
sẽ tham gia vào thị trường tài chính và đối với tất cả các khách hàng vay vốnhiện nay
1.3.2 Một số nhân tố ảnh hưởng đên hiệu quả sử dụng vốn vay của ngân hàng
- Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý bao gồm luật, các văn bản dưới luật,… Mọi quy địnhpháp luật về kinh doanh đều tác động lên kết quả kinh doanh của các ngânhàng Một môi trường pháp lý lành mạnh sẽ vừa tạo điều kiện cho các ngânhàng hoạt động, vừa đảm bảo tính bình đẳng cho mọi loại hình ngân hàng nógiúp điều chỉnh mọi hoạt động kinh doanh, cạnh tranh nhau một cách lành
Trang 20mạnh Khi môi trường pháp lý ổn định thì hoạt động cho vay của ngân hàng,cũng như hoạt động đi vay của khách hàng được diễn ra thuận lợi, an toàn tạotiền đề cho hai bên cùng có lợi.
- Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế là nhân tố bên ngoài tác động rất lớn đến hiệu quảkinh doanh nói chung và hiệu quả cho vay nói riêng cảu toàn ngân hàng.Trước hết, phải kể đến các chính sách đầu tư, chính sách phát triển kinh tế,chính sách cơ cấu,…Các chính sách kinh tế vĩ mô này tạo ra sự ưu tiên haykìm hãm sự phát triển của từng ngành, từng vùng kinh tế cụ thể do đó tácđộng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Việc tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, các cơ quan quản lý Nhànước làm tốt công tác dự báo để điều tiết đúng đắn các hoạt động đầu tư; việc
xử lý tốt các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, quan hệ tỷ giá hối đoái; việc đưa
ra chính sách thuế, chính sách lãi suất,… đều là những vấn đề hết sức quantrọng, tác động mạnh mẽ đến kết quả và hiệu quả của ngân hàng
- Các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng
Các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng như hệ thống giao thông, hệ thống thôngtin liên lạc, điện, nước,… cũng như sự phát triển của giáo dục đào tạo,… đều
là những nhân tố tác động đến hiệu quả cho vay của ngân hàng Nếu ngânhàng được xây dựng ở khu vực có hệ thống giao thông thuận lợi, điện, nướcđầy đủ, dân cư đông đúc, có trình độ dân trí cao sẽ có nhiều điều kiện thuậnlợi để phát triển kinh doanh, tăng số lượng khách hàng, tăng chỉ tiêu cho vay,giảm tỷ lệ nợ xấu,…
Trình độ dân trí tác động lớn đến chất lượng hoạt động cho vay vì khi đóviệc tuyên truyền giải thích cho người dân về các sản phẩm dịch vụ của ngânhàng sẽ dễ dàng hơn Mặt khác người dân cũng có ý thức hơn trong việc sửdụng vốn vay và trả nợ vốn vay cho ngân hàng Tất cả những yếu tố đó đềulàm tăng hiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàng
Trang 21- Lực lượng lao động
Ngân hàng là ngành kinh doanh trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ nênnhân tố con người là yếu tố không thể thiếu trong các hoạt động giao dịch vàvới nghiệp vụ cho vay cũng không phải là ngoại lệ Mặc dù hiện nay hoạtđộng cho vay tại các ngân hàng đã áp dụng nhiều trang thiết bị, máy móc hiệnđại tuy nhiên vẫn không thể thiếu con người Bởi vì: thứ nhất máy móc dù cótối tân đến đâu cũng do con người chế tạo ra Nếu không có lao động sáng tạocủa con người sẽ không có máy móc thiết bị Thứ hai, máy móc thiết bị dùhiện đại đến đâu cũng cần phải phù hợp với trình độ tổ chức, trình độ kỹthuật, trình độ sử dụng máy móc của người lao động Thứ ba, đây là nghiệp
vụ đòi hỏi mỗi cán bộ ngân hàng phải tiếp xúc với nhiều thành phần trong xãhội, nhiều người với độ tuổi tính cách, nhu cầu khác nhau nên lực lượng laođộng đóng vai trò hết sức quan trọng Chính vì những lý do trên nên lựclượng lao động sẽ là một trong các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt độnghco vay của ngân hàng
- Công nghệ kỹ thuật và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật
Công nghệ quyết định năng suất lao động và chất lượng sản phẩm dịch
vụ nên sự hoàn thiện máy móc thiết bị gắn bó chặt chẽ đến việc tăng năngsuất lao động, tăng chất lượng sản phẩm dịch vụ Với ngân hàng thì việc ứngdụng tiến bộ kỹ thuật là hoạt động cần thiết vì chỉ có khoa học công nghệ tốtthì ngân hàng mới có thể thực hiện tốt các chức năng của mình là tín dụng vàtrung gian thanh toán Đây chính là cơ sở để ngân hàng nâng cao uy tín,thương hiệu trên thị trường tín dụng gián tiếp giúp ngân hàng mở rộng thịtrường tăng lợi nhuận
- Nhân tố quản trị
Càng ngày nhân tố quản trị càng đóng vai trò quan trọng đối với hoạtđộng của tất cả các doanh nghiệp nói chung và ngân hàng nói riêng Quản trịtác động đến việc xác định hướng đi cho toàn ngân hàng, là nhân tố đầu tiên
và quan trọng nhất quyết định sự thành công, hiệu quả kinh doanh cao hay
Trang 22thấp Định hướng đúng và luôn định hướng đúng là cơ sở để đảm bảo hiệuquả lâu dài.
Với phẩm chất và tài năng của mình, đội ngũ các nhà quản trị đặc biệt lànhà quản trị cấp cao có vai trò bậc nhất ảnh hưởng tới sự tồn tại của ngânhàng
- Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin
Trên thị trường tài chính ngày càng cạnh tranh quyết liệt nên ngân hàngcần có hệ thống thông tin chính xác, kịp thời, đầy đủ Những thông tin chínhxác được cung cấp kịp thời sẽ là cơ sở vững chắc để nhà quản lý đưa ra cácquyết định kinh doanh có hiệu quả cao, đề ra được các phương hướng hoạtđộng, xây dựng được chiến lược kinh doanh dài hạn đem lại thắng lợi trongcạnh tranh, mở rộng được thị phần, gia tăng được khách hàng tiềm năng
Do nhu cầu thông tin ngày càng lớn nên việc tổ chức khoa học hệ thốngthông tin nội bộ tốt để vừa đáp ứng thông tin vừa đảm bảo giảm chi phí trongqua trình thu thập, phân tích, xử lý, lưu trữ và sử dụng thông tin
1.3.3 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay ở một số quốc gia
- Bangladesh
Ở đây có ngân hàng Grameen (GB) là ngân hàng chuyên phục vụ ngườinghèo, chủ yếu là phụ nữ nghèo Để phát triển, GB phải tự bù đắp các chi phíhoạt động Như vậy, GB hoạt động như các NHTM khác không được bao cấp
từ phía Chính phủ GB thực hiện cơ chế lãi suất thực dương, do vậy lãi suấtcho vay tới các thành viên luôn cao hơn lãi suất trên thị trường GB cho vaytới các thành viên thông qua nhóm tiết kiệm và vay vốn GB cho vay không
áp dụng biện pháp thế chấp tài sản mà chỉ cần tín chấp qua các nhóm tiếtkiệm và vay vốn Thủ tục vay vốn của GB rất đơn giản và thuận tiện, ngườivay vốn chỉ cần làm đơn và nhóm bảo lãnh là đủ Nhưng ngân hàng có cơ chếkiểm tra rất chặt chẽ, tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng vốn đúng mụcđích và có hiệu quả GB được quyền đi vay và ủy thác nhận tài trợ từ các tổchức trong và ngoài nước, huy động tiền gửi, tiết kiệm của các thành viên,
Trang 23quản lý các quỹ của nhóm và được phát hành trái phiếu vay nợ GB hoạt độngtheo cơ chế lãi suất thực dương, được Chính phủ cho phép hoạt động theo luậtriêng, không bị chi phối bởi luật tài chính và luật ngân hàng hiện hành củaBangladesh.
- Thái Lan
Ngân hàng nông nghiệp và hợp tác xã tín dụng (BAAC) là ngân hàngthương mại quốc doanh do Chính phủ thành lập Hàng năm được Chính phủtài trợ vốn để hỗ trợ vốn để thực hiện chương trình hỗ trợ vốn cho nông dân.Những người có mức thu nhập dưới 1000 Bath/năm và những người nông dân
có ruộng thấp hơn mức trung bình trong khu vực thì được ngân hàng cho vay
mà không cần thế chấp tài sản chỉ cần thế chấp bằng sự cam kết bảo đảm củanhóm, tổ hợp tác sản xuất Lãi suất cho vay đối với hộ nông dân nghèothường được giảm 1- 3%/năm so với lãi suất cho vay các đối tượng khác Kếtquả là năm 1995 BAAC tiếp cận được 85% khách hàng là nông dân và cótổng nguồn vốn là 163.210 triệu Bath Sở dĩ có được điều này là do Chínhphủ đã quy định các NHTM khác phải dành 20% số vốn huy động được đểcho vay lĩnh vực nông thôn Số vốn này có thể cho vay trực tiếp hoặc gửi vàoBAAC nhưng thông thường các ngân hàng gửi vào BAAC
- Malaysia
Trên thị trường chính thức hiện nay của Malaysia, việc cung cấp tíndụng cho lĩnh vực nông thôn chủ yếu là do ngân hàng nông nghiệp Malaysia(BPM) đảm nhận Đây là ngân hàng thương mại quốc doanh, được Chính phủthành lập và cấp 100% vốn tự có ban đầu BMP chú trọng cho vay trung vàdài hạn theo các dự án và các chương trình đặc biệt Ngoài ra, ngân hàng còn
có cho vay hộ nông dân qua các tổ chức tín dụng trung gian khác như: Ngânhàng nông thôn và hợp tác xã tín dụng Ngoài ra Chính phủ còn buộc cácNHTM khác phải gửi 20,5% số tiền huy động được vào ngân hàng trungương (trong đó có 3% dự trữ bắt buộc) để làm vốn cho vay đối với NHTW vàkhông phải nộp thuế cho Nhà nước
Trang 24- Tây Ban Nha
Hơn 50% ngân hàng Tây Ban Nha đã thực hiện đổi mới hoạt động và tổchức nhằm mục tiêu quản trị rủi ro trong hoạt động như: thành lập một bộphận riêng biệt chuyên về RRHĐ, đổi mới hệ thống báo cáo và áp dụng côngnghệ hiện đại Một số ngân hàng sử dụng tối đa nguồn lực từ bên ngoài đểquản trị RRHĐ, như ING Group thuê IBM để quản trị RRHĐ, Citibank sửdụng phần mềm CLS (continuous linked settlement) Citibank thực hiện quảntrị RRHĐ theo các tiêu chuẩn và chính sách rủi ro và kiểm soát trên cơ sở tựđánh giá rủi ro Hoạt động của các phòng ban, đơn vị kinh doanh được xácđịnh, đánh giá thường xuyên; từ đó các quyết định điều chỉnh và sửa đổi hoạtđộng để giảm thiểu RRHĐ được đưa ra Các hoạt động này được tài liệu hóa
và công bố trong ngân hàng Các chỉ số đo lường rủi ro chính được xác định
kỹ lưỡng và cụ thể - và đấy là điều kiện để Citibank thực hiện quản trị RRHĐ
- Singgapore
Khung quản trị RRHĐ cũng được vận dụng một cách linh hoạt cho phùhợp với điều kiện của từng quốc gia, từng ngân hàng Ngân hàng DBS(Singapore) đã cụ thể hóa khung quản trị trên như sau:
Các RRHĐ được phân tích trên hai giác độ: tần suất xuất hiện và mức
độ tác động Từ đó, DBS xác định cách thức tổ chức và xây dựng các chươngtrình giảm thiểu các mức RRHĐ như: kiểm soát nội bộ, bảo hiểm quốc tế.Tại DBS, các công cụ và kĩ thuật quản trị RRHĐ được sử dụng như kiểm soát
tự đánh giá, quản lý sự kiện, phân tích rủi ro và báo cáo
- Kinh nghiệm của một số ngân hàng trong nước
Gần cuối năm 2008, ngành tài chính ngân hàng phải đón nhận tin rấtxấu từ cơn bão tài chính khởi nguồn ở Mỹ và khi cơn bão tài chính toàn cầuthổi qua và đánh sụp không ít các ngân hàng quy mô lớn và vững mạnh vàoloại bậc nhất của các nền kinh tế công nghiệp phát triển ở Tây Âu và Bắc Mỹ,không ít người đã lo ngại cho hệ thống ngân hàng của chúng ta Nhưng điềumay mắn là chúng ta chỉ nằm ở vùng “ngoại vi” của cơn bão nên không phải
Trang 25chịu sự tàn phá trực tiếp của nó Không những thế, chính nhờ sự xuất hiện của
“cơn bão” và nhìn thấy sự đổ vỡ của ngành ngân hàng tại Mỹ, các ngân hàngViệt Nam đã kịp thời suy xét và nhìn nhận lại cách làm ăn của mình
Bước vào năm 2009 với biết bao gánh nặng đối với hệ thống Ngânhàng Việt Nam Gánh nặng từ cuộc khủng hoảng bên ngoài, gánh nặng từtrách nhiệm mà Chính phủ đặt lên vai với vai trò làm kênh dẫn xuất các chínhsách tài khoá, tiền tệ phục vụ tăng trưởng kinh tế, ưu tiên hàng đầu của Nhànước trong bối cảnh suy thoái chung toàn cầu Điều này đặt ra nhiều cơ hội,nhưng sẽ có rủi ro nếu các NHTM không có một quy trình kiểm soát chặt chẽtốc độ tăng trưởng tín dụng Nhận thức được những khó khăn này, rất nhiềungân hàng đã thận trọng hơn với các khoản cho vay, tìm mọi cách giảm rủi rotrong quá trình cho vay; đề phòng và miễn dịch với các dự án đầu tư hay chovay mà ở đó các khoản nợ xấu, khó đòi là cao; tập trung vào các khoản mụcsinh lợi tốt, khả năng hoàn vốn cao và có sự phát triển trong tương lai Đồngthời, chủ động chuyển hướng sang các dịch vụ ngân hàng bán lẻ và dịch vụphi tín dụng Vì vậy, có không ít ngân hàng thuộc nhóm các ngân hàng lớntrong khối cổ phần đã có tỷ trọng nguồn thu phí tín dụng khá cao Kết quả là
tỷ trọng nguồn thu phí tín dụng tại ACB hay Techcombank hiện ở khoảng50%, tại Sacombank khoảng 40% Cũng nhờ thế, đến giữa năm 2009, hệthống Ngân hàng Việt Nam đã dần đi vào hoạt động ổn định Hiện tỷ lệ nợxấu của Vietcombank là 3% (con số này thời điểm đầu năm là gần 4%), củaEximbank chỉ còn trên 2% so với mức 4,71% cuối năm 2008 và 6% thời điểmđầu năm 2009
- Bài học kinh nghiệm có khả năng vận dụng vào Việt Nam
Từ thực tế ở một số nước trên thế giới, với lợi thế của người đi sau,Việt Nam chắc chắn sẽ học hỏi và rút ra được nhiều bài học bổ ích cho mìnhlàm tăng hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng Tuy vậy vấn đề áp dụngnhư thế nào cho phù hợp với tình hình Việt Nam lại là vấn đề đáng quan tâm;bởi lẽ mỗi mô hình mỗi mô hình phù hợp với hoàn cảnh cũng như là điều kiện
Trang 26kinh tế của chính nước đó Vì vậy, cần vận dụng sáng tạo, linh hoạt vào môhình cụ thể Việt Nam.Sự sáng tạo như thế nào thể hiện ở trình độ những nhàhoạch định chính sách Qua việc nghiên cứu hoạt động của các ngân hàng trênThế giới rút ra bài học vận dụng vào Việt Nam:
Tín dụng ngân hàng cho hộ nông dân vay vốn cần được tài trợ, vì việccho nông dân vay vốn gặp rất nhiều rủi ro như rủi ro về nguồn vốn Khó khănnày cần có sự giúp đỡ từ phái Nhà nước, điều này ở các nước Thái Lan,Malaysia đã làm Sau đó là rủi ro cho vay, có nghĩa là rủi ro mất vốn, Nhànước phải có chính sách cấp bù cho những khoản tín dụng rủi ro bất khảkháng mà không thu hồi được vốn
Phát triển thị trường tài chính nông thôn và quản lý khách hàng vaynhỏ NHTM kinh doanh tín dụng đối với những ngành có tỷ suất lợi nhuậncao, tạo thuận lợi để hỗ trợ các hợp tác xã, ngân hàng huyện … để tạo kênhdẫn vốn tới nông dân, đặc biệt là nông dân nghèo Các ngân hàng cần cungcấp dịch vụ giám sát và điều hòa vốn tới các kênh dẫn vốn nêu trên, tạo rađịnh chế trung gian có thể đảm nhận dịch vụ bán lẻ tới hộ gia đình
Tiết giảm đầu mối quản lý: Các ngân hàng thúc đẩy để tạo nên cácnhóm liên đới chịu trách nhiệm, cung cấp cho ban quản lý kiến thức khả năngquản lý sổ sách, giám sát món vay tới từng thành viên của nhóm,… từ đóngân hàng hạch toán cho vay theo nhóm chứ không phải với mỗi thành viên
Đơn giản hóa thủ tục cho vay, thay thế yêu cầu thế chấp truyền thốngbằng việc đảm bảo nợ món vay
Mở rộng các hình thức tiết kiệm, cải tiến chất lượng phục vụ để thu húttiền gửi tiết liệm tự nguyện
Từng bước tiến tới hoạt động theo cơ chế lãi suất thực dương Lãi suấtcho vay tới người nghèo, tới khu vực nông thôn không nên quá thấp bởi vì lãisuất quá thấp sẽ không huy động được tiềm năng về vốn ở nông thôn, ngườivay vốn không có ý thức tiết kiệm và vốn được sử dụng không đúng mụcđích, kém hiệu quả kinh tế
Trang 27KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Nội dung trong chương 1 cho chúng ta cái nhìn khái quát về những hoạtđộng cơ bản của ngân hàng trong cơ chế thị trường, cung cấp cơ sở lý luậncho đề tài nghiên cứu
Qua nội dung trình được trình bày trong chương giúp ta có cái nhìnkhái quát về ngân hàng thương mại, giúp ta hiểu được: tín dụng ngân hàngNHTM, đặc điểm và vai trò của nó Đồng thời nội dung chương giúp cho tahiểu được các chỉ tiêu được sử dụng trong công tác đánh giá hiệu quả sử dụngvốn vay, cánh tính các chỉ tiêu đó, qua đó ta hiểu được cơ sở khoa học màngân hàng sử dụng trong việc đưa ra các mục tiêu chính sách của mình
Bên cạnh đó nội dung trong chương cho ta thấy được sự cần thiết phảinâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, xác định các nhân tố tác động đến hiệuquả sưe dụng vốn vay
Ngoài ra, kinh nghiệm tại nhiều nước cho thấy tín dụng được trợ cấpkhông phải là chìa khóa cho thành công của tài chính ở cơ sở Nhu cầu chínhcủa người nghèo, là dễ dàng và nhanh chóng vay được được vốn, và chi phígiao dịch thấp (thủ tục đơn giản và nhanh chóng nhận được tiền), chứ khôngphải tín dụng giá rẻ Do vậy, để bảo đảm khả năng phát triển bền vững về dàihạn, một chương trình tín dụng cần phải áp dụng lãi suất đủ để trang trải chiphí hoạt động cũng như bảo vệ giá trị thực của nguồn vốn
Trang 28Chương 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN VAY
TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
HUYỆN NGHI XUÂN, HÀ TĨNH
2.1 Tổng quan về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh
2.1.1 Sự hình thành và phát triển của NHN O &PTNT huyện Nghi Xuân
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Nghi Xuân làmột ngân hàng thương mại, là Chi nhánh trực tiếp của NHNO&PTNT tỉnh HàTĩnh, trực thuộc hệ thống NHNO&PTNT Việt Nam được thành lập và đi vàohoạt động từ ngày 01/07/1988 với nhiệm vụ chủ yếu là kinh doanh về tiền tệ,tín dụng và dịch vụ ngân hàng Trụ sở chính đống tại khối 2 - thị trấn NghiXuân - huyện Nghi Xuân - tỉnh Hà Tĩnh Từ khi thành lập đến nay với sự cốgắng nỗ lực của lãnh đạo và toàn thể công nhân viên, sự hỗ trợ của ngành, củatỉnh, của các cơ quan chức năng nên Ngân hàng đã đạt được nhiều kết quả vàthành tích to lớn Các chỉ tiêu kế hoạch năm sau luôn vượt cao hơn so vớinăm trước
Trải qua 20 năm phát triển, NHNo&PTNT huyện Nghi Xuân đã thuđược nhiều thành tựu đáng kể và ngân hàng ngày càng có vai trò, vị trí quantrọng trong việc thúc đẩy kinh tế xã hội Hà Tĩnh phát triển, nhất là trong lĩnhvực nông nghiệp - nông thôn Từ khi thành lập, Chi nhánh NHNo&PTNThuyện Nghi Xuân đã trải qua các giai đoạn sau:
Giai đoạn từ 1988 - 1990: là thời kỳ chuyển đổi khó khăn của hệ thốngngân hàng nói chung và NHNo&PTNT huyện Nghi Xuân nói riêng Đây cũng
là thời kỳ hệ thống ngân hàng chuyển đổi từ hệ thống ngân hàng bao cấp sangNHTM Trong bối cảnh này, đối tượng hoạt động kinh doanh của ngân hàngchủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước và đơn vị tập thể Nhưng do tác độngcủa chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang
Trang 29nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN thì các doanh nghiệp nhànước và các đơn vị tập thể lần lượt tan rã, có rất nhiều quỹ tín dụng vỡ nợ,còn các ngân hàng thị nợ quá hạn và nợ khó đòi tăng lên một cách nhanhchóng Chi nhánh ngân hàng nông nghiệp huyện Nghi Xuân cũng không thểtránh khỏi xu hướng chung của hệ thống ngân hàng lúc bấy giờ và gặp tháchthức rất lớn.
Giai đoạn 1991 - 1996: thời kỳ này kinh tế huyện Nghi Xuân đã đạtđược những kết quả khả quan, sản xuất nông nghiệp đang trên đà phát triểnnhanh và ổn định, các công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp dần thích nghi với
cơ chế thị trường, kinh tế phát triển theo hướng nhiều thành phần có địnhhướng XHCN Từ thực tế trên, NHNo&PTNT huyện Nghi Xuân đã tập trungchỉ đạo đổi mới cơ chế kinh doanh theo hướng thay đổi cơ cấu đầu tư vốn từquốc doanh là chủ yếu sang hộ sản xuất cá thể, cương quyết thực hiện khoántài chính, gắn hiệu quả kinh doanh với lợi ích người lao động Bên cạnh hìnhthức huy động vốn truyền thống như tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi từ tổ chứckinh tế, ngân hàng cón mở rộng quan hệ với các tổ chức tín dụng, tổ chứckinh tế - xã hội để huy động vốn
Năm 1997: do chịu sự ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới, tácđộng xấu của khủng hoảng tài chính tiền tệ (1996 - 1997), cùng với đó lànăng lực bản thân ngân hàng còn yếu, cơ sở vật chất kỹ lạc hậu, nợ quá hạnchiếm tỷ trọng lớn, do đó ngân hàng vào thời kỳ này gặp nhiều khó khăn.Trước thực trạng đó, với phương châm “khách hàng là thượng đế”NHNo&PTNT huyện Nghi Xuân đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho nghiệp
vụ gửi và lĩnh tiền mặt Các điều kiện phục vụ khách hàng đã được trang bịđầy đủ hơn, phong cách giao dịch thay đổi theo hướng tiếp cận với cơ chế thịtrường nên khách hàng đến với ngân hàng ngày càng đông
Sau 5 năm thực hiện QĐ số 67/1999/QĐ - TTg ngày 30/03/1999 củaThủ tướng Chính phủ về một số chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ pháttriển nông nghiệp và nông thôn, Chi nhánh đã đạt được những thành tích cao,gia tăng hộ cho vay,…
Trang 30Giai đoạn 2004 - 2009 là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất củaNHNo&PTNT huyện Nghi Xuân , giai đoạn này ngân hàng áp dụng cơ chếgiao dịch một cửa và bước đầu gặt hái được thành công Nguồn huy độngtrong giai đoạn này tiếp tục tăng trưởng, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn chosản xuất kinh doanh của nền kinh tế địa phương, từng bước nâng cao hiệu quảđồng vốn Năm 2009 tốc độ huy động vốn tại địa phương tăng 24,1%, dư nợtrong công tác đầu tư tín dụng đạt tốc độ tăng 20,85%
Như vậy từ khi thành lập đến nay NHNo&PTNT huyện Nghi Xuân đãđạt được nhiều thành tựu Từ một ngân hàng hoạt động theo kiểu bao cấp thìđến nay ngân hàng nông nghiệp Nghi Xuân đã trở thành một tổ chức kinhdoanh tiền tệ tín dụng luôn có lãi và không ngừng tăng trưởng về số lượng vàchất lượng
2.1.2 Kết quả kinh doanh đạt được qua 3 năm 2007- 2008 -2009
Cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Nghi Xuân qua 03 năm 2007-2008-2009
Bảng 2.1: Cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng NHNo&PTNT huyện Nghi Xuân qua 03 năm 2007 - 2008 - 2009
Đvt: Triệu đồng
Nguồn vốn
Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
(Nguồn: Phòng kinh doanh năm 2009)
Qua việc quan sát bảng 2.1 ta thấy nguồn vốn của ngân hàng tăng lênqua từng năm cụ thể 2008 tăng 7,24% so với 2007, 2009 tăng 14,14% so với
Trang 312008 Sỡ dĩ nguồn vốn tăng là do các nguồn vốn như vốn tự có, vốn vay , vốnhuy động đều tăng lên Nguồn vốn tự có tăng chứng tỏ trong thời gian quangân hàng kinh doanh có lãi, vốn huy động tăng chứng tỏ thị phần ngân hàngtăng lên, vốn vay tăng chứng tỏ uy tín của ngâng hàng trên thị trường tàichính ngày càng lớn mạnh hơn.
Kết quả kinh doanh của ngân hàng qua 3 năm 2007 - 2008 - 2009
Thực hiện quyết định số 67/1999/TTg của Thủ Tướng Chính phủ cho hộsản xuất vay vốn để thực hiện sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông - lâm -ngư nghiệp và các hoạt động dịch vụ phục vụ nông nghiệp nông thôn Qua 3năm gần đây NHNo&PTNT huyện Nghi Xuân đã đạt được những thành tíchđáng khích lệ đó là việc doanh số cho vay các hộ sản xuất cao, làm tăng tổng
dư nợ sản xuất Trong những năm qua với sự gắng của toàn thể cán bộ côngnhân viên ngân hàng đã đến từng hộ gia đình cung ứng vốn, đẩy nhanh tiến độphát triển kinh tế hộ, nhờ có nguồn vốn vay mà hộ gia đình đầu tư thâm canh,
đa dạng hóa nghành nghề phát triển chuyên môn hóa kết hợp phát triển tổnghợp, áp dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi cơcấu cây trồng, vật nuôi,… nâng cao năng suất sản lượng và hiệu quả kinh tế.Mặt khác, tín dụng đã đem lại lợi nhuận và tăng trưởng cho ngân hàng
Trong 3 năm từ 2007 - 2009, ngân hàng hoạt động hết năng suất để thuđược nguồn lợi cao nhất Để có được kết quả như mong muốn, tiêu chuẩn đầutiên của kinh doanh là tăng nguồn thu tới mức có thể đồng thời giảm chi phítới mức thấp nhất Để hiểu rõ hơn về kết quả kinh doanh của ngân hàng ta đivào tìm hiểu biểu đồ 2.1
Trang 32Biểu đồ 2.1: Kết quả kinh doanh qua 3 năm 2007 - 2008 - 2009
của NHNo&PTNT huyện Nghi Xuân
(Nguồn: Phòng kinh doanh năm 2009)
Qua biểu đồ ta thấy, năm 2007 tổng thu là 32.414 tr.đ, tổng chi là25.259 tr.đ Sang năm 2008, tổng chi tăng lên 33.628 tr.đ, đồng thời tổng thucũng tăng lên khá cao 46.032 tr.đ Đến năm 2009, tổng thu đạt 50.045 tr.đ, sựtăng mạnh của tổng thu trong năm nay là do chi nhánh đã đẩy mạnh tăngtrưởng tín dụng, ngoài khoản thu chính từ tiền lãi tiền vay, chi nhánh chútrọng đến các khoản thu về dịch vụ, tổng chi năm nay là 35.261 tr.đ
Nhìn chung, qua 3 năm chênh lệch (thu - chi) tức là lợi nhuận sau thuếtăng lên rõ rệt, năm 2007 chênh lệch này là 7.155tr.đ, đến năm 2008 phầnchênh lệch này tăng lên 12.404 tr.đ Tới năm 2009, chênh lệch này là 14.784tr.đ, tăng 2.380 tr.đ so với 2008
Tóm lại, kết quả kinh doanh tín dụng qua 3 năm có sự biến động tăng
Đó là kết quả của sự nỗ lực của cán bộ lãnh đạo cũng như toàn thể công nhânviên của NHNo&PTNT huyện Nghi Xuân
Triệu đồng
0 10000
Trang 332.2 Hiệu quả sử dụng vốn vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Nghi Xuân
2.2.1 Thực trạng hoạt động cho vay của ngân hàng
- Lãi suất cho vay của ngân hàng qua 3 năm 2007-2008-2009
Mức lãi suất cho vay
Khi đến một ngân hàng vay vốn điều kiện đầu tiên của người vay vốnquan tâm chính là mức lãi suất cho vay của ngân hàng Bởi vì mức lãi suất đóảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi bên cho vay và bên đi vay.Việc quyết địnhlãi suất cho vay phải dựa trên các thông số về mức kỳ vọng sinh lời của ngânhàng, rủi ro tín dụng của khoản vay và tỷ lệ an toàn vốn Lãi suất do thốngđốc ngân hàng nhà nước Việt Nam dựa trên hoạt động của các ngân hàng hoạtđộng có uy tín như ngân hàng nông nghiệp, ngân hàng công thương, ngânhàng ngoại thương,… mà đưa ra mức lãi suất trần hợp lý Nhà nước đưa rabiên độ giao động đối với từng tổ chức tín dụng và tùy thuộc vào từng loạihình cho vay (ngắn hạn, trung hạn)
Đối với NHNo&PTNT huyện Nghi Xuân lãi suất cho vay phải đượcGiám đốc chi nhánh và các phòng nghiệp vụ trực tiếp cho vay giám sát chặtchẽ, bảo đảm nguyên tắc bù đủ các loại chi phí như: chi phí hoạt động, chi phívốn, chi phí rủi ro,… và các khoản sinh lời cần thiết để hoạt động của ngânhàng có lãi và tăng trưởng Hiện nay, tại Chi nhánh NHNo&PTNT huyệnNghi Xuân chỉ áp dụng cho vay ngắn hạn, trung hạn Với quy mô vốn cònnhiều hạn chế nhưng Chi nhánh vẫn luôn cố gắng điều chỉnh mức lãi suất chovay một cách linh hoạt, tối ưu nhằm đáp ứng ngày càng cao nhu cầu củakhách hàng, phù hợp với điều kiện ngân hàng Do vậy trong những năm qua
số hộ có nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất tại ngân hàng không ngừng tăng.Mức lãi suất cho vay được thể hiện ở bảng 2.2
Trang 34Bảng 2.2: Mức lãi suất cho vay hộ sản xuất tại Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Nghi Xuân qua 3 năm 2007-2008-2009
(ĐVT: % năm)
Năm
Lãi suất cho vay
(Nguồn: Phòng kinh doanh năm 2009)
Đánh giá về mức lãi suất
Nhìn vào bảng 2.3 thì thấy thời hạn vay ngắn hạn có ưu đãi hơn về lãisuất, vì vay ngắn hạn là vay trong một khỏang thời gian ngắn (dưới 12 tháng).Đây chính là lợi thế của vay ngắn hạn so với vay trung hạn Qua 3 năm, nhìnchung lãi suất cho vay ngắn hạn, trung hạn đều có những biến động Năm
2007, lãi suất cho vay ngắn hạn là 12% năm, lãi suất cho vay trung hạn là13,5% Đến năm 2008, do nền kinh tế lạm phát, đồng tiền mất giá nên mức lãisuất cho vay ngắn hạn, trung hạn được ngân hàng điều chỉnh bằng nhau Năm
2009, mức lãi suất cho vay ngắn hạn được điều chỉnh xuống còn 14% năm,trung hạn vẫn giữ nguyên Với mức lãi suất mà ngân hàng đưa ra thì khôngnhững đảm bảo khả năng thanh toán của nông dân mà còn đảm bảo duy trìquá trình kinh doanh của ngân hàng diễn ra một cách hiệu quả Chính vì vậymặc dù có sự cạnh tranh của các tổ chức tín dụng khác nhưng Chi nhánh ngânhàng vẫn giữ được thị phần ổn định, có vị trí vững chắc trong thị trường tàichính trên địa bàn huyện nhà
- Doanh số cho vay, doanh số thu nợ, dư nợ và dư nợ quá hạn của ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Nghi Xuân qua 3 năm 2007-2008-2009
- Doanh số cho vay của ngân hàng qua 3 năm 2007 - 2008 -2009
Trang 35Doanh số cho vay (DSCV) chính là tổng số tiền cho vay trong mộtkhoảng thời gian nhất định DSCV nói lên quy mô hoạt động của ngân hàng,phản ánh mối quan hệ và tình hình cung cấp vốn giữa ngân hàng với kháchhàng Để có cái nhìn tổng quan về DSCV chúng ta quan sát biểu đồ 2.2.
Biểu đồ 2.2: DSCV, DSTN, dư nợ của NHNo&PTNT huyện Nghi Xuân
qua 3 năm 2007-2008 -2009
(Nguồn: Phòng kinh doanh năm 2009)
Qua biểu đồ 2.2 cho thấy DSCV tăng lên qua các năm Năm 2008, đạt305.422 tr.đ tăng 55.157 tr.đ so với năm 2007, sang năm 2009 thì DSCV đạt347.360 tr.đ tăng 41.938 tr.đ so với năm 2008
Trong năm 2007 thì DSCV trung hạn đạt 146.320 tr.đ, chiếm tỷ trọng58,47% trong tổng DSCV Nhưng đến năm 2008, DSCV trung hạn chiếm tỷtrọng nhỏ hơn DSCV ngắn hạn và giảm so với năm 2007 Cụ thể năm 2008,DSCV trung hạn đạt 104.264 tr.đ, chiếm 34,14% giảm 42.056 tr.đ so với năm
2007 Do trong năm 2008, hoạt động ngân hàng trên địa bàn chịu sự tác độngchung của nền kinh tế, lạm phát cao, Giám đốc Chi nhánh NHNo&PTNThuyện Nghi Xuân và các phòng nghiệp vụ trực tiếp cho vay đã điều chỉnh lãisuất cho vay trung hạn lên (1,5% tháng) bằng lãi suất cho vay ngắn hạn Vì
Dư nợ
Trang 36vậy quy mô cho vay trung hạn đã giảm xuống một cách rõ rệt Sang năm
2009, do nền kinh tế đang được phục hồi nên DSCV đạt 347.360 tr.đ, trong
đó DSCV trung hạn là 149.235 tr.đ, tăng 44.971tr.đ so với năm 2008 Tuynhiên do lãi suất cho vay ngắn hạn được điều chỉnh giảm xuống nên DSCVngắn hạn đạt 198.125 tr.đ, chiếm 57,04% tổng DSCV
- Doanh số thu nợ của ngân hàng qua 3 năm 2007-2008-2009
Kết quả thu nợ phản ánh chất lượng tín dụng của ngân hàng vì cáckhoản nợ được thu hồi đầy đủ chính là những khoản nợ có chất lượng đảmbảo Quy mô hoạt động tín dụng của một ngân hàng cũng được phản ánh quadoanh số thu nợ (DSTN) Hoạt động thu nợ diễn ra sau khi quá trình cho vayhoàn tất, việc thu nợ bao gồm cả gốc và lãi Tại Chi nhánh NHNo&PTNThuyện Nghi Xuân chỉ tiêu thu nợ được xác định là một chỉ tiêu đánh giá chấtlượng cán bộ tín dụng Vì vậy, công tác thu nợ trong năm qua được ngân hàngchú trọng có nhiều biện pháp chỉ đạo có hiệu quả, đạt được nhiều kết quảđáng khích lệ
Cụ thể năm 2007, DSTN trung hạn đạt 125.780 tr.đ, chiếm tỷ trọng59,72% tổng DSTN Sang năm 2008 thì DSTN trung hạn giảm 23.718 tr.đ sovới năm 2007, đạt 102.062 tr.đ, chiếm 39,77% tổng DSTN Sở dĩ chỉ tiêu nàygiảm vì trong năm này lãi suất trung hạn tăng cao dẫn đến DSCV trung hạngiảm kéo theo DSTN trung hạn giảm, thay vào đó DSTN ngắn hạn tăng69.710 tr.đ so với 2007, đạt mức 154550 tr.đ Đến năm 2009, DSTN đạt297.415 tr.đ tăng 40.803 tr.đ so với năm 2008, trong đó DSTN trung hạn tăng16.250 tr.đ, DSTN ngắn hạn tăng 24.553 tr.đ
- Dư nợ của ngân hàng qua 3 năm 2007-2008- 2009
Bên cạnh DSCV và DSTN phản ánh quy mô, hiệu quả của ngân hàngthì dư nợ cũng phần nào phản ánh tình hình hoạt động của NHNo&PTNThuyện Nghi Xuân Dư nợ là số tiền còn lại sau khi lấy số tiền cho vay trừ đi
số tiền mà khách hàng đã hoàn trả trong một thời kỳ nào đó hay là số tiền màkhách hàng còn dư nợ ngân hàng tại một thời điểm nào đó Qua biểu đồ 2.2
Trang 37ta có cái nhìn tổng quát về tình hình dư nợ của ngân hàng trong ba năm
2007-2009 Nhìn chung tình hình dư nợ tăng lên qua 3 năm, từ 191.669 tr.đ năm
2007, đến 239.904 tr.đ năm 2008, sang năm 2009 thì tăng lên đến 289.142tr.đ Trong đó dư nợ ngắn hạn, dư nợ trung hạn có xu hướng bù trừ cho nhau
Cụ thể năm 2007, 2008 dư nợ ngắn hạn tăng lên từng năm từ 81.881tr.đ năm 2007, lên 145.085 tr.đ năm 2008 Ngược lại dư nợ trung hạn lại giảmqua hai năm đó, năm 2007 là 109.788 tr.đ, sang 2008 là 94.819 tr.đ Sở dĩ dư
nợ trung hạn năm 2008 giảm so với 2007 là do DSCV năm 2008 thấp hơn
2007 Đến năm 2009, thì dư nợ ngắn hạn là 132.036 tr.đ, dư nợ trung hạn lạităng lên 157.106 tr.đ
- Dư nợ quá hạn của ngân hàng qua 3 năm 2007-2008-2009
Tình hình dư nợ HSX càng ngày càng tăng chứng tỏ quy mô kinhdoanh của ngân hàng ngày càng được mở rộng và đó là triển vọng tốt Songđiều đó sẽ không đạt kết quả mong muốn nếu ngân hàng chỉ chú trọng đếnviệc mở rộng cho vay mà không chú ý đến dư nợ quá hạn (DNQH) Để đánhgiá chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng trong việc cho vay vốn đếnHSX ta xem xét chỉ tiêu DNQH Nhìn vào biểu đồ 2.3 ta thấy rõ hơn về vấn
đề nợ quá hạn của NHNo&PTNT huyện Nghi Xuân
Biểu đồ 2.3 Dư nợ quá hạn của NHNo&PTNT huyện Nghi Xuân
Trang 38Quan sát biểu đồ 2.3, ta thấy DNQH hộ sản xuất năm 2008 là 4.148tr.đ, tăng 2.479 tr.đ so với năm 2007 Sang năm 2009, DNQH tiếp tục tănglên mức 4.125 tr.đ Sở dĩ trong hai năm này DNQH tăng lên là do thời tiết cónhiều biến đổi khó lường mưa lụt nhiều nhưng cũng có lúc nắng hạn kéo dàikhông tuân theo quy luật tự nhiên, kèm theo đó là nền kinh tế bị khủng hoảng
đã làm cho hộ sản xuất không có khả năng trả nợ đúng hạn Trong tổngDNQH thì DNQH của vốn trung hạn chiếm tỷ trọng lớn trong năm 2007,
2008 Cụ thể năm 2007, DNQH trung hạn là 958 tr.đ, chiếm 57,47%, năm
2008 là 2.974 tr.đ, chiếm 71,68% tăng 2.016 tr.đ so với 2007 Tuy nhiên sang
2009 thì DNQH trung hạn lại giảm xuống chỉ còn 1.457 tr.đ, chiếm 35,32%.Điều này là tất yếu vì trong năm 2008 lãi suất trung hạn tăng cao nên sốkhách hàng vay nguồn vốn giảm xuống dẫn đến nợ quá hạn 2009 giảm theonguồn vốn giảm xuống dẫn đến nợ quá hạn 2009 giảm theo
Tình hình khách hàng vay vốn tại NHNo&PTNT huyện Nghi Xuân qua 3 năm 2007 -2008- 2009
- Khách hàng phân theo thành phần kinh tế
+ Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Hoạt động vay vốn của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ởNHNo&PTNT huyện Nghi Xuân trong 3 năm qua diễn biến như sau:
Năm 2009, là năm NHNo&PTNT huyện Nghi Xuân đạt được nhiềuthành tựu đáng kể trong hoạt động cho vay Với DSCV đạt 347.360 tr.đ, tăng13,73% so với năm 2008, trong đó phải kể đến DSCV của các doanh nghiệpngoài quốc doanh đạt 30.824 tr.đ, chiếm 8,87% trong tổng DSCV, DSCV củaHTX là 2.347 tr.đ, tăng với tỷ lệ đáng kể là 8,50% so với năm 2008
DSTN đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh cũng tăng lên quacác năm Năm 2007 DSTN đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đạt16.903 tr.đ, chiếm tỷ trọng 8,03% trong tổng DSTN Sang năm 2008 DSTNđạt 22.639 tr.đ, chiếm 8,82% tổng DSTN, tăng 33,93% so với năm 2007 Đếnnăm 2009, DSTN chiếm tỷ trọng 7,83% trong tổng DSTN của ngân hàng,
Trang 39tương ứng 23.275 tr.đ So với năm 2008 thì năm này DSTN tăng lên 2,81%.
Sự tăng lên của chỉ tiêu này thể hiện sự nỗ lực của cán bộ tín dụng và ý thứccủa các doanh nghiệp là rất tốt so với các thành phần kinh tế khác, bởi lẽngoài trình độ nhận thức của người vay vốn thì doanh nghiệp còn muốn thiếtlập mối quan hệ giao dịch với ngân hàng lâu dài
Dự nợ năm 2007 các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 7,29%,tương ứng 13.970 tr.đ Sang năm 2008 dư nợ của các doanh nghiệp ngoàiquốc doanh có xu hướng giảm Cụ thể doanh nghiệp ngoài quốc doanh giảm4,29% so với năm trước đó, đạt 13.370 tr.đ chiếm 5,57% tổng dư nợ Năm
2009 dư nợ doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 25,96%, đạt 16.842 tr.đ
+ Hộ gia đình
DSCV của hộ gia đình, các cá nhân luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổngDSCV của ngân hàng, đây là hướng đi đúng đắn phù hợp với xu thế phát triểncủa đất nước nói chung và trên địa bàn huyện nói riêng Cụ thể năm 2007DSCV cá nhân, hộ gia đình đạt 222.810 tr.đ Điều này cũng dễ hiểu vì NghiXuân là một huyện chủ yếu sản xuất nông nghiệp và một số hộ kinh doanhdịch vụ, buôn bán với quy mô nhỏ Ngoài ra các cá nhân, hộ gia đình còn vayvốn để phục vụ tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu thiếu vốn tạm thời, chính vì vậy
mà DSCV đối với thành phần này luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng DSCV.Năm 2008, DSCV cá nhân, hộ gia đình đạt 273.394 tr.đ, tăng 22,70% so vớinăm 2007 Còn hợp tác xã các thành phần kinh tế khác đạt 2.163 tr.đ, chiếm0,71% trong tổng DSCV, tăng 4,69% so với năm 2007
DSTN cá nhân, hộ gia đình luôn chiếm tỷ trọng lớn và tăng lên hàngnăm Năm 2007, DSTN cá nhân hộ gia đình đạt 191.711 tr.đ, chiếm 91,02%trong tổng DSTN, đến năm 2008 thì DSTN đạt 232.023 tr.đ, chiếm 90,42%tổng DSTN và tăng 21,03% so với năm 2007 Qua năm 2009, DSTN tăng17,67% so với năm trước, đạt 273.024 tr.đ, chiếm 91,79% trong tổng DSTN
Dư nợ năm 2008 của cá nhân, hộ gia đình là 176.623 tr.đ, chiếm92,15% trong tổng dư nợ của ngân hàng Năm 2009 dư nợ cá nhân hộ giađình tăng 20,28%so với năm 2008, đạt 271.206 tr.đ
Trang 40+ Hợp tác xã, khác
Trong khi đó DSCV của hợp tác xã, trang trại và các thành phần kinh tếkhác là 2.066 tr.đ, chiếm 0,83% tổng DSCV, của các doanh nghiệp ngoàiquốc doanh đạt 25.389 tr.đ, chiếm 10,14% tổng DSCV Sở dĩ hai thành phầnnày có tỷ lệ DSCV thấp là do trong cơ cấu kinh tế của địa phương hai thànhphần này đang chiếm tỷ trọng thấp
DSTN đối với các hợp tác xã và các thành phần kinh tế khác qua 3 nămbiến động cũng không kém Năm 2007, DSTN của thành phần này là 2.006tr.đ, năm 2008 thì DSTN giảm xuống còn 1.950 tr.đ, giảm 2,97% so với nămtrước đó Sang năm 2009, DSTN tiếp tục giảm 42,77% chỉ còn 1.116 tr.đ.Nhìn chung ta thấy tỷ trọng DSTN của hợp tác xã và các thành phần kinh tếkhác giảm dần trong tổng DSTN của ngân hàng Năm 2007, tỷ trọng DSTNcủa thành phần này là 0,95% trong tổng DSTN, đến năm 2008 tỷ trọng là0,76%, qua năm 2009 thì giảm xuống còn 0,38%
Dư nợ năm 2008 của hợp tác xã và các thành phần kinh tế khác chỉchiếm tỷ trọng là 0,56%, tương ứng 1.076 tr.đ Sang năm 2009 thì dư nợ củacác thành phần kinh tế lại tăng lên, hợp tác xã tăng 2,82% đạt 1.094 tr.đ
Nhìn chung thông qua các chỉ tiêu DSCV, DSTN theo thành phần kinh
tế của ngân hàng qua 3 năm 2007 - 2009 liên tục tăng, sự tăng lên thể hiện sựphát triển của nền kinh tế huyện nhà, các thành phần kinh tế, các doanhnghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình,…có hướng hồi phục và tái sản xuất mở rộng,
cơ cấu kinh tế chuyển dịch đạt hiệu quả cao Đồng thời khẳng định sự lớnmạnh về tình hình hoạt động cũng như quy mô của hệ thống NHNo&PTNThuyện Nghi Xuân Song, điều mà chúng ta nhận thấy rõ nhất là vai trò của cánhân, hộ gia đình vẫn chiếm vai trò chủ lực đối với địa phương
- Khách hàng phân theo ngành kinh tế.
+ Nông nghiệp
Nghi Xuân là địa bàn mà nông nghiệp vẫn chiếm đa số trong cơ cấukinh tế do đó trong tổng cơ cấu vay vốn phân theo ngành kinh tế của ngân