Về vấn đề quản lý hoạt động tự học không được nhiều tác giả quan tâm.Có thể điểm qua một số bài viết, công trình của các tác giả có bàn đến việcquản lý hoạt động tự học cho học sinh, sin
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
- -hồ phạm minh châu
“Một số biện pháp quản lý hoạt động
tự học của sinh viên khoa giáo dục mầm non trờng cao đẳng s phạm nghệ
an”
luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục
Chuyên ngành: quản lý giáo dục
Trang 2Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của cách mạngkhoa học công nghệ trên thế giới đòi hỏi mỗi chúng ta muốn tồn tại và pháttriển thì không thể chỉ dựa vào những kiến thức góp nhặt được từ sự truyềnđạt của thầy cô giáo, mà còn phải có khả năng tự học tập, tự nghiên cứu, tựchiếm lĩnh tri thức một cách thường xuyên, liên tục và suốt đời, đúng như lời
dạy của Bác Hồ phải “lấy tự học làm cốt”.[21, tr 168].
Tự học là một yêu cầu không thể thiếu đối với mỗi người nói chung vàmỗi sinh viên nói riêng Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ:
“tập trung nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học và sáng
tạo của mỗi học sinh” Đại hội lần thứ IX của Đảng tiếp tục chỉ đạo ngành
Giáo dục và Đào tạo “phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của
học sinh - sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề ”[13, tr 35].
Sinh viên, với tư cách là những chủ nhân tương lai của đất nước, có sứmệnh đưa đất nước sánh vai với các cường quốc năm châu Để hoàn thành sứmệnh vinh quang ấy, trong quá trình học tập, sinh viên nói chung và sinh viênngành sư phạm mầm non nói riêng cần phải có khả năng tự học, tự nghiêncứu, tự sáng tạo, tự cập nhật tri thức suốt đời để có đủ khả năng giáo dục thế
hệ trẻ trở thành chủ nhân tương lai của đất nước
Khoa GDMN Nghệ An (được thành lập từ năm 1997 trên cơ sở sát nhậptrường THSP Nghệ An vào trường CĐSP Nghệ An) có chức năng đào tạo độingũ giáo viên mầm non có trình độ Trung học sư phạm và Cao đẳng sư phạmcho tỉnh nhà Từ khi thành lập đến nay Khoa đã chú trọng đến việc nâng caochất lượng đào tạo qua việc cải tiến và hoàn thiện khung chương trình vàchương trình chi tiết của ngành học, bổ sung và bồi dưỡng đội ngũ giảng viên,từng bước hoàn thiện cơ sở vật chất Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng chấtlượng đào tạo chưa cao, chưa đáp ứng tốt yêu cầu của xã hội, ngành học củatỉnh nhà (kết quả học tập của sinh viên khoa GDMN chưa cao, tỷ lệ sinh viên
Trang 3tốt nghiệp loại khá - giỏi còn thấp) Đặc biệt là năng lực tự học, tự nghiên cứucủa sinh viên còn yếu, do vậy sinh viên ra trường chưa thích ứng nhanh với
sự thay đổi của các Chương trình giáo dục mầm non hiện nay và trong tươnglai Vì vậy việc tìm kiếm một số biện pháp quản lý để nâng cao chất lượnghoạt động tự học cho sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo củaKhoa là vấn đề cần được quan tâm đúng mức Từ thực tiễn trên, chúng tôi
chọn đề tài nghiên cứu: “Một số biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh
viên khoa Giáo dục mầm non trường Cao đẳng sư phạm Nghệ An”.
2 Mục đích nghiên cứu đề tài:
Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoaGDMN, trường CĐSP Nghệ An, nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạogiáo viên mầm non
3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu;
3.1 Khách thể nghiên cứu:
Quá trình quản lý hoạt động tự học của sinh viên
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
Một số biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa GDMN,trường CĐSP Nghệ An
3.3 Phạm vi nghiên cứu:
Số lượng cán bộ giảng viên : gồm 25 người
Số lượng sinh viên nghiên cứu gồm : 214 em hệ CĐSP ngành Giáo dụcmầm non trong đó
- 2 lớp CĐSP với số lượng 84 sinh viên (năm thứ 1)
- 1 lớp CĐSP với số lượng 45 sinh viên (năm thứ 2)
- 2 lớp CĐSP với số lượng 85 sinh viên (năm thứ 3)
4 Giả thuyết khoa học:
Trang 4Trờn cơ sở nghiờn cứu lý luận và thực tiễn về vấn đề quản lý hoạt động
tự học, cú thể đề xuất được một số biện phỏp quản lý hoạt động tự học hiệuquả cho sinh viờn khoa GDMN trường CĐSP Nghệ An
5 Nhiệm vụ nghiờn cứu:
5.1 Nghiờn cứu cơ sở lý luận của đề tài.
5.2 Tỡm hiểu thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viờn khoa GDMN, trường CĐSP Nghệ An
5.3 Đề xuất và khảo nghiệm một số biện phỏp quản lý hoạt động tự học hiệu quả cho sinh viờn khoa GDMN, trường CĐSP Nghệ An.
6 Phương phỏp nghiờn cứu:
6.1 Nhúm phương phỏp nghiờn cứu lý luận.
6.2 Nhúm phương phỏp nghiờn cứu thực tiễn.
- Phương phỏp Anket
- Phương phỏp phỏng vấn
- Nghiờn cứu sản phẩm hoạt động của sinh viờn
- Tổng kết kinh nghiệm
- Lấy ý kiến cỏc chuyờn gia
6.3 Phương phỏp toỏn học: dựng để xử lý số liệu thu được.
7 Những đúng gúp mới của đề tài:
7.1 Hệ thống hoỏ lý luận về vấn đề quản lý hoạt động tự học của sinh viờn 7.2 Làm rừ thực trạng quản lý hoạt động tự học sinh viờn khoa GDMN trường CĐSP Nghệ An.
7.3 Đề xuất một số biện phỏp hữu hiệu nhằm quản lý hoạt động tự học của sinh viờn khoa GDMN trường CĐSP Nghệ An.
8 Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung gồm 3 chơng
Chơng I: Cơ sở lý luận của đề tài.
Trang 5Chơng II: Thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên khoa
GDMN
Chơng III: Một số biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên
khoa GDMN trờng CĐSP Nghệ An
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ Lí LUẬN CỦA ĐỀ TÀI.
1.1 Sơ lược về lịch sử nghiờn cứu vấn đề:
Giỏo dục là hiện tượng xó hội được nảy sinh, tồn tại, phỏt triển cựngvới sự phỏt triển của xó hội loài người Với chức năng cơ bản là đào tạonguồn nhõn lực cho xó hội hoạt động giỏo dục ngày càng được chỳ trọng, là
"quốc sỏch hàng đầu" của nhiều quốc gia Nhờ cú những tri thức được trang
Trang 6bị trong quá trình giáo dục, con người đã thành công trong quá trình cải tạo tựnhiên, xã hội và bản thân, không ngừng đáp ứng những khát vọng của mình
và của xã hội
Trong hoạt động giáo dục người ta thường hay nhắc đến nhà giáo dục(thầy) và người được giáo dục (trò) Trong mọi thời đại, bất kỳ ở đâu, tronglĩnh vực nào thì vai trò tích cực của người học cũng được chú ý như một điềukiện cho hoạt động của người thầy đạt kết quả cao
Khổng Tử (152- 479 trc CN) đòi hỏi học trò phải tự suy nghĩ Ông nói:
“học mà không nghĩ là mù tịt, không hiểu gì, nghĩ mà không học là tốn công
vô ích” [22, tr 22]. Hay "Học nhi bất tư tắc vong.Tư nhi bất học tắc đãi." (Học
mà không tư duy (suy nghĩ) thì uổng phí Tư duy (suy nghĩ) mà không học thìnguy hiểm)
J.A.Comenxki (1592 - 1670) đã đưa ra yêu cầu cải tổ nền giáo dụcnhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh Theo ông việc dạy họcphải bắt đầu bằng sự vật hiện tượng, phải làm thế nào để người học tự tìm tòi,suy nghĩ để nắm bắt được bản chất sự vật hiện tượng [23, tr 130,132]
Theo Jacques Delores Học tập: Kho báu tiềm ẩn (Học tập: của cảinội sinh)
Học để biết cách nhận thứcHọc để biết cách hành độngHọc để biết cách tồn tạiHọc để biết cách sống chung với người khác
… Giáo dục là quá trình nâng cao tri thức và kỹ năng, và trước hết giáodục là phương tiện đặc biệt mang lại sự phát triển nhân cách
… Giáo dục giúp tạo dựng nên một thế giới tốt đẹp hơn thông qua giáodục sự phát triển người bền vững (Đặng Quốc Bảo sưu tầm - 2002)
Ở Việt Nam, các bậc thầy trong giáo dục đời xưa đã từng chú ý đếnvai trò của người học như: Chu Văn An, Hồ Quý Ly, Nguyễn Trãi, Nguyễn
Trang 7Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiếp Trong thời đại hiện nay vấn đề tự học càngđược quan tâm như là yếu tố không thể thiếu được của dạy học hiện đại.
Bác Hồ đã từng đề cao vấn đề hoạt động tự học, yêu cầu người học phảibiết tự động học tập
"Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời Suốt đời phải gắn liền lýluận với công tác thực tế Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hếtrồi Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nênchúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân" (Hồ Chí Minh,1956)
Cố Thủ Tướng Phạm Văn Đồng, 1969 khi phát biểu tư tưởng chỉ đạonhấn mạnh: “Giáo dục của dân, vì dân và do dân”, “Biến quá trình giáo dụcthành quá trình tự giáo dục”, “Biến quá trình dạy học thành quá trình tựhọc”…
Nguyên Phó Chủ Tịch nước Nguyễn Thị Bình nêu vấn đề: “Nếu biết
kết hợp quá trình đào tạo ở trường, lớp với quyết tâm tự học - tự đào tạo là
con đường ngắn nhất để tạo ra “ nội lực” cần thiết cho sự phát triển của một
con người và cho đất nước Chúng ta phải tạo được phong trào tự học - tự
đào tạo mạnh mẽ như kiểu cao trào xoá mù chữ như hồi cách mạng tháng8…” [27, tr 10]
Văn kiện Đại hội IX của Đảng CS Việt Nam đã chỉ rõ: “Phát huy tinhthần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh - sinh viên, đề cao năng lực tựhọc, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trongnhân dân ” [15, tr 171]
Luật giáo dục 1999, chương 1 điều 4 có ghi: “Phương pháp giáo dụcphải phát huy tính tích cực tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học,bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh, lòng say mê học tập và ý chí vươnlên ”
Trang 8Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường đã thống nhấtquan điểm rằng: dạy là “ngoại lực”, tự học là “nội lực”.
Tạ Quang Bửu: “Tự học là khởi nguồn của phong cách tự đào tạo đồngthời là cái nôi nuôi dưỡng trí sáng tạo Ai giỏi tự học ngay từ khi còn ngồi
trên ghế nhà trường người đó sẽ tiến xa” ( Đặng Quốc Bảo sưu tầm - 2002) Ông Nguyễn Kỳ, nguyên thứ trưởng Bộ GD - ĐT, là một trong những
người tâm huyết trong nghiên cứu tự học Là một thành viên của Trung tâmnghiên cứu và phát triển tự học, ông đã giành nhiều thời gian để hoàn thànhcông trình mang tên “Tự học và tự học có hướng dẫn”, trong đó nêu rõ vai tròcủa cả yếu tố chủ quan và khách quan trong tự học
Trong bức thư Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ GD - ĐT Nguyễn ThiệnNhân gửi các thầy cô giáo, các bậc cha mẹ và HSSV nhân Ngày Nhà giáoViệt Nam 20-11- 2006, Phó thủ tướng đã nhấn mạnh yếu tố “dạy thật, họcthật”, trong đó có câu: "Hãy nuôi ước mơ của các em về tương lai của mình,của quê hương bằng nỗ lực học thật, học say mê, sáng tạo từ mỗi ngày hômnay” “Muốn học thật”, ngoài giờ học trên lớp, HSSV phải nỗ lực tự học, tựnắm bắt và làm chủ tri thức Thực tế cho thấy, tự học có vai trò rất quan trọngtrong cuộc sống của mỗi con người
Như vậy, ta thấy rằng vấn đề tự học, ý nghĩa của hoạt động tự học,phương pháp tự học đã được nhiều nhà nghiên cứu giáo dục quan tâm Tuynhiên, do nhiều nguyên nhân nên việc nghiên cứu và tổ chức triển khai hoạtđộng tự học chưa mang lại hiệu quả Cách dạy và cách học phổ biến trongtrường học (phổ thông và Cao đẳng, Đại học) vẫn còn thụ động - sinh viênnhớ kiến thức chủ yếu thông qua nghe giảng chứ chưa thực sự tìm kiếm trithức thông qua hoạt động tự nghiên cứu tài liệu Đa số sinh viên còn lúngtúng trong nhận thức và phương pháp tiến hành các hoạt động tự học, do đókết quả tự học chưa cao
Trang 9Về vấn đề quản lý hoạt động tự học không được nhiều tác giả quan tâm.
Có thể điểm qua một số bài viết, công trình của các tác giả có bàn đến việcquản lý hoạt động tự học cho học sinh, sinh viên, như:
Luận văn thạc sĩ của Lê Đức Hưng (2006): Góp phần bồi dưỡng năng
lực tự học toán cho học sinh THPT trong dạy học hình học lớp 10”
Luận văn của thạc sỹ Nguyễn Hồng Lộc năm 2001 nghiên cứu về “một
số biện pháp quản lý sinh viên nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở trường Đại học Vinh”
Luận văn của thạc sỹ Hoàng Văn Thượng (2005) nghiên cứu về vấn đề:
“Một số biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động tự học của giáo viên tiểu
học huyện Quan Hoá - Tỉnh Thanh Hoá”
Một số bài viết trong Tạp chí Giáo dục thời đại, Dạy và học ngày nay,Tạp chí Giáo dục, thông báo khoa học ở các trường ĐH và CĐ
Nhìn chung, các tác giả đã khẳng định vị trí, vai trò, ý nghĩa của hoạt
động tự học của học sinh - sinh viên và đã nêu lên được thực trạng hoạt động
tự học của học sinh - sinh viên, tìm ra được một số nguyên nhân ảnh hưởng
đến hoạt động tự học, bước đầu đưa ra được một số biện pháp góp phần bồidưỡng năng lực tự học nhằm khắc phục những hạn chế, phát huy những yếu
tố tích cực tác động đến quá trình tự học của học sinh và giáo viên Tuy nhiêncác tác giả chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu, mô tả tình hình tự học là chủ yếu một
số biện pháp mà tác giả đưa ra chỉ là những biện pháp mang tính chất chungchung …
Chưa có nhiều công trình đi sâu nghiên cứu vấn đề tự học, tự nghiên cứu
của học sinh - sinh viên, đặc biệt, hầu như có rất ít công trình nghiên cứu về
vấn đề quản lý hoạt động tự học của sinh viên chuyên ngành giáo dục mầmnon những giáo viên chịu trách nhiệm đặt nền móng đầu tiên cho sự phát triểntoàn diện nhân cách trẻ
Trang 10Ở trường CĐSP Nghệ An, vấn đề hoạt động tự học của sinh viên nóichung và việc quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tự học của sinhviên khoa GDMN nói riêng thì chưa được tác giả nào nghiên cứu
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài.
1.2.1 Hoạt động tự học.
1.2.1.1 Khái niệm về hoạt động tự học
Tự học có thể hiểu là “Sự chuyển quá trình giáo dục thành quá trình tựgiáo dục”, là “Sự biến đổi bản thân mình, trở nên có thêm giá trị, bằng nỗ lựccủa chính mình để chiếm lĩnh giá trị mới lấy từ bên ngoài”, là “một hành trìnhnội tại, được cắm mốc bởi kiến thức, phương pháp tư duy và sự thực hiện tựphê bình, để tự hiểu bản thân mình” [5, tr 17]
Giáo sư - Viện sĩ Nguyễn Cảnh Toàn: Tự học là tự mình động não, suy
nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, suy nghĩ, phân tích, tổng hợp )
và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất rồi cảđộng cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (Như trung thực, kháchquan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại lòng say mêkhoa học, ý muốn, thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi ) để chiếm lĩnhmột lĩnh vực nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình.[19, tr 59.60]
Theo Science et Vie (1999) "Ai tự học mạnh nhất người đó tích luỹđược một tiềm năng sáng tạo dồi dào nhất Ai càng có nhu cầu sáng tạo người
ấy càng thôi thúc ý chí tự học" [12, tr 59]
Tự học được xem như "một hoạt động nhận thức các hệ thống nhằmthoả mãn nhu cầu về tri thức nảy sinh ở con người" Việc dạy học như thế cóthể thực hiện trong suốt cuộc đời của con người
Trang 11Xây dựng được ý nguyện tự học và khả năng tương ứng là vấn đề thời sựhiện nay của lý luận dạy học, đặc biệt là thời kỳ bùng nổ thông tin hiện nay,khi thế giới đang bước vào “cuộc cách mang trí tuệ” với xa lộ thông tin.
Như vậy, tự học có thể coi là hoạt động tự tổ chức một cách tự giác,
độc lập tích cực của người học nhằm chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng kỷ xảo.
Trong quá trình đó người học là chủ thể của quá trình nhận thức, huyđộng các chức năng tâm lý, tiến hành hoạt động nhận thức nhằm đạt được mụctiêu đã định Tự học là “nội lực” quyết định chất lượng học tập, sáng tạo chohôm nay và mai sau
Quá trình tự học là quá trình kết hợp nỗ lực chủ quan của người học, chủyếu là nỗ lực tư duy với sự tranh thủ tận dụng, khai thác của người học đối vớinguồn lực ngoài
Hoạt động tự học diễn ra dưới nhiều hình thức, mức độ khác nhau:
- Hình thức 1: Tự học có sự điều khiển trực tiếp của thầy và những
phương tiện kỹ thuật trên lớp - gọi là học “giáp mặt” - người học phải phát
huy những năng lực và phẩm chất như khả năng chú ý, óc phân tích, năng lựckhái quát, tổng hợp để tiếp thu những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà người dạyđịnh hướng cho
Hình thức 2: Tự học không có sự điều khiển trực tiếp của người dạy
-gọi là học “không giáp mặt” - người học phải tự xếp sắp quĩ thời gian và điều
kiện vật chất để tự học tập, tự củng cố, tự đào sâu những tri thức hoặc tự hìnhthành những kỹ năng, kỹ xảo ở một lĩnh vực nào đó theo những yêu cầu trongchương trình đào tạo của nhà trường
- Hình thức 3: Người học tự tìm kiếm tri thức để thoả mãn những nhu
cầu hiểu biết của mình bằng cách tự tìm tài liệu, tự rút kinh nghiệm về tư duy,
tự phân tích, đánh giá… coi đó là tự học ở mức độ cao
Trang 12Về quan hệ giữa người dạy và người học trong hoạt động tự học, GS.Nguyễn Cảnh Toàn đã viết "Trò học cốt là tự học, học cách học, cách tưduy Thầy dạy, cốt lõi là dạy cách học, cách tư duy Tác động dạy của thầy
dù là vô cùng quan trọng vẫn là ngoại lực hỗ trợ cho trò tự phát triển, sức tựhọc của trò mới là nội lực, nhân tố quyết định sự phát triển bản thân người
học Chất lượng dạy học đạt đỉnh cao khi tác động dạy của thầy - ngoại lực cộng hưởng với tự học - nội lực, tạo ra năng lực sáng tạo của người học Trò
là chủ thể tự mình xử lý thông tin bên ngoài thành tri thức bên trong conngười bằng cách học, cách tư duy của chính mình Thầy là tác nhân, tổ chức,hướng dẫn, đạo diễn cho trò biết cách tự học.” [5, tr 8]
Ông còn viết tiếp “Hoạt động tự học có thể diễn ra bất cứ ở đâu, lúc nào,
vì bất cứ lúc nào ở đâu cũng đều có những tình huống cần được lý giải"
Tóm lại: Tự học là nội lực của người học, nhân tố quyết định sự pháttriển của bản thân người học: có tự học mới phát triển được tư duy độc lập, từchỗ có tư duy độc lập mới có tư duy tự phê phán, có khả năng phát hiện vấn
đề và nhờ đó mới có tư duy sáng tạo Như vậy, tự học là hoạt động tất yếu củahoạt động học tập Trong học tập bao giờ cũng có tự học, tự nghiên cứu Nóicách khác tự học là một yếu tố, một bộ phận của hoạt động học tập, là mộtkhâu cần được nhà trường quản lý nhằm nâng cao chất lượng của hoạt độngdạy và học
1.2.1.2 Vai trò của hoạt động tự học.
Trong nhà trường, hoạt động của người thầy có ý nghĩa rất to lớn- thầytruyền thụ kiến thức, trò lĩnh hội tri thức, biến kiến thức đó thành tri thức củabản thân Không ai có thể trông chờ người khác học hộ, học thay mình, ngượclai cũng không ai có thể học hộ, học thay mgười khác được
Hoạt động tự học có vai trò to lớn đối với sự phát triển toàn diện của conngười Tự học làm cho quá trình nhận thức tăng lên, kiến thức được mở rộng,phong phú hơn
Trang 13John Lubbock cho rằng: “Cái gì ta học được mới thực sự là của ta, hơnnhững cái người khác dạy cho ta” [46, tr 55] Tự học không chỉ có ý nghĩa đốivới bản thân người học mà còn góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bởi vìtrong quá trình dạy học, con người không chỉ là khách thể chịu sự tác độngcủa giáo dục mà còn là chủ thể của quá trình nhận thức Quá trình nhận thức
sẽ không diễn ra và không đạt kết quả nếu chủ thể không tiến hành hoạt độngnhận thức một cách tích cực
Như vậy, có thể khẳng định rằng: Tự học, tự đào tạo là nhân tố quyếtđịnh trực tiếp đến chất lượng giáo dục và đào tạo Trong giai đoạn hiện naycon người đang bước vào nền văn minh thông tin, với sự phát triển như vũ bãocủa khoa học kỹ thuật công nghệ, thì người thầy không thể trang bị cho ngườihọc đầy đủ những kiến thức cần thiết, nếu như họ không thực hiện hoạt động
tự học Sinh viên của các trường Cao đẳng, Đại học cũng không nằm ngoàiquy luật đó - với thời gian đào tạo từ 2 đến 4 năm nếu sinh viên chỉ học theothời gian biểu trên lớp thì chắc chắn nhà trường không thể đáp ứng khối lượngkiến thức khổng lồ về nội dung, chương trình đào tạo và khi đó chất lượng đàotạo sẽ không thể đáp ứng được mục tiêu đào tạo ngành học Vì vậy, hoạt động
tự học, tự nghiên cứu là giải pháp hữu hiệu để giải quyết mâu thuẫn giữa khốilượng kiến thức khổng lồ với quỹ thời gian ít ỏi ở nhà trường Khi sinh viênbiết cách tự học họ sẽ có ý thức và biết xây dựng thời gian tự học, tự nghiêncứu giáo trình và tài liệu, gắn lý thuyết với thực hành, phát huy tính tích cực,chủ động, sáng tạo, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo
Đặc biệt trong thời đại hiện nay, tốc độ thông tin đang ở cấp vũ trụ, nhucầu luân chuyển kiến thức diễn ra một cách dữ dội hơn trong cuộc vận hànhcủa cơ chế thị trường sôi động, khắc nghiệt Cho nên khả năng thích ứng, hoànhập và tự khẳng định cá nhân trong xã hội ngày càng đòi hỏi mỗi thành viêntrong cộng đồng không ngừng bổ túc kiến thức cho mình bằng con đường tự
Trang 14học Tự học là con đường tự khẳng định, là con đường sống, con đường củanhững ai muốn vươn lên đỉnh cao trí tuệ của thời đại thông tin siêu tốc ngàynay
Tự học là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng và cần thiết đốivới sinh viên trong việc tìm hiểu, bổ sung trí thức nhằm thích ứng với yêu cầucủa thời đại bùng nổ thông tin này
Tóm lại: Tự học là một hoạt động tất yếu của sinh viên Tự học có vai trò
hết sức quan trọng đối với việc đổi mới, nâng cao chất lượng GD - ĐT Tự học
là con đường phát triển phù hợp với quy luật tiến hoá của nhân loại, là mộtphương pháp học tập đúng đắn cần được phát huy không chỉ trong các nhàtrường mà còn rất cần thiết trong cả cuộc đời của mỗi con người
1.2.1.3 Những yếu tố tác động đến hoạt động tự học.
Qua nghiên cứu một số tài liệu lý luận, chúng tôi nhận thấy để hoạt động
tự học có hiệu quả cao, sinh viên cần có đủ các điều kiện sau:
+ Phải có nhận thức sâu sắc về vai trò quyết định của hoạt động tự họcđối với việc hoàn thành nhiệm vụ học tập, có mục đích và thái độ học tập đúngđắn, có lý tưởng và hoài bão khoa học, có tầm nhìn xa cùng những mục tiêutrước mắt, trước hết phải có ý chí lớn thì mới có năng lực tự học, tự sáng tạo.+ Phải vừa học kiến thức, kỹ năng, vừa rèn luyện nhân cách
+ Có lòng tin và có khả năng tự học của mình, khắc phục bệnh tự ty,đồng thời cũng phải biết khắc phục tâm lý dễ thoả mãn
+ Hình thành được phương pháp tự học phù hợp, phải dành thời gianthích đáng cho việc tự học
+ Có thói quen tự học ở mọi lúc, mọi nơi, ở mọi người và mọi nội dungnhằm rèn luyện được các loại tư duy lôgíc, tư duy trừu tượng, tư duy biệnchứng, tư duy quản lý…
Trang 15Như vậy có thể thấy hiệu quả hoạt động tự học của sinh viên chịu ảnhhưởng của các yếu tố chủ quan và khách quan sau đây:
a) Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tự học:
+ Có động cơ và mục đích học tập đúng đắn, có lý tưởng và hoài bãokhoa học, có ý chí vươn lên, có tầm nhìn xa hơn các mục tiêu trước mắt
+ Biết tự giác huy động niềm say mê hiểu biết và mọi khả năng trí tuệ
có sẵn của bản thân
+ Tự tin ở khả năng học tập của mình, tránh tâm lý tự ty hay tự kiêu.+ Biết rút kinh nghiệm để tự mình hình thành phương pháp tự học phùhợp với mục đích, mục tiêu nghề nghiệp, phù hợp với hoàn cảnh điều kiệncủa bản thân mình, tránh tư tưởng học chiếu lệ hay học đối phó
+ Tích cực rèn luyện thói quen tự học mọi lúc, mọi nơi, học mọi người,học bằng cách có thể, rèn luyện để có thể nắm vững và vận dụng linh hoạt cáckhả năng tư duy lôgíc, tư duy biện chứng…
+ Biết tự lập kế hoạch, tự sắp xếp thời gian, tự nghiên cứu phù hợp vớichương trình, chuyên ngành, nghề nghiệp đào tạo
b) Các yếu tố khách quan đó là hệ thống tổ chức quản lý của nhà
trường (thể hiện qua các nội quy, quy chế, các tổ chức lớp, khoa, các phòngban chức năng, các tổ chức đoàn thể…), nội dung dạy học, phương pháp dạyhọc, điều kiện và môi trường học tập…
b1) Tác động của nội dung dạy học đến việc hình thành và nâng cao kết quả hoạt động tự học.
Nội dung dạy học là đối tượng lĩnh hội của sinh viên trong quá trìnhhọc tập và tự học, bao gồm:
- Hệ thống những kiến thức về khoa học cơ bản, khoa học cơ sở, khoa
học chuyên ngành, hệ thống kinh nghiệm hoạt động sáng tạo nhằm giúp sinh
Trang 16viên tìm tòi cái mới để phát triển và có khả năng lập nghiệp, có đủ kiến thức,năng lực vào đời.
Nội dung dạy học không chỉ là hệ thống tri thức mà còn cả cách thứchành động trong đó chứa kỹ năng và phương pháp học tập Do đó nội dungdạy học là yếu tố có ảnh hưởng đến việc hình thành tri thức, kỹ năng, kỹ xảohọc tập và tự học của sinh viên Nếu nội dung dạy học phù hợp, đáp ứng đượcnhu cầu của người học thì nó sẽ có tác động tích cực đến việc tạo hứng thú,lòng say mê, tính cần cù, sáng tạo, chủ động tự giác, tự tìm tòi, tự nghiên cứutrong quá trình học tập
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, con người đang ở trong giai đoạnphát triển cao của trí tuệ, của “xã hội tri thức”; việc học tập của sinh viênngày nay được diễn ra trong những điều kiện hsết sức mới mẻ Thành tựu của
khoa học - công nghệ đang tạo ra sự “bùng nổ” cũng như sự “lão hoá” thông
tin một cách nhanh chóng Do đó đòi hỏi sinh viên phải có khả năng địnhhướng, tự lựa chọn và tiếp nhận, xử lý và ứng dụng thông tin
b2) Tác động của phương pháp dạy học đến việc hình thành và nâng cao kết quả hoạt động tự học.
Dạy và học là hai mặt của quá trình dạy học, luôn có sự thống nhất, tácđộng qua lại biên chứng với nhau Quá trình dạy có thể tác động tích cực hoặctiêu cực đến quá trình học của sinh viên
Quá trình học tập ở nhà trường, sinh viên tiếp thu nội dung bài họcthông qua hướng dẫn của giảng viên Với một nội dung cụ thể, giảng viên sẽ
Trang 17sử dụng một phương pháp cụ thể, thích ứng nhằm tạo điều kiện cho người họctìm đến chân lý Khi người giảng viên biết cách hướng dẫn, tổ chức, kíchthích tạo cho người học say mê để tự tìm đến chân lý, tự nắm bắt, tự xử lýthông tin nhằm chiếm lĩnh tri thức; khi đó hoạt động tự học và tự học suốt đờicủa sinh viên mới có điều kiện phát triển Ngược lại, nếu người thầy chỉ biếtcung cấp, nhồi nhét, áp đặt kiến thức cho người học thì người học chỉ biết tiếpthu một cách máy móc, thụ động; và tất nhiên là khả năng tự học, tự sáng tạo
sẽ không có điều kiện hình thành và phát triển, thậm chí có thể bị thui chột
Do đó, phương pháp dạy mà người thầy sử dụng để truyền tải thông tin chotrò có ảnh hưởng lớn đến hoạt động tự học của sinh viên
b3) Tác động của điều kiện và môi trường học tập đến việc hình thành nâng cao kết quả hoạt động tự học.
Các Mác đã từng khẳng định: Xét trong tính hiện thực của nó, bản chấtcon người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội Như vậy mọi hoạt động củacon người đều nằm trong và chịu tác động tất yếu của các mối quan hệ xã hội.Hoạt động tự học của sinh viên cũng vậy; nó luôn chịu sự tác động của nhiềuyếu tố: gia đình, nhà trường và xã hội
+ Giáo dục gia đình là hạt nhân cơ bản hình thành tính cách của ngườihọc ngay từ thời thơ ấu Mức sống, trình độ học vấn, đời sống văn hoá, thóiquen, nếp sống của gia đình, mối quan hệ tình cảm giữa các thành viên tronggia đình, tính mẫu mực về phương pháp giáo dục trong gia đình… có ảnhhưởng đến việc hình thành động cơ, thái độ và kết quả của quá trình học tậpnói chung và tự học nói riêng
+ Nhà trường là môi trường để sinh viên học tập, giao tiếp hàng ngày.Những điều kiện thuận lợi của nhà trường sẽ kích thích sự say mê, tính tựgiác chủ động trong học tập của người học; và ngược lại, những điều kiện khókhăn sẽ tạo ra sự ỉ lại của sinh viên trong quá trình học tập Đó chính là những
Trang 18điều kiện về phòng học, về thư viện, về phòng thí nghiệm, phòng thực hành,
về thời gian, về ánh sáng, về âm thanh… đều có những tác động nhất địnhđến quá trình học tập nói chung và tự học nói riêng của sinh viên Những tậpthể trong nhà trường: nhóm bạn bè, lớp học, đoàn TNCS Hồ Chí Minh, hộiHSSV… với tư cách là cộng đồng xã hội đã tạo điều kiện tốt nhất cho sinhviên hoạt động và chủ động tham gia vào các hoạt động…
+ Môi trường rộng lớn hơn cả là xã hội với thể chế chính trị, pháp luật,
hệ tư tưởng, trình độ dân trí, truyền thống văn hoá… có ảnh hưởng đến hoạtđộng tự học của sinh viên Trình độ sản xuất, chế độ chính trị, đường lốichính sách phát triển của quốc gia… qui định chiều hướng nội dung của nềngiáo dục xã hội, qui định cả chiều hướng phát triển của cá nhân và ảnh hưởngkhông nhỏ đến việc hình thành động cơ, phương pháp học tập nói chung và tựhọc nói riêng của sinh viên
b4) Tác động của các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đến việc hình thành và nâng cao lết quả hoạt động tự học.
Hoạt động tự học của sinh viên được nâng cao không những do ảnhhưởng từ nội dung, phương pháp, điều kiện, môi trường giáo dục mà cònđược hình thành, phát triển thông qua những hoạt động tập thể, hoạt động thểthao, sinh hoạt Đoàn ở trường mang lại
Trong nhà trường các hoạt động tập thể qua sinh hoạt lớp, sinh hoạtđoàn và rèn luyện thể chất nhằm mục đích rèn luyện nhân cách người sinhviên, giáo dục cho sinh viên trở thành những công dân tốt Chính môi trườnghoạt động tập thể giúp cho người học có động cơ, có thái độ học tập đúng đắnnhằm mưu cầu lợi ích cho bản thân, cho xã hội và qua đó kích thích ước mơcủa các em, tạo cho các em có sự thi đua, ham muốn trong học tập Đó làđộng lực thúc đẩy hoạt động tự học của sinh viên Các hoạt động ngoài giờlên lớp ở trường Cao đẳng sư phạm không chỉ nhằm kích thích động cơ, thái
Trang 19độ học tập của sinh viên mà còn nhằm cung cấp cho các em những kỹ năng,thao tác tư duy cần thiết trong quá trình học tập, tự học, tự rèn luyện, tự ứngdụng những tri thức vào giải quyết các vấn đề thực tiễn…
1.2.2 Quản lý và quản lý giáo dục.
1.2.2.1 Quản lý:
Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể(người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặtchính trị, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo
ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng Đối tượng quản lý
có thể trên quy mô quốc gia, ngành, đơn vị, có thể là một con người cụ thể, sựvật cụ thể
C Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chungnào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉđạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năngchung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động củanhững khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiểnlấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải nhạc trường.”
Về nội dung, thuật ngữ “quản lý” có nhiều cách hiểu không giống nhau:
- “Quản lý là các hoạt động thực hiện nhằm đảm bảo sự thành công việc
qua những nỗ lực của người khác…”(Khoa học quản lý, tập 1, NXB Khoa học
kỹ thuật Hà Nội 1999)
- Quản lý là tác động vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật vào hệ
thống con người, nhằm đạt các mục tiêu kinh tế - xã hội
- Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức dựa trên
các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vậnhành của đối tượng được ổn định và phát triển tới mục tiêu đã định
Trang 20- Quản lý là sự tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến
khách thể quản lý nhằm đạt tới mục tiêu đề ra
- Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý
lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng các cơ hội
tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
- Hiện nay, quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: Quản lý là quá trình
đạt tới mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kếhoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra Quản lý là chức năng củanhững hệ thống có tổ chức với mhững bản chất khác nhau (kỹ thuật, sinh vật,
xã hội) nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động,thực hiện những chương trình mục đích hoạt động
- Quản lý được hiểu là bảo đảm hoạt động của hệ thống trong điều kiện
có sự biến đổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển hệ thống đếntrạng thái mới thích ứng với hoàn cảnh mới
- Quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể những
con người để tổ chức và phối hợp hoat động của họ trong quá trình lao động
- Quản lý là nhằm phối hợp nổ lực của con người, sao cho mục đích của
từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội
- Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có
hệ thống của chủ thể đến khách thể của nó [5, tr 5]
Những định nghĩa trên đây khác nhau về cách diễn đạt, nhưng đều gặpnhau ở nội dung cơ bản Hiệu quả quản lý phụ thuộc vào các yếu tố: chủ thể,khách thể, mục tiêu, công cụ và phương pháp quản lý
+ Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức + Khách thể quản lý là đối tượng bị tiếp nhận trực tiếp các tác động của
chủ thể quản lý và các “khách thể” khác chịu các tác động gián tiếp của chủ thểquản lý Tác động có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần
Trang 21+ Mục tiêu của tổ chức được xác định theo nhiều cách khác nhau, phụ
thuộc vào hình thức, lĩnh vực hoạt động Mục tiêu có thể do chủ thể quản lý ápđặt hoặc do sự cam kết giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý
+ Công cụ quản lý có thể là mệnh lệnh, quyết định, văn bản, chính sách,chương trình, phương tiện cụ thể…
+ Phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể tới khách thể
quản lý Trong quản lý hiện đại phương pháp được đúc kết từ nhiều lĩnh vựckhác nhau của khoa học xã hội và khoa học hành vi [5, tr 3,4]
Như vậy, các định nghĩa về quản lý đều tập trung vào hiệu quả công tácquản lý phụ thuộc vào các yếu tố: chủ thể quản lý, khách thể quản lý, mụcđích công tác quản lý, bằng các tác động từ chủ thể quản lý đến khách thểquản lý nhờ công cụ và phương pháp quản lý Mục đích hay mục tiêu chungcủa công tác quản lý có thể do chủ thể quản lý áp đặt, do yêu cầu khách quancủa xã hội hay do sự cam kết thoả thuận giữa chủ thể và khách thể quản lý, từ
đó nẩy sinh các mối quan hệ tác động tương hỗ lẫn nhau giữa chủ thể vàkhách thể quản lý Được thể hiện qua sơ đồ sau
Tóm lại, cho dù cách tiếp cận nào thì bản chất của hoạt động quản lý làcách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thểquản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vậnhành đạt hiệu quả mong muốn và đạt được mục tiêu đề ra
Công cụ
Khách thể
Phương pháp
Mục tiêuChủ thể quản lý
Trang 22Quản lý là một lĩnh vực khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoahọc tự nhiên và xã hội nhân văn khác nhau như: toán học, thống kê, kinh tế,tâm lý và xã hội học… Nó còn là một “nghệ thuật” đòi hỏi sự khôn khéo, sángtạo và tinh tế cao để đạt tới mục đích.
1.2.2.2 Quản lý giáo dục.
Về nội dung khái niệm quản lý giáo dục có nhiều cách hiểu khác nhau.Quản lý giáo dục theo nghĩa rộng là hoạt động điều hành, phối hợp cáclực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ theoyêu cầu phát triển xã hội
Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáodục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người; tuy nhiên trọng tâmvẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành
hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân.Quản lý giáo dục (và nói riêng quản lý trường học) là những tác động có
ý thức, hợp qui luật của chủ thể quản lý đến tất cả các khâu của hệ thống giáodục nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục củaĐảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, mà tiêu biểu hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ
giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất
Sự đúc kết thực tiễn điều hành công tác đào tạo các nhà trường và pháttriển hệ thống giáo dục quốc dân trên cơ sở giáo dục học, điều khiển học, lý
luận quản lý kinh tế - xã hội và một số khoa học khác hình thành nên lý luận
quản lý giáo dục
Lý luận quản lý giáo dục có vai trò trọng yếu trong việc hình thành cơ
sở khoa học của:
- Chiến lược phát triển giáo dục, sự hình thành và phát triển cơ cấu hệ
thống giáo dục quốc dân
Trang 23- Các chính sách phát triển giáo dục, đòn bẩy kinh tế trong giáo dục,
định mức kinh tế - sư phạm áp dụng vào việc phát triển các nhà trường trong
hệ thống giáo dục quốc dân
- Bộ máy quản lý giáo dục ở các cấp từ Trung ương đến cơ sở đảm bảo
thống nhất quản lý theo ngành và theo lãnh thổ
- Công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng các yêu
cầu của việc thực hiện mục tiêu phát triển giáo dục [26, tr 4,5]
- Quản lý giáo dục nằm trong quan lý văn hoá - tinh thần.
- Quản lý hệ thống giáo dục có thể xác định là tác động của hệ thống có
kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhauđến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ Giáo Dục đến trường) nhằm mụcđích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức vàvận dụng những quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực vàtâm lý trẻ em [3, tr 7]
1.2.2.3 Quản lý nhà trường.
- Quản lý nhà trường là quản lý vi mô, nó là một hệ thống con của quản
lý vĩ mô: Quản lý giáo dục
Quản lý nhà trường có thể hiểu là một chuỗi tác động hợp lý (có mụcđích, tự giác, hệ thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức sư phạm của chủ thểquản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong
và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng công tác, phối hợp tham gia vàomọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quá trình này vận hành tối ưu đểđạt được những mục tiêu dự kiến
Quản lý nhà trường là quá trình tác động có ý thức và hợp qui luật củachủ thể quản lý nhà trường đến các khâu của quá trình sư phạm nhằm đạt tớicác mục tiêu đã xác định của nhà trường
- Quản lý nhà trường gồm hai loại: (cấp độ)
Trang 24+ Tác động của những chủ thể quản lý bên trên và bên ngoài nhà trường.
Quản lý nhà trường là những tác động quản lý của cơ quan quản lý giáodục cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, họctập của nhà trường
Quản lý cũng gồm những chỉ dẫn, quy định của các thực thể bên ngoàinhà trường nhưng có sự liên quan trực tiếp đến nhà trường như cộng đồngđược đại diện dưới hình thức Hội đồng giáo dục nhằm định hướng sự pháttriển của nhà trường và hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướngphát triển nó
+ Tác động của những chủ thể quản lý bên trong nhà trường
Quản lý nhà trường do chủ thể quản lý bên trong nhà trường bao gồmcác hoạt động: Quản lý giáo viên; Quản lý sinh viên; Quản lý quá trình dạy
học - giáo dục; Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhà trường; Quản lý
tài chính nhà trường; Quản lý mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng.[11, tr 7,8]
1.2.2.4 Quản lý hoạt động dạy học.
- Quản lý hoạt động dạy học là quản lý quá trình dạy của giáo viên và
quá trình học của học sinh Đây là hai quá trình thống nhất gắn bó hữu cơ
- Quá trình dạy và học là tập hợp hành động liên hiệp của giáo viên và
của học sinh được giáo viên hướng dẫn Những hành động này nhằm làm chosinh viên tự giác nắm vững kiến thức, kỹ năng kỹ xảo và trong quá trình đóphát triển năng lực nhận thức, nắm được các yếu tố của văn hoá lao động củatrí óc và lao động chân tay, hình thành những cơ sở của thế giới quan và nhânsinh quan đúng đắn
Nếu xét dạy và học như một hệ thống thì quan hệ giữa hoạt động dạy vàhoạt động học là quan hệ điều khiển Do đó, hoạt động quản lý (điều khiểnhoạt động dạy và học) của Hiệu trưởng chủ yếu tập trung vào hoạt động dạy
Trang 25của thầy và trực tiếp với thầy, gián tiếp với trò, thông qua hoạt động dạy củathầy, quản lý hoạt động của trò
- Trong mô hình trên, chiều tác động chủ yếu từ Hiệu trưởng đến hoạtđộng của giáo viên và sinh viên và những điều kiện vật chất phục vụ cho dạy
và học
1.3 Quản lý chất lượng hoạt động tự học của sinh viên.
1.3.1 Chất lượng và quản lý chất lượng:
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam định
nghĩa “Chất lượng là phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất
của sự vật chỉ rõ là cái gì? Tính ổn định tương đối của sự vật phân biệt nó với sự vật khác Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật Chất lượng được biểu thị ra ngoài qua các thuộc tính Nó là sự liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó các sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ
sự vật và không tách khỏi sự vật Sự vật trong khi vẫn còn là bản thân nó thì không thể thiếu mất chất lượng của nó Sự thay đổi về chất lượng kéo theo sự thay đổi của sự vật về căn bản Chất lượng sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính quy định về số lượng của nó và không tồn tại ngoài tính quy định ấy Mỗi
Giáo viênhoạt động dạyHiệu trưởng
hoạt động quản lý
Sinh viênhoạt động học
Cơ sở vật chất phục
vụ dạy và học
Trang 26sự vật bao giờ cũng có sự thống nhất của số lượng và chất lượng” [http://
www.bachkhoatoanthu.gov.vn]
- Chất lượng là "cái tạo nên phẩm chất, giá trị của con người, sự vật, sự
việc"
- Chất lượng là "sự phù hợp với mục tiêu" Mục tiêu ở đây được hiểu một
cách rộng rãi, bao gồm các sứ mạng, các mục đích Sự phù hợp với mục tiêu
có thể là sự đáp ứng mong muốn của những người quan tâm, là đạt được hayvượt qua các tiêu chuẩn đặt ra
- Chất lượng "là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo
cho thực thể đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầutiềm ẩn"
Tóm lại: Khái niệm chất lượng phản ánh mặt vô cùng quan trọng của
sự vật, hiện tượng, là cái làm nên giá trị, bản chất của sự vật, hiện tượng,
là yếu tố làm cho những sự vật, hiện tượng này khác với những sự vật, hiện tượng khác.
Khái niệm chất lượng, theo nghĩa rộng, bao hàm cả khái niệm hiệu quả
- Quản lý chất lượng là quản lý cái phẩm chất, giá trị của một con
người, của sự vật, hiện tượng
Quản lý chất lượng là quản lý tập hợp các đặc tính của một thực thể (hay
hệ thống) nhằm giúp cho thực thể (hay hệ thống) đó đạt đến mục tiêu địnhtrước
- Quản lý chất lượng hoạt động tự học không chỉ là quản lý đơn thuần
hoạt động tự học mà phải quản lý đến quá trình tác động tới tất cả các thành
tố sư phạm có tác dụng hỗ trợ, giúp đỡ phục vụ cho hoạt động tự học củangười học trong đó chú trọng đến các khâu như: mục tiêu, nội dung, phươngpháp, hình thức, kết quả Quản lý chất lượng tự học cũng không chỉ là quản lýđến chất lượng tri thức văn hóa mà còn phải xem xét đến chất lượng của giá
Trang 27trị, ý chí, kỹ năng và thái độ của người học thông qua quá trình tổ chức hoạtđộng tự học của họ
1.3.2 Nội dung quản lý hoạt động tự học của sinh viên
1.3.2.1.Giáo dục và nâng cao nhận thức về vai trò hoạt động tự học của sinh viên.
Mọi hoạt động con người đều có mục đích Hoạt động tự học của ngườihọc nhằm mục đích hoàn thành các nhiệm vụ học tập đã xác định Hoạt động tựhọc được thực hiện bằng các hành động tự học của người học Hành động là kếtquả của nhận thức, nhận thức đúng thì hành động đúng Nhận thức của sinh viên
về vai trò của hoạt động tự học cũng là một quá trình, tuân theo các quy luậtnhận thức chân lý khách quan: Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ
tư duy trừu tượng trở về thực tiễn
Muốn nâng cao nhận thức của sinh viên về vai trò hoạt động tự học, từ đógiúp họ có những hành động tự học nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập củamình, thì nhà trường phải thường xuyên, đồng thời tiến hành nhiều biện pháp vàhình thức giáo dục như: giáo dục truyền thống, giáo dục nâng cao nhận thức về
mục tiêu, yêu cầu đào tạo, các quy chế, qui định về giáo dục - đào tạo, xây dựng
bầu không khí học tập tích cực trong tập thể sinh viên Hoạt động tự học củasinh viên bình đẳng như các hoạt động khác, song nó có tính độc lập cao vàmang đậm sắc thái cá nhân, điều này càng khẳng định nó phải được thúc đẩy bởi
hệ thống động cơ học tập nói chung và động cơ tự học nói riêng
Thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò to lớn của hoạt động
tự học sẽ trực tiếp góp phần xây dựng và thúc đẩy động cơ tự học của sinh viên.Động cơ tự học cũng có nhiều cấp độ khác nhau, bắt đầu từ sự thoả mãn nhu cầuphải hoàn thành nhiệm vụ tự học, tự khẳng định mình, mong muốn thành nghềtrong tương lai… cho tới cấp độ cao là thoả mãn nhu cầu hiểu biết, lòng khaokhát tri thức Mọi hoạt động đều được hình thành từ những tác động thực tiễn và
Trang 28được cá nhân hoá thành hứng thú, tâm thế, niềm tin của mỗi cá nhân Hình thànhđộng cơ hoạt động tự học phải được bắt đầu từ việc xây dựng các điều kiện chophù hợp với nhËn thức, tình cảm của cá nhân.
1.3.2.2 Quản lý kế hoạch tự học.
Kế hoạch tự học là bảng phân chia nội dung học theo thời gian một cáchhợp lý, dựa trên nhu cầu, nhiệm vụ tự học, khả năng của bản thân và các điềukiện đảm bảo, nhằm hướng tới mục tiêu đào tạo, mục tiêu môn học Việc xâydựng kế hoạch tự học giúp sinh viên biết mình phải làm gì, để đạt mục tiêunào, nó làm cho quá trình tự học diễn ra đúng dự kiến, do đó nó giúp sinhviên thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ tự học và tự kiểm soát được toàn bộquá trình tự học một cách thận lợi, tiết kiệm được thời gian
Kế hoạch tự học càng rõ ràng thì càng tạo điều kiện thuận lợi cho việckiểm tra, đánh giá quá trình tự học và mức độ đạt mục tiêu tự học, tự đào tạocủa sinh viên Muốn vậy kế hoạch tự học của sinh viên cần được cụ thể hoáthành thời gian biểu tự học cho từng buổi học, từng tuần, từng tháng, từngkỳ…
Do vậy quản lý việc xây dựng kế hoạch và quản lý việc thực hiện kếhoạch tự học sẽ góp phần nâng cao hiệu quả tự học của sinh viên
1.3.2.3 Quản lý nội dung tự học.
Nội dung tự học, tự đào tạo trong nhà trường đã được xác định một cáchchặt chẽ theo mục tiêu đào tạo, bao gồm các khối kiến thức về khoa học cơbản, khoa học cơ sở và khoa học chuyên ngành Ngoài nội dung học tập bắtbuộc trong nhà trường, sinh viên, có thể tự học, tự nghiên cứu những lĩnh vựctri thức theo năng khiếu, sở trường riêng của mình Ngoài việc chiếm lĩnh trithức khoa học bằng tự học, người học rất có điều kiện để chiếm lĩnh tri thức
về phương pháp, rèn luyện nhân cách
Trang 29Để quản lý được nội dung tự học, hướng cho nội dung tự học phù hợpvới mục tiêu, yêu cầu đào tạo, thì giảng viên phải hướng dẫn nội dung tự họccho sinh viên Nội dung tự học gồm 2 phần:
+ Hệ thống các nhiệm vụ tự học có tính chất bắt buộc
+ Tư vấn nội dung tự học cho sinh viên, định hướng nghiên cứu đào sâu,
mở rộng tri thức từ các vấn đề trong nội dung học tập
1.3.2.4 Quản lý phương pháp tự học.
Phương pháp tự học đối với từng môn học, từng người học khác nhau làkhác nhau Tuy nhiên các phương pháp học vẫn có những điểm chung màchúng ta cần tranh thủ, đó là phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, trừutượng hoá, khái quát hoá, quy nạp, diễn dịch, đọc sách, diễn đạt sự hiểu biếtcủa mình bằng ngôn ngữ, sơ đồ, biểu đồ, bản vẽ, ký hiệu Bên cạnh nhữngphương pháp chung còn có các phương pháp học đặc thù với từng môn học.Việc quản lý các phương pháp tự học của sinh viên được thực hiệnthông qua: Việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện các phương pháp dạy học tích cực;việc hướng dẫn phương pháp tự học cho sinh viên chọn, đọc, ghi chép đúng
khi đọc; thông qua tổ chức xê-mi-na hoặc báo cáo chuyên đề về tự học của
sinh viên; thông qua việc tổ chức sơ kết, tổng kết nêu gương sinh viên cóphương pháp tự học có hiệu quả
Cán bộ giảng viên hướng dẫn cho sinh viên để xây dựng kế hoạch tự học
và giúp họ tự quản lý phương pháp tự học của mình Để giải quyết vấn đềquản lý phương pháp tự học, phải bắt đầu từ việc xác định mục đích, động cơhọc tập đúng đắn, từ việc lựa chọn cách học, biện pháp học cho phù hợp Dovậy, người học phải biết quản lý phương pháp tự học của mình theo một kếhoạch hợp lý, biết tạo ra điều kiện cần thiết để đảm bảo cho việc tự học suốtđời, học ở mọi người, học mọi lúc mọi nơi Muốn tự học thành công, mỗi sinhviên phải biết vượt khó, vượt khổ; phải tìm ra được nội dung và phương pháp
Trang 30học phù hợp với điều kiện và năng lực của mình, phải quyết tâm thực hiệnđúng kế hoạch tự học hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng và từng năm; phải tậndụng được sự giúp đỡ của giảng viên, của các bạn và các phương tiện kỹ thuậthọc tập.
1.3.2.5 Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả tự học.
Vấn đề tự kiểm tra, tự đánh giá trong tổ chức hoạt động tự học của sinhviên là một trong những yếu tố quyết định thắng lợi của việc học tập nóichung, tự học nói riêng; mọi sự tác động từ bên ngoài như từ phía thầy, bạn chỉđóng vai trò hỗ trợ Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả tự học bao gồm:
- Kiểm tra việc xây dựng kế hoạch tự học của sinh viên.
- Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch tự học theo các mục tiêu, yêu cầu,
nhiệm vụ tự học, phát hiện sai lệch, giúp sinh viên điều chỉnh hoạt động tựhọc
- Quản lý tổ chức thi, đánh giá kết quả học tập của sinh viên.
1.3.2.6 Quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động tự học.
Nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo, yêu cầu đào tạo, trong thời gian đàotạo 70% sinh viên của khoa được ăn, ở, học tập và sinh hoạt tại trường Dovậy chủ thể quản lý phải đảm bảo tốt các điều kiện cho hoạt động tự học củasinh viên trên các mặt sau:
+ Quản lý cơ sở vật chất đảm bảo cho việc ăn, ở, học tập trên lớp, tựhọc, sinh hoạt tập thể khác cho sinh viên
+ Quản lý giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo và các phươngtiện kỹ thuật dạy, học tập
+ Quản lý các hoạt động đảm bảo thời gian cho sinh viên
1.4 Kết luận chương 1.
Trang 31Qua các vấn đề lý luận trên đây, chúng tôi nhận thấy việc tự học củasinh viên chính là hình thức dạy học ở bậc Cao đẳng - Đại học, trong đó pháthuy vai trò chủ thể, tích cực độc lập nhận thức của sinh viên, nhng không táchrời vai trò điều khiển của ngời thầy Muốn đạt kết quả cao trong học tập đòihỏi sinh viên phải có quá trình rèn luyện thờng xuyên các kỹ năng tự học Trong quá trình rèn luyện giảng viên giữ vai trò quan trọng việc định hớnggiáo dục, lựa chọn các biện pháp tác động nhằm hình thành và rèn luyện ởsinh viên các kỹ năng tự học Việc rèn luyện kỹ năng tự học của sinh viên đợctiến hành trong mối quan hệ chặt chẽ, khoa học với hoạt động dạy của giảngviên, hoạt động dạy giữ vai trò chủ đạo, định hớng, tổ chức và điều chỉnh hoạt
động tự học của sinh viên, phải biến quá trình học thành tự học, đào tạo thành
tự đào tạo Tự học của sinh viên là yếu tố đảm bảo kết quả, chất lợng dạy học
ở Cao đẳng Đại học Đây chính là quá trình dạy tự học mà khoa GDMN, tr ờng CĐSP Nghệ An đang quan tâm
-CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN Lí HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIấN KHOA GDMN, TRƯỜNG CĐSP NGHỆ AN.2.1 Vài nột về khoa GDMN, trường Cao đẳng sư phạm Nghệ An
Trang 32- Trường CĐSP Nghệ An được thành lập từ năm 1959 Hiện nay có 18
đơn vị trong đó có 6 phòng, 7 khoa, 1 trung tâm tin học ngoại ngữ và 4 tổ trựcthuộc, có 344 cán bộ giảng viên
- Khoa GDMN được thành lập từ năm 1997 đến năm 2001 trên cơ sở sát
nhập trường THSP Nghệ An vào trường CĐSP Nghệ An Nhằm đào tạo độingũ giáo viên mầm non có phẩm chất chính trị, có tri thức, năng động sáng
tạo, tiếp cận và thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp chăm sóc - giáo dục
Trang 33Với những hình thức đào tạo như vậy, tính từ năm 2001 đến nay khoaGDMN đã đào tạo bồi dưỡng được đông đảo đội ngũ giáo viên mầm non đạttrình độ chuẩn cho tất cả 19 huyện thị trong tỉnh cụ thể như sau:
* Hệ cao đẳng sư phạm mầm non chính quy: 400 sinh viên
* Hệ trung học sư phạm mầm non chính quy: 1019 sinh viên
* Bồi dưỡng chuẩn hoá tổng số: 4412 học viên trong đó gồm:
* Hệ sơ cấp nhà trẻ: 47 học viên
* Hệ sơ cấp mẫu giáo:181 học viên
* Hệ trung học mầm non: 2252 học viên
* Hệ cao đẳng mầm non: 1941 học viên
Đến nay cơ bản khoa đã đào tạo và bồi dưỡng xong đội ngũ giáo viênmầm non đạt chuẩn đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi đối với sự phát triển củangành học mầm non cho tỉnh nhà
Các thế hệ sinh viên sau khi tốt nghiệp đã nhanh chóng hoà nhập vàocông tác chăm sóc giáo dục trẻ ở các địa phương Có rất nhiều sinh viên saumột vài năm công tác đã phát huy tác dụng tốt trong quá trình chăm sóc giáodục trẻ, trở thành giáo viên giỏi các cấp, đặc biệt có không ít sinh viên trởthành những cán bộ quản lý và có một số sinh viên mạnh dạn mở trường, lớp
tư thục có hiệu quả được xã hội thừa nhận và đánh giá cao về chất lượngchăm sóc giáo dục trẻ Cùng với sự chỉ đạo của nhà trường và sự cố gắng nổlực của mỗi cán bộ giảng
viên khoa GDMN, trong nhiều năm khoa GDMN luôn là một trong nhữngđơn vị liên tục đạt khoa “tiên tiến xuất sắc”
Năm học 2007 - 2008 theo kế hoạch đào tạo khoa có: 614 sinh viêntrong đó gồm:
* 5 lớp hệ THSP với số lượng 265 sinh viên (năm thứ 2)
* 3 lớp hệ THSP với số lượng 135 sinh viên (năm thứ 1)
Trang 34* 2 lớp CĐSP với số lượng 85 sinh viên (năm thứ 3).
* 1 lớp CĐSP với số lượng 45 sinh viên (năm thứ 2)
* 2 lớp CĐSP với số lượng 84 sinh viên (năm thứ 1)
* Bồi dưỡng chuẩn hoá CĐSP Mầm non với số lượng 700 sinh viên
2.2 Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên khoa GDMN trường GĐSP Nghệ An.
Hoạt động tự học là một hệ thống bao gồm cả tư tưởng, tình cảm, nhậnthức, kỹ năng, kỹ xảo và cả những việc làm cụ thể Trên cơ sở nghiên cứu vềhoạt động tự học có thể đưa ra những biện pháp quản lý góp phần nâng caochất lượng hoạt động tự học cho sinh viên khoa GDMN trường CĐSP NghệAn
Qua thực tiễn dạy và học của giảng viên, sinh viên khoa GDMN chúngtôi thấy rằng: Thực tế những năm gần đây, việc tuyển chọn sinh viên vàotrường đặt ra yêu cầu không cao như trước đây (hầu như sinh viên không đậu
ở những trường khác thì mới thi vào ngành sư phạm mầm non trường CĐSPNghệ An) Do chất lượng tuyển sinh đầu vào thấp, nên khả năng tư duy cũngnhư khả năng tự nghiên cứu của sinh viên còn hạn chế Nhiều sinh viên chưaxác định được động cơ học tập, thái độ học tập chưa phù hợp, đặc biệt cònxem nhẹ việc tự học, chưa thấy được vai trò của việc tự học trong quá trìnhđào tạo Ở họ chưa hình thành được phương pháp học tập khoa học (đọc lại,học vẹt, học đôí phó để lấy điểm ) Phong trào tự học, tự đọc sách, tự nghiêncứu chưa nhiều, chỉ dừng lại ở một số sinh viên, khả năng ghi chép còn hạnchế, kỹ năng thực hành, trình bày bài kiểm tra chưa đạt yêu cầu, việc nắm bắtkiến thức cơ bản chưa chắc chắn Để tìm hiểu sâu hơn về thực trạng tự họccủa sinh viên khoa GDMN, trường CĐSP Nghệ An, chúng tôi đã tiến hànhđiều tra bằng phiếu hỏi (ở phần phụ lục) trong thời gian từ tháng 8 đến tháng
10 năm 2008, kết quả thu được sau đây:
Trang 352.2.1 Nhận thức của SV về tầm quan trọng và vai trũ của hoạt động tự học
a) Nhận thức về tầm quan trọng của việc học tập
Kết quả khảo sỏt cho thấy:
- 175/214 SV chiếm 81,8% trả lời: đến trường để học, học để cú nghề
nghiệp, học để kiếm việc làm, học để phụ vụ cho chớnh bản thõn và gia đỡnh
- 25/214 SV chiếm 14,9% sinh viờn trả lời: đi học để bố mẹ khỏi phiền
lũng, đi học để tạm lấp đi thời gian trống khi chưa đỗ được cỏc nghề khỏc, khichưa tỡm kiếm được việc làm
- 7/214 SV chiếm 3,3% sinh viờn trả lời: Đi học để cú điều kiện giao
lưu, đi học để thoỏt khỏi sự quản lý, kốm cặp của gia đỡnh
Qua số liệu và thụng tin trờn ta thấy, đại đa số 81,8% sinh viờn củakhoa đó cú sự lựa chọn nghề nghiệp từ sự nhận thức đỳng đắn về động cơ,nhiệm vụ học tập của mỡnh Tuy nhiờn cũn khụng ớt sinh viờn của Khoa đếnhọc là do tỏc động của cỏc yếu tố bờn ngoài, do yờu cầu của cha mẹ, do khụngcũn con đường nào khỏc chứ khụng phải xuất phỏt từ sự tự nguyện, từ sựyờu nghề Cỏ biệt cũn số ớt sinh viờn ở Khoa cũn cú nhận thức sai lầm, cơ hội
về việc đi học của mỡnh là để thoỏt khỏi sự quản lý của gia đỡnh, để được tự
do và cú điều kiện chơi bời, giao lưu với bạn bố…
b) Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động tự học
Bảng 2.1: Tầm quan trọng của hoạt động tự học.
Đối tợng
Mức độ
SV năm thứ 1(K6)
SV năm thứ 2(K5)
SV năm thứ 3(K 4)
SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ % Rất cần thiết 60 75,0 35 81,4 70 83.3 Cần thiết 20 25,0 8 18,6 14 16,7
Tổng số 80 100% 43 100% 84 100%Nhỡn vào bảng (2.1), chỳng ta thấy rằng: Hầu hết sinh viờn cỏc khốiđào tạo đều đỏnh giỏ cao sự cần thiết của hoạt động tự học ở mức độ cần thiết
và rất cần thiết Tuy nhiờn sự đỏnh giỏ đú khụng đồng đều, sinh viờn ở năm
Trang 36thứ 3 có sự đánh giá cao hơn về sự cần thiết của hoạt động tự học so với sinhviên n¨m thứ 2 và sinh viªn năm thứ 1.
- Từ sự nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của hoạt động tự học,
sinh viên cũng bày tỏ nhận thức của mình về vai trò cụ thể của hoạt động tựhọc đối với kết quả học tập, rèn luyện và phát triển của bản thân
Bảng 2.2: Vai trò của hoạt động tự học.
Các vai trò của tự học
Đóng vai tròRất quan
trọng
Quan trọng Bình
thường
SL TL% SL TL% SL TL%Củng cố và đào sâu tri thức 184 88,9 31 10,1 2 1,0
Mở rộng kiến thức 144 69,6 54 26,1 9 4,3
Nâng cao khả năng phân tích,
tổng hợp, khái quát 93 45,0 52 25,1 62 29,9Phát huy khả năng tự giác, tích
cực, chủ động, ST trong häc tËp 137 66,2 65 31,4 5 2,4Phát huy khả năng giải quyết
tình huống, tự đặt và GQ vấn đề 33 15,9 66 31,9 108 52,5Giúp đạt KQ cao trong học tập 164 79,2 35 16,9 8 3,9
RL phong cách làm việc khoa
học và khả năng TH suốt đời 59 28,6 79 38,1 67 33,3Nâng cao khả năng chuẩn bị bài 148 71,5 52 25,1 7 3,4
Nâng cao khả năng vận dụng lý
thuyết vào giảng dạy 34 16,4 43 20,8 130 66,8Hình thành và PT nhân cách 40 19,3 62 30,0 105 50,7
Vững vàng trong học tập và
công tác sau này 27 13 63 30,5 117 56,5
Trang 37Thông tin của bảng (2.2) cho thấy: Hầu hết sinh viên có nhận thức đúngđắn về vai trò của tự học đối với những kỳ vọng bản thân trong tương lai gần.
Họ cho rằng chỉ có tự học mới có thể giúp cho việc củng cố, nắm vững, mởrộng kiến thức, đạt kết quả cao trong các kỳ thi, chuẩn bị bài tốt khi kiếntập… và phát huy được tính tích cực, tự giác chủ động, sáng tạo trong học tập
- trong quá trình chiếm lĩnh tri thức của bản thân
Để tìm hiểu thêm chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu sinh viên Đa sốsinh viên cho rằng việc học tập ở trường Cao đẳng khác hẳn so với việc họctập ở trường phổ thông trước kia: Học nghề ở các trường Cao đẳng - Đại họcngoài việc học trên lớp sinh viên phải chủ yếu tự học tự nghiên cứu rất nhiều.Điều đáng mừng là không ít sinh viên đã nhận thức được “trong quá trìnhdạy - học ở trường Cao đẳng - Đại học, vai trò chủ đạo của thầy khác về chất
so với ở phổ thông trung học Thầy chỉ là người tổ chức, hướng dẫn, tạo tìnhhuống, kích động học sinh - sinh viên tự tìm tòi, tự chiếm lĩnh tri thức”(Nguyễn Thị Hạnh K4) Nhiều em đã xác định được “Mỗi sinh viên phải cú ýthức tự rèn luyện, bản thân phải biết tự vận động, tự học là chính, cũng nhưcần học hỏi thêm ở các bạn, mỗi người cần có sự tự giác trong học tập, khôngnên để thầy cô giáo phải nhắc nhỡ nhiều”, (Nguyễn Thị Liªn K6) “Với thờigian đào tạo thời gian 2 năm đối với hệ THSP và 3 năm đối với hệ CĐSP,khối lượng kiến thức trong chương trình là rất lớn; nếu chỉ học theo kiểu phổthông thì học sinh - sinh viên không thể đáp ứng được mục tiêu của chươngtrình đào tạo” (Phạm Thị Dung K5)… Như vậy: xét từ góc độ nhận thức, sinhviên đã thấy được vai trò quyết định của việc tự học trong quá trình học tập ởtrường Cao đẳng - Đại học
Tuy nhiên, sinh viên chưa thấy được ý nghĩa của việc tự học đối với sựphát triển lâu dài của bản thân Vai vai trò của tự học trong việc nâng cao khảnăng phân tích, tổng hợp khái quát vấn đề; khả năng giải quyết tình huống;
Trang 38rốn luyện phong cỏch làm việc khoa học và tự học suốt đời; nõng cao khảnăng vận dụng lý luận vào thực tế giảng dạy; vững vàng trong cụng tỏc saunày; hỡnh thành và phỏt triển nhõn cỏch… vẫn cũn khỏ nhiều sinh viờn đỏnhgiỏ ở mức độ “bỡnh thường”.
2.2.2 Thực trạng về hoạt động tự học của sinh viờn khoa giỏo dục mầm non.
2.2.2.1 Thời gian tự học của sinh viờn
Từ nhận thức đỳng đến việc thực hiện hoạt động tự học cú kết quả cũn
cú một khoảng cỏch khỏ lớn
Về thời gian tự học trong ngày, kết quả điều tra cho thấy:
Bảng 2.3: Thời gian tự học của sinh viờn.
Đối tợng
Thời gian
Hệ cao đẳng
SV năm thứ 1(K6)
SV năm thứ 2(K5)
SVnăm thứ 3(K4)
SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ %
Từ 1 > 2 giờ 6 7,5 5 11,6 8 9,5
Từ 3 > 4 giờ 56 70,0 26 60,5 46 54,8
Từ 5 giờ trở lên 18 22,5 12 27,9 30 35,7Theo tính toán, cứ 1 tiết lên lớp 2 tiết tự học ở nhà của sinh viên Nhvậy mỗi ngày các em học 4 đến 5 tiết trên lớp thì thời gian tự học của các emphải từ 8 đến 10 giờ mới đủ Kết quả khảo sát ở bảng (2.3) cho thấy thời giansinh viên dành cho hoạt động tự học là quá ít: chỉ có 22,5% SV năm thứ 1;27,9% SV năm thứ 2; 35,7% SV năm thứ 3 có thời gian tự học là 5 giờ trongngày trở lên, còn lại chỉ học từ 4 giờ trở xuống, v à điều đỏng lo lắng hơn là cútới 712% SV cỏc năm chỉ học từ 1đến2 giờ một ngày Thực trạng phổ biến
là các em chỉ tự học theo thời vụ, chủ yếu tập trung vào các kỳ thi hay khi cóbài tập phải hoàn thành “Những ngày bình thờng em chỉ dành 2 đến3 giờ đểxem lại bài, còn vào những ngày thi hầu nh chúng em học cả ngày cả đêm”(Phạm Thị Dung k5)
Đặc biệt các em sinh viên của Khoa rất ít đến th viện để học tập Kếtquả điều tra cho thấy chỉ có 23,3% sinh viên là thỉnh thoảng dành thời gian
Trang 39lên th viện đọc sách, nghiên cứu, còn lại 76,7% sinh viên hầu nh không baogiờ lên th viện đọc sách.
2.2.2.2 Hiệu quả tự học của sinh viờn.
- Hoạt động tự học trong giờ lờn lớp
Hoạt động tự học trong giờ lên lớp đợc sinh viên thực hiện khá nghiêmtúc Trong quá trình học tập các em lên lớp tơng đối đầy đủ, đúng giờ, hầu nhkhông có sinh viên nào bỏ giờ, trốn tiết Tuy nhiên trong quá trình học tập trênlớp, cách lĩnh hội tri thức chủ yếu vẫn là thụ động theo một chiều: Thầy cungcấp, trò ghi nhớ Sinh viên chủ yếu thu nhận kiến thức theo kết luận của giảngviên trong bài giảng Chủ yếu là cắm cúi ghi chép theo lời giảng của giảngviên, ít để ý đến việc tìm hiểu và ghi nhớ cách thức, phơng pháp đi tới kiếnthức; ít chủ động nêu vấn đề, ít vận dụng t duy để so sánh, phân tích, tổnghợp, trừu tợng hoá, khái quát hoá, hệ thống hoá kiến thức trong phạm vi bàigiảng cũng nh trong cả chơng trình môn học Sinh viên ít trao đổi, phát biểuchính kiến của mình về nội dung bài học, ít đặt ra những vấn đề để cùng trao
đổi, để mở rộng khả năng vận dụng kiến thức
Theo đánh giá của giảng viên giảng dạy thì hoạt động của sinh viêntrong tiết học chủ yếu là nghe và chép Tuy nhiên, chỉ có 15% sinh viên có ph-
ơng pháp nghe, chép tốt; 53% trung bình; 32% yếu Khi nghe giảng, sinh viêncha biết ghi theo ý của mình thu nhận đợc, chỉ ghi khi nghe giảng viên đọc,hoặc ghi tràn lan không xác định đợc trọng tâm Nguyên nhân chủ yếu là dokhả năng t duy yếu, họ không có khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát vấn
đề khi nghe giảng
Trong những giờ thực hành, thảo luận, sinh viên đã chủ động học nhiềuhơn Các sinh viên phải tự chuẩn bị bài để tập, tự tổ chức các hoạt động chotrẻ, phải chuẩn bị ý kiến để trình bày, trao đổi, tranh luận với bạn bè Tuynhiên trong những giờ học ấy không phải sinh viên nào cũng chuẩn bị bài chu
đáo, cũng tích cực, chủ động để rèn luyện phơng pháp học tập và tự nâng caotrình độ của mình Vẫn còn không ít sinh viên cha tự chuẩn bị bài ở nhà, tìnhtrạng sinh viên trông chờ, ỷ lại bạn bè, đùn đẩy nhau, thậm chí còn nộ trỏnhnhững buổi đợc phân công làm nhiệm vụ còn khá phổ biến
Trang 40Tóm lại: Tính tích cực, chủ động của sinh viên còn yếu trong quá trìnhhọc tập trên lớp Việc tiếp thu tri thức chủ yếu theo kiểu ghi chép, ghi nhớ mộtchiều Do vậy hiệu quả của hoạt động tự học không cao.
- Hoạt động tự học ngoài giờ lờn lớp
+ Việc xõy dựng và thực hiện kế hoạch tự học của bản thõn:
Việc làm có tính chất chuẩn bị cho quá trình hoạt động tự học cuả sinhviên là việc xây dựng kế hoạch học tập cá nhân Theo ý kiến của hầu hết cáccán bộ giảng dạy, trong một khoảng thời gian có hạn mà sinh viên phải tiếpthu nhiều nội dung kiến thức, kỹ năng, muốn việc học tập nói chung, hoạt
động tự học nói riêng có kết quả thì mỗi sinh viên phải tự ý thức đợc thời gianvật chất và trình tự công việc của mình, phải có kế hoạch học tập rõ ràng,khoa học
Kết quả điều tra ý kiến của sinh viên về việc lập kế hoạch học tập chothấy:
* Đa số sinh viên có lập kế hoạch học tập, nhng chủ yếu các em lập kếhoạch theo tuần 66,8%, đến theo tháng 24,2%, và theo học kỳ 9%, hầu nhkhông có sinh viờn nào lập kế hoạch theo năm và khoá học
*Tuy nhiên đa số sinh viên cho rằng mình không thực hiện đợc kếhoạch học tập đã đề ra (66%); số sinh viên tự đánh giá mình thực hiện được
kế hoạch học tập do chính mình đề ra chiếm tỷ lệ ít hơn (34%);
Kết quả điều tra ý kiến của giảng viên về vấn đề này cho thấy:
* Trong số sinh viên có lập kế hoạch học tập chỉ có 15% có kế hoạch tựhọc hợp lý, khoa học; 67% cha có kế hoạch hợp lý, khoa học; và 28% các emcòn cha biết xây dựng kế hoạch học tập nh thế nào
* Tất cả các cán bộ giảng dạy ở các bộ môn đều cho rằng: Đa số sinhviên có kế hoạch cho từng buổi học, từng tuần, từng kỳ hay cả khoá học theotừng bộ môn học khác nhau Có nghĩa là ngày mai có môn học nào thì họcmôn ấy, ngày mai, ngày kia kiểm tra, thi môn học nào thì học môn học đó,chứ cha biết xếp lịch học với từng bộ môn Sinh viên học mang tính chất đốiphó với thầy cô và chỉ tập trung học nhiều vào các kỳ kiểm tra, thi
+ Địa điểm tự học: