1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường trung học phổ thông huyện thường xuân, tỉnh thanh hóa luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

116 1,7K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường trung học phổ thông huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm - Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động GDNGLL là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ họccác môn văn hóa và tiếp nối hoạt động dạy học trên lớp, có quan hệ chặt chẽvới hoạt động dạy học và các hoạt động giáo dục t

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nguồnnhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giáo dụcphổ thông đã và đang được đổi mới mạnh mẽ theo bốn trụ cột của giáo dụcthế kỉ XXI, mà thực chất là cách tiếp cận kỹ năng sống, đó là: Học để biết,Học để làm, Học để tự khẳng định mình và Học để cùng chung sống Mụctiêu của giáo dục phổ thông cũng đã và đang chuyển hướng từ chủ yếu làtrang bị kiến thức sang trang bị những năng lực cần thiết cho các em học sinh.Phương pháp giáo dục phổ thông đổi mới theo hướng phát huy tích cực, tựgiác, chủ động, sáng tạo của người học, phù hợp với đặc điểm của từng lớphọc, tăng cường khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụngkiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thúhọc tập cho học sinh

Trong quá trình giáo dục, ngoài việc hình thành thái độ đúng đắn, cáchành vi và thói quen tốt, các kỹ năng hoạt động và ứng xử trong các mối quan

hệ xã hội về chính trị, đạo đức, pháp luật , còn phải giúp các em bổ sung vàhoàn thiện những tri thức đã học trên lớp Vậy, quá trình giáo dục khôngnhững được thực hiện thông qua các hoạt động giáo dục trên lớp mà cònthông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (GDNGLL)

Hoạt động GDNGLL là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ họccác môn văn hóa và tiếp nối hoạt động dạy học trên lớp, có quan hệ chặt chẽvới hoạt động dạy học và các hoạt động giáo dục trong nhà trường THPT,nhằm tạo môi trường cho người học, gắn lý thuyết với thực hành, thống nhấtgiữa nhận thức với hành động và cơ hội trải nghiệm của họ, góp phần tích cựcvào việc hình thành và phát triển kỹ năng sống, khả năng tự giáo dục, tự rèn

Trang 2

luyện cho học sinh Hoạt động GDNGLL giúp nhà trường và giáo viên pháttriển các chương trình giáo dục, xây dựng văn hóa nhà trường

Hoạt động GDNGLL còn là cầu nối tạo ra mối liên hệ hai chiều giữa nhàtrường và xã hội Là điều kiện và phương tiện để huy động sức mạnh cộngđồng cùng tham gia vào quá trình phát triển giáo dục của nhà trường

Hoạt động GDNGLL là linh hồn của các hoạt động tập thể trong nhàtrường Nó là thước đo sự phối hợp tổ chức các hoạt động của các lực lượnggiáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm góp phần “… nâng cao chất lượnggiáo dục toàn diện, đổi mới nội dung phương pháp dạy và học, hệ thống

trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa,

xã hội hoá giáo dục Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học

sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề …”

(Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ X).

Tuy nhiên, trong thực tiễn các nhà trường THPT ở Việt Nam nói chung

và ở huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa nói riêng, chưa chú ý nhiều đếnhoạt động GDNGLL cho HS Nhận thức và năng lực của CBQL, đội ngũ GVcòn nhiều hạn chế, vì thế chất lượng hoạt động GDNGLL chưa đáp ứng đượcyêu cầu giáo dục toàn diện cho HS Điều đó thể hiện ở sự yếu kém về kỹ năngsống, kỹ năng thích ứng, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, nănglực tổ chức quản lý, năng lực hợp tác của HS sau khi tốt nghiệp phổ thông

Từ những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp quản lý hoạt động giiáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường trung học phổ thông huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá”

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất những biện pháp QL hoạt động GDNGLL, từ đó góp phầnnâng cao chất lượng giáo dục tại các trường THPT huyện Thường Xuân, tỉnhThanh Hoá

Trang 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu:

QL hoạt động GDNGLL ở trường THPT

3.2 Đối tượng nghiên cứu:

Các biện pháp QL hoạt động GDNGLL ở các trường THPT huyệnThường Xuân, tỉnh Thanh Hoá

4 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý có cơ sở khoa học và có tínhkhả thi thì sẽ nâng cao chất lượng hoạt động GDNGLL ở các trường THPThuyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDNGLL ở cáctrường THPT

5.2 Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động GDNGLL ở các trườngTHPT huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá

5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động GDNGLL ở cáctrường THPT huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá

6 Phạm vi nghiên cứu

Khảo sát cứu công tác quản lý hoạt động GDNGLL ở các trường THPThuyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay (từ năm 2007-2008; 2008-2009; 2009-2010)

Số liệu đã thu thập từ cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh trườngTHPT Cầm Bá Thước, THPT Thường Xuân 2, huyện Thường Xuân, tỉnhThanh Hóa

Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GDNGLL áp dụng cho giaiđoạn 2011-2015

Trang 4

7 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này tác giả sử dụng các nhóm phương pháp:

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: phương pháp phân tích vàtổng hợp lý thuyết, phương pháp cụ thể hoá lý thuyết, phương pháp phân loại

và hệ thống hóa lý thuyết để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương pháp quan sát,phương pháp điều tra, phương pháp chuyên gia, phương pháp tổng kết kinhnghiệm để xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài

7.3 Phương pháp hỗ trợ: sử dụng toán thống kê để xử lý số liệu

8 Những đóng góp của luận văn

Luận văn đã góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của côngtác quản lý hoạt động GDNGLL trong trường THPT, từ đó đề xuất được cácbiện pháp quản lý hiệu quả công tác này ở các trường THPT huyện ThườngXuân, tỉnh Thanh Hoá

9 Cấu trúc nội dung của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động GDNGLL ở các trường THPThuyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá

Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động GDNGLL ở các trườngTHPT huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá

Trang 5

Rabơle (1494 - 1553) là một trong những đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa

nhân đạo và tư tưởng giáo dục Pháp thời kỳ Phục Hưng đòi hỏi việc giáo dụcphải bao hàm các nội dung: Trí dục, đạo đức, thể chất và thẩm mỹ, đã có sángkiến tổ chức các hình thức giáo dục như: ngoài việc học tập ở lớp và ở nhàcòn có những buổi tham quan xưởng thợ, các cửa hàng, tiếp xúc với các nhàvăn, các nghị sĩ, đặc biệt là mỗi tháng một lần, thầy và trò về sống ở nôngthôn một ngày

J A Kômenxki (1592 - 1670) được coi là ông tổ của nền sư phạm cận

đại đặc biệt quan tâm kết hợp việc học trên lớp với các hoạt động ngoài lớp.Ông khẳng định: Học tập không phải là lĩnh hội kiến thức trong sách vở màlĩnh hội kiến thức từ mặt trời, mặt đất, từ cây sồi, cây dẻ [14]

A S Macarenco (1888 - 1939) bàn về tầm quan trọng của công tác

giáo dục học sinh ngoài giờ học: phương pháp giáo dục không thể hạn chếtrong các vấn đế giảng dạy, lại càng không thể để cho quá trình giáo dục chỉthực hiện trên lớp học, mà đáng ra phải là trên mỗi mét vuông của đất nướcchúng ta…Nghĩa là trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không được quan niệmrằng công tác giáo dục chỉ được tiến hành trong lớp Công tác giáo dục chỉđạo toàn bộ cuộc sống của trẻ [18] Trong thực tiễn, Macarenco đã tổ chứccác hoạt động ngoài giờ lên lớp, câu lạc bộ cho học sinh ở trại M.Gorki và ở

Trang 6

Công xã F.E.Dzerjinski như: tổ đồng ca, tổ văn học Nga, tổ khiêu vũ, xưởng

tự do, tổ khoa học thực nghiệm tự nhiên, tổ vật lý, hóa học, tổ thể dục thểthao…Việc phân các em vào các tổ chức ngoại khóa, câu lạc bộ được tổ chứctrên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, các em có thể xin ra khỏi tổ bất cứ lúc nào,nhưng các tổ phải kỷ luật trong quá trình hoạt động

Các nghiên cứu ở Liên Xô vào những năm 60 - 70 về lý luận giáo dục

nói chung và hoạt động GDNGLL nói riêng được đẩy mạnh I.Xmarienco

trong tác phẩm “Tổ chức và lãnh đạo công tác giáo dục ở trường phổ thông”

[28] đã trình bày sự thống nhất của công tác giáo dục trong và ngoài giờ học,

vị trí của người Hiệu trưởng trong việc lãnh đạo hoạt động giáo dục và các tổchức Đội thiếu niên và Đoàn thanh niên trong nhà trường

- Rabơle (1494-1553) là một trong những đại biểu xuất sắc của chủnghĩa nhân đạo Pháp và tư tưởng giáo dục thời kì Phục hưng Ông đòi hỏi

việc giáo dục phải bao hàm các nội dung: “trí dục, đức dục, thể chất và thẩm mỹ” Ông đã có sáng kiến tổ chức các hình thức giáo dục như ngoài việc học

ở lớp và ở nhà, còn có các buổi tham quan các xưởng thợ, các cửa hàng, tiếpxúc với các nhà văn, các nghị sĩ, đặc biệt là mỗi tháng một lần thầy và trò vềsống ở nông thôn một ngày

- Ở Việt Nam tháng 9 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư gửi

học sinh nhân ngày khai trường: Các em cũng nên ngoài giờ học ở trường,tham gia vào các Hội cứu quốc để tập luyện thêm cho quen với đời sống chiến

sĩ và để giúp đỡ một vài việc nhẹ nhàng trong cuộc phòng thủ đất nước [19].Với lứa tuổi măng non, giữa cái chơi và cái học, có sự hỗ trợ thúc đẩy lẫnnhau: Trong lúc học cũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm

cho chúng học Ở trong nhà, ở trường học, ở xã hội, chúng đều vui, đều học

Trong những năm 80 của thế kỷ XX, để đáp ứng yêu cầu cải cách giáo

dục, đã có nhiều nghiên cứu về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, có thể

Trang 7

kể các công trình nghiên cứu sau: Viện khoa học giáo dục với đề tài nghiên

cứu về “Các hoạt động ngoài giờ lên lớp và sự hình thành nhân cách của học sinh” Đề tài được triển khai và thực nghiệm từ năm 1979 - 1980 tại một số

trường phổ thông ở Hà Nội, kết quả thực nghiệm đã được công bố trên tạp chíNghiên cứu giáo dục và tạp chí Thông tin khoa học giáo dục

Một số nghiên cứu lý luận về hoạt động GDNGLL trong những năm

1985 - 1987 của các tác giả như: Nguyễn Lê Đắc, Hoàng Mạnh Phú, Lê

Trung Trấn, Nguyễn Dục Quang và một số nghiên cứu thực nghiệm cải tiếnnội dung, phương pháp tổ chức nhằm nâng cao chất lượng hoạt động

GDNGLL năm 1989 - 1990 do nhóm cán bộ nghiên cứu của Viện khoa học

giáo dục thực hiện như: Nguyễn Dục Quang, Nguyễn Thị Kỉ, Hà NhậtThăng…

Đến nay đã có nhiều nghiên cứu và kinh nghiệm tổ chức hoạt độngGDNGLL, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu lý luận, nghiên cứu thực tiễn, tổngkết kinh nghiệm, đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động GDNGLL Tác giả

Ngô Văn Phước (2001) với đề tài “Người Hiệu trưởng tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường Trung học phổ thông”, đã nghiên cứu

thực trạng quản lý hoạt động GDNGLL ở một số trường Trung Học Phổ

Thông tỉnh Thừa Thiên - Huế và đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động này ở các trường Trung học phổ thông tỉnh Thừa Thiên - Huế Tác giả Nguyễn Thị Hoàng Trâm (2003) với luận văn: “Các biện pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của Hiệu trưởng một số trường Trung Học Phổ Thông phía Nam” đã làm rõ lịch sử

nghiên cứu đề tài ở các nước trên thế giới và Việt Nam, phân tích cơ sở lýluận, xác định nội dung, thành lập ban chỉ đạo đồng thời đề ra các biện phápnâng cao chất lượng quản lý hoạt động GDNGLL Tác giả Lê Hồng Quảng

(2005) với luận văn “Một số giải pháp phối hợp giữa Hiệu trưởng và Ban

Trang 8

Chấp Hành Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trong công tác giáo dục đạo đức học sinh ở trường Trung Học Phổ Thông tỉnh Bình Phước” đã

nghiên cứu về sự phối hợp giữa Hiệu trưởng và tổ chức Đoàn thanh niêntrong công tác giáo dục đạo đức, một khía cạnh rất quan trọng của hoạt độngGDNGLL Luận văn đã đúc kết nhiều kinh nghiệm hữu ích về việc phối hợpcác lực lượng giáo dục và phát huy vai trò Đoàn thanh niên trong công tácquản lý của người Hiệu trưởng

- Một số cuốn sách viết về hoạt động GDNGLL trong thời gian đầunhững năm 80 của một số tác giả như: Đặng Vũ Hoạt, Hà Nhật Thăng,Nguyễn Hữu Hợp, Nguyễn Dục Quang, Nguyễn Đăng Thìn, Nguyễn ThịKỷ…và gần đây nhất, năm 2003, hai tác giả: Hoàng Minh Thao-Hà ThếTruyền (Trường Cán bộ quản lí giáo dục và Đào tạo Trung ương) đã đề cậpđến hoạt động GDNGLL trong cuốn “ Quản lí giáo dục theo định hướngCNH-HĐH”

Một số bài viết về kinh nghiệm thực tiễn của một số trường THPT tổ chứchoạt động GDNGLL mà tác giả là giáo viên cán bộ quản lý trường phổ thông.Qua hệ thống các nghiên cứu nói trên, cho thấy các tác giả đã đi sâu vàonghiên cứu cơ bản về hoạt động GDNGLL, nghiên cứu thực nghiệm tổng kếtkinh nghiệm thực tiễn nhằm xây dựng quy trình tổ chức và đổi mới nội dungphương pháp hoạt động GDNGLL Các nghiên cứu về quản lí hoạt độngGDNGLL chưa nhiều Cho tới năm 1999, Ngô Văn Phước bảo vệ luận văn

thạc sỹ: “Người Hiệu trưởng tổ chức hoạt động GDNGLL ở trường THPT”; năm 2005 Nguyễn Như Ý bảo vệ luận văn thạc sỹ: “Một số biện pháp quản lí hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của hiệu trưởng các trường THPT huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây trong giai đoạn hiện nay ” Tại địa bàn tỉnh

Trang 9

Thanh Hoá nói chung và huyện Thường Xuân nói riêng, chưa có đề tài nàonghiên cứu chuyên sâu về quản lí hoạt động GDNGLL

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý

Tùy theo mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận, khái niệm “Quản lý”

được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Theo từ điển Tiếng Việt (1998):Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định; là tổ chức vàđiều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định [26]

Frederich Winslow Taylor (1856 - 1915) đã định nghĩa: Quản lý là biết

được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ

đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.

Henry Fayol (1845 - 1925), cha đẻ của thuyết quản lý hành chính cho

rằng: Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối

hợp và kiểm tra

Theo Trần Xuân Sinh: Quản lý là một quá trình tác động của con ngườivào một hệ thống nhằm thay đổi hiện trạng của hệ thống đó hoặc đưa vào hệthống đó những thuộc tính mới Đây là quá trình tác động có định hướng, có

tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động dựa trên các thông tin, thực trạngcủa đối tượng và môi trường nhằm làm cho sự vận động của các đối tượngđược ổn định, phát triển đạt đến mục tiêu đề ra [23]

Thái Văn Thành và nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam coi: Quản lý là

sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên đối tượng quản

lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra [24]

PGS-TS Đặng Quốc Bảo cho rằng: hoạt động quản lý là hoạt động bao gồm hai quá trình “Quản” và “Lý” tích hợp vào nhau, trong đó, “Quản” gồm sự coi sóc giữ gìn để duy trì tổ chức ở trạng thái ổn định, qúa trình

“Lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp đổi mới, đưa hệ vào thế phát triển.”

Trang 10

[16,tr.31] Như vậy quản lí chính là hoạt động tạo ra sự ổn định và thúc đẩy

sự phát triển của tổ chức đến một trạng thái mới có chất lượng cao hơn

PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc và TS Nguyễn Quốc Chí khi nhấn mạnh

đến chức năng của hoạt động quản lý cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.” [25,tr.12]

Nguyễn Bá Sơn (2000) định nghĩa: Quản lý là sự tác động có hướngđích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng một hệ thống các giảipháp nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, đưa hệ thống tiếp cậnmục tiêu cuối cùng, phục vụ lợi ích của con người

Có thể hiểu: Quản lý là việc nhằm đạt đến mục tiêu đã xác định thông qua sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý

Chức năng quản lý

Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý chuyên biệt, thôngqua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện mộtmục tiêu nhất định

Hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất về 4 chức năng quản lý chủyếu đó là: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và trong đó thông tin vừa

là phương tiện, vừa là điều kiện để thực hiện các chức năng quản lý

Chức năng kế hoạch hoá: Để thực hiện chủ chương, chương trình, dự

án kế hoạch hoá là hành động đầu tiên, chức năng cơ bản để hoàn thành cácchức năng khác Đây được coi là chức năng chỉ lối làm cho tổ chức phát triểntheo kế hoạch Trong quản lý đây là căn cứ mang tính pháp lý quy định hànhđộng của cả tổ chức

Chức năng tổ chức: Người quản lý phải hình thành bộ máy tổ chức là

cơ cấu các bộ phận (tuỳ theo tính chất công việc, có thể tiến hành phân công,

Trang 11

phân nhiệm cho các cá nhân), quy định chức năng nhiệm vụ từng bộ phận,mối quan hệ giữa chúng

Như vậy, thực chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ, liên hệ giữacon người với con người, giữa các bộ phân riêng rẽ thành một hệ thống hoạtđộng nhịp nhàng của một cơ thể thống nhất Tổ chức tốt sẽ khơi nguồn chocác tiềm năng

Chức năng chỉ đạo: Đây là khâu quan trọng tạo nên thành công của kế

hoạch dự kiến Chính ở khâu này, đòi hỏi người quản lý phải vận dụng khéoléo các PP và nghệ thuật quản lý Đây là quá trình tác động qua lại giữa chủthể quản lý và mọi thành viên trong tổ chức nhằm góp phần thực hiện hoá cácmục tiêu đề ra Bản chất của chức năng chỉ đạo xét cho cùng là sự tác độnglên con người, khơi dậy những tiềm năng của con người trong hệ thống quản

lý, thực hiện tốt mối liên hệ giữa con người với con người và quá trình đó giảiquyết những mối quan hệ đó để họ tự nguyện, tự giác và hăng hái phấn đấutrong công việc

Chức năng kiểm tra: Chức năng kiểm tra nhằm đánh giá việc thực hiện

các mục tiêu đề ra Điều cần lưu ý là khi kiểm tra phải theo chuẩn Chuẩn phảixuất phát từ mục tiêu, là đòi hỏi bắt buộc đối với mọi thành viên của tổ chức

Cuối cùng, tất cả các chức năng trên đều cần đến yếu tố thông tin.Thông tin đầy đủ, kịp thời, cập nhật, chính xác là một căn cứ để hoạch định

kế hoạch; thông tin cũng cần cho các bộ phận trong cơ cấu tổ chức, là chấtliệu tạo quan hệ giữa các bộ phận trong tổ chức, thông tin truyền tải mệnhlệnh chỉ đạo (thông tin xuôi) và phản hồi (thông tin ngược) diễn tiến hoạtđộng của tổ chức và thông tin từ kết quả hoạt động của tổ chức giúp chongười quản lý xem xét mức độ đạt mục tiêu của toàn tổ chức

1.2.2 Quản lý giáo dục

Quản lí giáo dục nằm trong quản lí văn hóa – tinh thần Các nghiên cứu

ở Liên Xô (cũ) đã đưa ra một số định nghĩa về khái niệm quản lý giáo dục

Trang 12

Điển hình như M.M.MechtiZađe đã nêu: “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp (tổ chức, phương pháp, cán bộ, giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính, cung tiêu ) nhằm bảo đảm sự vận hành bình thường của các cơ quan trong

hệ thống giáo dục, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như về mặt chất lượng”[23,tr.34].

Ở Việt Nam, tác giả Hoàng Minh Thao đã viết: “Quản lí giáo dục theonghĩa tổng quan là hệ điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩymạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Ngày nay, với

sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giớihạn ở thế hệ trẻ mở rộng cho mọi người (tuy nhiên trọng tâm vẫn là thế hệ trẻ)cho nên Quản lí giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốcdân, các nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân.”[22,tr.5]

Hơn nữa, giáo dục là bộ phận của kinh tế xã hội, hệ thống giáo dục,mạng lưới nhà trường là bộ phận kết cấu hạ tầng xã hội Do vậy, quản lí giáodục là quản lí một loại quá trình kinh tế xã hội nhằm thực hiện đồng bộ, hàihoà sự phân hoá xã hội để tái sản xuất sức lao động có kĩ thuật, phục vụ các

yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội

Như vậy, quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có

kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lí ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống

cả về mặt số lượng cũng như chất lượng.

1.2.3 Quản lý nhà trường

Quản lí nhà trường là quản lí vi mô Quản lý giáo dục, quản lý nhàtrường có thể hiểu là một chuỗi tác động hợp lí (có mục đích, tự giác, hệthống, có kế hoạch) mang tính tổ chức – sư phạm của chủ thể quản lí đến tậpthể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà

Trang 13

trường nhằm huy động học cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào mọi hoạtđộng của nhà trường nhằm làm cho quá trình này vận hành tối ưu tới việchoàn thành những mục tiêu dự kiến.

Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của quản lý giáo dục.Dạy học và giáo dục trong sự thống nhất là hoạt động trung tâm của nhàtrường Mọi hoạt động đa dạng và phức tạp khác của nhà trường đều hướngvào tiêu điểm này Vì vậy, quản lý nhà trường thực chất là quản lý quá trìnhlao động sư phạm của thầy, hoạt động học tập – tự giáo dục của trò diễn ratrong quá trình dạy học – giáo dục Có thể nói rằng quản lý nhà trường thựcchất là quản lý quá trình dạy học – giáo dục

Quản lý nhà trường bao gồm hai loại:

a) Tác động của những chủ thể quản lí bên trên và bên ngoài nhà trường:

- Quản lí nhà trường là những tác động quản lí của các cơ quan quản lígiáo dục cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giáo dụccủa nhà trường

- Quản lí nhà trường cũng gồm những chỉ dẫn, quyết định của các thựcthể bên ngoài nhà trường nhưng có liên quan trực tiếp đến nhà trường nhưcộng đồng được đại diện dưới hình thức là Hội đồng giáo dục nhằm địnhhướng sự phát triển của nhà trường và hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc thực hiệnphương hướng phát triển đó

b) Tác động của những chủ thể quản lí bên trong nhà trường

Quản lí nhà trường do chủ thể quản lí bên trong nhà trường bao gồmcác hoạt động sau:

- Quản lí giáo viên;

- Quản lí học sinh;

- Quản lí quá trình dạy học giáo dục;

- Quản lí cơ sở vật chất trang thiết bị trường học

Trang 14

- Quản lí tài chính trường học;

- Quản lí mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng

Nói tóm lại: Quản lí nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường.

Có nhiều cấp quản lý trường học: Cấp cao nhất là Bộ Giáo dục và Đàotạo, nới quản lý nhà trường bằng các biện pháp vĩ mô Có hai cấp trung gianquản lý trường học là Sở Giáo dục và Đào tạo ở tỉnh và Phòng Giáo dục ở cáchuyện Cấp quản lý quan trọng trực tiếp cuả hoạt động giáo dục là cơ quanquản lý trong các nhà trường

Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang

có, tiến lên một trạng thái phát triển mới Bằng phương thức xây dựng và pháttriển mạnh mẽ các nguồn lực giáo dục và hướng các nguồn lực đó vào phục

vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo dục Mục đích cuối cùng của quản lýgiáo dục là tổ chức quá trình có hiệu quả để đào tạo lớp thanh niên thôngminh, sáng tạo, năng động tự chủ, biết sống và phấn đấu vì mục đích của bảnthân và của xã hội

1.2.4 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

1.2.4.1 Khái niệm

- Theo T.A.Ilina: Công tác giáo dục học sinh ngoài giờ học thường

được gọi là công tác giáo dục ngoại khóa Công tác này, bổ sung và làm sâu thêm công tác giáo dục nội khóa, trước tiên là phương tiện để phát hiện đầy

đủ tài năng và năng lực trẻ em, thức tỉnh thiên hướng và hứng thú của học sinh đối với một hoạt động nào đó, đó là một hình thức tổ chức giải trí của học sinh và là cơ sở để tổ chức việc học tập về hành vi đạo đức, để xây dựng kinh nghiệm của hành vi này [ 13]

Trang 15

- Tác giả Đặng Vũ Hoạt định nghĩa: Hoạt động GDNGLL là việc tổ

chức giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn của học sinh về khoa học - kĩthuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo, văn hóa vănnghệ, thẩm mỹ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí… để giúp các em hình thành

và phát triển nhân cách [12]

Từ các định nghĩa trên có thể thấy rằng: Hoạt động GDNGLL là nhữnghoạt động được tổ chức ngoài giờ học các bộ môn văn hóa ở trên lớp, là sự tiếpnối và thống nhất hữu cơ với hoạt động học tập trên lớp, là con đường gắn họcvới hành, lý thuyết với thực tiễn, nhận thức với hành động…Hoạt động này

được tiến hành nối tiếp hoặc xen kẽ hoạt động dạy - học trong phạm vi nhà

trường hoặc xã hội, nó diễn ra trong suốt năm học và cả thời gian nghỉ hè đểkhép kín quá trình giáo dục, làm cho quá trình này được thực hiện ở mọi nơi,mọi lúc Trong quá trình tổ chức hoạt động có thể có sự tham gia, phối hợpgiữa các lực lượng giáo dục khác nhau nhưng nhà trường vẫn giữ vai trò chủđạo Đồng thời hoạt động GDNGLL là điều kiện thuận lợi để học sinh phát huyvai trò chủ thể của mình trong hoạt động, nâng cao được tính tích cực hoạtđộng, qua đó rèn luyện những nét nhân cách của con người phát triển

1.2.4.2 Mục đích của hoạt động GDNGLL

Hoạt động GDNGLL ở trường THPT nhằm vào các mục đích:

- Củng cố, khắc sâu kiến thức của các môn học, mở rộng và nâng caohiểu biết của học sinh về các lĩnh vực đời sống xã hội, làm phong phú thêmvốn tri thức, kinh nghiệm họat động tập thể của học sinh;

- Rèn luyện các kĩ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổi THPT như: kỹnăng giao tiếp ứng xử có văn hóa, kỹ năng tổ chức quản lí và tham gia cáchoạt động tập thể với tư cách là chủ thể của họat động, kỹ năng tự kiểm tra,đánh giá kết quả học tập rèn luyện, củng cố phát triển các hành vi, thói quentốt trong học tập, lao động và công tác xã hội;

Trang 16

- Bồi dưỡng thái độ tự giác tích cực tham gia các hoạt động tập thể vàhoạt động xã hội, hình thành tình cảm chân thành, niềm tin trong sáng vớicuộc sống, với quê hương, đất nước, có thái độ đúng đắn đối với các hiệntượng tự nhiên và xã hội [7]

1.2.4.3 Vị trí, vai trò của hoạt động GDNGLL

- Theo Điều lệ trường Trung học (2007), hoạt động GDNGLL là mộttrong hai thành tố cơ bản của quá trình sư phạm trong nhà trường: hoạt độngdạy học trên lớp và hoạt động GDNGLL

- Hoạt động GDNGLL có vai trò rất quan trọng, nó điều chỉnh và định

hướng cho quá trình giáo dục toàn diện, tạo ra những con người hoàn thiện về

nhân cách, được thể hiện qua hành vi, kỹ năng - kỹ xảo, cách giao tiếp ứng

xử, thái độ đối với cuộc sống… Bên cạnh đó, nó góp phần củng cố và khắcsâu kiến thức các môn học, mở rộng và nâng cao hiểu biết cho học sinh về cáclĩnh vực đời sống xã hội, phát triển các hành vi, thói quen tốt trong học tập,lao động và hoạt động xã hội, bồi dưỡng cho học sinh thái độ tự giác, tích cựckhi tham gia các hoạt động Đồng thời hoạt động GDNGLL góp phần thỏamãn các nhu cầu đa dạng cho học sinh, đặc biệt là nhu cầu vui chơi giao tiếp,lôi cuốn học sinh vào các hoạt động có ích, hạn chế những tác động tiêu cựccủa môi trường luôn rình rập tha hóa các em Việc tổ chức các hoạt độngGDNGLL một cách thường xuyên góp phần tạo điều kiện cho học sinh tiếpcận, gia nhập đời sống xã hội, giáo dục học sinh kỹ năng sống, tạo cơ hội đểhọc sinh vận dụng, thể nghiệm những gì tiếp thu được trong giờ học chínhkhóa, nhờ đó kết quả giáo dục trở nên bền vững, trọn vẹn hơn về nhận thức,tình cảm, kĩ năng, hành vi …

1.2.4.4 Nhiệm vụ của hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

+ Về nhận thức: Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp giúp học sinh bổsung, khắc sâu và hoàn thiện kiến thức đã học trên lớp đồng thời giúp các em

Trang 17

có những hiểu biết mới về cuộc sống, về xã hội, tình hình thời sự, đặc biệtnhững vấn đề của thời đại: môi trường, dân số, hiểm họa ma túy, các cuộc đấutranh vì hòa bình, công lý …

Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp giúp học sinh có điều kiện vậndụng kiến thức đã học vào đời sống, biết tự điều chỉnh hành vi đạo đức, lốisống cho phù hợp, trở thành người có kinh nghiệm và nhanh chóng trưởngthành, chững chạc …

Ngoài giờ lên lớp giúp học sinh tiếp cận với lý tưởng cách mạng thôngqua hoạt động, có định hướng chính trị rõ ràng, hiểu biết nhất định về truyềnthống đấu tranh của dân tộc, có niềm tự hào về truyền thống văn hóa tốt đẹpcủa dân tộc đồng thời tăng thêm hiểu biết về văn hóa của các nước trên thếgiới thông qua các hoạt động giao lưu, hữu nghị, thông tin …

+ Về thái độ, tình cảm: Nhiệm vụ của ngoài giờ lên lớp không nhữnghình thành ở học sinh những niềm tin, thái độ, tình cảm đúng mà còn giúp các

em bày tỏ thái độ, tình cảm của mình qua các hoạt động và mối quan hệ khácnhau, qua đó tình cảm của các em được củng cố khẳng định và trở nên bềnvững Hình thành cho học sinh niềm tin vào chế độ, tương lai của đất nước, từ

đó có lòng tự hào dân tộc, nung nấu ước mơ tiếp nối truyền thống xây dựngquê hương giàu đẹp, hình thành cho học sinh những tình cảm đạo đức trongsáng, ý thức trách nhiệm đối với gia đình, bạn bè, thầy cô, tình yêu quê hương

đất nước, tình đoàn kết hữu nghị với các bạn thanh - thiếu niên quốc tế, các

dân tộc trên thế giới Giáo dục nếp sống lành mạnh, giản dị, hành vi văn minhtrong giao tiếp, tinh thần thái độ học tập đúng đắn, ý thức chấp hành kỷ luật;xây dựng cho các em lối sống phù hợp với đạo đức, pháp luật, truyền thốngtốt đẹp của địa phương và đất nước, bồi dưỡng cho học sinh tính tích cực,năng động sẵn sàng tham gia hoạt động xã hội, hoạt động tập thể, vì lợi ích

chung, vì sự tiến bộ của bản thân, thấm nhuần lẽ sống cao đẹp: “Mọi người vì

Trang 18

mỗi người - mỗi người vì mọi người” Thông qua hoạt động tập thể học sinh

được rèn luyện trực tiếp trong cuộc sống xã hội, vững vàng hơn trong ý thứcxây dựng tập thể, trong kỹ năng tự quản, kỹ năng giao tiếp, tự giáo dục, tự rènluyện, cũng như quen dần với những công việc tổ chức và quản lí tập thể,quản lí xã hội

+ Về rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, hành vi, thói quen: Hoạt động giáo dụcngoài giờ lên lớp rèn luyện cho học sinh những kỹ năng cần thiết trong cuộcsống như: kỹ năng giao tiếp; kỹ năng ứng xử có văn hóa; kỹ năng tự quản: tổchức điều khiển và thực hiện một hoạt động tập thể có hiệu quả, kỹ năng nhậnxét, kỹ năng đánh giá kết quả hoạt động; kỹ năng sinh hoạt ngoài trời; Rènluyện sức khỏe, nâng cao thể lực, hình thành và phát triển những năng lựcthiên hướng của bản thân, những thói quen tốt trong học tập lao động và cáchoạt động khác Bên cạnh đó, ngoài giờ lên lớp còn giúp các em rèn luyện kỹnăng giáo dục và tự giáo dục, kỹ năng hòa nhập để thực hiện các nhiệm vụđược giao

Ba nhiệm vụ trên đây của hoạt động GDNGLL có mối quan hệ thốngnhất biện chứng với nhau, bổ sung, hổ trợ, thúc đẩy lẫn nhau [12]

1.2.4.5 Nguyên tắc hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

+ Nguyên tắc về tính mục đích và tính kế hoạch: Hoạt động giáo dụcngoài giờ lên lớp phải được lựa chọn từ yêu cầu kế hoạch năm học trên cơ sởthực hiện mục tiêu giáo dục của ngành trong từng giai đoạn, vì thế cần phảimang hai mục đích song song: phục vụ xã hội, xây dựng tập thể và tự giáodục Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp góp phần hình thành nhân cách họcsinh Vì vậy, thầy cô giáo trong nhà trường và các lực lượng giáo dục khácphải nhận thức đầy đủ về vị trí, nhiệm vụ của hoạt động GDNGLL, tích cựcchỉ đạo và hỗ trợ cho hoạt động này đạt được mục đích giáo dục mong muốn.Ngoài yêu cầu có tính mục đích giáo dục rõ ràng, muốn có hiệu quả thiết

Trang 19

thực, hoạt động này phải đảm bảo tính kế hoạch Vì vậy, phải cụ thể hóa mụctiêu chung thành mục tiêu bộ phận, định ra mức độ yêu cầu đối với từng loạihình hoạt động và những mẫu thiết kế tương ứng, đề ra những biện pháp phùhợp, vạch rõ dự án tiến hành công việc.

+ Nguyên tắc tính tự nguyện, tự giác: Nếu hoạt động trên lớp là bắtbuộc thì hoạt động GDNGLL là tự nguyện, tự giác Học sinh tự chọn tham giacác hoạt động theo khả năng, hứng thú và điều kiện sức khỏe của mình, chỉ cónhư vậy mới tạo ra được động cơ hoạt động, phát huy thiên hướng của ngườihọc sinh Muốn thế nhà trường phải tổ chức nhiều môn, nhiều nhóm, nhiềucâu lạc bộ khác nhau, thường xuyên tổ chức nhiều hình thức hoạt đôngGDNGLL hấp dẫn để thu hút các em, đồng thời phải bảo đảm tính tập thể vìhoạt đông GDNGLL được tiến hành tập thể, vì lợi ích tập thể, lợi ích xã hội

mà phục vụ Trong hoạt động này, mỗi học sinh là thành viên của một đoànthể hay tập thể, hoạt động với tính cách đại diện cho một lực lượng hoặc một

tổ chức xã hội nhất định

+ Nguyên tắc tính đến các đặc điểm lứa tuổi và đặc điểm của học sinh:Nguyên tắc này đòi hỏi nội dung và hình thức hoạt đông GDNGLL phải vừasức với từng lứa tuổi, từng khối lớp, nhà trường, giáo viên phải xác định cácloại hình hoạt động và các hình thức công việc sao cho chúng phù hợp vớikhả năng lứa tuổi và hứng thú cá nhân của học sinh, có sức hấp dẫn, thỏa mãnnhu cầu, kích thích tưởng tượng, có tác dụng nuôi dưỡng lý tưởng ước mơ,tránh căng thẳng nghèo nàn, đơn điệu Phải gây được hứng thú, mang lại niềmvui cho học sinh Cần luôn đổi mới về tính chất, nội dung và hình thức

+ Nguyên tắc kết hợp giữa sự lãnh đạo sư phạm với tính độc lập, tựquản của học sinh: Nguyên tắc này đòi hỏi phát huy tính tích cực độc lập,sáng tạo của học sinh Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường THPTvới lực lượng nòng cốt là Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cần phải được tạo điều

Trang 20

kiện để phát huy tính chủ động, năng lực sáng tạo, khả năng tự quản Trongmọi hoạt động, học sinh phải giữ vai trò chủ thể, tự điều khiển, tự giải quyếtcác tình huống nảy sinh Giáo viên là người giữ vai trò cố vấn, phải tin tưởng

và tôn trọng học sinh, tạo được mối quan hệ hợp tác, cộng đồng trách nhiệmgiữa thầy và trò

+ Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả: Khi tiến hành bất cứ hoạt độngnào cũng phải tính đến hiệu quả, trong đó hiệu quả giáo dục phải được đưalên hàng đầu Nếu tổ chức hoạt đông GDNGLL có sự kết hợp hiệu quả giáodục với các hiệu quả khác như kinh tế, chính trị, xã hội … thì phải lấy hiệuquả giáo dục để điều chỉnh các hiệu quả khác

1.2.4.6 Nội dung chương trình hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

Căn cứ nội dung hoạt động GDNGLL được đề cập tại Điều lệ trường

Trung học (2007) đồng thời đối chiếu với các hoạt động thực tiễn của cáctrường THPT hiện nay, hoạt động GDNGLL có bốn nhóm nội dung cơ bản

sau: hoạt động lao động - hướng nghiệp; hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch; hoạt động văn hóa - nghệ thuật, thể dục - thể thao; hoạt động xã hội -

chính trị

+ Hoạt động lao động - hướng nghiệp: Học sinh vệ sinh trường lớp,

trang trí lớp, chăm sóc cây trồng, bảo vệ tài sản công… thể hiện qua các

phong trào “Trường xanh, lớp đẹp”, “Không gian xanh”; Mỗi học sinh làm

một số công việc nhà vừa sức để giúp đỡ bố mẹ như: tự giặt ủi quần áo, dọndẹp nhà cửa, sửa chữa những vật dụng đơn giản; Phối hợp với Huyện Đoàn,

thực hiện phong trào “Chủ nhật xanh”, mỗi tháng một lần, tổng vệ sinh toàn

trường hay vệ sinh khu vực quanh trường, quanh nơi ở nhằm góp phần hưởng

ứng cuộc vận động: “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”;

Để không khí thêm sinh động, vào các dịp lễ, Tết nhà trường hoặc cụm liêntrường tổ chức hội chợ triển lãm, bán, trao đổi những sản phẩm do học sinh

Trang 21

làm ra qua bộ môn công nghệ như: túi xách, đồ trang sức, giỏ hoa, áo len,móc khóa, bánh, mứt; Tổ chức các cuộc thi sáng tạo “vật lý - địa lý” Thực

hiện công tác hướng nghiệp, đề án “Phân luồng học sinh sau tốt nghiệp Trung học cơ sở, Trung học phổ thông”, các trường mời báo cáo viên, phối

hợp với các trường Trung học nghề, Trung cấp chuyên nghiệp tư vấn, báo cáohướng nghiệp, giới thiệu nghề truyền thống ở địa phương, giới thiệu nhữngngành nghề có nhu cầu tuyển dụng cao trong hiện tại và tương lai, tư vấn chohọc sinh chọn nghề phù hợp với khả năng của các em và nhu cầu của xã hội,

tổ chức ngày hội: “Thanh niên với nghề nghiệp” cho học sinh; tham quan

hướng nghiệp ở các nhà máy, cơ sở sản xuất, xí nghiệp…

+ Hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch: Giúp học sinh tái tạo năng lựcthần kinh và cơ bắp sau những giờ học tập căng thẳng, thay đổi tâm trạng, giảitỏa buồn phiền, mệt mỏi để học sinh có thể tiếp tục học tốt hơn, tạo cơ hội đểhọc sinh tham gia vào các mối quan hệ bạn bè, tìm hiểu những điều mới lạxung quanh, giúp các em hiểu biết hơn về những giá trị văn hóa tự nhiên xãhội, góp phần hình thành những kỹ năng sống cho học sinh Hoạt động đượcthực hiện qua nhiều hình thức: Tham quan cắm trại ở khu sinh thái lòng HồCửa Đặt, đề thờ Cầm Bá Thước, khu tích lịch Lam Kinh, nhà máy Thuỷ điệnCửa Đặt, nhà máy đường Lam Sơn Tham gia các họat động sinh hoạt tập thểngoài trời, các trò chơi vận động như: Đi cò khêu, kéo co, ném còn, nhảy bao

bố hay các trò chơi tĩnh như: trò chơi âm nhạc, trò chơi ngôn ngữ …

+ Hoạt động văn hóa - nghệ thuật, thể dục - thể thao: là món ăn tinh

thần không thể thiếu, hỗ trợ tích cực cho hoạt động dạy học, góp phần giáodục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, tạo sân chơi lành mạnh cho học sinh sau giờhọc căng thẳng Hoạt động này được thực hiện dưới nhiều hình thức: Hội thi

“EAROBIC”, “Nhà khoa học nhỏ tuổi” của Đoàn - Đội; “Hội vui học tập”,

“Đố em”, Viết thư UPU, Thuyết trình văn học, kể chuyện theo sách, thi học

Trang 22

sinh giỏi…của các môn học, của thư viện; Hội thi cắm hoa, báo tường, vẽtranh, văn nghệ nhân dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn 20/11, 19/5, 22/12 ; Thể

dục giữa giờ, “Hội khỏe Phù đổng”, “Giải Vô địch Thể dục - Thể thao học sinh”, phong trào: “Mỗi học sinh chơi một môn thể dục” Ngoài ra các em có

thể tham gia các câu lạc bộ: Cầu lông, bóng bàn, bóng rổ, thể dục nhịp điệu,

cờ tướng, cờ vua…

+ Hoạt động xã hội - chính trị: Bao gồm các hoạt động phục vụ nhiệm

vụ chính trị - xã hội của địa phương, giáo dục pháp luật, giáo dục an toàn giao

thông, giáo dục môi trường, giáo dục phòng chống AIDS, ma túy và các tệnạn xã hội, xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực… Với một số

hoạt động cụ thể: Hội thi: “Học sinh với bảo vệ môi trường”, “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; Các phong trào: “Tiếp bước cha anh”, chăm sóc Mẹ Việt Nam anh hùng, thăm viếng gia đình thương binh, liệt

sĩ; bảo vệ, chăm sóc di tích lịch sử, văn hóa; Gửi thư tặng quà thăm bộ đội

vùng biên giới, hải đảo; Các lễ hội, hội trại: “Giỗ tổ vua Hùng”, “Mừng Đảng - Mừng Xuân” Những hội thi, những phong trào, các lễ hội trên giúp

học sinh thuộc sử nước nhà, sử địa phương, truyền thống địa phương, truyềnthống nhà trường…Qua đó, bồi dưỡng lòng tự hào về những thành quả vàtruyền thống hào hùng của dân tộc, khơi dậy lòng biết ơn những người đitrước, kêu gọi nỗ lực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ để trởthành những người công dân tốt Bên cạnh các hoạt động trên, các bộ phim tưliệu, thời sự, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh… đã khơi dậy ở các em lòng

tự hào về non sông, đất nước; sự chia sẻ đồng cảm với những mất mát củađồng bào, lòng yêu thương con người, thái độ đấu tranh với những cái xấu,cái bất công hay những buổi giao lưu với học sinh trường khuyết tật, các bạnhọc sinh là nạn nhân chất độc màu da cam đã giúp các em hiểu hơn về nhữngmất mát của của các bạn đồng thời ý thức hơn về những may mắn mình đang

Trang 23

có để nỗ lực học tập rèn luyện hơn nữa; Các phong trào thi đua: “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, “Học sinh THPT Thường Xuân chung tay xây dựng ngôi trường mến yêu”, “Vẻ đẹp Đòan viên”, “Nói lời hay làm việc tốt”, “Giúp bạn vượt khó”…đã góp phần xây dựng môi trường an

toàn thân thiện, ngăn ngừa những tác động tiêu cực ngoài xã hội, tạo điều kiệnhình thành những phẩm chất đạo đức và năng lực cho học sinh, thực hiện mụctiêu giáo dục toàn diện Các hội thi tìm hiểu luật giao thông, luật phòng chống

ma túy, các buổi tọa đàm, thuyết trình về các đề tài: “Bảo vệ môi trường”,

“Quyền trẻ em” không chỉ giúp các em thích ứng với nếp sống và các định

chế của xã hội mà còn tạo điều kiện và cơ hội cho các em đóng góp sức lực,trí tuệ của mình vào sự phát triển của xã hội, phát triển tính tích cực của cá

nhân Các lễ hội, hội trại có quy mô cấp trường, liên trường như: “Vì màu xanh trái đất”, “Nối vòng tay lớn” là dịp các em giao lưu, trình bày những

suy nghĩ của mình về các vấn đề xã hội như: ma túy, HIV, AIDS, môitrường, quyền trẻ em bằng nhiều loại hình nghệ thuật như: ca, múa, kịch, tấu

hài…Một trong những tiêu chí “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” là việc rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh Kỹ năng sống là khả

năng thích nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân có thể đối phó hiệu quảvới nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày Trong điều kiện của đơn

vị, các trường đã thực hiện một số hoạt động: Hội thi kỹ năng sơ cấp cứu tainạn; Giáo dục về giới tính, sức khỏe sinh sản; tìm hiểu và phòng chống cácbệnh như: cận thị, cong vẹo cột sống, thủy đậu, Rubella, sốt xuất huyết, cúm,quai bị, phong, lao; Hướng dẫn học sinh một số điều cần thiết khi xảy ra thiêntai, hỏa hoạn, bão lụt; Hướng dẫn học sinh kỹ năng, lắng nghe, kỹ năng ghinhớ, kỹ năng đọc hay kỹ năng tự giới thiệu, nói chuyện trước đám đông, kỹnăng gọi và nghe điện thoại…

Trang 24

Việc chia thành bốn nhóm nội dung như trên chỉ có tính chất tương đối

để các nhà quản lý định hướng hoạt động ở trường mình một cách khái quát

Về thực chất, giữa các nội dung có các mối quan hệ biện chứng, đan kết và hỗtrợ lẫn nhau Trong thực tế, tùy điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của từng trường

mà nhà quản lý có thể tiếp cận nội dung hoạt động theo những cách khác nhau

để vận dụng một cách linh hoạt và có hiệu quả

1.2.5 Quản lý hoạt động GDNGLL

Quản lý hoạt động GDNGLL là hệ thống những tác động có hướng đích,hợp quy luật của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm làm cho hoạtđộng GDNGLL thực hiện được mục tiêu đặt ra

Nội dung của quản lý hoạt động GDNGLL Có thể bàn đến các nội dungquản lý hoạt động này theo các cách tiếp cận khác nhau:

a) Theo chức năng quản lý: Quản lý hoạt động GDNGLL chính là thựchiện 4 chức năng cơ bản: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra hoạt độngGDNGLL

b) Quản lý theo nội dung hoạt động GDNGLL:

- Hoạt động chính trị xã hội

- Hoạt động phục vụ học tập, tìm hiểu khoa học

- Hoạt động công ích xã hội

- Hoạt động văn hoá nghệ thuật

- Hoạt động thể thao quốc phòng, tham quan du lịch

Hay

- Hoạt động ngoại khoá về khoa học, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao

- Các hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch, giao lưu văn hoá

- Các hoạt động giáo dục môi trường

- Các hoạt động lao động công ích

- Các hoạt động xã hội từ thiện

Trang 25

Trong luận văn này chúng tôi sử dụng các tiếp cận theo chức năng quản

lý hoạt động GDNGLL

1.2.6 Các biện pháp quản lý hoạt động GDNGLL

a Khái niệm biện pháp

Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng của nhà xuất bản Giáo dục năm

1996, biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành

b Biện pháp quản lý hoạt động GDNGLL

Biện pháp quản lý hoạt động GDNGLL là cách làm, cách giải quyếtcác vấn đề khó khăn, trở ngại để nâng cao chất lượng hoạt động GDNGLL

1.3 Quản lý hoạt động GDNGLL ở trường THPT

1.3.1 Mục đích quản lý hoạt động GDNGLL

Làm cho hoạt động GDNGLL đi vào nề nếp, thực hiện đúng kế hoạch

đề ra với chất lượng và hiệu quả cao, đạt được mục đích của hoạt động này

1.3.2 Nội dung quản lý hoạt động GDNGLL

a) Lập kế hoạch hoạt động GDNGLL

Quản lý hoạt động dạy học và các hoạt động giáo dục khác phải đượcthực hiện trên cơ sở kế hoạch Kế hoạch hoạt động GDNGLL được xây dựngtrên cơ sở kế hoạch năm học chung của nhà trường, trong quan hệ tương hỗvới các kế hoạch hoạt động khác như: kế hoạch dạy học, kế hoạch giáo dục

đạo đức học sinh, kế hoạch lao động - hướng nghiệp, kế hoạch cơ sở vật chất,

Chương trình hoạt động năm của Đoàn…

Kế hoạch hoạt động GDNGLL được xây dựng trên cơ sở chương trình

các môn học, các chủ trương công tác trọng tâm và nhiệm vụ chính trị - xã hội

tại địa phương, các chủ đề, chủ điểm sinh họat Bên cạnh đó, phải căn cứ vàokhả năng của đội ngũ sư phạm và các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhàtrường cũng như điều kiện và khả năng tham gia của học sinh Lập kế hoạchcần tham khảo kết quả thực hiện các nhiệm vụ năm học trước, những yếu tố

Trang 26

mới xuất hiện để xác định yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể, định chỉ tiêu phấn đấumột cách phù hợp Khi xây dựng kế hoạch cần chọn lọc kỹ nội dung các hoạtđộng, nêu yêu cầu giáo dục rõ ràng, xác định chủ đề, chủ điểm, các hoạt độngtrong từng thời gian cụ thể và nên khéo léo kết hợp các hình thức và nội dungsinh hoạt với nhau để các hoạt động không bị chồng chéo dễ gây căng thẳnghoặc nhàm chán.

- Thành lập Ban chỉ đạo hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theoThông Tư số 32/TT ngày 15/10/1988 của Bộ Giáo dục và Trung Ương ĐoànThanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh: Mỗi trường thành lập Ban chỉ đạo (hayđiều hành) các hoạt động ngoài giờ lên lớp dưới sự chủ trì của Hiệu trưởng(hay Phó Hiệu trưởng) với sự tham gia của Bí thư Đoàn trường và một số giáoviên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm phụ trách các hoạt động

- Ban chỉ đạo có nhiệm vụ:

+ Giúp Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch chương trình hoạt động hàngnăm và chỉ đạo thực hiện chương trình kế họach đó;

Trang 27

+ Tổ chức thực hiện những họat động lớn, quy mô trường và thực hiện

sự phối hợp chặt chẽ với tổ chức Đoàn và các lực lượng giáo dục khác ởngoài nhà trường trong các hoạt động;

+ Tổ chức hướng dẫn giáo viên chủ nhiệm và cán bộ Đoàn, lớp tiếnhành các hoạt động ở đơn vị mình đạt hiệu quả;

+ Giúp Hiệu trưởng kiểm tra, đánh giá chất lượng, hiệu quả giáo dụccủa hoạt động GDNGLL

- Đảm bảo các điều kiện cần thiết để hoạt động GDNGLL thực hiệnđúng kế hoạch

c) Chỉ đạo hoạt động GDNGLL

Chỉ đạo là quá trình tác động có định hướng của chủ thể quản lý đếnkhách thể nhằm đạt được mục tiêu đề ra Chỉ đạo thực hiện hoạt đôngGDNGLL bao gồm:

- Chỉ đạo việc thực hiện chương trình;

- Chỉ đạo việc vận dụng các phương pháp tổ chức hoạt động GDNGLL;

- Chỉ đạo việc thiết kế quy trình thực hiện các hoạt động; chuẩn bịphương tiện, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động

- Chỉ đạo việc t hực hiện chương trình: Phân phối chương trình THCS hoạt động GDNGLL ban hành kèm công văn số 7608/ BGDĐT - GDTrH

ngày 31 tháng 8 năm 2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về khung phân phối

chương trình THCS, THPT năm học 2009 - 2010 Cấu tạo chương trình gồm

hai phần: phần bắt buộc và phần tự chọn

+ Phần bắt buộc: Yêu cầu mỗi nhà trường đều phải tổ chức, tất cả học

sinh phải tham gia, được coi là một trong những nội dung đánh giá quá trìnhrèn luyện của học sinh và đánh giá thi đua tập thể lớp Chương trình của phầnbắt buộc được xây dựng thành các chủ điểm giáo dục phát triển từ thấp đếncao theo từng khối lớp 10, 11, 12 Mỗi chủ điểm giáo dục gắn với một ngày

Trang 28

kỷ niệm lịch sử trong tháng và với nhiệm vụ trọng tâm của từng thời điểmgiáo dục trong năm học Cụ thể:

Bảng 1.1: Phân phối chương trình trung phổ thông lớp 10, 11, 12.

Trong năm học: 18 tiết, trong thời gian hè: 6 tiết

Chủ điểm tháng 9 Thanh niên học tập, rèn luyện vì sự nghiệpCNH, HĐH đất nước. 2 tiết

Chủ điểm tháng 10 Thanh niên với tình bạn, tình yêu và giađình. 2 tiết

Chủ điểm tháng 11 Thanh niên với truyền thống hiếu học vàtôn sư trọng đạo. 2 tiết

Chủ điểm tháng 12 Thanh niên với sự nghiệp xây dựng và bảovệ tổ quốc. 2 tiết

Chủ điểm tháng 1 Thanh niên với việc giữ gìn bản sắc vănhoá dân tộc 2 tiếtChủ điểm tháng 2 Thanh niên với lý tưởng cách mạng 2 tiếtChủ điểm tháng 3 Thanh niên với vấn đề lập nghiệp 2 tiếtChủ điểm tháng 4 Thanh niên với hoà bình, hữu nghị và hợptác 2 tiếtChủ điểm tháng 5 Thanh niên với Bác Hồ 2 tiết

Thời gian trong hè

Chủ điểm hoạt động

Mùa hè tình nguyện vì cuộc sống cộng

Trong mỗi chủ điểm của từng tháng, sách giáo khoa cũng nêu gợi ý nội

dung và hình thức hoạt động Ví dụ: Ở lớp 10, chủ điểm tháng 11 “Tôn sư trọng đạo”, các nội dung và hình thức hoạt động được gợi ý là: Lễ đăng ký

“Tuần học tốt, tháng học tốt”; Thảo luận về truyền thống “Tôn sư trọng đạo”; Tổ chức kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam 20 -11.

+ Phần tự chọn: được bố trí trong chương trình giúp nhà trường có

thêm những hình thức hoạt động phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xãhội của địa phương và phù hợp với điều kiện của nhà trường, đồng thời cũnggiúp nhà trường mở rộng thêm các hình thức hoạt động mang tính sáng tạo,

Trang 29

tính địa phương, tính thời sự… Chương trình tự chọn gồm các nội dung thuộclĩnh vực học tập, văn hóa, khoa học liên quan đến các môn học, các hoạt động

chính trị - xã hội, hoạt đông “Tình nguyện” Hoạt động tự chọn giúp các em

tích lũy thêm kinh nghiệm hoạt động cho bản thân, phát triển tư duy khả năngsáng tạo, trí tưởng tượng và rèn luyện các kỹ năng giao tiếp với mọi người,với công việc, với môi trường Một số hình thức hoạt động tự chọn là Câu lạc

bộ theo từng chuyên đề, các hoạt động vui chơi và trò chơi

- Chỉ đạo vận dụng các phương pháp tổ chức hoạt động GDNGLL:

Phương pháp tổ chức hoạt động GDNGLL ở trường THPT rất đa dạng vàphong phú Ở đây có sự phối hợp giữa phương pháp giáo dục với phươngpháp dạy học, trên cơ sở đó giáo viên vận dụng cho phù hợp với nội dung vàhình thức hoạt động đã chọn Có thể giới thiệu một số phương pháp cơ bản:Phương pháp thảo luận, phương pháp sắm vai, phương pháp giải quyết vấn

đề, phương pháp giao nhiệm vụ, phương pháp trò chơi, phương pháp câu lạc

bộ, phương pháp tổ chức hoạt động giao lưu, phương pháp hội thi, phươngpháp diễn đàn Trong một hoạt động có thể đan xen sử dụng nhiều phươngpháp khác nhau để đạt hiệu quả mong muốn

- Chỉ đạo về phương tiện, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động: Hoạt

động GDNGLL được tổ chức với tinh thần phát huy tính chủ động tích cực,sáng tạo của học sinh với tư cách là chủ thể hoạt động Một mặt nhà trường

động viên khuyến khích, học sinh tìm tòi tự tạo ra những trang - thiết bị, phương tiện phục vụ cho hoạt động; mặt khác, cần có cơ sở vật chất trang - thiết bị cần thiết để tổ chức hoạt động Các phương tiện, trang - thiết bị, cơ sở

vật chất có thể là: Sân chơi, hội trường, phòng truyền thống, phòng thínghiệm thực hành, phòng học bộ môn, thư viện; Tài liệu tham khảo, sách báo;Giấy khổ to, giấy màu, bút màu, các bảng biểu sơ đồ, bản đồ, tranh ảnh cóliên quan đến chủ điểm giáo dục, băng ghi âm, băng hình; các loại phương

Trang 30

tiện như: Video, Projector, overhead, Laptop, máy chiếu phim; đàn, trống,dụng cụ âm thanh, loa, đài, tăng âm, micro, các dụng cụ để vui chơi giải trí;

dụng cụ thể dục - thể thao, đồ dùng sinh hoạt Đội, đồ dùng dành cho cắm trại,

tham quan; nhà thiếu nhi, câu lạc bộ thể dục thể thao, rạp hát, bảo tàng, phòngtriển lãm, di tích lịch sử, nhà máy, danh lam thắng cảnh

Tùy theo yêu cầu của mỗi chủ điểm, của từng hoạt động mà sử dụng cơ

sở vật chất, trang - thiết bị cho phù hợp, tránh lãng phí hoặc sử dụng chúng

một cách hình thức

d) Kiểm tra, đánh giá hoạt động GDNGLL

Kiểm tra là xem xét, kiểm soát việc thực hiện kế hoạch của các bộphận, các cá nhân liên quan đến hoạt động nhằm đánh giá kết quả đạt được,phát huy nhân tố tích cực, phát hiện ngăn ngừa tiêu cực, giúp đỡ các đốitượng hoàn thành tốt nhiệm vụ Kiểm tra là khâu không thể thiếu trong quản

lý Trong quá trình tổ chức các hoạt động GDNGLL người quản lý kiểm tra,đánh giá mức độ thực hiện dựa trên kế hoạch và qua kết quả đạt được Kiểmtra việc làm cụ thể của từng thành viên, giáo viên, học sinh Có thể kiểm trabằng nhiều cách: Dự các hoạt động, quan sát, trao đổi, xem xét hồ sơ, sổsách…Sau khi kiểm tra cần rút kinh nghiệm hoạt động, uốn nắn, điều chỉnh,

bổ sung kế hoạch và theo dõi việc sửa chữa Biểu dương những cá nhân hoặctập thể đạt được nhiều thành tích và có nhiều thu hoạch tốt

Đánh giá kết quả hoạt động của học sinh tập trung vào ba yêu cầu: nângcao nhận thức, rèn luyện kỹ năng và bồi dưỡng tình cảm thái độ hứng thú củahọc sinh Họat động của học sinh phải được đánh giá kịp thời, công khai,khách quan để góp phần động viên, kích thích hứng thú và tính tích cực hoạtđộng của các em Có 4 mức độ đánh giá kết quả hoạt động của học sinh: Tốt,khá, trung bình, yếu Có nhiều hình thức đánh giá nhưng cần đánh giá theoquy trình đã định: Học sinh tự đánh giá; tổ học sinh đánh giá xếp loại các

Trang 31

thành viên của tổ mình; giáo viên chủ nhiệm đánh giá, xếp loại sau cùng.Đánh giá kết quả hoạt động của học sinh thông qua các bài thu hoạch, qua cácsản phẩm hoạt động, bằng cách cho điểm, qua nhận xét của cá nhân và tậpthể, trao giấy chứng nhận, là căn cứ để đánh giá xếp loại hạnh kiểm Các hoạtđộng phong trào thường kết thúc bằng việc xếp hạng thi đua và phát thưởngcho các cá nhân, tập thể xuất sắc

1.3.3 Các yếu tố quản lý có ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động GDNGLL

a) Các yếu tố bên ngoài:

- Các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Bộ giáo dục vàđạo tạo

Thông tư số 32/TT ngày 15/10/1988 của Bộ Giáo dục và Trung ƯơngĐoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh về hoạt động GDNGLL và hoạt

động Đoàn - Đội trong hai năm 1988 - 1990;

Luật Giáo dục do Quốc Hội nước Cộng Hoà XHCN Việt Nam ban

hành năm 2005, Chương I, Điều 2 về mục tiêu giáo dục có quy định: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc” Cũng tại Chương I, điều 3, mục 2 có quy định: “Hoạt động giáo dục phải thực hiện theo nguyên lý học với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường gắn liền với giáo dục gia đình và

xã hội” [16];

Chương III, điều 26, Điều lệ trường THCS, trường Trung học phổ

thông và trường phổ thông có nhiều cấp học (4/2007) quy định: “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm các hoạt động ngoại khóa về khoa học,

Trang 32

văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội, giáo dục giới tính, giáo dục pháp luật nhằm phát triển toàn diện

và bồi dưỡng năng khiếu; các hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch giao lưu văn hóa, giáo dục môi trường; các hoạt động xã hội từ thiện phù hợp với đặc điểm lứa tuổi sinh lý lứa tuổi học sinh” [6];

Chỉ thị số 40/2008/CT - BGDĐT ngày 22 tháng 7 năm 2008 về việc phát động phong trào thi đua xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 - 2013 với yêu cầu tăng cường

sự tham gia một cách hứng thú của học sinh trong các hoạt động trong nhàtrường và tại cộng đồng với thái độ tự giác, chủ động và ý thức sáng tạo

Thông tư số 12/2009/TT-BGDĐT ngày 12/5/2009 về việc ban hành

Quy định tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường THCS của Bộ Giáodục và Đào tạo đã nêu: Nhà trường có kế hoạch triển khai các hoạt độngGDNGLL; các hoạt động GDNGLL thực hiện theo kế hoạch đã đề ra; mỗihọc kỳ, rà soát đánh giá để cải tiến các hoạt động GDNGLL

Công văn số 7608/BGDĐT - GDTrH về khung phân phối chương trình THCS, THPT năm học 2009 - 2010 cũng quy định việc tổ chức thực hiện,

phương pháp, đánh giá kết quả, thiết bị, phương tiện của hoạt động giáo dụcngoài giờ lên lớp

Phân phối chương trình THPT Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (ban

hành kèm công văn 7608 BGDĐT - GDTrH về khung phân phối chương trình

THCS, THPT năm học 2009 - 2010) có thay đổi và bổ sung như sau: Thựchiện đủ các chủ đề quy định cho mỗi tháng, với thời lượng 2 tiết/tháng và tíchhợp nội dung hoạt động GDNGLL sang môn Giáo dục Công dân

Hàng năm trong chỉ thị về nhiệm vụ năm học, Bộ Giáo dục và Đào tạođều có đề cập tới các nội dung của hoạt động GDNGLL

Trang 33

Các hệ thống văn bản pháp quy cho thấy quan điểm chỉ đạo của Đảng

và Nhà nước đúng đắn và xuyên suốt về mục tiêu giáo dục toàn diện conngười mới XHCN, là kim chỉ nam cho hoạt động giáo dục ở các trường phổthông bao gồm cả việc dạy các môn văn hóa và hoạt động GDNGLL

- Nhu cầu xã hội, sự ủng hộ của phụ huynh học sinh và cộng đồng

Trong thực tế hiện nay học sinh - sinh viên tốt nghiệp còn hạn chế về năng

lực, kỹ năng thực hành, khả năng thích ứng nghề nghiệp, tinh thần hợp tác vàcạnh tranh, cách ứng xử trong cộng đồng còn nhiều hạn chế

Với thời đại CNH – HĐH đất nước, yêu cầu con người cần phải có trithức, văn hoá, kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ứng sử Chính vì vậy

mà hoạt động GDNGLL lại càng có vai trò quan trọng trong việc giáo dụctoàn diện cho học sinh, chính hoạt động này sẽ tạo một con người toàn diệnđáp ứng yêu cầu của đất nước trong thời kỳ đổi mới

Sự ủng hộ của cộng đồng và phụ huynh: Hoạt động GDNGLL đã đượcĐảng, Nhà nước cụ thể hoá trong các nghị quyết, và chỉ đạo thực hiện từtrung ương đến địa phương

Trong quá trình thực hiện tổ chức hoạt động GDNGLL ở các nhàtrường, đã thường xuyên nhận được sự quan tâm của Ban tuyên giáo, thườngtrực huyện uỷ, hội đồng nhân các cấp, Sở Giáo dục và Đào tạo cũng đã đưanội dung giáo dục toàn diện cho học vào nghị quyết đại hội đảng các cấp đểchỉ đạo thực hiện

Hoạt động GDNGLL góp phần quan trọng trong giáo dục toàn diện chohọc sinh, điều này đã được phụ huynh học sinh nhận thức một cách đúng đắn,cho nên phụ huynh học rất quan tâm và ủng hộ cả về mặt tinh thần và vật chất

- Điều kiện nguồn lực cho hoạt động GDNGLL Lãnh đạo nhà trườngphải hết sức quan tâm tạo điều kiện về CSVC phục vụ hoạt động GDNGLLnhư: tài liệu, máy chiếu, băng hình, phòng, xưởng và chế độ thù lao với

Trang 34

CBGV làm công tác này Nhìn chung hiện nay, vấn đề tăng cường CSVCphục vụ hoạt động GDNGLL chưa được quan tâm đúng mức dẫn tới chấtlượng hoạt động GDNGLL và QL hoạt động GDNGLL ở THPT còn chưađáp ứng được yêu cầu chung.

b) Các yếu tố bên trong:

- Nhận thức của CBQL, giáo viên, học sinh và cha mẹ học sinh:

Hiện nay thái độ, ý thức đúng đắn về hoạt động GDNGLL, đánh giáđúng vai trò của hoạt động GDNGLL trong việc giáo dục toàn diện cho họcsinh Ý thức đúng đắn của các lực lượng tham gia hoạt động GDNGLL sẽquyết định sự thành công của tổ chức hoạt động này ở trường PT Tuy nhiên,thái độ, nhận thức của một bộ phận không nhỏ của các nhà QLGD, CBGVchưa cao nên chưa có được những phương thức làm việc hiệu quả, sáng tạo,dẫn đến hiệu quả công tác này còn hạn chế Đối với CMHS, đa số đánh giácao vai trò của hoạt động GDNGLL, nhưng lại yếu về phương pháp và thiếucác thông tin cần thiết nên khả năng thuyết phục đối với con em không cao

- Năng lực hoạt động GDNGLL của học sinh, giáo viên chủ nhiệm,Đoàn thanh niên và năng lực quản lý hoạt động GDNGLL là ban giám hiệunhà trường:

Tổ chức hoạt động GDNGLL ở các trường THPT hiện nay nhìn chungchất lượng hoạt động chưa cao, đa giáo viên chủ nhiệm tổ chức hoạt động nàycho học sinh mới chỉ dừng lại ở hoạt động duy trì nề nếp, kỷ luật, thực hiệnnội qui nhà trường; nhắc nhở học sinh trong việc học tập và rèn luyện Nộidung hoạt động sơ sài và gây tâm trạng nhàm chán ở học sinh Công tác kiểmtra, đánh giá của CBQL chủ yếu là để theo dõi cac hoạt động nề nếp để xếploại thi đua giữa các lớp chứ chưa quan tâm thực sự đến chất lượng hoạtđộng GDNGLL Có những trường còn chưa thực hiện công tác này đối vớihoạt động GDNGLL Vì thế, hoạt động GDNGLL mang tính thụ động, dập

Trang 35

khuôn, lặp lại, không có sự sáng tạo mới mẻ, không thu hút sự quan tâm,hứng thú ở học sinh khi tham gia, từ đó hiệu quả hoạt động không cao.

- Sự đồng thuận bên trong nhà trường Cũng như mọi hoạt động khác,hoạt đông GDNGLL trong trường THPT không thể thành công nếu không có

sự ủng hộ đồng lòng của đối tượng và các lực lượng hoạt động GDNGLL,trong đó sự ủng hộ, đồng lòng của tập thể GV, HS và CMHS đóng vai tròquan trọng nhất Trong vấn đề trên, một bộ phận CBGV còn chưa thực sự ủng

hộ, còn đùn đẩy trách nhiệm, còn CMHS thì nhiều người chưa quyết tâm thựchiện, chiều theo ý thích con cái hoặc sợ trách nhiệm Ngược lại, có người rấtđộc đoán, không tôn trọng sự chọn lựa của con em họ Chính vì vậy, hoạtđộng GDNGLL hiện nay ở các trường PT đang cần có sự đồng thuận cao củatất cả mọi người liên quan

- Các điều kiện đảm bảo cho hoạt động GDNGLL Là yếu tố hết sứcquan trọng quyết định chất lượng hoạt động GDNGLL ở trường THPT, đặcbiệt là đội ngũ CBGV- những người trực tiếp làm công tác này Vì thế, phảichú trọng đến việc nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn nghiệp

vụ, năng lực thực hiện hoạt động GDNGLL của họ Hiện nay, đội ngũ nàyhầu hết chưa có chuyên môn về tổ chức hoạt hoạt động GDNGLL, mới chỉqua tập huấn ngắn ngày ở sở GD&ĐT, chưa đủ mạnh để đảm đương hoànthành nhiệm vụ được giao Vì vậy mới xảy ra tình trạng làm theo kiểu đối phó

là chính dẫn đến chất lượng hoạt động GDNGLL chưa đáp ứng được yêu cầucủa các cấp ngành

1.4 Cơ sở pháp lý của đề tài

1.4.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước, Bộ và địa phương về nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh phổ thông

Thế giới ngày nay đang tiến vào thế kỷ XXI với cuộc chạy đua ráo riết

về khoa học công nghệ, về chất lượng thông tin “Phần thắng sẽ thuộc về

Trang 36

quốc gia nào không những xây dựng và phát triển được một nền kinh tế hùng mạnh dựa trên cơ sở kỹ thuật công nghệ cao mà còn GD&ĐT được một đội ngũ lao động, năng động, sáng tạo có trình độ nghề nghiệp cao mà từng cá nhân có khả năng tự lựa chọn, định hướng và phát triển các phẩm chất và năng lực nghề nghiệp của mình cho phù hợp với nhu cầu rất phong phú đa dạng và thường xuyên biến đổi về cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo của nền sản xuất và đời sống xã hội hiện đại”.[16, 94]

Chính vì vậy mà ngày 19/3/1981 Hội đồng Chính phủ đã ra quyết định

số 126/CP, trong quyết định này đã khẳng định: “Thực hiện phân ban ở cấp THPT trên cơ sở đảm bảo chuẩn kiến thức PT cơ bản toàn diện và HN cho mọi HS”

Ngày 23 tháng 7 năm 2003, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ra chỉ thị số33/2003/CT-BGD&ĐT về tăng cường GDHN cho HSPT Từ khi sát nhập bộGiáo dục và Bộ ĐH - Trung học chuyên nghiêp thành Bộ GD&ĐT, đây là lầnđầu tiên có một chỉ thị do Bộ trưởng ký về GDHN Chỉ thị này ban hành trongbối cảnh toàn ngành giáo dục đang triển khai nhiệm vụ đổi mới chương trìnhGDPT theo Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX, Nghị quyết 40 của Quốc hộikhoá X và chỉ thị số 14 của Thủ tướng Chính phủ Với ý nghĩa quan trọng đó,Chỉ thị 33/2003/CT-BGD&ĐT đã định hướng cho GDHN không chỉ vài năm

mà là một giai đoạn nhiều năm Chỉ thị đã khẳng định GDHN là một bộ phậnhữu cơ của nội dung giáo dục toàn diện đã được xác định trong Luật giáo dục.Chỉ thị đã xác định ý nghĩa, mục tiêu, nội dung của GDHN, đồng thời còn chỉ

ra nhiệm vụ cụ thể của các cấp QL, các cơ sở giáo dục trong việc đẩy mạnhGDHN thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, chuẩn bị cho HS học lên hoặc

đi vào đời sống lao động, phục vụ cho sự phát triển đất nước

Điều 27 chương III Luật giáo dục 2005 khẳng định về mục tiêu của

giáo dục THPT “Giáo dục THPT nhằm giúp HS củng cố và phát triển những

Trang 37

kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn PT và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và HN, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học ĐH, CĐ, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”

Trong nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định:

“Coi trọng bồi dưỡng cho HS, sinh viên khát vọng mãnh liệt xây dựng đất nước giàu mạnh, gắn liền lập nghiệp bản thân với tương lai của cộng đồng, của dân tộc.”

“Hoàn chỉnh và ổn định lâu dài hệ thống giáo dục quốc dân; chú trọng phân luồng sau THCS bảo đảm liên thông giữa các cấp đào tạo”.

“Mở rộng qui mô DN và THCN bảo đảm tốc độ tăng nhanh hơn đào tạo ĐH, CĐ Qui mô tuyển sinh DN dài hạn tăng 17%/năm và THCN tăng 15%/năm” [ 15, 207, 208]

Trong chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2010 và chủ trương đổimới chương trình GDPT hiện nay cũng nhấn mạnh đến yêu cầu tăng cườngGDNGLL cho HSPT, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệtrẻ, đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước

1.4.2 Định hướng phát triển giáo dục của Tỉnh Thanh Hóa và của huyện Thường Xuân

Căn cứ Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần XVII nhiệm kỳ 2015; Chỉ thị số 3398/CT- BGD ĐT ngày 12/8/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáodục và Đào tạo và chỉ thị của Chủ tịch UBND tỉnh về nhiệm vụ giáo mầmnon, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục chuyên nghiệpnăm học 2011-2012 Sở Giáo dục và Đào tạo xây dựng chiến lược phát triểngiáo dục giai đoạn 2011-2015

Trang 38

2010 Từng bước nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện bền vững cho họcsinh (chất lượng văn hoá, hạnh kiểm, thể mỹ, kỹ năng sống) Trong tâm lànâng cao chất lượng giảng dạy các môn văn hoá để học sinh có đủ kiến thứchọc lên cao hơn.

- Phát triển mạng lưới trường, lớp học: xây dựng trường phổ thông dântộc bán trú theo thông tư số 24/2010/TT-BGD ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Hoàn thành việc kiên cố hoá trường, lớp trên địa bàn tỉnh trước năm2014

- Tỷ lệ trường chuẩn quốc gia đạt 30%

Căn cứ Nghị quyết BCH Huyện Đảng bộ lần XVII nhiệm kỳ 2010-2015nhấn mạnh “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh, đặc biệt họcsinh dân tộc miền núi, chú trọng phát triển về quy mô trường, lớp, chuẩn hoáđội ngũ cán bộ giáo viên, cán bộ quản lý, tích cực tham mưu cho Sở Giáo dục

và Đào tạo, UBND tỉnh để thành lập trường THPT Thường Xuân 3”

1.5 Kết luận chương 1

Hoạt động GDNGLL là một bộ phận không thể thiếu trong quá trìnhgiáo dục ở trường THPT, giữ vai trò rất quan trọng, nó điều chỉnh và địnhhướng cho quá trình giáo dục toàn diện, tạo ra những con người hoàn thiện vềnhân cách, được thể hiện qua hành vi, kỹ năng - kỹ xảo, cách giao tiếp ứng

xử, thái độ đối với cuộc sống…Để hoạt động GDNGLL đạt hiệu quả cao thìcần phải quản lý hoạt động này thông qua việc thực hiện các chức năng: lập

kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch, kiểm tra, đánh giá hoạt độngGDNGLL

Trong chương 1 của luận văn chúng tôi đã làm sáng tỏ là cơ sở lý luận

về quản lý hoạt động GDNGLL nhằm định hướng cho việc nghiên cứu thựctrạng và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GDNGLL ở chương 2 và 3của luận văn

Trang 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GDNGLL

Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN THƯỜNG XUÂN

2.1 Tình hình kinh tế, xã hội và giáo dục THPT của huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa

2.1.1 Điều kiện tự nhiên huyện Thường Xuân

Thường Xuân là một huyện thuộc vùng núi cao của tỉnh Thanh Hóa vớidiện tích tự nhiên là 111.380,80 ha; phía Bắc giáp với huyện Lang Chánh vàhuyện Ngọc Lặc, phía Đông giáp với huyện Thọ Xuân, huyện Triệu Sơn,huyện Như Thanh; phía Nam giáp huyện Như Xuân; phía Tây giáp với tỉnhNghệ An và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Toàn huyện có 17 xã vàthị trấn, trong đó có 10 xã vùng cao trọng điểm; dân số 87.101 người, trong

đó người dân tộc Thái chiếm 53,9%, dân tộc Kinh chiếm 42,3%, dân tộcMường và các dân tộc khác chiếm 3,8%

Huyện Thường Xuân có điều kiện địa lý rất khó khăn; địa hình bị chiacắt bởi nhiều sông suối, diện tích đồi núi chiếm 3/4 diện tích tự nhiên Trướcđây, là những khu rừng già và rừng nguyên sinh nhưng chủ yếu là gỗ tạp có ít

gỗ quý hiếm, đã bị khai thác cạn kiệt, nay chỉ còn là những khu rừng tái sinh

và những cây gỗ tạp Nhưng với sự lao động cần cù của người dân nơi đây, đãbiến những khu đồi rừng cằn cỗi thành những khu đồi, rừng phát triển câycông nghiệp và cây lâm nghiệp cung cấp nguyên liệu cho nhà máy đường, nhàmáy giấy, nhà máy chế biến sắn Ngoài ra, do đặc điểm sinh thái của huyệnThường Xuân phù hợp với nhiều loại động thực vật quý hiếm sinh sống tại

Trang 40

khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, khu Hồ Cửa Đặt trên địa bàn rộng nằm ởkhu vực Tây - Nam của huyện Thường Xuân.

2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội huyện Thường Xuân

Thường Xuân là một trong số 61 huyện nghèo nhất cả nước Hơn 90%người dân nơi đây sống chủ yếu bằng nghề lâm - nông nghiệp Bên cạnh đóvẫn còn một số tập tục lạc hậu ở một số địa phương trong huyện Trình độ dântrí thấp, không đồng đều CSVC phục vụ cho sản xuất và đời sống còn thiếuthốn; điện, đường, trường, trạm nhiều nơi còn tạm bợ và xuống cấp trầmtrọng Tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự bao cấp của Nhà nước còn phổ biếntrong nhân dân và một bộ phận cán bộ đảng viên Tính năng động, dám nghĩ,dám làm chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới hiện nay.Với vịtrí địa lý và điều kiện kinh tế như trên đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triểngiáo dục của địa phương Người dân nơi đây phần lớn phải lo kiếm sống nênchưa quan tâm nhiều đến giáo dục cho con em, nhiều em phải bỏ học để phụgiúp gia đình hoặc đi làm ăn xa, nhất là với lứa tuổi của HS THCS, THPT.Với những lý do đó đến nay chất lượng giáo dục nói chung, giáo dục bậcTHPT nói riêng của huyện Thường Xuân đang gặp rất nhiều khó khăn, nhữngvấn đề đó được nêu lên ở phần thực trạng tình hình phát triển giáo dục THPTcủa huyện Thường Xuân

2.1.3 Tình hình phát triển giáo dục THPT huyện Thường Xuân

2.1.3.1 Về qui mô phát triển giáo dục THPT ở huyện Thường Xuân

Tại Thường Xuân, trường phổ thông cấp 3 (nay là THPT) thành lập từnăm 1965, đặt cách trung tâm huyện 10 km (do đế quốc Mỹ ném bom miềnBắc) Suốt từ năm 1965 đến 2003 trên địa bàn huyện chỉ có trường phổ thôngcấp 3 Thường Xuân (từ năm 1995 được đổi tên thành trường PTTH Cầm BáThước - mang tên của vị lãnh tụ phong trào cần vương trên địa bàn huyện vànay là trường THPT Cầm Bá Thước) Từ năm 2000, do nhu cầu học tập của

Ngày đăng: 17/12/2013, 22:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Phân phối chương trình trung phổ thông lớp 10, 11, 12. - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường trung học phổ thông huyện thường xuân, tỉnh thanh hóa luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 1.1 Phân phối chương trình trung phổ thông lớp 10, 11, 12 (Trang 28)
Bảng 2.1: Thống kê học sinh từ năm 2009 đến 2011 - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường trung học phổ thông huyện thường xuân, tỉnh thanh hóa luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 2.1 Thống kê học sinh từ năm 2009 đến 2011 (Trang 41)
Bảng 2.2. Đội ngũ CBQL, tổ trưởng chuyên môn các trường  THPT huyện Thường Xuân năm học 2010 – 2011 - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường trung học phổ thông huyện thường xuân, tỉnh thanh hóa luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 2.2. Đội ngũ CBQL, tổ trưởng chuyên môn các trường THPT huyện Thường Xuân năm học 2010 – 2011 (Trang 42)
Bảng 2.5: Nhận thức của học sinh đối với hoạt động GDNGLL TT Các lựa chọn của học sinh Tỷ lệ  (%) - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường trung học phổ thông huyện thường xuân, tỉnh thanh hóa luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 2.5 Nhận thức của học sinh đối với hoạt động GDNGLL TT Các lựa chọn của học sinh Tỷ lệ (%) (Trang 46)
Bảng 2.6: Kết quả hoạt động lao động - hướng nghiệp - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường trung học phổ thông huyện thường xuân, tỉnh thanh hóa luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 2.6 Kết quả hoạt động lao động - hướng nghiệp (Trang 47)
Bảng 2.7: Kết quả hoạt động xã hội - chính trị - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường trung học phổ thông huyện thường xuân, tỉnh thanh hóa luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 2.7 Kết quả hoạt động xã hội - chính trị (Trang 48)
Bảng 2.8: Kết quả hoạt động văn hóa - nghệ thuật, thể dục - thể thao - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường trung học phổ thông huyện thường xuân, tỉnh thanh hóa luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 2.8 Kết quả hoạt động văn hóa - nghệ thuật, thể dục - thể thao (Trang 49)
Bảng 2.10: Nhận định của CBQL, giáo viên về hình thức tổ chức hoạt động - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường trung học phổ thông huyện thường xuân, tỉnh thanh hóa luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 2.10 Nhận định của CBQL, giáo viên về hình thức tổ chức hoạt động (Trang 51)
Bảng 2.11:  Thực trạng sự tham gia của các lực lượng GDNGLL (%) - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường trung học phổ thông huyện thường xuân, tỉnh thanh hóa luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 2.11 Thực trạng sự tham gia của các lực lượng GDNGLL (%) (Trang 53)
Bảng số 2.13. Đánh giá của CBQL, giáo viên về công tác tổ chức thực hiện kế hoạch GDNGLL - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường trung học phổ thông huyện thường xuân, tỉnh thanh hóa luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng s ố 2.13. Đánh giá của CBQL, giáo viên về công tác tổ chức thực hiện kế hoạch GDNGLL (Trang 58)
Bảng số 2.14. Đánh giá của CBQL, giáo viên, Đoàn TN trong công tác chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động GDNGLL - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường trung học phổ thông huyện thường xuân, tỉnh thanh hóa luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng s ố 2.14. Đánh giá của CBQL, giáo viên, Đoàn TN trong công tác chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động GDNGLL (Trang 60)
Bảng 3.1:    Kế hoạch hoạt động ngoài giờ lên lớp khối 10 - Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trường trung học phổ thông huyện thường xuân, tỉnh thanh hóa luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 3.1 Kế hoạch hoạt động ngoài giờ lên lớp khối 10 (Trang 73)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w