1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đồ án tốt nghiệp tìm hiểu quy trình sản xuất và một số biện pháp kiểm soát chất lượng sản phẩm cá lóc fillet xông khói

114 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016

  • BẢN NHẬN XÉT

  • LỜI CAM ĐOAN

  • TÓM TẮT ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

  • LỜI CẢM ƠN

  • MỤC LỤC

  • DANH MỤC BẢNG

  • DANH MỤC HÌNH

  • DANH MỤC SƠ DỒ

  • LỜI MỞ ĐẦU

  • CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN

    • 1.1 Đặc điểm chung về ngành thủy sản nước ta [2]

    • 1.1.1 Sản xuất thủy sản của Việt Nam

    • 1.1.1.1 Sản xuất thủy sản năm 2015 

    • 1.1.1.2 Chuỗi giá trị và sự liên kết giữa các chủ thể trong ngành thủy sản

    • 1.1.1.3 Nguồn nguyên liệu trong nuôi trồng thủy sản

    • 1.1.2 Khai thác thủy sản

    • 1.1.3 Các vùng hoạt động thủy sản mạnh trong nước

    • 1.1.4 Ngành chế biến thủy sản Việt Nam

    • 1.1.4.1 Vai trò của ngành chế biến thủy sản trong kinh tế quốc dân

    • 1.1.4.2 Chế biến thủy sản tiêu thụ nội địa

    • 1.1.4.3 Chế biến thủy sản xuất khẩu

    • 1.1.4.4 Lợi thế của ngành chế biến thủy sản Việt Nam

    • 1.1.4.5 Tiêu thụ

    • 1.1.4.6 Xuất khẩu thủy sản

    • 1.1.4.7 Nhập khẩu nguyên liệu

    • 1.2 Tìm hiểu về xông khói và các nghiên cứu ở Việt Nam – Thế giới

    • 1.2.1 Tìm hiểu về xông khói

    • 1.2.1.1 Khái niệm

    • 1.2.1.2 Giới thiệu về các sản phẩm xông khói

    • 1.2.1.3 Các phương pháp xông khói

    • 1.2.1.4 Nhiên liệu dùng cho xông khói

    • 1.2.1.5 Thành phần khói và các yếu tố ảnh hưởng

    • 1.2.1.6 Tác dụng của khói đối với sản phẩm

    • 1.2.1.7 Ảnh hưởng của khói đối với sản phẩm [3]

    • 1.2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam – Thế giới

    • 1.2.2.1 Các nghiên cứu ở Việt Nam

    • 1.2.3 Một số quy trình xông khói

    • 1.3 Tổng quan về cá lóc ở Việt Nam [14]

    • 1.3.1 Phân bố và thích nghi:

    • 1.3.2 Đặc điểm sinh học các loài cá lóc:

    • 1.3.3 Đặc điểm sinh sản:

    • 1.3.4 Đặc điểm cấu tạo và thành phần dinh dưỡng của cá lóc:

    • 1.3.4.1 Đặc điểm cấu tạo

    • 1.3.4.2 Thành phần dinh dưỡng của cá lóc [15]

    • 1.3.5 Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cá

    • 1.3.5.1 Protein [16]

    • 1.3.5.2 Chất béo

    • 1.3.5.3 Chất khoáng:

    • 1.3.5.4 Vitamin [16]

    • 1.3.6 Gia vị tẩm ướp

    • 1.3.6.1 Muối ăn (NaCl):

    • 1.3.6.2 Đường:

    • 1.3.6.3 Bột ngọt :

    • 1.3.6.4 Gỗ xông :

    • 1.3.6.5 Natribenzoat:

  • CHƯƠNG 2.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    • 2.1 Phương pháp nghiên cứu

    • 2.1.1 Các bước thực hiện

    • 2.1.2 Quy trình dự kiến

  • CHƯƠNG 3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

    • 3.1 Kết quả tìm hiểu các quy trình sản xuất

    • 3.2 Xây dựng quy trình sản xuất sản phẩm cá lóc fillet xông khói dự kiến

    • 3.2.1 Quy trình chế biến

    • 3.2.2 Thuyết minh quy trình

    • 3.2.2.1 Công đoạn tiếp nhận nguyên liệu

  • Nguyên liệu được thu mua và vận chuyển về nhà máy bằng ghe đục.Sau đó tiến hành kiểm tra hồ sơ nguyên liệu, cảm quan. Nếu đạt mới tiến hành cân nguyên liệu và vận chuyển vào bên trong phân xưởng.

  • Các thủ tục tiếp nhận:

  • Đối chiếu tờ khai xuất xứ với thông báo kiểm soát dư lượng các chất độc hại thủy sản nuôi của cơ quan chức năng: chỉ nhận những khu vực cho phép khai thác.

  • Chỉ nhận kết quả kiểm kháng sinh: không có kháng sinh cấm sử dụng như: Chloramphenicol (CAP), Nitrofuran (AOZ), Malachite Green/ Leuco Malachite Green (MG/ LMG). Đối với thị trường Mỹ phải kiểm đạt chỉ tiêu thuộc nhóm Fluoroquinolones (ENRO/ CIPRO, FLUMEQUINE).

  • Tờ khai xuất xứ thủy sản nuôi – tờ cam kết của người thu hoạch gồm các nội dung:

  • Không sử dụng kháng sinh cấm trong quá trình nuôi.

  • Kháng sinh hạn chế sử dụng phải ngưng trước 30 ngày.

  • Không cho cá ăn những thức ăn bị mốc, hết hạn sử dụng.

  • Nguyên liệu được tính theo số gram/con (thường từ 500g đến 2,5 kg, nếu cá vượt ngoài trọng lượng này sẽ hoàn lại trả lại cho nhà cung cấp).

  • QC tiếp nhận kiểm tra đánh giá chất lượng nguyên liệu bằng phương pháp cảm quan trước khi đưa vào phân xưởng sản xuất.

  • Chỉ nhận nguyên liệu đạt yêu cầu theo tiêu chuẩn kỹ thuật – cá nguyên liệu.

  • Chú ý:

  • Chỉ sử dụng nước sạch để rửa nguyên liệu.

  • Dùng những dụng cụ đã làm vệ sinh sạch sẽ để tiếp nhận nguyên liệu (dụng cụ chuyên dùng).

  • Công nhân ở công đoạn này phải vệ sinh sạch sẽ và đầy đủ bảo hộ lao động trước khi tiếp xúc với nguyên liệu.

  • Nguyên liệu không được để trực tiếp lên nền.

  • Bến lên cá và khu tiếp nhận luôn được giữ sạch sẽ.

    • 3.2.2.2 Cân - cắt tiết – rửa 1

  • Cân để xác định nguyên liệu làm căn cứ cho việc tính toán cho công đoạn chế biến bên trong.

  • Sau khi cân xong, cá sẽ được chuyển vào phân xưởng qua máng nạp liệu vào bồn chứa chuẩn bị cho công đoạn cắt tiết.

  • Mục đích:

  • Làm cá chết.

  • Loại bỏ hết máu trong cơ thể cá.

  • Cá sau khi cắt tiết xong, được đưa vào bồn ngâm rửa để làm sạch nhớt, máu, đồng thời loại bỏ một số vi sinh vật trên bề mặt da cá.

  • Thao tác:

  • Lấy cá từ bồn chứa, tay không cầm dao nắm đuôi cá hay thân cá, tay còn lại cầm dao ấn mạnh vào yết hầu cá (phần nằm giữa hai nắp mang cá) để cắt đứt yết hầu, sau khi cắt đứt cá sẽ được chuyển vào bồn rửa 1.

  • Cá sau khi cắt tiết được đưa vào bồn rửa (bồn phải có sẵn nước), tới khi mật độ cá và nước trong bồn vừa đủ thì công nhân mở van chảy tràn (phía dưới của máy) để thải phần nước có chứa máu ra ngoài (xả bỏ), đồng thời mở van cung cấp thêm nước vào bồn. Cá được ngâm trong bồn khoảng 10-15 phút, nhiệt độ 20-250C, cho băng chuyền hoạt động để đưa cá lên và được phân phối cho băng tải fillet.

  • Yêu cầu:

  • Cá chết, ra hết máu.

  • Cá sau khi rửa phải sạch nhớt trên da, sạch máu, không còn tạp chất.

  • Chú ý:

  • Chỉ sử dụng nước sạch để rửa cá sau khi cắt tiết.

  • Bồn rửa được thiết kế chạy tràn, nước rửa ở nhiệt độ thường.

  • Công nhân phải làm vệ sinh sạch sẽ và đầy đủ bảo hộ lao động trước khi tiếp xúc với nguyên liệu.

    • 3.2.2.3 Công đoạn fillet – rửa 2

  • Mục đích:

  • Tách tất cả các phần thịt cá ra khỏi phần đầu, xương, và nội tạng của cá.

  • Phân lập bán thành phẩm và phụ phẩm.

  • Giảm thiểu khả năng nhiễm bẩn và làm sạch miếng fillet, sạch máu và nhớt.

  • Giảm bớt lượng VSV bám trên bề mặt miếng fillet.

  • a. Fillet

  • Thao tác:

  • Mặt 1: Trước tiên, công nhân đặt cá lên thớt sao cho phần lưng cá hướng vào người, phần bụng hướng ra ngoài. Sau đó, dùng mũi dao cắt đứt phần thịt tiếp giáp với đầu cá, khi mũi dao tiếp xúc với phần lưng, ta bắt đầu xoay nhẹ mũi dao xuôi theo phần lưng cá và đi dọc đến vây lưng, khi đến vây lưng ta cố định mũi dao rồi lưỡi dao lách nhẹ qua khỏi vây lưng. Tiếp theo ta nghiêng dao một góc khoảng 450 sao cho thân dao sát với xương cá, rồi đẩy dao dọc theo phần sống lưng cho đến phần đuôi nhưng phải chú ý mũi dao lúc nào cũng phải tiếp xúc với xương sống của cá. Kế tiếp ta chòm mũi dao qua phần thân bên kia và cũng kéo dọc cho đến phần đuôi. Sau đó, ta sẽ đi ngược mũi dao lên phần đầu cá, lúc đó dao ép sát với phần xương dè, cắt đứt sợi gân nối giữa phần đầu với phần thân cá rồi dùng tay ép miếng cá đè sát lên dao và xương dè, kéo một đường thật mạnh làm cho miếng fillet tách ra khỏi thân cá.

  • Mặt 2: Tương tự như mặt 1, nhưng sau khi kéo dao xuống phần đuôi cá, ta sẽ không chòm mũi dao qua phần còn lại mà ta sẽ đi ngược lên để cắt đứt sợi gân trước, rồi sau đó mới thao tác phần còn lại của phía sống lưng. Các thao tác còn lại cũng như mặt 1.Nhưng điểm đặc biệt của mặt này là ta phải lấy được phần thịt ở sát đầu (gọi là hóc).

  • Thao tác fillet phải dưới vòi nước.

  • Cá sau khi fillet xong được đưa vào thau có nước và chuyển sang rổ để đưa qua công đoạn tiếp theo. Đầu và xương được đưa ra ngoài bằng băng tải.

  • Dao dùng để fillet phải sắc bén, vật liệu phải bằng inox không gỉ, cán dao bằng nhựa, thớt bằng nhựa.

  • Yêu cầu:

  • Thao tác phải chính xác, đúng yêu cầu kỹ thuật.

  • Miếng cá sau fillet phải phẳng, đẹp.

  • Không vỡ nội tạng.

  • Không bị rách phần thịt.

  • Lấy triệt để phần thịt.

  • Không được sót xương.

  • b. Rửa 2

  • Thao tác:

  • Công nhân làm việc tại khâu rửa 2 chuẩn bị mở van cho nước vào bồn, cho cá vào bồn rửa để làm sạch máu trên miếng fillet.Tần suất thay nước toàn bộ hệ thống máy rửa 2h/lần, nhiệt độ nước phải ≤ 100C.

  • Yêu cầu:

  • Miếng thịt phải sạch máu.

  • Chú ý:

  • Chỉ sử dụng nước sạch để rửa.

  • Sử dụng nước đá được sản xuất từ nguồn nước sạch tại nhà máy.

  • Sử dụng những dụng cụ đã làm vệ sinh sạch sẽ (dụng cụ chuyên dùng).

  • Công nhân phải làm vệ sinh sạch sẽ và đầy đủ bảo hộ lao động trước khi tiếp xúc với nguyên liệu.

    • 3.2.2.4 Công đoạn lạng da

  • Mục đích:

  • Loại bỏ hết phần da trên miếng fillet, đồng thời loại bỏ mối nguy sinh học trên bám thành phẩm.

  • Giảm bớt lượng vi sinh vật bám trên bề mặt miếng fillet.

  • Thao tác:

  • Tại đây người công nhân sẽ đặt ngửa từng miếng fillet lên máy lạng da sao cho phần da tiếp xúc với lưỡi dao và phần trục nhám của máy, khi đó miếng cá sẽ được lạng sạch da. Khi lạng da công nhân phải chú ý là đưa phần đuôi tiếp xúc với lưỡi dao trước vì như thế bán thành phẩm sau khi lạng da không bị rách đuôi, phạm thịt hay sót da.

  • Công nhân lạng da cần chú ý tránh để cá ứ trên máy lạng da.

  • Lưỡi dao dùng cho máy lạng da phải bén, vật liệu làm bằng inox không gỉ.

  • Yêu cầu:

  • Không còn sót da trên miếng thịt.

  • Miếng thịt phải còn nguyên vẹn.

    • 3.2.2.5 Công đoạn định hình

  • Mục đích:

  • Làm sạch miếng fillet, làm cho miếng fillet trắng đẹp để đáp ứng yêu cầu của khách hàng.

  • Làm tăng giá trị cảm quan.

  • Giảm bớt vi sinh vật trên miếng cá.

  • Thao tác:

  • Tùy theo cách chỉnh hình của từng công nhân, có thể lấy phần mỡ bụng hay phần thịt đỏ trên lưng trước.

  • Đặt miếng cá fillet lên thớt sao cho miếng cá có dạng hình vòng cung, để mặt lạng da tiếp xúc với thớt, mặt fillet quay lên lưng cá đối diện với người chỉnh sửa, bụng đưa ra, sau đó tay nghịch giữ miếng cá, tay thuận cầm dao đặt vào khoảng giữa của cá gọt nhẹ kéo đến đuôi để lấy mỡ đuôi. Sau đó đưa dao ngược trở lại bụng để tách lấy mỡ bụng, xương và lớp màng trắng cho sạch.

  • Lật úp ngược miếng cá trở lại, mặt fillet tiếp xúc với thớt, bụng đối diện với người sửa cá, sao cho miếng cá fillet có dạng vòng cung, dùng dao gọt nhẹ đường tiếp giáp với phần thịt đỏ đậm trên xương sống đến đuôi, tiếp tục gọt nhẹ phần thịt đỏ từ từ ra ngoài sóng lưng cho hết thịt đỏ, da và lấy một phần mỡ lưng.

  • Lật úp miếng cá lại, mặt lạng da tiếp xúc với thớt, bụng đối diện với người chỉnh sửa, miếng cá có dạng hình vòng cung, dùng dao gọt nhẹ đường tiếp giáp với phần đỏ đậm trên xương sống, từ giữa miếng cá đến đuôi sau đó đưa dao ngược trở lại ngay giữa miếng cá gọt nhẹ trở lên để lấy hết phần thịt đỏ trên mặt bụng, đưa dao trở lại vanh dè cho sắc cạnh.

  • Miếng cá bây giờ chỉ còn lại phần thịt đỏ đậm trên phần xương sống, tay nghịch bóp miếng cá lại cho phần thịt đỏ nhô lên,tay thuận cầm dao đặt vào lưng cá khoảng 1/3 miếng cá tính từ đuôi đến đầu, gọt nhẹ phần thịt cho sạch, rồi quay ngược miếng cá lại gọt cho hết thịt đỏ hay có thể dùng lưỡi dao gần cán cạo cho đến khi sạch phần thịt đỏ đến tận đuôi.

  • Yêu cầu:

  • Thao tác nhanh, dứt khoát tránh phạm thịt.

  • Miếng cá không còn thịt đỏ, mỡ, màng trắng, xương, da.

  • Đường chính sắc cạnh, không sần sùi, nham nhỡ, dè để theo yêu cầu thường là 0,5 – 1 cm.

  • Trong quá trình chỉnh hình mỗi rổ cá phải được lấp nước đá vảy phủ lên bề mặt để đảm bảo nhiệt độ miếng fillet ≤ 150C. Rổ cá sau khi chỉnh hình xong phải được rửa bằng nước lạnh rồi mới chuyển qua công đoạn tiếp theo.

  • Chú ý:

  • Chỉ sử dụng nước sạch để rửa.

  • Sử dụng nước đá vảy được sản xuất từ nguồn nước sạch tại nhà máy để làm lạnh sản phẩm.

  • Sử dụng những dụng cụ đã làm vệ sinh sạch sẽ (dụng cụ chuyên dùng).

  • Công nhân phải làm vệ sinh sạch sẽ và đầy đủ bảo hộ lao động trước khi tiếp xúc với nguyên liệu.

  • Dao dùng để sửa cá phải sắc bén, bằng inox không gỉ, cán dao bằng nhôm, thớt bằng nhựa.

    • 3.2.2.6 Công đoạn soi ký sinh trùng

  • Mục đích:

  • Loại bỏ cá bệnh, cá máu.

  • Kiểm tra cá xem còn sót mỡ, da, xương ... hay không.

  • Nhằm phát hiện những miếng cá bị bệnh, máu bầm, mũ, ký sinh trùng tiềm ẩn trong thịt.

  • Ký sinh trong thịt cá có 2 dạng: dạng đốm trắng hình bầu dục hoặc đốm đen không có hình dạng nhất định.

  • Thao tác:

  • Đổ từng rổ cá lên bàn soi, công nhân dùng tay trãi từng miếng cá fillet lên bàn soi xem kỹ cả 2 mặt miếng cá.

  • Những miếng cá có đốm trắng hoặc chấm đen loại ra để riêng và sau đó đem đi xử lý. Còn những miếng cá đạt yêu cầu thì cho vào rổ chuyển sang công đoạn tiếp theo. Thao tác phải nhanh, không để miếng cá đọng trên bàn soi quá lâu.

  •  QC giám sát 1giờ/lần:

  • Xem đèn bàn soi.

  • Xem thao tác công nhân thực hiện.

  • Lấy mẫu kiểm tra: khối lượng là 2 – 5 kg, thực hiện như công nhân.

  • Yêu cầu:

  • Miếng thịt hoàn toàn không có ký sinh trùng.

  • Nhiệt độ của bán thành phẩm ≤ 150C.

  • Chú ý:

  • Chỉ sử dụng nước sạch để rửa.

  • Sử dụng nước đá vảy được sản xuất từ nguồn nước sạch tại nhà máy để làm lạnh sản phẩm.

  • Sử dụng những dụng cụ đã làm vệ sinh sạch sẽ (dụng cụ chuyên dùng).

  • Công nhân phải làm vệ sinh sạch sẽ và đầy đủ bảo hộ lao động trước khi tiếp xúc với nguyên liệu.

  • Vào đầu ca hoặc cuối ca sản xuất, bàn soi ký sinh trùng phải được làm vệ sinh sạch sẽ.

  • Hệ thống chiếu sáng trong 1 bàn soi ký sinh trùng có 2 bóng đèn dài 60cm được mắc song song.

  • Tần suất thay bóng đèn là 3 tháng/lần. Nếu có sự cố đèn mờ hoặc đứt bóng thì tiến hành thay ngay.

    • 3.2.2.7 Công đoạn phân màu – phân cỡ sơ bộ

  • Mục đích:

  • Kiểm tra miếng fillet xem đã sạch hết mỡ lưng, mỡ eo, da đầu trắng, da đầu đen, miếng cá có bị sần hay không.

  • Nếu đạt yêu cầu thì được chuyển qua công đoạn tiếp theo, còn chưa đạt thì phải chỉnh sửa lại.

  • Tạo sự đồng nhất về kích cỡ.

  • Nhằm loại bỏ cá rách.

  • Tạo thuận lợi cho công đoạn tiếp theo.

  • Thao tác:

  • Công nhân đặt miếng cá lên thớt và lần lượt kiểm tra từng mặt của miếng cá.

  • Công nhân cầm miếng cá đặt lên cân và phân theo từng khối lượng như sau:

  • + Các cỡ (g/miếng): 80 – 120, 120 – 170, 170 – 220, 220 – 300 (Up), ... hoặc 2 – 3, 3 – 5, 5 – 7, 6 – 8, 8 – 10 OZ/miếng (1OZ = 28,35g).

  • Yêu cầu:

  • Miếng cá sau khi sửa xong phải hoàn toàn sạch.

  • Nhiệt độ của bán thành phẩm ≤ 150C.

  • Không còn sót cá rách.

  • Cá phải đồng nhất về khối lượng.

    • 3.2.2.8 Công đoạn rửa 3

  • Mục đích:

  • Nhằm loại bỏ tạp chất, một số vi sinh vật.

  • Làm trôi phần mỡ váng và phần mỡ còn bám trên miếng cá.

  • Nhằm làm sạch sản phẩm trước khi xử lý.

  • Thao tác:

  • Cho nước vào máy rửa 3 theo hệ thống đường ống nước lạnh có nhiệt độ ≤ 100C. Bán thành phẩm cho vào liên tục trong máy rửa sao cho cá phân bố đều trên băng tải và hệ thống nước trong máy luôn chảy tràn hía dưới băng tải có nhiều vòi rửa được thiết kế dọc theo băng tải với áp suất cao phun mạnh lên trên làm sạch miếng cá, khi băng tải chảy xong trước khi cho cá ra thì cá được rửa dưới 2 vòi nước rửa tinh phun mạnh vào miếng cá. Kết thúc quá trình rửa cá công nhân dùng rổ hứng cá để ráo nước chuẩn bị cho công đoạn xử lý.Thời gian rửa ≤ 1 phút, nhiệt độ nước rửa ≤ 100C.

  • Yêu cầu:

  • Không còn mỡ bám trên miếng cá.

  • Sạch tạp chất.

  • Chú ý:

  • Chỉ sử dụng nước sạch để rửa bán thành phẩm.

  • Sử dụng nước đá được sản xuất từ nguồn nước sạch tại nhà máy.

  • Sử dụng những dụng cụ đã làm vệ sinh sạch sẽ (dụng cụ chuyên dùng).

  • Công nhân phải làm vệ sinh sạch sẽ và đầy đủ bảo hộ trước khi tiếp xúc với bán thành phẩm.

  • Nước trong bồn rửa phải chảy tràn liên tục.

  • Nhiệt độ nước rửa ≤ 100C, thời gian rửa ≤ 1 phút.

  • Tần suất thay nước ≤ 2 h/lần

    • 3.2.2.9 Công đoạn quay thuốc

  • Nhằm duy trì độ săn chắc, ngăn chặn sự mất nước.

  • Tăng thời gian bảo quản sản phẩm .

  • Tăng giá trị cảm quan của miếng cá.

  • Thao tác

  • Đối với thị trường Châu Âu

  • Đối với thị trường khác

  • Pha: 200 lít dung dịch

  • SP – 80: 2,8 kg

  • NF – 400: 4,0 kg

  • Nước: 138 ÷ 144 kg

  • Nước đá: 54 ÷ 60 kg

  • Muối: 0,5 kg

  • Nhiệt độ dung dịch: 3 ÷ 70C

  • Pha: 200 lít dung dịch

  • MTR – 80p: 2,0 kg

  • MRT – 79: 4,0 kg

  • Nước: 138 ÷ 144 kg

  • Nước đá: 54 ÷ 60 kg

  • Muối: 0,5 kg

  • Nhiệt độ dung dịch: 3 ÷ 70C

  • Chuẩn bị dung dịch phụ gia để xử lý bán thành phẩm: thành phần trong dung dịch phụ gia gồm có: Non photphat, photphat, đá vẩy, nước và muối (nồng độ và chủng loại theo yêu cầu của thị trường nhưng phải đạt theo qui định của cơ quan chức năng). Dung dịch được cân theo từng loại sau đó cho vào bồn nước đã được định lượng trước, khuấy đều dung dịch đảm bảo nhiệt độ nước 3 ÷ 70C.

  • Thực hiện

  • Bán thành phẩm sau khi rửa xong để ráo cho vào máy quay, số lượng cá 100 – 250 kg/mẻ tùy theo máy quay lớn hay nhỏ. Rồi cho dung dịch phụ gia vào theo tỉ lệ 1 : 1 (1 cá : 1 dung dịch phụ gia).

  • Tùy theo kích cỡ từng loại cá mà có thời gian quay thích hợp, nhưng không quá 5 – 10 phút/mẻ, đến khi cá ngấm đều phụ gia là được. Lấy bồn inox hứng cá sau khi quay xong và chuyển sang công đoạn tiếp theo.

  • Nhiệt độ bán thành phẩm sau khi quay ≤ 150C.

  • Yêu cầu

  • Bán thành phẩm sau khi quay chất lượng không đổi và phải còn nguyên vẹn.

  • Không bị rách hay bể thịt.

  • Miếng cá sau khi quay trắng và bóng hơn.

  • Chú ý

  • Chỉ sử dụng nước sạch cho công đoạn này.

  • Sử dụng nước đá được sản xuất từ nguồn nước sạch tại nhà máy.

  • Sử dụng những dụng cụ đã làm vệ sinh sạch sẽ (dụng cụ chuyên dùng).

  • Công nhân phải làm vệ sinh sạch sẽ và đầy đủ bảo hộ trước khi tiếp xúc với bán thành phẩm.

  • Hóa chất phụ gia nhập về và nồng độ sử dụng phải theo qui định của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông Thôn, Bộ Y tế và theo qui định của từng thị trường nhập khẩu.

  • Bao bì hóa chất phụ gia phải còn nguyên vẹn, không bị nhiễm bẩn và phải đáp ứng được yêu cầu của nhà máy.

    • 3.2.2.10 Công đoạn phân màu – phân cỡ

  • Mục đích

  • Nhằm tạo cho sản phẩm có sự đồng nhất về màu sắc, kích cỡ. Thường có sự phân cỡ, phân màu như sau:

  • Size: 60 – 120g, 120 – 170g, 170 – 220g, 220 – up, ...

  • Màu sắc: trắng, hồng, trắng hồng,vàng.

  • Nhằm đáp ứng theo yêu cầu của từng khách hàng.

  • Thao tác

  • Cá sau khi xử lý xong được đưa qua công đoạn phân màu, phân cỡ.

  • Phân màu:

  • Công nhân cầm từng miếng fillet quan sát màu và phân loại màu từng miếng cá theo tiêu chuẩn sau:

  • Loại I: Cá có màu trắng hoặc màu trắng hồng.

  • Loại II: Cá có màu hồng hoặc màu vàng nhạt.

  • Hoặc theo các loại màu khác theo yêu cầu của khách hàng.

  • Phân cỡ:

  • Kết hợp với thao tác phân màu đặt từng miếng fillet lên cân để phân cỡ theo các chỉ tiêu cơ bản như sau:

  • Size (gram/miếng): 60 – 120, 120 – 170, 170 – 220, 220 – up, ...

  • Size (OZ/miếng): 2 – 3, 3 – 5, 5 – 7, 6 – 8, 8 – 10 (OZ = 28,35g).

  • Lưu ý

  • Sau khi phân cỡ cá được tách riêng theo từng size và có thẻ size cho từng rổ riêng biệt.

  • Để đảm bảo độ chính xác khi phân cỡ cần bố trí những công nhân có tay nghề cao để phân loại.

  • Thao tác phân cỡ, màu phải nhanh, chính xác.

  • Bán thành phẩm sau khi phân cỡ, màu phải kiểm lại cho đúng cỡ, màu trước khi đưa qua công đoạn tiếp theo.

  • Yêu cầu

  • Đồng nhất về màu sắc, kích cỡ.

  • Không nhằm lẫn giữa các màu và cỡ.

  • Chú ý

  • Chỉ sử dụng nước sạch để rửa bán thành phẩm.

  • Sử dụng những dụng cụ đã làm vệ sinh sạch sẽ (dụng cụ chuyên dùng).

  • Công nhân phải làm vệ sinh sạch sẽ và đầy đủ bảo hộ trước khi tiếp xúc với bán thành phẩm.

  • Cần công nhân có tay nghề.

    • 3.2.2.11 Công đoạn cân

  • Mục đích

  • Nhằm xác định khối lượng trước khi cấp đông.

  • Thao tác

  • Cân từng rổ cá cho vào từng túi PE theo trọng lượng quy định của quản lý sau đó để thẻ size đúng theo trọng lượng từng rổ.

  • Trong quá trình cân cho phép sai số 0,2% trên tổng khối lượng cho phép cân.

  • Yêu cầu

  • Không nhằm lẫn giữa các size.

  • Ghi đúng số liệu.

  • Chú ý

  • Chỉ sử dụng nước sạch để rửa bán thành phẩm.

  • Sử dụng nước đá được sản xuất từ nguồn nước sạch tại nhà máy.

  • Sử dụng những dụng cụ đã làm vệ sinh sạch sẽ (dụng cụ chuyên dùng).

  • Công nhân phải làm vệ sinh sạch sẽ và đầy đủ bảo hộ lao động trước khi tiếp xúc với bán thành phẩm.

    • 3.2.2.12 Công đoạn ướp muối – gia vị

    • 3.2.2.13 Công đoạn sấy

    • 3.2.2.14 Công đoạn xông khói

    • 3.2.2.15 Công đoạn cắt miếng – xếp

    • 3.2.2.16 Công đoạn cân - dò kim loại – bao gói

  • Để xác định trọng lượng sản phẩm.

  • Máy dò kim loại đã được nhân viên QC dùng mẫu thử dò kim loại là Fe (Φ ≤ 1,2 mm) và inox (Φ ≤ 2,0 mm) kiểm tra vào đầu ca sản xuất và mỗi giờ. Nếu máy không phát hiện được mẫu thử thì phải cô lập lô hàng từ lần thử trước đó.

  • Sau khi sản phẩm vào túi PE và hàn miệng xong, đặt từng túi lên băng chuyền, nếu phát hiện sản phẩm có nhiễm kim loại thì băng chuyền sẽ dừng lại và phát ra tiếng kêu, lúc này phải lấy sản phẩm có nhiễm kim loại ra và đem đi xử lý. Còn nếu sản phẩm được dò không phát hiện kim loại thì tiếp tục bao gói thùng carton.

  • Để bảo vệ sản phẩm trong quá trình bảo quản, tránh làm giảm trọng lượng trong quá trình bảo quản, ngăn chặn quá trình oxi hóa sản phẩm và làm tăng vẽ mỹ quan cho sản phẩm.

  • Thao tác:

  • Có 2 dạng, trong một số trường hợp cần bao gói theo đơn đặt hàng: Bao gói bulk và pack.

  •  Sản phẩm sau khi dò kim loại xong được đưa qua công đoạn bao gói carton. Cuối cùng qua máy niềng dây vào thùng giữ cho thùng ổn định.

  • Chú ý:

  • Chỉ sử dụng những dụng cụ đã được làm vệ sinh sạch sẽ.

  • Công nhân công đoạn bao gói và vận hành máy dò kim loại phải làm vệ sinh sạch sẽ và đầy đủ bao hộ lao động trước khi tiếp xúc với sản phẩm.

  • Phải đảm bảo thông tin ghi trên nhãn, bao bì PE, bao bì carton đầy đủ và chính xác.

  • Thao tác bao gói, đóng thùng và vận chuyển sản phẩm vào kho bảo quản phải nhanh, tránh ảnh hưởng đến nhiệt độ của sản phẩm sau cấp đông.

  • Trường hợp đóng thùng tạm thì thùng tạm phải sạch và nguyên vẹn.

  • Thùng tạm phải ghi ký hiệu bên ngoài thùng: Ghi rõ mã số nguyên liệu, tên sản phẩm, ngày sản xuất, cỡ, màu, số lượng để tránh nhầm lẫn khi thay thùng.

  • Trong quá trình bao gói nếu phát hiện sản phẩm hư hỏng, sai cỡ, màu, phát hiện tạp chất trên sản phẩm hoặc bao bì không phù hợp báo ngay cho QC hoặc người có trách nhiệm xử lý kịp thời.

    • 3.2.2.17 Công đoạn bảo quản

  • Sản phẩm sau khi bao gói được chuyển vào kho bảo quản.

  • Mục đích:

  • Đảm bảo chất lượng sản phẩm.

  • Giữ nguyên trạng thái chất lượng cho đến khi phân phối đến người tiêu dùng.

  • Luôn đảm bảo việc duy trì nhiệt độ của kho bảo quản ≤ -200C để làm chậm sự hư hỏng của sản phẩm lạnh đông.

  • Yêu cầu:

  • Nhiệt độ kho ≤ -200C.

  • Sản phẩm được xếp theo lô hàng.

    • 3.3 Tìm hiểu về xác định thành phần khối lượng và thành phần hoá học của cá lóc

    • 3.3.1 Tìm hiểu về thành phần khối lượng cá lóc [19]

    • 3.3.2 Tìm hiểu về thành phần hóa học thịt cá lóc [20]

    • 3.3.3 Tìm hiểu chế độ ướp muối cá [18]

    • 3.3.3.1 Ảnh hưởng của nồng độ ướp muối tới chất lượng cá

    • 3.3.3.2 Ảnh hưởng của thời gian ướp muối tới hàm lượng muối của thịt cá sau khi ướp.

    • 3.3.3.3 Xác định tỉ lệ đường cho dịch ngâm tẩm

    • 3.4 Tìm hiểu các biện pháp kiểm soát chất lượng

    • 3.4.1 Tiêu chuẩn Việt Nam

    • 3.4.1.1 Đường (TCVN 6958:2001) [21]

    • 3.4.1.2 Muối (TCVN 9639:2013) [22]

    • 3.4.1.3 Natribenzoat (TCVN 10627:2015) [23]

    • 3.4.1.4 Phương pháp phân tích chỉ tiêu hóa lý, vi sinh của nguyên liệu cá và sản phẩm

    • 3.4.1.5 Phân tích thành phần khối lượng cá

    • 3.4.1.6 Các chỉ tiêu hoá học

    • 3.4.1.7 Chỉ tiêu vi sinh

    • 3.4.2 Phương pháp đánh giá cảm quan cho điểm chất lượng sản phẩm cá fillet xông khói [24]

  • CHƯƠNG 4.KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    • 4.1 Kết luận

    • 4.2 Đề xuất – Kiến nghị

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • PHỤ LỤC 1 Kết quả các số liệu thực nghiệm

  • PHỤ LỤC 2 TIÊU CHUẨN VIỆT NAM TCVN 3215-79

  • PHỤ LỤC

  • PHỤ LỤC 6 BẢNG THÀNH PHẦN THỰC PHẨM VIỆT NAM

    • VIỆN DINH DƯỠNG

  • BẢNG THÀNH PHẦN THỰC PHẨM VIỆT NAM

Nội dung

QUAN

Đặc điểm chung về ngành thủy sản nước ta [2]

1.1.1 Sản xuất thủy sản của Việt Nam

Việt Nam, tọa lạc bên bờ Tây Biển Đông, có diện tích biển khoảng 3.448.000 km² và bờ biển dài 3.260 km Vùng nội thuỷ và lãnh hải rộng 226.000 km², trong khi vùng biển đặc quyền kinh tế vượt quá 1 triệu km², chứa hơn 4.000 hòn đảo và tạo nên 12 vịnh, đầm phá với tổng diện tích 1.160 km², lý tưởng cho tàu thuyền trú ẩn Biển Việt Nam sở hữu sự đa dạng sinh học cao, là nơi phát sinh và phát tán của nhiều nhóm sinh vật biển vùng nhiệt đới Ấn Độ - Thái Bình Dương, với khoảng 11.000 loài sinh vật đã được phát hiện.

Việt Nam với hệ thống sông ngòi dày đặc và đường biển dài thuận lợi cho việc phát triển khai thác và nuôi trồng thủy sản Sản lượng thủy sản đã tăng trưởng liên tục trong 17 năm qua với mức trung bình 9,07%/năm Chính phủ đã thúc đẩy phát triển nuôi trồng thủy sản, giúp sản lượng tăng bình quân đạt 12,77%/năm, đóng góp đáng kể vào tổng sản lượng thủy sản quốc gia Tuy nhiên, sản lượng thủy sản từ khai thác tự nhiên lại tăng chậm, chỉ đạt 6,42%/năm do nguồn lợi tự nhiên cạn kiệt và trình độ khai thác chưa được cải thiện.

Hình 1.1: Sản lượng thủy sản của Việt Nam từ 1995-2015 (Nguồn: Tổng cục Thủy sản)

1.1.1.1 Sản xuất thủy sản năm 2015 a Khai thác

Năm 2015 là năm thuận lợi cho hoạt động khai thác thủy sản nhờ vào sự giảm giá xăng dầu, giúp giảm chi phí sản xuất Thời tiết thuận lợi và giá bán hải sản tăng cũng khuyến khích ngư dân tích cực bám biển Các chính sách hỗ trợ khai thác nuôi trồng hải sản và dịch vụ trên các vùng biển xa theo Quyết định số 48/2010/QĐ-TTg cùng với Nghị định 67/2014/NĐ-CP đã tạo điều kiện cho ngư dân đầu tư, tăng cường lực lượng cho hoạt động khai thác xa bờ.

Trong năm 2015, sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 3.533 ngàn tấn, tăng 1,6% so với năm trước Tuy nhiên, ngành nuôi trồng thủy sản đã phải đối mặt với nhiều khó khăn, chủ yếu do ảnh hưởng từ thị trường xuất khẩu.

Bảng 1.1: Kế hoạch sản xuất thủy sản 2015

Kết quả sản xuất thủy sản năm 2015

(ĐVT: Sản lượng: nghìn tấn; DT: nghìn ha)

TT Chỉ tiêu Chỉ tiêu

Rô phi 23 25,4 110,4 Đối tượng khác

DT nuôi tôm nước lợ

Nuôi cá biển 13,1 15,0 114,5 Nuôi rong, tảo biển

Sản lượng nuôi mặn lợ

Sản lượng tôm nước lợ

Nguồn: Tổng cục Thủy sản

1.1.1.2 Chuỗi giá trị và sự liên kết giữa các chủ thể trong ngành thủy sản

Khả năng khép kín quy trình sản xuất đóng vai trò quan trọng trong ngành thủy sản, giúp doanh nghiệp tự chủ nguồn nguyên liệu và nâng cao hiệu quả kinh doanh Doanh nghiệp có quy trình sản xuất khép kín sẽ giảm thiểu sự phụ thuộc vào bên ngoài, từ đó tránh được tình trạng bị động và cải thiện hiệu suất hoạt động.

Để đáp ứng nhu cầu phát triển và yêu cầu chất lượng ngày càng cao, ngành thủy sản cần sự tham gia của các tổ chức tài chính và cơ quan kiểm định chất lượng Điều này đã làm tăng cường mối quan hệ giữa các bên trong ngành, tạo ra sự hợp tác chặt chẽ hơn.

Hình 1.2: Chuỗi giá trị và sự liên kết giữa các chủ thể trong ngành thủy sản (Nguồn:

1.1.1.3 Nguồn nguyên liệu trong nuôi trồng thủy sản

Trong ngành thủy sản, nguồn nguyên liệu như con giống, thức ăn và thuốc thủy sản đóng vai trò quan trọng nhưng các doanh nghiệp Việt Nam chưa hoàn thiện quy trình khép kín Điều này dẫn đến tình trạng thiếu hụt và chất lượng nguồn nguyên liệu không ổn định, tạo ra thách thức lớn cho ngành nuôi trồng thủy sản.

Nguồn con giống là yếu tố then chốt trong ngành thủy sản, ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ chuỗi giá trị sản xuất Tuy nhiên, chất lượng con giống thủy sản tại Việt Nam hiện nay vẫn còn thấp, điều này cần được cải thiện để nâng cao hiệu quả sản xuất Bên cạnh đó, thức ăn cho vùng nuôi cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển bền vững ngành thủy sản.

Theo Tổng cục Thủy sản, Việt Nam hiện có khoảng 130 nhà máy sản xuất thức ăn thủy sản, với sản lượng 3,77 triệu tấn, đáp ứng 85,6% nhu cầu trong nước Trong số đó, có 96 cơ sở sản xuất thức ăn cho cá tra, 68 cho tôm sú và 38 cho tôm chân trắng Tỷ lệ thức ăn thủy sản nhập khẩu đang giảm, nhưng hơn 50% nguyên liệu sản xuất vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu Thị phần thức ăn thủy sản chủ yếu thuộc về các doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt là thị trường thức ăn cho tôm, nơi mà các công ty như Uni-President (Đài Loan) chiếm 30%-35% thị phần, trong khi các doanh nghiệp nội địa gần như không có cơ hội cạnh tranh.

Nước ta với hệ thống sông ngòi dày đặc và có đường biển dài hơn 3.260 km, nên rất thuận lợi phát triển hoạt động nuôi trồng thủy sản.

Năm 2012, số lượng tàu thuyền cả nước là 123.125 chiếc, tổng công suất đạt khoảng

Trong tổng số 10 triệu CV, tàu lắp máy có công suất dưới 20 CV chiếm 49% với 60.252 chiếc Tàu cá lắp máy có công suất từ 20 CV đến dưới 50 CV có 28.223 chiếc, chiếm 22,9% Tàu cá lắp máy từ 50 CV đến dưới 90 CV có 9.162 chiếc, tương ứng với 7,4% Cuối cùng, tàu cá lắp máy có công suất từ 90 CV trở lên đạt 25.488 chiếc, chiếm 20,7%.

% Tổng sản lượng khai thác các mặt hàng hải sản hiện nay mỗi năm từ 2,5-2,7 triệu tấn.

Hình 1.3: Xuất khẩu thủy sản ở các vùng(Nguồn: Tổng cục Thủy sản)

Các nghề khai thác thủy sản chủ yếu bao gồm lưới kéo, lưới vây, lưới rê, câu cá và nghề cố định Trong đó, nghề lưới kéo chiếm tỷ trọng lớn nhất với hơn 18%, tiếp theo là nghề lưới rê với 37,9%, và nghề câu đạt 17,5%, trong đó nghề câu vàng cá ngừ đại dương chiếm khoảng 4% Nghề lưới vây có tỷ lệ trên 4,9%, trong khi nghề cố định chỉ chiếm trên 0,3% Ngoài ra, các nghề khác, bao gồm tàu thu mua hải sản, chiếm trên 13,1% trong tổng cơ cấu nghề khai thác.

1.1.3 Các vùng hoạt động thủy sản mạnh trong nước

Hoạt động sản xuất và xuất khẩu thủy sản của Việt Nam diễn ra trên khắp cả nước, với sự đa dạng về chủng loại Tuy nhiên, có thể phân chia thành 5 vùng xuất khẩu lớn, trong đó Vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung nổi bật với việc nuôi trồng thủy sản nước mặn lợ Khu vực này phát huy thế mạnh nuôi biển, tập trung vào các đối tượng chủ yếu như tôm, sò huyết, bào ngư, cá song, cá giò và cá hồng.

Vùng ven biển Nam Trung Bộ là khu vực nổi bật với hoạt động nuôi trồng thủy sản trên các mặt nước mặn lợ, trong đó các đối tượng chính bao gồm cá rô phi và nhiều loại tôm khác.

Vùng Đông Nam Bộ, bao gồm 4 tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu và TP.HCM, chủ yếu tập trung vào việc nuôi trồng các loài thủy sản nước ngọt từ hồ chứa và thủy sản nước lợ, nổi bật là cá song, cá giò, cá rô phi và nhiều loại tôm khác.

Vùng ven biển Đồng Bằng Sông Cửu Long bao gồm các tỉnh ven biển như Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau Đây là khu vực có tiềm năng phát triển kinh tế và du lịch nhờ vào vị trí địa lý thuận lợi và hệ sinh thái phong phú.

Tìm hiểu về xông khói và các nghiên cứu ở Việt Nam – Thế giới

1.2.1 Tìm hiểu về xông khói

Xông khói là một phương pháp chế biến đã có từ lâu đời và phát triển rộng rãi trong nhiều nước, nhất là các nước ở châu Âu.

Xông khói là quá trình cho phép khói thẩm thấu vào sản phẩm, tạo ra màu sắc và hương vị đặc trưng Sản phẩm xông khói thường có màu vàng đến vàng sẫm và mang hương thơm đặc biệt của khói.

1.2.1.2 Giới thiệu về các sản phẩm xông khói

Sản phẩm xông khói đã xuất hiện từ lâu, đặc biệt ở châu Âu, với nguyên liệu ban đầu chủ yếu là thịt gia súc, nhưng hiện nay đã đa dạng hóa với các loại thủy sản Sản phẩm này ngày càng phổ biến nhờ tính tiện lợi và giá trị dinh dưỡng cao, có thể được sản xuất thủ công hoặc công nghiệp Tại Việt Nam, đặc biệt ở các tỉnh Tây Bắc như Hà Giang và Sơn La, thịt xông khói là món ăn truyền thống, chế biến từ nhiều loại thịt như trâu, bò, dê, lợn, thường được dùng để dự trữ cho bữa ăn hàng ngày hoặc đãi khách Thịt xông khói được treo trên bếp lửa để khô và bảo quản lâu hơn Hiện nay, thị trường có nhiều sản phẩm xông khói như thịt gà, thịt bò và cá rô phi, nhưng sản phẩm xông khói thủy sản vẫn còn hạn chế Tuy nhiên, để nâng cao giá trị dinh dưỡng và giảm nguy cơ bệnh tim mạch, sự hiện diện của các sản phẩm thủy sản là cần thiết Đặc điểm nổi bật của sản phẩm xông khói là khả năng bảo quản tốt nhờ tác dụng chống thối rữa và oxy hóa, cùng với màu sắc và hương vị đặc trưng.

1.2.1.3 Các phương pháp xông khói a Dựa vào nhiệt độ xông có thể chia làm 2 phương pháp: [3]

- Xông nóng: Nhiệt độ xông> 40 0 C.

- Xông lạnh: Nhiệt độ xông< 40 0 C.

Trong xông nóng lại chia ra:

- Xông ấm: Nhiệt độ xông từ 40 0 C ÷ 70 0 C.

Xông nóng là phương pháp xông với nhiệt độ từ 80°C đến 170°C, thường kéo dài chỉ vài giờ, giúp giữ lại 60-70% lượng nước trong nguyên liệu và tạo ra kết cấu mềm mại Ngược lại, xông lạnh, thường đi kèm với việc ướp muối trước, yêu cầu thời gian xông lâu hơn, khoảng vài ngày, khiến lượng nước trong nguyên liệu giảm xuống còn 40-50%, dẫn đến sản phẩm có kết cấu chặt chẽ và khô cứng Dựa trên phương pháp xông, các sản phẩm có thể được phân loại khác nhau.

Xông khói phổ thông là phương pháp xông khói được sử dụng rộng rãi, sử dụng củi, trấu hoặc mùn cưa từ gỗ thích hợp trong lò xông với điều kiện cháy không hoàn toàn Khói tạo ra lắng đọng trên bề mặt và thẩm thấu vào nguyên liệu Tùy thuộc vào quy mô sản xuất, có thể sử dụng lò thủ công hoặc lò cơ giới để thực hiện quá trình xông khói.

Xông tĩnh điện là quá trình sử dụng khói xông, trong đó hệ thống keo tan không khí gồm các thể rắn và lỏng được phân tán vào không khí Khi kết hợp với dòng nhiệt từ lò xông, các hạt khói trong điện trường sẽ chuyển động theo một hướng nhất định và lắng đọng trên bề mặt nguyên liệu.

Xông ướt là phương pháp chế biến thực phẩm, trong đó nguyên liệu sau khi được phơi hoặc sấy khô đến độ ẩm nhất định sẽ được ngâm vào dung dịch khói Quá trình này giúp các chất dinh dưỡng và hương vị trong khói thẩm thấu vào sản phẩm, tạo ra hương vị đặc trưng và nâng cao chất lượng thực phẩm.

1.2.1.4 Nhiên liệu dùng cho xông khói

Nhiên liệu xông khói chủ yếu là các loại gỗ, khi đốt sẽ tạo ra khói giúp hun và tỏa nhiệt Những loại gỗ tốt nhất để xông khói bao gồm gỗ cứng, gỗ từ cây ăn trái và gỗ từ cây có lá rộng như dẻ, sến, hồ đào, du, phong, trần và sồi.

Gần đây một số Công ty chế biến thuỷ sản ở phía Nam dùng cây gỗ Đước làm nhiên liệu xông khói cho kết quả rất khả quan.

Nhiên liệu sử dụng để xông khói có ảnh hưởng lớn đến thành phần và chất lượng của khói, do đó việc chọn lựa nhiên liệu xông khói là rất quan trọng Để tạo ra khói, cần đốt nhiên liệu trong điều kiện cháy không hoàn toàn, thường sử dụng mùn cưa hoặc vỏ trấu để kiểm soát quá trình này.

Các tác giả đồng thuận rằng không nên sử dụng gỗ cây lá kim, như gỗ thông, vì khói từ chúng có thể tạo ra vị đắng, mùi axit và màu sắc tối, làm giảm giá trị sản phẩm Hơn nữa, gỗ này còn chứa nhiều chất gây ung thư như benzpyren.

Loại gỗ sử dụng trong xông khói có ảnh hưởng lớn đến chất lượng cảm quan của sản phẩm Để tăng cường hương vị, người ta thường kết hợp một số loại cây nhỏ và hương thảo khô như thạch thảo, hương thảo, nguyệt quế, kinh giới và húng tây Nghiên cứu cho thấy màu sắc và mùi vị của cá xông khói thay đổi tùy thuộc vào loại gỗ được chọn.

Bảng 1.4: Loại gỗ và thực vật dùng xông khói

Loại Màu sắc Hương vị Ghi chú

Gỗ sồi Vàng đậm đến nâu Tuyệt vời Khói đậm và tốt

Gỗ dẻ Vàng nhạt Rất tốt Thường trộn với gỗ sồi

Gỗ hồ đào Vàng đậm đến nâu Rất tốt Tạo màu nhanh

Gỗ cây ăn trái Vàng Tốt Dùng với gỗ khác

Gỗ trần bì Vàng Tốt Dùng với gỗ khác

Gỗ nho Nâu óng Khá đặc biệt Khói ít đậm

Gỗ bulo, dương, liễu Không rõ Bình thường Dùng lẫn gỗ dẻ

Gỗ tổng quán sủi Vàng óng đến nâu Rất tốt Dùng lẫn gỗ dẻ

Thông Có nhiều bồ hóng

Chát có nhựa Không được dùng

Bách Nâu tối Có mùi lạ Dùng số lượng ít

Cây nhỏ và cây hương thảo

Thạch thảo khô Rất đẹp Rất đặc biệt Ít dùng

Hương thảo khô Rất đẹp Rất tinh tế Dùng với lượng nhỏ

Nguyệt quế khô Rất đẹp Đặc biệt Dùng với lượng nhỏ

Kinh giới, húng tây khô Rất đẹp Hương thơm

Nguồn: Burt, JR, 1988 Fish xông khói và sấy , Elsevier Khoa học ứng dụng, ISBN

Tại Việt Nam, các loại gỗ phổ biến được sử dụng bao gồm sồi, hồ đào, phong và ổi Để tạo ra lượng khói cần thiết trong quá trình hun, cần kiểm soát nhiên liệu trong điều kiện cháy không hoàn toàn, tức là thiếu oxy.

Một tính chất quan trọng nữa của nhiên liệu dùng để hun là nhiệt lượng sản sinh ra của

Khi 1 kg nhiên liệu cháy hết, than là thành phần chính có khả năng cháy, với hàm lượng khoảng 50% trong gỗ Việc đốt 1 kg cacbon có thể tạo ra 6140 calo Tuy nhiên, trong điều kiện thiếu oxy, gỗ có thể không cháy hoàn toàn, dẫn đến việc sản sinh nhiều CO2 và chỉ tạo ra khoảng 2240 calo nhiệt.

Trấu là loại nhiên liệu có nhiệt lượng tỏa ra thấp nhất Gỗ mới chặt có hàm lượng nước khoảng 45 – 55%, nhưng sau nửa năm, hàm lượng này giảm xuống còn 20 – 30%, và sau một năm, vẫn duy trì ở mức khoảng 20%.

Hàm lượng nước trong gỗ và mùn cưa dưới 25% là nhiêu liệu khô, từ 25 – 35% là nhiên liệu bán khô, trên 35% là nhiên liệu ẩm.

Gỗ và mùn cưa dùng để xông khói nên có độ ẩm khoảng 25 – 30% Nếu quá khô, chúng sẽ cháy hoàn toàn mà không tạo ra khói hoặc chỉ tạo ra ít khói Ngược lại, nếu quá ẩm, nhiệt độ xông sẽ thấp và lượng khói sẽ đặc, điều này không tốt cho quá trình xông khói.

1.2.1.5 Thành phần khói và các yếu tố ảnh hưởng a Thành phần của khói: [3]

Thành phần của khói hun đóng vai trò quan trọng trong quá trình xông khói, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và khả năng bảo quản của sản phẩm Sự biến đổi của thành phần khói hun phụ thuộc vào loại nhiên liệu và điều kiện đốt được sử dụng.

Tổng quan về cá lóc ở Việt Nam [14]

1.3.1 Phân bố và thích nghi:

Hình 1.6: Cá lóc (Nguồn: Wikipedia Việt Nam) Bảng 1.5: Phân loại khoa học cá lóc

Giới (Kingdom): Animalia Ngành (Phylum): Chordata Lớp (Class): Actinopterygii

The snakehead fish, belonging to the Perciformes order and Channidae family (also referred to as Ophiocephalus), consists of two genera: Channa, which includes 29 known species, and Parachanna, with three recognized species.

Cá lóc, hay còn gọi là cá đầu rắn (Snakehead fish) trong tiếng Anh, được đặt tên do hình dáng đầu thuôn dài giống như đầu rắn Tại Việt Nam, cá lóc còn được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như cá chuối, cá quả, cá xộp, cá tràu, và cá đô, tùy thuộc vào từng vùng miền.

Tổ tiên của cá lóc được cho là xuất hiện ở một trong hai lục địa Á hoặc Phi, trước khi di chuyển sang lục địa kia khi chúng kết nối trong quá khứ Cấu trúc mang đơn giản hơn ở chi Prachanna gợi ý rằng tổ tiên cá lóc có nguồn gốc từ Châu Phi, nhưng số lượng loài hạn chế ở đây lại cho thấy điều ngược lại Hóa thạch cá lóc cổ xưa nhất được phát hiện tại Châu Âu, và các nghiên cứu khảo cổ học cho rằng tổ tiên của chúng đã xuất hiện vào kỷ Jurra, cách đây hơn 100 triệu năm.

Cá lóc chủ yếu phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới tại Châu Phi và Châu Á, nhưng một số loài cũng sống ở các khu vực khí hậu lạnh như Trung Quốc, Hàn Quốc và Siberia Mặc dù không phải là loài cá nước ngọt sơ khai, cá lóc đã thích nghi tốt với môi trường nước ngọt và có khả năng chịu đựng độ mặn kém Chúng thường sống ở sông, kênh rạch, ao, hồ, đầm lầy và ruộng lúa Đặc biệt, cá lóc có khả năng tồn tại trong môi trường nghèo oxy nhờ vào khả năng hít thở không khí Một số loài như Channa banagnensis có thể sống trong nước có độ acid cao (3-4 pH), trong khi các loài khác như Channa gachua và Channa striata cũng có khả năng chịu đựng đặc biệt.

Cá lóc Channa punctata có khả năng chịu đựng pH biến thiên từ 4 đến 9 trong vòng 72 giờ, trong khi Channa argus ở Siberia có thể sống sót qua mùa đông khắc nghiệt Cả hai loài đều có thể tồn tại trong môi trường nước thiếu oxy, cho thấy khả năng thích nghi cao của chúng.

Môi trường sống của chúng là nước ngọt, với độ sâu từ 0 đến 30 m, chủ yếu ở các sông, suối, ao, hồ và ao nuôi nhân tạo Chúng thường sống ở tầng nước giữa và thấp, thường thấy trong các ao hồ có nhiều rong cỏ và nước đục Nhờ có cơ quan hô hấp phụ, chúng có khả năng thích nghi tốt với môi trường, có thể hít thở oxy trong không khí, cho phép chúng tồn tại ở vùng nước có hàm lượng oxy thấp.

1.3.2 Đặc điểm sinh học các loài cá lóc:

Các loài cá lóc ở Việt Nam bao gồm:

Cá lóc đen (Channa striata), còn được biết đến với tên gọi cá xộp hoặc cá chành dục (Channagachua) và cá chuối suối, có phân bố rộng rãi trong các vùng nước ở khắp mọi miền.

Hình 1.7: Cá lóc đen, cá chành đục

 Cá chuối (Channa maculate ) hay còn gọi là cá quả, cá chèo đồi (Channaasiatica) : phân bố ở miền Bắc.

Hình 1.8: Cá chuối, cá chèo đồi

 Cá lóc bông (Channa micropeltes ), cá dầy (Channa lucius), cá lóc môi trề (Channa sp.) : phân bố ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Hình 1.9: Cá lóc bông, cá dầy

Phân biệt cá đực, cá cái:

 Cá đực: thân dài, thon, đầu to, bụng nhỏ rắn chắc, lỗ sinh dục và lỗ hậu môn riêng biệt.

 Cá cái: thân ngắn, đầu nhỏ, bụng to, mềm sệ xuống, lỗ sinh dục to, lồi gần sát lỗ hậu môn.

Cá lớn có tốc độ phát triển nhanh, với con lớn nhất có thể dài đến 1 mét và nặng 20kg Ở tuổi một, cá có chiều dài khoảng 19-39cm và trọng lượng từ 95-760g; ở tuổi hai, chiều dài đạt 38,5-40cm và nặng từ 625-1.395g; và ở tuổi ba, cá dài từ 45-59cm và nặng từ 1,5-2,0kg, trong đó có sự chênh lệch lớn giữa con đực và cái Nhiệt độ môi trường ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, khi trên 20 °C cá phát triển nhanh, còn dưới 15 °C thì phát triển chậm.

Mùa sinh sản của cá diễn ra từ tháng 4 đến tháng 7 hàng năm, với đỉnh điểm vào giữa tháng 4 đến tháng 5 Cá tròn đạt độ tuổi 1 năm, có chiều dài khoảng 20cm và trọng lượng 130g, sẽ bắt đầu quá trình đẻ trứng Số lượng trứng mà cá đẻ phụ thuộc vào kích thước cơ thể; cá nặng 0,5 kg có thể đẻ từ 8.000 đến 10.000 trứng, trong khi cá nặng 0,25 kg đẻ từ 4.000 đến 6.000 trứng.

1.3.4 Đặc điểm cấu tạo và thành phần dinh dưỡng của cá lóc:

Cá lóc là một loài cá dữ có hình dạng dài và tròn, với lược mang hình núm đặc trưng Thực quản của cá lóc ngắn và có vách dày, bên trong chứa nhiều nếp nhăn.

Cá Lóc, một loài cá dữ nổi bật, có dạ dày hình chữ Y và chế độ ăn chủ yếu là cá, chiếm 63.01% Ngoài ra, chúng cũng tiêu thụ tép (35.94%), ếch nhái (1.03%) và một tỷ lệ nhỏ bọ gạo, côn trùng và mùn bã hữu cơ (0.02%).

Cá lóc sở hữu cấu trúc mang đặc biệt với một màng gọi là mang phụ, cho phép oxy từ không khí thẩm thấu trực tiếp vào mạch máu Nhờ vào khả năng này, cá lóc có thể sinh sống trong môi trường nghèo oxy và thậm chí di chuyển trên cạn, giúp chúng dễ dàng thích nghi và xâm nhập vào vùng nước mới.

Bảng 1.6: Thành phần khối lượng của cá lóc đen ( g/con )

(g/con) Thịt fillet Đầu cá Xương cá Vây, vẩy cá Nội tạng

1.3.4.2 Thành phần dinh dưỡng của cá lóc [15 15 ]

Cá lóc là thực phẩm giàu dinh dưỡng, với thành phần hóa học biến đổi theo loài, độ tuổi, mùa vụ đánh bắt, chế độ ăn uống và vị trí sinh sống.

Bảng 1.7: Thành phần dinh dưỡng của cá lóc

(Nguồn: Đoàn Thị Kiều Tiên, 2002)

Theo một số nghiên cứu, thành phần dinh dưỡng của cá lóc đen như sau ( tính trên 100g ăn được) : Protein thô ( N tổng* 6,25) : 18,2, nước: 78, lipid: 2,7, tro: 1,1

 Giá trị dinh dưỡng trong y học của cá lóc:

Cá lóc, với thịt ít mỡ và giàu khoáng chất cùng vitamin, được biết đến là thực phẩm chữa nhiều bệnh Đặc biệt, cá lóc đen đang trở thành món ăn dưỡng sinh phổ biến toàn cầu nhờ vào giá trị dinh dưỡng cao và khả năng chống oxy hóa hiệu quả.

Cá lóc, theo y học cổ truyền, có vị ngọt, tính bình, không độc, và mang lại nhiều lợi ích như bổ khí huyết, hỗ trợ gân xương, trừ đàm, rất tốt cho những người mắc bệnh phổi Ngoài ra, cá lóc còn giúp chữa trị tình trạng phụ nữ ít sữa và bồi bổ cho những người mới khỏi bệnh nhờ vào khả năng dễ hấp thu Trong ẩm thực dưỡng sinh, cá lóc phát huy tác dụng cao nhất vào mùa hè, giúp loại bỏ thấp nhiệt do thời tiết gây ra.

PHÁP NGHIÊN CỨU

QUẢ NGHIÊN CỨU

LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Ngày đăng: 12/07/2021, 20:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[3]. Nguyễn Trọng Cẩn, Đỗ Minh Phụng, tập I (1990), tập II (1996), Công nghệ chế biến thực phẩm thuỷ sản. NXB Nông Nghiệp, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ chếbiến thực phẩm thuỷ sản
Tác giả: Nguyễn Trọng Cẩn, Đỗ Minh Phụng, tập I (1990), tập II
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 1996
[4]. Nguyễn Trọng Cẩn (Chủ biên), Đỗ Minh Phụng, Nguyễn Lệ Hà (2008), Công nghệ đồ hộp thuỷ sản và gia súc, gia cầm.NXB Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Côngnghệ đồ hộp thuỷ sản và gia súc, gia cầm
Tác giả: Nguyễn Trọng Cẩn (Chủ biên), Đỗ Minh Phụng, Nguyễn Lệ Hà
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2008
[5]. Nguyễn Văn Lệ (2005), Công trình nghiên cứu: Quy trình công nghệ sản xuất xúc xích cá Rô phi.Viện nghiên cứu Hải Sản Bộ Thuỷ sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình công nghệ sản xuất xúcxích cá Rô phi
Tác giả: Nguyễn Văn Lệ
Năm: 2005
[6]. Lê Thị Hiền (2000), Nghiên cứu chế biến cá Mối xông khói đựng trong bao bì chấttrùng hợp. Luận văn tốt nghiệp Đại học Thuỷ sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chế biến cá Mối xông khói đựng trong bao bìchấttrùng hợp
Tác giả: Lê Thị Hiền
Năm: 2000
[7]. Phạm Thu Sương (1997), Nghiên cứu chế biến cá Ngừ xông khói. Luậnvăn cao học, Trường Đại học Thuỷ sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chế biến cá Ngừ xông khói
Tác giả: Phạm Thu Sương
Năm: 1997
[9] Himelbloom, -B.H.;Crapo,-C.A (1996), Microbial quality of an Alaska native smoked salmon process.Journal of food protection.p.56-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Microbial quality of an Alaska nativesmoked salmon process
Tác giả: Himelbloom, -B.H.;Crapo,-C.A
Năm: 1996
[10] Simko (1991), Changes of benzo(a)pyrene contents in smoked fish during storage.Levier Applied Science Publishers.p.293-300 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Changes of benzo(a)pyrene contents in smoked fish duringstorage
Tác giả: Simko
Năm: 1991
[11] Beltran,-A.; Moral,-A. (1991), Changes in fatty acid composition of fresh and frozen sardine (Sardina pilchardu W) during smoking. –Food-Chem. Essex: Elsevier Applied Scien Publishers. p. 99-109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Changes in fatty acid composition of fresh andfrozen sardine (Sardina pilchardu W) during smoking
Tác giả: Beltran,-A.; Moral,-A
Năm: 1991
[12] Bhuiyan, Ackman (1993), Nutritional composition of raw and smoked on Atlantic mackerel. Journal of Food processing and preservation p. 172-184[13].http://www.nutifood.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nutritional composition of raw and smoked onAtlantic mackerel
Tác giả: Bhuiyan, Ackman
Năm: 1993
[16]. Trần Đức Ba (Chủ biên), Nguyễn Văn Tài, Trần Thu Hà (2009), Giáo trình công nghệ lạnh thủy sản, NXB Đại học Quốc gia Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình côngnghệ lạnh thủy sản
Tác giả: Trần Đức Ba (Chủ biên), Nguyễn Văn Tài, Trần Thu Hà
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Tp.HCM
Năm: 2009
[18]. Vũ Thị Thùy Ninh, Nghiên cứu quy trình sản xuất cá chép xông khói, luận văn tốt nghiệp trường đại học Thủy sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: ghiên cứu quy trình sản xuất cá chép xông khói
[20]. Bảng thành phần dinh dưỡng, Bộ Y tế Viện dinh dưỡng, NXB Y Học 2007 [21]. Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6958:2001 – Đường tinh luyện Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảng thành phần dinh dưỡng
Nhà XB: NXB Y Học 2007[21]. Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6958:2001 – Đường tinh luyện
[22]. Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9639:2013 – Muối (Natri Clorua) tinh Khác
[23]. Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 10627:2015 – Phụ gia thực phẩm Natribenzoat[24 24 ]. Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 3215:79 – Sản phẩm thực phẩm phân tích cảm quan, phương pháp cho điểm Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w