1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp phát triển lời nói cho học sinh qua dạy học tập làm văn lớp 2, lớp 3

102 1,2K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số biện pháp phát triển lời nói cho học sinh qua dạy học tập làm văn lớp 2, lớp 3
Tác giả Nguyễn Xuân Khoa, Phan Phương Dung, Hoàng Hòa Bình, Nguyễn Trí, Lê Phương Nga
Trường học Trường Đại học Sư phạm I
Chuyên ngành Tiếng Việt
Thể loại Đề tài
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 299 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua mỗi tiết Tập làm văn, học sinh có điều kiện để nói từ nói đúng nói đủ đến nói hay, độc lập và sáng tạo Tuy nhiên…năng lực lời nói của học sinh có phát triển đợc hay không điều đó còn

Trang 1

Phần I: Mở đầu1- Lý do chọn đề tài

Mục đích dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học là phát triển năng lực hoạt

động lời nói cho học sinh, bao gồm năng lực lĩnh hội lời nói (nghe, đọc) và sản sinh lời nói (nói, viết) Rèn luyện kĩ năng nói giúp học sinh có năng lực dùng tiếng Việt để học tập, giao tiếp ở môi trờng hoạt động của lứa tuổi Để thực hiện tốt mục tiêu này, mỗi phân môn Tiếng Việt đều có thể và có nhiệm vụ hình thành, phát triển cho học sinh kĩ năng sử dụng tiếng Việt trên bình diện lời nói Tuy nhiên nhiệm vụ này đợc thực hiện tập trung hơn cả ở phân môn Tập làm văn

Những thành tựu nghiên cứu cho thấy, Tập làm văn là phần môn có vị trí

đặc biệt quan trọng trong việc phát triển lời nói cho học sinh tiểu học, giúp học sinh giao tiếp bằng lời nói tốt trên ngôn ngữ mẹ đẻ của mình Đặc biệt nó là phân môn có tính chất thực hành toàn diện và tổng hợp mang tính sáng tạo, với nhiệm vụ cơ bản là hình thành cho học sinh hệ thống các kỹ năng trong các kỹ năng lớn là tạo lập văn bản dới dạng thức nói và dạng thức viết Nhờ năng lực này mà học sinh biết cách sử dụng tiếng Việt văn hoá làm công cụ để học tập, giao tiếp, t duy

Chơng trình Tập làm văn mới hiện nay rất có u thế để thực hiện nhiệm vụ phát triển lời nói cho học sinh đặc biệt là ở dạng văn nói: về thời lợng, về cấu trúc chơng trình đến đề tài nội dung Qua mỗi tiết Tập làm văn, học sinh có điều kiện để nói từ nói đúng nói đủ đến nói hay, độc lập và sáng tạo Tuy nhiên…năng lực lời nói của học sinh có phát triển đợc hay không điều đó còn phụ thuộc vào cách tổ chức điều khiển, hớng dẫn hoạt động giao tiếp của giáo viên, phụ thuộc vào sự vận dụng linh hoạt lý thuyết hoạt động lời nói vào dạy học và sử dụng phối hợp các phơng pháp dạy học khi lên lớp

Thực tế dạy học Tập làm văn hiện nay ở trờng tiểu học có sự bất cập giữa mục tiêu và hiệu quả thực tiễn Trong quá trình luyện nói, học sinh cha hào

Trang 2

hứng tham gia và cha có thói quen chủ động trong diễn đạt, các em còn rụt rè, cha thực sự tích cực tự giác trong luyện nói Sự thụ động, thói quen ỷ lại trong luyện nói cũng nh tiếp thu bài học kéo theo hiệu quả các bài nói rất thấp Mặt khác các sản phẩm nói của học sinh tơng tự nhau cha mang sắc thái cụ thể riêng biệt của từng em: từ bố cục đến việc lựa chọn các ý, từ cách diễn đạt đến tâm ttình cảm Bên cạnh đó, kết quả luyện nói của học sinh còn phụ thuộc vào khả năng tổ chức hớng dẫn của giáo viên Trong quá trình dạy học Tập làm văn, giáo viên cha chú trọng đến việc phát triển, bồi dỡng, rèn luyện kỹ năng noí cho học sinh Do vậy giờ học cha sinh động, cha đạt đợc mục đích phát triển lời nói.Quá trình tìm hiểu cho thấy, phát triển lời nói cho học sinh tiểu học là vấn

đề trăn trở của nhiều giáo viên, đặc biệt là việc xây dựng một số biện pháp phát triển lời nói miệng cho học sinh qua việc dạy học Tập làm văn nhằm rèn luyện

kĩ năng thực hành ngôn ngữ cho học sinh

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: Một số biện pháp

phát triển lời nói cho học sinh qua dạy học Tập làm văn lớp 2, lớp 3.”

2- Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Tập làm văn là phân môn giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành, phát triển ngôn ngữ, đặc biệt là trong việc phát triển lời nói cho học sinh Vì vậy từ trớc đến nay yêu cầu về phân môn này đã đợc nhiều nhà s phạm, nhiều nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu và có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết về

nó ra đời Có thể kể đến các tác giả tiêu biểu nh: Nguyễn Xuân Khoa, Phan

Ph-ơng Dung, Hoàng Hoà Bình, Nguyễn Trí, Mỗi tác giả mỗi bài viết đề cập đến…nhiều khía cạnh khác nhau của quá trình rèn luyện, phát triển năng lực hoạt

động lời nói cho học sinh tiểu học qua dạy học phân môn Tập làm văn ở tiểu học

Lê Phơng Nga, Nguyễn Trí trong cuốn: “Phơng pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học” (tập 1,2)- Nxb Trờng Đại học s phạm I, năm 1995 đã bàn về những vấn đề chung của phơng pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học, đi sâu vào phơng

Trang 3

pháp dạy học từng phân môn cụ thể, trong đó dành một phần cho phân môn Tập làm văn Trong phần viết về phân môn Tập làm văn, tác giả đã làm sáng tỏ đợc nhiều vấn đề, giúp mọi ngời thấy rõ vị trí, tính chất của phân môn Tập làm văn

ở tiểu học, hình dung đợc phần nào nội dung, quy trình của việc dạy Tập làm văn ở tiểu học Tác giả đã đề cập đến vấn đề lý thuyết hoạt động lời nói trong dạy học Tập làm văn, sự ứng dụng các dạng lời nói vào dạy Tập làm văn ở tiểu học Tuy nhiên, tác giả cha bàn một cách cụ thể, chi tiết và đi sâu nghiên cứu để tìm ra đợc giải pháp cụ thể về vấn đề phát triển lời nói cho học sinh thông qua dạy học Tập làm văn

Lê A, Thành Thị Yến Mỹ, Lê Phơng Nga, Nguyễn Trí, Cao Đức Tiến trong:

“Phơng pháp dạy học Tiếng Việt” Nxb H 1997 Các tác giả có đề cập đến vấn

đề rèn luyện kỹ năng nói một cách chung chung, cha đề cập đến cách thức tổ chức cơ bản của giáo viên và năng lực cần phát huy trong dạy học Tập làm văn.Nguyễn Trí trong nhiều công trình nghiên cứu của mình nh: “Phơng pháp dạy học Tập làm văn”, “Dạy Tiếng Việt ở tiểu học theo chơng trình mới” và trong một số bài báo nh: “Dạy ngôn bản dạng nói trong giao tiếp và để giao tiếp”, “Tìm hiểu sự phát triển kỹ năng sử dụng tiếng Việt trong chơng trình tiểu học mới” Tác giả đã đi sâu nghiên cứu về nội dung, ph… ơng pháp dạy học Tập làm văn theo chơng trình tiểu học mới, tác giả cũng đề cập đến việc rèn kỹ năng nói cho học sinh

Nguyễn Xuân Khoa trong: “Phát triển năng lực hoạt động lời nói trong việc dạy Tiếng Việt ở nhà trờng” (Tạp chí ngôn ngữ số 3,4 năm 1981) đã phân tích một số vấn đề thuộc về quan điểm, về phơng pháp luận cấu trúc thao tác của quá trình sản sinh văn bản và ý nghĩa s phạm của nó, cơ chế sản sinh lĩnh hội lời nói, phân tích các nhân tố chi phối hoạt động lời nói Trên các quan điểm cơ bản đó tác giả nêu lên một vài hớng cải tiến nội dung và phơng pháp giảng dạy môn Ngữ pháp ở nhà trờng

Trang 4

Một số tác giả nh Hoàng Hoà Bình, Phan Phơng Dung trong những bài viết trên tạp chí ngôn ngữ, tạp chí Nghiên cứu Giáo dục có đề cập đến vấn đề rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh Tác giả đã phân tích: việc rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh Tiểu học là vấn đề bức xúc trong việc dạy Tiếng Việt ở tiểu học, phân tích những lý do của những bức xúc đó trên cơ sở đó phân tích những giải pháp dạy làm văn của bộ sách Tiếng Việt tiểu học năm 2000 Tác giả đã phân tích về cấu trúc nội dung, phơng pháp và một vài đặc điểm của hệ thống bài tập, từ đó nêu ra một số cách dạy nhằm phát huy tính chủ động, tính tích cực sáng tạo của học sinh xuất phát từ những quan niệm muốn học sinh tạo lập

Nh vậy, vấn đề rèn luyện, phát triển kỹ năng sử dụng tiếng Việt đặc biệt là

kỹ năng nói thông qua phân môn Tập làm văn ở tiểu học là một vấn đề còn bỏ ngỏ Việc tìm ra các biện pháp dạy học thích hợp giúp học sinh rèn luyện kỹ năng nói tốt hơn, để biến quá trình luyện nói thành một nhu cầu giao tiếp trong môi trờng học tập của học sinh, góp phần nâng cao hơn nữa chất lợng dạy học Tập làm văn nói chung và phát triển lời nói cho học sinh nói riêng phù hợp với mỗi giai đoạn của học sinh tiểu học

3- Mục đích nghiên cứu

- Góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc phát triển lời nói cho học sinh tiểu học qua phân môn Tập làm văn lớp 2, lớp 3

- Đề xuất một số biện pháp phát triển lời nói miệng cho học sinh nhằm nâng cao chất lợng dạy Tập làm văn ở tiểu học

4- Đối tợng, khách thể nghiên cứu

Trang 5

4.1- Đối tợng nghiên cứu

Các biện pháp dạy học để phát triển lời nói cho học sinh tiểu học

4.2- Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học phân môn Tập làm văn lớp 2, lớp 3

5- Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Tìm hiểu cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

5.2 Nghiên cứu nội dung chơng trình, phơng pháp, hình thức tổ chức dạy học của phân môn Tập làm văn

5.3 Tìm hiểu thực tiễn ở trờng phổ thông về việc dạy học Tập làm văn nhằm phát triển lời nói cho học sinh

5.4 Đề xuất một số biện pháp phát triển lời nói cho học sinh tiểu học nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tập làm văn

5.5 Tiến hành thực nghiệm s phạm để thu thập kết quả, đánh giá hiệu quả của việc sử dụng một số biện pháp phát triển lời nói cho học sinh trong thực tiễn dạy học Tập làm văn ở tiểu học

6- Giả thuyết khoa học

Có thể phát triển đợc tốt hơn lời nói cho học sinh tiểu học nếu biết cách khai thác chơng trình Tập làm văn một cách hợp lý và đa ra đợc các biện pháp

s phạm thích hợp, góp phần nâng cao chất lợng dạy học Tập làm văn ở tiểu học

Phơng pháp nghiên cứu thực tiễn nhằm tìm hiểu thực tiễn dạy học Tập làm văn ở tiểu học hiện nay, nhất là thực trạng phát triển năng lực hoạt động lời nói cho học sinh tiểu học Từ đó nêu ra một số biện pháp nhằm phát triển lời nói

Trang 6

cho học sinh thông qua dạy học Tập làm văn nhằm đa lại hiệu quả dạy học tốt hơn.

7.3- Phơng pháp nghiên cứu kinh nghiệm

7.4- Phơng pháp thực nghiệm: Phơng pháp này nhằm xem xét, xác nhận tính đúng đắn, hợp lý và khẳng định tính khả thi của việc sử dụng một số biện pháp phát triển lời nói cho học sinh qua dạy học Tập làm văn ở tiểu học

8- Giới hạn đề tài nghiên cứu

Tìm hiểu và đa ra những biện pháp phát triển lời nói miệng qua dạy học Tập làm văn lớp 2, lớp 3

Chơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

Chơng 2: Một số biện pháp phát triển lời nói cho học sinh Tiểu học qua dạy học Tập làm văn lớp 2, lớp 3

Chơng 3: Thực nghiệm s phạm

Trang 7

PHầN II: NộI DUNG

Chơng 1: cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề

nghiên cứu

1.1- cơ sở lý luận

1.1.1- Khái niệm lời nói và các dạng lời nói

1.1.1.1- Khái niệm lời nói.

*Khái niệm lời nói

Khi bàn về khái niệm lời nói, các nhà ngôn ngữ học đã đa ra quan điểm của mình nh sau:

Đỗ Hữu Châu tuy không đa ra định nghĩa lời nói nhng ông đã khẳng định:

“Lời nói không chỉ bao gồm sản phẩm của sự nói năng (văn bản) mà còn cả bao gồm các cơ chế (sinh lí, tâm lí), những quy tắc điều khiển sự sản sinh các sản phẩm đó.”[7;tr 13]

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Lời nói là những gì con ngời nói trong một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể (nói tổng quát) Lời nói là sản phẩm cụ thể của hoạt

động ngôn ngữ, trong quan hệ đối lập với ngôn ngữ Lời nói có tính chất cá nhân [16;tr.586]

* Phân biệt ngôn ngữ và lời nói

Ngôn ngữ là sản phẩm chung của một cộng đồng nên ngôn ngữ mang tính chất xã hội, là một phơng tiện dùng để giao tiếp chung cho tất cả mọi ngời, còn lời nói mang tính chất cá nhân

Ngôn ngữ có tính chất khái quát, trừu tợng bởi vì nó là sự mã hoá thành các mô hình C-V-B Còn lời nói mang tính cụ thể, là sự hiện thực hoá mô hình C-V-

B qua lời nói của từng cá nhân

Ngôn ngữ là đối tợng của ngôn ngữ học Còn lời nói là đối tợng của một số

bộ môn tâm lý học, sinh lý học, lôgic, ngôn ngữ học

Trang 8

Phân biệt ngôn ngữ và lời nói là phân biệt một cái gì đó có tính chất chung

và một cái gì đó có tính chất riêng, một cái gì đó có tính xã hội, một cái có tính chất khái quát trừu tợng với một cái cụ thể sinh động và đa dạng

Tuy vậy, ngôn ngữ và lời nói có mối quan hệ với nhau Ngôn ngữ là một cái gì đó có tính chất khái quát và trừu tợng nhng chỉ đợc hiện thực qua từng lời nói của từng cá nhân, đồng thời lời nói có tính chất cá nhân mang đặc thù riêng sinh

động nhng không thể đi ngoài bộ mã của một cộng đồng Ngôn ngữ không thể tồn tại ngoài lời nói, còn lời nói chỉ có thể phát triển đợc nhờ ngôn ngữ

Ngời ta còn chia lời nói thành khẩu ngữ (lời nói miệng) và bút ngữ (bài viết) lời độc thoại và đối thoại

*Lời đối thoại và độc thoại

Từ đặc điểm kiểu giao tiếp, ngời ta nói đến hai dạng nói: đối thoại và độc thoại

- Lời đối thoại

Cuộc đối thoại là cuộc trò chuyện, trao đổi, thảo luận, tranh luận của hai hay nhiều ngời Lời nói trong cuộc hội thoại là lời đối thoại

Trang 9

Ngời đối thoại là ngời tham gia vào quá trình xây dựng nội dung và diễn biến cuộc hội thoại Họ luôn có sự đổi vai, từ nói sang nghe hoặc từ nghe sang nói Đối thoại đòi hỏi sự thích ứng nhanh khi đổi vai để có thể nhập ngay vào nội dung cuộc đối thoại.

Lời đối thoại thờng ngắn gọn, các từ đa đẩy chêm xen đợc sử dụng nhiều tạo cho câu văn, lời văn có phong cách khẩu ngữ

Xét về mặt giao tiếp, lời đối thoại bao giờ cũng nằm trong một mạch của nhiều lời nói thuộc nhiều ngời nối tiếp nhau hoặc đối đáp nhau Vì vậy nội dung lời đối thoại phải nhập vào mạch câu chuyện hoặc chủ đề hội thoại thì nó mới

có ý nghĩa Muốn vậy ngời tham gia hội thoại cần chăm chú nghe để nắm đợc diễn biến nội dung ở các cuộc hội thoại theo đề tài, chủ đề việc này đã cần song ở các cuộc hội thoại có tính ngẫu hứng việc này càng quan trọng hơn Chỉ xao lãng một chút, lời đối thoại trở nên lạc lõng, vô duyên

Xét về trình tự tiến hành cuộc hội thoại:

Những phát ngôn của ngời mở đầu hay ngời đề dẫn có ý nghĩa quan trọng vì: hoặc nó gây tác động kích thích tạo cho cuộc hội thoại một cái đà phát triển hoặc nó kìm hãm, tạo không khí tẻ nhạt, chán ngán khiến cuộc hội thoại trở nên buồn tẻ, thậm chí không thể tiến hành đợc

Các lời đối thoại tiếp theo thờng ngắn gọn giúp ngời đối thoại dễ theo dõi,

có sức bật ra nhanh cần gắn với mạch nội dung hội thoại Lời đối thoại thờng biểu hiện bản lĩnh cá nhân, trình độ tri thức, khả năng giao tiếp, tính cách và cá tính của ng… ời nói Lời đối thoại cũng cần phù hợp vị trí xã hội hoặc thích hợp với mối quan hệ xã hội giữa ngời nói với những ngời tham gia hội thoại, lời đối thoại còn bị không khí chung của cuộc hội thoại chi phối, kích động

Xét về cấu trúc lời đối thoại:

Các lời đối thoại thờng đợc sự phụ trợ của các yếu tố phi ngôn ngữ nh điệu

bộ, cử chỉ, Do đó nó sinh động, hấp dẫn.Trong nhiều tr… ờng hợp, các yếu tố

Trang 10

phi ngôn ngữ giúp ngời nghe hiểu chính xác, đúng đắn ý ngời nói và có tác dụng hấp dẫn ngời nghe.

Các lời đối thoại thờng sử dụng các kiểu câu ngắn, các loại câu hỏi, câu cảm khác, các từ ngữ chêm xen, bổ ngữ, các từ thông tục thậm chí cả biệt ngữ, tiếng lóng, các thành ngữ, tục ngữ, Ng… ời ta ít thấy các câu dài có cấu trúc phức tạp, các cách nói trau chuốt của văn viết…

- Lời độc thoại

Ngời độc thoại thờng giữ vai trò chủ động trong việc lựa chọn nội dung,

định hớng nói, trong việc xác định phơng pháp nói Song ngời nghe, bằng cách phản ứng của mình, cũng có tác động ít nhiều đến ngời nói Ngời nói cần đón nhận các phản ứng này để sửa đổi nội dung hoặc cách nói cho phù hợp

Lời độc thoại đòi hỏi sự tập trung ý chí và ý tởng của ngời nói

Xét về mặt giao tiếp

Lời độc thoại thờng xuất hiện trong một số hoàn cảnh cụ thể: Ngời báo cáo, đọc diễn văn trong các cuộc họp, hội thảo, thầy giáo giảng bài, một ngời mãi suy nghĩ nói to ý tởng của mình Nh… vậy có lời độc thoại đợc chuẩn bị trớc khá công phu (nh các bài diễn văn, bài nói chuyện, các bản tin của đài phát thanh truyền hình ) Đồng thời có lời độc thoại phát sinh do ngẫu nhiên.…

+ So với đối thoại, ngời độc thoại thờng chủ động hơn: chủ động trong việc lựa chọn nội dung, trong việc định hớng nói, lựa chọn phơng pháp nói Ng… ời

độc thoại có điều kiện thu thập tài liệu (tranh ảnh, vật thât ), xây dựng đề c…

-ơng, suy ngẫm kĩ về từng nội dung sẽ trình bày Không bỏ công phu chuẩn bị, lời độc thoại có thể bị đứt đoạn vì không có nội dung liên tục, phải chấm dứt câu vì nội dung lan man xa đề tài, vì lạc hớng…

+ Lời độc thoại thờng hớng tới nhiều ngời, hớng tới những đối tợng không xác định Muốn cho lời độc thoại có sức hấp dẫn cần nắm đợc nghệ thuật nói: biết chọn đúng đề tài nhiều ngời quan tâm thể hiện trong bài nói; sự tập trung ý chí và t tởng cao độ, sự hiểu biết đề tài một cách sâu sắc và có hệ thống, có

Trang 11

lôgic, biết cách điều khiển giọng nói (ngữ điệu, âm sắc, cao độ, cờng độ và ờng độ ), biết nắm bắt phản ứng của ng… ời nghe để tự điều chỉnh nội dung cũng

tr-nh nghệ thuật nói

Xét về cấu trúc lời độc thoại

Để lời độc thoại đạt các yêu cầu khi giao tiếp, nhất thiết ngời chuẩn bị phải chú ý trau dồi những mối liên kết bên trong (liên kết về nội dung, về cấu trúc và lôgic, về cú pháp), biết sắp xếp dàn ý cẩn thận, cặn kẻ để bất cứ ngời nghe nào cũng hiểu đợc đồng thời lôi cuốn đợc ngời đọc Vì vậy trong khi triển khai nội dung lời độc thoại, cần tạo những tình huống thu hút sự chú ý của mọi ngời nghe, buộc họ phải suy nghĩ cùng ngời nói

Ngôn ngữ của lời độc thoại cũng có những đặc điểm riêng Cần có sự lựa chọn cách xng hô, các đại từ chỉ ngôi thích hợp để tạo lập mối quan hệ giữa ng-

ời nói với ngời nghe Hệ thống từ vựng cũng cần chọn lọc thích hợp

*Khẩu ngữ và bút ngữ

- Khẩu ngữ (lời nói miệng)

Khẩu ngữ là những lời đợc nói ra trong hoạt động giao tiếp Nói cách khác

đó là chuỗi các yếu tố ngôn ngữ đợc dùng nói miệng trong sinh hoạt hàng ngày

ở nhà trờng, ở gia đình hoặc ở những nơi công cộng khác nhằm truyền đạt một nội dung giao tiếp nào đó của ngời tham dự giao tiếp tạo nên

Khẩu ngữ là phơng tiện trao đổi thông tin trong xã hội Nhịp điệu lời nói nhanh hay chậm, độ cao hay thấp của giọng nói, sự ngắt đoạn, trọng âm lôgic, sắc thái tình cảm, điệu bộ, khoé mắt đều để lại ảnh h… ởng đối với khẩu ngữ Do

đó khẩu ngữ có khả năng truyền cảm lớn

Nhợc điểm của khẩu ngữ là không đợc chuẩn bị trớc, ngời nói không có thời gian suy nghĩ về cấu trúc, dàn ý, về chọn từ Khẩu ngữ đòi hỏi sự ứng xử linh hoạt về lời nói, sử dụng cú pháp đơn giản hơn, câu ngắn hơn, thậm chí không trọn vẹn ý…

Trong khẩu ngữ lại có hai dạng: Lời đối thoại và lời độc thoại

Trang 12

- Bút ngữ (bài viết)

Bút ngữ là sản phẩm của quá trình học tập Bút ngữ là phơng tiện giao tiếp

và học tập có hiệu quả, chứng tỏ trình độ văn minh và văn hoá của ngời viết.Trong văn bản bút ngữ, các câu thờng đầy đủ và phức tạp hơn khẩu ngữ, dùng nhiều từ ngữ sách vở hơn, có khối lợng lớn hơn so với một bài nói miệng cùng một đề bài Trong bút ngữ, các yếu tố phi ngôn ngữ không có vai trò phụ trợ Ngời ta dùng các biện pháp khác để bổ trợ nh dùng các dấu câu, dùng cách phân chia bài thành đoạn, dùng các kiểu câu chữ khác nhau…

- Sự khác nhau giữa khẩu ngữ va bút ngữ

Do sự khác biệt về phơng tiện vật chất đợc sử dụng khi giao tiếp (lời nói dùng phơng tiện là âm thanh, bài viết dùng phơng tiện chữ viết) và do sự vắng mặt của đối tợng tiếp nhận (thông thờng ở dạng nói của văn bản có sự hiện diện của ngời nghe trong khi đó ở dạng viết của văn bản không có hiện diện của ngời

đọc) đã làm cho lời nói có những đặc trng riêng so với chữ viết

- Về mặt dùng từ : Nếu văn bản viết tránh dùng những từ ngữ dung tục, đa

đẩy, chêm xen thì ở văn bản nói, ngời ta có thể dùng nhiều từ chêm xen, đa đẩy hoặc có hiện tợng lặp đi lặp lại, d thừa một số từ ngữ nhất định Điều này sẽ tạo

điều kiện để ngời nói vừa nói vừa suy nghĩ, giúp cho văn bản nói đợc liền mạch, lôgic và để cho ngời nghe có thời gian nắm bắt đầy đủ, chính xác nội dung thông tin mà ngời nói đã truyền đi

- Về mặt đặt câu: Văn bản viết thờng dùng nhiều câu có kết cấu chặt chẽ, lôgic Còn văn bản nói thờng dùng kiểu câu ngắn, kết cấu đơn giản Loại câu này giúp cho ngời nghe dễ theo dõi, dễ hiểu nội dung cần truyền đạt hơn kiểu câu dài Bên cạnh đó, ở văn bản nói, ngời ta có thể dùng những câu tĩnh lợc một hoặc nhiều bộ phận mà do điều kiện giao tiếp cho phép, ngời nghe vẫn có thể hiểu nội dung của câu

Nhìn chung do đặc điểm của dạng nói nên văn bản nói thờng là những phản

ánh tức thời, ngời nói không có điều kiện chuẩn bị chu đáo, không có điều kiện

Trang 13

kiểm tra lời nói của mình nên ngời nói cần thận trọng khi diễn đạt để sao cho vừa thể hiện đúng nội dung thông báo của mình vừa không làm phật ý, làm mất lòng ngời nghe.

Một điểm khác biệt giữa văn bản nói và văn bản viết là văn bản nói có sử dụng ngữ điệu (lên giọng, xuống giọng, lớt nhẹ nhấn giọng, kéo dài, ngắt quảng ) để thể hiện nội dung và có sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ nh… ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ để hỗ trợ cho việc truyền tải nội dung khi nói Có những…trờng hợp chính ngữ điệu làm cho từ ngữ có sự biến đổi về nghĩa, thậm chí trái ngợc hẳn về nghĩa Hoặc sự thay đổi ngữ điệu nhiều khi là sự báo hiệu thay đổi nội dung, thay đổi cảm xúc khi giao tiếp của ngời nói Và trong những trờng hợp nhất định nào đó, chính nhờ vào những yếu tố phi ngôn ngữ ngời ta lại hiểu

về nội dung của văn bản một cách chính xác tinh tế hơn

- Về phơng thức tác động:

Chữ viết: Tác động đến thị giác

Lời nói: Tác động đến thính giác

Về hình ảnh do thị giác giữ lại thờng bền vững hơn so với âm thanh (hình

Lời nói chịu sự chi phối của âm thanh, tốc độ, cờng độ, âm lợng, khán giả

- Về các nhân tố khác: ngôn ngữ nói thờng ít có sự chuẩn bị hơn và có sự phản ứng trực tiếp của ngời nghe về nội dung mà ngời nói trình bày về đích tác

động Còn chữ viết thờng có sự chuẩn bị kỹ lỡng, có thể thay đổi vị trí trật tự các đoạn, các câu trong văn bản và không chịu sự tác động trực tiếp của ngời tiếp nhận

Trang 14

* Nếu dựa vào nhân vật tham dự giao tiếp, có thể có các kiểu lời nói sau:

- Xét về số lợng ngời tham gia hội thoại ta có: Lời nói giữa hai ngời (song thoại), ba ngời (tam thoại), bốn ngời (tứ thoại) hoặc nhiều ngời hơn nữa (đa thoại)

- Xét về sự hiện diện hay không hiện diện của những ngời tham gia hội thoại, ta có: Lời nói giữa ngời nói với ngời nghe đều có mặt, lời nói chỉ có mặt ngời nói còn vắng mặt ngời nghe

- Xét về tính chủ động hay thụ động trong viêc tham gia hội thoại ta có: Lời nói giữa ngời nói và ngời nghe, cả hai đều chủ động tham gia, lời nói chỉ có một ngời chủ động nói còn những ngời khác nghe

- Xét về mối quan hệ vị thế trong hội thoại, ta có: lời nói trong quan hệ thứ trởng/ nhân viên, bố mẹ/ con cái, thầy giáo/ học sinh…

* Nếu dựa vào nội dung đề tài đợc thể hiện, có thể chia thành các kiểu

lời nói sau:

- Xét trong phạm vi xã hội, ta có: Lời nói về chính trị, xã hội, thể thao, văn nghệ…

- Xét theo tính chất tự do hay bắt buộc của đề tài trong hội thoại ta có: Đề tài bắt buộc đợc định trớc (hội thảo, giảng dạy) và đề tài tự do hoặc nhiều đề tài nối tiếp nhau (nh việc nói chuyện phiếm )…

* Nếu căn cứ vào hoàn cảnh giao tiếp chúng ta lại có thể chia lời nói thành:

- Lời nói có tính chất hình thức, mang tính chất quy phạm Đó là những lời nói trong các cuộc hội nghị, trong các cuộc toạ đàm, trong công sở, cơ quan, nhà nớc,…

- Lời nói không mang tính nghi thức: Đó là những lời nói mang tính chất riêng t, gia đình, chẳng hạn nh các lời nói trong quan hệ bàn trà, trong lúc vui chơi giải trí

1.1.2- Một số vấn đề dạy học Tập làm văn theo hớng phát triển lời nói

Trang 15

cho học sinh tiểu học

1.1.2.1- Vấn đề luyện nói trong dạy học Tập làm văn

Nói là hoạt động diễn ra trong suốt quá trình sống và phát triển của con ngời Từ khi con ngời biết nói thì nói là hoạt động mang tính chất loài và có ngôn ngữ riêng của từng dân tộc Do đó, đặt ra vấn đề giao tiếp bằng ngôn ngữ Nói để đáp ứng nhu cầu trong các mối quan hệ xã hội, trong cộng đồng ngời

Từ đó, nó đợc xác định là một kĩ năng, cho nên con ngời không ngừng rèn luyện kĩ năng đó

Quá trình rèn luyện kĩ năng nói không chỉ đơn thuần là rèn luyện cách phát

âm đúng chuẩn các vỏ vật chất âm thanh Mà nói nh thế nào? nói cách gì? Để ngời nghe hiểu đợc mình nói và thể hiện đợc những hiểu biết của mình trớc sự vật hiện tợng Chính vì vậy rèn luyện kĩ năng nói là một yêu cầu luôn đặt ra với mọi ngời, ở mỗi xã hội

Từ xa xa, ông cha ta đã rút ra biết bao câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ, châm ngôn để khuyên bảo mọi ng… ời về vịêc sử dụng lời nói trong giao tiếp Thể hiện lời nói trong giao tiếp cũng là thể hiện văn hoá ứng xử trong cuộc sống con ng-ời

Ngày nay khi xã hội ngày càng phát triển với các mối quan hệ ngày càng phong phú cho nên yêu cầu giao tiếp bằng lời nói ngày một nâng cao, luyện nói không chỉ dành riêng cho các nhà hùng biện, các nhà ngoại giao, các nhà chính trị học, các phát thanh viên mà ngay cả các giáo viên hay các con ng… ời bình thờng khác cũng đòi hỏi một khả năng giao tiếp nhất định Cho nên, việc rèn luyện kĩ năng lời nói cho học sinh tiểu học đã đợc đặt ra ngay từ những ngày

đầu tiên đến lớp Bởi vì, nói là một hoạt động giúp học sinh giao tiếp và sử dụng trong suốt quá trình học tập và lao động của các em

Đối với nghề giáo viên lời nói là một công cụ để dạy học và giáo dục Giáo viên phải tiếp xúc với học sinh, cha mẹ học sinh, bạn bè, đồng nghiệp và với tất cả mọi ngời trong cộng đồng xã hội Mỗi buổi lên lớp giáo viên cần phải nói để

Trang 16

trình bày bài giảng của mình cho học sinh hiểu Để đánh giá nhận xét tính đa dạng năng lực của học sinh Nói để tổ chức điều khiển lớp hoạt động tích cực …

Do đó có thể khẳng định rằng, hiệu quả của việc dạy học ngoài việc phụ thuộc vào trình độ chuyên môn và nghiệp vụ, còn phụ thuộc vào năng lực giao tiếp của mỗi giáo viên

Rèn luyện kĩ năng nói đối với giáo viên không chỉ đơn thuần là luyện nói mà nó còn là một năng lực nghiệp vụ s phạm cần có Khi đó có thể đặt vấn đề rằng, mỗi giáo viên sẽ giúp học sinh rèn luyện tốt kĩ năng giao tiếp nói chung và khía cạnh nói nói riêng ở tiểu học, thông qua các môn học ít nhiều đều góp phần giúp các em rèn luyện kĩ năng nói của mình Đối với môn Tiếng Việt ngay từ buổi đầu tiên các em đã làm quen với phân môn học vần để phát âm đúng ngôn ngữ mẹ đẻ và hiểu từ Sau đó các em đợc làm quen dần với tập đọc, học thuộc lòng đều tập trung diễn đạt lời nói theo cách hiểu của mình một cách có hệ thống có bố cục Tập làm văn giúp các em luyện nói những ngôn bản trọn vẹn,

có cảm xúc Các em luyện nói đúng nghi thức, phong cách chức năng, đúng ngữ pháp Rèn nói thể hiện cách hiểu qua từ, ngữ, câu thể hiện qua các môn…học khác: Toán, Tự nhiên xã hội, Mỹ thuật, Hát nhạc, luyện cho học sinh nói…

đúng chính xác các ngôn ngữ thuộc khoa học nghiên cứu các môn học đó Đáng chú ý hơn cả là phân môn Tập làm văn trong môn Tiếng Việt ở tiểu học- đây là

điều kiện tốt để học sinh rèn nói tốt với ngôn bản đầu tiên hoàn chỉnh

Việc luyện nói thông qua Tập làm văn chỉ là một điều kiện cơ sở cho việc phát triển năng lực giao tiếp Tuy nhiên đây là bớc đầu tiên học sinh đợc tham gia thực hành giao tiếp Từ lớp 2, học sinh đã đợc rèn luyện các nghi thức giao tiếp thông thờng nh chào mời, giới thiệu, đề nghị Sang lớp 3 kĩ năng nói có…nội dung phức tạp hơn Tập làm văn lớp 3 yêu cầu học sinh phải nghe – hiểu đ-

ợc ý chính của ngời đối thoại và đây đợc coi là kĩ năng quan trọng nhất có ý nghĩa quyết định để các em có thể phản hồi lại các hoạt động nói năng trong những tình huống giao tiếp cụ thể, đa dạng Các hoạt động giao tiếp không chỉ

Trang 17

dừng lại ở dạng song thoại mà còn ở dạng đa thoại Đây là điều kiện để giáo viên và học sinh cùng giao tiếp bằng lời nói Giáo viên có thể nhận thấy những thông tin ngợc từ học sinh Và học sinh có điều kiện học hỏi đợc sự uốn nắn chỉ bảo của giáo viên Từ đó giáo viên đề ra những biện pháp khác nhau trong luyện nói.

* Trong quá trình rèn luyện kỹ năng nói cần bồi dỡng cho học sinh những phẩm chất sau:

- Thông qua dạy học Tập làm văn rèn luyện và phát triển t duy ngôn ngữ:

Trong quá trình dạy học Tập làm văn cần rèn luyện và phát triển t duy ngôn ngữ cho học sinh Qua việc thực hành giao tiếp, cách diễn đạt suy nghĩ của học sinh

sẽ đợc rèn luyện và ngày càng nâng cao, hành văn của học sinh ngày càng mạch lạc, trong sáng và trôi chảy hơn Việc diễn đạt ý cụ thể trong dàn bài đòi hỏi học sinh phải tìm tòi, sáng tạo, lựa chọn những từ ngữ, hình ảnh, chi tiết và lựa chọn cách diễn đạt sinh động hấp dẫn bằng những lối so sánh liên tởng Từ đó…góp phần phát triển t duy, trau dồi ngôn ngữ sáng tạo ở học sinh

- Thông qua dạy học Tập làm văn phát triển cho học sinh tính tích cực tự giác, độc lập sáng tạo:

Trong quá trình dạy học, giáo viên nên tạo điều kiện để học sinh tham gia giải quyết vấn đề một cách tích cực chủ động luyện tập kỹ năng nói, kỹ năng diễn đạt lời nói, tạo không khí học tập sôi nổi để tất cả học sinh đều tham gia nói và đợc nói trong giờ học Bên cạnh đó tính tích cực tự giác của học sinh còn thể hiện ở chổ học sinh phải tạo ra cho mình một nhu cầu giao tiếp Trình bày một cách mạnh dạn suy nghĩ của mình trớc tập thể lớp, đồng thời mong muốn các bạn nói để học tập các bạn những kinh nghiệm trong làm bài từ việc dùng

từ, đặt câu đến diễn đạt sắp xếp trình tự một bài nói …

Ví dụ: Trong kiểu bài tả (ví dụ tả ngắn về bốn mùa, tả ngắn về loài chim, về biển ) tính tích cực tự giác của học sinh đ… ợc thể hiện ở khâu quan sát để miêu tả Nếu tích cực quan sát tốt và vận dụng tốt tất cả các giác quan tìm ra yếu tố

Trang 18

chính lựa chọn phơng pháp đặc tả thì khi trình bày bài nói ngời nghe nh nhìn thấy tận mắt đối tợng miêu tả

Nh vậy trong dạy học, giáo viên biết tổ chức cho học sinh hoạt động tích cực thì đồng thời trong mỗi học sinh sẽ tự giác hơn trong quá trình tham gia bài nói của mình Giáo viên hớng dẫn học sinh vào môi trờng giao tiếp để phát huy tính tích cực tự giác trong mỗi cá nhân học sinh, tạo ra mối liên hệ chặt chẽ giữa thầy và trò thì hiệu quả của quá trình rèn luyện càng đạt kết quả cao

Bên cạnh đó, giáo viên cần phải tôn trọng tính độc lập sáng tạo của học sinh Trong quá trình diễn đạt lời nói luôn yêu cầu cao ở tính độc lập và sáng tạo Vì độc lập trong rèn luyện nói nó mang tính chất sáng tạo riêng của từng cá thể trớc mỗi yêu cầu đề ra, từ cách dùng từ, đặt câu đến làm bài văn hoàn chỉnh Nếu học sinh độc lập suy nghĩ trong trình bày một bài văn nói thì sẽ quyết định khả năng giao tiếp của học sinh sau này, đồng thời phản ánh rõ thành quả học tập của từng học sinh Tính độc lập sáng tạo của học sinh đợc thể hiện trong luyện nói đó là tự suy nghĩ trớc một đề bài, trớc một tình huống giao tiếp đặt ra, trình bày một cách tự tin, thể hiện sắc thái riêng, tạo ra đợc giọng điệu, một cách nói có duyên, hấp dẫn

Trong thể loại văn miêu tả, yêu cầu học sinh nói một bài văn miêu tả không chỉ đơn thuần là đọc lên kết quả của những ngôn bản hoàn chỉnh để thông báo cho ngời nghe những nội dung về đối tợng miêu tả mà yêu cầu cách nói của học sinh qua một loạt các từ mới, cách diễn đạt bóng bẩy giàu chất tạo hình, chứa

đựng yếu tố cảm xúc, sử dụng các biện pháp ví von nhân hoá trong miêu tả Đó

là cách sáng tạo của mỗi học sinh Ví dụ cùng tả về biển, về một cảnh đẹp của quê hơng, về một cánh đồng lúa chín nh… ng có những học sinh chỉ là sự kể lể khô cứng nhng cũng có những học sinh miêu tả - khi đọc lên ngời nghe có cảm tởng nh hiện ra trớc mắt những cảnh đẹp về quê hơng Đây chính là chất sáng tạo mang phong cách riêng biệt của từng ngời nói chung và mỗi học sinh nói riêng trong miêu tả Tính độc lập sáng tạo đóng vai trò quan trọng trong quá

Trang 19

trình luyện nói Bời vì cho dù giáo viên đa ra bất cứ một đề bài nào thì học sinh cũng đều có khả năng ứng xử kịp thời và có những đáp án sẵn trong đầu mình

Đây là bớc khẳng định cách ứng xử tốt trong một tình huống giao tiếp của học sinh khi ra đời

Trong thể loại văn kể chuyện, yêu cầu cao ở tính độc lập sáng tạo và đồng thời nếu nh giáo viên biết tổ chức hớng dẫn các em trong học tập - hoạt động giao tiếp thì sẽ phát huy đợc năng lực hoạt động sáng tạo của các em trong trình bày các ngôn bản nói Yêu cầu sáng tạo của học sinh thể hiện qua sắc thái riêng trong sản phẩm nói của từng em Tạo ra một giọng điệu một cách kể chuyện có duyên hấp dẫn Để làm đợc điều đó yêu cầu đặt ra đối với mỗi học sinh trong cách kể, các ý lựa chọn và sắp xếp

Tóm lại, dạy học Tập làm văn phải biết phát huy khả năng độc lập sáng tạo của học sinh, hớng học sinh vào các hoạt động giao tiếp tốt, tạo ra phong cách riêng trong mỗi tình huống giao tiếp của từng em, làm nổi bật cách nói hóm hỉnh, sinh động, hấp dẫn trong luyện nói

Trong dạy học Tập làm văn cũng cần phải chú ý đến việc phát huy tính chủ

động, bạo dạn, tự tin cho học sinh, cần luyện cho học sinh có khả năng nói trớc

đám đông, giúp cho học sinh có cơ hội thể hiện mình trớc lớp Trong giờ học,

đa số học sinh đều có nhu cầu trình bày bài văn nói của mình thì giờ học càng sôi nổi, hào hứng, hiệu quả của quá trình tập luyện sẽ nâng cao Thông qua ý kiến đa ra của mỗi học sinh, giáo viên đánh giá một cách khách quan, cụ thể

Đây cũng là cơ hội để sửa sai cho học sinh tập nói, giúp học sinh luyện nói ngày càng tự tin và bạo dạn hơn Tuy nhiên, bạo dạn không phải là yêu cầu học sinh thể hiện một cách quá biểu diễn nh diễn viên sân khấu mà luôn quy định tới tính mô phạm mềm dẻo, có duyên và thuyết phục

Ví dụ: Trong thể loại văn kể chuyện, sự tự tin sáng tạo, bạo dạn phát biểu ý kiến của mình trớc tập thể lớp là yêú tố quyết định thành quả của bài luyện nói trong Tập làm văn

Trang 20

Ví dụ: Khi học sinh nắm rõ nội dung cốt truyện cần kể cùng với sự bạo dạn

tự tin và khả năng “biểu diễn” cách kể một câu chuyện trớc lớp bằng ngôn ngữ riêng của mình thì bài văn của các em đợc thực hiện hoá một cách hấp dẫn

- Thông qua dạy học Tập làm văn bồi dỡng cho học sinh phẩm chất và năng lực cảm thụ văn chơng:

Để học sinh trình bày trọn vẹn các ngôn bản bằng lời nói của mình sinh

động, hấp dẫn và có hồn, điều cơ bản là dạy học phải biết bồi dỡng cho các em tâm hồn nhạy cảm giàu cảm xúc, bồi dỡng chất văn, lòng ham mê và yêu văn thơ của học sinh

Ví dụ: Trong văn miêu tả: tả về biển nếu nh những em có tâm hồn nhạy

cảm thì khi đã đựơc quan sát cảnh đó dù chỉ một lần cũng có thể có khả năng tái tạo, hồi tởng lại ngôn ngữ nói với hình ảnh sinh động đang hiện dần trớc mắt ngời nghe, từ cảm xúc toát lên đợc cả màu sắc, mùi vị và âm hởng của một cảnh, ngời nghe cảm nhận đợc khi các em diễn đạt bằng lời

Tóm lại, quá trình rèn luyện kĩ năng nói là một quá trình lâu dài, phụ thuộc rất nhiều yếu tố: năng lực, phẩm chất của ngời nói, môi trờng sống và giao tiếp, môi trờng học tập Khả năng diễn đạt lời nói của mỗi học sinh còn phụ thuộc vào năng lực thiết kế tổ chức hoạt động giao tiếp bằng lời nói của giáo viên Có

nh vậy, mới tạo ra ngôn bản nói hoàn hảo, giúp các em học tập và giao tiếp tốt trong cuộc sống hàng ngày

1.1.2.2- Yêu cầu và cách thức phát triển lời nói trong dạy học Tập làm văn

Muốn phát triển lời nói của học sinh cần nắm đợc tiêu chuẩn lời nói tốt và các nhân tố tác động đến phong cách ngôn ngữ

*Yêu cầu về lời nói đối với học sinh.

- Lời nói của học sinh phải mang tính hàm súc, phải cô đọng, súc tích, nếu kéo dài sẽ gây khó nhớ, khó thuộc đối với ngời học đặc biệt là lứa tuổi học sinh tiểu học

Trang 21

- Lời nói của học sinh phải có tính chính xác Về thông tin, về sự kiện, về số liệu phù hợp với đặc điểm phong cách chức năng.

- Lời nói của học sinh phải mang tính lô gíc

- Lời nói của học sinh phải mang tính rõ ràng

- Lời nói của học sinh phải mang tính thẩm mĩ

Nắm vững các tiêu chuẩn của lời nói tốt, giáo viên sẽ có khả năng phát huy tính chủ động, sáng tạo trong việc dạy cho học sinh “lúc nói, lúc viết phải diễn tả ý mình làm sao cho trung thành, sáng sủa, chặt chẽ, chính xác và hay”

* Trong việc phát triển lời nói cho học sinh, cần xác định các yếu tố ngoài ngôn ngữ quy định sự lựa chọn các phơng tiện ngôn ngữ trong giao tiếp Việc

lựa chọn các khuôn mẫu đợc xác định bởi các nhân tố: nhân vật tham gia giao tiếp, hoàn cảnh xã hội điển hình của giao tiếp (theo nghi thức hay không theo nghi thức) và mục đích thực tiễn trong giao tiếp (hiệu quả cần đạt)

- Đích giao tiếp:

Mỗi một cuộc giao tiếp đều nhằm trả lời câu hỏi: cuộc giao tiếp này nhằm mục đích gì? Chính đích của cuộc giao tiếp quyết định toàn bộ diễn biến của cuộc giao tiếp Thông thờng đích của cuộc giao tiếp là nhằm tác động đến ngời nghe làm thay đổi nhận thức quan niệm, tình cảm, hành động và ý chí của họ…

Để đạt đợc đích giao tiếp này ngời nói sẽ lựa chọn cho mình một cách thức nói năng, cách tổ chức các lời nói sao cho ngời nghe tiếp nhận đích đó một cách thuận lợi nhất

- Nhân vật giao tiếp:

Nhân vật giao tiếp ở đây là ngời nói và ngời nghe Trong hai đối tợng này thờng ngời nói chi phối diễn biến của cuộc giao tiếp Có nhiều yếu tố

ảnh hởng đến kết quả giao tiếp: trình độ, nghệ thuật nói năng của ngời nói, quan

hệ (thân hay sơ, gần hay xa, ) giữa ng… ời nói và ngời nghe

Trong hoạt động giao tiếp, nếu ngời nói luôn là một thì ngời nghe không phải lúc nào cũng vậy Có khi ngời nghe là một nhng có khi ngời nghe là số

Trang 22

đông (nh trờng hợp giáo viên giảng bài, một báo cáo viên trình bày trớc công chúng) nhng có trờng hợp mặc dù ngời nghe là số đông song chỉ có một số ngời nhất định trong số đó là đối tợng giao tiếp đích thực mà ngời nói hớng tới ở những trờng hợp ấy, ngời nghe đích thực sẽ nhận ra trong lời nói của ngời nói những tín hiệu dành riêng cho mình.

Hiệu quả giao tiếp phụ thuộc vào cả ngời nói và ngời nghe Để giao tiếp có hiệu quả, ngời nói phải nắm đợc các quy tắc giao tiếp, quy tắc hội thoại, phải nói làm sao để vừa ngời nghe lĩnh hội đợc nội dung ta muốn nói vừa thể hiện sự tôn trọng ngời nghe, chứ không phải thích gì nói nấy Nếu nói những vấn đề không phù hợp với ngời nghe, thói quen trong đời sống thờng ngày của ngời nghe thì cuộc giao tiếp sẽ không đạt đến đích Vì vậy, ngời nói phải có sự hiểu biết về ngời nghe, hiểu biết càng phong phú cụ thể thì hiệu quả giao tiếp càng cao Đó là những hiểu biết về nhu cầu, hứng thú, tâm lí của họ Hiểu biết về thói quen sử dụng ngôn ngữ, kinh nghiệm sống, hoàn cảnh của ngời giao tiếp, ngôn ngữ để có cách lựa chọn phơng tiện ngôn ngữ phù hợp Hiểu biết về sở thích, hứng thú để chọn nội dung giao tiếp khơi gợi, duy trì đ… ợc hứng thú của họ.Trong giao tiếp, mỗi ngời ở một vai, một cơng vị nhất định và cùng với ngời khác tạo ra quan hệ ngang vai hay khác vai Vai và quan hệ vai là nhân tố quan trọng nhất có tác dụng quyết định việc lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ trong giao tiếp Còn các đặc điểm lứa tuổi, trình độ văn hoá, tâm lý của ng… ời tham dự giao tiếp chỉ có ảnh hởng ít nhiều tới việc lựa chọn này Yếu tố vai và quan hệ vai có vị trí quan trọng nhằm tạo ra ở học sinh ý thức và thói quen dùng ngôn ngữ theo các phong cách Các câu hỏi luôn đặt ra với học sinh khi viết hoặc nói các ngôn bản: viết bài văn này với t cách gì? trong quan hệ thế nào với ngời nghe? Theo nghi thức hay không? Nhằm mục đích gì?

Nh vậy, nhân vật tham gia giao tiếp là một trong những nhân tố để lại nhiều dấu ấn trong việc lựa chọn và cách thức trình bày văn bản nói

- Thực tế đợc nói tới:

Trang 23

Thực tế đợc nói tới là nhân tố giao tiếp tạo thành nội dung của văn bản nói, tạo nên đề tài, chủ đề của các cuộc nói chuyện Nội dung đó là những sự vật hiện tợng của thiên nhiên, xã hội đợc ngời nói nhận thức, hay cũng có thể là những t tởng, tình cảm hoặc những câu chuyện tởng tợng của ngời nói Nhng giữa ý định của ngời nói (nội dung dự kiến) với sản phẩm của việc thực hiện ý

định đó (văn bản) thờng bao giờ cũng vẫn có một khoảng cách nhất định Ngời nói không phải lúc nào cũng thể hiện hết và hoàn toàn chính xác những ý định của mình bởi nhiều lí do nh: khả năng sử dụng ngôn ngữ, hoàn cảnh giao tiếp, tình trạng tâm sinh lý, Do đó giữa văn bản và nội dung dự kiến ban đầu của…ngời nói tất nhiên có khoảng cách

Tuy vậy, nếu chúng ta luôn tính đến hiệu quả giao tiếp thì nội dung thông báo định nói không phải lúc nào cũng do ngời nói quyết định Bởi vì, trong giao tiếp bằng lời nói, ngời nghe luôn đợc xác định một cách cụ thể về nhận thức, về nghề nghiệp, về tâm lý, về quan hệ xã hội, về hứng thú Vì thế trong những tr… -ờng hợp cụ thể đó, ngời nghe có thể tiếp nhận thông tin này, từ chối thông tin kia, thích thú sự việc này, không chú ý đến sự việc kia tuỳ thuộc vào nhu cầu,…hứng thú, sở thích của họ Chính điều này buộc ngời nói phải lựa chọn nội dung lời nói của mình khi tham gia giao tiếp

Để hiểu đợc rõ nội dung của văn bản nói do ngời nói phát ra, ngời nghe cũng phải có khả năng phân tích, lý giải văn bản tốt Điều đó đòi hỏi ngời nghe phải có vốn sống, vốn hiểu biết nhất định Nếu vốn sống đó quá ít thì hiệu quả giao tiếp sẽ không cao hoặc không thể thực hiện đợc Nhng nếu vốn sống, vốn hiểu biết của ngời nghe phong phú, đa dạng thì việc hiểu đầy đủ, chính xác nội dung văn bản của ngời nói trở nên dễ dàng hơn rất nhiều Cách thức tiếp cận nội dung văn bản còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa nh đặc điểm giới tính,

điều kiện sống, tâm lí xã hội, của ng… ời nghe Mỗi ngời tuỳ thuộc vào đặc điểm riêng của mình mà có những cách luận giải khác nhau về văn bản Nh vậy, từ nội dung của một văn bản duy nhất có thể nảy sinh ra rất nhiều những biến thể

Trang 24

khác nhau về nội dung ở ngời nghe Đây là cơ sở tạo nên tính đa nghĩa cho văn bản Nhờ vậy từ nội dung định nói tới nội dung của văn bản nói đợc tạo ra đã có một khoảng cách thì từ những nội dung nói tới nội dung tiếp nhận đợc lại tiếp tục có một khoảng cách nữa Vì vậy, dù việc khôi phục nội dung ở ngời nghe có tốt đến đâu thì giữa nội dung đó với nội dung ban đầu của ngời nói cũng không thể trùng làm một.

- Hoàn cảnh giao tiếp:

Cuộc giao tiếp nào cũng diễn ra trong một bối cảnh cụ thể: hoàn cảnh giao tiếp có thể đợc hiểu rất rộng: từ hoàn cảnh xã hội đến hoàn cảnh tự nhiên, từ hoàn cảnh của cộng đồng đến bối cảnh lịch sử: hoàn cảnh giao tiếp rộng này dù

ít hay nhiều cũng có ảnh hởng nhất định đến việc xây dựng văn bản nói Mặt khác, hoàn cảnh giao tiếp có thể hiểu một cách cụ thể hơn đó là tình huống giao tiếp (hay còn gọi là ngữ cảnh).Tình huống giao tiếp có thể là những yếu tố thời gian, địa điểm, hình thức giao tiếp, những sự việc xảy ra xung quanh tồn tại trong quá trình giao tiếp Tuỳ từng tình huống giao tiếp mà ngời nói lựa chọn cho mình lời nói thích hợp Điều này rất quan trọng bởi vì cùng một câu nói nh-

ng trong những tình huống khác nhau thì lại mang một ý nghĩa khác và ngời nghe lĩnh hội ý nghĩa câu nói tuỳ vào tình huống giao tiếp Nếu ngời nói không chú ý đến tình huống giao tiếp, không chú ý đến hoàn cảnh giao tiếp đang diễn

ra có khi sẽ làm cho ngời nghe hiểu lầm ý nghĩa, nội dung của câu nói, và cuộc giao tiếp sẽ không đạt đợc hiệu quả Hoàn cảnh theo nghi thức hay không theo nghi thức ảnh hởng rất rõ đến việc lựa chọn các phơng tiện giao tiếp Quan hệ cùng vai và khác vai có cả hai hoàn cảnh theo nghi thức và không theo nghi thức.Vì vậy khi giao tiếp ngời nói phải chú ý xử lý những mối quan hệ trong tình huống xẩy ra cuộc giao tiếp

Trang 25

* Bên cạnh việc xác định các yếu tố ngoài ngôn ngữ quy định sự lựa chọn

các phơng tiện ngôn ngữ trong giao tiếp thì giáo viên khi dạy học cũng cần phải tính đến các quy tắc của lời nói

- Quy tắc thơng lợng:

Trong giao tiếp cần có sự thoả thuận giữa ngời tham gia giao tiếp về đề tài, nội dung về vị thế giao tiếp để việc giao tiếp đ… ợc tiến hành thuận lợi Việc thoả thuận này có thể đợc tiến hành công khai tách biệt trớc khi giao tiếp diễn

ra nhng thờng sự thoả thuận này là sự thơng lợng ngầm ẩn và đợc đặt ra ngay trong cuộc thoại Khi đã có đợc sự thoả thuận thống nhất, việc giao tiếp mới có thể đợc tiếp tục

Sự thơng lợng nhằm vào một số điểm chính nh sau:

- Thơng lựợng về hình thức: Đó là sự thoả thuận để đi đến thống nhất ngôn ngữ đợc dùng, về phong cách nói, về ngữ điệu giao tiếp Khi không thống nhất…

đợc về ngôn ngữ sử dụng, khi trái ngợc nhau về cách nói năng, khác biệt hoặc

đối lập nhau về ngữ điệu, thái độ, thì phần lớn những tr… ờng hợp ấy cuộc giao tiếp sẽ nhanh chóng kết thúc

- Thơng lợng về nội dung: Đó là sự thoả thuận để đi đến thống nhất về các vấn đề đợc đa ra Khi những ngời tham gia giao tiếp, ngời thích đề tài này, ngời thích đề tài kia, ngời thích kết thúc nội dung này, ngời lại muốn kéo dài nó thì…giao tiếp cũng không thể tiếp tục đợc Bởi vậy khi giao tiếp, ngời nghe và ngời nói luôn phải có sự thơng lợng với nhau về nội dung để có thể duy trì đợc việc giao tiếp diễn ra đúng hớng đã định

- Thơng lợng về cấu trúc: Đó là sự thoả thuận về việc mở đầu, kết thúc và sự luân phiên lợt lời trong hội thoại Việc mở đầu có thể là những câu chào hỏi, những lời xã giao để thiết lập giao tiếp Việc kết thúc có thể là lời cảm ơn, lời tạm biệt, lời hứa hẹn hoặc lời nhắn nhủ khuyên răn, cảnh báo hoặc lời xin lỗi,

Ví dụ cuộc hội thoại qua điện thoại:

Trang 26

- Cô cho cháu gặp bạn Hoa ạ.

- ở đây không có ai tên là Hoa đâu

- Thế ạ? Cháu xin lỗi cô

(Tập làm văn lớp 2)Trong hội thoại, những ngời tham dự cũng phải biết luân phiên lợt lời một cách nhịp nhàng Họ phải luôn có ý thức thơng lợng với ngời khác, biết lúc nào mình giữ quyền nói, lúc nào mình phải nhờng lời cho ngời đang nói chuyện cùng mình Nếu có sự dẫm đạp lợt lời thì cần có sự thơng lợng lại

- Thơng lợng về vị thế: Trong hội thoại mỗi ngời có một vị thế khác nhau Nếu nh những ngời tham dự giao tiếp đã biết về vị thế giao tiếp của nhau thì hội thoại có thể tiến hành dễ dàng Những trờng hợp cha rõ về vị trí hội thoại của nhau thì việc tìm hiểu vị thế đó là cần thiết Điều này ảnh hởng đến thái độ nói năng, việc dùng ngôn từ và việc chủ động đề xuất đề tài hội thoại

- Quy tắc luân phiên lợt lời:

Khi có hai ngời tham gia giao tiếp thì hai ngời này phải biết luân phiên lợt lời cho nhau Khi ngời này nói, ngời kia phải biết nhờng lời, phải biết dừng lại

để nghe Mỗi một lần A nói hay B nói đợc coi là một lợt lời Mỗi lợt lời này, tuỳ từng điều kiện giao tiếp cụ thể mà có thể là do một ngời nắm vai trò phân phối chỉ định, cũng có thể là do những ngời tham dự giao tiếp tự thơng lợng với nhau Khi B nhận thấy trong lời thơng lợng của A nói có dấu hiệu kết thúc (nh ngữ điệu, hoặc sự có mặt của các kiểu từ nh: nhé, nhớ, đấy, hả, ) thì điều đó…

có nghĩa là A chuẩn bị cho B và B phải sẵn sàng tiếp lời A để giao tiếp diễn ra liền mạch

Tóm lại: Quy tắc luân phiên lợt lời không phải lúc nào cũng đợc chỉ ra thật rành mạch, rõ ràng, quy tắc này có sự chi phối lời nói, buộc những ngời nói phải

có sự chú ý đến việc trao lời đáp lời cũng nh biết nhờng lời, tiếp lời trong quá trình giao tiếp

- Quy tắc liên kết:

Trang 27

Trong quá trình giao tiếp với nhau, muốn lời nói đợc diễn ra một cách liền mạch thì các lợt lời phải có sự liên kết chặt chẽ với nhau Sự liên kết này đợc thể hiện ở cả nội dung và hình thức.

- Về nội dung: Các lợt lời phải có thống nhất về đề tài, nghĩa là nội dung phải có trọng điểm, sẽ không có sự liên kết hội thoại về mặt nội dung nếu nh mỗi ngời tham gia giao tiếp nói tới một đề tài khác nhau Ngoài ra các lợt lời cũng cần có sự thống nhất và liên kết chặt chẽ với nhau về lập luận bởi lập luận tạo thành các mạch về nội dung

- Về hình thức: Các lợt lời cũng cần có những dấu hiệu cụ thể ở lời của A

có những dấu hiệu nh: à, cơ, đâu, gì , ở lời của B có những dấu hiệu: thì, nh… ng, vậy, thế, do đó Việc dùng phép lặp, thế, nối chính là những dấu hiệu liên kết… …hội thoại về hình thức

- Quy tắc tôn trọng thể diện ngời nghe:

Quy tắc tôn trọng thể diện là quy tắc buộc ngời tham gia giao tiếp phải giữ thể diện cho nhau Khi giao tiếp một mặt ngời nói phải nói sao cho để giữ đợc thể diện cho ngời nghe Mỗi ngời đều có những điểm mạnh, điểm yếu riêng Vì thế khi giao tiếp cần phải biết lựa chọn lời cho phù hợp, tránh những lời nói xúc phạm tới thể diện, đến danh dự của ngời khác Khi giao tiếp nên sử dụng các từ ngữ xng hô tỏ ra đề cao ngời nghe, thờng nói đến mặt u điểm, mặt tích cực khuyến khích và khen ngợi ngời nghe, hoặc dùng lối nói gián tiếp, hàm ngôm, nói tránh về những hạn chế của ngời nghe

- Quy tắc khiêm tốn:

Quy tắc này đòi hỏi ngời nói không nên nói quá nhiều về mình, dù đó chỉ là những lời kể lể bộc bạch Lại càng không nên nói về mình khi những lời nói đó lại là lời khen, lời đề cao trong giao tiếp thì hiệu quả giao tiếp sẽ tăng lên

- Quy tắc cộng tác:

Trang 28

Mỗi ngời khi tham gia giao tiếp cần có sự cộng tác nhằm góp phần làm cho cuộc giao tiếp đạt đến kết quả mong muốn Để thực hiện đợc điều này cần tuân theo 4 phơng châm sau:

- Về lợng: Không nên nói quá dài vì ngời nghe mệt, lơ đãng sốt ruột và cắt ngang lời Không nên nói quá ít vì sẽ không đủ thông tin và làm cho ngời nghe hiểu không đầy đủ về sự việc, sự vật

- Về chất: Cần phải nói những điều mang thông tin xác định, tránh tình trạng nói những điều mập mờ, tối nghĩa

- Về quan hệ: Cần phải nói sao cho sự việc đúng nh chính nó, tránh thiên kiến chủ quan làm sai lạc méo mó sự việc

- Về cách thức: Cần nói rõ ràng, mạch lạc, lôgic, hệ thống, âm lợng vừa phải, không to quá, không nhỏ quá

* Trong quá trình dạy học Tập làm văn cần có sự vận dụng lý thuyết hoạt

động lời nói vào việc rèn luyện, phát triển lời nói cho học sinh.

Theo A.N-Lê-ôn-chep: “Hoạt động là bản thể của tâm lý ý thức Tâm lý ý thức đợc nảy sinh bởi hoạt động Trong tâm lý học, hoạt động đợc coi là sự vận

động của chủ thể, của con ngời, hoạt động quy định nguồn gốc, nội dung và vận hành của tâm lí Với ý nghĩa đó, ta nói rằng: hoạt động là quy luật chung nhất của cuộc sống con ngời, của tâm lí con ngời, và do đó hoạt động cũng là quy luật chung nhất của tâm lí học.”

Lý thuyết hoạt động lời nói vận dụng thành tựu của tâm lí học hoạt động đi sâu nghiên cứu các mối quan hệ qua lại, các giai đoạn của quá trình hoạt động lời nói Về mối quan hệ giữa hoạt động giao tiếp và hoạt động nói năng với

động cơ nảy sinh lời nói, lý thuyết hoạt động lời nói cho rằng: “Các kích thích hành vi nói năng ở đây - tất nhiên là chúng ta xem xét lời nói trong trạng thái tự nhiên của nó- thờng là một cái gì đó nằm ngoài phạm vi ngôn ngữ Chúng ta nói không phải để mà nói mà để báo một cái gì đấy, bằng cách gì đó tác động đến một ngời nào đó, hớng sự chú ý đến một ngời nào đó Nói cách khác động cơ

Trang 29

nói năng không phải là của hoạt động lời nói mà của hoạt động thuộc bậc cao hơn - hoạt động giao tiếp và từ đó chúng ta có thể nói về hoạt động nói năng nếu nh chúng ta xem xét lời nói trong khuôn khổ hoạt động giao tiếp.

Về mối quan hệ giữa lời nói và mục đích cụ thể, lí thuyết hoạt động lời nói rằng: “Bất kỳ một hoạt động nào cũng bao gồm một hệ thống (hành động) hành

vi Giống nh sự tơng quan giữa khái niệm hoạt động và khái niệm động cơ, khái niệm (hành động) hành vi cũng tơng quan với khái niệm mục đích, không phải

là một (hành vi) hành động khép kín của hoạt động (không có động cơ tự thân), lời nói thờng là “toàn bộ các hành vi nói năng có mục đích trung gian của mình, mục đích đó phụ thuộc vào động cơ của hoạt động giao tiếp mà lời nói đợc xem xét”

Nh vậy, để thực hiện họat động giao tiếp chúng ta cũng có thể thực hiện một hành vi nói năng Đến lúc này hành vi nói năng nhằm vào một mục đích cụ thể, mục đích đó phụ thuộc vào động cơ giao tiếp Ví dụ: Chúng ta có một ngời bạn gặp cảnh ngộ khó khăn Ta muốn chia sẽ nỗi buồn với họ Đó là động cơ hoạt động Động cơ nảy sinh do tính chất của mối quan hệ giữa ta và ngời bạn

đòi hỏi, tức là động cơ thuộc lĩnh vực hoạt động giao tiếp Ta có thể đựơc thực hiện động cơ bằng nhiều hoạt động: dùng lời nói, dùng hành động…

Khi dùng hoạt động nói năng để an ủi, động viên hoặc góp ý cách giải quyết với ngời bạn ta có thể dùng nhiều hành động nói năng đa dạng nh: gặp gỡ trò chuyện để an ủi, động viên nêu ý kiến Và mỗi hành động nói năng này nhằm thực hiện mục đích cụ thể nhng đều có chung một động cơ giao tiếp đó là chia sẽ khó khăn với bạn

Để thực hiện các hành động, con ngời phải sử dụng các thao tác Mỗi hành

động ngoài mục đích ra còn có thành phần thao tác, tức là hành động đợc tạo thành bởi thao tác Nếu hành vi phù hợp với mục đích thì thao tác phù hợp với những điều kiện hành vi Điều kiện mà hành vi diễn ra thay đổi thì cả những ph-

ơng thức thực hịên hành vi (thao tác) cũng thay đổi

Trang 30

Trở lại ví dụ đầu, nếu ta sử dụng hành động viết th thăm hỏi thì phải thực hiện một loạt thao tác khi ta sử dụng lời nói trực tiếp với ngời bạn trong lần gặp

gỡ Trong hai trờng hợp này ta phải huy động hai cơ sở sinh lý khác nhau (cơ sở sinh lí của việc viết chữ và của việc nói), cách lựa chọn các phơng tiện ngôn ngữ cũng khác nhau ( một bên là lời nói có chuẩn bị trớc, một bên là lời nói đối thoại có tính tự phát, một bên ngoài chữ viết không còn yếu tố nào phụ trợ, một bên còn có thể sử dụng thêm các phơng tiện phi ngôn ngữ phụ trợ nh nét mặt,

cử chỉ, cái nhìn Từ đó ta dễ dàng nhận thấy ph… ơng thức thực hiện hành động hoặc thành phần thao tác của nó hoàn toàn vận động và phụ thuộc vào điều kiện giao tiếp

Hành vi nói năng có một cấu trúc Cấu trúc này bao gồm 4 giai đoạn: định hớng, lập chơng trình, hiện thực hoá và kiểm tra Chúng đợc thực hiện nối tiếp nhau một cách liên tục

Nh vậy việc phát triển lời nói cho học sinh phải dựa trên lý thuyết hoạt động lời nói Lý thuyết hoạt động lời nói phân tích chính quá trình sản sinh và lĩnh hội lời nói và nghiên cứu toàn bộ lời nói Nó chú ý đến các nhân tố chi phối các quá trình này, các nhân tố quy định sự lựa chọn các biến thể lời nói phù hợp với nhiệm vụ giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp Do đó lý thuyết hoạt động lời nói có thể đáp ứng đợc yêu cầu phát triển năng lực hoạt động lời nói, nắm vững cơ chế sản sinh (lĩnh hội) lời nói, năng lực lựa chọn lời nói chuẩn mực

Theo lý thuyết hoạt động lời nói, để giao tiếp tốt cần có những kĩ năng sau:

- Trớc hết chủ thể nói năng phải biết định hớng đúng đắn và nhanh chóng

điều kiện giao tiếp.

ở khâu này, chủ thể nói năng phải phân tích đợc mục đích nói năng, đối ợng nói năng, hoàn cảnh nói năng, điều kiện giao tiếp, hình thức lời nói và đặc trng phong cách Các yếu tố này sẽ chi phối sự lựa chọn nội dung và các phơng tiện biểu đạt trong suốt quá trình sản sinh văn bản Việc rèn luyện các thao tác

t-định hớng trong hoạt động lời nói, đặc biệt trong hoạt động giao tiếp là hết sức

Trang 31

quan trọng Thực tế cho thấy, trong nhà trờng hiện nay và học sinh vẫn còn tồn tại một lối nói không cần định hớng, nói lan man, không có nội dung, rối rắm, dài dòng, không nhất quán, đơn điệu, nghèo nàn, sáo rỗng, không phù hợp với

đối tợng hoàn cảnh Chính vì thế trong dạy học Tập làm văn khâu đầu tiên là dạy học sinh định hớng bài nói Đây chính là bớc giao viên hớng dẫn học sinh tìm hiểu đề bài, xác định đúng nội dung cần nói, xác định t tởng tình cảm của bài nói

- Hai là cần phải biết lập đúng chơng trình lời nói của mình, lựa chọn nội dung hoạt động giao tiếp một cách đúng đắn.

Trên cơ sở đặc trng nội dung và hình thức đã xác định ở khâu định hớng, chủ thể nói năng lập chơng trình biểu đạt bằng cách triển khai các t tởng cơ bản, lựa chọn các tài liệu cần thiết, đa chúng vào một trật tự lôgic nhất định ở đây thể hiện rất rõ sự khác nhau giữa hình thức nói và viết, hình thức đối thoại và

độc thoại Trong đối thoại, sự trao đổi giữa ngời nói và ngời nghe diễn ra tơng

đối nhanh, cha có sự chuẩn bị, lời đối đáp thờng tự nhiên, ngắn gọn Độc thoại

là hình thức đã phát triển của lời nói, là dạng lời nói có tổ chức, có suy nghĩ

tr-ớc, có sự lựa chọn đánh giá có ý thức các phơng tiện ngôn ngữ, nghĩa là có tính chất chơng trình hoá cao thể hiện ở tất cả các cấp độ: văn bản, đoạn văn, câu từ Chính vì vậy ở khâu này việc xác định rõ những điều muốn nói, tìm hiểu những vấn đề liên quan đến bài nói của mình từ đó hệ thống hoá chúng và tìm những phơng thức biểu đạt chúng là rất cần thiết

Trong giai đoạn lập chơng trình, t tởng vận động, phát triển trong hình thức lời nói bên trong, đợc ghi nhớ bằng lời nói bên trong Lời nói bên trong về hình thức có tính chất rút gọn, tổng hợp và khúc đoạn Khi nói bên trong vốn từ lời nói bên ngoài chuyển vào theo quá trình nội tâm hoá của hoạt động tâm lý Theo giả thuyết của P.Ia Ga-pê-rin thì lời nói bên trong là giai đoạn cuối cùng của hành động bên ngoài chuyển vào hành động bên trong thành hành động trí tuệ Lời nói bên trong phát triển theo sự phát triển của năng lực trí tuệ và sự

Trang 32

phong phú của đời sống nội tâm, đồng thời nó cũng là phơng tiện rất cần thiết cho hoạt động trí tuệ, cho hoạt động lời nói, nhất là cho hình thức lời nói độc thoại Nó là hình thức chuẩn bị tích cực cho lời nói bên ngoài Trong quá trình dạy tiếng ở nhà trờng, việc rèn luyện lời nói bên trong cha đặt ra do cha ý thức

đợc vai trò của nó trong hoạt động trí tuệ và hoạt động lời nói Trong dạy học Tập làm văn, giáo viên cần hớng dẫn học sinh kĩ năng tìm ý, tìm từ, chọn từ cho lời nói

Trong dạy học, giáo viên có thể sử dụng hệ thống câu hỏi gợi ý hoặc dùng phiếu học tập để tạo tình huống giúp học sinh tìm từ, tìm ý

Ngoài biện pháp sử dụng có sáng tạo phiếu học tập, khi thực hiện bớc này, giáo viên còn phải biết hớng dẫn học sinh độc thoại (nói thầm trong đầu) một cách tự nhiên

- Ba là cần phải tìm đợc những phơng tiện hợp lý truyền đạt nội dung đó

Đây là khâu hiện thực hoá chơng trình, thực chất là quá trình triển khai lời nói bên trong thành lời nói bên ngoài ở dạng đầy đủ theo các quan hệ lôgic- ngữ nghĩa và ngữ pháp, để hiện thực hóa, khách quan hoá nội dung t tởng Đây là khâu khó nhất đối với học sinh Các lỗi về lôgic, về hình thức biểu đạt thờng là

có nguyên nhân từ khâu này.Trớc hết có thể thấy các loại lỗi do không triển khai đợc lời nói bên trong có tính chất rút gọn, rời rạc, mãnh đoạn không che lấp đợc đầy đủ quan hệ lôgic ngữ nghĩa và ngữ pháp, các câu đứt mạch, không nhất quán, câu què cụt, lũng cũng Tiết Tập làm văn cần rèn cho học sinh kĩ…năng diễn đạt bằng lời nói thông qua khẩu ngữ và những yếu tố phi ngôn ngữ (cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nụ cời, ) sao cho hợp với yêu cầu cần diễn đạt.…

Muốn làm tốt bớc này, giáo viên cần sáng tạo để tổ chức giờ học thật tự nhiên gây hứng thú cho học sinh, tạo cho học sinh thấy nhu cầu nói, nhu cầu giao tiếp chứ không phải chỉ đơn thuần trả lời các câu hỏi trong sách, trong phiếu học tập một cách gợng ép, thiếu tự nhiên

- Khâu cuối cùng là kiểm tra, đối chiếu toàn bộ văn bản với mục đích, yêu

Trang 33

cầu của hành động nói đã đợc xác định ở khâu định hớng Việc giảng dạy ở

nhà trờng cha coi trọng đúng mức khâu này đối với hành động nói năng của học sinh Khái niệm trung tâm của lý thuyết trau dồi ngôn ngữ là khái niệm chuẩn mực và gắn bó với nó là rèn luyện thói quen lựa chọn, đánh giá, kiểm tra, sữa chữa lời nói phù hợp với chuẩn mực (đợc quan niệm nh biến thể lời nói thích hợp nhất với nhiệm vụ giao tiếp và điều kiện giao tiếp) Thao tác lựa chọn, đánh giá, kiểm tra, sữa chữa không chỉ đơn thuần là thao tác nói năng mà còn thể hiện nhân cách, ý thức trách nhiệm đối với xã hội

Hoạt động nói năng bao giờ cũng tiến hành trong một hoàn cảnh nói năng nhất định bắt đầu từ một động cơ nói năng, từ đó hình thành nội dung thông báo

và sau đó là quá trình hiện thực hoá nội dung, quá trình chuyển từ lời nói bên trong thành lời nói bên ngoài Dạy học Tập làm văn trên quan điểm hoạt động lời nói đòi hỏi phải đi từ nội dung ý nghĩa đến hình thức biểu đạt, phải đảm bảo vai trò chi phối có tính chất quyết định của các nhân tố ý nghĩa và hoàn cảnh trong mối tơng quan với chủ thể nói năng Sự phân tích sâu sắc ý nghĩa tình huống nói năng là rất cần thiết Trong dạy học Tập làm văn cần gắn hành động nói năng với hoạt động giao tiếp bằng cách làm xuất hiện ở học sinh nhu cầu giao tiếp, đa học sinh vào những hoàn cảnh nói năng và hớng dẫn cho học sinh biết định hớng trong hoàn cảnh nói năng cụ thể, từ đó hình thành nội dung thông báo, lựa chọn các phơng tiện ngôn ngữ thích hợp nhất, đạt hiệu quả thông báo cao nhất Học sinh sẽ hào hứng hơn trong học tập, ngữ cảm của học sinh nhạy bén hơn và điều này có ý nghĩa rất lớn đối với việc trau dồi ngôn ngữ, phát triển năng lực hoạt động nói năng của học sinh

1.2- cơ sở thực tiễn

1.2.1- Nội dung dạy học Tập làm văn theo chơng trình mới

*Phân môn Tập làm văn lớp 2, lớp 3 có nhiều u thế để thực hịên nhiệm vụ rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh.

- Về thời lợng: Cùng với các kỹ năng khác, học sinh đợc rèn luyện kỹ năng

Trang 34

nói ở hầu hết các tiết học ở lớp 2 là 27/31 tiết, trong đó có 4 tiết hoàn toàn tập trung cho việc rèn luyện kỹ năng nói ở lớp 3 là 24/31 tiết (tiết Tập làm văn của tuần:3, 4, 5, 6, 7, 11,12, 14,15,16,20,21,22,23,24,25,26,28,32,34, trong đó có 2 tiết Tập làm văn chỉ hoàn toàn tập trung cho việc rèn luyện kỷ năng nói đó là tiết Tập làm văn của tuần 5 và tuần 25- Tiết Tập làm văn của tuần 5 đợc dành trọn vẹn để học sinh thực hiện một nhiệm vụ rất mới là tập tổ chức cuộc họp, còn tiết Tập làm văn tuần 25 dành để học sinh quan sát tranh về lễ hội và kể lại quang cảnh, hoạt động của những ngời tham gia lễ hội.)

- Chơng trình Tập làm văn lớp 2, lớp 3 đợc cấu tạo theo hai mạch: dạy

làm văn nói và dạy làm văn viết Cách cấu tạo này rất hợp lý vì ngoài những

điểm chung (đều là sản phẩm của hoạt động sản sinh văn bản), văn nói có những đặc điểm riêng về đề tài, nội dung, về ngữ cảnh, chất liệu Mặt khác văn…nói thờng là hội thoại trực tiếp nên chịu sự chi phối rất lớn của các yếu tố phi ngôn ngữ phụ trợ nh ánh mắt, ngữ điệu, cử chỉ, điệu bộ ,của quy tắc hội thoại.…Vì vậy việc rèn luyện kỹ năng nói sẽ đợc thuận lợi hơn

- Đề tài, nội dung luyện nói trong các giờ Tập làm văn đều gần gũi, quen thuộc trong phạm vi hoạt động của lứa tuổi

ở lớp 2, đó là những nghi thức lời nói nh: tự giới thiệu, chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, mời, nhờ, gọi điện, chia vui, chia buồn, an ủi, ngạc nhiên, thán phục,…(học kỳ 1) và lời đáp tơng ứng (học kỳ 2) Các đề tài, nội dung luyện nói thờng xoay quanh môi trờng hoạt động trong gia đình, ở nhà trừơng, xã hội và gắn với quan hệ vai giao tiếp mà các em thờng đảm nhận

Sang lớp 3, mục tiêu của phân môn Tập làm văn là “tiếp tục hình thành và phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh” với các hoạt động giao tiếp chính khác nh viết th, làm đơn, khai giấy tờ, hội họp, giới thiệu hoạt động, làm báo cáo và tăng c… ờng rèn luyện kỹ năng nói thông qua hình thức nghe - kể (trung bình hai tuần một lần nghe và kể lại một truyện vui) và tăng cờng các hình thức sinh hoạt tập thể tự nhiên nh họp nhóm, họp tổ, giới thiệu tranh ảnh về các cảnh

Trang 35

đẹp đất nớc cho lớp hoặc là tổ nghe.

Nếu ở lớp 2 phân môn Tập làm văn chỉ chú trọng rèn luyện cho các em biết

sử dụng những nghi thức lời nói đơn giản nh chào hỏi, xin lỗi, cảm ơn, mời mọc thì đến lớp 3, kỹ năng nghe - nói có nội dung phức tạp hơn Tập làm văn…lớp 3 yêu cầu học sinh phải nghe - hiểu đợc ý chính của ngời đối thoại và đây

đợc coi là kỹ năng quan trọng nhất có ý nghĩa quyết định để các em có thể phản hồi lại các hoạt động nói năng trong những tình huống giao tiếp cụ thể Đó là biết dùng lời nói phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp trong sinh hoạt gia đình, trong sinh hoạt tập thể, biết giới thiệu các thành viên, các hoạt động của tổ, lớp; nghe

- hiểu và kể lại đợc nội dung các mẫu chuyện ngắn, biết nhận xét về các nhân vật trong câu chuyện

Một điểm mới trong nội dung dạy làm văn nói theo chơng trình Tập làm văn 2000 là đã chú ý luyện cho học sinh lớp 2 cả lời nói đơn thoại (tả ngắn: tả ngắn về bốn mùa(T20),tả ngắn về loài chim(T21),Tả ngắn về cây cối(T28), Tả ngắn về Bác Hồ(T31), kể ngắn về ngời thân(T34) và lời hội thoại (các nghi

thức lời nói: chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, mời , nhờ, yêu cầu, đề nghị,…) Việc đa

lời hội thoại đơn giản, thông dụng trong giao tiếp thông thờng vào luyện nói trong giờ làm văn là phù hợp và cần thiết vì học sinh lớp 2 cha quen nói trớc

đông ngời, vốn từ, khả năng ứng xử còn hạn chế Rèn luyện kỹ năng nói lời hội thoại ở mức đơn giản trong quan hệ hoà hợp có tác dụng giúp học sinh 7- 8 tuổi sớm có khả năng hòa nhập với xã hội rộng lớn Hơn nữa nó còn tạo tiền đề để sau này học sinh tập nói lời hội thoại phức tạp, lời độc thoại ở các mức độ, yêu cầu khác nhau

Sang lớp 3, các hoạt động giao tiếp không chỉ dừng lại ở dạng song thoại

mà còn khai thác cả hình thức đa thoại

Kể chuyện trong tiết Tập làm văn lớp 3 là một kiểu bài Tập làm văn chiếm

số lợng lớn trong chơng trình Cứ hai tuần các em lại có bài tập kể chuyện vui Nếu dừng lại nội dung của từng câu chuyện, chúng ta đã thấy có sự cách tân

Trang 36

đáng kể Bên cạnh yêu cầu của bài tập là luyện nghe - nói, nội dung hài hớc hóm hỉnh của truyện cũng là yếu tố tạo nên sự hấp dẫn của tiết học Học sinh sẽ thấy thú vị và mong chờ tiết học Yêu cầu của loại bài tập này cũng không giống nh tiết kể chuyện mà đơn giản hơn bởi nó không chú trọng nhiều đến yếu

tố nhập vai, thể hiện sự sáng tạo có tính nghệ thuật khi kể, mà hầu nh chỉ để rèn luyện kỹ năng nghe - nói; cụ thể là nghe hiểu và nói lại nội dung mà học sinh nghe và cảm nhận đợc qua lời kể mẫu của giáo viên

Một hình thức đơn thoại khác có thể gặp trong tiết học Tập làm văn khác:

Ví dụ: “Hãy nói về quê hơng em theo gợi ý sau”

Quê hơng em ở đâu?

Em yêu nhất cảnh vật gì ở quê hơng em?

Cảnh vật đó có gì đáng nhớ?

Tình cảm của em với quê hơng nh thế nào?

Có thể nói với các đề tài, nội dung luyện nói nh trên, sách giáo khoa đã tạo

đợc nhu cầu, hứng thú tập nói cho học sinh

- Về ngữ liệu để dạy làm văn nói trong sách giáo khoa không lặp lại ngữ

điệu trong các giờ tập đọc, kể chuyện trớc đó Có chăng đó chỉ là sự lặp lại về mẫu cấu trúc lời nói Chẳng hạn, câu hỏi trong tiết làm văn “Tự giới thiệu” có những phần lặp lại mẫu cấu trúc của bài tập đọc “Tự thuật” Đó là những điều khi làm tự thuật hay tự giới thiệu không thể thiếu (tên, quê quán, ) Sự thay…

đổi ngữ liệu hoàn toàn hoặc từng phần giúp giờ làm văn nói tránh đợc sự đơn

điệu, nhàm chán

- Về phơng pháp: Việc rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh lớp 2, lớp 3 trong

phân môn Tập làm văn đợc thực hiện theo phơng pháp giao tiếp Tinh thần này

đợc thể hiện qua hệ thống bài tập và biện pháp dạy học trên lớp

+ Hệ thống bài tập luyện nói trong giờ Tập làm văn ở lớp 2, lớp 3 rất phong phú, sinh động và chuẩn mực với nhiều hình thức khác nhau với những yêu cầu khác nhau Phần lớn bài tập luyện nói trong giờ làm văn là bài tập tình huống

Trang 37

Các bài tập này đã xậy dựng đợc những tình huống để học sinh có thể dễ dàng

đặt mình vào hoàn cảnh nói năng, xác định đối tợng, nội dung, mục đích giao tiếp, từ đó chọn từ, câu thích hợp, sản sinh ra những lời nói mà ngới ra bài tập mong muốn

Ví dụ: Bài tập 2 (tuần 38- Tiếng Việt 2- Tập 1) nêu ra các tình huống yêu cầu học sinh nói lời xin lỗi thích hợp trong các tình huống:

+Em lỡ bớc, giẫm vào chân bạn

+Em mãi chơi, quên làm việc mẹ đã dặn

+Em đùa nghịch, va phải một cụ già

Với bài tập này, học sinh sẽ xác định cảnh diễn ra từng sự việc, quan hệ vai giao tiếp (nói với ngời ngang vai (bạn), nói với ngời ở vai trên (mẹ, cụ già) Trên cơ sở đó học sinh sẽ lựa chọn mẫu cấu trúc phát ngôn thích hợp

Ví dụ: Ông em ( hoặc bà em) bị mệt Em hãy nói với ông (hoặc bà) 2, 3 câu

để tỏ rõ sự quan tâm của mình

(Tập làm văn lớp 2, tuần 11)

Hoặc: Một bạn nghịch, làm mực bắn vào áo em: “Xin lỗi bạn Mình lỡ tay thôi” Em đáp lại lời xin lỗi của bạn nh thế nào?

(Tập làm văn lớp 2, tuần 22)

Đây là nội dung mới mẻ của môn Tập làm văn nhằm rèn luyện cho học sinh

kĩ năng giao tiếp thể hiện thái độ lịch sự, tế nhị trong các mối quan hệ với gia

đình, nhà trờng, xã hội

+ Dựa vào định hớng của sách, giáo viên dễ dàng tổ chức, hớng dẫn học sinh hoạt động học tập; mỗi học sinh đợc bộc lộ mình trong việc tìm tòi, phát hiện chiếm lĩnh kiến thức, hình thành, phát triển kĩ năng và thái độ một cách tích cực, chủ động sáng tạo Hệ thống bài tập, câu hỏi trong sách đợc xây dựng

đa dạng, định hớng đợc nhiều hình thức hoạt động học tập: học cá nhân, học theo nhóm, học theo lớp, học trong lớp, học ngoài lớp, thực hành trò chơi, đóng vai…

Trang 38

Về biện pháp dạy học trên lớp: giáo viên giúp học sinh nắm đợc yêu cầu

của bài tập, nêu tình huống Học sinh dựa theo tình huống để xác định các nhân

tố giao tiếp nh ngời nói, ngời nghe, vai giao tiếp, hoàn cảnh, nội dung, mục đích giao tiếp, chọn ngôn từ và thực hành nói, giáo viên tổ chức cho học sinh trao đổi nhận xét, đánh giá kết quả thực hành luyện tập, hớng dẫn học sinh vận dụng kiến thức kĩ năng đã luyện tập vào thực tiễn giao tiếp lời nói Các hình thức hoạt

động luyện tập kĩ năng nói trong giờ học đợc sử dụng gồm hoạt động cá nhân, nhóm, d… ới hình thức sắm vai, trò chơi…

Nh vậy, với những u thế trên của chơng trình sách giáo khoa mới, rất thuận lợi cho việc khai thác rèn luyện để phát triển lời nói cho học sinh, đặc biệt là học sinh lớp 2, lớp 3

1.2.2- Tổ chức dạy học của giáo viên

Lý luận và thực tiễn đều thừa nhận rằng: Hoạt động thực tiễn của con ngời

là sự thể hiện, sự hiện thực hoá quan niệm, ý thức của con ngời Kết quả của hoạt động là sản phẩm, là sự kết tinh một cách vật chất, cụ thể, chính xác của quan niệm ý tởng đó Quan niệm về các biện pháp dạy học nhằm phát triển lời nói cho học sinh qua môn Tập làm văn và hoạt động thực tiễn của các giáo viên tiểu học theo quan niệm đó cũng nằm trong quy luật thực tiễn này Do đó việc nghiên cứu cơ sở thực tiễn của vấn đề sử dụng một số biện pháp dạy học môn Tập làm văn nhằm phát triển lời nói cho học sinh sẽ tập trung vào tìm hiểu cả quan niệm của giáo viên tiểu học về việc sử dụng các biện pháp dạy học này và hoạt động thực tiễn theo quan niệm đó của họ

*Đối tợng tìm hiểu

Trang 39

- Là các giáo viên tiểu học Trờng tiểu học Cẩm Quang- Cẩm Xuyên- Hà Tỉnh.

- Thành phần của các giáo viên này đợc tập hợp theo các nhóm thâm niên công tác nh bảng 1

Bảng 1: Thành phần các giáo viên tiểu học đợc tham khảo ý kiến

Thâm niên công tác Số lợngNhóm 1: 1-5 năm

Nhóm 2: 6-10 nămNhóm 3: Trên 10 năm

7139

*Nội dung tìm hiểu

- Sự nhận thức của giáo viên về việc sử dụng các biện pháp dạy học nhằm phát triển lời nói cho học sinh tiểu học qua phân môn Tập làm văn Mà cụ thể là:

- Về mặt nội dung: Chúng tôi chú ý làm sáng tỏ quan niệm có tính chất tổng quát của các giáo viên tiểu học trên địa bàn, tìm hiểu về những nội dung chủ yếu nh: vai trò của việc phát triển lời nói cho học sinh tiểu học qua phân môn Tập làm văn, về việc sử dụng các biện pháp dạy học để phát triển lời nói cho học sinh tiểu học Hớng chủ yếu để tổ chức dạy học theo các biện pháp đó.Theo tinh thần đó, chúng tôi trao đổi và thăm dò ý kiến của các giáo viên trên cơ sở các câu hỏi nhằm vào các nội dung chủ yếu nói trên

*Phân tích kết quả tìm hiểu

1.2.2.1- Thực trạng nhận thức của giáo viên trong dạy học Tập làm văn theo hớng phát triển lời nói

- Về mặt quan niệm: Các giáo viên tiểu học quan niệm một cách tơng đối thống

nhất về vai trò của việc phát triển lời nói cho học sinh tiểu học trong phân môn Tập làm văn: 69,4% cho là quan trọng và rất quan trọng, chỉ có 30,6% cho là

Trang 40

không quan trọng lắm Số liệu cho ta thấy rằng đa số giáo viên tiểu học đều coi trọng một cách cần thiết việc sử dụng các biện pháp phát triển lời nói cho học sinh qua dạy học phân môn Tập làm văn

-Trong quá trình dạy học Tập làm văn, để phát triển lời nói cho học sinh, giáo viên cha chú trọng đến việc tổ chức thực hành giao tiếp cho học sinh, chỉ

có 23% giáo viên chú ý đến vấn đề này Để phát triển năng lực giao tiếp bằng lời nói cho học sinh, có 20% giáo viên chú ý đến việc tạo cho học sinh nhu cầu

và môi trờng giao tiếp, 22% chú trọng đến việc sử dụng các biện pháp dạy học mới, 35,4% chú trọng đến việc xây dựng bài tập để rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ cho học sinh

Để tổ chức thực hành giao tiếp cho học sinh giáo viên chủ yếu sử dụng một

số phơng pháp nh trò chơi, thảo luận nhóm, sử dụng phơng pháp tình huống có vấn đề…

1.2.2.2- Thực trạng tổ chức dạy học của giáo viên trong dạy học Tập làm văn

Từ thực tế dự giờ, tìm hiểu thực tiễn dạy học Tập làm văn ở lớp 2, lớp 3, chúng ta thấy hoạt động dạy – học Tập làm văn nói diễn ra tơng đối sinh động, sôi nổi nhất là khi ngời dạy có tinh thần phát huy tính tích cực của học sinh Với chơng trình nội dung sách giáo khoa có nhiều u điểm đã tạo điều kiện cho giáo viên trong việc đổi mới phơng pháp dạy học Dựa vào định hớng của sách, giáo viên dễ dàng tổ chức, hớng dẫn học sinh hoạt động, học tập, mỗi học sinh

đợc tự bộc lộ mình trong việc tìm tòi, phát hiện, chiếm lĩnh kiến thức, hình thành phát triển kĩ năng và thái độ một cách tích cực, chủ động, sáng tạo Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có một số vấn đề còn tồn tại:

- Ta biết rằng việc phát triển lời nói cho từng cá nhân đòi hỏi giáo viên phải tạo ra cho học sinh nhu cầu và môi trờng giao tiếp Thế nhng trong thực tế yêu cầu này cha đợc chú ý một cách đúng mức Vì thế học sinh không có nhu cầu đ-

ợc giao tiếp và cũng không có điều kiện để phát triển lời nói của mình trong giờ

Ngày đăng: 17/12/2013, 22:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Hoàng Hoà Bình, Phan phơng Dung. Rèn kỹ năng nói, viết cho học sinh tiểu học qua việc học phân môn Tập làm văn, Tạp chí . Khoa học Giáo dục số 77/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn kỹ năng nói, viết cho học sinh tiểu học qua việc học phân môn Tập làm văn
5. Hoàng Hoà Bình. Các quan điểm cơ bản chi phối nội dung.và phơng pháp dạy tập làm văn trong sách giáo khoa tiếng việt, chơng trình tiểu học- 2000, Tạp chí giáo dục số 13/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quan điểm cơ bản chi phối nội dung.và phơng pháp dạy tập làm văn trong sách giáo khoa tiếng việt, chơng trình tiểu học- 2000
6. Lê Thị Thanh Bình, Chu Thị Hà Thanh. Quan điểm giao tiếp . trong dạy học tiếng việt ở tiểu học, Tạp chí Giáo dục số 41/ 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm giao tiếp. trong dạy học tiếng việt ở tiểu học
7. Đỗ Hữu Châu. Đại cơng ngôn ngữ học, Tập 2- Ngữ dụng học, Nxb GD, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cơng ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb GD
8. Phan Phơng Dung. Rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh lớp2 qua phân môn làm văn Sách giáo khoa tiếng việt 2000 – , Tạp chí Giáo dục, số 12/ 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh lớp2 qua phân môn làm văn Sách giáo khoa tiếng việt 2000
9. Nguyễn Xuân Khoa. Phát triển năng lực hoạt động lời nói trong dạy Tiếng Việt ở nhà trờng, Ngôn ngữ số 3 +4/ 1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển năng lực hoạt động lời nói trong dạy Tiếng Việt ở nhà trờng
10. Trần Thị Hiền Lơng. Đổi mới nội dung dạy học Tập làm văn trong sách Tiếng việt 2, Tạp chí Giáo dục số 59/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nội dung dạy học Tập làm văn trong sách Tiếng việt 2
11. Ngô Thị Minh. Những điểm mới của phân môn Tập làm văn lớp 3 Ch – -ơng trình tiểu học mới, Tạp chí Giáo dục số 85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm mới của phân môn Tập làm văn lớp 3 Ch"– -"ơng trình tiểu học mới
12. Ngô Thị Minh. Thực hành giao tiếp - Đặc điểm nổi bật của chơng trình Tiếng việt 2, Tạp chí Giáo dục số 73/ 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành giao tiếp - Đặc điểm nổi bật của chơng trình Tiếng việt 2
13. Nguyễn Quang Minh. Tiếng Việt 2 Nhìn từ góc độ giao tiếp – , Tạp chí giáo dục số 59/ 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 2 Nhìn từ góc độ giao tiếp
14. Lê phơng Nga, Nguyễn Trí. Phơng pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, Tập II, Nxb Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phơng pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Nhà XB: Nxb Hà Nội
15. Lê Phơng Nga. Bồi dỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh Tiểu học, Tạp chí Giáo dục,Số 3/ 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh Tiểu học
16. Hoàng Phê (chủ biên). Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
17. Nguyễn Minh Thuyết( Chủ biên). Tiếng Việt 2 (tập 1,2), Nxb GD, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 2 (tập 1,2
Nhà XB: Nxb GD
18. Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên).Tiếng Việt 2, Sách giáo viên, (Tập 1,2), Nxb GD, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 2, Sách giáo viên, (Tập 1,2)
Nhà XB: Nxb GD
19. Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên). TiếngViệt 3 (Tập 1,2), NxbGD, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: TiếngViệt 3 (Tập 1,2)
Nhà XB: NxbGD
20. Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên). Tiếng Việt Sách giáo viên (Tập 1,2)- – Nxb GD, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt Sách giáo viên (Tập 1,2)-
Nhà XB: Nxb GD
21. Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên). Hỏi đáp về dạy học Tiếng Việt 3- Nxb GD, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về dạy học Tiếng Việt 3-
Nhà XB: Nxb GD
22. Nguyễn Trí. Dạy tập làm văn ở trờng tiểu học. Nxb GD, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy tập làm văn ở trờng tiểu học
Nhà XB: Nxb GD
23. Nguyễn Trí. Dạy ngôn bản dạng nói và dạng viết trong giao tiếp và để giao tiếp, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số 12/1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy ngôn bản dạng nói và dạng viết trong giao tiếp và để giao tiếp

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Thành phần các giáo viên tiểu học đợc tham khảo ý kiến - Một số biện pháp phát triển lời nói cho học sinh qua dạy học tập làm văn lớp 2, lớp 3
Bảng 1 Thành phần các giáo viên tiểu học đợc tham khảo ý kiến (Trang 39)
Bảng 2: Kết quả xếp loại lĩnh hội tri thức của học sinh: - Một số biện pháp phát triển lời nói cho học sinh qua dạy học tập làm văn lớp 2, lớp 3
Bảng 2 Kết quả xếp loại lĩnh hội tri thức của học sinh: (Trang 85)
Bảng 3: Kĩ năng sử dụng ngôn ngữ của học sinh - Một số biện pháp phát triển lời nói cho học sinh qua dạy học tập làm văn lớp 2, lớp 3
Bảng 3 Kĩ năng sử dụng ngôn ngữ của học sinh (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w