1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp phát triển kĩ năng tự học cho học sinh lớp 4, 5 luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

92 1,8K 18
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Biện Pháp Phát Triển Kĩ Năng Tự Học Cho Học Sinh Lớp 4, 5
Tác giả Hoàng Hồng Phương
Người hướng dẫn PGS.TS Thái Văn Thành
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Giáo Dục Học (Tiểu Học)
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 724 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp giáo dục tiểu học phải phát huy được tính tự giác, tích cực,chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, hoạt động giáodục, đặc điểm đối tương học sinh và

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

HOÀNG HỒNG PHƯƠNG

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG TỰ HỌC

CHO HỌC SINH LỚP 4, 5

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH : GIÁO DỤC HỌC (TIỂU HỌC)

MÃ SỐ : 60.14.01

CÁN BỘ HƯỚNG ĐẪN KHOA HỌC : PGS.TS THÁI VĂN THÀNH

NGHỆ AN, 2012

Trang 3

Tôi xin chân thành bày tỏ sự tri ân sâu sắc tới PGS.TS.Thái Văn Thành,

người luôn tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ và tạo niềm tin, hứng thú trong công việc vốnđầy khó khăn và thách thức này

Tôi xin trân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

 Các giảng viên khoa Giáo dục Tiểu học, khoa Sau đại học Trường Đại họcVinh,

 Ban Giám Hiệu các trường Tiểu học của quận 4, TP.HCM,

 Các đồng nghiệp và bạn bè, đặc biệt là gia đình,

Đã dành những góp ý chân thành và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trongquá trình thực hiện đề tài

Dù đã rất cố gắng nhưng do nhiều hạn chế nên luận văn sẽ không tránh khỏinhững sai sót nhất định, kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy côgiáo và đồng nghiệp

Tp.Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2012 Tác giả

Hoàng Hồng Phương

Trang 5

Bảng 2.1: Thực trạng nhận thức của 271 giáo viên về mức độ sử dụng phương pháp

dạy – tự học 31

Bảng 2.2: Thực trạng sử dụng các biện pháp phát triển kĩ năng tự học cho học sinh lớp 4, 5 33

Bảng 2.3: Thực trạng nhận thức của học sinh lớp 4, 5 về tự học 35

Bảng 2.4: Thực trạng nhận thức về vai trò tự học của học sinh lớp 4, 5 37

Bảng 2.5: Thực trạng phát triển kĩ năng tự học ở 297 học sinh lớp 4, 5 38

Bảng 2.6: Thực trạng vai trò của gia đình trong quá trình phát triển kĩ năng tự học cho học sinh lớp 4, 5 40

Bảng 2.7: Thực trạng của hoạt động Đội trong quá trình phát triển kĩ năng tự học cho học sinh lớp 4, 5 43

Bảng 2.8: Lập kế hoạch tự học 45

Bảng 2.9: Cách thức thực hiện hình thức phát triển kĩ năng tự học của học sinh lớp 4, 5 45

Bảng 2.10: Thời gian tự học 47

Bảng 2.11: Thực trạng phát triển kĩ năng tự học của học sinh lớp 4, 5 48

Bảng 3.1: Thăm dò mức độ cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất

Trang 6

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Mục lục

Các từ viết tắt trong luận văn

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 5

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

1.2 Các khái niệm cơ bản 11

1.3 Một số vấn đề về phát triển kĩ năng tự học cho học sinh tiểu học 18

1.4 Ý nghĩa của việc đề xuất một số biện pháp phát triển kĩ năng tự học cho học sinh lớp 4,5 26

Kết luận chương 1 28

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 29

2.1 Vài nét về địa bàn khảo sát : Một số trường ở quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh 29

2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng 31

2.3 Đánh giá thực trạng 50

Kết luận chương 2 53

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 55

3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 55

3.2 Một số biện pháp phát triển kĩ năng tự học cho học sinh lớp 4, 5 56

Trang 7

tự học của học sinh lớp 4, 5 67

Kết luận chương 3 69

KẾT LUẬN 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

PHỤ LỤC 78

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nghị quyết hội nghị BCHTW Đảng CSVN khóa VIII lần 2 chỉ ra mục tiêugiáo dục trong giai đoạn mới: “Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựngnhững con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lí tưởng độc lập dân tộc làmchủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thựchành giỏi, có tác phong công nghiệp ”

Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho

sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩnăng cơ bản để học sinh tiếp tục lên trung học cơ sở Bên cạnh đó đảm bảo chohọc sinh có những hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người;

có kĩ năng cơ bản về nghe, nói, đọc, viết và tính toán; có thói quen rèn luyệnthân thể và giữ vệ sinh; có những hiểu biết ban đầu về múa, hát, âm nhạc và mĩthuật Phương pháp giáo dục tiểu học phải phát huy được tính tự giác, tích cực,chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, hoạt động giáodục, đặc điểm đối tương học sinh và điều kiện từng lớp học; bồi dưỡng cho họcsinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kĩ năng, vận dụng kiếnthức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, ứng thú học tập chohọc sinh Trên ghế nhà trường, học trò có học thật, làm thật mới sống thật nênngười, có tích cực tự học, tự làm dưới sự hướng dẫn của thầy, mới tự trang bịcho mình kỹ năng học, kỹ năng làm, kỹ năng sáng tạo và kỹ năng sống – những

kỹ năng tối cần thiết cho con người tiếp tục học hành sáng tạo suốt đời Thực tếnhu cầu tự học luôn gắn kết với nhu cầu làm, nhu cầu sống của con người ở mọilứa tuổi, mọi trình độ, mọi ngành nghề, mọi vị trí xã hội, mọi thời đại Phát huyvai trò “Mỗi thầy giáo, cô giáo hãy là một tấm gương về đạo đức, tự học và sángtạo như lời kêu gọi của đồng chí Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân, nhân ngày nhà

Trang 10

giáo 20 – 11 - 2010, từ bỏ lối “dạy áp đặt, truyền thụ một chiều”, “thầy giảng –trò ghi nhớ”, phát huy trí sáng tạo, khả năng vận dụng, thực hành, kỹ năng sống,

tự tìm, tự tạo việc làm và năng lực tự học của người học là mục tiêu – phươngpháp

Thực tế cho thấy, hiện nay học sinh các cấp nói chung và học sinh tiểu họcnói riêng các em chỉ nắm vững và giỏi về lý thuyết nhưng kĩ năng tự giải quyếtvấn đề chưa có, nhất là kĩ năng tự học Đặc biệt là những học sinh lớp 4,5 ở cấptiểu học chưa có kĩ năng tự học, các em phải nhờ đến sự hỗ trợ giúp đỡ củangười lớn rất nhiều Khi giao cho các em tự suy nghĩ và giải quyết vấn đề thì các

em lúng túng, thậm chí không thể giải quyết được cho dù có những vấn đề rấtgần gũi với các em Đó là hậu quả do các em không tự học, không nghiên cứu vàtìm hiểu kiến thức cho riêng mình

Vì các lí do trên chúng tôi xác định đề tài nghiên cứu là: “Một số biện pháp

phát triển kĩ năng tự học cho học sinh lớp 4, 5”

Vấn đề phát triển kĩ năng tự học cho học sinh lớp 4, 5 ở các trường tiểu học

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Một số biện pháp phát triển kĩ năng tự học cho học sinh lớp 4, 5

4 Giả thuyết khoa học

Nếu đưa ra được một số biện pháp có cơ sở khoa học và có tính khả thi phùhợp với tâm lí đặc điểm học tập của học sinh lớp 4, 5 thì có thể phát triển kĩnăng tự học cho học sinh

Trang 11

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có nhiệm vụ góp phần làm rõnhững vấn đề sau:

5.1 Tìm hiểu cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.

5.2 Khảo sát thực trạng hoạt động tự học và thực trạng phát triển kĩ năng tự

học của học sinh lớp 4,5 hiện nay.

5.3 Xác định và đề xuất các biện pháp tự học cho học sinh lớp 4, 5.

6 Phạm vi nghiên cứu

6.1 Không gian và địa điểm nghiên cứu

Đề tài được thực hiện có phạm vi nghiên cứu ở các trường tiểu học quận 4,Thành phố Hồ Chí Minh

6.2 Về nội dung nghiên cứu

Tập trung đưa ra một số biện pháp phát triển kĩ năng tự học cho học sinh lớp

4, 5

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, cụ thể hóa các tàiliệu lý luận có liên quan đến đề tài từ nghiên cứu

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Sử dụng phương pháp điều tra, tổng kết kinh nghiệm, nghiên cứu sản phẩmhoạt động nhằm tìm hiểu thực trạng về vấn đề tự học cho học sinh lớp 4, 5

Sử dụng phương pháp lấy ý kiến chuyên gia để khảo nghiệm tính khả thi củabiện pháp

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng toán thống kê để xử lí số liệu thu được về phương diện định lượng

và mặt định tính

Trang 12

8 Đóng góp luận văn

8.1 Về mặt lí luận

Luận văn đã hệ thống hóa các vấn đề về biện pháp phát triển kĩ năng tự họccho học sinh lớp 4, 5; làm rõ những đặc trưng của việc phát triển kĩ năng tự họccho học sinh lớp 4, 5

8.2 Về mặt thực tiễn

Luận văn đã khảo sát toàn diện thực trạng việc phát triển kĩ năng tự học chohọc sinh lớp 4, 5; từ đó đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học và có tính khảthi nhằm phát triển kĩ năng tự học cho học sinh lớp 4, 5

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục luậnvăn gồm 3 chương :

Chương 1 Cơ sở lí luận của biện pháp phát triển kĩ năng tự học cho học sinh

lớp 4, 5

Chương 2 Thực trạng phát triển kĩ năng tự học cho học sinh lớp 4, 5.

Chương 3 Một số biện pháp phát triển kĩ năng tự học cho học sinh lớp 4, 5.

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG TỰ HỌC

CHO HỌC SINH LỚP 4, 5

Trang 13

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong lịch sử GD, vấn đề tự học cũng như PT KN tự học đã được các nhàkhoa học GD quan tâm rất sớm; được đề cập và nhìn nhận theo nhiều cách tiếpcận khác nhau: như phát huy tính tích cực, tính tự giác, tính độc lập, tính sángtạo của người học; dạy PP cho người học để đạt được hiệu quả học tập cao nhất

Ý tưởng DH là coi trọng người học, chú ý đến tự học đã có từ thời cổ đại và tùytheo giai đoạn lịch sử, mức độ phát triển của xã hội mà ý tưởng này đã phát triển, trở thành quan điểm DH tiến bộ hiện nay

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài :

Qua tìm hiểu các tư tưởng trên thế giới nghiên cứu về tự học , chúng tôi cómột số nhận xét như sau: tự học không phải là một mảnh đất chưa được ai càyxới mà nó chính là vấn đề được các nhà GD trên thế giới quan tâm từ lâu dướigóc độ khác nhau: phát huy tính tích cực, tính sáng tạo, tính độc lập, tính tự giáccủa người học như các nhà khoa học GD Khổng Tử, Đixtecvec, Usinxki,Cômenxki

Ở phương Tây: Ngay từ những năm trước công nguyên, Xôcôrat (469 – 339TCN) đã đưa ra một quan niệm rất nổi tiếng: Giáo dục phải giúp con người tựkhẳng định chính mình Vận dụng quan điểm đó vào dạy học, ông cho rằng cầnphải để người học tự suy nghĩ, tự tìm tòi, cần giúp người học tự phát hiện thấycái sai lầm của mình và tự khắc phục những sai lầm đó [27]

Đến thế kỉ 19 Conxtantin Đmitrêvic Usinxki (1824 – 1870) [40] đã nghiêncứu về tính tích cực, tính độc lập của HS, ông đánh giá rất cao vai trò của tínhtích cực, tính độc lập Theo ông, tính tích cực, tính độc lập là cơ sở duy nhất đểcho sự học có hiệu quả Ông cho rằng cần giáo dục cho HS biết định hướngtrong môi trường xung quanh, biết hành động một cách sáng tạo, biết tự mìnhnâng cao vốn học vấn và tự phát triển của bản thân Trong dạy học không nên

Trang 14

dồn tất cả tính tích cực vào công tác dạy của người GV, còn HS thì lại thụ động

mà cần phải làm sao cho HS tích cực ở mức cao nhất

Môngtenhơ (1533 – 1592) được coi là một trong những ông tổ sư phạm ởChâu Âu cho rằng : Muốn DH hiệu quả, không nên bắt buộc trẻ em phải làmtheo ý muốn chủ quan của người thầy

J J Rousseau (1712 – 1778) yêu cầu người dạy cần phải hiểu người học vàquan tâm đến lợi ích của người học Ông nói : “Đừng cho trẻ em khoa học màphải để trẻ tự phát minh”

J A Comenxki (1592 – 1670) đã rất chú ý tới nguyên tắc về tính tự giác vàkêu gọi người thầy phải làm sao cho HS hứng thú trong học tập, từ đó, HS có sự

nỗ lực bản thân để tự nắm vững tri thức Ông cho rằng: “ chỉ hiểu biết các sựkiện không thôi thì không đầy đủ mà phải đi liền với sự phát triển tư duy….Họphải biết diễn tả KT của mình thành ngôn ngữ đúng đắn, vận dụng chúng thànhthạo trong đời sống” [24] Ngoài ra, ông là người phản đối kịch liệt lối dạy nhồi

sọ, chỉ dựa vào sách vở mà không tính đến đặc điểm phát triển trí tuệ và nhâncách cho HS Ông coi phát huy tính tích cực của trẻ như một bộ phận quan trọngcủa PP DH theo tự nhiên mà ông đã đề xướng

N A Rubakin đã nhấn mạnh: Giáo dục động cơ học tập đúng đắn là điềukiện cơ bản để học sinh tích cực, chủ động trong học tập [26]

Trong những năm gần đây, các nước phương Tây nở rộ phong trào GD tíchcực dựa trên cơ sở lấy người học làm trung tâm để phát huy năng lực của ngườihọc J Deway (1859 – 1925) nhà sư phạm nổi tiếng của Mỹ quan niệm: “ HS làmặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện GD” [22], và trong dạy học ông

đã đề cao hoạt động của học sinh, đặc biệt là hoạt động thực tiễn

Phong trào với khẩu hiệu “Nhà trường mới” ở đầu thế kỉ XX đề cao cáchoạt động tích cực của HS, khuyến khích HS tự sắp xếp thời gian học theo khả

Trang 15

năng; tự ý thức học cho mình, tự chịu trách nhiệm về việc học tập Trong giaiđoạn này, DH đã có sự tiến hành phân hóa, coi trọng cá thể hóa, chủ trương đểcho trẻ hoàn toàn tự do phát triển những năng khiếu riêng biệt của mình Chính

tư tưởng này đã được các nhà Tâm lý học, Giáo dục học đề cập đến, tiêu biểunhư: C Freinel, B F Skinner, O Decroly… Những năm cuối thế kỷ XX, đầuthế kỷ XXI, GD toàn cầu lại càng thêm nhấn mạnh đến GD lấy HS làm trungtâm, coi trọng tự học Quan niệm mới về “học tập suốt đời: một động lực xã hội”

sẽ giúp con người đáp ứng những yêu cầu của thế giới đang thay đổi nhanhchóng Điều này thể hiện rõ nét : Học phải chú trọng đến học cách học Họccách học chính là học cách tự học

Ở phương Đông : Có nhiều nhà GD lớn, như Khổng Tử (551 –

479 TCN), Mạnh Tử (372 – 289 TCN), Makiguchi… đều đánh giá cao vai tròcủa tự GD, tự bồi dưỡng Phương châm chính trong DH của Khổng Tử là gợi

mở, nghĩa là ông DH theo đối tượng và kích thích suy nghĩ của học trò: “Khôngtức giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ được thìkhông bày vẽ cho Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góckia thì không dạy nữa” (Luận ngữ)

Makiguchi nhà sư phạm nổi tiếng của Nhật những thập niên 30 thế kỉ

XX trong tác phẩm “ Giáo dục vì cuộc sống sang tạo”, cho rằng: GD như là quátrình hướng dẫn tự học mà động lực của nó là kích thích người học sáng tạo ragiá trị để đạt tới hạnh phúc cho bản thân và cộng đồng [27]

Năm 1986, hai nhà giáo dục của Ấn Độ là Shakti Ahmed và S P.Sharman, trong tác phẩm “Phương pháp dạy học đại học” đã trình bày hoạt động

tự học được xem là một hình thức dạy – học có hiệu quả cao Thông qua thựchiện các nhiệm vụ nhận thức để hoàn thành mục đích, nhiệm vụ được xác định

Trang 16

Đó là quá trình điều khiển hoạt động tự học của sinh viên một cách giántiếp[27].

Một số học giả Ấn Độ cho rằng “Quá trình học tập là quá trình người dạyđiều khiển hoạt động tự học của người học một cách gián tiếp Tự học là mộthình thức học có hiệu quả nhất trong quá trình dạy học

Vấn đề tự học từ lâu được nhiều nhà giáo dục đi sâu nghiên cứu và khẳngđịnh vai trò to lớn của hoạt động tự học Trong các công trình kể trên các tác giả

đã có cái nhìn toàn diện và sâu sắc về tự học Tuy nhiên, xuất phát từ đòi hỏiquy trình giáo dục đào tạo học sinh, sinh viên phải được tổ chức sao cho ngườihọc tìm được cách học thích hợp nhất, xem người học là trung tâm của quá trìnhđào tạo, giúp người học phát triển kĩ năng và năng lực tự học, tự sáng tạo suốtđời

Trong khuyến cáo về giáo dục thế kỷ XXI, UNESCO đã nêu bốn trụ cộtcủa GD: Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để làm người

Để thực hiện được bốn trụ cột đó, thiết nghĩ GD phải lấy tự học làm trọng

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước :

Ở nước ta, vấn đề tự học cũng đã có từ rất lâu Từ thời phong kiến, các thầy

đồ đã rất chú ý đến trình độ, đặc điểm tính cách của từng đối tượng và có biệnpháp DH thích hợp Ở đây, người tự học thông qua hình thức có thầy hướng dẫntrực tiếp hoặc gián tiếp Từ những năm sau 1945, Đảng và Nhà nước ta rất coitrọng phát triển GD thường xuyên, các lớp Bổ túc văn hóa, đại học tại chức, vừahọc vừa làm…mở ra và dựa vào hình thức tự học là chính

Điều 40 của Luật GD nước CHXHCN Việt Nam (công bố ngày 27/06/2005)ghi rõ: “…phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực

tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện KN thực hành, tạođiều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng”

Trang 17

Mục III.7 của “Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2008 – 2010” đãchỉ ra: “…khuyến khích và tạo điều kiện cho người học tích cực, chủ động tựhọc…”

Mục 5.2 của “Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2001 – 2010” đãghi rõ: “…chuyển từ việc truyền đạt tri thức thụ động, thầy giảng trò ghi sanghướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy chongười học PP tự học, tự thu nhận thông tin một cách hệ thống và tư duy phântích, tổng hợp; phát triển được năng lực của mỗi cá nhân; tăng cường tính chủđộng, tính tự chủ của HS, sinh viên trong quá trình học tập…”

Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là một tấm gương sáng ngời về ý chí quyếttâm tự học và tự rèn luyện Người động viên: “Phải tự nguyện, tự giác xem côngviệc tự học là nhiệm vụ của người cách mạng, phải cố gắng hoàn thành chođược, do đó phải tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập” Người còn chỉra: “ Về cách học phải lấy tự học làm cốt”[28, 35]

Tư tưởng giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh được Đảng, Nhà nước ta vậndụng thành công vào đường lối giáo dục của Việt Nam Nghị quyết Hội nghị lầnthứ hai Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII nhấn mạnh: “Đổi mớiphương pháp dạy học, nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu của ngườihọc”[31, 16] Quan điểm này tiếp tục được khẳng định ở các văn kiện đại hộiĐảng lần thứ IX, lần thứ X về cách dạy, cách học hiện nay

Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quán triệt đường lốicủa Đảng về GD, trong những thập niên đã có nhiều nhà nghiên cứu làm rõ vaitrò của tự học cũng như những tác động tích cực của tự học đến quá trình họctập Các tác giả như Nguyễn Cảnh Toàn [29], Nguyễn Kỳ [21], Nguyễn Lân[29], ….đã có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động tự học của người học

Đó là cách thức giúp người học phát huy tính độc lập, chủ động, sáng tạo để

Trang 18

chiếm lĩnh tri thức khoa học Khi nghiên cứu đổi mới hoạt động dạy học lấyngười học làm trung tâm đã coi tự học như một chìa khóa của giáo dục ViệtNam trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay Các tác giả đã cho rằng: tự học

là trả lại vị trí của người học, là phát huy nội lực của người học dưới sự điềukhiển, định hướng của giáo viên

Tiếp theo , Nguyễn Cảnh Toàn là một tấm gương sáng về tự học ở nước ta.Theo ông: Tự học là chuyện rất cũ mà cũng rất mới; học bao giờ cũng gắn với tựhọc, tự rèn luyện để biến đổi nhân cách của mình; người dạy giỏi là người dạycho HS biết cách tự học, tự nghiên cứu, tự GD, là biến quá trình DH thành quátrình tự học Ông chỉ ra: “Có người lại cho là trẻ em không thể tự học được…”.[30]

Nguyễn Minh Hiển, Nguyên Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã từng nói: “…việcnghiên cứu và phổ biến của PP tự học sẽ góp phần vào chuẩn bị hành trang chongành GD bước vào thế kỷ mới đầy triển vọng”

Nguyễn Cảnh Toàn, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường, Nguyễn Kỳ trong “Quátrình dạy tự học” đã thống nhất: quá trình tự học, tự nghiên cứu, cá nhân hóaviệc học phải kết hợp với quá trình dạy của nhà giáo và quá trình hợp tác vớibạn trong cộng đồng lớp học, tức là quá trình xã hội hóa việc học

Các tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt cũng đã nêu ra những biện phápnhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tự học là:

- Hình thành ý thức tự học

- Bồi dưỡng phương pháp tự học

- Đảm bảo các điều kiện vật chất tự học

- Duy trì và phát triển tự học

- Kiểm tra thường xuyên

Trang 19

Tác giả Nguyễn Văn Tư, Lê Khánh Bằng [3] trong nghiên cứu của sựchuyển biến từ lối học thụ động sang học chủ động của học sinh đã chỉ ra rằng:nhà trường, GV phải bồi dưỡng cho HS những năng lực học tập chủ động bằngcách rèn luyện cho họ bốn lĩ năng học tập cơ bản:

- Kĩ năng định hướng

- Kĩ năng thiết kế

- Kĩ năng thực hiện kế hoạch đã vạch ra

- Kĩ năng tự kiểm tra đánh giá quá trình tự học của bản thân

Thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài báo liên quan đến tự học

như “Nghiên cứu tự học của sinh viên sư phạm”(Đề tài cấp Bộ, B92- 24- 28, nghiệm thu 1994 của Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức); “Một số biện pháp nhằm

nâng cao chất lượng tự học của sinh viên khoa tiểu học trường Cao đẳng Hà Tây” (Nguyễn Thu Nga); “Phát huy tính tích cực học Toán cho học sinh lớp 4, 5 thông qua việc tổ chức sinh hoạt câu lạc bộ Toán Tuổi thơ” (Luận văn Thạc sĩ

Giáo dục học của Đoàn Văn Minh).Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay,những công trình nghiên cứu về việc phát triển KN tự học của HS TH chưa cónhiều Đặc biệt, những nghiên cứu về các biện pháp phát triển KN tự học cho

HS lớp 4, 5 vẫn còn thiếu vắng Chính vì vậy, việc nghiên cứu một số biện phápphát triển KN tự học cho HS lớp 4, 5 trên cơ sở quan tâm đến hoạt động dạy của

GV cùng với hoạt động học và các hoạt động khác của HS lớp 4, 5 là thiết thực,nhằm giúp các em có nền tảng và phát huy tính tự học khi lên các cấp học khác

1.2 Các khái niệm cơ bản

1.2.1 Kĩ năng

Kĩ năng là một vấn đề phức tạp và có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đềnày

Trang 20

Theo A U Pêtrôpxki: Kĩ năng là vận dụng tri thức đã có thể lựa chọn vàthực hiện những phương phức hành động tương ứng với mục đích đặt ra.

L Đ Lêvitôv nhà tâm lí học Liên Xô cho rằng: Kĩ năng là sự thực hiện cókết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựachọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhấtđịnh Theo ông, người có kĩ năng hành động là người phải nắm được và vậndụng đúng các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả Ôngcòn nói thêm, con người có kĩ năng không chỉ nắm lí thuyết về hành động màphải vận dụng vào thực tế

Theo quan điểm của K K Platônôp: Kĩ năng là khả năng của con ngườithực hiện một hoạt động bất kì nào đó hay các hành động trên cơ sở của kinhnghiệm cũ

Theo quan điểm của P A Ruđic: Kĩ năng là động tác mà cơ sở của nó là

sự vận dụng thực tế các kiến thức đã tiếp thu được để đạt kết quả trong một hìnhthức vận động cụ thể

Còn tác giả Vũ Dũng thì: Kĩ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức

về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm

vụ tương ứng [Từ điển Tâm lý học]

Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: Kĩ năng là năng lực của con người biết vậnhành các thao tác của một hành động theo đúng quy trình

Theo Thái Duy Tuyên thì kĩ năng là sự ứng dụng kiến thức trong hoạtđộng Mỗi kĩ năng bao gồm một hệ thống thao tác trí tuệ và thực hành, thực hiệntrọn vẹn hệ thống thao tác này sẽ đảm bảo đạt được mục đích đặt ra cho hoạtđộng Điều đáng chú ý là sự thực hiện một kĩ năng luôn luôn được kiểm tra bằng

ý thức, nghĩa là khi thực hiện bất kỳ một kĩ năng nào đều nằm vào một mục đíchnhất định

Trang 21

Theo tác giả Phan Quốc Lâm, kĩ năng là khả năng vận dụng kiến thức(phương thức hành động chung – khái niệm, hiểu biết) để giải quyết một nhiệm

vụ, tình huống mới có bản chất với tình huống điển hình nhưng bị che lấp bởinhững yếu tố không bản chất, không quan trọng Nói cách khác, kĩ năng là conđường, cách thức để tri thức lý thuyết trở lại thực tiển Kĩ năng bao giờ cũngphải dựa trên một cơ sở hiểu biết (mục đích, cách thức, và những điều kiện đểgiải quyết nhiệm vụ…), đó là kiến thức của chủ thể [22, 67]

Do đó, kĩ năng được hiểu biết là khả năng xây dựng một quy trình thaotác hành động mới trên cơ sở một quy trình chung, khái quát đã nắm vững

Từ điển Giáo dục học, kĩ năng là “khả năng thực hiện đúng hành động,hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động

ấy cho dù đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ”

Từ điển Tâm lý học, kĩ năng là “năng lực vận dụng có kết quả những trithức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện nhữngnhiệm vụ tương ứng KN được hình thành qua luyện tập”

-Từ khái niệm trên cho thấy rằng:

+ Tri thức là cơ sở, là nền tảng để hình thành kĩ năng Tri thức ở đây baogồm tri thức về cách thức hành động và tri thức về đối tượng hành động

+ Kĩ năng là sự chuyển hóa tri thức thành năng lực hành động của cánhân

+ Kĩ năng luôn gắn với một hành động hoặc một hoạt động nhất địnhnhằm đạt được mục đích đã đặt ra

Từ sự phân tích trên ta có thể hiểu kĩ năng một cách chung nhất: Kĩ năng

là năng lực thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựachọn và vận dụng những tri thức, cách thức hành động đúng đắn để đạt đượcmục đích đề ra

Trang 22

là vô cùng quan trọng GV giữ vai trò là người hướng dẫn, kích thích sự năngđộng của HS và khơi gợi, bồi dưỡng tính tích cực, tự giác, tư duy độc lập sẽ tạo

cơ sở vững chắc cho mọi sự học tập

*Tự học :

Có rất nhiều khái niệm về tự học, như: theo Từ điển Giáo dục học “Tự học

là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện KN thựchành không có sự HD trực tiếp của GV và sự quản lí trực tếp của cơ sở GD” [1;458] Tự học có thể bằng cách tự đọc tài liệu, sách giáo khoa, nghe đài, xemtruyền hình, tham quan bảo tàng, triển lãm…

Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm

Có thầy hay không ta không cần biết Người tự học hoàn toàn làm chủ mình,muốn học môn nào tùy ý, muốn học lúc nào cũng được; đó mới là điều kiệnquan trọng

Tổng hợp những quan niệm trên, chúng ta có thể thấy tự học có nhữngtính chất đặc điểm cơ bản như: chú trọng đến cách học và tính tự giác, tích cựctrong học tập; tự mình quyết định việc lựa chọn mục tiêu, nội dung, PP, hìnhthức, phương tiện cho hoạt động học tập; tự mình lập kế hoạch và thực hiện kếhoạch học tập; tự mình kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh việc học tập của mình

Trang 23

Có thể quan niệm về tự học như sau: Tự học là người học tự mình quyếtđịnh việc lựa chọn mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức và phương tiệncho hoạt động học tập, từ đó xây dựng và tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá,điều chỉnh việc học tập của bản thân với tinh thần tự giác, tích cực cao độ nhất.

1.2.2.2 Kĩ năng tự học

a) Khái niệm kĩ năng

KN là một vấn đề được nhiều nhà tâm lý học, GD học quan tâm nên đã cónhiều cách nhìn nhận nhưng nhìn chung KN được xem xét dựa trên hai khuynhhướng: khuynh hướng thứ nhất là xem xét KN nghiêng về mặt kỹ thuật thao táccủa hành động; khuynh hướng thứ hai là xem xét KN nghiêng về mặt khả năngthực hiện của con người

Những nhà nghiên cứu theo khuynh hướng thứ nhất: A.V Petropxkic, C.Tsebuseva,…cho rằng: muốn thực hiện thì con người cần phải có tri thức vềhành động, cụ thể là phải hiểu được mục đích, PP, phương tiện và điều kiệnhành động Nó làm sáng tỏ: khi con người nắm được các tri thức về hành động,thực hiện hành động theo các yêu cầu khác nhau của thực tiễn là chúng ta đã có

KN hành động Mức độ thành thạo của KN phụ thuộc vào mức độ nắm vững trithức về hành động và vận dụng vào hoạt động thực tiễn nhiều hay ít, đúng haykhông đúng Chính vì thế, quá trình học tập và rèn luyện đóng vai trò quan trọngtrong việc PT KN

Những nhà nghiên cứu theo khuynh hướng thứ hai: N D Lêvitov, K K.Platolov … cho rằng: KN là khả năng thực hiện một hoạt động nào đó Theo cácnhà nghiên cứu thì KN được biểu hiện ở khả năng vận dụng những tri thức đãthu nhận được vào một lĩnh vực hoạt động thực tế, đảm bảo cho hoạt động thựcdiễn ra đạt hiệu quả Những nhà nghiên cứu này không dừng lại ở quan niệm

KN đơn thuần là kĩ thuật hành động mà còn chỉ ra nó là một biểu hiện năng lực

Trang 24

con người Do đó, KN vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo Nhờ có sựmềm dẻo của KN mà con người có tính sáng tạo trong hoạt động thực tiễn.

Kết hợp hai khuynh hướng trên, ta có thể xem xét KN bao gồm cả về mặt

kĩ thuật thao tác và cả khả năng thực hiện Như vậy, KN là khả năng thực hiệnthành thạo, có kết quả các thao tác của hành động bằng phương thức lựa chọnhành động đúng đắn và vận dụng những tri thức, kinh nghiệm vào những điềukiện, tình huống khác nhau

Tác giả X I Kixegov cho rằng “KN là khả năng thực hiện có hiệu quả của

hệ thống hành động phù hợp mục đích và điều kiện thực hiện hệ thống này” [1] Theo Phan Quốc Lâm, kĩ năng là khả năng vận dụng kiến thức (phươngthức hành động chung – khái niệm, hiểu biết) để giải quyết một nhiệm vụ, tìnhhuống mới có bản chất với tình huống điển hình nhưng bị che lấp bởi những yếu

tố không bản chất, không quan trọng Nói cách khác, kĩ năng là con đường, cáchthức để tri thức lý thuyết trở lại thực tiễn Kĩ năng bao giờ cũng phải dựa trênmột cơ sở hiểu biết (mục đích, cách thức, và những điều kiện để giải quyếtnhiệm vụ…), đó là kiến thức của chủ thể [22, 67]

Do đó, kĩ năng là “khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận đượctrong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” ( theo từ điển Tiếng Việt – 1992)

Từ điển GD học thì cho rằng KN là “ khả năng thực hiện đúng hành động,hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động

ấy cho dù đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ” [13, 131]

Như vậy vấn đề KN còn là vấn đề có nhiều ý kiến khác nhau của các nhànghiên cứu Trên cơ sở những quan niệm về KN của các tác giả, chúng tôi quanniệm rằng: Kĩ năng là khả năng con người thực hiện có kết quả một hành độngnào đó trên cơ sở vận dụng những tri thức và kinh nghiệm tương ứng Kĩ năngđược hình thành do luyện tập

Trang 25

b) Khái niệm kĩ năng tự học

* Khái niệm: Kĩ năng tự học là khả năng vận dụng có kết quả những kiếnthức và phương thức thực hiện của một người các hành động đã được lĩnh hộimột cách tích cực, tự giác để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó thành củamình

* Các loại kĩ năng tự học: Nhiều tác giả đã đưa ra các nhóm kĩ năng khácnhau, tập trung chủ yếu vào những nhóm sau:

- Nhóm kĩ năng tổ chức hoạt động tự học:

+ Tự xây dựng kế hoạch học tập

+ Tự thực hiện kế hoạch

+ Tự đánh giá kết quả

- Nhóm kĩ năng tự học nội dung học tập:

+ Kĩ năng nghe – hiểu

+ Kĩ năng nghe – ghi

+Kĩ năng phát hiện – giải quyết vấn đề

-Nhóm kĩ năng thực hiện tự học: Kĩ năng tự thu nhận thông tin về nội dung khoahọc; kĩ năng lưu trữ thông tin; kĩ năng tự kiểm tra đánh giá; kĩ năng phát hiện vàgiải quyết vấn đề…

Từ đó, kĩ năng tự học có cấu trúc gồm:

+ Nhận thức đúng về vai trò, ý nghĩa của tự học

Trang 26

+Thái độ tích cực, tự giác nghiêm túc, kiên trì trong tự học

+Hành động hợp lí và hiệu quả

1.2.3 Biện pháp và biện pháp phát triển kĩ năng tự học cho học sinh

Biện pháp, theo từ điển Tiếng Việt, đó là “cách làm, cách giải quyết một vấn

đề cụ thể” [12, 64]

Biện pháp phát triển kĩ năng tự học cho HS là cách thức GV phối hợp với cánhân và tập thể HS lớp 4, 5, cùng với các lực lượng GD khác để HD HS thựchiện thuần phục các KN tự học một cách tự giác, tích cực để đạt mục đích họctập

1.3 Hình thành về phát triển kĩ năng tự học cho học sinh tiểu học

1.3.1 Mục đích phát triển kĩ năng tự học cho học sinh tiểu học

Giúp học sinh tự ý thức nhận rõ mục tiêu, nhiệm vụ học tập cho bản thânmình để từ đó các em tích cực, tự giác thu nhận KT cho bản thân

Có KN tự học, kích thích nhu cầu tự học và niềm tin vào khả năng tự họccủa học sinh

Trên cơ sở đó, HS được rèn luyện ý chí, tính kiên trì, tinh thần khắc phụckhó khăn và hình thành những phẩm chất cần thiết để phát triển nhân cách toàndiện cho mỗi HS

HS được thực sự hoạt động ở mức độ khó khăn đúng mức ở một cách độclập tùy thuộc vào nhu cầu, hứng thú, khả năng của bản thân khi không dựa vàonhững hỗ trợ khác

1.3.2 Nội dung phát triển kĩ năng tự học cho học sinh tiểu học

1.3.2.1 Mục đích, động cơ, thái độ học tập đúng đắn cho HS TH

Cần xác định cho HS TH mục đích học tập: Muốn đạt được kết quả học tậptốt, điều đầu tiên HS phải làm là xác định đúng đắn mục đích của hoạt động, tức

là phải trả lời được các câu hỏi: Học cái gì? Học để làm gì? Học bằng cách nào?

Trang 27

Học ở đâu? Khi HS xác định đúng mục đích, động cơ tức là các em đã hiểuđược mình phải học tập như thế nào, có phương pháp học sao cho hiệu quả vàchủ yếu tự học là chính.

Hình thành cho HS động cơ học tập: Mục đích và động cơ là hai cặp phạmtrù khác nhau nhưng nó lại có quan hệ mật thiết với nhau Động cơ vừa bao hàm

ý nghĩa mục đích của hành động, vừa hàm chứa ý nghĩa nguyên nhân của hànhđộng Khi động cơ với tư cách là nguyên nhân của hành động sẽ trở thành độnglực bên trong có tác dụng thúc đẩy tạo nên sức mạnh tinh thần và vật chất chocon người hành động theo những tri thức và niềm tin sẵn có Mặt khác, động cơvới tư cách là mục đích của hành động sẽ quy định chiều hướng của hành động,quy định thái độ của con người đối với hành động của mình Xác định đượcđộng cơ học tập đúng thì HS đã có ý thức được nhiệm vụ học tập của mình Cóthể khẳng định rằng, giá trị của việc xác định động cơ đúng là ở chỗ nó có tínhchất quyết định nội dung, phương hướng , phương pháp trong học tập

Hướng HS có thái độ học tập đúng đắn: Thái độ học tập đúng đắn là mộtphẩm chất tốt đẹp cần có ở HS TH Nó biểu hiện ở sự đấu tranh tích cực với cácnội dung trong tư duy và hành động, với việc khắc phục những khó khăn gặpphải : tinh thần say sưa, ý thức tự giác, chủ động trong học tập; tinh thần cầu thị,khiêm tốn trong học tập; thái độ học tập toàn diện; tinh thần đoàn kết, yêuthương, giúp đỡ nhau trong học tập

1.3.2.2 Bồi dưỡng xây dựng kế hoạch học tập cho HS TH

Để học tập có hiệu quả đều phải xây dựng được kế hoạch rõ ràng, cụ thể

Kế hoạch tự học là sự mô tả chi tiết về hoạt động dự định tiến hành trong thờigian tới và diễn ra hàng ngày với đầy đủ các yếu tố thời gian, không gian, nộidung, phương tiện, điều kiện để thực hiện việc tự học trong học tập Trong đó,nội dung học phải được phân chia một cách hợp lí dựa theo yêu cầu nhiệm vụ tự

Trang 28

học, khả năng của bản thân và các điều kiện khả thi nhằm hướng tới mục tiêumôn học cần đạt được.

Bồi dưỡng việc xây dựng kế hoạch tự học giúp cho HS biết mình phải làm

gì để đạt mục tiêu, làm cho quá trình tự học diễn ra đúng dự kiến, thành thóiquen Do đó, giúp cho HS thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ tự học và pháttriển, kiểm soát được toàn bộ quá trình tự học một cách thuận lợi, tiết kiệm đượcthời gian

Kế hoạch tự học của HS cần được cụ thể hóa thành thời gian biểu trongtừng buổi, từng tuần Bởi lẽ, kế hoạch tự học của HS TH cần phải rõ ràng, chitiết Nếu rõ ràng thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra đánh giá kết quả

tự học và hiệu quả của nó

Vì vậy, bồi dưỡng việc xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch tự học sẽgóp phần nâng cao hiệu quả tự học của HS TH

1.3.2.3 Bồi dưỡng nắm vững nội dung học tập cho HS TH

Nội dung tự học ngoài việc thể hiện trong tiết học, thời khóa biểu cần đượcxác định một cách rõ ràng theo mục tiêu bài học Ngoài nội dung bắt buộc trongtrường, HS có thể tự học ở các nguồn thông tin khác, ở những thời điểm thuậntiện

Bồi dưỡng việc nắm vững nội dung tự học nhằm hướng cho nội dung tự họccủa HS phù hợp với mục tiêu mà bài học đưa ra Ngoài ra, GV cần thườngxuyên tư vấn nội dung tự học, hướng dẫn cho HS Nội dung tự học gồm:

Hệ thống các nhiệm vụ tự học có tính chất bắt buộc HS phải hoàn thành Định hướng nghiên cứu, mở rộng và đào sâu tri thức từ những vấn đề trongnội dung học tập

1.3.2.4 Bồi dưỡng lựa chọn phương pháp, phương tiện học tập cho HS TH

Trang 29

Phương pháp học tập phải phù hợp với nội dung tự học Ở đây, bản thânngười học đã được hình thành KN tự học rồi Do vậy, người học cần lựa chọn vàxác định cho bản thân phương pháp học tập phù hợp nhằm nâng cao KN tự học.Người học phải vượt khó khăn, quyết tâm thực hiện đúng kế hoạch tự học từngngày, từng tuần, tranh thủ sự giúp đỡ của GV, bạn bè, và chủ yếu chính là bảnthân mình cùng với các phương tiện hỗ trợ học tập khác để có hiệu quả.

Như vậy, biết cách lưa chọn phương pháp, phương tiện tự học phù hợp sẽgiúp HS học tập đạt kết quả cao

1.3.2.5 Bồi dưỡng các hoạt động tự học cho HS TH

Tổ chức và hướng dẫn hoạt động tự học cho HS thông qua sự hướng dẫncủa GV, tự HS thực hiện theo cá nhân Cả hai hoạt động thống nhất nhau, nhằmmục đích cuối cùng là HS khi tiến hành tự học trong học tập sẽ đạt hiệu quả cao,chất lượng

Tiến hành tổ chức các hoạt động tự học cho HS thì trước hết bản thân ngườihọc phải biết tự sắp xếp thời gian và công việc theo đúng kế hoạch Mặt khác,hoạt động tự học có nhiều khâu tiến hành thông qua hoạt động học tập Do vậy,

GV phải giúp cho HS biết “học đúng cách, làm cho người học biết cách học vàcách đó là khả thi”

1.3.2.6 Bồi dưỡng việc thực hiện kiểm tra và tự kiểm tra đánh giá kết quả

Tóm lại :

Trang 30

- DH thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS.

- Chú trọng PT PP học tập cho HS

- Hướng HS học tập cá nhân phối hợp với học tập hợp tác; đánh giá của GV kếthợp với đánh giá của HS

- GV tác động đến tình cảm, đem niềm vui, hứng thú trong quá trình học tập để

từ đó hình thành cho HS có niềm đam mê trong học tập và tự học

1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển kĩ năng tự học cho học sinh tiểu học

Do tự học đòi hỏi phải có tính độc lập, tự chủ cao và kiên trì thì mới mongđạt được kết quả.Và khi có KN tự học rồi nhưng việc duy trì và phát triển cũngrất khó khăn, ý thức tự giác rất cao Ở đây, chúng tôi xin nêu những yếu tố ảnhhưởng đến việc phát triển KN tự học cho HS TH

Ngoài ra, các lực lượng GD khác như gia đình HS, thầy (cô) tổng phụ trách,bạn bè, nhóm học tập…nếu khéo tổ chức các phong trào thi đua học tập, lôicuốn được các em tự giác, tích cực tham gia thì cũng nâng cao được hiệu quảviệc PT KN tự học cho HS TH

Trang 31

b) Điều kiện, phương tiện tự học

Tự học đòi hỏi phải có quỹ thời gian hợp lí, sắp xếp vào thời điểm thíchhợp và có không gian đáp ứng được nhu cầu PT KN tự học của HS nên điềukiện sống, điều kiện sinh hoạt có ảnh hưởng nhất định đến việc PT KN tự họccho HS TH

Tài liệu tham khảo, từ điển, SGK, Internet…cũng đóng vai trò tạo điềukiện thuận lợi cho việc PT KN tự học cho HS TH

c) Gia đình

Truyền thống và điều kiện sinh hoạt trong mỗi gia đình có một ảnh hưởngnhất định đến việc PT KN tự học cho HS TH Nếu gia đình có sự đầu tư cho họctập, có sự quan tâm tạo điều kiện thuận lợi thì có được tác động tốt đến việc tựhọc của các em Các em có ý thức tự giác và xem tự học là một KN cần luôn cótrong quá trình học tập của mình

d) Tập thể HS

Nếu một tập thể lớp có tinh thần đoàn kết, thi đua phấn đấu học tốt, tạo bầukhông khí giao lưu sôi nổi, thân tình, sẵn sàng chia sẻ những kinh nghiệm,những khó khăn trong học tập với nhau thì sẽ kích thích được HS tự học và PT

KN tự học có hiệu quả hơn

a) Yếu tố về thể chất

Trang 32

Đặc điểm hệ thần kinh, quy luật hoạt động của hệ thần kinh cùng với cácchức năng của nó cũng ảnh hưởng và liên quan đến việc PT KN tự học cho HSTH.

Tự học là một hoạt động tiêu hao năng lượng nên đòi hỏi HS phải có sứckhỏe, có một chế độ dinh dưỡng, nghỉ ngơi hợp lí thì mới đảm bảo cho việc PT

KN tự học cho HS

b) Yếu tố tâm lí

Hứng thú và tính tự giác là yếu tố tâm lí đảm bảo tính tích cực và độclập của HS nên có vai trò rất to lớn đến việc PT KN tự học cho HS TH

Ý thức học tập và động cơ nhận thức có ý nghĩa quyết định trong việc

PT KN tự học cho HS TH Thiếu động cơ học tập thì không thể có nhu cầu nhậnthức, không diễn ra hoạt động nhận thức và không có hứng thú học tập

Ý chí học tập thể hiện ở tính kiên trì với mục tiêu học tập, tinh thần khắcphục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ học tập, là một yếu tố quan trọng để việc

tự học thành công và duy trì nó thành một thói quen không thể thiếu trong quátrình diễn ra học tập

Ngoài ra, những yếu tố tâm lí còn có thói quen và KN tự học, niềm tinvào khả năng tự học, không cho rằng: tự học là khó khăn, chỉ dành cho nhữngngười thông minh và có ý thức mới tự học được và duy trì nó….cũng góp phầnđáng kể vào PT KN tự học cho HS TH

c) Yếu tố về nhận thức

Về mặt giải phẫu sinh lí, HS TH có sự thay đổi khá mạnh về bộ não Đặcđiểm nổi trội là nhận thức còn mang tính cảm tính và trình độ phát triển trí tuệcủa HS TH chia làm 2 giai đoạn chính:

- Giai đoạn 1 (lớp 1, 2, 3): Đây là giai đoạn mang nặng nhận thức cảm tính:

HS chỉ tri giác được trên nhóm đồ vật cụ thể

Trang 33

- Giai đoạn 2 (lớp 4, 5): Đây là giai đoạn tư duy trừu tượng của HS đã bắtđầu phát triển Các em có nhận thức không chỉ các dấu hiệu bề ngoài riêng lẻcủa các sự vật hiện tượng cụ thể, mà các em còn nhận biết những dấu hiệu bêntrong: những dấu hiệu bản chất, có tính quy luật của sự vật hiện tượng.

4, 5 có tình cảm có nội dung phong phú và bền vững hơn Các em biết chăm lođến kết quả học tập bằng việc lo lắng thực hiện nhiệm vụ học tập mà GV đặt ra,cũng như hài lòng, vui vẻ và hãnh diện khi đạt kết quả cao trong học tập Đâychính là những điều kiện thuận lợi để GD chuẩn mực nhân cách, phát triển KN

tự học

 Hứng thú: Hứng thú có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc học tập cũngnhư kết quả học tập của HS, được coi như “chìa khóa” mở đầu cho sự thànhcông trong quá trình PT KN tự học cho HS Hứng thú cùng với động cơ học tập

đã đem đến cho HS sự thích thú, tò mò và cả kiên trì, sáng tạo trong quá trìnhgiải quyết các nhiệm vụ học tập khi GV giao cho Trong việc học ở TH, HS lớp

4, 5 thường gặp nhiều khó khăn khi lĩnh hội các KT vì khó, trừu tượng Hoạtđộng học tập là hoạt động căng thẳng, kéo dài nên nếu chỉ có ý thức nghĩa vụ

và ý thức tổ chức kỉ luật thì không đủ để bắt HS chú ý thường xuyên, lâu dàiđược Chỉ có hứng thú thì HS mới có thể huy động tập trung chú ý lâu dài vàođối tượng Và chỉ có hứng thú thì HS mới có nhu cầu hiểu biết sâu hơn về bàihọc nên sẽ tích cực phát biểu, tìm tòi, tự khám phá để thỏa mãn nhu cầu của

Trang 34

mình HS có khả năng học bài và làm bài tốt thì mới có KN tự học rất cao.Hứng thú thể hiện nhu cầu nhận thức đã phát triển cao Khi có hứng thú học tập, HS thường có nhu cầu hiểu biết nhiều hơn nên không thỏa mãn các bài họctrên lớp mà các em sẽ tự tìm đọc thêm các kênh thông tin khác như sách thamkhảo, báo chí, internet…để mở rộng vốn tri thức của mình.Chính vì thế GV cầnnắm và có hiểu biết đầy đủ, sâu sắc về yếu tố này để biết cách khơi gợi, bồidưỡng và phát triển KN tự học cho HS lớp 4, 5.

Việc PT KN tự học cho HS TH chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố kháchquan và chủ quan Các yếu tố này có sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, trong

đó, các yếu tố chủ quan có ảnh hưởng trực tiếp, còn những yếu tố khách quan cóảnh hưởng nhất định đến việc PT KN tự học cho HS TH

1.4 Ý nghĩa của việc đề xuất một số biện pháp phát triển kĩ năng tự học cho học sinh lớp 4, 5.

Trang bị những KN cơ bản phù hợp với trình độ nhận thức, phát triển củalứa tuổi và giúp HS lớp 4, 5 có khả năng vận dụng KN vào cuộc sống, đảm bảoduy trì để HS tiếp tục học tốt ở các cấp học trên nữa

HS sẽ thấy rõ mục tiêu, nhiệm vụ học tập ở các môn học, do đó, các em sẽtích cực, tự giác thu nhận KT cho bản thân Bên cạnh đó, các em chủ động bổsung, mở rộng, đào sâu KT theo nhu cầu và khả năng của mình Ngoài ra, các

em còn có cơ hội vận dụng tới mức cao nhất vốn tri thức, kinh nghiệm của mình

để giải quyết các nhiệm vụ học tập Sự vận dụng này phù hợp với đặc điểm tâm,sinh lí của các em nên giúp các em thêm yêu thích tự học trong học tập

Nhờ có KN tự học mà hứng thú trong học tập được tăng cường rất nhiều;tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập do đó cũng được phát huy cao độ.Đây chính là cái nôi để các em phát triển tốt nhất năng lực, sở trường cá nhân, từ

đó, kích thích nhu cầu tự học và duy trì việc tự học, niềm tin vào khả năng tự

Trang 35

học của mình Trên cơ sở đó, HS được rèn luyện ý chí, tính kiên trì, tinh thầnkhắc phục khó khăn và hình thành những phẩm chất cần thiết để phát triển toàndiện nhân cách cho mỗi HS.

HS được thực sự hoạt động ở mức độ khó khăn đúng mức một cách độc lậptùy thuộc vào nhu cầu, hứng thú, khả năng của bản thân Nhờ vậy, những ýtưởng mới, sự sáng tạo về một vấn đề, một nội dung của bài học, chương trìnhhọc có cơ hội được bộc lộ

Các em được rèn luyện các KN như: KN ghi chép, KN nghe giảng, KNhỏi…, đặc biệt là KN giao tiếp với GV và bạn bè Qua đó, các em được củng cố

và phát triển tinh thần học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau Việc trao đổi về KT, kinhnghiệm khi các em thảo luận sẽ tạo bầu không khí giao lưu sôi nổi, gần gũi giữa

GV với HS, HS với HS

HS có thể tự kiểm tra mức độ nắm KT, KN của mình, của bạn trong họctập một cách thường xuyên Thông qua đó, HS có thể đánh giá năng lực củamình so với một nhóm bạn nhất định Khi nhận biết thông tin phản hồi, HS cóthể tự điều khiển, điều chỉnh việc học tập của mình để có định hướng, kế hoạchnhằm giải quyết tốt hơn nhu cầu tự học của bản thân

Tập luyện cho HS tự phát hiện, tự giải quyết các vấn đề trọng tâm của bàihọc, bài tập; thông qua các hoạt động học tập, HS tự chiếm lĩnh KT theo sựhướng dẫn hợp lí của GV và nhất là sự chủ động theo khả năng của bản thântừng HS, không phụ thuộc vào các yếu tố khác như bạn bè, gia đình…

Kết luận chương 1

Bằng việc tìm hiểu hệ thống lí luận liên quan đến đề tài nghiên cứu, chúngtôi rút ra kết luận ở chương 1 như sau:

Trang 36

Xuất phát từ tình hình thực tế và yêu cầu phát triển đất nước trong giaiđoạn hiện nay khi chất lượng GD được đặt lên hàng đầu Vấn đề PT KN tự họccho HS lớp 4, 5 góp phần đáp ứng nhu cầu chăm sóc, GD, dạy dỗ HS của giađình và xã hội.

Qua sự tìm hiểu sơ lược lịch sử GD liên quan đến tự học, PT KN tự học,chúng tôi nhận thấy rằng hệ thống lí luận về tự học đã được hình thành lâu đời

và khá phong phú, làm nền tảng cho những công trình nghiên cứu tiếp theo về tựhọc và có cơ sở cho các nghiên cứu về việc PT KN tự học cho trẻ em Tính đếnthời điểm hiện nay, vẫn còn những khoảng trống cho những nghiên cứu về cácbiện pháp làm sao để duy trì và PT KN tự học cho học sinh tiểu học nhất là lớp

4, 5

Bằng việc nghiên cứu các tài liệu, chúng tôi làm sáng tỏ thêm về tự học,vai trò của tự học, KN tự học và sự PT KN tự học Trong các yếu tố ảnh hưởngđến quá trình PT KN tự học thì chính cách thức giảng dạy của GV có ảnh hưởngsâu sắc nhất đến sự PT KN tự học cho HS Tiếp theo đến quá trình PT KN tựhọc cho HS lớp 4, 5 Từ đó cho thấy, HS TH có thể tự học và duy trì, phát triển

KN tự học cho đến những các cấp học sao này Đế đưa ra các biện pháp mangtính hợp lí và khả thi, chúng tôi cần nghiên cứu thực trạng sử dụng các biệnpháp PT KN tự học cho học sinh lớp 4, 5 ở các trường TH trên địa bàn quận 4,

TP HCM

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH

LỚP 4, 5 2.1 Vài nét về địa bàn khảo sát: Một số trường ở quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 37

2.1.1 Khái quát về địa bàn khảo sát

Toàn quận có 15 trường tiểu học Trong những năm qua, cùng với xu thếđổi mới của kinh tế - văn hóa- xã hội, các trường tiểu học trên địa bàn quận 4cũng có sự phát triển rất mạnh về cơ sở vật chất cũng như đội ngũ GV được đàotạo chuẩn và trên chuẩn, có khả năng đáp ứng nhu cầu GD của xã hội và yêu cầucủa ngành nghề Mặt khác do việc đổi mới mục tiêu GD TH dẫn đến nội dungchương trình và sách giáo khoa thay đổi, kéo theo hình thức tổ chức dạy học,PPDH cũng thay đổi cho phù hợp theo định hướng phát huy tính tích cực củahọc sinh Nhiều GV đã nhận thức sâu sắc được điều đó và thường xuyên tíchcực đổi mới PPDH, góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học.Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số hạn chế:

Một bộ phận GV vẫn còn chậm đổi mới, chưa theo kịp sự phát triển nhanhchóng của khoa học công nghệ, chưa đáp ứng được những yêu cầu đổi mới của

GD TH PPDH chủ yếu vẫn theo hình thức là truyền thụ kiến thức, chưa quantâm nhiều đến việc sử dụng các PPDH phát huy tính tích cực, chủ động của HS,khâu kiểm tra, đánh giá chỉ dừng lại chủ yếu ở các phương pháp kiểm tra đánhgiá truyền thống, phương pháp đánh giá bằng trắc nghiệm đã được áp dụngnhưng chưa phổ biến, chỉ dùng khi kiểm tra định kì

GV chưa đầu tư nhiều cho tiết dạy, chưa có PP hướng dẫn các em tự học vàphát triển tự học cho HS TH nhất là những em ở lớp 4, 5 Đa số là làm thay hoặc

sơ sài, không kích thích, gây hứng thú cho HS trong quá trình diễn ra hoạt độnghọc tập

Việc đổi mới nội dung, chương trình, PPDH, phương tiện dạy học diễn rachưa đồng bộ

Trang 38

Để xác lập cơ sở thực tiễn cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hànhkhảo sát thực trạng PT KN tự học của học sinh lớp 4, 5 ở các trường tiểu họctrong quận 4.

2.1.2 Mục đích, nội dung, phương pháp, đối tượng, thời gian khảo sát

2.1.2.1 Mục đích khảo sát

Nhằm đánh giá đúng thực trạng PT KN tự học cho học sinh lớp 4, 5 ở cáctrường tiểu học trong quận 4 Từ đó xác lập cơ sở thực tiễn cho việc xây dựngcác biện pháp PT KN tự học cho học sinh lớp 4, 5 ở các trường trong quận 4

2.1.2.2 Nội dung khảo sát

- Làm rõ thực trạng nhận thức của GV về phương pháp dạy – tự học, nhận thức

và khảo sát thực trạng sử dụng các biện pháp PT KN tự học cho học sinh lớp 4,

- Sử dụng bảng câu hỏi và trò chuyện với GV, tổng phụ trách, cha mẹ HS và HS

để tìm hiểu thực trạng về sự PT KN tự học của học sinh lớp 4, 5

- Nghiên cứu nhận thức, thái độ, kế hoạch bài dạy của GV; kế hoạch hoạt độngcủa tổng phụ trách

- Nghiên cứu thực trạng nội dung, hình thức PT KN tự học của học sinh lớp 4, 5

2.1.2.4 Địa bàn, thời gian, đối tượng khảo sát

Trang 39

a) Địa bàn khảo sát : 3 trường TH, mỗi trường 4 lớp (2 lớp 4, 2 lớp 5) của các

trường TH trong quận 4

b) Thời gian khảo sát: 3 tháng (từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2011)

c) Đối tượng khảo sát: 297 HS lớp 4, 5 và 271 GV dạy lớp 4, 5 cùng với 15 tổng

phụ trách, 271 cha mẹ HS lớp 4, 5 ở các trường TH trong quận 4

2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng

2.2.1 Thực trạng nhận thức về kĩ năng tự học của giáo viên và học sinh lớp

4,5.

Để đánh giá một cách khách quan thực trạng nhận thức về PT KN tự học

cho học sinh lớp 4, 5 của các trường tiểu học, chúng tôi đã tiến hành điều tra

bằng anket, quan sát giờ học, giờ tự học của HS lớp 4, 5 và trao đổi trực tiếp với

GV lớp 4, 5 của các trường tiểu học Mục đích của khảo sát là nhằm đánh giá

đúng về nhận thức của GV và HS về PT KN tự học

2.2.1.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về kĩ năng tự học

Để tìm hiểu thực trạng nhận thức và sử dụng biện pháp PT KN tự học cho

học sinh lớp 4, 5 của GV, chúng tôi tiến hành điều tra 271 GV dạy lớp 4, 5 ở các

trường TH trong quận 4 Chúng tôi thu được kết quả như sau:

Biểu hiệnPP

1

GV truyềnđạt KT cho

HS tiếp thu

Trang 40

1

2

GV độcthoại hayphát vấngợi nhớ

3

GV giảngcho HS ghinhớ, họcthuộc lòng

4

GV độcquyền kiểmtra, đánhgiá

3

GV tổ chứccho HS tựthể hiệnmình; hợptác với bạn

Ngày đăng: 17/12/2013, 22:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Vân Anh, (2003), Hình thành phương pháp học cho học sinh tiểu học, Khóa luận Tiểu học, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thành phương pháp học cho học sinhtiểu học
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Anh
Năm: 2003
2. Vĩnh Bang, (2000), Tâm lí học trẻ em và ứng dụng tâm lí học Jiaget vào trường học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học trẻ em và ứng dụng tâm lí học Jiaget vào trường học
Tác giả: Vĩnh Bang
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2000
3. Lê Khánh Bằng , (1998), Cơ sở khoa học của tự học và hướng dẫn tự học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học của tự học và hướng dẫn tự học
Tác giả: Lê Khánh Bằng
Năm: 1998
4. Bộ GD&ĐT, (2001), Chương trình tiểu học, Ban hành kèm theo quyết định số 43/2001, QĐ Bộ GD&ĐT, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình tiểu học
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2001
5. Bộ GD&ĐT (2005), Luật Giáo dục 2005, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giáo dục 2005
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
6. Bộ GD&Đ (2007), Điều lệ trường tiểu học, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ trường tiểu học
Tác giả: Bộ GD&Đ
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2007
7. Bộ GD&ĐT (2008), Chiến lược phát triển Giáo dục 2008 – 2020 Việt Nam, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển Giáo dục 2008 – 2020 Việt Nam
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2008
8. Bộ GD&ĐT (2001), Chiến lược phát triển Giáo dục 2001 – 2010 Việt Nam, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển Giáo dục 2001 – 2010 Việt Nam
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2001
9. Nguyễn Gia Cầu, (2008), Giúp học sinh khắc phục kiểu học tập thụ động, Tạp chí Giáo dục, số 197 (kỳ 1 – 9/2008), tr. 20 – 22, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giúp học sinh khắc phục kiểu học tập thụ động
Tác giả: Nguyễn Gia Cầu
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2008
10. Phạm Khắc Chương, (1997), Comenxki, ông tổ của nền sư phạm cận đại, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comenxki, ông tổ của nền sư phạm cận đại
Tác giả: Phạm Khắc Chương
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1997
11. A. G. Côvalicốp, (1997), Tâm lý học cá nhân, tập II, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học cá nhân, tập II
Tác giả: A. G. Côvalicốp
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1997
12.Viện Ngôn ngữ học, (1994), Từ điển tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Trung tâm Từ điển học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Viện Ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1994
13. Hồ Ngọc Đại, (1991), Giải pháp giáo dục, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp giáo dục
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1991
14. Hồ Ngọc Đại, (2000), Tâm lí học dạy học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học dạy học
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2000
15. Vũ Cao Đàm, (1999), Nghiên cứu khoa học – Phương pháp luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khoa học – Phương pháp luận và thực tiễn
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
16. Nguyễn Văn Đạo, (1998), tự học là kinh nghiệm suốt cả đời của mỗi con người, tự học, tự đào tạo tư tưởng chiến lược của phát triển giáo dục Việt Nam, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: tự học là kinh nghiệm suốt cả đời của mỗi con người, tự học, tự đào tạo tư tưởng chiến lược của phát triển giáo dục Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Đạo
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1998
17. Nguyễn Văn Đông, (2009), Cha mẹ cần chuẩn bị những gì cho con bắt đầu đi học,Dạy và học ngày nay, số 5 – 2009, tr.55 - 56, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cha mẹ cần chuẩn bị những gì cho con bắt đầu đi học
Tác giả: Nguyễn Văn Đông
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2009
18. B. P Exiốp (chủ biên), (1971), Những cơ sở lí luận của dạy học, Tập 1, tr.25, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở lí luận của dạy học
Tác giả: B. P Exiốp (chủ biên)
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1971
19. Lê Văn Hồng (chủ biên), Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng, (2001), Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng (chủ biên), Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2001
20. Nguyễn Đình Quốc Hùng, (2008), Để giáo viên được chủ động trong giảng dạy, Dạy và học ngày nay, số 4 – 2008, tr. 25, Nxb GD, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để giáo viên được chủ động trong giảng dạy
Tác giả: Nguyễn Đình Quốc Hùng
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Thực trạng nhận thức của 271 GV về mức độ sử dụng phương pháp dạy – tự học - Một số biện pháp phát triển kĩ năng tự học cho học sinh lớp 4, 5 luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 2.1 Thực trạng nhận thức của 271 GV về mức độ sử dụng phương pháp dạy – tự học (Trang 39)
Bảng 2.2: Thực trạng sử dụng các biện pháp PT KN tự học cho học sinh   lớp 4, 5 - Một số biện pháp phát triển kĩ năng tự học cho học sinh lớp 4, 5 luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 2.2 Thực trạng sử dụng các biện pháp PT KN tự học cho học sinh lớp 4, 5 (Trang 41)
Bảng 2.3: Thực trạng nhận thức của HS lớp 4, 5 về tự học - Một số biện pháp phát triển kĩ năng tự học cho học sinh lớp 4, 5 luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 2.3 Thực trạng nhận thức của HS lớp 4, 5 về tự học (Trang 42)
Bảng 2.4: Thực trạng nhận thức về vai trò tự học của HS lớp 4, 5 - Một số biện pháp phát triển kĩ năng tự học cho học sinh lớp 4, 5 luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 2.4 Thực trạng nhận thức về vai trò tự học của HS lớp 4, 5 (Trang 43)
Bảng 2.5: Thực trạng PT KN tự học ở 297 HS lớp 4, 5 - Một số biện pháp phát triển kĩ năng tự học cho học sinh lớp 4, 5 luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 2.5 Thực trạng PT KN tự học ở 297 HS lớp 4, 5 (Trang 45)
Bảng 2.6: Thực trạng vai trò của gia đình trong quá trình PT KN tự học cho HS lớp 4, 5 - Một số biện pháp phát triển kĩ năng tự học cho học sinh lớp 4, 5 luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 2.6 Thực trạng vai trò của gia đình trong quá trình PT KN tự học cho HS lớp 4, 5 (Trang 47)
Bảng 2.7: Thực trạng của hoạt động Đội trong quá trình PT KN tự học cho HS lớp 4,5 - Một số biện pháp phát triển kĩ năng tự học cho học sinh lớp 4, 5 luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 2.7 Thực trạng của hoạt động Đội trong quá trình PT KN tự học cho HS lớp 4,5 (Trang 49)
Bảng 2.8: Lập kế hoạch tự học - Một số biện pháp phát triển kĩ năng tự học cho học sinh lớp 4, 5 luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 2.8 Lập kế hoạch tự học (Trang 50)
Bảng 2.11: Thực trạng PT KN tự học của HS lớp 4, 5 - Một số biện pháp phát triển kĩ năng tự học cho học sinh lớp 4, 5 luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 2.11 Thực trạng PT KN tự học của HS lớp 4, 5 (Trang 53)
Bảng 2.10: Thời gian tự học - Một số biện pháp phát triển kĩ năng tự học cho học sinh lớp 4, 5 luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 2.10 Thời gian tự học (Trang 53)
Bảng 3.1: Thăm dò mức độ cấn thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất - Một số biện pháp phát triển kĩ năng tự học cho học sinh lớp 4, 5 luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 3.1 Thăm dò mức độ cấn thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất (Trang 72)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w