Chỉ thị số40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về xây dựngnâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL GD đã chỉ rõ: “Mục tiêu làxây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL GD th
Trang 1Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, Phòng Trung học Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng, Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận Ngô Quyền, các cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh các trờng THCS Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã tạo điều kiện cho tác giả đợc học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Giáo s - Tiến sĩ khoa học Thái Duy Tuyên ngời hớng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện thuận lợi nhất để em hoàn thành luận văn này.
Vô cùng biết ơn sự giúp đỡ của bạn bè, sự yêu thơng của gia đình,
sự sẻ chia khó khăn của đồng nghiệp song hành cùng tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Do điều kiện về thời gian và khả năng của bản thân có hạn, mặc
dù đã cố gắng rất nhiều song luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận đợc nhiều ý kiến đóng góp quí báu.
Xin chân thành cảm ơn!
Ngày 10 tháng 8 năm 2011
Tác giả
Lơng Văn Thuấn
Trang 2GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo
GDTX : Giáo dục thường xuyên
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
3.1 Khách thể nghiên cứu 4
3.2 Đối tượng nghiên cứu 4
4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
5 Giả thuyết khoa học 4
7 Phương pháp nghiên cứu 5
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 5
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 5
7.3 Nhóm phương pháp hỗ trợ khác 5
Chương 1 7
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN 7
ĐỘI NGŨ GV TRUNG HỌC CƠ SỞ 7
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 7
1.1.1 Trên thế giới 7
1.1.2 Ở Việt Nam 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu 11
1.2.1 GV; GV THCS 11
1.2.2 Đội ngũ, đội ngũ GV THCS 12
1.2.3 Quản lý GD 14
1.2.4 Phát triển, phát triển đội ngũ GV THCS 16
1.2.5 Biện pháp 18
1.3 Đội ngũ GV THCS tiếp cận phát triển nguồn nhân lực 19
1.3.1 Vị trí, vai trò của GV THCS 19
1.3.2 Tiếp cận lý luận phát triển nguồn nhân lực trong phát triển đội ngũ GV THCS 21
1.4 Yêu cầu xây dựng và phát triển đội ngũ GV THCS trong thời kỳ mới.22 1.4.1 Đáp ứng yêu cầu về số lượng 23
1.4.2 Đồng bộ về cơ cấu (độ tuổi, giới tính, chuyên môn, trình độ đào tạo) 24
1.4.3 Nâng cao về chất lượng 25
1.5 Nội dung phát triển đội ngũ GV THCS 25
Trang 41.5.1 Quy hoạch, lập kế hoạch phát triển đội ngũ GV THCS 25
1.5.2 Tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ GV THCS 27
1.5.3 Sử dụng có hiệu quả đội ngũ hiện có 31
1.5.5 Đảm bảo cơ chế, chính sách đãi ngộ đội ngũ GV 32
1.6 Một số kinh nghiệm phát triển đội ngũ GV THCS 32
Tiểu kết chương 1 36
Chương 2 37
THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GV VÀ CÔNG TÁC 37
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GV TRUNG HỌC CƠ SỞ 37
QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 37
2.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội, GD - Đào tạo quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng 37
2.1.1 Đặc điểm địa lý và phát triển kinh tế - xã hội 37
2.1.2 Tình hình GD - Đào tạo 37
2.2.1 Về số lượng 42
2.2.2 Về cơ cấu 43
2.2.3 Về chất lượng đội ngũ 47
2.2.4 Đánh giá chung về đội ngũ GV THCS của quận Ngô Quyền 48
2.3 Thực trạng công tác phát triển đội ngũ GV THCS quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng 48
2.3.1 Thực trạng công tác quy hoạch, lập kế hoạch phát triển đội ngũ GV THCS 48
2.3.2 Thực trạng công tác tuyển chọn, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ GV THCS 51
2.3.3 Thực trạng chế độ đãi ngộ, các chính sách đối với GV THCS 58
2.4 Đánh giá chung về thực trạng 60
2.4.1 Thuận lợi 60
2.4.2 Khó khăn 61
2.4.3 Nguyên nhân 61
Tiểu kết chương 2 63
Chương 3 65
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GV THCS QUẬN 65
NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TRONG GIAI ĐOẠN MỚI 65
3.1 Định hướng và nguyên tắc đề xuất biện pháp 65
Trang 53.1.1 Định hướng 65
3.1.2 Nguyên tắc đề xuất 67
3.2 Các biện pháp phát triển đội ngũ GV THCS Quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng 68
Biện pháp 1: Lập quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ GV THCS 68
Biện pháp 2: Đổi mới phương thức tuyển chọn GV theo hướng khách quan, công bằng và có yếu tố cạnh tranh đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu 76
Biện pháp 3: Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ GV 77
Biện pháp 4: Hình thành bộ phận chức năng phụ trách công tác bồi dưỡng đội ngũ GV ở cấp quận và cấp trường 81
Biện pháp 5: Xây dựng tổ bộ môn và GV cốt cán 84
Biện Pháp 6: Đổi mới công tác kiểm tra đánh giá đội ngũ GV theo Chuẩn nghề nghiệp 85
Biện pháp 7: Sử dụng đi đôi với thực hiện chính sách khuyến khích, động viên đội ngũ GV 89
Biện pháp 8: Điều động, luân chuyển GV đảm bảo số lượng, cơ cấu bộ môn giữa các trường trong quận 90
3.3.1 Quy trình khảo nghiệm 91
3.3.2 Kết quả khảo nghiệm 93
Tiểu kết chương 3 99
1 Kết luận 100
2 Khuyến nghị 102
2.1 Đối với Chính phủ, Bộ GD&ĐT 102
2.2 Đối với UBND thành phố và Sở GD&ĐT 103
2.3 Đối với UBND Quận Ngô Quyền 103
2.4 Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo 103
2.5 Đối với các trường THCS 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghị quyết TW 2 khoá VIII của Ban chấp hành Trung ương Đảngcộng sản Việt Nam năm 1996 đã xác định rõ: “Nhiệm vụ và mục tiêu cơbản của GD là nhằm xây dựng những con người và thế hệ trẻ Việt Namthiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạođức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoácủa dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại; phát huytiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và pháthuy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiệnđại, có tư duy sáng tạo, có kĩ năng thực hành giỏi, có tác phong côngnghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật; có sức khoẻ, là những người kế thừa xâydựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”
Để nâng cao chất lượng GD thì trước hết chúng ta phải xây dựng độingũ GV có phẩm chất chính trị vững vàng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơcấu, có trình độ chuyên môn tốt, có đạo đức và lối sống lành mạnh, trongsáng và mẫu mực
Một mâu thuẫn thường xuyên tồn tại là sự bất cập của đội ngũ, đặcbiệt là chất lượng đội ngũ, không đáp ứng được yêu cầu đa dạng trước thựctiễn GD đầy biến động Nhất là khi mà thực tiễn phát triển càng nhanhchóng, thì mâu thuẫn đó càng trở nên sâu sắc, nếu không có những giảipháp để khắc phục kịp thời Mâu thuẫn đó hiện nay đang trở nên gay gắttrước yêu cầu của đổi mới GD để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hộihiện nay Vấn đề chuẩn hóa, đồng bộ hóa cả về số lượng, cơ cấu, chấtlượng; trong đó nâng cao chất lượng là trọng tâm đang trở thành một vấn
đề mang tính thời sự trong GD Tìm ra các biện pháp phát triển đội ngũ GV
Trang 8sát, đúng, đảm bảo tính cách mạng và khoa học; đưa vào áp dụng thànhcông trong thực tế, là một yêu cầu thiết thực và thực sự bức thiết trong giaiđoạn hiện nay.
Phát triển đội ngũ GV là một phạm trù động, lại phải đáp ứng nhữngyêu cầu đầy biến động của cả hiện tại và tương lai, do đó cần phải quántriệt quan điểm thực tiễn, quan điểm lịch sử và toàn diện; kết hợp hài hòavới khoa học dự báo thì mới có thể giải quyết được vấn đề nghiên cứu Hơnnữa bước vào thời kỳ CNH, HĐH đất nước trong điều kiện hội nhập, yêucầu nguồn nhân lực xã hội đang bao hàm nội dung rất mới mẻ Đội ngũ nhàgiáo là một bộ phận góp phần quyết định đào tạo nguồn nhân lực đó, vì vậylại càng phải đổi mới mạnh mẽ Những vấn đề đặt ra là mối quan hệ giữađội ngũ nhà giáo với phát triển nguồn nhân lực xã hội; các nội dung về đàotạo, bồi dưỡng, chuẩn hoá, hiện đại hóa, đổi mới về nội dung và phươngpháp GD đều mang tính thời sự, cấp thiết trong lý luận cần được nghiêncứu, phát triển lên một tầm cao mới
Những vấn đề lý luận đang đặt ra ở trên hiện nay đang trở thành mộttrong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta Chỉ thị số40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về xây dựngnâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL GD đã chỉ rõ: “Mục tiêu làxây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL GD theo hướng chuẩn hoá, đảm bảochất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng caobản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp vàtrình độ chuyên môn của nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sựnghiệp GD trong công cuộc đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước”.[6;2]
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Hải Phòng lần thứ XIV đã xácđịnh mục tiêu phát triển của thành phố đến năm 2015 là “Xây dựng HảiPhòng trở thành một thành phố cảng văn minh, hiện đại, cửa chính thông ra
Trang 9biển, trung tâm công nghiệp, dịch vụ thủy sản ở miền bắc, có kinh tế, vănhoá GD-ĐT, KH-CN, cơ sở hạ tầng phát triển, quốc phòng – an ninh vữngchắc, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân” Trên cơ sở các địnhhướng kinh tế - xã hội Hải Phòng đã xây dựng quy hoạch phát triển GD-ĐTcủa thành phố giai đoạn 2010-2020 nhằm dự báo qui mô phát triển GD, đềxuất những định hướng đổi mới GD-ĐT từ mạng lưới trường học, các điềukiện phát triển GD như đội ngũ nhà giáo, cán bộ QL GD, CSVC, trang thiết
bị, tài chính cùng với các giải pháp và chương trình để nâng cao chấtlượng, đưa GD Hải Phòng ngang tầm với một đô thị loại I cấp quốc gia.Trong đề án quy hoạch phát triển đô thị của quận Ngô Quyền đến năm
2020 tầm nhìn đến năm 2025 xác định: “xây dựng quận trở thành một đôthị văn minh, hiện đại trong đó GD phải đi trước một bước về quy mô, cơcấu, chất lượng đào tạo mà ở đó đội ngũ GV đóng vai trò quyết định đápứng nguồn nhân lực xây dựng và phát triển quận”
Phát triển đội ngũ GV để có kế hoạch phục vụ công tác quy hoạch,đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ, làm cơ sở để xây dựng, phát triểnchương trình đào tạo GV, là một căn cứ để xây dựng chính sách, chế độ đãingộ đối với GV
Do vậy đề tài được lựa chọn là: " Một số biện pháp phát triển đội ngũ
GV THCS Quận Ngô Quyền thành phố Hải Phòng từ năm 2010 đến năm 2020" làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lý GD với mong
muốn góp phần khiêm tốn của mình vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ
GV THCS Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng
2 Mục đích nghiên cứu
Trang 10Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất các biện pháp pháttriển đội ngũ GV THCS trong thời kỳ mới nhằm nâng cao chất lượng GD ởQuận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác phát triển của đội ngũ GV THCS
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp phát triển đội ngũ GV THCS của quận Ngô Quyền thànhphố Hải Phòng đến năm 2020
4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu lý luận phát triển đội ngũ GV nói chung và GV THCS nóiriêng
Nghiên cứu thực trạng đội ngũ GV THCS quận Ngô Quyền giai đoạn
2010 - 2020
Địa bàn nghiên cứu 8 trường THCS của quận Ngô Quyền thành phốHải Phòng
5 Giả thuyết khoa học
Đội ngũ GV THCS quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tuy đã đủ
về số lượng, chuẩn hoá về trình độ đào tạo song chưa đồng bộ về cơ cấu bộmôn Nếu xây dựng và thực thi được hệ thống biện pháp để phát triển độingũ GV đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu, đạt chuẩn chất lượng, sẽ giảiquyết được các mâu thuẫn trong quá trình phát triển, góp phần vào nângcao chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển sự nghiệp GD của quận vàthành phố
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 116.1 Hệ thống hoá, phân tích, tổng hợp các vấn đề lý luận về phát triển đội ngũ GV THCS.
6.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ GV và thực trạng công tác phát triển đội ngũ GV THCS quận Ngô Quyền.
6.3 Đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ GV THCS quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng từ năm 2010 đến năm 2020.
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
7.1.1 Sưu tầm sách, tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu
7.1.2 Phân tích, tổng hợp các tài liệu để xây dựng cơ sở lý luận của đềtài, nghiên cứu các loại tài liệu liên quan đến đề tài; lựa chọn những kháiniệm, luận điểm cơ bản làm cơ sở lý luận cho đề tài; hình thành giả thuyếtkhoa học, dự đoán những thuộc tính của đối tượng nghiên cứu; tổng hợpcác tài liệu để giúp cho việc xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra xã hội học
7.2.2 Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm
7.2.3 Phương pháp chuyên gia
7.3 Nhóm phương pháp hỗ trợ khác.
7.3.1 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
7.3.2 Phương pháp dự báo GD
7.3.3.Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
7.3.4 Phương pháp khảo nghiệm:
Trang 12Nhận thức của cán bộ lãnh đạo, quản lý và GV về tính cần thiết và khảthi của các biện pháp phát triển đội ngũ GV.
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ GV TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Trên thế giới
Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, các quốc gia luôn coitrọng phát triển nền GD của nước mình nhằm đáp ứng ngày càng cao vềnâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực Một nền GD tốt sẽ tạo ra mộtnguồn nhân lực tốt, nâng cao vị thế của quốc gia Thực tiễn đã chứng tỏphần lớn các nước có chỉ số HDI (chỉ số phát triển con người) cao là cácnước có hệ thống GD vào loại tốt nhất thế giới như các nước Na Uy,Oxtraylia, Canada, Thuỵ Điển, Hà Lan hoặc các nước có trình độ phát triểnnhanh ở khu vực châu Á như Hàn Quốc, Singapore, Malaysia… Để có mộtnền GD tốt, các nước đã rất coi trọng sự phát triển đội ngũ GV Tổng thống
Mỹ đã đưa ra một trong những chương trình hành động để phát triển GD đólà: để có những trường tốt nhất, phải có những GV tốt nhất Điều này cho
ta thấy vai trò chủ đạo, quyết định của đội GV trong nền GD Nhật Bản làmột trong những nước có nền kinh tế phát triển và đội ngũ tri thức đôngđảo nhất thế giới Ở Nhật trong nền GD từ thời Minh Trị Thiên Hoàng đếnnay đã thể hiện rõ đặc trưng cơ bản và thực sự nhất quán chính sách ưu đãi
và chăm lo đến cuộc sống và trình độ của GV Thầy giáo có vị trí rất quantrọng trong đời sống xã hội Nhật Bản vốn chịu ảnh hưởng của lễ giáophương Đông, với truyền thống tôn sư trọng đạo, đội ngũ GV được quantâm ưu đãi về lương bổng, phụ cấp, tiền thưởng, miễn các khoản đóng gópnghĩa vụ Nhờ vậy, Nhật Bản đã xây dựng và phát triển đội ngũ GV đủ
Trang 14sức thực hiện tốt chủ trương và chính sách phát triển GD của mình qua cácthời kỳ.
Trong lịch sử phát triển GD của các nước, nhất là các nước có nềnkinh tế và khoa học kỹ thuật phát triển đều phải có một nền GD tốt Trong
đó vai trò của đội ngũ GV mang tính quyết định đến sự tồn tại và phát triểncủa nền GD đó Vì vậy, đội ngũ GV luôn được lựa chọn, đào tạo khoa học,bài bản cùng với đó là chính sách đãi ngộ xứng đáng về vật chất và tinhthần đối với những cống hiến của họ
1.1.2 Ở Việt Nam
Trong quá trình phát triển của lịch sử dựng nước và giữ nước, vai tròcủa GD luôn đồng hành đối với sự thăng trầm của đất nước, nó luôn giữ mộtvai trò quan trọng không thể thiếu được Với truyền thống tôn sư trọng đạongười thầy luôn có một vị trí xã hội cao, được xã hội kính trọng Từ xa xưaông cha ta đã dạy: “Muốn sang thì bắc cầu Kiều, muốn con hay chữ thì yêulấy thầy”; “Muốn khôn thì phải có thầy, không thầy đố mày làm nên” Và rấtnhiều người thầy đã được nhân dân ta tôn kính thờ phụng, coi đó là một tấmgương để GD dạy dỗ thế hệ mai sau như thầy giáo Chu Văn An, thầy giáoNguyễn Trãi, thầy giáo Nguyễn Bỉnh Khiêm, thầy giáo Nguyễn Tất Thành Thể hiện ở sự cư xử rất kính trọng, từ cụ già đến trẻ nhỏ đều luôn tin tưởngvào đức độ của những người làm nghề dạy học
Nghị quyết TW 4 (khoá VII), Nghị quyết TW 2 (khoá VIII) và Kếtluận hội nghị TW 6, Nghị quyết TW 9 (khoá IV), Thông báo số242-TB/TW của Bộ chính trị về tiêp tục thực hiện Nghị quyết TW2 (khoáVIII) về công tác GD&ĐT đều coi việc phát triển đội ngũ GV như là mộtgiải pháp trọng tâm để phát triển sự nghiệp GD Đề án của Chính phủ vềxây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD giai
Trang 15đoạn (2005-2010) đều đề cập đến nhiệm vụ xây dựng đội ngũ GV tạođộng lực cho người dạy và người học.
Về xây dựng chiến lược phát triển GD trong thời kì đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước, Ban khoa giáo Trung ương đã đề ra mục tiêu xây dựng pháttriển đội ngũ (thầy giáo có phẩm chất đạo đức, phẩm chất nghề nghiệp, giỏi
về chuyên môn, phải là người hướng dẫn gợi mở các hoạt động sáng tạo).Vấn đề xây dựng phát triển đội ngũ GV được rất nhiều nhà nghiên cứu đisâu vào tìm hiểu như quản lý chuyên môn, bồi dưỡng GV, công tác thi đuakhen thưởng, thanh kiểm tra… được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoàinước đề cập Đặc biệt trong những năm gần đây nhiều luận văn thạc sĩ, tiến
sĩ đã nghiên cứu vấn đề xây dựng phát triển đội ngũ GV từ những khíacạnh khác nhau, nghiên cứu những vấn đề vướng mắc trong thực tiễn côngtác xây dựng phát triển đội ngũ GV ở các ngành học, cấp học và các địaphương khác nhau:
Ở cấp quốc gia có dự án nghiên cứu tổng thể về GD&ĐT và phântích nguồn nhân lực, mã số VIE/89/022, năm 1991- 1992 (gọi tắt là dự ántổng thể về GD) Mục đích của dự án là:
+ Đánh giá hệ thống GD về hiệu quả trong và hiệu quả ngoài
+ Đề xuất chiến lược dài hạn thích nghi với yêu cầu đang thay đổicủa xã hội và sự hạn chế về tài chính
Đề tài khoa học mã số KX-07-14 thuộc chương trình khoa học-côngnghệ cấp nhà nước, KX-07 (năm 1991- 1996) về “Bồi dưỡng và đào tạo lạiđội ngũ nhân lực trong điều kiện mới” Với mục đích đánh giá thực trạng
về tình hình bồi dưỡng và đào tạo lại các loại hình lao động hiện nay để đềxuất với nhà nước một số chính sách và giải pháp nhằm thúc đẩy việc bồidưỡng và đào tạo lại các hình thức lao động có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu
Trang 16về nhân lực cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong điềukiện mới.
Liên quan đến cấp học THCS đã có các nghiên cứu sau:
- Dự án “Tăng cường năng lực đào tạo GV”, thuộc nội dung tài trợcủa Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) Mục tiêu của dự án nhằm củng
cố năng lực các cơ sở đào tạo và tăng cường mối liên kết giữa các cơ quanTrung ương và Chính quyền địa phương tham gia đào tạo GV THCS theo 4lĩnh vực sau:
+ Xây dựng chương trình và viết giáo trình đào tạo GV THCS
+ Lập kế hoạch chiến lược đào tạo GV
+ Quản lý và tiến hành cải cách hệ thống đào tạo GV
+ Giám sát, đánh giá nhằm duy trì những nội dung cải cách trongđào tạo GV THCS
- Dự án hỗ trợ kỹ thuật xây dựng kế hoạch tổng thể GD trong giaiđoạn 2001-2010 do Ngân hàng thế giới tài trợ
- Dự án hỗ trợ Bộ GD&ĐT do Uỷ ban Châu Âu tài trợ
Ở các mức độ khác nhau, tất cả các đề tài khoa học, các dự án trênđều đề cập đến vấn đề xây dựng phát triển đội ngũ GV Tuy nhiên các côngtrình đó chủ yếu đi sâu vào những nội dung nhất định, để có giải pháp đồng
bộ hóa các biện pháp phát triển đội ngũ GV THCS ở những địa phương đangtrong giai đoạn đô thị hóa chuyển đổi GD từ huyện lên quận
Hàng năm các Sở GD&ĐT và các Phòng GD&ĐT đều có nhữngnghiên cứu khoa học hoặc thực hiện những giải pháp nhất định để xâydựng phát triển đội ngũ GV Trong những năm 1990 và đầu những năm
2000, do quy mô học sinh tăng nhanh, dẫn đến mất cân đối về nhiều mặt
Trang 17trong đó có đội ngũ GV Hầu hết các địa phương phải đối mặt với việc tăngnhanh đội ngũ GV bằng nhiều giải pháp tình thế như: Đào tạo GV cấp tốc,đào tạo lại GV những môn thừa để chuyển sang dạy nhưng môn còn thiếu.Tuyển dụng những GV trái chuyên môn hoặc những người không tốtnghiệp ở trường Sư phạm… đã làm cho chất lượng đội ngũ GV bị giảmsút Nhiều loại hình đào tạo, hình thức bồi dưỡng đã được mở rộng, thiếutính quy hoạch, kế hoạch, làm sai lệch cơ cấu đội ngũ GV Điều này khôngchỉ là trách nhiệm thuộc các địa phương mà còn là trách nhiệm của các cơquan quản lí nhà nước về GD.
Ở thành phố Hải Phòng những năm gần đây đã có một số đề tàinghiên cứu cấp ngành về đội ngũ GV phổ thông nhằm nâng cao chất lượng
GV để đáp ứng được những nhiệm vụ mới của ngành GD Hải Phòng, trongthời kì hiện nay Các nghiên cứu này đã đề cập nhiều vấn đề về thực trạngđội ngũ GV nó là cơ sở cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo bồidưỡng GV nhưng chưa sâu và cập nhật những vấn đề mới mà ngành GDphải thực hiện trong giai đoạn hiện nay Giai đoạn đổi mới nội dung chươngtrình GD phổ thông và thay SGK
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1 GV; GV THCS
Từ điển tiếng Việt – Nhà xuất bản khoa học xã hội – Hà Nội 1994, định
nghĩa: GV (danh từ) là người dạy học ở bậc học phổ thông hoặc tương đương.
Tại điều 70 Luật GD năm 2005 đã đưa ra định nghĩa pháp lý đầy đủ
về nhà giáo và những tiêu chuẩn của nhà giáo:
1 Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, GD trong nhà trườnghoặc các cơ sở GD
2 Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau:
Trang 18a Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt.
b Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ
c Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp
1.2.2 Đội ngũ, đội ngũ GV THCS
Trước hết hiểu thế nào là đội ngũ? Có nhiều quan niệm và cách hiểukhác nhau về đội ngũ Ngày nay, khái niệm đội ngũ được dùng cho các tổchức trong xã hội một cách rộng rãi như: Đội ngũ cán bộ, công chức, đội ngũtrí thức, đội ngũ y, bác sỹ… đều xuất phát theo cách hiểu của thuật ngữ quân
sự và đội ngũ, đó là: “khối đông người được tập hợp lại một cách chỉnh tề vàđược tổ chức thành lực lượng chiến đấu” Theo một nghĩa khác: “đó là mộttập hợp gồm số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp thành một lựclượng”
Theo Từ điển tiếng Việt: “đội ngũ là tập hợp một số đông người cócùng chức năng hoặc nghề nghiệp” Từ điển GD học định nghĩa “đội ngũ
GV là một tập thể những người đảm nhiệm công tác GD và dạy học có đủtiêu chuẩn đạo đức, chuyên môn và nghiệp vụ quy định Đây là lực lượngquyết định hoạt động GD của nhà trường, cho nên cần được đặc biệt quan
Trang 19tâm xây dựng mọi mặt, phải có đủ số lượng phù hợp với cơ cấu giảng dạycác bộ môn, đảm bảo tỉ lệ cân đối nam, nữ giữa độ tuổi trẻ, trung niên vàcao tuổi… Muốn có đội ngũ GV mạnh cần có cơ chế, chế độ chính sáchthoả đáng, nhất là những đơn vị GD ở vùng xa, khó khăn để từ đó phát huytiền năng của từng người, đoàn kết gắn bó mọi người thành một khối thốngnhất của những nhà sư phạm”
Khái niệm đội ngũ tuy có các cách hiểu khác nhau, nhưng đều cóchung một điểm, đó là: một nhóm người được tổ chức và tập hợp thànhmột lực lượng, để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng haykhông cùng nghề nghiệp, nhưng đều có chung một mục đích nhất định
Tổng hoà các cách hiểu trên, có thể nêu chung: đội ngũ là một tậpthể gồm số đông người, có cùng lí tưởng, cùng mục đích, làm việc theo sựchỉ huy, thống nhất, có kế hoạch, gắn bó với nhau về quyền lợi vật chấtcũng như về tinh thần
Từ những quan niệm đã nêu trên của các tác giả trong và ngoài nước,
ta có thể hiểu đội ngũ GV như sau: đội ngũ GV là một tập hợp nhữngngười làm nghề dạy học-GD, được tổ chức thành một lực lượng (có tổchức), cùng chung một nhiệm vụ, có đầy đủ các tiêu chuẩn của một nhàgiáo, cùng thực hiện các nhiệm vụ và được hưởng các quyền lợi theo Luật
GD và các luật khác được nhà nước quy định
Từ khái niệm đội ngũ GV nói chung ta còn có khái niệm đội ngũ GVriêng cho từng bậc học, cấp học, như: đội ngũ GV Mầm non, đội ngũ GVTiểu học, đội ngũ GV THCS, đội ngũ GV THPT, đội ngũ GV Dạy nghề,đội ngũ GV THCN
Tập hợp những người làm nghề dạy học, GD của một tỉnh gọi là độingũ GV của một tỉnh Hoặc tập hợp những người làm nhiệm vụ giảng dạy,
Trang 20GD ở một đơn vị trường học hay một địa phương gọi là đội ngũ GV củamột trường hay một địa phương.
Tuy nhiên cũng cần phải nêu thêm rằng: đội ngũ GV không phải là mộttập hợp rời rạc, đơn lẻ mà là một tập hợp có tổ chức, có sự chỉ huy thống nhất,
bị ràng buộc bởi trách nhiệm, quyền hạn của nhà giáo do luật pháp quy định
và người tổ chức chỉ huy chung đó là cơ quan quản lý nhà nước về GD củamột quốc gia, ở Việt Nam là Bộ GD&ĐT, ở các tỉnh là Sở GD&ĐT…
Đối với cấp THCS, đội ngũ GV THCS là tập hợp những người làmcông tác giảng dạy ở cấp THCS, phối hợp với nhau và phối hợp với lựclượng GD khác để GD học sinh, phát triển nhận thức, năng lực mà các em
đã đạt được ở tiểu học lên một tầm cao mới, giúp cho các em có đủ trình
độ, năng lực để tiếp tục học lên học THPT hoặc vào học ở các cơ sở GDnghề nghiệp
1.2.3 Quản lý GD
Quản lý GD là một khoa học quản lý chuyên ngành, trên nền tảngcủa khoa học quản lý nói chung Cũng giống như khái niệm quản lý, kháiniệm quản lý GD cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau Ở đây tác giả chỉ
đề cập tới khái niệm quản lý GD trong phạm vi quản lý một hệ thống GD
mà hạt nhân của hệ thống là các cơ sở trường học
Về khái niệm quản lý GD, các nhà nghiên cứu đã quan niệm như sau:
- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý GD thực chất là tác độngđến nhà trường, làm cho nó tổ chức tối ưu được quá trình dạy học, GD thểchất theo đường lối nguyên lý GD của Đảng, quán triệt được những tính chấtnhà trường XHCN Việt Nam, bằng cách đó tiến tới mục tiêu dự kiến, tiến lêntrạng thái chất lượng mới"
Trang 21- Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì: "Quản lý GD theo nghĩa tổng quát
là hoạt động điều hành phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩycông tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội"
- Theo tác giả Phạm Minh Hạc "Quản lý GD là hệ thống tác động cómục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ thống GD)nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý GD của Đảng thựchiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội
tụ là quá trình dạy học - GD thế hệ trẻ, đưa hệ GD tới mục tiêu dự kiến tiếnlên trạng thái mới về chất"
Những khái niệm về QLGD nêu trên tuy có những cách diễn đạtkhác nhau nhưng nhìn chung đều là sự tác động có tổ chức, có định hướngphù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý ở các cấp lên đốitượng quản lý nhằm đưa hoạt động GD của từng cơ sở và của toàn bộ hệthống GD đạt tới mục tiêu đã định
Trong quản lý GD chủ thể quản lý ở các cấp chính là bộ máy quản lý
GD từ Trung ương đến địa phương, còn đối tượng quản lý chính là nguồnnhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật và các hoạt động thực hiện chức năng củaGD&ĐT Hiểu một cách cụ thể là:
- Quản lý GD là hệ thống tác động có kế hoạch, có ý tưởng, có mụcđích của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý
- Quản lý GD là sự tác động lên tập thể GV, học sinh và các lựclượng GD trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động họ cùng phối hợp tácđộng tham gia các hoạt động GD của nhà trường để đạt mục đích đã định
Trên cơ sở lý luận chung ta thấy rằng cốt lõi của nội dung quản lý
GD là quản lý hoạt động dạy của GV và hoạt động học của học sinh nhằmđạt hiệu quả cao nhất trong việc hình thành nhân cách của học sinh
Trang 221.2.4 Phát triển, phát triển đội ngũ GV THCS
Phát triển (động từ) theo Từ điển tiếng Việt thì “phát triển là biến đổihoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từđơn giản đến phức tạp” Theo quan điểm này thì tất cả các sự vật, hiệntượng, con người và xã hội hoặc tự thân biến đổi, hoặc do bên ngoài làmcho biến đổi tăng lên cả về số lượng hoặc chất lượng đó chính là sự pháttriển Như vậy “phát triển” là một khái niệm rất rộng Nói đến “phát triển”
là người ta nghĩ ngay đến sự đi lên của sự vật, hiện tượng, con người trong
xã hội Sự đi lên đó thể hiện ở việc tăng lên về số lượng và số lượng, thayđổi về nội dung và hình thức
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, “phát triển” là một phạm trù triếthọc chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới Pháttriển là một thuộc tính phổ biến của vật chất, mọi sự vật và hiện tượng củahiện thực không tồn tại trong trạng thái bất biến, mà trải qua một loạt cáctrạng thái từ khi xuất hiện đến lúc tiêu vong Phạm trù “phát triển” thể hiệnmột tính chất chung của tất cả những biến đổi ấy Điều đó có nghĩa là bất
kỳ một sự vật, một hiện tượng, một hệ thống nào, cũng như cả thế giới nóichung không đơn giản chỉ có biến đổi mà luôn luôn chuyển sang trạng tháimới, tức là những trạng thái mà trước đây chưa từng có và không bao giờlặp lại hoàn toàn chính xác những trạng thái đã có, bởi vì trạng thái của bất
kỳ sự vật hạy hệ thống nào cũng đều được quyết định không chỉ bởi cácmối liên hệ bên trong mà còn bởi các mối liên hệ bên ngoài Nguồn gốc của
sự phát triển là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Phươngthức của sự “phát triển” là chuyển hoá những thay đổi về lượng thànhnhững thay đổi về chất và ngược lại theo kiểu nhảy vọt Chiều hướng của
sự “phát triển” là sự vận động theo hình xoáy trôn ốc
Trang 23Như vậy theo quan điểm của triết học thì: “phát triển” là quá trình vậnđộng từ thấp đến cao (từ đơn giản đến phức tạp) mà nét đặc trưng chủ yếu làcái cũ mất đi, cái mới ra đời,…“phát triển” là một quá trình nội tại, bướcchuyển từ thấp đến cao xảy ra bởi vì trong cái thấp đã chứa đựng dưới dạngtiềm tàng những khuynh hướng dẫn đến cái cao, cái cao là cái thấp đã pháttriển.
Theo quan điểm của Daid C.Korten, khi xét ở khía cạnh xã hội:
“Phát triển là một tiến trình qua đó các thành viên của xã hội tặng đượcnhững khả năng của cá nhân và định chế của mình để huy động và quản lýcác nguồn lực nhằm tạo ra những thành quả bền vững… nhằm hoàn thiệnchất lượng cuộc sống hoàn thiện với nguyện vọng của họ”
Theo quan điểm này thì “phát triển” là sự tăng trưởng, hoàn thiệnđược khả năng, tạo ra sự phù hợp của bản thân bằng cách sử dụng mọinguồn lực có thể có được Tiến trình đó không phải của riêng ai mà của cácthành viên một tổ chức, một xã hội – khái niệm này phù hợp với quanđiểm phát triển đội ngũ GV, phát triển GD
Làm cho sự vật, hiện tượng biến đổi lại thuộc khái niệm “pháttriển” Do vậy khái niệm “xây dựng phát triển” tự bản thân nó đã bao hàmnhau, không tách rời nhau, có mối quan hệ biện chứng với nhau
Thực tiễn chứng minh rằng, trong xây dựng đã có phát triển, trongphát triển phải có xây dựng Chúng ta thường nói: xây dựng nền kinh tế thịtrường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Như vậy không có nghĩa là ta đã
có một nền kinh tế thị trường chúng ta phải có thời gian, trong đó phải làmcho nền kinh tế luôn tăng trưởng, phát triển một cách bền vững
Phát triển đội ngũ GV THCS trong GD chính là phát triển một tổchức những người gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, có
Trang 24phẩm chất đạo đức trong sáng, lành mạnh, năng lực chuyên môn vữngvàng, có ý chí kiên định trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.Biết gìn giữ và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc đồng thời có khảnăng tiếp thu nền văn hoá tiến bộ của nhân loại, phục vụ tốt yêu cầu củangành GD.
Theo Điều lệ trường trung học và Thông tư số BGDĐT-BNV thì đội ngũ CBGV ở trường THCS bao gồm GV dạy 14môn học, tổng phụ trách và cán bộ QLGD (HT, PHT) đều có tham giahoạt động giảng dạy nên cũng được tính là GV Tập hợp những GVtrong một trường gọi là đội ngũ GV của trường đó Tập hợp GV toànngành của một quận, tỉnh, cả nước gọi là đội ngũ GV THCS của quận,tỉnh, nước
35/2006/TTLT-Khi nói đến đội ngũ GV THCS, ta phải hiểu và xem xét trên quanđiểm toàn diện và hệ thống Đó không phải là một tập hợp rời rạc, màcác thành tố trong đó có mối quan hệ lẫn nhau, bị ràng buộc bởi những
cơ chế, quy ước nhất định Vì vậy, mỗi tác động vào các thành tố đơn lẻcủa hệ thống vừa có ý nghĩa cục bộ, vừa có ý nghĩa trên toàn thể Nếuxét trên phương diện nguồn nhân lực thì đội ngũ GV chính là nguồnnhân lực của cấp học
Trang 25động nào đó Như phương pháp học tập, làm việc có phương pháp… Thực
ra “Khái niệm phương pháp là một phạm trù phức tạp, có phạm vi bao quátrộng với nhiều cấp độ phong phú về nội dung và chủng loại” Tuy nhiên,trong phạm vi và mức độ nghiên cứu ở đây ta có thể hiểu: để đạt được mụcđích hoặc cho ra một kết quả nào đó chúng ta cần phải có một hệ thống cáccách thức tiến hành cụ thể trong hoạt động thực tiễn hay nói cách khác làphải có biện pháp
Muốn xây dựng phát triển đội ngũ GV THCS một cách toàn diệncũng cần có một hệ thống các cách thức hoạt động thực tiễn, có các cách sửdụng trong xây dựng phát triển đội ngũ GV hay nói cách khác đó là hệthống các biện pháp
1.3 Đội ngũ GV THCS tiếp cận phát triển nguồn nhân lực
1.3.1 Vị trí, vai trò của GV THCS
GV THCS chiếm tỉ lệ trên 35% tổng số GV phổ thông, đội ngũ GV cáctrường THCS là lực lượng trực tiếp và chủ yếu thực hiện chủ trương, đườnglối, kế hoạch phát triển GD bằng hành động thực tiễn tại cơ sở GD Đó lànhững người trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ dạy học và GD được BộGD&ĐT quy định trong biên chế nhiệm vụ từng năm học, cụ thể là giảng dạytheo chương trình THCS cho đối tượng học sinh từ lớp 6 đến lớp 9
Đội ngũ GV (teaching Staff) và đội ngũ CBQL GD: quản lý các nhàtrường và quản lý các cơ quan trong hệ thống GD quốc dân có vai trò rấtquan trọng cho sự thành bại của sự nghiệp GD Sản phẩm của họ khác vớisản phẩm của loại hình lao động khác ở chỗ: sản phẩm này tích hợp cảnhân tố vật chất và tinh thần, đó là “nhân cách - sức lao động”
Thành quả lao động của họ vừa tác động vào hình thái ý thức xã hội(giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc, tình đoàn kết đồng thuận của đất
Trang 26nước), vừa hình thành sức lao động kỹ thuật, thúc đẩy sự năng động củađời sống thị trường, đây là thị trường sức lao động.
Sứ mệnh của đội ngũ GV và cán bộ QLGD có ý nghĩa cao cả đặcbiệt Họ là một bộ phận lao động tinh hoa của đất nước Lao động của họtrực tiếp và gián tiếp thúc đẩy sự phát triển đất nước, cộng đồng đi vàotrạng thái bền vững Một ngày thiếu GD đất nước không thể tồn tại được và
GD không có người thầy không thể vận động được
Đội ngũ GV THCS là một bộ phận nhân lực của hệ thống GD đangthực hiện hoạt động giảng dạy, GD trong cấp học THCS Đây là bộ phậnchủ yếu quan trọng nhất quyết định chất lượng GD ở trường THCS Nộidung của việc xây dựng phát triển đội ngũ GV THCS không nằm ngoài nộidung xây dựng phát triển đội ngũ GV nói chung; Nhưng do vị trí và vai tròcủa cấp học THCS có đặc điểm khác với các cấp, bậc học khác Do đó, độingũ GV THCS cũng có những đặc điểm riêng khác với GV Tiểu học và
GV THPT
Hiện nay ở nước ta, GV Tiểu học đảm nhận việc giảng dạy, GD theocách bố trí một GV văn hóa/1 lớp, GV đó dạy tất cả các môn của chươngtrình tiểu học GV THPT dạy chuyên sâu một môn theo chuyên ngành mà
GV đó được đào tạo GV THCS có thể dạy một môn hoặc một môn chính
và dạy thêm môn khác theo đào tạo: Toán – Lý; Lý-KTCN; Sử; GDCD; Sử- GDCD; Địa- Mỹ thuật…theo chương trình đào tạo: 70% -30%
Văn-Từ đặc điểm này đã hình thành nên hệ thống trường, lớp sư phạm đểđào tạo, bồi dưỡng GV một cách khác nhau cho từng bậc học, cấp học Cáctrường hoặc khoa sư phạm đào tạo GV Tiểu học (THSP, CĐSP tiểu học,ĐHSP tiểu học), trường CĐSP hoặc ĐHSP đào tạo GV THCS, thường đào
Trang 27tạo dạy môn chính và một môn dạy phụ (môn dạy phụ chiếm khoảng 30%thời gian đào tạo)
1.3.2 Tiếp cận lý luận phát triển nguồn nhân lực trong phát triển đội ngũ GV THCS.
Đội ngũ GV là một tổ chức, do đó có thuộc tính luôn luôn vận động
và phát triển Đội ngũ GV là nguồn nhân lực của ngành GD&ĐT; phát triểnđội ngũ GV chính là phát triển nguồn nhân lực cho GD&ĐT đó là mộttrong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác quản lý GD, của các cấpquản lý GD
Theo tác giả Đỗ Minh Cương và Nguyễn Thị Doan cho rằng “pháttriển nguồn nhân lực là tạo ra sự tăng trưởng bền vững về hiệu năng củamỗi thành viên người lao động và hiệu quả chung của tổ chức gắn liền vớiviệc không ngừng tăng lên về số lượng và chất lượng của đội ngũ”
Theo nghĩa hẹp, tác giả Nguyễn Minh Đường cho rằng “phát triểnnguồn nhân lực là quá trình đào tạo và đào tạo lại, trang bị hoặc bổ sungthêm kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để người lao động có thể hoànthành tốt nhiệm vụ hoặc để tìm một việc làm mới”
Từ điển GD học định nghĩa “phát triển nguồn nhân lực là: đào tạonghề nghiệp, hình thành những khả năng chiếm lĩnh kiến thức, tay nghề vànăng lực; quá trình nhằm cung cấp những nguồn nhân lực cho phát triểnKT-XH cho đất nước”
Qua những khái niệm trên, có thể hiểu phát triển nguồn nhân lực làlàm gia tăng các giá trị vật chất, các giá trị tinh thần, các giá trị thể chất, giátrị đạo đức để mọi người lao động có thái độ lao động tốt, có năng lực làmviệc tốt, hoàn thành nhiệm vụ của mình và hợp tác với các thành viên khácphục vụ sự phát triển của tổ chức
Trang 28Phát triển đội ngũ GV là phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vựcGD&ĐT, tạo ra một đội ngũ (tổ chức) GV đủ về số lượng, đồng bộ về cơcấu (tổ chức, độ tuổi, giới tính, dân tộc), đảm bảo về chất lượng (trình độ, tỉ
lệ đào tạo, phẩm chất, năng lực) đảm bảo thực hiện tốt các yêu cầu pháttriển GD&ĐT trong từng thời kỳ phát triển của đất nước
Phát triển đội ngũ GV THCS đáp ứng yêu cầu mới mang đầy đủ cácnội dung của công tác phát triển đội ngũ giáo GV nói chung và gắn với yêucầu cụ thể của cấp THCS trong giai đoạn hiện nay Những yếu tố cần tậptrung, quan tâm trong công tác phát triển đội ngũ GV:
+ Số lượng
+ Chất lượng
+ Cơ cấu
+ Tuyển dụng
+ Đào tạo, bồi dưỡng
1.4 Yêu cầu xây dựng và phát triển đội ngũ GV THCS trong thời
kỳ mới
Xây dựng và phát triển đội ngũ GV ở nước ta trong hoàn cảnh hiệnnay phải quán triệt các yêu cầu về phát triển nguồn nhân lực Trong cuốnQuản lý GD, nhà xuất bản Đại học sư phạm, năm 2006 tác giả Bùi MinhHiền viết:
“Mục đích, yêu cầu của việc phát triển đội ngũ GV THCS là nhằmphát triển đội ngũ GV THCS đảm bảo đủ về số lượng, mạnh về chất lượng,đồng bộ về cơ cấu và nâng cao được bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức,lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của các nhà giáogóp phần từng bước nâng cao chất lượng GD cơ sở đáp ứng với yêu cầu
Trang 29của sự phát triển GD THCS và đáp ứng với yêu cầu phát triển kinh tế xãhội của địa phương” [16; 272].
1.4.1 Đáp ứng yêu cầu về số lượng
Xây dựng phát triển đội ngũ GV THCS trong hoàn cảnh hiện nay phảiđáp ứng được những yêu cầu về nguồn nhân lực
Đủ về số lượng, số lượng GV nhìn trên sự điều hành vĩ mô, cân đốivới lực lượng lao động xã hội trong nền kinh tế Ở nước ta hiện nay cókhoảng 50 triệu lao động trong độ tuổi lao động và có khoảng 1 triệu GVnhư vậy chiếm 2% trong tổng số lao động Tỉ lệ này được đánh giá là vừaphải trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay Số lượng GV nhìn trên
sự điều hành vi mô cục bộ ở nước ta hiện nay còn chưa cân đối nơi thừa(đô thị, nơi kinh tế phát triển) nơi thiếu (vùng sâu, xa, biên giới, hải đảo…)thuộc Sở GD&ĐT tính theo quy định GV trên lớp
Đạt chuẩn về chất lượng, chuẩn về chất lượng GV hiện nay theo 3khía cạnh:
+ Chuẩn về trình độ chuyên môn sư phạm (học vấn)
+ Chuẩn về trình độ nghiệp vụ sư phạm
+ Chuẩn về đạo đức tư cách người thầy
Ở nước ta trong quá trình đổi mới GD, do phát triển mạnh các trường
sư phạm nên đã từng bước chuẩn hoá đội ngũ GV về mặt bằng cấp sư phạm.Tuy nhiên chuẩn về nghiệp vụ sư phạm theo tinh thần đổi mới phương phápdạy học mới có khoảng trên 50% GV đứng lớp đạt yêu cầu
Về đạo đức tư cách người thầy, nhìn chung đều đạt yêu cầu Chỉ cómột số rất nhỏ có những biểu hiện yếu kém về lối sống, đạo đức, tư cách
Trang 301.4.2 Đồng bộ về cơ cấu (độ tuổi, giới tính, chuyên môn, trình độ đào tạo)
Đồng bộ về cơ cấu: cơ cấu của đội ngũ GV được xét trên các sựtương thích:
- Tương thích về giới nam - nữ
- Tương thích về giảng dạy theo bộ môn
- Tương thích về tuổi đời (cả 3 độ tuổi: Dưới 35 tuổi; từ 35 tuổi đếndưới 45 tuổi; từ 45 tuổi đến 60 tuổi
- Tương thích về trình độ nghiệp vụ sư phạm (người có tay nghề cao;tay nghề khá và trung bình) Theo khía cạnh này thì cơ cấu đội ngũ GV ởnước ta còn nhiều bất cập Nước ta đang gặp những khó khăn về cơ cấu độingũ GV
- Hiện tượng nữ hoá đội ngũ GV: Mầm non 99,9%, Tiểu học 93,5%,
THCS 83.3% (Số liệu năm học 2010 - 2011).
Đó là điều không bình thường và ảnh hưởng rất lớn đến việc nângcao chất lượng của quá trình dạy học Nhiều môn học thiếu GV như Âmnhạc, Mỹ thuật, Thể dục, Kĩ thuật, nhất là môn Tin học trong các trườngTHCS
Sự phân bố GV giỏi cho các trường không đều do tác động của kinh
tế thị trường Những GV có tay nghề cao thường chuyển đến những trường
có danh tiếng, khu công nghiệp, thành phố, thị xã, thị trấn còn các vùngkhó khăn xa xôi hẻo lánh thì đội ngũ GV giỏi rất ít
Vì vậy Nhà nước ta cần không ngừng hoàn thiện chính sách đội ngũ
GV đáp ứng cho yêu cầu chuẩn hoá nền GD Việc cấp thiết là phải hiện đạihóa công tác đào tạo, bồi dưỡng GV, hiện đại hóa các trường sư phạm; cấp
Trang 31học bổng cho sinh viên học các trường sư phạm để thu hút người tài vàotrường sư phạm; có chính sách ưu đãi, luân chuyển, phân công GV đi côngtác tại các vùng sâu, xa, biên giới hải đảo.
1.4.3 Nâng cao về chất lượng
Nâng cao chất lượng đội ngũ là một yêu cầu cấp thiết và thườngxuyên được thể hiện trên các lĩnh vực:
- Phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống của người GV thể hiện: phẩmchất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, ứng xử với học sinh, ứng xử với đồngnghiệp, lối sống, tác phong
- Trình độ đào tạo: do yêu cầu ngày càng cao của đổi mới chương trình
GD phổ thông người GV không những có trình độ đạt chuẩn CĐSP nhưngbên cạnh đó phải có trình độ trên chuẩn như ĐHSP, sau đại học
- Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ như: năng lực xây dựng kế hoạchdạy học và GD, kế hoạch các hoạt động khác, năng lực thực hiện kế hoạchdạy học, năng lực thực hiện kế hoạch GD, năng lực kiểm tra, đánh giá kếtquả học tập và rèn luyện đạo đức;
- Năng lực hoạt động chính trị xã hội: phối hợp với gia đình và cộngđồng; tham gia các hoạt động chính trị xã hội
- Năng lực phát triển nghề nghiệp: tự đánh giá, tự học và rèn luyện;phát hiện và giải quyết vấn đề
1.5 Nội dung phát triển đội ngũ GV THCS
1.5.1 Quy hoạch, lập kế hoạch phát triển đội ngũ GV THCS
- Quy hoạch: có nhiều quan niệm về quy hoạch ở trên thế giới có cónhững điểm giống nhau và khác nhau:
Trang 32Ở Liên Xô và các nước Đông âu trước đây đã quan niệm quy hoạchchính là tổng sơ đồ phát triển và bố trí lực lượng sản xuất.
Ở Trung Quốc lại quan niệm quy hoạch là dự báo kế hoạch phát triển
và chiến lược quyết định các hoạt động đó đạt tới mục tiêu, qua đó quyếtđịnh các mục tiêu và biện pháp mới
Ở nước ta (theo Từ điển Tiếng Việt) quy hoạch là sự bố trí, sắp xếptheo một trình tự hợp lý trong từng thời gian làm cơ sở cho việc lập kếhoạch dài hạn
Quy hoạch phát triển GD là quy hoạch ngành và là một bộ phận củaquy hoạch phát triển kinh tế- xã hội nói chung Trên cơ sở lý luận chung thìquy hoạch phát triển GD-đào tạo là một bản luận chứng khoa học dựa trên
cơ sở đánh giá, phân tích thực trạng GD hiện tại, dự đoán nắm bắt những cơhội, tiên đoán xu thế phát triển GD của đất nước để xác định quan điểm,phương pháp, mục tiêu GD của đơn vị từ đó đưa ra những giải pháp pháttriển và phân bố hệ thống GD&ĐT của địa phương, chỉ rõ yêu cầu về chấtlượng GD&ĐT, phát triển đội ngũ GV, cán bộ QLGD…
Kế hoạch là sự sắp đặt, hoạch định đường lối có hệ thống của nhữngcông việc dự định làm Kế hoạch là chương trình dự định làm, là sự cụ thểhoá một việc hoặc nhiều mục tiêu trong phạm vi không gian, thời gian vànguồn lực nhất định Kế hoạch là sự tiên đoán những sự kiện cụ thể, chi tiếtcủa tương lai bằng việc xác định các mục tiêu cụa thể, chính xác; nêu rõnhiệm vụ, con đường và phương tiện thực hiện Có sự cân đối giữa các mụctiêu và nguồn lực để đạt được kết quả có thể đánh giá và định hướng đượcvới nguồn lực để và sử dụng tối ưu Ngoài việc sử dụng tối ưu các nguồnlực, kế hoạch phải đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ, hợp lý giữa những người
và những cơ quan tham gia thực hiện kế hoạch
Trang 331.5.2 Tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ GV THCS
1.5.2.1 Tuyển chọn
Việc tuyển chọn GV vào biên chế phải đảm bảo được những yêu cầu
đủ về số lượng từng môn cấp THCS Giảm tối đa hiện tượng dạy chéo ban,dạy kê đệm không đảm bảo chất lượng giảng dạy
GV được tuyển chọn phải đạt chuẩn về chất lượng, về trình độchuyên môn sư phạm, về nghiệp vụ sư phạm, chuẩn về đạo đức tư cáchngười thầy
Muốn vậy phương thức tuyển chọn là hết sức quan trọng, tuỳ từng đơn
vị, từng vùng mà có những phương thức tuyển chọn phù hợp Có thể xéttuyển, thi tuyển và kết hợp cả hai hình thức thi tuyển và xét tuyển Nhất làquy trình thực hiện phải đảm bảo được tính minh bạch rõ ràng, xây dựngquy chế và thông báo rộng rãi, công khai về số lượng, điều kiện tuyểnchọn, về hồ sơ, về thời gian nhằm đảm bảo công bằng trong tuyển chọn.Hội đồng tuyển chọn bao gồm các nhà lãnh đạo của Sở GD&ĐT, PhòngGD&ĐT, các GV giỏi có kinh nghiệm, có phẩm chất đạo đức tốt, kết hợpvới Phòng Nội vụ Để đảm bảo đủ về số lượng, hàng năm Phòng GD&ĐT
và Phòng Nội vụ phối hợp chặt chẽ hướng dẫn các trường xây dựng kếhoạch biên chế trình UBND quận phê duyệt
Việc tuyển chọn cũng cần có những biện pháp, cách thức chế độ đãi ngộvới những GV tuyển dụng, nhằm khuyến khích động viên, tạo điều kiện thuậnlợi cho họ yên tâm công tác
1.5.2.2 Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ
Do đặc thù công việc, GV phải thường xuyên được bồi dưỡng để hoànthành nhiệm vụ và nâng cao trình độ, nghiệp vụ chuyên môn Việc bồi
Trang 34dưỡng càng được quan tâm thì càng tạo sự năng động, sáng tạo cho GV vàtránh được sức ỳ, tự thoả mãn của GV Theo đánh giá chung, hiện nay côngtác bồi dưỡng của GV phổ thông chưa đáp ứng được yêu cầu của cải cách
GD và đổi mới phương pháp, nhất là GV THCS
Việc bồi dưỡng phải kết hợp tự bồi dưỡng, tự đào tạo Bồi dưỡng phảitheo nguyên tắc:
+ Thống nhất giữa bồi dưỡng chính trị, tư tưởng, nghiệp vụ và nhiệm
vụ thực tiễn đặt ra
+ Khuyến khích, tạo điều kiện cho GV tăng cường tự học
+ Tận dụng thành tựu mới nhất của khoa học GD và kinh nghiệm tiêntiến để GV sớm tiếp cận Đặc biệt là công nghệ thông tin
Nội dung đào tạo bồi dưỡng bao gồm chính trị, tư tưởng, quan điểmđường lối của Đảng nắm bắt thời sự, xu thế phát triển của đất nước, thờiđại Bồi dưỡng về văn hoá, Ngoại ngữ, kiến thức khoa học kỹ thuật, kiếnthức chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, trao đổi kinh nghiệm, thảo luậnchuyên đề….bồi dưỡng qua học tập có hệ thống
1.5.2.3 Đánh giá GV theo chuẩn nghề nghiệp
Đánh giá GV là khâu quan trọng, là một phương pháp để xếp loại,phân loại đội ngũ GV trong từng năm học Điều này nếu làm tốt sẽ có mộttác động rất tốt với việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ sư phạm,thúc đẩy người GV tự bồi dưỡng kiến thức, rèn luyện chuyên môn nghiệp
vụ, đạo đức tư cách tác phong của người thầy trong quá trình dạy học.Đánh giá GV là đảm bảo quyền lợi chính đáng cho người dạy Đó là quyềnđược khẳng định bản thân về những thành tích đạt được trong hoạt động
GD và dạy học, được xã hội tôn vinh, phụ huynh, học sinh, đồng nghiệptôn trọng Việc đánh giá xếp loại đội ngũ GV phải tuân theo một quy trình
Trang 35hợp lí có tính thống nhất, tính minh bạch, đảm bảo được sự công bằng vàquyền lợi cho từng GV nếu không có sự công bằng minh bạch nhiều khi lại
có tác dụng xấu, đánh giá không đúng sẽ gây ức chế đối với GV làm mấtlòng tin, uy tín của các nhà quản lý GD ở trường THCS thì việc kiểm trađánh giá xếp loại GV được thực hiện như sau
- Năng lực xây dựng kế hoạch dạy học và GD: các kế hoạch dạy họcđược xây dựng theo hướng tích hợp dạy học với GD thể hiện rõ mục tiêu,nội dụng, phương pháp dạy học phù hợp với đặc thù môn học, đặc điểmhọc sinh và môi trường GD; phối hợp hoạt động học với hoạt động dạytheo hướng phát huy tính tích cực nhân thức của học sinh
Kế hoạch các hoạt động khác (công tác chủ nhiệm lớp, công tácĐoàn TNCS Hồ Chí Minh, công tác Đội, công tác khác khi được phâncông) được xây dựng đảm bảo tính khả thi, sát hoàn cảnh và điều kiện, khảnăng hợp tác, cộng tác
- Năng lực thực hiện kế hoạch dạy học: đảm bảo kiến thức môn học;đảm bảo chương trình môn học; vận dụng các phương pháp dạy học; sửdụng các phương tiện dạy học; xây dựng môi trường học tập; quản lý hồ sơdạy học
- Năng lực thực hiện kế hoạch GD: GD qua môn học; GD qua cáchoạt động GD khác; GD qua các hoạt động trong cộng đồng; vận dụng cácnguyên tắc, phương pháp, hình thức tổ chức GD
- Năng lực kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và rèn luyện đạo đức:Đánh giá kết quả học tập;đánh giá kết quả rèn luyện đạo đức;
- Năng lực hoạt động chính trị xã hội: phối hợp với gia đình và cộngđồng; tham gia các hoạt động chính trị xã hội
Trang 36- Năng lực phát triển nghề nghiệp: tự đánh giá, tự học và rèn luyện;phát hiện và giải quyết vấn đề.
Việc đánh giá GV thông qua hình thức thanh tra, kiểm tra định kỳ vàđột xuất:
+ Kiểm tra việc chuẩn bị dạy học (giáo án phương tiện )
+ Dự giờ có báo trước hoặc không báo trước
+ Kiểm tra việc hướng dẫn học sinh học tập
+ Kiểm tra kế hoạch GD học sinh ngoài giờ lên lớp
+ Kiểm tra qua thăm dò ý kiến của phụ huynh học sinh
+ Kiểm tra thông qua nhận xét của tổ, nhóm chuyên môn các tổ chức
+ Kiểm tra nhằm tìm ra nguyên nhân của các hiện tượng (tại sao chấtlượng giờ dạy thấp, học sinh chán học ?)
+ Kiểm tra có ý nghĩa lâu dài là tạo nên động lực tự kiểm tra đối vớitrách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi cá nhân Kiểm tra với hình thức nào cũngcần có đánh giá kịp thời nhằm giúp cho GV thấy được mức độ phấn đấucủa mình Tránh tâm lí gò bó, áp đặt đối với GV trong quá trình kiểm trahoạt động dạy học, GD dẫn tới các hình thức đối phó
Trang 37Để đạt được mục đích kiểm tra đánh giá phải nắm bắt được các nguồnthông tin, đặc biệt là thông tin ngược một cách toàn diện, đầy đủ, kháchquan để đề ra các quyết định đúng đắn phù hợp và từ đó cho từng cá nhânthấy được những ưu, nhược điểm của mình để có biện pháp tự điều chỉnhhoặc người kiểm tra đánh giá giúp họ điều chỉnh nhằm một mục đích chobản thân được hoàn thiện hơn, thực hiện tốt nhiệm vụ GD góp phần cùngtập thể nhà trường phát triển.
1.5.3 Sử dụng có hiệu quả đội ngũ hiện có
Công việc này hiện nay trong thực tế ở cấp THCS diễn ra rất phức tạp
do đặc điểm cấp THCS về GV cũng rất khác nhau về trình độ, về nơi đàotạo, về bộ môn đảm nhiệm Những GV xin thuyên chuyển không theo đúngnguyên tắc, không đúng với yêu cầu chuyên môn hoặc nhu cầu sử dụng củanhà trường; mặt khác quy mô của các trường THCS không đồng đều một
số trường nhỏ, lớp ít nên trong một nhà trường có thể thừa GV bộ môn nàynhưng lại thiếu GV ở bộ môn khác làm các bộ môn không đồng bộ, khôngđảm bảo yêu cầu, số GV giảng dạy chéo ban nhiều
Bố trí sử dụng đội ngũ GV phải có một cơ chế rõ ràng Sự bố trí sửdụng phải đảm bảo phù hợp với trình độ chuyên môn, năng lực công tác vàyêu cầu công việc của nhà trường Sự bố trí sử dụng phải là sự kết hợp chặtchẽ có tính thống nhất, hợp lí giữa Phòng Nội vụ với Phòng GD&ĐT vàBGH các trường THCS, cần tiến hành một cách công khai rõ ràng khôngphải vì bất cứ lí do nào mà chỉ để sử dụng đúng, tốt, hợp lí đội ngũ GV để
họ phát huy được khả năng chuyên môn, thuận lợi trong công việc phâncông chuyên môn và đảm bảo tốt chất lượng GD
1.5.4 Tạo môi trường, động lực làm việc và khuyến khích sự phát triển đội ngũ GV
Trang 38Môi trường làm việc của đội ngũ GV quan trọng nhất đó là xây dựngđược một bầu không khí dân chủ, cởi mở Trong đó mối quan hệ đoàn kếtphải có tính hợp tác giữa các đồng nghiệp, giữa Ban giám hiệu với cán bộ
GV nhân viên nhà trường, mối quan hệ giữa GV với học sinh, phụ huynhhọc sinh và giữa nhà trường với các tổ chức xã hội khác trong địa phương
Sự đoàn kết đây là phẩm chất rất cần thiết của người GV, sự khiêm tốn họchỏi, sống chan hoà với đồng nghiệp trong nhà trường là phẩm chất cao đẹpcủa người thầy Trong thời đại ngày nay, xu hướng hoà bình, hợp tác là xuhướng chung của toàn cầu, ở ngay một đơn vị nhỏ xu hướng ấy càng cầnthiết để tạo ra cộng đồng tập thể vững mạnh giúp cho mỗi thành viên cóđiều kiện vươn lên Thực tế hiện nay một số GV sống ích kỉ, tự coi mình làhơn đồng nghiệp, chính họ đã đánh mất mình trước tập thể, kiến thức taynghề chuyên môn bị tụt hậu Trong các nghề thì nghề thầy giáo đức tínhkhiêm tốn, chịu khó học hỏi, đoàn kết đồng nghiệp, nhiệt tình đóng gópcông sức xây dựng nhà trường vững mạnh là rất cần thiết vì nghề thầy giáo
là nghề cao quý nhất
1.5.5 Đảm bảo cơ chế, chính sách đãi ngộ đội ngũ GV
Chính sách đãi ngộ nhà giáo theo Quyết định 244/QĐ-TTg của Thủtướng Chính phủ quy định về chế độ phụ cấp với GV đứng lớp đối vớiMầm non là 35% lương; GV trung học là 30% lương; ngoài ra còn có phụcấp khu vực đối với GV vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo một số địaphương có nhà công vụ, nhà tập thể, cấp đất ở cho GV ổn định chỗ ở đểcông tác lâu dài tại địa phương
1.6 Một số kinh nghiệm phát triển đội ngũ GV THCS
Tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội và truyền thống vănhoá GD mà mỗi nước có những đặc điểm khác nhau về cơ cấu hệ thốngloại hình đào tạo, phân chia thời gian các bậc học trong đó có bậc THCS
Trang 39Song nhìn chung hệ thống GD các nước đều đã và đang phát triển theohướng hiện đại hoá hội nhập với xu hướng phát triển chung của thế giớinhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và hợp tác trongcác lĩnh vực GD&ĐT và kinh tế xã hội giữa các nước, các khối nướckhác nhau.
Nhật Bản hiện có đội ngũ GV phổ thông gần 1 triệu người, trong đó
GV THCS khoảng 260 nghìn Sinh viên tốt nghiệp CĐ, ĐH để trở thành
GV phải có bằng chứng nhận GV do một cơ quan có thẩm quyền của nhànước cấp Bằng chứng nhận GV được cấp cho từng cấp, bậc học Để nhậnđược bằng, mỗi thí sinh phải học thêm các đơn vị học trình trong bachương trình khác nhau là: trình độ cơ sở; chuyên môn sẽ giảng dạy; cácchương trình nghiệp vụ, kể cả thực tập Bằng GV được cấp cho các thí sinh
có hiệu lực trên toàn đất nước Nhật Bản, ở tất cả các loại hình trường củamọi tổ chức (Chính phủ, phi Chính phủ ) Tuy nhiên sau 12 tháng đượccấp bằng, nếu thí sinh không được tuyển dụng thì bằng GV sẽ hết hiệu lực;muốn trở thành GV, thí sinh phải tiếp tục thi lấy bằng mới
Malaysia: là nước rất chú trọng đến xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội,
đặc biệt là lĩnh vực GD&ĐT Bộ GD là bộ lớn nhất được đầu tư kinh phí,ngân sách lớn nhất Trong GD đã đề cao kiến thức khoa học công nghệ đàotạo tay nghề đặc biệt tiếng Anh được sử dụng là ngôn ngữ chính trongtrường học Chính sách phát triển GD thoả mãn nhu cầu đa dạng của cácthành phần dân tộc trong cộng đồng Phát triển GD&ĐT nguồn nhân lựclao động kĩ thuật cho phù hợp với quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế từnông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ Đến nay Malaysia là nước cótrình độ phổ cập THCS với số năm đi học trung bình là 11 năm Malaysiađặc biệt chú ý đến các chương trình đào tạo phi chính quy với nhiều hình
Trang 40thức đào tạo đa dạng để huấn luyện kĩ năng và tay nghề của lực lượng laođộng đông đảo
Hoa Kì: định hướng chính sách phát triển GD nước Mĩ hướng đến
thế kỉ XXI đặc biệt quan tâm đến yêu cầu xây dựng nền GD trên nềntảng công nghệ thông tin, xã hội tri thức để đáp ứng và đón đầu sự pháttriển của nền kinh tế Mĩ trong thế kỉ XXI Hệ thống GD Mĩ là hệ thống
GD khá điển hình ở một nước có trình độ – khoa học, công nghệ pháttriển kinh tế cao theo hướng thị trường Nền GD Mĩ đã góp phần đáng kểcung cấp cho xã hội Mĩ đông đảo những tri thức, những nhà khoa học,cũng như hàng triệu công nhân kĩ thuật lành nghề góp phần phát triểnnền kinh tế Mĩ qua nhiều thời kì để trở thành cường quốc kinh tế, khoahọc – công nghệ trên thế giới Nguyên nhân thành công này nằm ở hệthống quản lý GD, việc quản lý hệ thống GD thuộc quyền của chínhquyền các địa phương và các bang Khi định hướng đưa GD Hoa Kỳ lênhàng đầu thế giới đã lấy giải pháp GV làm then chốt Họ chủ trương tiêuchuẩn hóa, chuyên nghiệp hóa và nâng cao chất lượng GV trên tất cả cácmặt vị thế nghề nghiệp và nhân cách xã hội
Trung Quốc: Trung Quốc có hệ thống GD lớn nhất thế giới với 240,13
triệu học sinh trong đó có 139,95 triệu học sinh tiểu học, 60,18 triệu học sinhtrung học Tổng số GV là 11,4 triệu người trong đó 9 triệu là GV tiểu học vàtrung học Bậc trung học chia làm hai cấp THCS 3 năm, THPT 3 năm Toàn
bộ trẻ em được học chương trình phổ cập bắt buộc 9 năm bao gồm tiểu học vàTHCS
Cơ cấu GD trung học của Trung Quốc được phân làm hai luồng chính
là GD phổ thông và GD nghề nghiệp bao gồm hai cấp sơ trung và caotrung GD phổ thông tiến hành trong các trường trung học và trường caotrung GD nghề nghiệp tiến hành trong các trường trung học chuyên ngành,