1.2.3.2 Vai trò của GVCN Để hoàn thành những nhiệm vụ giáo dục theo các mục tiêu chung củanhà trường, GVCN có các vai trò sau: GVCN là người quản lý giáo dục toàn diện học sinh một lớp:
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH - LUẬN VĂN Trương Công Vũ
CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC (BẬC TIỂU HỌC)
Mã số: 60.14.01
Giáo viên hướng dẫn: PGS-TS NGUYỄN BÁ MINH
VINH-12/2011
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
PGS.TS.Nguyễn Bá Minh là người trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất
nhiều trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này Tôi xin gửi lờicảm ơn tới quý thầy cô giáo khoa Sau Đại học, khoa Giáo dục - Trường Đạihọc Vinh và quý thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy lớp Cao học 17, chuyênngành Giáo dục học (Bậc tiểu học)
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏinhững thiếu sót nhất định Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đónggóp của quý thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn !
Thành Phố Hồ Chí Minh- tháng 01 năm 2012
Tác giả
Trang 3
MỤC LỤC
Phụ bìa 1
Lời cảm ơn 2
Mục lục 3
- Trang 03 Danh mục chữ viết tắt được dùng trong luận văn 7
MỞ ĐẦU 1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 8
- Trang 09 2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: 9
3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: 9
3.1 Khách thể nghiên cứu: 9
3.2 Đối tượng nghiên cứu: 9
- Trang 10 4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU: 9
- Trang 10 5 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC: 9
Trang 4
- Trang 10 6 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: 9
- Trang 10 6.1 Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận: 9
- Trang 10 6.2 Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn: 9
- Trang 10 6.3 Đề xuất các biện pháp 9
- Trang 10 7 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 10
- Trang 11 7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận 10
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 10
- Trang 11 7.3 Phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu thu được (phương pháp toán thống kê ) 10
8 CẦU TRÚC LUẬN VĂN: (gồm 3 chương) 10
- Trang 11
Trang 5NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 11
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 11
- Trang 12 1.2 Một số khái niệm cơ bản: 12
- Trang 13 1.2.1 Trường tiểu học 12
- Trang 13 1.2.2 Giáo viên tiểu học 14
- Trang 15 1.2.3 Giáo viên chủ nhiệm (GVCN) lớp 15
- Trang 16 1.2.4 Chất lượng công tác chủ nhiệm 18
- Trang 19 1.2.5 Học sinh tiểu học 21
Trang 6
- Trang 22 1.3 Công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên tiểu học: 25
1.3.1 Mục tiêu của công tác chủ nhiệm lớp 26
- Trang 27 1.3.2 Nội dung của công tác chủ nhiệm lớp 30
- Trang 31 1.3.3 Phương pháp thực hiện công tác chủ nhiệm lớp 30
1.4 Nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên tiểu học: 33
1.4.1 Những yêu cầu về công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên tiểu học: 33
1.4.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên tiểu học 35
1.4.3 Những biện pháp nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên tiểu học 40
1.5 Kết luận chương 1: 45
- Trang 46
Trang 7Chương 2:
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP
CỦA GIÁO VIÊN TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 1,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Giới thiệu về quá trình tổ chức nghiên cứu thực trạng .46
2.1.1 Mục đích nghiên cứu thực trạng .46
- Trang 47 2.1.2 Nội dung nghiên cứu 46
- Trang 47 2.1.3 Tiêu chuẩn và thang đánh giá .46
- Trang 47 2.1.4 Địa bàn, thời gian nghiên cứu thực trạng .47
- Trang 48 2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng .47
- Trang 48 2.2.1 Kết quả khảo sát chất lượng công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên tiểu học (Khảo sát CBQL,Giáo viên và phụ huynh học sinh) 50
2.2.2 Kết quả khảo sát nhận thức của giáo viên tiểu học về công tác chủ nhiệm lớp 53
Trang 82.2.3 Kết quả khảo sát các biện pháp đã được sử dụng
để nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm lớp 55
2.2.4 Kết quả khảo sát những khó khăn - thuận lợi trong công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên tiểu học 56
2.3 Nguyên nhân thực trạng .58
- Trang 59 2.4 Kết luận chương 2 .59
- Trang 60 Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP CỦA GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp: 60
- Trang 61 - Mục tiêu: 60
.- Trang 61
Trang 9- Tính khoa học 60
- Trang 61 - Hệ thống 60
- Trang 61 - Khả thi 60
- Trang 61 3.2 Các biện pháp nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên tiểu học: 61
3.2.1 Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên vể công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên tiểu học: 61
3.2.2 Xây dựng kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp: 62
- Trang 63 3.2.3 Tổ chức các nhóm tự quản: 74
- Trang 75
Trang 103.2.4 Xây dựng nội dung, cơ chế phối hợp giữa giáo viên
chủ nhiệm lớp với các lực lượng giáo dục khác: 76
3.2.5 Tăng cường kiểm tra – đánh giá việc thực hiện công tác chủ nhiệm: 81
3.3 Tổ chức khảo nghiệm tính khả thi .85
- Trang 86 3.4 Kết luận chương 3 90
- Trang 91 KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 91
- Trang 92 TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
- Trang 96 PHỤ LỤC 97
Trang 11
- Trang 98
Trang 12
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 13MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Công tác chủ nhiệm lớp là một hoạt động không thể thiếu của giáo viêntiểu học, việc này ảnh hưởng lớn đến chất lượng học tập và đạo đức của họcsinh, để đào tạo những công dân tốt cho xã hội Vì vậy công tác chủ nhiệmlớp trong trường tiểu học chính là nền tảng để giáo dục học sinh về học tập vàđạo đức, góp phần đào tạo thế hệ trẻ trở thành những con người mới XHCN
có ích cho đất nước mai sau:
Trước đây, Nhà nước và Đảng cũng đã quan tâm đến sự nghiệp giáodục Bác Hồ đã nói “ Vì lợi ích 10 năm trồng cây – vì lợi ích trăm năm trồngngười”, trong Hội nghị lần 7 BCH/TW khóa VII Đảng CSVN đã quyết địnhđưa nền kinh tế nước ta phát triển theo hướng CNH-HĐH , trong đó hết sứccoi trọng nhân tố con người, Nghị quyết TW2 – khóa VIII Đảng ta khẳngđịnh “Giáo dục – Đào tạo là quốc sách hàng đầu”
Nhiệm vụ cơ bản của GD-ĐT là hình thành và phát triển nguồn nhânlực phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước
Trong thời gian gần đây, qua thực trạng xã hội đã cảnh báo chất lượnghọc tập và đạo đức của học sinh đang giảm sút trầm trọng, nhất là đạo đứchọc sinh Đã xảy ra bạo lực học đường, đã tổ chức nhiều băng nhóm trong nhàtrường với những hoạt động không lành mạnh, đua đòi, tiêm nhiễm nhữngthói hư tật xấu…
Để ngăn chặn những thói hư tật xấu và điều chỉnh chất lượng học tậpcũng như hành vi đạo đức của học sinh trong nhà trường, yêu cầu cấp báchđòi hỏi, cần có định hướng tốt cho học sinh
Là Hiệu trưởng một trường tiểu học, thấy rõ được trách nhiệm của
mình nhằm góp phần xây dựng thế hệ trẻ nên tôi chọn đề tài: “MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP CỦA
GIÁO VIÊN TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 1- TP.HCM”.
Trang 142 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm lớpcủa giáo viên tiểu học nhằm góp phần thực hiện thành công mục tiêu giáo dụchọc sinh tiểu học toàn diện của nhà trường tiểu học
3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên tiểu học
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm lớp của giáoviên tiểu học trên địa bàn quận 1 – TPHCM
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Chỉ khảo sát thực trạng chất lượng công tác chủ nhiệm lớp của giáoviên tiểu học trên địa bàn quận 1 – TPHCM
5 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu đề xuất và thực hiện được những biện pháp có cơ sở khoa học phùhợp với thực tiễn thì có thể góp phần nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệmlớp của giáo viên tiểu học trên địa bàn quận 1 – TPHCM
6 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
6.1 Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu cơ sở lý luận của các biện pháp nâng cao chất lượng côngtác chủ nhiệm lớp của giáo viên tiểu học
6.2 Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn
Khảo sát thực trạng nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm lớp củagiáo viên tiểu học
6.3 Đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên tiểu học
Dựa vào thực trạng, đề ra các biện pháp tối ưu, khả thi giúp GVCN lớpthực hiện tốt công tác chủ nhiệm lớp
Trang 157 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp phân tích- tổng hợp lý thuyết; phân loại- hệthống hóa và cụ thể hóa lý thuyết qua nghiên cứu những tài liệu có liên quan
để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhằm xây dựng cơ sở thực tiễn cho đề tài Sử dụng các phương phápnghiên cứu sau đây:
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp phỏng vấn, trao đổi
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
7.3 Phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu thu được (phương pháp toán thống kê )
8 CẦU TRÚC LUẬN VĂN: (gồm 3 chương)
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC CHỦ
NHIỆM LỚP CỦA GIÁO VIÊN TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 1,THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG
TÁC CHỦ NHIỆM LỚP CỦA GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
Trang 16và “Trái tim tôi dâng hiến cho trẻ”; của V.L.Lêômiđôva với tác phẩm: “Từnhà đến trường”; của I.K.Mariencô với tác phẩm: “Giáo dục đạo đức cho họcsinh”.
Ở Việt Nam khi đề cập đến công tác giáo viên chủ nhiệm lớp đã cómột số nghiên cứu của các tác giả tiêu biểu sau:
- Cải tiến việc quản lý đội ngũ Giáo viên chủ nhiệm của Hiệu trưởngtrường phổ thông (đề tài cấp trường) của Lưu Xuân Mới (chủ nhiệm đề tài).Trường cán bộ quản lý Giáo dục và Đào tạo, HN 1998
- Giáo dục học (Chương XVI Người giáo viên chủ nhiệm lớp) củaPhạm Viết Vượng NXB Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2004
- Phương pháp công tác của người giáo viên chủ nhiệm ở trường THPTcủa Hà Nhật Thăng (chủ biên) NXB Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2004
- Công tác Giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông của Hà NhậtThăng (chủ biên) NXB Giáo dục, Hà Nội
Trong nhiều hội thảo khoa học, trên tạp chí khoa học Giáo dục vấn đề
về công tác chủ nhiệm lớp đã được nhiều nhà sư phạm nhà nghiên cứu đềcập:
- Tại hội thảo bàn về công tác chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông do Bộgiáo dục và đào tạo tổ chức vào tháng 8/2010 vừa qua có nhiều bài viết củacác nhà khoa học và các nhà quản lý giáo dục có giá trị, có thể kể đến:
Trang 17+ “Nâng cao chất lượng công tác giáo viên chủ nhiệm lớp đáp ứng yêucầu đổi mới giáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay” của PGS.TS BùiVăn Quân
+ “Phương hướng nâng cao năng lực giáo dục cho đội ngũ giáo viênchủ nhiệm lớp ở trường phổ thông” của PGS.TS Nguyễn Dục Quang
+ “Nâng cao năng lực làm công tác chủ nhiệm cho giáo viên” củaPGS.TS Nguyễn Văn Khôi
+ “Sứ mệnh và vai trò của giáo viên chủ nhiệm” của PGS.TS MạcVăn Trang
- Nguyễn Lân với công trình nghiên cứu: “Công tác chủ nhiệm lớp” đã
đề cập tới những vấn đề về vị trí, vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn của ngườigiáo viên chủ nhiệm lớp
- Rèn luyện một số kĩ năng làm công tác giáo viên chủ nhiệm cho sinhviên cao đẳng sư phạm của Vũ Đình Mạnh Tạp chí GD số 126 (11/2005)
- Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng làm công tác giáo viên chủ nhiệmlớp cho sinh viên cao đẳng sư phạm của Vũ Đình Mạnh Tạp chí GD số 135(Kỳ 1- 4/2006)…
Nhìn chung, các tài liệu, công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mứckhái quát chung công tác giáo viên chủ nhiệm, chưa đi sâu và đề xuất cácbiện pháp quản lý cụ thể Cho nên vấn đề này vẫn cần phải được tiếp tục đầu
tư nghiên cứu
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Trường tiểu học
1.2.1.1 Vị trí của trường tiểu học
Điều lệ trường tiểu học đã xác định: Trường tiểu học là cơ sở giáo dụccủa bậc tiểu học, bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân (điều 2).Trường tiểu học là nơi diễn ra hoạt động của giáo viên và học sinh tiểu học, lànơi thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học Vì thế mà trường tiểu học được xem
là cơ sở giáo dục của bậc tiểu học
Trang 18Khi xây dựng một ngôi nhà, người ta rất chú ý đến nền móng của nó.Nền móng có vững chắc thì ngôi nhà đó mới vững chắc Các công trình cànglớn, càng đồ sộ thì nền móng phải được gia công nhiều hơn Có điều, phầnnền móng lại thường nằm sâu trong lòng đất, không có ai cũng thấy hết đượcgiá trị quan trọng của nó.
Bậc tiểu học chính là nền móng của ngôi nhà giáo dục, là bậc học nền tảng,đặt cơ sở ban đầu cho sự hình thành, phát triển toàn diện nhân cách conngười, đặt nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông và cho toàn bộ hệthống giáo dục quốc dân
1.2.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của trường tiểu học
Theo điều lệ, trường tiểu học có 7 quyền hạn sau:
- Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo chươngtrình giáo dục tiểu học do Bộ GD-ĐT ban hành
- Huy động trẻ đúng độ tuổi vào lớp 1, vận động trẻ em bỏ học đến trường,thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục tiểu học và tham gia xóa mù chữ trongphạm vi cộng đồng
- Quản lý giáo viên, nhân viên và học sinh
- Quản lý, sử dụng đất đai, trường sở, trang thiết bị và tài chính theo quyđịnh của pháp luật
- Phối hợp với gia đình học sinh, các tổ chức và cá nhân trong cộng đồngthực hiện các hoạt động giáo dục
- Tổ chức cho giáo viên, nhân viên và học sinh tham gia các hoạt động xãhội trong phạm vi cộng đồng
- Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
1.2.1.3 Mục tiêu của trường tiểu học
Mục tiêu chung:
Luật giáo dục 2011 ghi rõ: “Giáo dục tiểu học giúp học sinh hình thànhnhững cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ,
Trang 19thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơsở.
Mục tiêu cụ thể:
- Học xong bậc tiểu học học sinh phải đạt các yêu cầu sau:
- Có lòng nhân ái mang bản sắc con người Việt Nam, yêu quê hương,đất nước, hòa bình và công bằng, bác ái, kính trên, nhường dưới, đoàn kết vàsẵn sàng hợp tác với mọi người; có ý thức và bổn phận của mình đối vớingười thân, đối với bạn bè, đối với cộng đồng và môi trường sống, tôn trọng
và thực hiện đúng pháp luật và các quy định của nhà trường, khu dân cư, nơicộng đồng, sống hồn nhiên, mạnh dạn, , trung thực
- Có kiến thức cơ bản về tự nhiên – xã hội – con người và thẩm mỹ; cókhả năng cơ bản về nghe, đọc, nói, viết và tính toán; có thói quen rèn luyệnthân thể, giữ gìn vệ sinh và bảo vệ sức khỏe
- Biết cách học tập, biết tự phục vụ, biết sử dụng một số đồ dùng tronggia đình và công cụ lao động thông thường, vận dụng và làm quen một số việcnhư: chăn nuôi, trồng trọt và giúp việc cho gia đình
1.2.2 Giáo viên tiểu học
1.2.2.1:Giáo viên tiểu học
Giáo viên làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục học sinh trong trường tiểuhọc và cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu học
1.2.2.2 Nhiệm vụ của giáo viên
- Làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục học sinh trong trường tiểu học và
cơ sở giáo dục khác, thực hiện chương trình giáo dục tiểu học
- Giảng dạy, giáo dục đảm bảo chất lượng theo chương trình giáo dục,
kế hoạch dạy học; soạn bài, lên lớp, kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh;quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; thamgia các hoạt động chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quảgiảng dạy và giáo dục
Trang 20- Trau dồi đạo đức, nâng cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất,danh dự, uy tín của nhà giáo; gương mẫu trước học sinh, thương yêu, đối xửcông bằng và tôn trọng nhân cách của học sinh; bảo vệ các quyền và lợi íchchính đáng của học sinh; đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp.
- Học tập và rèn luyện để nâng cao sức khỏe, trình độ chính trị, chuyênmôn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy
- Tham gia công tác phổ cập giáo dục tiểu học ở địa phương
- Thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định pháp luật và của ngành,các quyết định của Hiệu trưởng; nhận nhiệm vụ do Hiệu trưởng phân công,chịu sự kiểm tra, đánh giá của Hiệu trưởng và các cấp quản lý giáo dục
- Phối hợp với Đội TNTP.HCM, gia đình học sinh và các tổ chức xãhội liên quan để tổ chức hoạt động giáo dục
1.2.3 Giáo viên chủ nhiệm (GVCN) lớp:
1.2.3.1 Giáo viên chủ nhiệm
Theo từ điển Tiếng Việt: Giáo viên chủ nhiệm là người dạy học phụtrách lớp học về mọi mặt
Theo Luật Giáo dục (2005) giáo viên là người làm nhiệm vụ giảng dạy
và giáo dục trong các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáodục nghề nghiệp Như vậy, giáo viên Tiểu học là người thực hiện nhiệm vụgiảng dạy và giáo dục học sinh trong các trường Tiểu học Giáo viên Tiểuhọc vừa là giáo viên chủ nhiệm, vừa là giáo viên dạy tất cả các môn học bắtbuộc trong nhà trường
GVCN là người thay mặt hiệu trưởng chịu trách nhiệm chính về việcquản lý và giáo dục toàn diện một lớp học Trong trường học, đơn vị cơ bản
để tổ chức và giảng dạy học sinh là lớp học với một số lượng học sinh nhấtđịnh Để quản lý lớp, nhà trường cử một trong những giáo viên đang giảngdạy có đủ tiêu chuẩn đứng ra làm chủ nhiệm lớp trong suốt một năm học đó
Tất cả giáo viên nói chung và giáo viên chủ nhiệm nói riêng trongtrường Tiểu học phải đạt trình độ trung cấp sư phạm trở lên Hàng năm,
Trang 21GVCN phải tham gia các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ và tự bồi dưỡng
để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của Bộ giáo dục
1.2.3.2 Vai trò của GVCN
Để hoàn thành những nhiệm vụ giáo dục theo các mục tiêu chung củanhà trường, GVCN có các vai trò sau:
GVCN là người quản lý giáo dục toàn diện học sinh một lớp:
Cần hiểu quản lý giáo dục không chỉ là nắm được các chỉ số của quản
lý hành chính như; tên, tuổi, số lượng, hoàn cảnh gia đình, trình độ học lực vàhạnh kiểm của học sinh… mà còn phải dự báo xu hướng phát triển nhân cáchcủa học sinh trong lớp để có phương hướng tổ chức hoạt động giáo dục, dạyhọc phù hợp với điều kiện, khả năng của mỗi học sinh Muốn thực hiện chứcnăng quản lý giáo dục toàn diện, GVCN phải có nhũng tri thức cơ bản về tâm
lý học, giáo dục học và phải có hàng loạt kỹ năng sư phạm như: kỹ năng tiếpcận đối tượng học sinh, kỹ năng nghiên cứu tâm lý lứa tuổi, xã hội, kỹ năngđánh giá, kỹ năng lập kế hoạch chủ nhiệm lớp và phải có nhạy cảm sư phạm
để có dự đoán đúng, chính xác sự phát triển nhân cách học sinh… định hướng
và giúp các em lường trước những khó khăn, thuận lợi, vạch ra những dự định
để chúng tự hoàn thiện về mọi mặt
GVCN là người tổ chức tập thể học sinh tự quản nhằm phát huy tính tích cực của mọi học sinh.
Đây là một đặc điểm riêng biệt của GVCN mà các GV khác (GVchuyên, đoàn - đội, dự khuyết… ) không có GVCN cần lưu ý xây dựng độingũ tự quản xuất phát từ đặc điểm, nhiệm vụ từng năm học và tính chất pháttriển của từng tập thể học sinh Nhiều GVCN chỉ căn cứ vào một số tiêuchuẩn cán bộ lớp như: học giỏi, đạo đức tốt… mà ít để ý đến các yếu tố quantrọng khác như: có uy tín với bạn bè, biết quan tâm đến người khác, gươngmẫu, biết cảm hóa các bạn… để phát huy tốt vai trò của người tổ chức GVCNcần có năng lực dự báo chính xác khả năng của học sinh trong lớp, phải biếtgợi tiềm năng sáng tạo của các em GVCN là người giúp học sinh tổ chức các
Trang 22hoạt động đã được kế hoạch hóa, nhưng không được khoán trắng, đứng ngoàihoạt động của tập thể học sinh lớp học mà nên cùng hoạt động, điều chỉnhhoạt động, kịp thời giúp đỡ các em tháo gỡ những khó khăn trong quá trìnhhoạt động, đặc biệt là trong các hoạt động học tập.
GVCN lớp là chiếc cầu nối tập thể học sinh với các tổ chức xã hội trong
và ngoài nhà trường, là người tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục.
GVCN là nhà quản lý, nhà sư phạm, đại diện cho Hiệu trưởng truyềnđạt những yêu cầu đối với học sinh, với phương pháp thuyết phục, thái độnghiêm túc để mỗi học sinh và tập thể lớp ý thức đầy đủ trách nhiệm phảituân thủ, tự giác thực hiện GVCN cũng là người đại diện cho quyền lợi chínhđáng của học sinh trong lớp, bảo vệ học sinh về mọi mặt một cách hợp lý,phản ảnh với Hiệu trưởng, với các giáo viên khác (nếu có), với gia đình vàđoàn thể trong hoặc ngoài nhà trường về nguyện vọng chính đáng của họcsinh, để có giải pháp, giải quyết phù hợp, kịp thời, có tác dụng giáo dục Huyđộng có hiệu quả tiềm năng của xã hội vào giáo dục là công việc không đơngiản, đòi hỏi GVCN lớp chẳng những có trách nhiệm cao, say sưa với nghềnghiệp, yêu thương học sinh mà còn đòi hỏi GVCN là một nhà hoạt động xãhội, có hiểu biết rộng, biết vận động quần chúng, có năng lực thực hiện cácmục tiêu, nội dung giáo dục, GVCN phải là người có trí tuệ, có lương tâm, có
uy tín, sống mẫu mực, biết tự kiềm chế, có ý chí vượt khó, kiên định thựchiện hoài bảo, mơ ước, lý tưởng thế hệ trẻ
Giáo viên chủ nhiệm không chỉ truyền đạt tri thức mà còn là ngườiđịnh hướng, định hình các giá trị đạo đức, nhân cách cho các em trước khibước vào đời Vì thế, cuộc sống và lao động sư phạm của nguời giáo viên cóảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nhân cách của học sinh Giáo viên chủnhiệm phải là một tấm gương mẫu mực trong cuộc sống, có mối quan hệ tốtkhông chỉ với học sinh lớp chủ nhiệm mà còn đối với gia đình, đồng nghiệp,với mọi người ở cộng đồng nơi ở và toàn xã hội Bên cạnh đó, họ phải amhiểu, nắm bắt được các chủ trương, đường lối giáo dục của Đảng và Nhà
Trang 23nước trong giai đoạn hiện nay; nắm vững lý luận giáo dục, lý luận dạy học;tôn trọng các quy định của pháp luật.
Để tổ chức các hoạt động giáo dục đạt hiệu quả, người giáo viên chủnhiệm lớp cần phải có một hệ thống các kĩ năng nhất định Trong mỗi kĩ năngnày, họ phải thực hiện một chuỗi những thao tác và việc làm có quan hệ mậtthiết với nhau Vì vậy, đòi hỏi mỗi người phải cố gắng trau dồi, rèn luyệnthường xuyên để thực hiện các kỹ năng đó một cách thành thạo
GVCN phải là người đánh giá khách quan kết quả học tập, rèn luyện của mỗi học sinh và phong trào chung của lớp
Đây là một công việc quan trọng của GVCN đối với quá trình học tập,rèn luyện, phát triển nhân cách ở mỗi học sinh, vì sự đánh giá khách quan,chính xác, đúng mực là một điều kiện để thầy và trò điều chỉnh mục tiêu, kếhoạch… cho các hoạt động của cả lớp và mỗi thành viên GVCN cần tránhcách nhìn thiên vị và chỉ chú ý đến một số nội dung nhất định Khi đánh giátừng cá nhân học sinh nên căn cứ vào năng lực, điều kiện cụ thể của từng em,cần tránh quan điểm khắt khe, định kiến, thiếu quan điểm động viên và pháttriển, nhất là đối với những học sinh có hoàn cảnh khó khăn, có đặc điểm tâmsinh lý đặc biệt… thì GVCN cần tham khảo Điều quan trọng là sau khi đánhgiá, cần nêu ra những yêu cầu với thái độ nghiêm túc, tôn trọng nhân cách họcsinh và với tấm lòng thương yêu học sinh như con em của mình Yêu cầuGVCN đặt ra phải được học sinh tự giác chấp nhận, phải có nỗ lực, vượt khó,
có quyết tâm thực hiện, khi đó mục tiêu mới đạt được
1.2.4 Chất lượng công tác chủ nhiệm:
Trang 24- Chất lượng được hiểu là mức độ đạt được các mục tiêu đặt ra hay thoả mãn yêu cầu của khách hàng và được đo bằng các chuẩn mực xác định.
- Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu đặt ra Mục tiêu ở đây đượchiểu một cách rộng rãi, bao gồm các sứ mạng, các mục đích…còn sự phù hợpvới mục tiêu có thể hiểu là đáp ứng mong muốn của những người quan tâm,
là đạt được hay vượt qua các chuẩn đặt ra
Như vậy mục tiêu của việc nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệmlớp chính là việc phát triển toàn diện, giáo dục toàn diện cho học sinh
1.2.4.2 Chất lượng công tác chủ nhiệm lớp
Từ khái niệm về chất lượng nói trên, chúng ta có thể hiểu chất lượngcông tác chủ nhiệm lớp chính là mức độ đạt được của các mục tiêu giáo dụctoàn diện học sinh trong lớp chủ nhiệm
Chất lượng công tác chủ nhiệm được biểu hiện ở tình hình toàn diệncủa lớp sau quá trình diễn ra hoạt động của tập thể học sinh và cá nhân từnghọc sinh, kết quả học tập và tu dưỡng đạo đức của các em
Để đánh giá được chất lượng công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên,trước hết phải thông qua bản kế hoạch mà giáo viên đã xây dựng trên cơ sởthống nhất với kế hoạch chung của nhà trường Sau mỗi học kì, hay cuối nămhọc, CBQL cũng như bản thân người GVCN kiểm tra, đánh giá, đối chiếutình hình của tập thể lớp, của từng cá nhân học sinh so với chỉ tiêu, phươnghướng, mục đích trong bản kế hoạch đã đề ra xem đã đạt được ở mức độ nào?Thiếu sót ở đâu? Nguyên nhân và cách khắc phục
Chất lượng công tác chủ nhiệm lớp của người giáo viên chủ nhiệm cònđược biểu hiện thông qua việc kiểm tra, đánh giá của Hiệu trưởng Nhờ đóHiệu trưởng có thể nắm bắt được GVCN đã thực hiện nhiệm vụ của mình ởmức độ tốt xấu như thế nào Đánh giá hoạt động chủ nhiệm chính là đánh giá
ý thức, thái độ, tinh thần, khả năng và hiệu quả trong công việc của GVCN
Chất lượng công tác chủ nhiệm của GVTH được biểu hiện ở :
Trang 25- Năng lực sư phạm của người giáo viên với quá trình quản lý và tổchức các hoạt động giáo dục cho học sinh, theo đó đã mang lại những kết quảnhư thế nào?
- Qúa trình thực hiện các hoạt động giáo dục ở mọi mặt ( đạo đức, trítuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản) của học sinh
- Kết quả thu nhận được từ học sinh so với mục tiêu và kế hoạch giáodục tiểu học nói chung, mức độ hoàn thành nhiệm vụ của học sinh
Việc đánh giá chất lượng công tác chủ nhiệm không chỉ chú trọng đếnnghiệp vụ của giáo viên mà còn phải gắn với kết quả đạt được của lớp về mọimặt: Duy trì sĩ số, nền nếp, kết quả học tập, tham gia các phong trào thi đuacủa nhà trường, sự chuyển biến của tập thể lớp, của học sinh cá biệt về mọimặt…
Đánh giá chất lượng công tác chủ nhiệm lớp của GVCN, cụ thể là cáchoạt động chủ nhiệm, chính là đánh giá ý thức, thái độ, tinh thần, khả năng vàhiệu quả trong công việc của GVCN Do vậy, cần phải xây dựng các tiêu chíđánh giá GVCN, trên cơ sở đó để có những điều chỉnh trong quản lý cũngnhư trong thực hiện
- Có bản lĩnh vững vàng trong công việc, nhạy bén, linh hoạt, sáng tạo
Có lối sống lành mạnh, gương mẫu, tác phong mô phạm
Tiêu chí về năng lực
- Có trình độ chuyên môn đào tạo chuẩn và trên chuẩn, vững vàng vềchuyên môn nghiệp vụ Hiểu rõ quyền hạn và nhiệm vụ của GVCN lớp
- Biết lập kế hoạch công tác chủ nhiệm (Năm, tháng, tuần), có năng lực
tổ chức, thu thập, xử lí thông tin hiểu tâm lí lứa tuổi học sinh
Trang 26- Biết phối hợp chặt chẽ với các lực lượng giáo dục.
- Biết tự học, ý thức tự giác trong việc bồi dưỡng nâng cao chuyên mônnghiệp vụ
Tiêu chí đánh giá về hiệu quả công việc.
- Mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao của GVCN (Thời gian hoànthành, chất lượng công việc)
- Phong trào thi đua và rèn luyện về mọi mặt của tập thể lớp chủnhiệm
Trong giai đoạn đầu bậc Tiểu học, đặc biệt ở lớp 1 thực hiện bướcchuyển vai trò chủ đạo từ hoạt động vui chơi sang học tập Lớp 2, 3 hoạtđộng học đã được hình thành một cách tương đối rõ nét, lúc này đã xuất hiệnmột số phẩm chất tâm lí mới ở các em và tích lũy điều kiện cần thiết thựchiện từng bước chuyển sang giai đoạn phát triển cao hơn về mặt tâm lí Ở giaiđoạn cuối bậc Tiểu học hoạt động học tiếp tục phát triển, lúc này phươngpháp học tập vừa là đối tượng lĩnh hội vừa là phương tiện để giúp học sinhlĩnh hội tri thức khoa học Trên cơ sở đó giúp các em hình thành và phát triểntâm lí, các kĩ năng, cũng như trong quá trình học tập sau này
Trang 27Đối với trẻ em trong độ tuổi Tiểu học, sự phát triển về thể chất và nhâncách mới đang trong quá trình định hình và hoàn thiện Về mặt sinh học, các
cơ quan các bộ phận trong cơ thể trẻ phát triển chưa đồng đều để tạo ra sự hàihòa, cân đối Về mặt tâm lý, thuộc tính tâm lý cũng đã hình thành nhưng chưa
ổn định Nếu sống trong môi trường giáo dục phù hợp thì nhân cách trẻ sẽđược phát triển tốt, trẻ sẽ có ước mơ, hoài bão vươn tới những điều cao đẹp 1.2.5.1 Đặc điểm, đặc trưng cơ bản của học sinh tiểu học:
- Nhìn một cách tổng thể, học sinh tiểu học có 3 đặc trưng cơ bản sau:
Là thực thể hồn nhiên tiềm tàng khả năng phát triển: Trẻ em vốn ngâythơ, trong sáng, bản tính luôn được bộc lộ ra bên ngoài không hề che giấu,không hề “đóng kịch” Tuy nhiên, cũng do tác động từ bên ngoài, khiến trẻ bịnhiễm những tật xấu như “bắt chước”, “nói dối”… Hiện nay ngày càng nhiềugiáo dục văn minh tiên tiến đang đề cao và hướng tới việc giữ gìn và tôntrọng bản tính hồn nhiên của trẻ Trong mỗi trẻ em tiềm tàng khả năng pháttriển Khả năng đó vẫn là ẩn số mà chúng ta vẫn chưa hiểu tường tận cũngnhư chưa làm sáng tỏ được
- Là nhân cách đang hình thành:
Trẻ em ở lứa tuổi tiểu học là thực thể đang lớn lên, đang trên đườnghoàn thiện về cơ thể (sinh lí) và đang phát triển về tâm hồn (tâm lí) Tuynhiên các em chưa đủ ý thức, chưa đủ phẩm chất và năng lực để tồn tại chomột công dân trong xã hội, mà luôn cần có sự bảo trợ, giúp đỡ của người lớn,của nhà trường, gia đình và xã hội
Có hoạt động là hoạt động chủ đạo:
- Hoạt động học tập có vai trò và ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triểntâm lí của học sinh tiểu học Đối với học sinh tiểu học thì tất cả còn ở phíatrước, các em luôn hướng tới ngày mai, hướng tới tương lai, dễ thích nghi, dễtiếp nhận cái mới
Trang 28
1.2.5.2 Một số đặc điểm trong nhận thức của học sinh tiểu học:
Là “những người lớn tương lai”, nên ở độ tuổi này, các em có nhữngđặc điểm riêng của lứa tuổi, trước hết là trong nhận thức, thể hiện trên cácmặt cụ thể sau:
Tri giác: đối với học sinh tiểu học (lớp 1, 2) tri giác các em còn mang
tính đại thể, toàn bộ, ít đi sâu vào chi tiết Tuy nhiên các em cũng có khả năngphân tích các dấu hiệu, chi tiết nhỏ của một đối tượng nào đó Tri giác đóthường gắn với hoạt động thực tiễn cho nên giáo viên cần tổ chức cho họcsinh được nắm chắc, sờ mó sự vật thì sẽ tri giác tốt hơn, ăn sâu vào trí não các
em một cách bền lâu,.mặt khác tri giác và việc xác định đánh giá không gian,thời gian của các em còn hạn chế Các em chưa nêu được chính xác độ lớncủa vật quá lớn hoặc quá nhỏ
Tư duy: Khi đến trường, tư duy của các em còn là tư duy cụ thể, mang
tính hình thức và chủ yếu là dựa vào đặc điểm bên ngoài Nhờ hoạt động họctập mà tư duy dần mang tính khái quát Khi khái quát, học sinh tiểu họcthường dựa vào chức năng và công cụ của sự vật hiện tượng, từ đó các emtiến hành phân loại mặt khác hoạt động phân tích – tổng hợp của các em còn
sơ đẳng, học sinh các lớp đầu cấp chủ yếu tiến hành hoạt động phân tích- trựcquan – hành động khi tri
giác trực tiếp đối tượng, có khả năng phân biệt những dấu hiệu, những khíacạnh khác nhau của đối tượng dưới dạng ngôn ngữ
Tưởng tượng: Ở lứa tuổi này, tưởng tượng còn tản mạn, ít có tổ chức,
hình ảnh tổng hợp đơn giản, hay thay đổi nếu tưởng tượng của học sinh pháttriển yếu, không đầy đủ sẽ gặp khó khăn trong hành động càng về những nămcuối tiểu học, tưởng tượng của học sinh càng gần hiện thực hơn do các em cókinh nghiệm, đồng thời đã lĩnh hội tri thức khoa học và quá trình học tập
Trí nhớ: Trí nhớ trực quan, hình tượng phát triển hơn với trí nhớ lô-gíc,
nhiều học sinh tiểu học còn chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa vàkhuynh hướng phát triển trí nhớ máy móc Hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ
Trang 29định do tính tích cực học tập của học sinh Ghi nhớ gắn với mục đích giúp trẻnhớ nhanh, lâu và chính xác hơn Nhiệm vụ của giáo viên là hình thành chohọc sinh tâm thế học tập, ghi nhớ, hướng dẫn các em (thủ thuật, mẹo vặt) ghinhớ tài liệu học tập, chỉ cho các em biết đâu là điểm chính và quan trọng củabài cần truyền đạt.
1.2.5.3 Đặc điểm, nhân cách của học sinh tiểu học:
Tính cách: nét tính cách mới của học sinh hình thành chưa ổn định,
hành vi của trẻ mang tính bộc phát, ý chí còn thấp, trẻ thường thay đổi, bướngbỉnh Đó là hình thức độc đáo phản ứng lại những yêu cầu của người lớn,những yêu cầu mà các em xem là cứng nhắc, để bảo vệ cái mình “muốn” thaycho cái mình “cần phải”, trẻ hồn nhiên, cả tin và thích bắt chước hành vi củangười khác Niềm tin của các em còn cảm tính, chưa có lý trí soi sáng, dẫndắt Giáo viên nên vận dụng đặc điểm này, trong đó lưu ý những điều dạy chocác em phải chính xác, đúng đắn Tính bắt chước của các em còn đậm nét, các
em thường bắt chước hành vi, cử chỉ của giáo viên, của những người các emcho là “thần tượng”, kể cả những nhân vật trong phim ảnh, sách Tính bắtchước của các em là “con dao 2 lưỡi”; vừa có giá trị tích cực, cũng có thể “lợibất cập hại” vì vậy giáo viên cần hiểu thấu đáo, biết tận dụng khéo léo vàsáng tạo đặc tính này để giáo dục hiệu quả các em
Tình cảm: các em dễ xúc động và khó kiềm chế cảm xúc của mình, tình
cảm các em còn mỏng manh, chưa bền vững, sâu sắc Các em thường bộc lộngay cảm xúc của mình trước lời khen, chê của giáo viên, hoặc đang khóccũng có thể vui cười ngay hay đang giận lại làm lành và chơi đùa cùng nhau.Đối với học sinh tiểu học, tình cảm có vị trí hết sức quan trọng, góp phần kíchthích trẻ tích cực nhận thức và thúc đẩy trẻ hoạt động
Nhu cầu nhận thức: Các em có nhu cầu nhận thức khá rõ nét, từ tìm
hiểu các sự vật, hiện tượng riêng lẽ (L2) đến phát hiện những nguyên nhânquy luật và các mối liên hệ, quan hệ (L3,4,5) Nhu cần nhận thức của học sinhtiểu học là nhu cầu tinh thần Nếu không có nhu cầu này thì học sinh không
Trang 30tích cực tư duy học tập, nếu bị bắt buộc, các em sẽ luôn tìm mọi cách để đốiphó Lúc đó nhà trường, gia đình sẽ mất nhiều thời gian, công sức mà hiệuquả vẫn thấp.
1.3 Công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên tiểu học:
Công tác chủ nhiệm lớp là bộ phận quan trọng trong tổng thể các hoạtđộng của nhà trường Tiểu học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diệncho học sinh Khi nói đến giáo viên chủ nhiệm là đề cập đến vị trí, vai trò vàchức năng của người làm công tác chủ nhiệm lớp, còn nói công tác chủnhiệm lớp là đề cập đến hoạt động chủ nhiệm lớp của người giáo viên vớimục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, hình thức và kết quả giáo dục,phát triển của người học sinh trong lớp chủ nhiệm
Nhiệm vụ và các nội dung công việc mà người giáo viên chủ nhiệmcần phải làm để hoàn thành được mục tiêu mà giáo dục đề ra đó là:
- Tìm hiểu và nắm vững tình hình học sinh trong lớp chủ nhiệm về mọimặt để có biện pháp tổ chức giáo dục phù hợp với từng học sinh và cả lớpnhằm thúc đẩy sự tiến bộ của các em
- Liên hệ chặt chẽ với gia đình học sinh, chủ động phối hợp với cácgiáo viên bộ môn, các tổ chức xã hội có liên quan, để nâng cao chất lượnghoạt động giảng dạy và giáo dục học sinh của lớp mình chủ nhiệm
- Nhận xét, đánh giá và xếp loại học sinh cuối kì và cuối năm học, đềnghị về việc khen thưởng, kỉ luật học sinh; lên lớp hay ở lại lớp, kiểm tra lại,rèn luyện thêm cho học sinh và hoàn thành hồ sơ điểm, học bạ của học sinh
- Báo cáo thường kì và đột xuất về tình hình của lớp chủ nhiệm vớiBan giám hiệu
Bên cạnh đó công tác chủ nhiệm lớp yêu cầu giáo viên phải nắm vữngmục tiêu giáo dục nói chung, mục tiêu giáo dục học sinh của khối lớp, kếhoạch, nhiệm vụ dạy học của năm học, trên cơ sở đó cụ thể hóa vào việc xâydựng và thực hiện kế hoạch chủ nhiệm lớp, cũng như chủ động hơn trong
Trang 31việc định hướng cho học sinh thực hiện tốt các hoạt động của lớp và phongtrào chung của nhà trường.
Công tác chủ nhiệm đòi hỏi người giáo viên phải thực sự có lòng yêutrẻ và yêu nghề cùng với việc áp dụng các biện pháp thích hợp để giáo dụccon trẻ Vì vậy người giáo viên chủ nhiệm cần phải tích lũy thật nhiều kiếnthức và kinh nghiệm cho công tác chủ nhiệm của mình
Chức năng cơ bản của công tác chủ nhiệm lớp: Thể hiện 2 chức năng
cơ bản: quản lý và giáo dục học sinh
Đây là hai mặt của một quá trình thống nhất trong công tác chủ nhiệmlớp Đảm bảo sự thống nhất giữa 2 chức năng quản lý và giáo dục trong côngtác chủ nhiệm lớp, sẽ mang lại những hiệu quả thiết thực đối với vấn đề giáodục và hình thành nhân cách của từng học sinh, cũng như với cả tập thể lớphọc, phù hợp với mục tiêu giáo dục toàn diện mà ngành giáo dục đã xác định.Một GVCN muốn
đảm đương tốt được trách nhiệm của mình, nhất thiết phải biết cách quản lý
và giáo dục tập thể lớp mà mình phụ trách
1.3.1 Mục tiêu của công tác chủ nhiệm lớp:
Công tác giáo viên chủ nhiệm tiểu học nhằm giúp học sinh hình thànhnhững cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ,thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, với sự góp sức của toàn xã hội, nhằmhình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bước đầu xâydựng tư cách và trách nhiệm công dân
Về đạo đức:
Chuyển hóa những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội thành nhữngphẩm chất đạo đức nhân cách cho học sinh, hình thành ở học sinh thái độđúng đắn trong giao tiếp, ý thức tự giác thực hiện các chuẩn mực của xã hội,thói quen chấp hành các quy định của pháp luật
Làm cho học sinh thấm nhuần sâu sắc thế giới quan Mác-Lênin, tưtưởng đạo đức Hồ Chí Minh, chủ trương, chính sách của Đảng, sống và làm
Trang 32việc theo pháp luật, sống có kỷ cương, nền nếp, có văn hóa trong các mốiquan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội và giữa con người với nhau.
Giúp học sinh nhận thức được các chuẩn mực đạo đức của xã hội, rènluyện kỹ năng, hành vi theo các chuẩn mực đó và hình thành thái độ, ý thứctrong học sinh về đạo đức
* Nội dung: Lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu hoà bình, cótinh thần cộng đồng và quốc tế, có tinh thần lao động sáng tạo, có thái
độ xây dựng và bảo vệ môi trường
* Phương pháp: Phương pháp tác động vào nhận thức tình cảm: đàmthoại, tranh luận, kể chuyện, giảng giải, khuyên răn; phương pháp tổchức hoạt động thực tiễn: giao việc, rèn luyện, tập thói quen…;phương pháp kích thích tình cảm và hành vi: thi đua, nêu gương, khenthưởng, trách phạt…
Về trí tuệ:
Có một khái niệm gắn chặt với trí tuệ là sự thông minh, nói cách kháctrí tuệ gần như được khai thác hoặc phát huy bằng sự thông minh, và nếukhông thông minh tới mức nào đó thì trí tuệ cũng coi như bỏ đi không sửdụng Nhưng thông minh là gì ? Mỗi người trong chúng ta lại có câu trả lờikhác nhau, tùy theo sở học và quan niệm cá nhân Có quan niệm cho ngườithông minh là người hiểu biết được nhiều chuyện hoặc là người có khả nănggiải quyết đa số các vấn đề khó khăn; hay là người có tài phát minh sáng chế
ra những điều mới lạ v.v Khi đi tìm một câu trả lời tổng quát, các nhà khoahọc đã cùng nhìn nhận thấy có một mẫu số chung của sự thông minh: đó là trínhớ
Về Thể chất:
Giáo dục thể chất được hiểu là: “Quá trình sư phạm nhằm giáo dục vàđào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làmviệc, và kéo dài tuổi thọ của con người”
Trang 33Giáo dục thể chất cũng như các loại hình giáo dục khác, là quá trình sưphạm với đầy đủ đặc điểm của nó, có vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổchức hoạt động của nhà sư phạm phù hợp với học sinh với nguyên tắc sưphạm Giáo dục thể chất chia thành hai mặt tương đối độc lập: Dạy học độngtác (giáo dưỡng thể chất) và giáo dục tố chất thể lực Trong hệ thống giáo dụcnội dung đặc trưng của giáo dục thể chất được gắn liền với giáo dục, trí dục,đức dục, mỹ dục và giáo dục lao động.
Giáo dục thể chất là một lĩnh vực thể dục thể thao xã hội với nhiệm vụlà: “Phát triển toàn diện các tố chất thể lực, và trên cơ sở đó phát triển cácnăng lực thể chất, bảo đảm hoàn thiện thể hình, củng cố sức khoẻ, hình thànhtheo hệ thống và tiến hành hoàn thiện đến mức cần thiết các kỹ năng và kỹxảo quan trọng cho cuộc sống” Đồng thời chương trình giáo dục thể chất là:
“Trang bị kiến thức, kỹ năng và rèn luyện thể lực cho học sinh”
Về Thẩm mỹ:
Giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận quan trọng của nền giáo dục phổthông, đó là quá trình hoạt động chung của nhà giáo dục và người được giáodục, nhằm hình thành và phát triển ở người được giáo dục những quan hệthẩm mỹ đúng đắn với hiện thực, bằng cách thông qua các phương tiện thẩm
mỹ, đặc biệt là phương tiện nghệ thuật, nhằm góp phần phát triển nhân cáchtoàn diện hài hoà cho người được giáo dục
Nói cách khác, giáo dục thẩm mỹ cho học sinh thực chất là quá trìnhnhà giáo dục giúp đứa trẻ biến đổi mình, trở thành một chủ thể thẩm mỹ đíchthực với quan hệ thẩm mỹ đúng đắn
Giáo dục thẩm mỹ chủ yếu hướng vào việc phát triển tình cảm của conngười, tạo nên sự lớn mạnh và phong phú về tâm hồn của con người, tổ chức
và điều khiển hành vi ứng xử của con người theo tiêu chuẩn cái đẹp Nếu trẻ
có khả năng cảm nhận cái đẹp của những cử chỉ cao thượng, cái thi vị của cáchoạt động sáng tạo, thì điều đó đã biểu hiện trình độ phát triển nhất định vềmặt thẩm mỹ của trẻ
Trang 34Về Kỹ năng cơ bản:
Kỹ năng sống là một bài học quan trọng, giúp các em học sinh tự tinkhi bước vào cuộc sống tương lai tăng cường rèn luyện kỹ năng sống cho họcsinh, tăng cường nguồn lực trong và ngoài nhà trường cho giáo dục đạo đức,hình thành các chuẩn đạo đức, chú ý giáo dục giá trị gia đình, văn hóa giađình bên cạnh giáo dục lòng yêu nước và truyền thống văn hóa dân tộc Tậptrung rèn luyện cho học sinh ý thức kỷ luật, tác phong nhanh nhẹn, gọn gàng,ngăn nắp trong một số môn học và hoạt động ngoài giờ Đối với tiểu học làtăng cường giáo dục kỹ năng tự phục vụ, thói quen vệ sinh tốt, kỹ năng tự bảo
vệ an toàn bản thân, mạnh dạn trong giao tiếp, thân thiện với bạn bè, lễ phépvới người lớn…Thông qua các bài giảng, các trò chơi vận động, em thấy mìnhmạnh dạn hơn trong giao tiếp, tự tin hơn trong việc thể hiện những năng lực củabản thân Có thể trình bày được ý kiến của mình một cách tự nhiên trước đámđông, những điều rất có ích cho bản thân sau này
Về Nhân cách con người:
Nhân cách - đó là vấn đề làm người; ở nhà trường đó là việc học làmngười Nói thế để thấy nhà trường không phải chỉ là nơi cung cấp các tri thức;
mà trước hết phải là nơi giáo dục, đào tạo một thế hệ trẻ có phẩm chất và tưcách làm người Tư chất này rộng hơn mục tiêu: Tiên học lễ, hậu học văn Lễ,chỉ là một phạm vi, một khu vực hẹp trong đào luyện nhân cách; còn nhâncách: là một tổng hợp rất nhiều yếu tố Để có thể cho “ra lò”, và đưa vào xãhội những con người với các tư chất đáp ứng cho yêu cầu thúc đẩy sự pháttriển cuộc sống, và tạo nên một bầu không khí lành mạnh, thân thiện trong tất
cả các mối quan hệ xã hội, từ rộng đến hẹp, nhằm bồi đắp cho cái tốt, cái đẹp,cái tích cực, cái tử tế, cái lương thiện, và thu hẹp ảnh hưởng của cái xấu, cái
ác; thu hẹp như cách ta thường kêu gọi chứ không phải tiêu diệt; bởi cái xấu,
cái ác chẳng ở đâu và lúc nào mà tiêu diệt nổi
Nhân cách, theo nghĩa rộng và với mục đích cao nhất là vừa đòi hỏi ởmỗi con người một sự phấn đấu suốt đời, vừa đòi hỏi ở xã hội, một sự phối
Trang 35hợp hợp lý, ăn ý, hài hoà trên tất cả các phương diện: kinh tế, chính trị, xã hội,văn hoá, văn học, văn chương, nghệ thuật Và như vậy, mối quan tâm củacông tác chủ nhiệm lớp nhằm giáo dục và đào luyện nhân cách cho trẻ em.
1.3.2 Nội dung của công tác chủ nhiệm lớp:
- Nắm tình hình lớp về tư tưởng, tinh thần, thái độ, kết quả học tập vàrèn luyện của học sinh từ đó phân loại và bầu Ban Cán sự lớp (Trưởng lớp,
Phó Trưởng lớp, các tổ trưởng ) Quản lý các loại hồ sơ, sổ sách của lớp
- Công tác chủ nhiệm lớp được tính theo thời gian năm học, nên phảichú trọng xây dựng tập thể lớp tự quản nhằm nâng cao sự tự tin của các emtrong mọi hoạt động
- Thực hiện tốt các nội dung , mục tiêu của công tác chủ nhiệm cũngnhư công tác giáo dục tiểu học
- Phối hợp với gia đình, đoàn thể và các lực lượng tổ chức xã hội đểgiúp đỡ học sinh trong học tập, rèn luyện
- Dựa vào tình hình thực tế, xây dựng kế hoạch giúp lớp tổ chức thựchiện chương trình học tập, rèn luyện trong từng tháng, học kỳ và năm học
- Tích cực tham gia các hội thảo, hội nghị về công tác chủ nhiệm lớpnhằm trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm giữa các giáo viên chủ nhiệm trongcông tác quản lý, sinh hoạt, theo dõi, đánh giá và định hướng hoạt động chungcủa lớp
- Đánh giá kết quả giáo dục học sinh, thực hiện chế độ báo cáo định kỳ
về tình hình học sinh
1.3.3 Phương pháp thực hiện công tác chủ nhiệm lớp
Giáo viên chủ nhiệm lớp, trước hết phải quản lý toàn diện lớp học, quản lý học sinh lớp học cần nắm vững
- Hoàn cảnh và những thay đổi, những tác động của gia đình đến họcsinh của lớp chủ nhiệm
Trang 36- Hiểu biết những đặc điểm của từng em học sinh (về sức khỏe, sinh lý,trình độ nhận thức, năng lực hoạt động, năng khiếu, sở thích, nguyện vọng,quan hệ xã hội, bạn bè….)
- Nắm vững mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục cấp học, lớp học
và khả năng thực hiện, kết quả của lớp phụ trách so với mục tiêu giáo dục vềmọi mặt (học tập, rèn luyện đạo đức, thể dục thể thao, văn nghệ và các hoạtđộng khác…)
- Quản lý toàn diện đặc điểm học sinh của lớp, nắm vững mục tiêu đàotạo, giáo dục cả về mặt nhân cách và kết quả học tập của học sinh, đồng thờinắm vững hoàn cảnh của từng em để kết hợp giáo dục
Giáo viên chủ nhiệm là cầu nối giữa hiệu trưởng (Ban giám hiệu), giữa
các tổ chức trong trường, giữa các giáo viên bộ môn với tập thể học sinh lớpchủ nhiệm Nói một cách khác, giáo viên chủ nhiệm là người đại diện haiphía, một mặt đại diện cho các lực lượng giáo dục của nhà trường, mặt khácđại diện cho tập thể học sinh Với tư cách là nhà sư phạm (đại diện cho tập thểcác nhà sư phạm), giáo viên chủ nhiệm có trách nhiệm truyền đạt tới học sinhcủa lớp chủ nhiệm tất cả yêu cầu, kế hoạch giáo dục của nhà trường, tới tậpthể và từng học sinh của lớp chủ nhiệm, không phải bằng mệnh lệnh mà bằng
sự thuyết phục, cảm hóa, bằng sự gương mẫu của người giáo viên chủ nhiệm,
để mục tiêu giáo dục được học sinh chấp nhận một cách tự giác, tự nguyện.Với kinh nghiệm sư phạm và uy tín của mình, giáo viên chủ nhiệm có khảnăng biến những chủ trương, kế hoạch đào tạo của nhà trường thành chươngtrình hành động của tập thể lớp và của mỗi học sinh
Mặt khác, giáo viên chủ nhiệm lớp là người tập hợp ý kiến, nguyện vọng của từng học sinh của lớp phản ánh với hiệu trưởng, với các tổ chức
trong nhà trường và với các giáo viên bộ môn Có ý kiến cho rằng: để làmđiều đó thì đội ngũ tự quản của học sinh có thể làm được không cần đến giáoviên chủ nhiệm Tất nhiên ý kiến đó có phần đúng, song chưa đủ Phải thấyđược quan hệ, vị trí của giáo viên chủ nhiệm là người thường xuyên tiếp nhận
Trang 37được thông tin từ học sinh để đảm bảo tính khách quan, tính trung thực của
dư luận, ý kiến của một tập thể học sinh Khi tiếp nhận thông tin, người giáoviên chủ nhiệm lớp xử lí kịp thời ngay thông tin với tư cách là nhà sư phạm,điều đó có tác dụng rất lớn Có không ít thông tin, suy nghĩ của học sinh chỉ
có thể tâm sự với giáo viên chủ nhiệm, đó là một thực tế
Về bản chất phương pháp công tác của GVCN là phương pháp giáo dục là các cách thức để GVCN thực hiện tốt giáo dục các nhiệm vụ thể hiện đúng vai trò và đáp ứng được các yêu cầu giáo dục với tập thể học sinh lớp trong năm học
Các nhóm phương pháp giáo dục mà GVCN cần thực hiện:
Nhóm các phương pháp thuyết phục:
Phương pháp khuyên giải
Phương pháp tranh luận
Phương pháp nêu gươngNhóm các phương pháp tổ chức hoạt động:
Phương pháp luyện tập
Phương pháp đưa học sinh vào cuộc sống
Phương pháp nêu gương Nhóm các phương pháp kích thích hành vi (tác động 2 chiều: tích cực, tiêu cực)
Phương pháp khen thưởng
Phương pháp trách phạt
Phương pháp thi đuaGVCN phải biết kết hợp linh hoạt các phương pháp giáo dục trong quá trình thực hiện các tác động sư phạm của mình, vừa tác động trực tiếp đến từng học sinh vừa gián tiếp đến cá nhân thông qua tập thể lớp
Trang 381.4 Nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên tiểu học:
Nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm lớp là những cách thức tácđộng của người giáo viên nhằm tạo ra chất lượng mới của hoạt động chủnhiệm lớp- sự phát triển và hoàn thiện nhân cách của học sinh trong lớp chủnhiệm
Đối với CBQL:
Phải có năng lực thực sự, thể hiện ở việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo
và kiểm tra đánh giá công tác chủ nhiệm lớp Trong đó, việc bố trí, phân côngGVCN lớp sao cho đúng người, đúng việc, phù hợp với sở trường, năng lựccủa từng cá nhân là rất quan trọng Để giúp GVCN thực hiện tốt công tác chủnhiệm lớp, đòi hỏi người CBQL phải gần gũi với học sinh, phải nhạy bén vớiviệc đánh giá, nhận xét của GVCN Bên cạnh đó là việc động viên, khuyếnkhích kịp thời, bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ, đánh giá đúng kết quả màngười GVCN mang lại chính là sự thể hiện rõ rệt nhất về năng lực củangười CBQL
Đối với GVCN lớp
Cần phải có kỹ năng, kinh nghiệm trong việc quản lý lớp mình chủnhiệm Những kỹ năng kinh nghiệm được tích luỹ trong quá trình công tác,trong việc học hỏi các đồng nghiệp, tham khảo tài liệu và thông qua các kênhthông tin khác Đối với từng đối tượng cụ thể, từng công việc cụ thể phải cócách ứng xử phù hợp, mới thu được kết quả mong muốn Sự linh hoạt trongviệc vận dụng các biện pháp giáo dục cho từng đối tượng học sinh sẽ đạt đượchiệu quả giáo dục cao
1.4.1 Những yêu cầu về công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên tiểu học:
Công tác chủ nhiệm lớp của người GVTH phải phù hợp với quan điểmgiáo dục của Đảng và nhà nước ta, của Bộ giáo dục, là nhằm góp phần vàohình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạođức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục họclên lớp trên
Trang 39GVCN nắm vững mục tiêu giáo dục của lớp học, cấp học và chươngtrình dạy học, giáo dục của nhà trường Đội ngũ giáo viên trong tổ chuyênmôn đều phải đạt trình độ chuẩn hoặc trên chuẩn có khả năng dạy học tốt.Tuy nhiên, đa số giáo viên chỉ nắm vững mục tiêu, chương trình của lớpmình… Còn hiểu biết về mục tiêu, chương trình xuyên suốt cấp học vẫn cònnhiều hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến việc tìm hiểu học sinh, việc giáoviên xây dựng chiến lược trong quá trình giáo dục toàn diện trong lớp.
Các hoạt động trong công tác chủ nhiệm lớp của người giáo viên phảiđược dựa trên bản kế hoạch cụ thể, để qua đó có thể thực hiện một cách hiệuquả nhất những mục tiêu, nhiệm vụ mà nhà trường giao cho
Ý thức GVCN trong việc tìm hiểu, nắm vững cơ cấu của nhà trường,tham gia vào quá trình tự quản GVCN đều xác định là hoàn thành nhiệm vụgiảng dạy lớp được phân công, có giáo viên được phân công thêm công táckiêm nhiệm Tuy nhiên các thầy cô quan tâm và coi trọng đến việc hoàn thànhnhiệm vụ cá nhân, chưa phát huy tốt khả năng của bản thân trong các hoạtđộng chung của nhà trường Do đó GVCN thường coi công tác chủ nhiệm lớp
là việc riêng của từng cá nhân, chưa đặt việc quản lý và giáo dục toàn diệnhọc sinh trong lớp là một phần không thể tách rời của quản lý và giáo dục củanhà trường của các thành viên trong hội đồng giáo dục Đây là điểm yếukhông chỉ đội ngũ GVCN mà còn ở diện rộng hơn
Khả năng nghiên cứu và phân tích mọi đặc điểm của học sinh trong lớpchủ nhiệm, tìm hiểu các yếu tố tác động đến các em (đặc điểm tâm sinh lý,năng lực cá nhân, hoàn cảnh gia đình, sự quan tâm đến người thân đến con emhọ):
Theo quy định của ngành giáo dục hiện nay, GVCN chỉ cần hoàn thành sổchủ nhiệm có thể được coi là hoàn thành nhiệm vụ chủ nhiệm lớp
Việc xây dựng được sổ chủ nhiệm theo lý thuyết là mất nhiều công sức
và tinh thần trách nhiệm Tuy nhiên, trên thực tế các giáo viên chủ yếu là saochép (có bổ sung) từ lớp dưới, nếu có điều chỉnh lớn là phần nhiều có sự kiểm
Trang 40tra, chỉ đạo của Hiệu trưởng nhà trường điều này làm cho bản chất của côngtác chủ nhiệm ,giảm đi tính giáo dục và thực chất.
Việc tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn; tự hoàn thiệnphẩm chất nhân cách của đội ngũ GVCN Để có nhiều tiến bộ trong việc tựhọc, tự bồi dưỡng, các GVCN đều phải tham gia các lớp đào tạo để nâng caochuẩn đào tạo Mỗi GVCN đều cố gắng là một tấm gương sáng về đạo đức và
tự học Tuy nhiên, để đạt được những yêu cầu về chuẩn nghề nghiệp giáo viêntiểu học trong thời kỳ mới, sự phấn đấu của giáo viên vẫn là những con đườngdài phía trước
Sự phối hợp với các CBQL, tập thể GV và HS , các tổ chức đoàn thể,
xã hội ngoài nhà trường: là một nhiệm vụ không thể thiếu của giáo viên chủnhiệm lớp Bởi nếu thực hiện tốt điều này, sẽ mang lại sự thống nhất trongviệc tác động giáo dục của toàn xã hội đến học sinh, đảm bảo tính liên tục vàtoàn vẹn của quá trình giáo dục
1.4.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên tiểu học.
1.4.2.1 Các yếu tố bên trong nhà trường:
Nhận thức của các đối tượng có liên quan về công tác chủ nhiệm lớp của người GVTH:
Nhận thức của các cấp quản lý, của các GV bộ môn và của Cha, mẹhọc sinh về tầm quan trọng của công tác chủ nhiệm lớp với sự hình thành vàphát triển nhân cách của học sinh
Nhận thức của GV chủ nhiệm về mục đích, ý nghĩa, nội dung, phươngpháp, hình thức, kết quả của công tác chủ nhiệm lớp
Nhận thức các lực lượng trên về công tác chủ nhiệm lớp là điều rấtquan trọng Nếu nhận thức đúng thì quá trình giáo dục học sinh sẽ đạt kết quảnhư mong muốn, đáp ứng được những yêu cầu mới trong giáo dục Nhậnthức đúng hay sai sẽ có ý nghĩa to lớn trong việc thành công hay thất bại củacông việc Vì vậy cần phải nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm cho các