1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát hành vi chê và hồi đáp chê trong tác phẩm của ma văn kháng

103 793 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát hành vi chê và hồi đáp chê trong tác phẩm của Ma Văn Kháng
Tác giả Hoàng Thị Hồng Vân
Người hướng dẫn GS.TS. Nguyễn Văn Khang
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2008
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 354 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn thạc sỹ của các tác giả Nguyễn Thị Ngận, Lê Thị Thu Hoa, Đinh Thị Hà 1996 đã nghiên cứu về cấu trúc ngữ nghĩa của một số nhóm động từ nói năng biểu thị các hành vi ngôn ngữ tron

Trang 1

Để hoàn thành bản luận văn này tôi xin bày tỏ lòng biết

ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Văn Khang - ngời thầy đã tận tình giúp đỡ, hớng dẫn tôi kể từ khi nhận đề tài cho đến khi luận văn đợc hoàn thành

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ văn và khoa Đào tạo Sau đại học Trờng Đại học Vinh

đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập.

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với các bạn bè, gia đình và những ngời thân thiết đã luôn động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu nêu trong luận văn là trung thực, những kết luận khoa học của luận văncha từng đợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Vinh, tháng 12 năm 2008

Tác giả

Hoàng Thị Hồng Vân

Trang 3

3 FFA (Face Flattering Acts): Hµnh vi t«n vinh thÓ diÖn

4 IFIDS: Ph¬ng tiÖn ng÷ dông chØ dÉn hiÖu lùc ë lêi

5 SP1 (Speaker 1): Nh©n vËt héi tho¹i thø nhÊt - Ngêi chª trong cÆptho¹i chª

6 SP2 (Speaker 2): Nh©n vËt héi tho¹i thø hai - Ngêi tiÕp nhËn chªtrong cÆp tho¹i chª

7 SKLN: Sù kiÖn lêi nãi

8 V: Néi dung chª trong biÓu thøc ng÷ vi chª nguyªn cÊp

9 VD: VÝ dô

10 X: §èi tîng chª trong biÓu thøc ng÷ vi chª nguyªn cÊp

Trang 4

Chơng 1 Cơ sở lý thuyết 8

1.1.3 Lý thuyết về lịch sự và quan hệ liên cá nhân trong hội thoại 21

3.1 Thế nào là tham thoại hồi đáp của hành vi chê 97

3.1.1 Tham thoại hồi đáp của hành vi chê 97

3.1.2 Cặp thoại tích cực và cặp thoại tiêu cực có hành vi chê ở lời dẫn nhập 98

3.3 Căn cứ vào tính chất của tham thoại hồi đáp 100

3.3.1 Tham thoại hồi đáp tích cực của hành vi chê 100

3.3.2 Tham thoại hồi đáp tiêu cực của hành vi chê 105

3.3.3 Tham thoại hồi đáp trung gian của hành vi chê 110

Các hành vi ngôn ngữ gắn liền với hoạt động giao tiếp Có thể nói rằng:

“Bản thân cuộc sống dờng nh phần lớn là do các hành vi ngôn ngữ tạo nên vànhững đời sống riêng các nhân dờng nh cũng là một hiện tợng của các hành vingôn ngữ.” [38]

Trang 5

Nghiên cứu về các hành vi ngôn ngữ không những là nhiệm vụ củangôn ngữ học mà bản thân mỗi cá nhân khi giao tiếp bằng ngôn ngữ cũng phải

lý giải các hành vi ngôn ngữ của ngời đối thoại với mình để có hành vi hồi đápthích hợp Muốn giao tiếp đợc hiệu quả, một điều cơ bản là chúng ta phảinhận diện đợc chính xác hành vi ngôn ngữ của ngời đối thoại

Chê là hành vi vẫn thờng đợc ngời Việt Nam sử dụng với nhiều hiệu lực

ở lời khác nhau, nó mang tính chất hai mặt Một mặt, hành vi chê là hành vingôn ngữ mang tính chủ quan cao và tiềm ẩn sự đe doạ, thậm chí xúc phạm

đến thể diện của ngời bị chê và làm cho quan hệ thân cận giữa ngời chê và

ng-ời tiếp nhận chê trở nên xa cách, có khi trở thành kẻ thù của nhau Nhng mặtkhác, nếu biết sử dụng hành vi chê đúng lúc, đúng chỗ, chừng mực thì nó sẽgiúp cho quan hệ giữa ngời giao tiếp thêm gần gũi, thân thiết, gắn bó Bêncạnh đó, cũng cần nắm đợc các trờng hợp hồi đáp chê để có thể lờng trớc phảnứng của ngời bị chê khi chúng ta sử dụng các hành vi chê Và đặc biệt trongcác tác phẩm văn học, chê là hành vi ngôn ngữ cũng đóng góp một phần quantrọng làm nên một tác phẩm hoàn chỉnh Trong các tác phẩm của Ma VănKháng, hành vi chê đã góp phần làm nên diện mạo của ngôn ngữ

Ma Văn Kháng là nhà văn của cái đẹp trong dòng đời sinh hoá, bình dị,hồn nhiên, cái đẹp trong niềm hạnh phúc đợc làm ngời với ý nghĩa đích thựccủa nó chứ không phải là cái gì khác Vì vậy tác phẩm của Ma Văn Kháng cóhình hài, diện mạo rất riêng Không nên nghĩ thể loại chỉ là câu chuyện hìnhthức, mà trớc hết là vấn đề nội dung Nó thể hiện một cách cắt nghĩa, một kiểuquan hệ của nhà văn với con ngời và đời sống Những truyện hay nhất của MaVăn Kháng là những truyện nói về “Dòng đời”, “Mạch sống”, đó là những câuchuyện rất gần gũi với cuộc sống hàng ngày của con ngời, đa cái thờng ngàyvào văn xuôi Nhà văn còn sử dụng rộng rãi khẩu ngữ, trớc hết là tục ngữ,thành ngữ, đem văn nói hoà trộn vào văn viết, tạo ra mặt trần thuật đa tạpgiọng điệu rất đậm chất tiểu thuyết Vì vậy trong tác phẩm của Ma VănKháng, hành vi ngôn ngữ rất phong phú và đa dạng Tôi muốn khảo sát mộthành vi ngôn ngữ cụ thể (hành vi chê) trong một số tác phẩm của Ma VănKháng, qua đó thể hiện đợc phong cách riêng của nhà văn Xuất phát từ những

lý do trên chúng tôi chọn: Khảo sát hành vi chê và hồi đáp chê trong tác

phẩm của Ma Văn Kháng làm đề tài nghiên cứu của mình

2 Lịch sử vấn đề

Trên thế giới, ngũ dụng học xuất hiện từ nửa đầu của thể kỷ XX vớihàng loạt tên tuổi các nhà nghiên cứu nh: J.L Austin, J.R Searle, J J Katz,Ballmer và Brenestuhl, A Weirzbicka, G.Yule

Trang 6

ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu nh Hoàng Phê, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn

Đức Dân đợc coi là những ngời có công mở đờng cho ngành ngữ dụng họcViệt Nam

Năm 1993, trong cuốn “Đại cơng ngôn ngữ học” [19] (viết chung vớiBùi Minh Toán), Đỗ Hữu Châu đã có một chơng về ngữ dụng học Trong đó,tác giả đã phân biệt hành vi ngôn ngữ với biểu thức ngữ vi, phát ngôn ngữ vi

và nêu một số dấu hiệu ngữ dụng đánh dấu lực tại lời của các hành vi ngônngữ Tuy nhiên, đây chỉ là những cơ sở lý thuyết về hành vi ngôn ngữ

Năm 1998, cuốn “Ngữ dụng học”, tập 1 của tác giả Nguyễn Đức Dânvới những cơ sở lý thuyết khá căn bản về dụng học cũng đề cập đến vần dềhành vi ngôn ngữ Nhng tác giả không phân biệt các biểu thức ngữ vi và phátngôn ngữ vi mà cho rằng biểu thức ngữ vi và phát ngôn ngữ vi là một: “Cácphát ngôn ngữ vi cũng đợc gọi là các biểu thức ngữ vi” [23 tr 47]

Năm 2000, tác giả Nguyễn Thiện Giáp cho ra đời cuốn “Dụng học ViệtNgữ” Trong công trình này, tác giả đã lý giải một số vấn đề thuộc ngữ dụnghọc áp dụng vào tiếng Việt

Đến năm 2001, tác giả Đỗ Hữu Châu đã cho tái bản có sửa chữa và bổsung phần Ngữ dụng học trong cuốn “Đại cơng ngôn ngữ học” viết chung vớiBùi Minh Toán (1993) trớc đó thành giáo trình “Đại cơng ngôn ngữ học” Tậphai, phần Ngữ dụng học Trong đó, các vấn đề thuộc chuyên ngành ngữ dụnghọc đợc trình bày một cách hệ thống và chi tiết ở giáo trình này, ngoài việctrình bày những quan niệm khác nhau của các nhà ngữ dụng học trên thế giới,tác giả còn đa những quan niệm và kiến giải của riêng mình về các vần đề ngữdụng học

Các công trình trên thực sự là những cơ sở lý thuyết vô cùng bổ ích,thiết thực đối với mỗi chúng tôi trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tàicủa mình Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tiếp thu đợc những thành quả nghiêncứu cảu những ngời đi trớc đã vận dụng thành công lý thuyết hội thoại vàoviệc nghiên cứu của các hành vi ngôn ngữ khác nhau

Luận văn thạc sỹ của các tác giả Nguyễn Thị Ngận, Lê Thị Thu Hoa,

Đinh Thị Hà (1996) đã nghiên cứu về cấu trúc ngữ nghĩa của một số nhóm

động từ nói năng biểu thị các hành vi ngôn ngữ trong tiếng Việt nh: nhómthông tin; nhóm bàn, tranh luận, cãi; nhóm khen, tâng, chê; các luận văn này

đã đặt động từ nói năng trong hội thoại và xây dựng đợc cấu trúc ngữ nghĩacủa một số động từ nói năng cụ thể, đồng thời có đề cập đến vấn đề biểu thứcngữ vi, những cha xác định vai trò của biểu thức ngữ vi trong biểu đạt và nhậndiện một hành vi ngôn ngữ

Trang 7

Năm 1999, Dơng Tuyết Hạnh đã xác lập đợc sơ đồ cấu trúc về cấu trúccủa tham thoại gồm có: thành tố cốt lõi (hành vi chủ hớng + hành vi phụthuộc) và thành tố mở rộng (thành phần không tham gia vào nội dung miêu tảcủa tham thoại mà chỉ có chức năng ngữ dụng), đồng thời vận dụng nghiêncứu tham thoại có hành vi ngôn ngữ hỏi làm chủ hớng, nhng cha miêu tả sựthể hiện cụ thể của hành vi hỏi trong các biểu thức, phát ngôn ngữ vi và mốiquan hệ chặt chẽ giữa hành vi ngôn ngữ ở lời dẫn nhập và lời hồi đáp.

Tác giả Nguyễn Quang với luận án tiến sỹ (1999) đã đặt hành vi khen

và tiếp nhận lời khen trong sự khảo sát và so sánh để tìm ra sự khác biệt trong

sử dụng hành vi này giữa ngời Việt và ngời Mỹ Tác giả chủ yếu đi sâu nghiêncứu cách sử dụng chứ không mô tả cụ thể cấu trúc của những biểu thức ngữ vi

Năm 2000, các luận văn của Vũ Tố Nga, Nguyễn Thị Hoàng Yến, HàThị Hải Yến với đề tài về hành vi cam kết, chê, cảm thán đã đặt hành vi ngônngữ trong tơng tác hội thoại để nghiên cứu Các tác giả này ngoài việc xác lậpcác biểu thức ngữ vi, các phát ngôn ngữ vi cho hành vi ngôn ngữ tơng ứng cònxem xét các tham thoại dẫn nhập có chứa hành vi ngôn ngữ chủ hớng và tìmhiểu về các tham thoại hồi đáp tơng thích

Cùng thời gian này, luận án tiến sỹ của tác giả Phạm Văn Thấu với đềtài “Cấu trúc liên kết của cặp thoại” đã đi sâu thêm về cấu trức chức năng của

đơn vị cặp thoại và đã mô hình hoá các quan hệ hớng nội và hớng ngoại củacặp thoại, nhận định rõ về vai trò của cặp thoại trong hệ thống các đơn vị hộithoại

Năm 2001 các luận văn của Trịnh Thanh Trà, Nguyễn Thị Vân Anh,Chử Thị Bích, Phạm Hùng Linh đã đa đợc một số hành vi ngôn ngữ (điềukhiển, thỉnh cầu, cho, tặng, kể) và các cặp thoại có chứa hành vi ngôn ngữ đótrong tổ chức của một sự kiện lời nói trong những tình huống giao tiếp cụ thể

để tìm hiểu

Các luận văn này tiến thêm một bớc trong quá trình nghiên cứu về các

đơn vị hội thoại

Tác giả Nguyễn Thị Hoài Linh ( 2003), Nguyễn Thu Hạnh (2005) cũng

đã đặt hành vi ngôn ngữ “mách” và “trách” trong sự tơng tác hội thoại để xemxét Nguyễn Thu Hạnh đã bớc đầu đề cấp đến vấn đề lịch sự trong việc sửdụng hành vi trách

Tiếp thu những thành quả của các tác giả trên, chúng tôi tiến hànhnghiên cứu đề tài của mình với việc khảo sát trong tác phẩm của Ma VănKháng một hành vi ngôn ngữ cụ thể (hành vi chê) với sự biểu hiện của nó ở

Trang 8

các biểu thức ngữ vi, phát ngôn ngữ vi và sự hồi đáp đối với hành vi đó trongphạm vi một cặp thoại.

3 Phạm vi nghiên cứu

a Các hành vi ngôn ngữ trong giao tiếp vô cùng phong phú và đa dạng.Luận văn của chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu một hành vi ngôn ngữ cụ thểtrong hội thoại một số tác phẩm của Ma Văn Kháng dới hình thức cặp thoạidạng song thoại

b Hành vi chê có thể là hành vi chủ hớng hoặc hành vi phụ thuộc trongtham thoại Luận văn của chúng tôi nghiên cứu những trờng hợp hành vi chê

là hành vi chủ hớng và hành vi phụ thuộc trong tham thoại

c Đối với tham thoại hồi đáp, trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chỉgiới hạn trong việc nghiên cứu các kiểu hồi đáp cho hành vi chê chứ không đisâu vào các trờng hợp chê là hồi đáp cho hành vi khác

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này chúng tôi nhằm những mục đích và những nhiệm

vụ sau:

- Mục đích: Thông qua nghiên cứu hành vi chê của Ma Văn Kháng chochúng ta hiểu đợc về vấn đề giao tiếp ngôn ngữ hằng ngày trong cuộc sống nóichung và giao tiếp ngôn ngữ trong tác phẩm của Ma Văn Kháng nói riêng Từ

đó giúp chúng ta cảm nhận sâu sắc hơn về tác phẩm của Ma Văn Kháng, đặcbiệt là khảo sát hành vi chê trong tác phẩm

- Nhiệm vụ đợc sử dụng trong tác phẩm Ma Văn Kháng:

a Xác định biểu thức ngữ vi chê nguyên cấp trong tác phẩm, trong đó

đặc biệt chú ý cấu trúc của biểu thức, phân biệt các biểu thức của hành vi chêvới một số hành vi khác

b Nghiên cứu thành phần mở rộng thờng đi kèm với các biểu thức chêtrong các phát ngôn chê ở lời dẫn nhập Xem xét sự chi phối của phép lịch sự,của vấn đề xng hô trong phát ngôn chê

c Nghiên cứu các kiểu hồi đáp của hành vi chê dới dạng các tham thoạihồi đáp

5 Phơng pháp và thủ pháp nghiên cứu

Luận văn đã sử dụng chủ yếu một số phơng pháp và thủ pháp nghiêncứu sau:

a Phơng pháp thống kê, khảo sát: đợc dùng trong việc thống kê, khảo

sát t liệu là các cặp thoại có chứa hành vi chê trong tác phẩm của Ma VănKháng

Trang 9

b Phơng pháp phân tích tổng hợp: chúng tôi sử dụng phơng pháp

phân tích để xem xét, nghiên cứu các tham thoại chê đợc sử dụng phân tíchcác ví dụ làm rõ hơn các khái niệm, trên cơ sở đó để tìm ra công thức chung,khái quát là các biểu thức, mô thức chê và các dạng thức của các phát ngônchê

c Phơng pháp hệ thống hoá: Trên cơ sở những t liệu đã đợc phân tích,

tổng hợp, chúng tôi xem xét các mặt đồng nhất và đối lập để có thể hệ thốnghoá các vần đề thuộc hành vi chê: Các biểu thức chê, phát ngôn chê, các nhân

tố chi phối phát ngôn chê và các dạng hồi đáp chê

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luậnvăn gồm ba chơng

7 Cái mới của luận văn

- Mô tả cặn kẽ và khái quát đợc những đặc trng, tính chất của hành vichê trong tiếng Việt nói chung và trong tác phẩm của Ma Văn Kháng nóiriêng

- Thấy đợc nét riêng của hành vi chê trong sử dụng của nhà văn Ma VănKháng

- Vận dụng lý thuyết về hành vi ngôn ngữ vào quá trình nghiên cứu mộttrờng hợp cụ thể đó là: Tuyển tập của Ma Văn Kháng

- Góp phần vào đặc điểm ngôn ngữ của các tác gia Việt Nam nói riêng

và các nhân vật nổi tiếng nói chung

Trang 10

Chơng 1 Cơ sở lý thuyết 1.1 Những cơ sở lý luận

Nghiên cứu ngôn ngữ phải đặt trong sự hành chức (tức trong hoạt độngthực hiện các chức năng mà xã hội quy định cho nó) Nghiên cứu về hành vichê có liên quan đến lĩnh vực hội thoại, quan hệ liên cá nhân, phép lịch sự vànhững vần đề lý thuyết về hành vi ngôn ngữ Chúng tôi sẽ lần lợt trình bàynhững vấn đề cơ bản có liên quan trực tiếp đến đề tài trong chơng này

VD: Khi ta nói: “Anh quá quắt lắm!” là ta đã thực hiện hành vi đánh giátiêu cực, hành vi chê ngay khi chúng ta nói Và ngời nghe dù có tán thành hayphản đối hành vi chê của ta cũng phải có nhiệm vụ hồi đáp lại bằng một phátngôn nào đó (VD: “Anh làm gì mà em bảo anh quá quắt?” hoặc “Em hãy xemlại mình đi Em c xử với tôi nh thế nào?”) nếu không muốn bị xem là bất lịch

sự hoặc không biết giao tiếp Khác với các hành vi mợn lời, “Hành vi ở lời có

ý định (hay có đích)”, quy ớc và có thể chế, dù rằng quy ớc và thể chế củachúng không hiển ngôn mà quy tắc vận hành của chúng đợc mọi ngời trongmột cộng đồng ngôn ngữ tuân theo một cách không tự giác

Chẳng hạn, trong chùa không ai nói to, trong một buổi lễ long trọngkhông ai lại nói cời ầm ĩ hoặc nói chuyện điện thoại oang oang, nếu không sẽ

bị coi là không biết “ phép tắc lịch sự”

O Ducrot còn nhấn manh thêm hành vi ở lời khác với hành vi tạo lời vàmợn lời ở chỗ “chúng thay đổi t cách pháp nhân của ngời đối thoại Chúng đặtngời nói và ngời nghe vào những nghĩa vụ và quyền lợi mới so với tình trạngcủa họ trớc khi thực hiện hành vi ở lời đó” [8 tr 90]

Chẳng hạn nh ta chê ai một điều gì đó là ta đã phải chịu trách nhiệm vềnhững điều ta nói ra Và ngời nghe có quyền và trách nhiệm biểu thị sự tán

Trang 11

thành hay phản đối những điều vừa nghe đợc Nghĩa là cả ngời nói và ngờinghe đều có nghĩa vụ và quyền lợi mới so với lúc trớc khi ta thực hiện hành vichê.

Nh vậy, nắm đợc ngôn ngữ không phải chỉ dừng lại ở việc biết phát âmdùng từ, đặt câu v v mà còn phải biết sử dụng ngôn ngữ đó theo đúng nhữngquy định ở lời mà ngôn ngữ đó đòi hỏi, tức phải nắm những quy tắc điều khiểncác hành vi ở lời trong ngôn ngữ sao cho đúng lúc, đúng chỗ, hợp ngời, hợpcảnh

Các hành vi ở lời có thể đợc phân chia thành những nhóm khác nhau

Có 2 hớng phân loại chính:

a Phân loại hành vi ngôn ngữ theo động từ chỉ hành vi ở lời

Theo hớng này, Austin đã phân loại các hành vi ngôn ngữ thành 5 nhómphạm trù sau:

- Trình bày (expositives): đợc dùng để trình bày các quan niệm, dẫn dắt

lập luận, giải thích cách dùng từ VD: Khẳng định, phủ định, phát biểu, tranhluận, nhắc nhở…

- Phán xử (Verditives): Đa ra những lời phán xét mà về cơ bản là những

điều đánh giá về một sự kiện hoặc một giá trị dựa trên những chứng cứ hoặc lý

lẽ xác đáng VD: đánh giá, phân loại, tính toán, phân tích v.v…

- Cam kết (conmissives): Ràng buộc ngời nói vào một chuỗi những

hành động nhất định VD: hứa hẹn, bảo đảm, từ chối, thề nguyền…

- Hành xử (Exercitives): Đa ra những quyết định thuận lợi hay chống lại

một chuỗi hành động nào đó, thực thi quyền lực hoặc ảnh hởng.VD: Ra lệnh,

đề nghị, thỉnh cầu, thách đố

- ứng xử (Behabitives): đáp lại hành vi c xử của ngời khác đối với

những sự kiện có liên quan VD: Xin lỗi, cảm ơn, chúc mừng, phê bình…

Nhng chính Austin sau này cũng cho rằng bảng phân loại của mình làcha hoàn thiện Searle là ngời đầu tiên chỉ ra những hạn chế trong bảngphân loại của Austin là chỉ phân loại các động từ ngữ vi Và do Austinkhông định ra các tiêu chí phân loại nên kết quả phân loại có khi chồngchéo (mà trong thực tế thì các động từ ngữ vi không phải bao giờ cũng t ơngứng một – một với các hành vi ngôn ngữ Chẳng hạn hai động từ hứa vàhứa hẹn trong tiếng Việt chỉ biểu thị một hành vi hứa)

Từ sự phê phán trên, Searle đa ra một phơng hớng phân loại thứ hai

b Phân loại hành vi ngôn ngữ theo hớng của Searle

Trang 12

Searle cho rằng trớc hết phải phân loại các hành vi ở lời chứ không phảiphân loại những động từ gọi tên chúng Ông đã liệt kê 12 điểm khác biệt giữacác hành vi ngôn ngữ có thể dùng làm tiêu chi phân loại các hành vi ngôn ngữ.

Tuy nhiên, trong quá trình phân loại Searle chỉ sử dụng 4 tiêu chí mà

ông cho là cơ bản, là quan trọng, đó là: đích ở lời (tức mục đích của hành vi);hớng khớp ghép lời – hiện thực (giữa các từ với thế giới hiện thực); trạng tháitâm lý; nội dung mệnh đề để phân loại các hành vi ngôn ngữ

Các hành vi ngôn ngữ đợc Searle chia làm 5 nhóm Đó là:

- Xác tín (Assertives): Có giá trị khảo nghiệm, định ra hớng khớp lời –

thế giới hiện thực và diễn tả niềm tin của ngời nói vào mệnh đề P

- Điều khiển (Directives): Diễn đạt cố gắng khiến ngời nghe H phải làm

một việc gì đó Do vậy mà hớng khớp là thế giới hiện thực – lời và chúng bày

tỏ mong ớc của ngời nói S muốn ngời nghe H làm một việc A

- Cam kết (Commissives): Diễn đạt cam kết của ngời nói S làm một số

việc trong tơng lai Do vậy mà chúng có hớng khớp thế giới hiện thực – lời

và ngời nói S bày tỏ ý định làm một việc A

- Biểu cảm (Expressives): Diễn đạt thái độ của ngời nói đối với một số

hoàn cảnh, tình thế cụ thể đợc nêu ra trong nội dung mệnh đề P (thí dụ: Phầngạch chân của câu “Tôi xin lỗi vì đã dẫm lên ngón chân anh” ở đây có hớngkhớp lời mà chỉ có nhiều trạng thái tâm lý khác nhau và nội dung mệnh đề

“phải là liên quan giữa ngời nói S và ngời nghe H” (Tr 357)

- Tuyên bố (Declarations): Đa ra sự ăn khớp giữa nội dung mệnh đề và

thế giới hiện thực Do vậy mà hớng khớp lời là cả hai phía: lời – thế giới hiệnthực và thế giới hiện thực – lời Searle nhận thấy không có trạng thái tâm lýnào trong nhóm hành vi này

Theo chúng tôi, 12 tiêu chí mà Searle nêu ra thực chất là 12 phơng diện,

12 đặc điểm, 12 chức năng quan yếu nhất trong hành vi ở lời của tất cả cácngôn ngữ Tất nhiên còn những phơng diện khác mà Searle cha chú ý tới nhngnhững tiêu chí mà ông đề xuất là hoàn toàn đúng đắn, quyết định sự khácnhau giữa hành vi ở lời này với hành vi ở lời kia Năm nhóm hành vi mà Searlephân chia là 5 nhóm lớn, thực chất là 5 phạm trù Trong những trờng hợp cóthể sử dụng những tiêu chí mà Searle cha dùng để tiếp tục phân chia các hành

vi ngôn ngữ ra thành những nhóm nhỏ hơn hoặc để xác định ranh giới giữamột số hành vi ngôn ngữ khác nhau

Sau Searle, một số nhà nghiên cứu cũng nêu ra những hớng phân loạikhác nh cách phân loại của D Wunderlich, của D.Recanati, K.Bach và M.M.Hanish Tuy nhiên, “các tiêu chi phân lọai của 4 tác giả sau Searle đều trùng,

Trang 13

hoặc trùng bộ phận rơi vào tiêu chí của Searle” [18, tr.133] Vì vậy có thểkhẳng định rằng giá trị phát hiện 12 tiêu chí phân loại của Searle là rất lớn vàcho đến nay vẫn đợc xem là kinh điển.

Mặc dù vậy Searle vẫn có điểm hạn chế là mới chỉ đề cập đến các hành

vi ngôn ngữ ở dạng tĩnh (dạng đơn thoại), “Tách hành vi ở lời ra khỏi ngữcảnh, ra khỏi hoạt động hội thoại, một hoạt động thờng xuyên, cơ bản củangôn ngữ” [18, tr.440] và chỉ nhìn nhận các hành vi ở lời một chiều từ ngờinói đến ngời nghe mà cha xem xét theo chiều ngợc lại trong mối quan hệ qualại, trong tơng tác bằng lời

D.Wunderlich và Francis đã chỉ ra những hạn chế này và cho rằng

“Không một hành vi nào đợc thực hiện một cách cô lập cả Trong hội thoại,những ngời giao tiếp và các hành vi ngôn ngữ đợc sử dụng tác động lẫn nhau,hành vi này “gọi” hành vi kia ra, cứ thế tiếp tục cho đến khi cuộc thoại kếtthúc” [18, tr.141] Nh vậy, nghiên cứu hành vi ngôn ngữ không thể đặt ngoài

sự tơng tác bằng lời Và việc đa các hành vi ở lời vào hội thoại đã giúp các nhàhội thoại học phát hiện ra hàng loạt hành vi ở lời khác, chỉ xuất hiện trong hộithoại Đó cũng là lý do vì sao khi nghiên cứu hành vi chê, chúng tôi phải đặt

nó trong hội thoại để xem xét

1.1.1.2 Động từ ngữ vi.

Tên gọi của các hành vi ngôn ngữ (hành vi ở lời) trong một ngôn ngữ làcác động từ nói năng Hay nói cách khác, động từ nói năng là những từ biểuthị, gọi tên các hành vi ngôn ngữ

Trong số các động từ nói năng, có một số động từ có thể đợc thực hiệntrong chức năng ngữ vi, tức thực hiện trong chức năng ở lời, gọi là động từ ngữvi

“Động từ ngữ vi là những động từ mà khi phát âm chúng ra cùng vớibiểu thức ngữ vi (có khi không cần có biểu thức ngữ vi đi kèm) là ngời nóithực hiện luôn hành vi ở lời do chúng biểu thị” [18, tr.97] VD: Khi ta phátngôn “Tôi cảnh cáo anh về thái độ vô lễ với giám thị!” Tức là ta đã đồng thờithực hiện hành vi cảnh cáo vào thời điểm ta phát ngôn Nh vậy động từ cảnhcáo trong phát ngôn trên đợc thực hiện trong chức năng ngữ vi và đợc gọi là

động từ ngữ vi

Trong thực tế giao tiếp, không phải khi nào các động từ ngữ vi cũng đợcdùng đợc với chức năng ngữ vi Austin cho rằng động từ ngữ vi cũng đợc dùngvới chức năng ngữ vi (có hiệu lực ngữ vi) khi nó thoả mãn các điều kiện sau:

- Chủ thể nói (SP1) phải ở ngôi thứ nhất

- Thời của động từ phải ở thời hiện tại (hiện tại phát ngôn)

Trang 14

- Thể (voice) của động từ là thể chủ động và thức (mood) thực thi(indicative)

- Trừ một số trờng hợp động từ nói năng không nhất thiết phải có ngời

đối thoại nh: Kể, tờng thuật, than thở thì một động từ nói năng đợc dùngtrong chức năng ngữ vi nhất thiết phải có mặt ngôi thứ hai, tức ngời đối thoạitrực tiếp cùng có mặt trong sự giao tiếp

Nếu thiếu một trong những điều kiện trên đây thì động từ đợc dùngtrong phát ngôn không đợc coi là động từ ngữ vi

1.1.1.3 Biểu thức ngữ vi

Biểu thức ngữ vi “Là những thể thức nói năng đặc trng cho một hành vi

ở lời” [18, tr.92] Mỗi biểu thức ngữ vi đợc đánh dấu bởi những dấu hiệu chỉdẫn hiệu lực ở lời hay còn gọi là các phơng tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời(illocutionary force in dicating devices - IFIDs) - thuật ngữ của Searle Nhờnhững dấu hiệu này mà các biểu thức ngữ vi đợc phân biệt với nhau

- Những từ ngữ đặc thù, chuyên dùng trong các biểu thức ngữ vi:

Chẳng hạn: Ai, cái gì, bao giờ, mấy, là những từ ngữ chuyên dùngtrong biểu thức ngữ vi hỏi; hãy, đừng, chớ, là những từ ngữ chuyên dùngtrong biểu thức ngữ vi cầu khiến,

- Ngữ điệu: Chẳng hạn cùng một phát ngôn: “Cái áo trông đẹp nhỉ!”nếu đợc phát ngôn bằng ngữ điệu bình thờng, thấp dần cuối câu là một phátngôn khen Nhng nếu phát âm với ngữ điệu nhấn mạnh ở cuối câu, đặc biệttiếng “nhỉ” kéo dài và nhấn mạnh thì rõ ràng là một phát ngôn chê mỉa

- Quan hệ giữa các thành tố trong cấu trúc vị từ - tham thể tạo nên nộidung mệnh đề đợc nêu trong biểu thức ngữ vi với các nhân tố của ngữ cảnh

Chẳng hạn phát ngôn “Anh sẽ không quên vụ này đâu, thằng em ạ!”,tuỳ theo quan hệ liên cá nhân giữa SP1 và SP2, tuỳ theo hoàn cảnh, điều kiệngiao tiếp, những hành động trớc đó mà SP2 đã làm có lợi hay có hại cho SP1

mà phát ngôn trên có thể đợc coi là một phát ngôn ở lời cảm ơn hay đe doạhoặc ngầm hứa hẹn một điều gì đó

- Ngoài ra, một IFIDs đặc biệt để nhận biết biểu thức ngữ vi là các động

từ ngữ vi

Trang 15

Biểu thức ngữ vi nguyên cấp là những biểu thức không chứa động từngữ vi ở chức năng ngữ vi VD: Mai anh sẽ đến

vi ở lời tạo ra nó Kết cấu lõi đó đợc gọi là biểu thức ngữ vi” [18, tr.91] Ví dụhai phát ngôn sau:

(a) - Anh nên bỏ thuốc lá đi

(b) - Tôi nói chân thành, anh nên bỏ thuốc lá đi

ở phát ngôn (a), căn cứ vào cấu trúc câu và các từ ngữ: nên + động từ +

đi, ta có thể xác định đây là những biểu thức ngữ vi ở lời khuyên Đây là phátngôn ngữ vi khuyên ở dạng tối giản, có lõi là một biểu thức ngữ vi ở lờikhuyên Còn phát ngôn (b), ngoài lõi là biểu thức ngữ vi ở lời khuyên còn cóthêm thành phần mở rộng “Tôi nói chân thành” có tác dụng rào đón trớc khi

đề này sẽ đợc xem xét kĩ hơn ở chơng 2 của luận văn

1.1.1.5 Điều kiện sử dụng các hành vi ở lời

Bất cứ một hành vi nào khi thực hiện cũng phải có những điều kiện nhất

định Các hành vi ở lời là loại hành vi xã hội cho nên các điều kiện để nó cóthể thực hiện đợc lại càng chặt chẽ, đa dạng hơn nữa “ Điều kiện sử dụng cáchành vi ở lời là những điều kiện mà một hành vi ở lời phải đáp ứng để nó cóthể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh của sự phát ngôn ra nó” [18, tr.111]

Trang 16

Austin là ngời đầu tiên đề cập tới các điều kiện sử dụng các hành vi ởlời Ông gọi các điều kiện sử dụng hành vi ở lời là những điều kiện “maymắn” (felicity conditions),vì theo ông, nếu may mắn các điều kiện đó đợc bảo

đảm thì hành vi mới “Thành công”, đạt hiệu quả, nếu không thì hành vi sẽ thấtbại Sau này, trên cơ sở những điều kiện may mắn của Austin, Searle đã điềuchỉnh, bổ sung và gọi chúng là điều kiện sử dụng hay điều kiện thoả mãn cáchành vi ở lời Các điều kiện đó nh sau:

(1) Điều kiện nội dung mệnh đề (content conditions) chỉ ra bản chất,nội dung của hành vi Nội dung mệnh đề có thể là mệnh đề đơn giản (xác tín,miêu tả) hay một hàm mệnh đề (ở dạng câu hỏi trả lời có/không), có thể làmột hành động của ngời nói (hứa hẹn) hay một hành động của ngời nghe (yêucầu, ra lệnh)

Đối với hành vi chê, nội dung mệnh đề của biểu thức ngữ vi chê lànhững đặc điểm của ngời/vật/việc đã xảy ra hoặc đang tồn tại trớc khi SP1 thựchiện hành vi chê

(2) Điều kiện chuẩn bị (preparatory conditions) bao gồm những hiểubiết của ngời phát ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của ngời nghe và về cácquan hệ giữa ngời nói và ngời nghe

Chẳng hạn khi xin phép làm gì, ngời nói thực sự tin rằng ngời nghe có

vị thế và đủ quyền hạn cho phép mình thực hiện điều đó Còn khi xin lỗi thì

ngời nói phải chắc chắn rằng mình đã hoặc sắp làm một điều gì đó gây tổnthất và phơng hại đến ngời nghe

ở hành vi chê, điều kiện chuẩn bị là: SP1 nhận thấy một vấn đề nào đó(theo quan điểm của SP1 của một ngời nào đó là không đúng, không tốt, khôngphù hợp hoặc cha thoả đáng SP1 cảm thấy không hài lòng và muốn nói cho

SP2 biết về vấn đề đó Nếu SP1 không nói ra, có thể SP2 cũng không nhận ra

điều đó

Bên cạnh đó, quan hệ giữa SP1 và SP2 phải ở một mức độ đủ để SP1 cóthể bày tỏ quan điểm của mình với SP2

(3) Điều kiện chân thành (Sincerity conditions) chỉ ra các trạng thái tâm

lý tơng ứng của ngời phát ngôn Chẳng hạn: Cam kết đòi hỏi phải có ý định và

khả năng thực hiện, chê đòi hỏi phải có sự không hài lòng về điều gì đó đã xảy

ra v.v

Đối với hành vi chê, điều kiện chân thành chỉ xảy ra trạng thái tâm lýcủa ngời đa ra hành vi chê SP1 mong muốn qua lời nói của mình, SP2 cũngnhận ra và đồng tình với hành vi đánh giá của mình về vấn đề mà SP1 cho làxấu, là không đúng, không tốt, không phù hợp hoặc cha thỏa đáng

Trang 17

Nếu SP1 có mong muốn trên thì SP1 đã vi phạm vào điều kiện chânthành và đó không còn là phát ngôn chê chân chính nữa Chẳng hạn những tr-ờng hợp giả vờ chê để thử dò tìm quan điểm, ý kiến của SP2 v.v

(4) Điều kiện căn bản (essential con ditions) là điều kiện liên quan đếntrách nhiệm mà ngời nói hoặc ngời nghe bị ràng buộc khi hành vi ở lời đợcthực hiện

VD: Khi chúng ta hứa với ai một điều gì là ta đã tự buộc mình vào trách

nhiệm phải thực hiện lời hứa đó; hoặc khi thông báo một điều gì, ta cũng phải

chịu trách nhiệm về tính xác thực của những điều đợc nói ra v.v

Khi thực hiện một hành vi chê, ngời nói (SP1) phải chịu trách nhiệm vềtính xác thực của nội dung mệnh đề chê, phải chịu trách nhiệm về quan điểmcủa mình khi bày tỏ những ý kiến đánh giá đó Chẳng hạn, qua một lời chê,ngời nghe nhận ra trình độ, sự phát triển tinh tế về những vấn đề mà ngời kháckhông nhận ra Hoặc qua cách chê mà nhận ra sự “khéo nói” hay “vụng nói”của một ngời nào đó hoặc có thể nhận ra bản chất của một ngời là ngời thẳngthắn hay ba phải khi những ngời này thực hiện hành vi chê v.v

Theo Searle, mỗi hành vi ở lời đòi hỏi phải thoả mãn những điều kiệntrên để cho việc thực hiện hành vi đạt hiệu quả đúng với đích của nó Mỗi điềukiện là một điều kiện cần, còn toàn bộ hệ điều kiện là điều kiện đủ Trong 4

điều kiện trên mỗi điều kiện lại đợc biểu hiện khác nhau tuỳ theo từng phạmtrù, từng loaị và từng hành vi ở lời cụ thể

Những hành vi đợc thực hiện đúng với đích ở lời, đúng vời những điềukiện sử dụng của chúng đợc gọi là những hành vi ngôn ngữ (Hành vi ở lời)trực tiếp hay chân thực Nhng trong thực tế giao tiếp, không phải bao giờ cáchành vi ngôn ngữ cũng đợc dùng đúng với đích ở lời và đúng với các điều kiện

sử dụng của chúng Khi đó, xuất hiện những hành vi ngôn ngữ gián tiếp

1.1.1.6 Hành vi ngôn ngữ gián tiếp

Hành vi ngôn ngữ gián tiếp đợc Searle nêu ra năm 1969 và đợc pháttriển trong công trình nói về các hành vi ngôn ngữ gián tiếp năm 1975 Theo

ông, “Một hành vi ở lời đợc thực hiện gián tiếp qua một hành vi ở lời khác sẽ

đợc gọi là một hành vi gián tiếp” [99] Định nghĩa này đợc Đỗ Hữu Châu cụthể hơn trong [18] nh sau: “Một hành vi đợc sử dụng gián tiếp là một hành vitrong đó ngời thực hiện một hành vi ở lời này nhng lại nhằm làm cho ngờinghe dựa vào những hiểu biết ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ chung cho cả haingời, suy ra hiệu lực ở lời của một hành vi khác” [18, tr.146] VD: Hành vichê đợc thực hiện gián tiếp qua hành vi hỏi:

VD: (1) Đại tá gì mày! Mày giám xng là Đảng, là Chính phủ à?

Trang 18

(SP1 gián tiếp chê SP2 không xứng đáng với danh hiệu Đại tá qua hành

vi hỏi)

Một hành vi ở lời này có thể đợc dùng theo biểu thức của nhiều hành vi

ở lời khác VD: Hành vi xin một tờ giấy trắng có thể đợc sử dụng gián tiếp quacác biểu thức ở lời:

+ Hỏi: Cậu có giấy trắng không? (gián tiếp: Cho tớ xin tờ giấy trắng)+ Thông báo: Tớ chẳng còn tờ giấy trắng nào cả

+ Giả định: Giá ai cho tớ một tờ giấy trắng vào lúc này nhỉ? (khẩu ngữ)

Và có thể nói “Hầu nh tất cả các hành vi ở lời đều có thể đợc dùng đểthực hiện gián tiếp các hành vi khác” [18, tr 149]

Sử dụng các hành vi ngôn ngữ theo lối gián tiếp là biện pháp rất có hiệulực để truyền báo các ý nghĩa hàm ẩn, đặc biệt là các ý nghĩa hàm ẩn không tựnhiên dụng học Trong thực tế sử dụng vì nhiều lý do, ngời nói có thể sử dụnghành vi ngôn ngữ này nhng lại nhằm đạt đến hiệu lực ở lời của một hành vikhác Có rất nhiều kiểu hành vi đợc dùng theo lối gián tiếp khác nhau tuỳ theohoàn cảnh giao tiếp mà đến nay cha thể tổng kết thành quy tắc sử dụng Đốivới hành vi chê, do tính chất đe doạ thể diện của nó đối với ngời bị chê là rấtlớn cho nên việc sử dụng hành vi ngôn ngữ gián tiếp để giảm thiểu ít nhiều sự

đe doạ thể diện là khá phổ biến

Bởi vậy, nghiên cứu hành vi chê không chỉ xem xét cách dùng trực tiếp

mà cần quan tâm cả đến cách thể hiện gián tiếp của nó trong hôị thoại

1.1.2 Lý thuyết hội thoại

1.1.2.1 Cặp thoại (cặp trao đáp)

“Cặp thoại là đơn vị lỡng thoại nhỏ nhất của cuộc thọai do các thamthoại tạo nên” [ 18, tr 306] Về nguyên tắc, một cặp thoại ít nhất phải do haitham thoại tạo nên Tham thoại thứ nhất ở lợt lời ngời trao lời gọi là thamthoại dẫn nhập, tham thoại thứ hai ở lợt lời ngời hồi đáp là tham thoại hồi đáp.Thông thờng, cặp thoại bao gồm hai tham thoại Nhng trong thực tế có rấtnhiều trờng hợp cặp thoại gồm ba tham thoại

VD: (2) SP1: Cô có khoẻ không, cô?

SP2: Cô khoẻ Chân anh liệu có sao không?

SP3: Có thể liền đợc, cô ạ ( MVK, 30, tr.622)Chính những trờng hợp mới gọi là biết giao tiếp có đầu có cuối, khôngtạo ra những phát ngôn cụt lủn hay gọi là bị hẫng

Những cặp thoại có gắn kết thành cặp ăn khớp với nhau nh trên gọi lànhững cặp kế cận Đó là khái niệm chỉ cặp thoại có hai lợt lời (Hai hành vingôn ngữ) của hai đối ngôn tơng ứng với nhau để giữ sự cân bằng trong tơng

Trang 19

tác Khi một ngời hỏi, một ngời trả lời; một ngời khen - một ngời cảm ơn;một ngời chê - một ngời chê lại sẽ tạo thành những cặp kế cận

Căn cứ vào tính chất của những tham thoại hồi đáp, có thể chia cặpthoại thành cặp thoại tích cực và cặp thoại tiêu cực

- Cặp thoại tích cực: Là cặp thoại có tham thoại có tham thoại hồi đápthoả mãn đợc đích của tham thoại dẫn nhập (Nói đúng hơn là thoả mãn đợc

đích của hành vi thực hiện tham thoại dẫn nhập)

- Cặp thoại tiêu cực: Là cặp thoại có tham thoại hồi đáp đi ngợc với đíchcủa tham thoại dẫn nhập Cặp thoại có thể kéo dài hoặc có thể kết thúc bằng

sự bất đồng, sự thất bại dứt khoát hoặc bằng cách xoay chuyển tình thế từ tiêucực sang tích cực

VD: (3) (a1) SP1: Hơng ơi, đi chợ mua quần áo với tớ đi!

VD: (4) SP1: Bác Thảo mới lên đấy à! Lâu nay bác vẫn bình thờng chứ?

SP2: Cảm ơn mợ, tôi vẫn còn gánh gồng, cày cấy đợc (1) Còn

mợ hồi này thế nào? (2) (MVK, 17, tr.374)

Lợt lời của SP2 gồm hai tham thoại: Một tham thoại hồi đáp (1) và mộttham thoại hỏi (2)

Trang 20

Về tổ chức nội tại, “Một tham thoại do một hoặc một số hành vi ngônngữ tạo nên” [18, tr 317] Trong đó có ít nhất một hành vi chủ hớng (CH) làmnòng cốt và có thể có thêm một hoặc một số hành vi phụ thuộc (PT) Cấu trúccủa tham thoại có thể là các dạng mô hình nh sau:

1.1.3 Lý thuyết về lịch sự và quan hệ liên cá nhân trong hội thoại

1.1.3.1 Vấn đề lịch sự

Giao tiếp là hành vi mang tính xã hội, chịu sự chi phối rất lớn của yếu

tố lịch sự và văn hoá Lịch sự trong sự tơng tác đợc G.Yule định nghĩa là

“Những phơng thức đợc dùng để tỏ ra rằng thể diện của ngời đối thoại vớimình đợc thừa nhận và tôn trọng” [ 18, tr 267]

R.Lakoff đa ra ba quy tắc về phép lịch sự là:

- Quy tắc 1: Là quy tắc lịch sự có tính quy thức nhất (Quy tắc đừng áp

đặt) Đừng áp đặt có nghĩa là không đa ra, hoặc không dò tìm những quan

điểm cá nhân, tránh động chạm tới cá nhân về rất nhiều phơng diện Theo quytắc này, ngời nói sẽ tránh hoặc giảm nhẹ khi yêu cầu ngời nghe làm việc gì đó

mà ngời nghe không muốn làm

- Quy tắc 2: Là quy tắc lịch sự phi quy thức Đó là quy tắc dành cho

ng-ời nghe sự lựa chọn Có nghĩa là ngng-ời nói, nói làm sao cho quan điểm hai yêucầu của mình có thể không đợc biết đến mà không bị chống lại hay từ chối.Quy tắc này hoạt động khi ngời hội thoại gần bình đẳng với nhau

- Quy tắc 3: Là quy tắc lịch sự giữa bạn bè hoặc thân cận Trong phép

lịch sự bạn bè hầu nh những vấn đề cấm kỵ, những nỗi niềm riêng t đợc đa ra

Trang 21

để nói Quy tắc này hoạt động giữa những ngời có quan hệ thật gần gũi nhau:Bạn thân, ngời yêu, vợ chồng.

G.N.Leech lại dựa trên khái niệm tổn thất và lợi ích để đa ra 6 phơngchâm lịch sự là:

1- Phơng châm khéo léo: Trong những phát ngôn cầu khiến hay cam kết

hãy giảm thiểu tốn thất và tăng tối đa lợi ích cho ngời khác

2 - Phơng châm độ lợng: Hãy giảm thiểu lợi ích và tăng tối đa tổn thất

của mình trong những phát ngôn cầu khiến hay cam kết

3 - Phơng châm tán đồng: Trong các phát ngôn biểu cảm và cảm xúc

hãy giảm thiểu sự chê bai và tăng tối đa sự khen đối với ngời khác

4 - Phơng châm khiêm tốn: Hãy giảm tối thiểu sự tự khen mình và tăng

tối đa sự tự chê bai mình

5 - Phơng châm tán đồng trong phát ngôn xác tín: Giảm tối thiểu sự bất

đồng, tăng tối đa sự tán đồng giữa mình với ngời khác

6 - Phơng châm thiện cảm trong phát ngôn xác tín: Giảm tối thiểu ác

cảm, tăng tối đa thiện cảm giữa mình với ngời khác

Theo ông, mức độ lịch sự của một hành vi ở lời phụ thuộc vào 3 nhân tố:

+ Bản chất của hành vi

+ Hình thức ngôn từ thể hiện hành vi

+ Mức độ thể hiện giữa ngời nói và ngời nghe

Đối chiếu các quy tắc và phơng châm mà hai tác giả nêu ra, ta thấy:

Về nội dung, sáu phơng châm của G.N.Leech có quan hệ chặt chẽ với

ba quy tắc của Lakoff Tuy nhiên ba quy tắc của Lakoff chủ yếu chỉ hớng vềphía ngời nghe, nhng có tính đến bối cảnh giao tiếp Sáu phơng châm củaLeech hớng cả về ngời nói và ngời nghe

Tuy nhiên phải đến khi P.Brown và S.C.Levinson cho ra đời cuốnPoliteness “Some Universals in Language Usage” (1978) và sửa chữa bổ sungvào năm 1987 thì lý thuyết về phép lịch sự mới đợc coi là hoàn chỉnh và nhấtquán S Levinson đã phát triển mở rộng nguyên tắc tôn trọng thể diện màE.Goffman đề xớng

Lý thuyết về phép lịch sự của Brown và Levinson đợc xây dựng trên cơ

sở khái niệm thể diện Theo hai tác giả này thì thể diện là nhận thức về giá trịbản thân ta trong mắt ngời khác, điều mà mỗi thành viên trong xã hội đềumuốn có đợc [92]

C.K.Ovechioni cho rằng trong cuộc sống tơng tác có bốn phơng diệncủa thể diện: Thể diện dơng tính của ngời nói, thể diện âm tính của ngời nói;thể diện dơng tính của ngời nghe; thể diện âm tính của ngời nghe

Trang 22

Thể diện âm tính và dơng tính là hai mặt bổ sung cho nhau chứ khôngphải tách biệt nhau, chúng phát huy theo lối “Cộng sinh” với nhau, tức là nếu

vi phạm thể diện âm tính, cũng đồng thời làm mất thể diện dơng tính Chẳnghạn khi tặng quà một ngời nào đó là làm tăng thể diện dơng tính của ngờinhận và làm tốn hại đến thể diện âm tính của mình Tuy nhiên ngời đợc tặngcũng bị xúc phạm ít nhiều đến thể diện âm tính (bị xúc phạm và sự độc lập, tựdo) của họ Trong nhiều trờng hợp, tặng quà cũng có thể làm cho ngời nhậnquà bị tổn hại cả về thể diện dơng tính (vì có thể bị coi là kẻ a xu nịnh) Vànếu ngời nhận từ chối món quà thì ngời tặng quà lại bị mất cả thể diện dơngtính của mình

Trong tơng tác bằng lời và không bằng lời, chúng ta phải thực hiệnnhững hành động, hành vi ngôn ngữ nhất định “Đại bộ phận những hành vingôn ngữ - thậm chí có thể nói là tất cả đều tiềm ẩn khả năng làm tổn hại đếnbốn thể diện nói trên” [18, tr 267] P.Brown và S.C.Levinson gọi chúng là cáchành vi đe doạ thể diện (Face Threatening Acts - viết tắt là FTA)

Trong hội thoại, các đối tác đều thể hiện mong muốn giữ đợc thể diệncho cả mình và ngời nghe Vì vậy, khi thực hiện hành vi ở lời nào có khả nănglàm mất thể diện của đôí tác thì ngời nói tìm cách làm dịu tác động đe doạ thểdiện hay giữ thể diện Chẳng hạn khi chê bai một ngời nào đó tức là xúc phạm

đến thể diện dơng tính của ngời đó, ngời ta thờng sử dụng đến yếu tố làmgiảm nhẹ sự xúc phạm thể diện nh: Cách nói rào đón, nói giảm nói tránh v.v

Tuy nhiên, ranh giới giữa các hành vi đe doạ thể diện và các hành vi giữthể diện nhiều khi rất mong manh Có thể một hành vi tôn vinh thể diện lại trởthành một hành vi đe doạ thể diện, hoặc một hành vi đe doạ thể diện có thể làmột hành vi tôn vinh thể diện Vì vậy phép lịch sự khi giao tiếp, những ngờigiao tiếp phải thực hiện chiến lợc lịch sự qua nhiều phép lịch sự là lịch sự âmtính và lịch sự dơng tính

Lịch sự âm tính: Là phép lịch sự hớng vào thể diện âm tính, vào lãnh

địa của ngời tiếp nhận đối thoại Phép lịch sự âm tính (tiêu cực) về căn bản cótính né tránh hay bù đắp Đó là sự né tránh các FTA, hoặc bù đắp, giảm nhẹhiệu lực của chúng khi bắt buộc phải thực hiện các FTA Có thể gọi chungchúng là những biện pháp giảm nhẹ, dịu hoá phát ngôn Chẳng hạn: Dùng lốinói gián tiếp hay lối nói trực tiếp; dùng yếu tố rào đón hay tình thái hoá (VD:Cách nói rào đón trớc khi chê, chê gián tiếp thay vì chê trực tiếp ) v.v

Lịch sự dơng tính: Là phép lịch sự hớng vào thể diện dơng tính của ngờitiếp nhận nhằm thực hiện những hành vi tôn vinh thể diện (Face FlatteringActs), tức những hành vi làm gia tăng một trong hai thể diện của đối tác (tôn

Trang 23

vinh thể diện của đối tác, tỏ ra quan tâm đến đối tác) Phép lịch sự này cũnglàm gia tăng cả thể diện cho ngời nói, chúng đợc dùng chủ yếu khi thực hiệnnhững hành vi nhằm tôn vinh thể diện.

Brown và Levinson đã đa ra 15 chiến lợc cho phép lịch sự dơng tính vàcòn xây dựng một sơ đồ tổng hợp các siêu chiến lợc để thực hiện một FTA nhsau:

Theo sơ đồ này thì năm siêu chiến lợc giao tiếp có hiệu lực lịch sự từcao xuống thấp, từ lịch sự nhất đến kém lịch sự nhất là từ không thực hiệnFTA đến thực hiện FTA bằng lối nói không bù đắp

Tuỳ theo nội dung hành vi ngôn ngữ, tuỳ theo đối tợng giao tiếp, hoàncảnh giao tiếp v.v mà ngời nói lựa chọn mức độ lịch sự nào cho phù hợp.Biểu hiện ngôn ngữ của phép lịch sự âm tính khi thực hiện các FTA đợcBrown và Levinson gọi là các biện pháp dịu hoá (còn gọi là mềm hoá, hạngôn) Đó là biện pháp làm giảm hiệu lực đe doạ thể diện của ngời nghe.Chẳng hạn: Các biện pháp thay thế cho các FTA Đó là: Sử dụng hành vi ngônngữ gián tiếp; sử dụng cách nói tháo ngòi nổ; giảm thiểu sự áp đặt; dùng yếu

tố ngọt hoá bằng cách nêu những u điểm trớc khi đa ra những FTA (chẳng hạnkhen trớc khi chê, nịnh trớc khi nhờ vả, ) v.v

Có vô số những yếu tố của ngôn ngữ sẵn dùng cho ngời nói để dịu hoácác FTA và chúng có thể đợc thực hiện đồng thời

Bên cạnh các biện pháp dịu hoá còn có những biện pháp cứng rắn hoánhằm nhấn mạnh, tăng cờng hiệu lực của các FTA Chúng giúp làm tăng hiệuquả đe doạ thể diện trong các cuộc thoại có tính chất xung đột Chúng đợcdùng rất ít trong trờng hợp đi kèm với FTA và lại đợc dùng rất nhiều với cácFTA trong các siêu chiến lợc nói trắng không bù đắp

Nh vậy, phép lịch sự là tập hợp những phơng tiện mà ngời nói vận dụng

để điều phối các thể diện giao tiếp, “Phải tôn trọng lãnh địa của ngời nhngcũng phải làm sao cho lãnh địa của mình không bị xúc phạm” [18,tr.281] Bởi

(1) nói không bù đắp

nói có bù

đắp

(2) Lịch sự d ơng tính (3) Lịch sự âm tính

Trang 24

vậy, phép lịch sự là rất cần thiết và là chuẩn mực của ngời nói luôn hớng tới.Hơn nữa, lịch sự gắn liền với văn hoá của từng dân tộc nên nghiên cứu sự thểdiện của phép lịch sự trong ngôn ngữ chính là đi vào những đặc trng văn hoácủa từng dân tộc.

1.1.3.2 Quan hệ liên cá nhân

Sự tơng tác là một hoạt động tác động, làm tổn hại hay duy trì nhữngquan hệ giữa ngời nói và ngời nghe trong sự giao tiếp mặt đối mặt Nhữngquan hệ đợc hình thành giữa ngời đối thoại với nhau thông qua sự giao tiếpbằng lời gọi là quan hệ liên cá nhân Quan hệ này, theo ý kiến của nhiều nhànghiên cứu, có thể xem xét trên hai trục toạ độ là trục ngang và trục dọc

- Trục ngang (còn gọi là trục khoảng cách - hoăch trục thân cận): Thểhiện khoảng cách tình cảm gần gũi, thân tình hay xa lạ giữa những ngời hộithoại với nhau, nó có thể điều chỉnh đợc Những quan hệ trên trục này nói gọn

là quan hệ ngang Có những dấu hiệu phi lời, kèm lời và bằng lời để đánh dấumức độ quan hệ này giữa những ngời đối thoại

- Trục dọc (còn gọi là trục quyền uy, trục vị thế): Thể hiện vị thế xã hộigiữa những ngời tham gia giao tiếp với nhau Nhng quan hệ trên trục này gọitắt là quan hệ dọc Những quan hệ chính về vị thế cũng biểu hiện qua các dấuhiệu phi lời, kèm lời và những dấu hiệu ngôn ngữ Các dấu hiệu ngôn ngữ baogồm: Các nghi thức xng hô, tổ chức các lợt lời, tổ chức cấu trúc của tơng táchội thoại, các hành vi ngôn ngữ Sự không bình đẳng về vị thế trong giao tiếptrớc hết là vấn đề của ngữ cảnh: Tuổi tác, giới tính, địa vị, vai trò trong hộithoại, sự làm chủ ngôn ngữ v.v

Vị thế xã hội và mức độ thân cận có ảnh hởng không nhỏ đến nội dung,hình thức và cả quá trình giao tiếp Vì thế xã hội không đồng nhất với vị thếgiao tiếp (vai trò, vị thế của nhân vật tham gia hội thoại)

Các từ xng hô trong tiếng Việt chịu áp lực rất mạnh của quan hệ liên cánhân Qua từ xng hô mà ngời nghe nhận biết đợc ngời nói đã xác định quan hệngang và quan hệ dọc trong giao tiếp nh thế nào Đồng thời từ xng hô cũng thểhiện nét đặc trng văn hoá giao tiếp của ngời Việt Nam Vì vậy, khi nghiên cứuhành vi chê trong phạm vi cặp thoại, không thể không nói đến các từ xng hôtrong tiếng Việt Vấn đề này sẽ đợc xem xét kỹ hơn trong chơng 2 của luậnvăn

1.2 Giới thiệu tác phẩm

Ma Văn Kháng (sinh ngày 01 tháng 12 năm 1936 tại Hà Nội), tên thật

là Đinh Trọng Đoàn Ông là Đảng viên ĐCSVN Từ tuổi thiếu niên Ma VănKháng đã tham gia quân đội và đợc đi học ở khu học xá Trung Quốc Năm

Trang 25

1960, ông theo học lại Đại học S phạm Hà Nội Tốt nghiệp, lên dạy học ở tỉnhLào Cai, từng là hiệu trởng trờng trung học Về sau đợc tỉnh ủy điều về làm

th ký cho Bí th tỉnh ủy, rồi làm phóng viên, Phó Tổng biên tập báo của Đảng

bộ tỉnh

Bí danh Ma Văn Kháng đợc dùng là bút danh đã nói lên sự gắn bó vàtình yêu của tác giả với miền đất từng hoạt động trên 20 năm, nơi quê hơngthứ hai của mình Phải có ý chí mạnh mẽ, con ngời mới tự nguyện rời khỏi tổ

ấm quen thuộc có ánh đèn điện, có nớc máy để sinh sống ở những nơi heo hút,hoang vắng Ma Văn Kháng tâm sự: “Có sự tơng hợp giữa sự thành nhân và

đắc đạo văn chơng” Chặng đờng đời dài mấy chục năm qua của nhà văn đãchứng minh cho sự tơng hợp ấy Tự rèn luyện mình để viết văn Viết văn đểrèn luyện mình Chu kỳ chuyển đổi đó không ngừng vận hành trong cuộc sốnghàng ngày của nhà văn

Từ cậu học trò Đinh Trọng Đoàn ngơ ngác đã trở thành nhà văn MaVăn Kháng đợc bạn đọc mến mộ - là một trong những nhà văn tiêu biểu củathế hệ chống Mỹ Hàng ngàn trang sách của ông quyện đặc tình yêu con ngời,tình yêu thiên nhiên

Sự nổi tiếng của nhà văn Ma Văn Kháng - là điều không cần phải bàncãi Tới nay ông đã có hơn hai mơi chục đầu sách, bao gồm Tiểu thuyết vàtruyện ngắn Sự nổi tiếng đến với ông chính nhờ lao động nghệ thuật nghiêmtúc

Nhà văn Ma Văn Kháng, tác giả của nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn nổitiếng Truyện ngắn Ma Văn Kháng có hình hài, diện mạo rất riêng Không nênnghĩ thể loại chỉ là những câu chuyện hình thức, mà trớc hết là vận đề nộidung Nó thể hiện một thái độ, một cách cắt nghĩa, một kiểu quan hệ của nhàvăn với con ngời và đời sống Ngay từ những sáng tác đầu tay, ngời cầm bút

đã đến với ngời đọc trong t cách một nhà văn có ý thức về chỗ đứng trong

v-ơng quốc văn chv-ơng, nghệ thuật

Các nhà nghiên cứu thờng nhận xét, cho rằng đến nay, tiểu thuyết vàtruyện ngắn của Ma Văn Kháng vẫn tập trung vào hai đề tài chính là cuộcsống của đồng bào vùng núi cao phía Bắc Tổ quốc và đời sống thành thị đầyphức tạp trong cuộc chuyển mình mạnh mẽ của đất nớc sau chiến thắng 1975

Đó không phải là những đề tài mới Chắc chắn, Ma Văn Kháng thừa biết,ngày từ những năm năm mơi, Tô Hoài đã viết rất hay về miền núi Tây Bắc

Ngôn ngữ của Ma Văn Kháng có tính khẩu ngữ cao, mang dáng dấpngôn ngữ đời thờng, những tiểu thuyết và truyện ngắn của Ma Văn Khángluôn bộc bạch nội tâm nhân vật, thế giới nhân vật của Ma Văn Kháng phong

Trang 26

phú, sinh động, cuộc sống của họ do hoàn cảnh môi trờng tác động không đợc

nh mong muốn mà họ từng nghĩ, cuộc sống luôn xảy ra những tình huống bấtngờ có, định trớc có, có những điều tốt đẹp, hoàn mỹ, nhnh cũng có những nh-

ợc điểm mà các nhân vật của Ma Văn Kháng cha hoàn thiện

Trong cuộc sống hỗn loạn, xô bồ đó giao tiếp là ngôn ngữ không thểthiếu trong mỗi tác phẩm của Ma Văn Kháng, trong giao tiếp ngôn ngữ thìhành vi chê là nhân tố quan trọng, cốt lõi, Ma Văn Kháng dùng hành vi chê đểlàm nổi bật lên tính cách riêng của mỗi nhân vật “Đào bới bản thể ở chiều sâutâm hồn”, Ma Văn Kháng đã cất lên tiếng nói riêng, ngôn ngữ của Ma VănKháng mang sắc tháu văn chơng Nhiều sáng tác đợc Ma Văn Kháng viết ra

cứ y nh là để nối lời, tiếp lời, đúng hơn là để đối thoại tranh biện với các ýthức xã hội, ý thức nghệ thuật của thời đại Có vô khối những cuộc đối thoại,tranh biện về hành vi chê trong tiểu thuyết, truyện ngắn Ma Văn Kháng, tranhbiện về con ngời, về cuộc đời, về văn chơng nghệ thuật

Nhà văn muốn đối thoại, tranh biện phải có t tởng nghệ thuật riêng.Hành vi chê là một cảm hứng thẩm mỹ của nhà văn trong quan niệm về conngời và cuộc đời, Ma Văn Kháng đa vào đó để tạo nên một phạm trù lịch sửtrong cá tính sáng tạo của mình, hành vi chê làm nổi bật lên sự cân bằng, cáiméo mó nghịch dị, cái phàm tục dơ dáng của cuộc sống đời thờng

Đọc Ma Văn Kháng thấy xuyên suốt những trang văn một triết luận đờisống hết sức nhất quán, hành vi chê đóng góp một vai trò quan trong trongtriết luận ấy, nó lấy tình ngời, tính ngời và sự hồn nhiên bằng mẫu số để nhàvăn trò chuyện về con ngời và cuộc đời Ma Văn Kháng dựa vào hành vi chê,dựa vào ngôn ngữ của nhân vật thờng miêu tả tớng hình để thể hiện tính ngời,tình ngời Bởi vì cấc tính thờng lộ ra cái tớng, nhất là những kẻ ác tính ác tâm.Những truyện hay nhất của Ma Văn Kháng là những truyện nói về “Dòng

đời”, “Mạch sống” Đời có dòng chìm và dòng nổi, chảy trôi theo mạch ngầm

và mạch lộ thiên, nhân vật cũng vậy họ đợc nhà văn miêu tả vào những “Dòng

đời” và “Mạch sống ” ấy, họ sống và tồn tại trong xã hội đầy màu sắc phongphú và đa dạng, đời sống phồn tạp mà thành sinh động, thế giới nhân vật của

Ma Văn Kháng hiện lên với những mối hệ khác nhau, những mối liên hệ đó

đã chi phối đến cuộc sống của họ, đặc biệt là hành vi chê chi phối đến địa vịxã hội, lứa tuổi, giới tính v.v cho nên có rất nhiều cách chê khác nhau Vì thếcảm hững của Ma Văn Kháng cũng có nhiều sắc điệu

Để tiện việc phân tích t tởng nghệ thuật của nhà văn, dựa vào sắc điệucảm hứng thẩm mỹ, tạm chia đội quân truyện ngắn rất đông đúc của Ma VănKháng thành ba nhóm:

Trang 27

- Nhóm thứ nhất là những truyện ngắn thể hiện cái nhức nhối, xót xa,giận mà thơng cho sự hoang dã mông muội của những kẻ cha thành ngời vànhững ngời không đợc làm ngời.

- Nhóm thứ hai là những truyện ngắn cất lên tiếng nói cảm khái thâmtrầm trớc thế sự hôm nay

- Nhóm thứ ba là những truyện ngắn thể hiện cảm hứng trào lộng trangnghiêm (thuật ngữ của M.Bakhtin) trớc vẻ đẹp của cuộc đời sinh hoá hồnnhiên

Đây là cách phân chia có tính chất tơng đối, vì nhiều truyện ngắn của

Ma Văn Kháng có thể cùng một lúc xếp vào nhóm này, hay nhóm kia, nhngmột số truyện xếp vào nhóm nào cũng thấy cha ổn

Hầu hết những truyện ngắn thuộc nhóm thứ nhất là những tác phẩm viết

về đề tài miền núi Khi Ma Văn Kháng đến với văn đàn thì cuộc sống miệnnúi phía Bắc Tổ quốc đã đợc miêu tả qua một cái nhìn ổn định trong những tácphẩm xuất sắc tạo nên thành tựu của văn xuôi thời kháng chiến chống Pháp

Thực ra, Ma Văn Kháng không viết về miền núi phía Bắc nói chung,mọi sự chú ý của nhà văn đều hớng về vùng biên ải: “Vùng biên ải” là nhan đềmột cuốn tiểu thuyết của Ma Văn Kháng Các truyện ngắn “Giàng Tả”, “Vệ

sỹ của quan châu”, “Ông lão gác vờn và con chó Phúm”, “Ngời thợ bạc ở phốcũ”, “Mã Đại Câu - Ngời quét chợ Mờng Cang”, “Móng vuốt thời gian”,

“Thím Hoóng”.v.v Đều là những truyện ngẵn đặc sắc viết về vùng biên ải.Hành vi chê hớng vào đời sống con ngời và xã hội vùng biên ải gắn chặt vớitrình độ văn hoá, một giới hạn văn minh Thế giới ở thời mới khai thiên là nơingự trị của cái hoang sơ rừng rú Vô khối con ngời ở đây không ý thức đợchành vi của mình Cho nên, không phải ai có dính líu với địch đều là kẻ thùcủa nhân dân Có lẽ Ma Văn Kháng đã viết “Giàng Tả” để nói lời minh oancho những con ngời nh thế Lý lịch trích ngang của Giàng Tả rất phức tạp, lúc

ở với địch, lúc lại theo giúp bộ đội ta

Nhiều tác phẩm viết về cuộc sống các dân tộc miền núi đã gợi dậy ởchúng ta ngay từ khi ngồi trên ghề nhà trờng lòng căm thù và niềm cảm thông:Hành vi chê hớng vào lòng căm thù bọn thực dân cớp nớc, bọn lang đạo, phìatạo xấu xa tàn ác, cảm thông với cuộc sống lầm than của quần chúng bị áp bứcbóc lột Nhng Giàng Tả nằm ở đâu trong niềm cảm súc của chúng ta? Làm sao

có thể xem Giàng Tả là kẻ thù Chẳng ai thèm chấp một Mã Đại Câu “ăn cháo

đái bát”, ngu dại tới mức bị giết mà vẫn không biết mình bị lừa Tiểu thuyết vàtruyện ngắn của Ma Văn Kháng để lại trong tâm hồn ngời đọc nỗi nhức nhốikhôn nguôi và sự “Hồi tổ”, “Lộn giống”, cùng “Bản tính của đời sống rừng

Trang 28

rú” ở miền biên ải Cái nhìn hiện đại đợc tựa chắc trên nền tảng quan niệm vềtính “hồn nhiên” của lịch sử đã khiến cho nhãn quan giai cấp của nhà văn MaVăn Kháng trở nên thấu triệt và thấm đẫm tinh thần nhân bản.

Già nửa số truyện ngắn của Ma Văn Kháng thuộc nhóm thứ hai Hành

vi chê hớng vào đời sống thành thị trong sự đổi thay mạnh nẽ của đất nớc sauchiến thắng 1975 Sau năm 1975 khi đất nớc thanh bình cuộc sống của nhữngcon ngời bắt đầu có những bớc chuyển biến mới, các nhân vật trong truyệnngắn và tiểu thuyết của Ma Văn Kháng cũng vậy, cái tốt cái xấu đan xen lẫnlộn, có những cái nghịch lý với quy luật thì lại đợc đề cao, tôn trọng, có địa vịcao trong xã hội, nên trở thành đối tợng chê của Ma Văn Kháng Với vai trò làngời kể truyện, trong tác phẩm “Ngời đánh trống trờng”, Ma Văn Kháng đãmiêu tả chân dung một cán bộ đơng chức, đại diện chi chính quyền, lại đangtrên đà thăng tiến nh thế này: “Chiến tuổi ngoại tứ tuần, ngời to, đầu nhỏ, mặtvênh, mắt ngỡng thiên, mắt chỉ địa, mày rậm, môi thâm, sẹo đầu sẹo cổ, tóclởm khởm, tiếng nói the thé Con ngời diện mạo, hình trạng dị dạng nọ, mộtthời đi làm ở mỏ than, ăn cắp bị đuổi về, thuộc nòi lục lâm, dâm bôn khéttiếng dân quê vốn ngu, hèn, sợ chiến hơn sợ cọp”

Việc kéo đối tợng trần thuật xích lại gần ngời kể chuyện đã mở đờngcho văn xuôi tự sự miêu tả đời sống hiện tại nh nó đang tiếp diễn, đầy nhữngdang dở, phù vân Cánh cửa dân chủ của t duy nghệ thuật đợc mở rộng, chấtvăn xuôi và những chuyện không đâu của cuộc sống hàng ngày, thờng ngày vàvào tiểu thuyết và truyện ngắn “Trung du - chiều ma buồn”, “Trái chín mùathu”, “Mẹ già”, “Bô nông ở biển”, “Trăng soi sân nhỏ”, “Ngời đánh trống tr-ờng”, “Chọn chồng”, “Anh cả tôi - ngời sung sớng”, “Cô giáo chủ nhiệm”,

“Heo may - gió lộng”, “Ngời giúp việc”, “Mảnh đạn”, “Một chốn nơng thân”,

“Mẹ và con”, “Quê nội”, “Đợi chờ”, “Nhà nhiều tầng”, “Mất điện”.v.v Chỉcần ngần ấy cái nhan đề, liệt kê một cách lộn xộn những tác phẩm thuộc nhómtruyện thứ hai của Ma Văn Kháng cũng đủ chứng tỏ hành vi chê của nhữngcâu chuyện hớng về cái thờng ngày, hàng ngày, về những con ngời bé nhỏ, vôdanh, tởng nh vô nghĩa đã chiếm một khoảng rộng nh thế nào trong sáng táccủa nhà văn

Đa cái thờng ngày vào văn xuôi cha phải là nhân tố quan trọng bậc nhấtkhiến truyện ngắn xích lại gần tiểu thuyết Trong t duy tiểu thuyết, ngời kểchuyện và đối tợng trần thuật đợc đặt trên một mặt bằng giá trị ngang nhau

Hoà chung vào bản hòa tấu của nền văn xuôi đậm chất tiểu thuyết saunăm 1975, nhóm truyện ngắn viết về đời sống thành thị của Ma Văn Khángvẫn là một tiếng nói riêng của một t tởng nghệ thuật, một cảm hứng thẩm mỹ

Trang 29

không thể trộn lẫn Trong truyện ngắn của Ma Văn Kháng có nhiều cảnh đốnmạt, nhếch nhác đến thảm hại của con ngời Gốc gác của sự nhếch nhác, đốnmạt ấy dờng nh chẳng có mấy liên quan tới hoàn cánh xuất thân, hay lập tr-ờng, quan điểm Ma Văn Kháng miêu tả bằng hành vi chê mọi sự đốn mạt, maquái, tà nguỵ của cuộc đời từ góc độ nhân tính Các truyện ngắn “Ngời đánhtrống trờng”, “Trăng soi sân nhỏ”, “Bồ nông ở biển”, “Chọn chồng”, “Cô giáochủ nhiệm”, “Mảnh đạn”, “Quê nội”, “Đợi chờ”, “Xóm giềng”, “Mất

điện”.v.v đều ít hay nhiều toát lên tinh thần ấy

Ma Văn Kháng buồn đời, thơng đời, mà không chán đời Nhà văn nhiềukhi giận đời, mà cha bao giờ căm đời Bởi vì quan niệm nhân bản về con ngờitrong truyện ngắn Ma Văn Kháng thấm đẫm một tinh thần lạc quan Tinh thần

ấy có cơ sở ở niềm tin của nhà văn vào ý thức, lý trí và tính năng động nh làbản chất của sự sống con ngời Mạch truyện “Tóc Huyền màu bạc trắng”ngầm chứa một triết lý rất lạc quan: “Ngời là con vật có lý trí và rất uyểnchuyển Nó biết cách sống cả trong những hoàn cảnh khủng khiếp nhất”.Truyện “Anh thợ chữa khoá” cũng toát lên một tinh thần lạc quan nh thế vềtính năng động đầy ý thức của cuộc sống con ngời Tinh thần lạc quan của MaVăn Kháng còn có cơ sở ở niểm tin vào bản năng vô thức, tiềm thức, vùng tămtối sâu thẳm trong thế giới tâm linh, nơi lu giữ vĩnh hằng phần nhân tính tạonên mặt tơi sáng nhất, đáng yêu nhất của sự sống con ngời Niềm tin và tinhthần lạc quan ấy thấm đợm từng tác phẩm của nhà văn và đặc biệt toả sáng ởnhững truyện ngắn tạm xếp vào nhóm truyện thể hiện cảm hứng trào lộngtrang nghiêm trớc vẻ đẹp của dòng đời sinh hoá hồn nhiên

“Anh thợ chữa khoá”, “Thanh minh - trời trong sáng”, “Seo Ly - kẻkhuấy động tình trờng”, “Ngẫu sự”, “Những ngời đàn bà” là những truyệnngắn tiêu biểu thuộc nhóm này “Anh thợ chữa khoá” là truyện ngắn hấp dẫn,hàm súc, có nhiều lớp nghĩa Có thể tìm thấy ở đây hình ảnh con ngời sốngcuộc đời nhỏ nhoi, chết cái chết vô nghĩa, nhng rất xứng danh là Con Ngời vớihai chữ viết hoa

Tính công khai bộc lộ chủ đề và sự cố ý tô đậm chân dung tính cáchnhân vật bằng hành vi chê là đặc điểm nổi bật của truyện ngắn Ma VănKháng

Nh đã nói, thế giới hình tợng trong truyện ngắn Ma Văn Kháng tạodựng vững chắc trên cái nền của một t tởng nghệ thuật, một khuynh hớng cảmhứng thẩm mỹ Nội dung t tởng của truyện ngắn Ma Văn Kháng thờng vợt rabên ngoài giới hạn của đề tài và chất liệu

Trang 30

Lồng giai thoại vào cốt truyện, sáng tạo giai thoại có hàm nghĩa sâu sacũng là đặc điểm dễ nhận biết của truyện ngắn Ma Văn Kháng Truyện ngắn

Ma Văn Kháng có khuynh hớng xích lại gần tiểu thuyết

Lồng giai thoại vào cốt truyện cùng với ngôn ngữ mang dáng dấp đời thờng

là cách xử lý nghệ thuật vẫn thờng bắt gặp trong truyện ngắn Ma Văn Kháng.Truyện “Thanh minh - trời trong sáng” có giai thoại lý thú với hành vi chê về một

“Thằng cha giám đốc” nói ngọng líu, ngọng lô, e lờ nó nói thành en nờ

Truyện ngắn Ma Văn Kháng cón có khuynh hớng mở rộng các thànhphần mạch trần thuật, hoà văn nói và văn viết

Nhà văn đã sáng tạo ra hình tợng ngời kể chuyện toàn năng, biết hết,thấy tất, mang nhiều nét xác thực tâm lý, gần gũi với hình tợng tác giả Nhữnggì nhân vật ngời kể chuyện, suy ngẫm, trăn trở hình nh cũng chính là những

điều đang suy ngẫm, trăn trở của nhà văn Dòng trần thuật của truyện ngắn

Ma Văn Kháng là sự kết hợp hài hoà giữa mạch kể và mạch tả Ngời kểchuyện thờng xuyên bắt mạch tả, mạch kể phải dừng lại để bình luận, đánhgiá, giải thích, hoặc cất lên tiếng nói trữ tình đầy thâm trầm, sâu lắng

Ngôn ngữ văn chơng của Ma Văn Kháng mang dáng dấp ngôn ngữ đờithờng, mang sắc thái của ngôn ngữ văn chơng nên lời văn trong tiểu thuyết vàtruyện ngắn Ma Văn Kháng không đơn điệu về phơng diện phong cách Nhàvăn sử dụng hành vi chê một cách phổ biến, sinh động trên nhiều phơng diện,nhiều chiều, kết hợp với việc sử dụng rộng rãi khẩu ngữ, trớc hết là tục ngữ,thành ngữ, đem lại cho tiếng Việt một ngôn ngữ mới mẻ mang đậm sắc tháingôn ngữ văn chơng

Trang 31

1.3 Tiểu kết

Cuộc đời của Ma Văn Kháng đã ảnh hởng sâu sắc đến ngôn ngữ văn

ch-ơng của ông, nhà văn tiếp xúc với những con ngời bình dị, cuộc sống hànhngày của họ đợc Ma Văn Kháng tái hiện lại bằng ngôn ngữ mang dáng dấpngôn ngữ đời thờng Ngôn ngữ thể hiện hành vi chê trong tác phẩm của MaVăn Kháng là ngôn ngữ đời thờng Nhà văn đã trải qua nhiều môi trờng côngtác, ông đã tận dụng những tri thức của mình để quan sát cuộc sống từ dới lên,

từ trên xuống, từ ngoài vào, từ trong ra Làm việc không mệt mỏi Đi khôngmệt mỏi Sau mỗi chuyến đi, đầu óc nhà văn lại ngùn ngụt những ý tởng mới

về lẽ sống, về sáng tạo v.v

Cắt lọc từng mẩu nhỏ của cuộc đời, nhà văn sống chan hòa với họcsinh, với bà con dân bản, để tái hiện những thời điểm lịch sử chao chát búarìu, dựng những nhân vật độc đáo giàu cá tính Hành vi chê của Ma VănKháng hớng vào cuộc sống của đồng bào vùng núi phía Bắc Tổ quốc và cuộcsống thành thị đầy phức tạp đợc thể hiện bằng những tham thoại chê ở lời dẫnnhập và lời hồi đáp

Những vấn đề lý thuyết về dụng học và một số nét khái quát về tác giả,tác phẩm đợc trình bày trên là những cơ sở, nền tảng cho việc nghiên cứu củachúng tôi trong luận văn này Nghiên cứu về hành vi chê không thể đạt ngoàicấu trúc của tham thoại, cũng không thể không xem xét thái độ hồi đáp chêthể hiện trong các cặp thoại có hành vi chê ở lời dẫn nhập Những vấn đề vềlịch sự, về từ xng hô sẽ có ảnh hởng nh thế nào đối với nội dung chê và lời hồi

Trang 32

Chơng 2 Khảo sát hành vi chê và các biểu thức ở lời chê

trong tác phẩm của Ma Văn Kháng 2.1 Khái niệm hành vi chê

Trong cuộc sống có những cái cha tốt, cha hoàn thiện, cha đạt yêu cầu

mà chúng ta không thể dùng đến vũ lực hoặc pháp luật để “Cân”, để “Chỉnh”lại, khi đó ngời ta thờng dùng ngôn ngữ để phê phán những cái đó Và nh vậyhành vi chê xuất hiện

Chê là hành vi đánh giá tiêu cực (đánh giá xấu) Có nhiều cách địnhnghĩa chê

Theo định nghĩa trong Từ điển tiếng Việt (1992, Hoàng Phê chủ biên,

tr 143), chê là “tỏ ý không thích, không vừa ý vì cho là kém là xấu” Ví dụ:chê chiếc áo may không đẹp

Tác giả Nguyễn Nh ý (Chủ biên) trong cuốn “Đại từ điển tiếng Việt”(Nhà xuất bản văn hoá thông tin, tr 340) định nghĩa chê là: “Đánh giá thấp,không cho là phải, là tốt”, ví dụ: Ai cũng chê nó xấu; cao chê ngỏng, thấp chêlùn

Theo cách phân loại các động từ hành vi tại lời của Austin (1962) thìhành vi chê thuộc nhóm ứng xử (behabitives): N1 + V + N2 + P Trong đó, N1

là ngời phát ngôn; N2 là ngời tiếp nhận; V là động từ ở thời quá khứ; P là nộidung mệnh đề Ví dụ những trờng hợp nh: Cảm ơn (thank); chúc mừng(congratulate), phê bình (Criticize) là thuộc nhóm ứng xử

Còn theo Searle (1975) thì “chê” là hành vi đánh giá trong phạm trùBiểu cảm (expressives), diễn đạt thái độ của ngời nói đối với một số hoàncảnh, tình thế cụ thể đợc nêu ra trong nội dung mệnh đề P (ví dụ: Phần gạchchân của câu “Xin lỗi vì đã dẫm lên ngón chân anh”) ở đây không có hớngkhớp lời mà chỉ có nhiều trạng thái tâm lý khác nhau và nội dung mệnh đề

“phải là liên quan giữa ngời nói S và ngời nghe H” (tr 357)

Dựa vào đích ở lời, đặc tính cú pháp và cách lý giải các hành vi ngônngữ theo giải pháp ngôi thứ nhất, nhà nghiên cứu ngôn ngữ học AnnaWierzbicka cũng đa ra định nghĩa về một động từ tiếng Anh tiêu biểu chonhóm động từ biểu thị hành vi chê là động từ “Phê bình” (Criticize) với nhữngnét nghĩa nh sau:

1- Tôi đang nghĩ về Y của X

2- Tôi nói: Tôi nghĩ rằng có thể nói điều gì đó xấu về Y

3- Tôi nghĩ rằng tôi có những lý do xác đáng để mà nói điều đó

Trang 33

4- Tôi nghĩ rằng do những điều ở trên, cho nên có thể nói những điều gì

Ngời ta có thể chê một từ, (ví dụ: Vứt! Hỏng! Hứ! Ôi dào! ), cũng cóthể chê bằng một văn bản trọn vẹn dài hoặc ngắn (Ví dụ: một bài báo, một tácphẩm phê bình văn học ), hoặc cũng có thể chê bằng những “ngữ điệu khônglời” nh: Cái nhếch mép, chun mũi, nụ cời ruồi, cử chỉ xua tay, lắc đầu

Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chỉ có thể đi sâu vào một khíacạnh nhỏ của hành vi chê (hành vi đánh giá tiêu cực), tức là tìm hiểu hành vichê với các biểu thức phát ngôn chê ở lời dẫn nhập và các dạng tham thoại hồi

đáp của hành vi chê trong tác phẩm của Ma Văn Kháng

ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến những trờng hợp hội thoại là một cặpthoại (song thoại) gồm một tham thoại dẫn nhập và một tham thoại hồi đáp,chứ không phải đi sâu vào cuộc thoại hoặc các dạng thoại khác

Trong hội thoại, SP1 là ngời thực hiện hành vi chê, SP2 là ngời tiếp nhậnhoặc chứng kiến hành vi đó của SP1, SP1 có thể thực hiện hành vi chê trực tiếphoặc gián tiếp, bằng phát ngôn chê có lõi là biểu thức chê nguyên cấp Hành

vi chê có thể là kiểu tự chê nếu đối tợng chê là SP1 và chê nếu đối tợng chêkhông phải là SP1 Chê có thể xuất hiện ở tham thoại dẫn nhập hoặc hồi đáp,

có thể là hành vi chủ hớng trong tham thoại nhng cũng có thể là hành vi phụthuộc để củng cố tăng cờng hiệu lực cho một hành vi khác nh: Khuyên dạy, từchối, phủ định, kết tội, trừng phạt Những vấn đề trên rất thú vị nếu có điềukiện đi sâu Tuy nhiên trong phạm vi luận văn này, do điều kiện của tác phẩmnên chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu chủ yếu về hành vi chê với vai trò là

Trang 34

hành vi chủ hớng trong tham thoại ở lời dẫn nhập và sự tiếp nhận của nó ởtham thoại hồi đáp.

Chúng ta có thể nhận biết đợc hành vi chê có phải là chủ hớng haykhông căn cứ vào ngữ cảnh và lời ngời đối thoại Bởi vì “Hành vi chủ hớng cóchức năng trụ cột, quyết định hớng của tham thoại và quyết định hành vi đápthích hợp của ngời đối thoại” [8, tr.303]

2.2 Biểu thức ở lời chê và phát ngôn chê

Chê cũng nh một số hành vi ngôn ngữ khác đều có một kiểu cấu trúcnhất định Phát ngôn của hành vi chê thờng có lõi là một biểu thức ngữ vi vàxung quanh lõi ấy là một hoặc một số thành phần mở rộng có tác dụng đi kèmvới biểu thức ngữ vi để làm tăng hiệu lực ở lời cho phát ngôn

Biểu thức ngữ vi chê là những công thức nói năng mà khi nó nói ra

là ta nhằm thực hiện một hành động ở lời chê Có thể nhận ra các biểuthức ngữ vi nhờ các kiểu kết cấu đặc trng (cấu trúc các từ ngữ); các từngữ đặc thù (mỗi hành vi ngôn ngữ thờng có những từ ngữ làm dấu hiệu

riêng); và các động từ ngữ vi Chúng đợc gọi là các dấu hiệu ngữ dụng

đánh dấu lực ở lời (gọi tắt là Ifids - viết tắt của cụm từ tiếng Anh

“Illcutionary Force Indicating Devices”)

Tác phẩm của Ma Văn Kháng là những câu chuyện nói về cuộcsống hiện thực thờng ngày, hành vi chê xảy ra khi các nhân vật trong tácphẩm giao tiếp, đối thoại hàng ngày với nhau Và các biểu thức sau đây

mà chúng tôi khảo sát đợc về hành vi chê sẽ giúp chúng ta cảm nhận sâusắc hơn về tác phẩm

2.2.1 Biểu thức ngữ vi chê nguyên cấp

Biểu thức ngữ vi chê nguyên cấp là biểu thức chính và đa dạng của hành

vi chê trong tác phẩm của Ma Văn Kháng, đợc nhà văn sử dụng với tần số cao,biểu thức chê nguyên cấp này góp phần làm nổi bật lên hành vi chê trong tácphẩm Ma Văn Kháng Vậy để hiểu rõ hơn về biểu thức này, chúng ta đi vàotìm hiểu:

2.2.1.1 Thế nào là biểu thức ngữ vi chê nguyên cấp?

a Khái niệm

Hành vi chê là một trong những hành vi ngôn ngữ có rất nhiều động từnói năng biểu thị Đặc biệt là số lợng các động từ miêu tả các hành vi chê rấtphong phú Theo thống kê sơ bộ của chúng tôi, những động từ miêu tả hành vichê gồm có những động từ sau: Cời, chê cời, chê trách, chê bai, chê, nhạo, chếnhạo, nhạo báng, giễu, giễu cợt, chế giễu, bêu, bêu riếu, dè bỉu, chỉ trích, công

Trang 35

kích, đả kích, đả phá, đàm tiếu, dị nghị, dèm, dèm pha, phê, phê bình, phêphán, khiển trách, cảnh cáo

Trong số đó, những động từ không thể dùng với chức năng ngữ vichiếm số lợng áp đảo Khi thực hiện hành vi chê Ma Văn Kháng nói:

(5) - Là ngời cha nên mà dám vác mặt làm thầy thiên hạ (MVK, 39, tr.248)

(6) - Không ngờ ông độc ác thế (MVK, 39, tr 776)

(7) - Đồ độc ác! (MVK, 20, tr 436)

Những phát ngôn trên là những biểu thức nguyên cấp của hành vi chê

Có nghĩa là biểu thức chê nguyên cấp không có động từ biểu thị hành vi chê

đợc dùng với chức năng ngữ vi, cũng không có mặt ngôi thứ nhất (SP1) trongbiểu thức Trong biểu thức chê nguyên cấp chỉ tồn tại chủ ngữ và vị ngữ củanội dung mệnh đề S2 trong mô hình của Ross:

NP2 là cụm danh từ chỉ ngôi thứ 2 - ngời nghe (SP2)

S2 là một nội dung mệnh đề do SP1 nói ra ứng với sự tình, sự thể nào đótrong thực tế

Nói một cách ngắn gọn: Biểu thức ngữ vi chê nguyên cấp là những biểuthức ở lời chê không sử dụng động từ ngữ vi chê những vẫn có hiệu lực ở lờichê Có thể công thức hóa biểu thức chê nguyên cấp nh sau: X - V

Trong đó, X là cái bị chê - chủ ngữ của nội dung mệnh đề do SP1 nói ra.Nội dung chê (lời chê) là do V biểu thị Do chỉ có cấu trúc X - V nên biểu

VP

2

Trang 36

thức ngữ vi chê nguyên cấp có thể bị nhầm lẫn với biểu thức của một số hành

Một số biểu thức ngữ vi chê có hình thức giống nh biểu thức của hành

vi khác nh: Miêu tả, chửi, mắng, biểu cảm

VD: (8) - Đồ đểu! (giống biểu thức ở lời chửi) (MVK, 39, tr 55)

(9) - Ngời ơi là ngời! (giống biểu thức ở lời biểu cảm - dạng

- Chê khác miêu tả: Xét về trạng thái tâm lý hay cụ thể hơn là thái độ

của ngời nói: Chê thể hiện rõ thái độ chủ quan của ngời nói, trong khi miêu tảphản ánh một thái độ khách quan trong cách nhìn nhận sự việc

Xét về đích ở lời, chê nhằm bày tỏ thái độ không hài lòng của ngời nói.Trong khi miêu tả là “dùng ngôn ngữ hoặc một phơng tiện nghệ thuật nào đó

là cho ngời khác có thể hình dung đợc cụ thể sự vật, sự việc hoặc thế giới nộitâm con ngời” (Hoàng Phê - 54)

Khi ngời chê nói: “Nom cứ nh bà lão nhà quê” thì ngời nói không cốgắng khớp ghép cả hình thức với từ lẫn từ với hiện thực Đích của hành vi chêkhông phải là sự thông báo cho SP2 biết ý kiến không hài lòng của mình về Xnào đó thuộc SP2 Nhng hành vi miêu tả thì có hớng khớp ghép hiện thực vớitừ

- Chê khác chửi: “Chửi là thốt ra những lời xúc phạm cay độc để làm nhục

cho hả giận” [22], VD: “Đồ chó! Đồ khốn” (MVK, 39, tr.273) Chê cha đến mức

độ ấy, mới chỉ dừng lại ở trạng thái tâm lý không hài lòng, không vừa ý, khôngthích, biểu hiện bằng những phát ngôn có tính đe doạ thể diện mà thôi

- Chê khác mắng: “Mắng là nêu lỗi của ngời dới bằng lời nói nặng, to

tiếng” [22] Chê cũng là nêu lên lỗi sai của ngời khác nhng có thể áp dụng với

Trang 37

mọi đối tợng, ở mọi vị thế khác nhau Có thể nói, mắng là một phần của hành

vi chê

- Chê khác than (biểu cảm): Một số hành vi chê có biểu thức ở dạng

than (VD: “Ngu quá là ngu!”): Nhng than là hành vi ngôn ngữ hớng về phíangời nói “Thốt ra lời cảm thơng cho nỗi đau khổ, bất hạnh của mình” [22].Còn chê lại hớng về phía ngời nghe (kể cả trờng hợp tự chê)

Nh vậy, đối với biểu thức chê nguyên cấp, IFIDS (phơng tiện ngữ dụngchỉ dẫn hiệu lực ở lời) chính là nội dung của vị từ (lời chê) Vị từ của biểu thứcchê thờng nêu ý kiến về mặt xấu của sự vật (khác với khen là nêu ý kiến vềmặt tốt của sự vật)

2.2.1.2 Các thành phần của nội dung mệnh đề chê trong biểu thức chê nguyên cấp

Theo công thức của biểu thức chê nguyên cấp (đã nói ở phần a) thì cácthành phần của biểu thức chê nguyên cấp gồm có X và V Hai thành phần này

là một nội dung mệnh đề cấu tạo nên biểu thức chê

a X

X của biểu thức chê nguyên cấp biểu hiện đối tợng chê Đối tợng chê

có thể là ngời, là vật hoặc là việc thuộc ngôi thứ nhất, thứ hai hoặc thứ ba nào

đó X trong mỗi trờng hợp có thể khác nhau

a.1 X trong trờng hợp đối tợng chê là ngời:

Thông thờng chê một ngời tức là chê ngời đó ở một khía cạnh, một đặc

điểm nào đó chứ không phải là chê tất cả, mọi mặt ở con ngời đó

VD: (12) - Anh sẽ phải hối tiếc về sự ngoan cố của anh (Chê SP2 bớng)(MVK, 39, tr 223)

(13) - Cái cậu này dốt bỏ mẹ (Chê về sự nhận thức) (MVK, 39, tr 123)(14) - Dơng không có bề rộng, lại thiếu chiều sâu của kiến thức(chê về sự hiểu biết) (MVK, 39, tr 239)

(15) - Mặt lão nhìn gần mới thấy nó là con khủng long (chê vềkhuôn mặt xấu) (MVK, 37, tr 754)

(16) - Ông ấy giàu, nhng ác lắm (chê về khía cạnh đạo đức)(MVK, 13, tr 292)

(17) - Tôi không ngờ ông độc ác thế (chê về khía cạnh đạo đức)(MVK, 38, tr 776)

Nghĩa là một ngời nào đó có thể “Dốt” nhng “Chăm chỉ”, “Ngoan cố”nhng “Thông minh”, “ác” nhng “giỏi”, “ít hiểu biết” nhng “Biết điều”, “xấu”nhng “tốt bụng” v.v Hay nói cách khác, bên cạnh những cái xấu (bị chê) vẫn

có những cái tốt cùng tồn tại trong một con ngời Nh vậy trong trờng hợp chêngời X là những đặc điểm, thuộc tính xấu, không bình thờng của một ngời

Trang 38

nào đó Thuộc tính, đặc điểm đó đã tồn tại hoặc có biểu hiện trớc khi ngời chê(SP1) thực hiện phát ngôn chê

* Ngời bị chê là ngôi thứ nhất (SP1)

Đây là trờng hợp chủ thể của hành vi chê (SP1) tự nêu lên những nhợc

điểm của mình, tự nói những điều không tốt, nêu ý kiến không hài lòng về bảnthân mình cho SP2 biết Trờng hợp này gọi là kiểu tự chê

+ X trong kiểu tự chê không bao giờ vắng mặt trong biểu thức chê vàthờng đứng ở đầu biểu thức

VD: (18) - Anh biết anh là thằng đàn ông vô tích sự Anh chẳng giúp

X ở đây thờng là một danh từ chỉ tập thể hoặc một nhóm ngời trong đó

có SP1 (X bị đảo xuống cuối biểu thức chê) (MVK, 39, tr 55)

* Ngời bị chê là ngôi thứ hai (SP2)

Đây là kiểu chê ngời đối thoại với mình, đối tợng chê trong trờng hợpnày chính là ngời tiếp nhận chê

Khái niệm đối tợng chê khác với khái niệm ngời tiếp nhận Đối tợngchê là cái bị chê; nó có thể là ngời, là vật hoặc việc Còn ngời tiếp nhận là ng-

ời nghe, ngời đối thoại với SP1 trong cuộc thoại đó Ngời tiếp nhận chỉ có thể

là ngời, ngời tiếp nhận chỉ đồng chiếu vật với đối tợng chê khi đối tợng chê làngôi thứ hai

X trong trờng hợp này có thể có hoặc vắng mặt trong biểu thức chê

- X có mặt trong biểu thức chê

+ Với SP2 là số ít

VD: (24) - Chị đừng có cậy quyền áp bức ngời (MVK, 14, tr 324) (25) - Anh thì biết gì (MVK, 39, tr 101)

Trang 39

(26) - Cô độc ác lắm (MVK, 20, tr 433)

(27) - Cái thằng! Chỉ đợc cái nói leo (MVK, 37, tr 761)

(28) - Mày là quân mèo đàn chó điếm (MVK, 20, tr 423)

(29) - Cái cậu này dốt bỏ mẹ (MVK, 39, tr 435)

(30) - Này, bỏ cái mặt nạ đạo đức giả ấy ra, lừa bịp đến đây là đủrồi, ông ạ! (MVK, 39, tr 448)

X ở đây thờng là những danh từ hoặc đại từ nhân xng số ít chỉ ngời đốithoại

+ Với SP2 là số nhiều

VD: (31) - Các ngời dùng cân điêu làm rối loạn thị trờng (MVK, 39, tr.316)

(32) - Các ngời là lũ ăn hại đái nát (MVK, 40, tr 413)

(33) - Các cậu chẳng hiểu cái khỉ khô gì hết (MVK, 5, tr 47).(34) - Các đồng chí có một việc cỏn con nh thế mà không quyếtnổi là thế nào? (MVK, 39, tr 61)

(35)- Các đồng chí đã làm một việc trái khoáy (MVK,39,tr.221)

X ở đây thờng là những cụm danh từ chỉ tập thể hoặc nhóm ngời trong

Trờng hợp này chỉ xảy ra khi SP1 và SP2 có vị thế ngang bằng (VD: 36,

37, 38) hoặc khi quan hệ giữa SP1 và SP2 ở tình trạng xấu (VD: 39)

+ X nằm ở bộ phận khác của phát ngôn, ngoài biểu thức chê

VD: (40) - Ông Cẩm, đừng quá đáng thế (MVK, 39, tr 331)

(41) - Này anh, đừng hòng bịt mắt tôi (MVK, 39, tr 411)

(42)- Cái cô này, nói năng độc địa vừa vừa chứ ! ( MVK ,39,tr.282)

(43) - Cái bà Xuyến này, lại tông tốc khai ra hết đấy! (MVK, 39, tr 283)(44) - Cái bà này hay nhỉ, làm gì thì làm tiếp đi chứ! Cứ đứng đực

Trang 40

VD: (45) - Quân bất tài vô tớng, đồ chớng não bồ kết không dệt màmặc, không cấy mà ăn! (MVK, 39, tr 331)

(51) - Đồ ăn cháo đá bát, qua ngõ bỏ gậy (MVK, 27, tr 578)

Đây là trờng hợp ngời bị chê đã phạm những sai lầm gây cho SP1 sựbực tức cao độ

* Ngời bị chê gồm cả SP1 và SP2

X ở đây thờng là cụm danh từ biểu hiện số nhiều, trong đó bao gồm cả

SP1 và SP2 SP1 và SP2 thờng có chung một lĩnh vực nào đó

VD: (52) - Chúng ta là cái quái gì mà dám sng là gơng sáng, ông

D-ơng? (MVK, 39, tr 245)

Có thể coi trờng hợp này thuộc kiểu tự chê Quan hệ giữa SP1 và SP2

không đợc tốt và SP2 là ngời phải chịu trách nhiệm về vấn đề nêu ra ở vị từ thì

có thể coi đó là trờng hợp chê ngời tiếp nhận hàm ẩn

ở VD trên, ông Dơng là Bí th chi bộ của trờng đa ra khẩu hiệu: Mỗigiáo viên chúng ta, trớc hết phải là một tấm gơng sáng cho học sinh noi theo

Nh tất cả giáo viên trong trờng đều không thực hiện đợc, phong trào học tậpngày càng giảm sút Vì thế trờng hợp ngời bị chê là cả SP1 và SP2; SP1 cũnggián tiếp chê Bí th chi bộ của trờng lãnh đạo kém

* Ngời bị chê là một ngôi thứ ba nào đó

Trờng hợp này là chê ngời thứ ba không tham gia vào cuộc thoại

Ngời bị chê - X có thể có mặt trong biểu thức chê, nhng không có mặt

Ngày đăng: 17/12/2013, 22:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị vân Anh (2001), Cặp thoại thỉnh cầu trong sự kiện lời nói thỉnh cầu (xin), luận văn thạc sĩ ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Cặp thoại thỉnh cầu trong sự kiện lời nói thỉnh cầu (xin)
Tác giả: Nguyễn Thị vân Anh
Năm: 2001
2. Vĩnh Bá (1998), English Vietnamese Idiom Dictionary, NXB Giáo dục, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: English Vietnamese Idiom Dictionary
Tác giả: Vĩnh Bá
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
22. Nguyễn Đức Dân (1998)“Sơ lợc về lý thuyết tam thoại”, Ngôn ngữ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ lợc về lý thuyết tam thoại”, "Ngôn ngữ
23. Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học, tập 1, NXB Giáo dục, TP Hồ ChÝ Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
24. Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hào, (2008), Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, NXB văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ "và tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hào
Nhà XB: NXB văn hóa thông tin
Năm: 2008
25. Lê Đông (1996), Ngữ nghĩa ngũ dụng câu hỏi chính danh (trên ngữ liệu tiếng Việt) Luận án phó tiến sĩ, Đại học KHXH và NV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa ngũ dụng câu hỏi chính danh
Tác giả: Lê Đông
Năm: 1996
26. Lê Đông, Nguyễn Văn Hiệp (1996), “Cấu trúc đề thuyết của một kiểu câu tiếng Việt” Ngôn ngữ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc đề thuyết của một kiểu câu tiếng Việt” "Ngôn ngữ
Tác giả: Lê Đông, Nguyễn Văn Hiệp
Năm: 1996
27. Đinh Văn Đức (1986) Ngữ pháp tiếng Việt: Từ loại, NXB Đại học và THCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt: Từ loại
Nhà XB: NXB Đại học và THCN
28. Nguyễn Thiện giáp (chủ biên), Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết (1996), Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện giáp (chủ biên), Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
29. Nguyễn Thiện Giáp (2003) Từ vựng học tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
30. Nguyễn Thiện Giáp (2000), Dụng học Việt ngữ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học Việt ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
31. Đinh Thị Hà (1996), Cấu trúc nghĩa của ĐTNN nhân bản Tranh “ ” “ luận , Cãi ” “ ” Luận văn thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc nghĩa của ĐTNN nhân bản Tranh"“ ” “"luận , Cãi"” “
Tác giả: Đinh Thị Hà
Năm: 1996
32. Hoàng Văn Hành (1977), “Về bản chất của thành ngữ so sánh trong tiếng Việt”, Ngôn ngữ, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về bản chất của thành ngữ so sánh trong tiếng Việt”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Năm: 1977
33. Hoàng Văn Hành (1992), “Về ý nghĩa của các từ biểu thị nói năng trong tiếng Việt”, Ngôn ngữ, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về ý nghĩa của các từ biểu thị nói năng trong tiếng Việt”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Năm: 1992
34. Nguyễn Thị Thu Hạnh (2005), hành vi trách và SKLN trách, Luận văn thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: hành vi trách và SKLN trách
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hạnh
Năm: 2005
35. Dơng Tuyết Hạnh (1999), Cấu trúc của tham thoại (trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại), Luận văn thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc của tham thoại (trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại
Tác giả: Dơng Tuyết Hạnh
Năm: 1999
36. Cao Xuân Hạo (1991), Sơ thảo ngữ pháp chức năng, tập một, NXB khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXB khoa học xã hội
Năm: 1991
37. Cao Xuân Hạo (2004), Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
38. Lê Thị Thu Hoa (1996), Cấu trúc ngữ nghĩa của động từ nói năng: nhóm “khen”, “ tâng , chê , ” “ ” Luận văn thạc sĩ ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc ngữ nghĩa của động từ nói năng: nhãm" “"khen"”, “"tâng , chê , "” “
Tác giả: Lê Thị Thu Hoa
Năm: 1996
40. Nguyễn Thị Thái Hòa (1997), Dẫn luận phong cách học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận phong cách học
Tác giả: Nguyễn Thị Thái Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Mô hình này của Ross chỉ có thể ứng với phát ngôn và biểu thức ngữ vi chê tờng minh. - Khảo sát hành vi chê và hồi đáp chê trong tác phẩm của ma văn kháng
h ình này của Ross chỉ có thể ứng với phát ngôn và biểu thức ngữ vi chê tờng minh (Trang 43)
Sau đây ta có bảng thống kê của đối tợng chê trong biểu thức chê nguyên cấp: - Khảo sát hành vi chê và hồi đáp chê trong tác phẩm của ma văn kháng
au đây ta có bảng thống kê của đối tợng chê trong biểu thức chê nguyên cấp: (Trang 56)
Sau đây ta có bảng thống kê về các phát ngôn chê: - Khảo sát hành vi chê và hồi đáp chê trong tác phẩm của ma văn kháng
au đây ta có bảng thống kê về các phát ngôn chê: (Trang 72)
Sau đây là bảng thống kê vấn đề xng hô trong phát ngôn chê: - Khảo sát hành vi chê và hồi đáp chê trong tác phẩm của ma văn kháng
au đây là bảng thống kê vấn đề xng hô trong phát ngôn chê: (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w