Trong suốt mấy chục năm qua với nhiều hướng tiếp cận khác nhau, bêncạnh những bài phê bình, ta còn thấy xuất hiện các công trình nghiên cứutương đối có hệ thống về truyện ngắn Nguyễn Côn
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
Ngời hớng dẫn khoa học:
gs.ts đỗ thị kim liên
Vinh - 2011
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong những năm gần đây việc sử dụng lý thuyết hành động ngôn
từ để nghiên cứu ngôn ngữ trong giao tiếp nói chung và hành động ngôn từtrong tác phẩm văn chương nói riêng được chú trọng ngày càng nhiều Tuy
nhiên, việc đi sâu nghiên cứu hành động van xin qua lời thoại nhân vật trong
truyện ngắn Nguyễn Công Hoan thì chưa có đề tài nào
1.2 Trong thực tiễn học tập và giảng dạy môn ngữ văn ở nhà trườngphổ thông, việc áp dụng lý thuyết hành động ngôn từ để khảo sát, phân tích
tác phẩm văn chương gặp không ít khó khăn Vì vậy, nghiên cứu hành động
van xin qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan sẽ góp
phần hữu ích cho việc giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở nhà trường phổ thônghiện nay
1.3 Nguyễn Công Hoan là nhà văn xuất sắc của nền văn học hiện thựcphê phán Việt Nam 1930-1945 Trong các sáng tác của mình, Nguyễn CôngHoan đã sử dụng các nhóm hành động khá đa dạng, và một trong những nhómhành động góp phần làm nên đặc điểm phong cách truyện ngắn của Nguyễn
Công Hoan phải kể đến nhóm hành động van xin Tuy nhiên, việc đi sâu nghiên cứu hành động van xin này vẫn chưa có một công trình nào Vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài: Khảo sát hành động van xin qua lời thoại nhân vật
trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan làm đề tài nghiên cứu của mình.
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu về hành động ngôn từ
Năm 1962, cuốn How to do things with words (Hành động như thế nào
bằng lời nói) của J.L Austin được công bố thì có thể xem đây là cái mốc đánhdấu sự ra đời của ngữ dụng học trong đó có lý thuyết hành động ngôn từ
Trang 3Năm 1969, J.Searle đã công bố cuốn Speech Acts Năm 1975, với công trình Indirect Speech Acts và sự hoàn thiện khái niệm hành động ngôn ngữ
gián tiếp, J.Searle đã có công lớn trong việc phát triển lý thuyết hành độngngôn từ
Ở Việt Nam, vào những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, ngữ dụnghọc mới chính thức được đưa vào giảng dạy ở nhà trường cũng như được giớithiệu qua một số bài viết của một số nhà nghiên cứu Trước hết, phải kể đến
Hoàng Phê với bài viết có nhan đề “Tiền giả định và hàm ý tiềm tàng trong
ngữ nghĩa của từ” (Tạp chí Ngôn ngữ tháng 2/1982) được coi là công trình
mở đầu
Năm 1990, Đỗ Hữu Châu công bố bài viết có tính chất khái quát về ngữ
dụng học: “Ngữ pháp học chức năng dưới ánh sáng của dụng học hiện nay” (Ngôn ngữ, số 1 và 2 (1992) Năm 1993, trong cuốn Đại cương ngôn ngữ học
(tập 1), Đỗ Hữu Châu đã có một chương viết về ngữ dụng Năm 2001, côngtrình này được tái bản có sửa chữa, bổ sung dưới hình thức của một cuốn giáo
trình chuyên sâu Ngữ dụng học (tập 2).
Nguyễn Đức Dân cũng công bố một loạt công trình liên quan đến ngữ
dụng học: Biểu thức ngữ vi (Ngôn ngữ, số 2/1998), Lý thuyết lập luận (Ngôn
ngữ, số 5/1998) và Sơ lược về lý thuyết tam thoại (Ngôn ngữ, số 3, 1999).
Năm 1998 giáo trình Ngữ dụng học (tập 1) của Nguyễn Đức Dân đã
trình bày khá chi tiết về các vấn đề lý luận chung như: hành động ngôn ngữ;hội thoại; lý thuyết lập luận Các vấn đề cơ bản về hành động ngôn ngữ như:các loại hành động ngôn ngữ, điều kiện sử dụng hành động ngôn ngữ, phânloại hành động ở lời, biểu thức ngữ vi, những dấu hiệu ngữ vi, hành độngngôn ngữ gián tiếp… được trình bày một cách tường minh, sáng rõ
Năm 2000, trong cuốn Dụng học Việt ngữ, tác giả Nguyễn Thiện Giáp
đã vận dụng các vấn đề lý thuyết về dụng học vào nghiên cứu tiếng Việt
Trang 4Năm 2005, Đỗ Thị Kim Liên trong cuốn giáo trình Ngữ dụng học đã
trình bày khá kỹ các khái niệm liên quan đến lý thuyết hội thoại
Những công trình nghiên cứu trên là cơ sở lý thuyết hết sức quantrọng, cần thiết cho chúng tôi dựa vào trong quá trình triển khai đề tài
2.2 Lịch sử nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan
Nguyễn Công Hoan là một trong những nhà văn tiêu biểu của nền vănhọc hiện thực phê phán Việt Nam 1930 – 1945 Với trên 200 truyện ngắn cógiá trị, truyện ngắn của ông luôn là mảnh đất màu mỡ cho những tìm tòi khámphá
Trong suốt mấy chục năm qua với nhiều hướng tiếp cận khác nhau, bêncạnh những bài phê bình, ta còn thấy xuất hiện các công trình nghiên cứutương đối có hệ thống về truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, tiêu biểu phải kểđến: [19], [22], [27], [41], [43], [47], [50], [52]…
Nguyễn Đăng Mạnh khi nhận xét về nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn
Công Hoan, viết:“Thành công của Nguyễn Công Hoan do nhiều lý do:
Phương thức kể chuyện biến hoá, tài vẽ hình, vẽ cảnh sinh động, khả năng dựng đối thoại có kịch tính, giọng kể chuyện tự nhiên hoạt bát, lối so sánh ví von độc đáo, cách chơi chữ táo bạo, dí dỏm”… Nhưng về đại thể, bí quyết
chủ yếu vẫn là "nghệ thuật dẫn dắt tình tiết sao cho mâu thuẫn trào phúng,
tình thế hài hước bật ra ở cuối tác phẩm một cách thật độc đáo, bất ngờ” [41,
tr.172 - 173]
Trúc Hà thì cho rằng: “Văn ông có cái hay rõ ràng, sáng sủa, thiết
thực, hơi văn nhanh và gọn Lời văn hàm một giọng trào phúng, lại hay đệm vào một vài câu hay ý khôi hài, bông lơn, thú vị (…) trong khi đọc văn ai cũng phải cười thường là cái buồn ngấm ngầm trong tâm hồn” [22, tr.47]
Cũng có cùng nhận định, Thiều Sơn viết: “Văn ông Hoan vừa vui vừa
hoạt bát, bao giờ cũng có giọng khôi hài, dễ dãi với cái cách trào phúng sâu
Trang 5cay, câu chuyện động lòng bằng chết mà ông cũng giễu cho người ta cười nôn ruột, nhưng khi cơn cười đã hết, tự nhiên ta lại cảm thấy nỗi buồn vô hạn vô biên về nhân tình thế thái” Ông nhấn mạnh: “Cái đặc sắc của ông Hoan là ở chỗ ông biết quan sát những cái chung quanh mình, biết kiểm tra những chuyện tức cười, biết vẽ người bằng những nét vẽ ngộ nghĩnh, thấu tình, biết vấn đáp bằng những giọng hoạt kê lý thú và biết kết cấu thành những tấn bi hài kịch”, “Ông Hoan rất sở trường về luật tương phản nên phần nhiều truyện của ông cũng thấy bầy ra hai cảnh tượng trái ngược nhau để cảnh này làm bật
ý nghĩa cảnh kia gây nên cái vị chua chát của đời người” [50, tr.274, 275].
Trong cuốn Nhà văn Việt Nam, Phan Cự Đệ và Hà Minh Đức đã nhận
xét: “Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan sinh động hấp dẫn là vì tác giảluôn luôn thay đổi các thủ pháp nghệ thuật, thay đổi màu sắc và cung bậc tình
cảm” [19, 35]
Lê Thị Đức Hạnh trong công trình “Nguyễn Công Hoan một nhà vănhiện thực lớn” đã trình bày một cách có hệ thống cuộc đời và sự nghiệp củanhà văn Nguyễn Công Hoan, nội dung và nghệ thuật trong các sáng tác củaông, đặc biệt là thể loại truyện ngắn
Trần Ngọc Dung trong luận án phó tiến sĩ Ba phong cách truyện ngắn
Nguyễn Công Hoan - Thạch Lam - Nam Cao đã nói về nghệ thuật truyện ngắn
Nguyễn Công Hoan xung quanh các khâu tình huống truyện, kết cấu truyện,nhân vật truyện…
Trong luận văn thạc sĩ Đặc điểm ngôn ngữ của truyện Nguyễn Công
Hoan, tác giả Lò Thị Duyên đã xem xét ngôn ngữ trần thuật, đối thoại và độc
thoại về đặc điểm từ vựng, cú pháp, các biện pháp tu từ Từ đó, tác giả đi đếnkết luận: Ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là ngôn ngữ trào phúng,châm biếm
Trang 6Năm 2000, với luận văn thạc sĩ: “Phương tiện tu từ nói mỉa trong truyện
ngắn Nguyễn Công Hoan”, tác giả Nguyễn Thị Hương Lan đã đề cập đến các
dạng thức nói mỉa trên nhiều cấp độ văn bản: cấp độ từ ngữ trong câu, cấp độđoạn văn, cấp độ văn bản…để rồi tạo nên những trùng lớp, góp phần quantrọng vào nghệ thuật trào phúng độc đáo, đặc sắc của Nguyễn Công Hoan
Năm 2001, Nguyễn Thanh Hương trong luận văn thạc sĩ Đặc điểm tình
huống đối thoại trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, đã trực tiếp đề cập
đến ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan nhưng ởphương diện tình huống đối thoại tức là tìm hiểu tình huống ngữ cảnh củacuộc thoại dựa trên lý thuyết ngữ dụng học và phong cách học
Năm 2006, với luận văn thạc sĩ Đặc điểm cách xưng hô của các vai
giao tiếp trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, tác giả Lê Ngọc Hoà đã khảo
sát một cách có hệ thống lớp từ xưng hô trong truyện ngắn Nguyễn CôngHoan, để từ đó nêu bật mối quan hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ và đặc trưng vănhoá xã hội
Năm 2008, với đề tài luận văn thạc sĩ: Các phương thức và đặc điểm
gây cười qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, tác
giả Hoàng Minh Hải đã vận dụng lý thuyết hội thoại để nghiên cứu và chỉ rađặc điểm của nghệ thuật gây cười trong các truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
và nguyên lý gây cười mang phong cách Nguyễn Công Hoan, từ đó tìm hiểugiá trị truyện ngắn của ông về phong cách ngôn ngữ độc đáo
Nhìn lại, các công trình nghiên cứu trên, chúng tôi thấy các tác giả đã
đi vào tìm hiểu nhiều góc độ, nhiều khía cạnh khác nhau về sáng tác củaNguyễn Công Hoan Tuy nhiên, chưa có một công trình nào đi sâu vào khảo
sát các hành động van xin trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan Vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài Khảo sát hành động van xin qua lời thoại nhân vật
trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan làm đề tài nghiên cứu của mình.
Trang 73 Đối tượng nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã lựa chọn các phát ngôn có chứa hành động van xin qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn chọn lọc Nguyễn
Công Hoan và tuyển tập Nguyễn Công Hoan làm đối tượng nghiên cứu
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đặt ra các nhiệm vụ sau:
- Trình bày một số khái niệm lý thuyết làm cơ sở tiền đề cho đề tài
- Khảo sát, phân loại, mô tả hành động van xin, phân loại các tiểu nhóm
ngữ nghĩa của chúng qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn CôngHoan
- Từ hiệu lực của hành động van xin, tác giả đề tài rút ra nhận xét về
chiến lược giao tiếp thể hiện qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn NguyễnCông Hoan
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứusau:
5.1 Phương pháp khảo sát, thống kê
Tác giả đề tài tiến hành khảo sát, thống kê các cặp thoại trao đáp có
chứa hành động van xin trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan.
5.2 Phương pháp miêu tả
Trên cơ sở ngữ liệu, chúng tôi tiến hành miêu tả các tiểu nhóm nhỏ
thuộc nhóm van xin để tìm ra những đặc điểm ngữ nghĩa tiêu biểu của hành động van xin.
5.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ của đề tài, tác giả đề tài còn sử
dụng phương pháp so sánh và đối chiếu hành động van xin với các hành động khác để tìm những nét đặc trưng của hành động van xin.
Trang 85.4 Phương pháp phân tích
Dựa trên kết quả của các phương pháp nêu trên, chúng tôi còn sử dụngphương pháp phân tích cụ thể những đặc điểm về quan hệ liên nhân giữa các
nhân vật giao tiếp, về cấu trúc, ngữ nghĩa của hành động van xin.
6 Đóng góp mới của luận văn
Có thể khẳng định đây là luận văn đầu tiên đi vào tìm hiểu hành động
van xin dựa trên lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan.
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn của chúng tôi bao gồm 3chương:
Chương 1: Những giới thuyết liên quan đến đề tài.
Chương 2: Phân loại và mô tả cấu tạo biểu thức ngữ vi thể hiện hành
động van xin qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan.
Chương 3: Các chiến lược van xin qua lời thoại nhân vật trong
truyện ngắn Nguyễn Công Hoan.
Trang 9Chương 1
NHỮNG GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Lý thuyết hội thoại
1.1.1.Khái niệm
“Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng lời ở dạng nói giữa các nhân vậtgiao tiếp nhằm trao đổi các nội dung miêu tả và liên cá nhân theo mục đíchđược đặt ra.” [54, tr.122]
Như vậy, nói đến hội thoại là nói đến hoạt động giao tiếp bằng ngônngữ giữa hai hay nhiều nhân vật nhằm một mục đích nào đó Hoạt động nàybao gồm các yếu tố: lời trao (trao lời - allocution), lời đáp (đáp lời -exchange) và sự tương tác (interaction)
1.1.1.1 Trao lời (Allocution)
Trao lời là sự “vận động mà người nói (Sp1), nói ra lượt lời của mình
và hướng lời của mình về phía người nghe (Sp2), nhằm làm cho Sp2 nhậnbiết được rằng lượt lời được nói ra dành cho Sp2” [15, tr 205]
Ví dụ: < Từ đây các ví dụ được chúng tôi đánh số thứ tự từ 1 đến n>
(1) - Những nửa tháng trời! Ai chăm lo cho cha tôi?
[I, tr 162]
(2) - Thế lần đầu, anh có sợ không?
[I, tr 250]
Ở các ví dụ trên đều có nhân vật trao lời cụ thể hướng lời nói của mình
về phía người nghe cụ thể
Trong lời trao, sự có mặt của Sp1 là điều tất yếu Sự có mặt đó thể hiện
ở từ xưng hô ngôi thứ nhất, ở tình cảm, thái độ, hiểu biết, ở quan điểm củaSp1, trong nội dung của lượt lời trao Người nói có thể dùng những dấu hiệu
Trang 10bổ sung cho lời nói, đánh dấu sự có mặt của mình trong lượt lời nói ra, nhưdùng điệu bộ, cử chỉ, nét mặt, vỗ ngực, đập bàn…
Ngoài những dấu hiệu kèm lời và phi lời người nghe Sp2 có thể có mặttrong lượt lời của Sp1 qua những yếu tố ngôn ngữ tường minh như lời hô gọi,chỉ định, những lời thưa gửi và các từ nhân xưng ngôi thứ hai Qua những yếu
tố hàm ẩn như những tiền giả định giao tiếp (tiền giả định bách khoa), nhữnghiểu biết mà Sp1 và Sp2 đã có chung… Nói một cách khái quát, ngay trước khiSp2 đáp lời, tức thực hiện sự trao đổi của mình, Sp1 đã đưa vào lượt lời cùngtồn tại với ngôi thứ nhất “tôi”, thường xuyên điều hành sự trao lời của Sp1
(3) - Ngài lầm to Ngài tưởng danh tiếng ngài là do ngài làm nên được à? Sự
thực trái hẳn thế ngài ạ Danh tiếng ngài là ở tài tôi làm ra.
[I, tr 266] Đây là lời trao của ông chủ nhiệm hướng tới người nhận là Lê VănTầm bằng từ “ngài” Trong lời trao đã có sự hiện hữu của người nhận, đồngthời cũng chứa đựng cả thái độ của người phát ngôn
1.1.1.2 Đáp lời (Exchange)
Đáp lời là lời của người nghe (Sp1) dùng để đáp lại lời của người nói(Sp2) Khi lời trao không có lời đáp thì không thành cuộc thoại Như vậy,cuộc thoại chính thức được hình thành khi người nghe nói ra lượt lời đáp lạilượt lời của người nói Vận động trao đáp, cái lõi của hội thoại sẽ diễn ra vàthay đổi liên tục giữa vai nói và vai nghe
Trang 11(5) Nó nghĩ đến thầy con Tý yêu con Tý, mà nó chưa được cậu nó yêu, thì
nó xị mặt xuống.
- Thế cậu chết ở đâu? Bao giờ cậu về hở mợ?
- Cậu chết ở dưới đất, không bao giờ về nữa.
[I, tr 63]Lời trao đáp ở ví dụ (5) là lời của mẹ Dân đối với các câu hỏi của Dân
1.1.1.3.Tương tác hội thoại (Interaction)
Tương tác có nghĩa là tác động vào nhau, làm cho nhau biến đổi trongquá trình hội thoại giữa các nhân vật giao tiếp [38, tr 200]
Sự tương tác luôn xảy ra trong các cuộc hội thoại Trong hội thoại, sựluân phiên lượt lời giữa các nhân vật giao tiếp đã làm cho các nhân vật giaotiếp có sự ảnh hưởng, tác động qua lại với nhau, làm biến đổi lẫn nhau Sựảnh hưởng, tác động lẫn nhau này có thể làm cho mục đích cuộc thoại diễn ratốt đẹp nếu các nhân vật tham gia cuộc thoại cộng tác với nhau, ngược lại nó
có thể làm cho cuộc thoại trở nên căng thẳng không đi đến cái đích chung đãđược đặt ra trước đó, nếu các bên tham gia cuộc thoại không tìm được hướng
đi chung, không thống nhất với nhau về quan điểm
(6) Bắc vễnh bộ râu ghi đông, nét mặt ra dáng van lơn lo lắng:
- Nào tôi có phải ăn ở bạc tình với mợ đâu mà mợ nỡ dứt lìa thế?
- Tôi cũng biết vì tôi đối với cậu chung tình, nên cậu đối với tôi trung hậu, nhưng tôi không thể nào đeo mo mà sống ở đời được.
- Sao mợ lại bảo là đeo mo? Vẫn biết rằng đàn bà đáng giá ở chữ trinh, nhưng mợ có phải là gái thất trinh đâu? Vì mợ quá yêu tôi, quá chiều tôi, nên đến nay đeo đẳng mối tình cùng tôi Vậy rồi sau, tôi nuôi con, lại cưới mợ về làm vợ Làm người vợ, cần giữ chữ trinh với chồng Mợ chung tình với tôi từ trước tới nay, thì đối với riêng tôi, mợ vẫn chu toàn được chữ
Trang 12trinh Vậy cớ làm sao phải nghĩ? Nếu tôi bạc tình cùng mợ, toan bỏ lửng mợ, thì mợ mới đáng hờn duyên tủi phận chứ!
- Thôi tôi xin cậu, tôi nào dám tin cái mồm mép đàn ông!
- Nếu tôi ăn ở như kẻ khác, xin thề rằng ngọn đèn điện này tắt, tôi cũng chết.
Có thể thấy ba vận động: trao lời, đáp lời, tương tác là ba vận động đặctrưng của cuộc hội thoại, chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó, hai vậnđộng đầu do từng cá nhân thực hiện nhằm phối hợp với nhau thành vận độngtương tác Bằng vận động trao lời và đáp lời, các nhân vật hội thoại có sự phốihợp để thực hiện sự liên hòa phối, đây là cốt lõi của vận động tương tác
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, các cuộc thoại có thể khác nhau ở rất nhiềukhía cạnh như: đặc điểm của thoại trường (không gian, thời gian), số lượngngười tham gia; cương vị và tư cách của những người tham gia hội thoại;khác nhau ở tính có đích hay không có đích; khác nhau về tính có hình thứchay không có hình thức và cuối cùng là vấn đề ngữ điệu hay động tác kèmlời [15, tr 201, tr 202, tr 203, tr 204] Những yếu tố này liên kết chặt chẽvới nhau tạo thành một khối thống nhất điều hòa và chi phối các nhân vậttham gia cuộc thoại đưa cuộc thoại đến cái đích chung
Trang 131.1.2 Nhân vật giao tiếp
“Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào một cuộc giao tiếpbằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra các lời nói, các diễn ngôn, qua đó màtác động vào nhau Đó là những người tương tác bằng ngôn ngữ Giữa các nhânvật giao tiếp có quan hệ vai giao tiếp và quan hệ liên cá nhân” [15, tr 15]
- Về quan hệ vai giao tiếp
Trong một cuộc thoại, các nhân vật giao tiếp luôn đảm nhận các vai trògiao tiếp khác nhau Ở đây có sự luân phiên, hoán đổi vai giao tiếp giữa Sp1
và Sp2 Vai giao tiếp có thể là ngôi thứ nhất với tư cách là vai trao lời (Sp1)tác động đến vai nhận (Sp2), đến lượt mình, vai nhận (Sp2) lại trở thành vaitrao còn vai trao lại trở thành vai đáp Cứ như thế chúng làm thành những cặptrao - đáp luân phiên nhau, tương tác qua lại với nhau tạo thành cặp thoại hôứng về nội dung và hình thức Trong hội thoại, nhân vật giao tiếp đóng mộtvai trò quan trọng không thể thiếu Vì họ chính là chủ thể của những hành vigiao tiếp cụ thể, đồng thời là chủ thể gây nên hoặc tiếp nhận những hành độnggiao tiếp cụ thể ấy
- Về quan hệ liên cá nhân
Nói đến nhân vật không thể không nói đến mối quan hệ giữa các nhânvật, đó là quan hệ liên cá nhân Quan hệ liên cá nhân là quan hệ xét trongtương quan xã hội, sự hiểu biết, tình cảm giữa các nhân vật giao tiếp với nhau.Quan hệ liên cá nhân có thể được xét ở hai góc độ: quan hệ vị thế xã hội – còngọi là quan hệ quyền lực và quan hệ thân cận – còn gọi là quan hệ khoảngcách (phần này, chúng tôi sẽ nói rõ hơn ở mục 1.1.4.3)
1.1.3 Ngữ cảnh giao tiếp
“Ngữ cảnh là những nhân tố có mặt trong một cuộc giao tiếp nhưngnằm ngoài diễn ngôn Ngữ cảnh là một tổng thể hòa hợp phần: nhân vật giaotiếp và hoàn cảnh giao tiếp” [15, tr 15]
Trang 14Theo tác giả Đỗ Thị Kim Liên, ngữ cảnh gồm 2 phần:
- Ngữ cảnh chính là không gian, thời gian, cảnh hướng bên ngoài chophép một câu nói trở thành hiện thực, nói được hay không nói được, đồng thờigiúp ta xác định tính đơn nghĩa của phát ngôn
- Ngữ cảnh gắn chặt với quá trình hội thoại Đây là ngữ cảnh hiểu theonghĩa hẹp, còn được gọi là ngôn cảnh Ngôn cảnh chính là điều kiện trước và sauphát ngôn để cho phép hiểu đúng nghĩa của từ hay phát ngôn cụ thể [35, tr 28]
Ngữ cảnh theo cách hiểu này, gồm ngữ cảnh rộng và ngữ cảnh hẹp.Ngữ cảnh giao tiếp rộng (hay còn gọi là hoàn cảnh giao tiếp) bao gồmnhững hiểu biết về thế giới vật lý, sinh lý, tâm lý, xã hội, văn hóa, tôn giáo, lịch
sử các ngành khoa học, nghệ thuật v.v ở thời điểm và ở không gian trong đóđang diễn ra cuộc giao tiếp J.Lyons đã quy hoàn cảnh giao tiếp gồm năm nhântố: a) Những hiểu biết về vai trò, vị thế xã hội của mỗi cá nhân về nhau (gồmhiểu biết những quy định xã hội đối với nhân vật giao tiếp và hiểu biết về sự chủđộng hay bị động của đối phương); b) Những hiểu biết về không gian – thờigian; c) Những hiểu biết về các nghi thức; d) Những hiểu biết về phương tiệnngôn ngữ (nói, viết, ngôn ngữ gì ); đ) Những hiểu biết về vấn đề đang nói:trường học, tôn giáo, công xưởng, buổi tọa đàm [40, tr 46]
Ngữ cảnh giao tiếp hẹp: Gồm toàn bộ không gian, thời gian cụ thể ở đócuộc giao tiếp diễn ra (tác giả Đỗ Hữu Châu đã sử dụng khái niệm “thoạitrường” để chỉ ngữ cảnh giao tiếp hẹp)
Ngữ cảnh giao tiếp rộng và ngữ cảnh giao tiếp hẹp luôn đi liền, gắn bóvới nhau Ngữ cảnh giao tiếp hẹp như là những nhát cắt của thời gian, của đờisống hiện thực được nối kết thành ngữ cảnh giao tiếp rộng
Như vậy, hội thoại bao giờ cũng diễn ra trong một ngữ cảnh nhất định
Nó tham gia vào cuộc thoại, quy định cách thức tiến hành và đích đến củacuộc thoại
Trang 151.1.4 Quy tắc hội thoại
“Quy tắc hội thoại là những quy tắc bất thành văn nhưng được xã hộichấp nhận và những người tham gia hội thoại phải tuân theo khi thực hiện cácvận động hội thoại để cho cuộc thoại vận động như mong muốn” [38, tr 213]
C.K.Orecchioni đã chia các quy tắc hội thoại thành ba nhóm:
- Thứ nhất, các quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời
- Thứ hai, những quy tắc chi phối cấu trúc của hội thoại
- Thứ ba, những quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân trong hội thoai
1.1.4.1 Quy tắc luân phiên lượt lời
Quy tắc này chỉ ra rằng, trong cuộc thoại các vai giao tiếp phải thườngxuyên thay đổi nhau, các tham thoại Sp1 và Sp2 phải tuân theo thứ tự lầnlượt, người nói phải có người nghe và ngược lại Để đạt được điều này, ngườinói phải biết kết thúc lượt lời của mình sao cho phù hợp, đúng lúc, tránh nóidài, nói lan man, để nhường lời cho người khác
Dấu hiệu để nhận biết một lượt lời đã kết thúc gồm:
- Tính trọn vẹn về nội dung, về ý;
- Tính trọn vẹn về hình thức;
- Có ngữ điệu kết thúc (được thể hiện dưới hình thức ngữ điệu câu phùhợp, các dấu hiệu hình thái đứng ở cuối câu báo hiệu câu đã kết thúc và ý
định của người nói như: nghe, nhé, nha, hở, hả, hỉ, thôi, nào ).
(7) - Sp1: Thế nào, tội anh làm sao? Nói thật ta xem!
- Sp2: Lạy cụ, con chẳng biết rằng có tội gì mà cụ lớn đòi.
- Sp1: Anh chết, muốn sống thú thực với ta, rồi ta trình lên cụ lớn ngài điều cho.
- Sp2: Cụ thương cho thì được, mà bắt tội thì con phải chịu chứ cụ bảo thú thì con chẳng biết gì mà thú.
- Sp1: Được rồi sẽ biết ! Mày chết !
[II, tr.14]
Trang 16Ở ví dụ (7) các tham thoại của Sp1 và Sp2 được tuân thủ theo quy tắcluân phiên lượt lời Các phát ngôn giữa các vai giao tiếp Sp1 và Sp2 đều có sựhoàn chỉnh về nội dung, hình thức và có ngữ điệu kết thúc câu.
1.1.4.2 Những quy tắc chi phối cấu trúc của hội thoại
Các cuộc hội thoại đa dạng về kiểu loại, nhưng giữa chúng vẫn cónhững cái chung về cấu trúc Chính nhờ những cái chung về cấu trúc này màlời nói của Sp1 và Sp2 mới hợp quy cách, khiến cho sự tương tác trong hộithoại đạt mục đích Theo lý thuyết phân tích hội thoại thì hội thoại có hai tổchức tổng quát: tổ chức cặp (Sequential Organisation) và tổ chức được ưathích (Preference Organisation) Các tổ chức này được xây dựng từ lượt lời(Turn talk) Cho dù được xây dựng theo cấu trúc nào đi chăng nữa thì tronghội thoại hành vi đáp lời luôn phải đảm bảo tính liên kết đề tài, tương thíchvới hành vi trao lời Mỗi lượt lời của Sp1 hay Sp2 đều phải được xây dựngtrên cơ sở lượt lời trước đó, điều này cũng có nghĩa là một hành vi trao lời sẽđòi hỏi một hành vi đáp lời tương ứng với nó
Một hành vi trao lời của Sp1 có thể được thể hiện dưới nhiều hình thứckhác nhau và có thể nhận được những hành vi đáp lời khác nhau (bằng ngônngữ): chấp nhận, khước từ, đồng tình, phản đối, im lặng… từ phía Sp2.Nhưng dù Sp2 lựa chọn quyết định hình thức phản hồi nào thì khuôn mẫu vềcách thức thể hiện cũng đã được định sẵn theo một nguyên tắc nhất định chongười tham gia hội thoại Trong thực tế giao tiếp hội thoại, mỗi nhân vật đềuphải lựa chọn cho mình một phương thức giao tiếp nào đó dựa trên những thóiquen, tập tục… đã trở thành quy ước xã hội, mà ở đó các nhân vật giao tiếpphải tuân theo sao cho phù hợp để đạt được mục đích giao tiếp mà ta gọi đó làchiến lược giao tiếp phù hợp
(8) Nhà chủ xin phép cụ cho bốn người lên hầu bài, rồi đi xuống Lúc gặp
cậu người nhà, anh ta mới khẽ hỏi:
Trang 17- Sp1: Đôi giày của cụ, cậu có cất không?
- Sp2: Không! Sao bác hỏi lố bịch thế?
- Sp1: Vậy thì mất à! Đôi giày của cụ như thế nào hở cậu?
- Sp2: Mới nguyên, kiểu Gia Định, đế cờ - lết, mua những ngót ba đồng!
để mua Tham thoại hồi đáp thứ hai của Sp2 là câu trả lời của Sp2 đối với câuhỏi của Sp1 Như vậy, các tham thoại của Sp1 và Sp2 đã có sự liên kết chặtchẽ với nhau về chủ đề, hành vi đáp lời luôn dựa trên nội dung của hành vitrao lời
1.1.4.3.Quy tắc chi phối quan hệ liên nhân trong hội thoại
Quan hệ liên nhân là mối quan hệ xét trong tương quan xã hội, hiểubiết, tình cảm giữa các nhân vật giao tiếp với nhau Quan hệ liên nhân giữacác nhân vật giao tiếp có thể xét trên hai trục: trục tung và trục hoành Trụctung là trục vị thế xã hội hay còn gọi là trục quyền uy (Power) trục hoành làtrục quan hệ khoảng cách còn gọi là trục thân cận (Solidarity)
a Quan hệ thân cận
Quan hệ thân cận chỉ rõ mối quan hệ gần gũi hay xa cách giữa các nhânvật tham gia giao tiếp Mối quan hệ này có thể thay đổi trong quá trình hộithoại từ thân đến sơ và ngược lại từ sơ đến thân Khoảng cách quan hệ giữacác nhân vật tham gia giao tiếp như họ hàng, ruột thịt, quen biết, không quenbiết… Ảnh hưởng đến việc lựa chọn hành vi ngôn ngữ trong hội thoại
Trang 18Khoảng cách quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp càng nhỏ (mức độ thân cậnlớn), thì ngôn ngữ của họ càng thân mật, gần gũi, ngược lại khoảng cách giữacác nhân vật giao tiếp càng lớn (mức độ thân cận thấp) thì ngôn ngữ của họcàng mang tính nghi thức, nghi lễ, khách sáo…
Có nhiều dấu hiệu thể hiện quan hệ thân cận trong giao tiếp: dấu hiệubằng lời; dấu hiệu phi lời; dấu hiệu kèm lời Người nói có thể tự lựa chọn chomình dấu hiệu thể hiện sao cho phù hợp với từng mối quan hệ giao tiếp.Chẳng hạn, những dấu hiệu bằng lời như hệ thống đại từ xưng hô, từ dùngthưa gửi, cách sử dụng từ hình thái… thể hiện rất rõ sắc thái, tình cảm cá nhânthân - sơ, trọng - khinh trong đó
(9) - Sp1: Mợ ơi! Tôi đã theo lời mợ là đến ngày mợ đẻ, thì sang nhà hộ
sinh tỉnh Bắc Ninh mà nằm cho êm tiếng Bây giờ chỉ cần mợ giữ cái bụng cho kín đáo Mợ đẻ xong, tôi nuôi lấy con.
- Sp2: Thế rồi cậu bỏ tôi bơ vơ?
[I, tr 30]
Trong ví dụ (9) giữa Sp1 và Sp2 hoàn toàn không có quan hệ vợ chồng,nhưng Sp1 và SP2 đã lựa chọn từ ngữ chỉ quan hệ vợ chồng để xưng hô: mợ -cậu nhờ việc lựa chọn cách xưng hô này mà quan hệ giữa họ trở nên gần gũi,thân thiết hơn
b Quan hệ vị thế
Quan hệ vị thế là quan hệ tôn ti trong xã hội, tạo thành các vị thế trêndưới trong giao tiếp Đặc trưng của mối quan hệ này là tính quyền lực và tínhtương đối Quan hệ vị thế phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như: chức vụ(cao - thấp); tuổi tác (già - trẻ); giới tính (nam - nữ); học vấn (bằng cấp caohơn, thấp hơn); kinh tế (giàu - nghèo)… Những yếu tố khách quan này tạo ranhững vị thế khác nhau chi phối quá trình giao tiếp tùy theo quan niệm truyềnthống văn hóa của mỗi cộng đồng ngôn ngữ, quan hệ vị thế cũng tạo nên dấu
Trang 19ấn cá nhân của các nhân vật giao tiếp Dấu hiệu để thể hiện quan hệ vị thế cóthể bằng lời hoặc phi lời Những dấu hiệu bằng lời gồm có hệ thống từ xưng
hô, các danh từ thân tộc, nghi thức lời nói, các hành vi ngôn ngữ, cách tổ chứchội thoại, phép lịch sự… đều thể hiện vị thế và được thể hiện khác nhau ởtừng cộng đồng ngôn ngữ - văn hóa
(10) Cụ thư kí Không biết đã sẵn sàng ở đó lúc nào - mặt hầm hầm, trỏ ba
toong vào mặt chị hất hàm hỏi:
- Sp1: Ai cho phép mày khóc?
- Sp2: Lạy cụ mẹ con chết thì con khóc.
[I, tr 584, 585]
Ở ví dụ (10) là đoạn hội thoại giữa hai nhân vật Cụ thư kí và chị cu Sứt,
ta thấy có hai cách xưng hô đối ngược nhau Đối với Cụ thư kí người tronglàng thuộc bề trên nên gọi chị cu Sứt là “mày” Còn đối với chị cu Sứt làngười có địa vị thấp cho nên đã xưng bằng “con” vừa thể hiện sự thành kínhvới bề trên đồng thời cũng là cách xưng hô quen thuộc của người nông dânvới quan lại trong xã hội cũ
Ngoài các dấu hiệu bằng lời thì những dấu hiệu phi lời như: tư thế, kiểucách, âm lực và âm lượng, hình thức trang phục… trong giao tiếp cũng phảnánh quan hệ vị thế Người tham gia giao tiếp cần phải hiểu biết và nắm bắtđược những quan hệ vị thế giữa các dân tộc, giữa các nền văn hóa, để cónhững chiến lược giao tiếp phù hợp, đạt được mục đích giao tiếp chung
1.1.5 Cấu trúc hội thoại
Hội thoại là một tổ chức có tính chất tôn ti như là một tổ chức cú phápnên nó có các đơn vị, các bậc, các cấp độ Có các đơn vị sau:
- Cuộc thoại (cuộc tương tác)
- Đoạn thoại
- Cặp thoại (cặp trao đáp)
Trang 20Ba đơn vị cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại gọi là ba đơn vị lưỡng thoại(song thoại)
- Tham thoại
- Hành động ngôn ngữ
Tham thoại, hành động ngôn ngữ là đơn vị đơn thoại (một người nói ra)
Do điều kiện và mục đích của đề tài, chúng tôi không thể đi sâu tìmhiểu hết các đơn vị, ngôn ngữ mà chỉ xin trình bày những vấn đề lý thuyếtliên quan đến đề tài đó là: Cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại
có tính chất tương đối bởi vì trong quá trình hội thoại thời gian và không gian
có thể thay đổi
- Tính thống nhất về đề tài diễn ngôn: “Đề tài là cái phạm vi hiện thực
mà người nói đề cập đến” [38, 186]; “Chủ đề là cái chủ đích mà người nói,người nghe cùng đề cập đến trong toàn bộ cuộc thoại” [38, 189] Một cuộcthoại có độ dài ngắn khác nhau song đòi hỏi phải có sự thống nhất về đề tài –tức các nhân vật tham gia cuộc thoại cùng hướng đến vấn đề, một cái đíchchung Theo Grice một cuộc thoại phải theo hướng nhất định từ đầu cho đếnkhi kết thúc [15, 312] Tuy nhiên, trên thực tế lại tồn tại rất nhiều cuộc thoại
mà đề tài liên tục được thay đổi (điển hình là cuộc tán ngẫu) Do tính chấtkhông chặt chẽ của các tiêu chí trên, C K Orecchioni đã đưa ra một định
Trang 21nghĩa mềm dẻo hơn về cuộc thoại: “Để có một và chỉ một cuộc thoại, điềukiện cần và đủ là có một nhóm nhân vật có thể thay đổi nhưng không đứtquãng nói về một vấn đề có thể thay đổi nhưng không đứt quãng” [15, 313].
Như vậy, để nhận diện một cuộc thoại điều kiện cần và đủ là có mộtnhóm nhân vật này cùng nói về một vấn đề - đề tài trong một phạm vi thờigian, không gian nhất định
1.1.5.2 Đoạn thoại
Đoạn thoại là một mảng diễn ngôn do một cặp trao đáp liên kết chặtchẽ với nhau về nghĩa hoặc về ngữ dụng Về ngữ nghĩa đó là sự liên kết chủđề: một chủ đề duy nhất và về ngữ dụng đó là tính duy nhất về đích [15, 313]
Cấu trúc tổng quát của một cuộc thoại là:
- Đoạn thoại mở thoại: Mang tính chất “đưa đẩy”, có chức năng mở racuộc thoại và nêu đề tài diễn ngôn
- Đoạn thân thoại: Là đoạn phản ánh nội dung chính của cuộc thoại
- Đoạn kết thoại: Là đoạn thoại có chức năng tổng kết, kết luận về chủ
đề hội thoại Để kết thúc chúng ta có thể đưa ra những lời hứa hẹn, cảm ơn,chúc mừng, xin lỗi, từ biệt
1.1.5.3 Cặp thoại (cặp trao đáp)
Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất của cuộc thoại do các thamthoại tạo nên Căn cứ vào các tham thoại người ta chia các cặp thoại thành cácdạng sau:
- Cặp thoại một tham thoại
Xét về nguyên tắc cặp thoại phải có ít nhất hai tham thoại của hai nhânvật – tức là phải có trao lời và đáp lời đó là trường hợp tham thoại Sp1 phát ranhưng không được Sp2 hưởng ứng hồi đáp bằng một hành vi tương ứng
(11) - Sp1: Trời mưa quá nhỉ! (Hai bạn trẻ đang yêu giận nhau và người bạn
trai chủ động làm lành trước với bạn gái)
Trang 22- Sp2: (Im lặng)
- Cặp thoại hai tham thoại (cặp thoại đôi)
Cấu trúc cặp thoại này gồm hai tham thoại Tham thoại thứ nhất đượcgọi là tham thoại dẫn nhập (Initiatiue) Tham thoại thứ hai là tham thoại hồiđáp (Reactive)
- Cặp thoại ba tham thoại
Về nguyên tắc một cặp thoại đủ hai tham thoại đã là hoàn chỉnh Tuynhiên, trong thực tế giao tiếp những cặp thoại như vậy nhiều khi không chuyểntải hết được nội dung, mục đích của cuộc thoại, tạo cảm giác cụt lủn, khô cứng
Vì vậy, cấu trúc cặp thoại trong giao tiếp có xu hướng mở rộng nhằm làm tăngtính uyển chuyển cho cuộc thoại, tạo cho cuộc thoại có độ mở, giao tiếp không
bị cụt lủn Đây chính là lý do xuất hiện cặp thoại ba tham thoại
(14) Chúng tôi vâng lời cụ Khi mực mài xong, cụ để các đồ dùng trước
mặt, lên ngọn kính, rồi hỏi:
- Sp1: Viếng ông cụ thân sinh ra bản thân phải không?
Trang 23Trên đây là những dạng cặp thoại tương đối đơn giản, trong đó tươngứng với một lượt lời của Sp1 và Sp2 chỉ có một tham thoại do một hành vingôn ngữ thực hiện Song trên thực tế giao tiếp hội thoại việc tổ chức các lượtlời trong một cặp thoại phức tạp hơn nhiều Trong giới hạn phạm vi đề tàinghiên cứu của mình, chúng tôi chỉ xin tìm hiểu các kiểu cặp thoại đơn giảntrên mà không đi tìm hiểu các kiểu cặp thoại phức tạp trong luận văn của mình.
1.2 Lý thuyết hành động ngôn ngữ
1.2.1 Khái niêm hành động ngôn ngữ
Ngôn ngữ có một chức năng quan trọng là công cụ để tiến hành giaotiếp xã hội “Khi ngôn ngữ được sử dụng để giao tiếp thì ta nói ngôn ngữ đanghành chức, hay ngôn ngữ hành chức khi con người nói năng bằng một ngônngữ nhất định Vậy, nói năng là một dạng hành động đặc biệt của con người –hành động bằng ngôn ngữ” [38, tr 68]
Theo Đỗ Hữu Châu: “Hành động ngôn ngữ là hành động thực hiện khitạo ra một phát ngôn (diễn ngôn) trong giao tiếp Hành động ngôn ngữ đòi hỏiphải có điều kiện, thao tác, cách thức tổ chức thao tác và quan trọng nhất là cóđích như mọi hành động khác của con người có ý thức” [15, 43]
1.2.2 Phân loại khái quát các hành động ngôn ngữ
Theo J.L.Austin thì một hành động ngôn ngữ được thực hiện khi mộtngười nói (hoặc viết) Sp1 phát ra một phát ngôn U cho người nghe (ngườiđọc) Sp2 trong ngữ cảnh C Ông cho rằng có ba loại hành động ngôn ngữ lớn:hành động tạo lời, hành động mượn lời và hành động ở lời
1.2.2.1 Hành động tạo lời (Locutionary act)
Hành động tạo lời là hành động sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như :ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ để tạo ra phát ngôn Nhờ hành động tạo lời,chúng ta hình thành nên các biểu thức có nghĩa
(15) - Thưa mợ, chú ấy bảo chốc nữa mợ sang mà mua
Trang 24[I, tr 66]Đây là phát ngôn được cấu tạo dựa trên trật tự C- V.
1.2.2.2 Hành động mượn lời (Perlocutionary act)
Hành động mượn lời là những hành động “mượn” phương tiện ngônngữ (các phát ngôn) để gây ra hiệu quả ngoài ngôn ngữ ở người nghe, hoặc ởchính người nói Với những người nghe khác nhau, ta có hiệu quả khônggiống nhau
Ví dụ: Đến chiều lớp 10A8 có lịch học bồi dưỡng Cô chủ nhiệm lênthông báo với cả lớp: “Chiều nay các em nghỉ học để thầy, cô họp hội đồnggiáo dục” Phát ngôn này có thể gây ra hiệu quả khác nhau ở những đối tượnghọc sinh khác nhau như: học sinh lười học thì vui sướng khi được nghỉ học,học sinh chăm chỉ thì lại buồn vì phải nghỉ học Đó chính là hiệu quả mượnlời của phát ngôn trên Hiệu quả của hành động mượn lời rất phân tán, vì hànhđộng mượn lời không có tính quy ước
1.2.2.3 Hành động ở lời ( Illocutionary act)
a) Khái niệm hành động ở lời
Hành động ở lời là hành động người nói thực hiện ngay khi nói năng.Hiêu quả của chúng gây những sự tác động trực tiếp thuộc về ngôn ngữ, gâyphản ứng với người nhận
(16) - Sp1: Nhà có cái bị hay cái hộp nhỏ nào không?
- Sp2: Có.
[I, tr 241]Hiệu quả của hành vi ở lời trên đây được thể hiện ở phát ngôn trả lờicủa Sp2: “có”
Các hành vi hỏi, yêu cầu, ra lệnh Khi chúng ta hỏi ai về một vấn đề
gì đó thì người được hỏi có nhiệm vụ phải trả lời chúng ta, cho dù trả lời
Trang 25không biết Không trả lời, không đáp lại câu hỏi thì người nghe bị coi là mấtlịch sự.
Khác với hành động mượn lời, hành động ở lời có ý định, có quy ước
và có thể chế dù rằng quy ước và thể chế của chúng có thể không hiển ngôn
và quy tắc vận hành chúng được mọi người trong cộng đồng ngôn ngữ tuântheo một cách tự giác
O.Ducrot nhấn mạnh thêm các hành động ở lời Theo ông: “hành động
ở lời khác với hành động tạo lời và hành động mượn lời ở chỗ chúng thay đổi
tư cách pháp nhân của người đối thoại Chúng đặt người nói và người nghevào những nghĩa vụ và quyền lợi mới so với tình trạng của họ trước khi thựchiện hành động ở lời đó” [15, tr 90]
b) Phân loại hành động ở lời
Bàn về vấn đề phân loại hành động ở lời, có hai hướng phân loại chính:
- Theo hướng của J.Austin, các hành động ở lời được chia làm 5 nhóm,
đó là:
1 Phán xử (verditives, verditifs) gồm những động từ như: xử trắng án,
miêu tả, phân tích, đánh giá, phân loại, .
2 Hành sử (exercitives, exercitifs) gồm: ra lệnh, chỉ huy, đặt hàng,
giới thiệu, van xin, khuyến cáo, bổ nhiệm, khai mạc, bế mạc,
3 Cam kết (commissives,commissfs) gồm: hứa hẹn,đảm bảo, cam kết,
thề nguyền, giao ước,
4 Ứng xử (behabitives, comportementaux) gồm: xin lỗi, cảm ơn, khen
ngợi, chào mừng, thách thức, nghi ngờ,
5 Bày tỏ (expositives, expositifs) gồm: phủ định, khẳng định, trả lời,
phản bác, nhượng bộ, dẫn thí dụ, báo cáo các ý kiến, [Dẫn theo 15, tr 121].
- Theo hướng của J.Searle, các hành động ngôn ngữ được chia làm 5nhóm là:
Trang 261 Tái hiện (representatives) gồm: than thở, khoe, kết luận, suy diễn,
2 Điều khiển (directives, directifs) : ra lệnh, yêu cầu, hỏi, cho phép,
3 Cam kết (commissives, commissifs): hứa hẹn, tặng, biếu,
4 Biểu cảm (expressives, expressifs): vui thích, khó chịu, mong muốn,
ruồng rẫy,
5 Tuyên bố (declarations, decleratifs): tuyên bố, buộc tội, kết tội, từ
chức, khai trừ, [Dẫn theo 15, tr 126].
Hướng phân loại của J Searle được chúng tôi lựa chọn để đi vào tìm
hiểu hành động van xin Hành động này thuộc nhóm hành động điều khiển.
1.2.3 Điều kiện sử dụng hành động ở lời
1.2.3.1 Khái niệm điều kiện sử dụng hành động ở lời
“Điều kiện sử dụng hành vi ở lời là những điều kiện mà một hành vi ởlời phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh của sự phát ngôn
ra nó” [15, tr 111]
Hành động ở lời cũng giống như mọi hành động vật lý, sinh lý khôngphải được thực hiện một cách tùy tiện mà cần có các điều kiện thích hợp.Điều kiện sử dụng hành vi ở lời là những nhân tố cần thiết cho phép thực hiệnmột hành động ở lời cụ thể trong một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể
J Austin khi đưa ra lý thuyết về dụng học đã phát biểu: “Nói là hànhđộng trong khuôn khổ những thiết chế và những quy ước xã hội đã được giảđịnh và chấp thuận bởi các thành viên” [Dẫn theo 40, tr 249] Vì vậy, khithực hiện hành động ở lời phải tuân theo các điều kiện và ông gọi các điềukiện này là điều kiện “may mắn” (felicity conditions), nếu chúng được đảmbảo thì hành động mới thành công, đạt hiệu quả, nếu không nó sẽ thất bại
Những điều kiện may mắn mà J Austin đưa ra đó là:
A - (i) Phải có thủ tục có tính chất quy ước và thủ tục này phải có hiệuquả cũng có tính quy ước
Trang 27- (ii) Hoàn cảnh và con người phải thích hợp với những điều quyđịnh trong thủ tục
B - Thủ tục phải được thực hiện (i) một cách đúng đắn và (ii) đầy đủ
C - Thông thường thì (i) những người thực hiện hành vi ở lời phải có ýnghĩ, tình cảm và ý định đúng như đã được đề ra trong thủ tục và (ii) khi hànhđộng diễn ra thì ý nghĩ, tình cảm, ý định đúng như nó đã có
Sau này, trên cơ sở những điều kiện của J.L.Austin, J.Searle đã điềuchỉnh lại bổ sung vào những điều kiện may mắn của J.Austin Tác giả đưa ra
4 điều kiện sau:
(1) Điều kiện nội dung mệnh đề (Content conditions): Chỉ ra bản chất
nội dung của hành vi, nội dung mệnh đề có thể là một mệnh đề đơn giản (đốivới các hành vi khảo nghiệm, xác tín, miêu tả), hay một hàm mệnh đề (ở dạngcâu trả lời: có – không), có thể là một hành động của người nói như (hứa hẹn)hay một hành động người nghe (ra lệnh, yêu cầu)
(2) Điều kiện chuẩn bị (Preparatory conditions): Bao gồm những hiểu
biết của người phát ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe về cácquan hệ giữa người nói, người nghe Ví dụ, khi hứa hẹn, người hứa hẹn phải
có ý muốn thực hiện lời hứa và người nghe cũng thực sự mong muốn lời hứađược thực hiện
(3) Điều kiện chân thành (Sincerity conditions): Chỉ ra các trạng thái
tâm lý, tình cảm tương ứng của người phát ngôn, trạng thái tâm lý, tình cảm
ấy phải đúng, phải phù hợp với hành vi ở lời Ví dụ: xác tín, khảo nghiệm, đòihỏi, niềm tin vào điều mình xác tín, hứa hẹn đòi hỏi ý định của người nóimuốn thực hiện điều mình nói ra và người nghe có quyền chờ đợi kết quả lờihứa đó v.v.…
(4) Điều kiện căn bản (Essential conditions): Đây là điều kiện đưa ra
kiểu trách nhiệm mà người nói và người nghe bị ràng buộc khi hành vi ở lời
Trang 28đó được phát ra Ví dụ: khi xác nhận một điều gì đó thì người nói phải chịutrách nhiệm và tính đúng đắn của điều mình nói ra
Bốn điều kiện trên làm thành cái mà theo J.Searle là một hệ những điều
kiện thỏa mãn là điều kiện đủ với một hành vi ở lời.
1.2.3.2 Điều kiện sử dụng hành động van xin trong truyện ngắn
Nguyễn Công Hoan
J.Searle đã đưa ra 4 điều kiện căn bản để tiến hành một hành động ngôn
ngữ Những điều kiện này có thể áp dụng vào hành động van xin như sau:
- Điều kiện nội dung mệnh đề: Hành vi tương lai A của người nghe H.
- Điều kiện chuẩn bị: 1) H có khả năng thực hiện A Người nói S cho
rằng H có khả năng thực hiện A
2) Nếu không van xin thì cả đối với S cả đối với
H không chắc chắn rằng H sẽ thực hiện A bất kể thế nào
- Điều kiện chân thành: S mong muốn rằng H thực hiện A.
- Điều kiện căn bản: Nhằm dẫn H đến việc thực hiện A.
Theo Đỗ Thi Kim Liên có 3 điều kiện cụ thể để thực hiện hành động
- Thái độ và sự phản ứng của người nghe: Người nghe có thể tự nguyệnhoặc không tự nguyện [38, tr.123 – 124]
Theo chúng tôi, để thực hiện hành động van xin cần có 6 điều kiện sau: 1- Hành động van xin phải được thực hiện trong một cuộc đối thoại có
Sp1 và Sp2
Trang 292- Hành động van xin không có tính chất cưỡng bức Việc thực hiện A
hay không tùy thuộc vào sự cân nhắc và quyết định của Sp2
3- Về thái độ: Khi van xin Sp1 thường bày tỏ thái độ chân thành cầu
khẩn, nhẫn nhục đối với Sp2
4- Quan hệ của Sp1 và Sp2 khi thực hiện hành động van xin thường là
người ở tầng lớp dưới đối với người ở tầng lớp trên, một số ít trường hợp làngười trên đối với người dưới
5- Dấu hiệu của hành động van xin là các từ: xin, van, lạy Mặc dù có khi người ta không dùng những từ này mà bằng cách thể hiện khác như nài
nĩ, khẩn khoản.
6- Về tính chất, van xin là một động từ mà người nói tự hạ mình xuống
thấp hơn so với người nghe Cho nên, Sp1 thương chỉ dùng hành động tườngminh mà ít sử dụng hành động hàm ẩn
Như vậy, qua phân tích trên, chúng tôi kết luận rằng: để có hành động
van xin, cần phải có một hệ những điều kiện cần và đủ như trên, chứ không
thể thực hiện một cách tùy tiện được
1.3 Một số đặc điểm chính của truyện ngắn
Nếu tiểu thuyết là tác phẩm tự sự cỡ lớn, có khả năng phản ánh hiện
thực đời sống ở mọi không gian và thời gian thì truyện ngắn lại là tác phẩm
tự sự cỡ nhỏ Truyện ngắn được viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các
phương diện của đời sống con người và xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là
sự giới hạn về dung lượng, tác phẩm truyện ngắn thích hợp với độc giả đọc nóliền một mạch không nghỉ
Tiểu thuyết là thể loại thể hiện cuộc sống một cách trọn vẹn, đầy đủ,hoàn chỉnh còn truyện ngắn lại khắc họa một hiện tượng, phát hiện một đặctính trong quan hệ giữa con người hay tâm hồn con người
Trang 30Tiểu thuyết gồm có nhiều nhân vật, sự kiện đan cài, chồng chéo nhau còntrong truyện ngắn, nhân vật ít khi trở thành một thế giới hoàn chỉnh, một tínhcách đầy đặn mà có lúc, chỉ là một mảnh cắt trong cuộc đời nhân vật nhưng quamảnh cắt đó, chúng ta cũng có thể hiểu sâu sắc cuộc đời của nhân vật.
Nguyễn Công Hoan đưa ra quan điểm về truyện ngắn: “Truyện ngắnkhông phải là truyện, mà là một vấn đề được xây dựng bằng chi tiết với sự bốtrí chặt chẽ, và bằng thái độ với cách đặt câu, dùng tiếng có cân nhắc” [Dẫn
theo Đời viết văn của tôi, tr 323]
Chi tiết và lời văn là những yếu tố quan trọng cho nghệ thuật viếttruyện ngắn Lời kể và cách kể chuyện là điều được người viết đặc biệt chú ýkhai thác và xử lý, nhằm đạt hiệu quả cao nhất
Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều tầng bậc phức tạp nhưtiểu thuyết mà thường được xây dựng theo nguyên tắc tương phản, hoặc liêntưởng Bút pháp nghệ thuật của truyện ngắn thường là chấm phá
Truyện ngắn là thể loại quen thuộc, gần gũi với đời sống hàng ngày,ngắn gọn, dễ tiếp nhận, lại gần gũi với thể loại báo chí, do đó đáp ứng thị hiếuđọc của số đông độc giả trong nước và ngoài nước, không ít những nhà văn đãđạt được đỉnh cao sự nghiệp sáng tạo văn chương bằng những kiệt tác truyệnngắn của mình Nguyễn Công Hoan cũng là một trong những tác giả đã thànhcông trong sự nghiệp sáng tác truyện ngắn và đã để lại nhiều tiếng vang lớncho nền văn học dân tộc
1.4 Nguyễn Công Hoan – tác giả, tác phẩm
1.4.1 Tác giả
Sự chọn lọc của thời gian bao giờ cũng khắt khe, nghiệt ngã, nhưng cái
gì còn lại được với thời gian quả là một điều đáng nói Nguyễn Công Hoan làmột hiện tượng như vậy Ông sinh ngày 6 - 3 - 1903 tại làng Xuân Cầu, xãNghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc tỉnh Hưng Yên), mất
Trang 31ngày 6- 6- 1977 tại Hà Nội, trong một gia đình Nho học thất thế Ông thânsinh là Nguyễn Đạo Khang làm huấn đạo Nhà nghèo lại đông anh em nên 4tuổi Nguyễn Công Hoan được người bác là Nguyễn Đạo Quán nuôi cho ănhọc Từ nhỏ Nguyễn Công Hoan đã được nghe và thuộc rất nhiều câu thơ, câuđối và những giai thoại có tính chất trào lộng, châm biếm, đả kích tầng lớpquan lại Điều đó ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong cách văn chương của ôngsau này.
Năm 9 tuổi, Nguyễn Công Hoan bắt đầu lên Hà Nội học trường Bưởi.Năm 1922 ông thi đỗ trường Cao đẳng sư phạm Đến năm 1926 ra trường rồi
đi dạy học ở nhiều nơi (như: Hải Dương, Lào Cai, Nam Định .) cho đến khicách mạng tháng 8 nổ ra
Nguyễn Công Hoan viết văn từ rất sớm, tác phẩm đầu tay Kiếp hồng
nhan (1920) là một đóng góp cho nền văn xuôi Việt Nam bằng chữ quốc ngữ.
Sau cách mạng, ông hăng hái tham gia kháng chiến, trên lĩnh vực vănhóa văn nghệ: Chủ bút báo quốc dân, Chủ tịch đầu tiên của Hội nhà văn ViệtNam Nguyễn Công Hoan được nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh
về văn học nghệ thuật (đợt 1, 1996)
1.4.2 Tác phẩm
Nguyễn Công Hoan để lại một di sản nghệ thuật lớn cho nền văn họcdân tộc với các công trình sau:
- Trên 200 truyện ngắn sáng tác trước và sau cách mạng, được tập hợp
trong cuốn Tuyển tập Nguyễn Công Hoan, tập I và II, Nxb Văn học, 2006.
Ngoài ra, ông còn viết gần 30 cuốn tiểu thuyết Trong đó, giá trị nhất là cuốn
Bước đường cùng
- Đời viết văn của tôi (hồi ký), Nxb Văn học, 1972
- Nhớ gì ghi nấy (14-3-1970), Nxb tác phẩm mới
Trang 32- Năm 1936, truyện dài Tắt lửa lòng của ông đã được Trần Hữu Trang
chuyển thể thành vở cải lương nổi tiếng Lan và Điệp
Trong cuộc đời cầm bút 60 năm của mình, Nguyễn Công Hoan đãcống hiến cho nền văn xuôi hiện đại Việt Nam số lượng tác phẩm đồ sộ vàquý báu, vừa phong phú về hình thức thể loại, vừa phong phú đa dạng về đềtài, chủ đề tư tưởng Trong đó nổi bật nhất, gây ấn tượng và sức hút mạnh
mẽ nhất là những truyện ngắn mang đậm chất trào phúng Đặc biệt, tiếngcười trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan có sức lên án mạnh mẽ, có chiềusâu suy tưởng
Từ điển bách khoa Việt Nam đánh giá: “Có thể nói Nguyễn Công Hoan
là ngọn cờ đầu của văn học hiện thực phê phán Viêt Nam Nguyễn CôngHoan đến với chủ nghĩa hiện thực bằng văn học trào phúng Từ những truyệnđầu tiên, ông đã tìm đề tài trong những người nghèo khổ, cùng khốn của xãhội Đa số nhân vật phản diện của ông đều thuộc tầng lớp thượng lưu giàu có
và quan lại, cường hào Toàn những cảnh xấu xa, bỉ ổi, những chuyện bấtcông, ngang ngược, những con người ghê tởm, đáng khinh bỉ Nguyễn CôngHoan tạo ra những tình huống bất ngờ, rồi phá lên cười và làm cho ngườikhác cười theo, nhưng ngẫm lại thật thương tâm đau xót” [Dẫn theo Inter.netNguyễn Công Hoan – Wikipedia tiếng Việt]
Có thể nói, Nguyễn Công Hoan là một bậc thầy truyện ngắn trong vănhọc Việt Nam hiện đại Thế giới truyện ngắn Nguyễn Công Hoan đa dạng,phong phú như một “bách khoa thư”, một “tấn trò đời” mà đặc trưng là xã hộiphong kiến của thực dân ở Việt Nam nửa đầu thế kỉ 20 Truyện ngắn NguyễnCông Hoan với đặc điểm của nó đã nâng cao khả năng nhận thức và khámphá các hiện tượng xã hội phức tạp Chúng ta có quyền tự hào về NguyễnCông Hoan và ông chính là nhà văn khai phá, mở đường cho chủ nghĩa hiệnthực trong văn học Việt Nam thời kì hiện đại
Trang 33động van xin.
2 Chúng tôi cũng đề cập một số đặc điểm chính của truyện ngắn qua
sự phân biệt với tiểu thuyết, đó là kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ
3 Cuối cùng, chúng tôi đề cập đến những nét khái quát về nhà vănNguyễn Công Hoan - tác giả, tác phẩm
Trang 34Chương 2
PHÂN LOẠI VÀ MÔ TẢ CẤU TẠO BIỂU THỨC NGỮ VI
THỂ HIỆN HÀNH ĐỘNG VAN XIN QUA LỜI THOẠI NHÂN
VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN CÔNG HOAN
2.1 Hành động van xin và biểu thức ngữ vi thể hiện hành động van
xin qua lời thoại nhân vật
2.1.1 Khái niệm hành động van xin
Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, van xin là hành động được sử
dụng nhằm “cầu xin một cách khẩn khoản, nhẫn nhục” [44, tr.1096]
Từ góc độ lý thuyết hành động ngôn ngữ, hành động van xin được
J.Searle xếp vào nhóm hành động điều khiển Theo ông, nhóm này bao gồm
các hành động: hỏi, ra lệnh, yêu cầu, van xin… Chúng có đặc điểm chung là:
- Đích ở lời là đặt người nghe vào trách nhiệm thực hiện một hành độngtương lai
- Hướng khớp ghép là hiện thực – lời
- Trạng thái tâm lý là sự mong muốn của người nói
- Nội dung mệnh đề là hành động tương lai của người nghe
Chẳng hạn Sp1 cần một cái gì đó ở Sp2 (một sự quyết định, một sựgiúp đỡ, một sự tán đồng,…) Nhu cầu của Sp1 có thể là sản phẩm vật chấthoặc sản phẩm hữu hình
(17) Chị Cu: Tôi lạy ông, tủi vong linh mẹ tôi lắm, ông ơi!
[I, tr 589]
Chị Cu - đang van xin ông Quản cho chị được đi chôn mẹ Chị Cu ở địa
vị thấp về khả năng thực hiện hành động
Trang 35Van xin là một phạm trù khái quát thuộc nhóm điều khiển, trong lòng
nó gồm có các động từ như: xin, van, lạy.
(18) - Lạy ông bà xét lại, chỉ là người trên nhà chứ thực chúng con không
biết đấy là đâu
[I, tr 153]
(19) - Thân con mắt mù chân chậm, làm ăn chả được con xin ông bà thí bỏ
cho con đồng trinh!
2.1.2.1 Phát ngôn ngữ vi van xin
“Phát ngôn ngữ vi là phát ngôn – sản phẩm của một hành vi ở lời nào
đó khi hành vi này được thực hiện một cách trực tiếp, chân thực” “Phát ngôn ngữ vi có một kết cấu lõi đặc trưng cho hành vi ở lời tạo ra nó Kết cấu lõi đó được gọi là biểu thức ngữ vi” [15, tr 91].
Từ cơ sở lý thuyết này ta thấy: Phát ngôn ngữ vi van xin là sản phẩmcủa hành vi ở lời van xin khi hành vi này được thực hiện một cách trực tiếp,chân thực Trong phát ngôn van xin, kết cấu lõi đặc trưng cho hành vi van xinchính là biểu thức ngữ vi van xin
(21) - Cắn rơm cắn cỏ, tôi lạy cậu, cậu tha cho tôi.
[I, tr 335)]
Trong ví dụ này, biểu thức ngữ vi van xin là: Tôi lạy cậu, cậu tha cho
tôi và thành phần mở rộng do hành vi cầu khiến tạo ra là: Cắn rơm cắn cỏ.
Phát ngôn ngữ vi van xin tối thiểu là phát ngôn chỉ có biểu thức ngữ vivan xin
Trang 36(22) - Van nhà, nhà buông em ra!
[I, tr 41]
Tuy nhiên, trong thực tế đối thoại giao tiếp hàng ngày, phát ngôn ngữ
vi van xin thường biểu hiện ở một kết cấu mở rộng Tức là ngoài biểu thứcngữ vi van xin ra thì còn có kèm theo những yếu tố phụ Nói một cách kháiquát, phát ngôn ngữ vi van xin là biểu thức ngữ vi van xin mở rộng
Bản chất mở rộng của một biểu thức ngữ vi là khả năng kết hợp với cácyếu tố phụ, bổ sung cho những thành phần chính của một bi u th c ng vi.ểu thức ngữ vi ức ngữ vi ữ vi.Khi có s m r ng thì c u trúc c a m t tham tho i có h nh vi ch hự mở rộng thì cấu trúc của một tham thoại có hành vi chủ hướng ở rộng thì cấu trúc của một tham thoại có hành vi chủ hướng ộng thì cấu trúc của một tham thoại có hành vi chủ hướng ấu trúc của một tham thoại có hành vi chủ hướng ủa một tham thoại có hành vi chủ hướng ộng thì cấu trúc của một tham thoại có hành vi chủ hướng ại có hành vi chủ hướng ành vi chủ hướng ủa một tham thoại có hành vi chủ hướng ướngng
l h nh vi van xin nh sau:ành vi chủ hướng ành vi chủ hướng ư
Hành vi chủ hướng van xin + Các hành vi đi kèm +
Các thành phần mở rộng
Trong cấu trúc này, hành vi chủ hướng có vai trò trung tâm của mộttham thoại, nếu thiếu hành vi chủ hướng thì tham thoại sẽ trở thành vô căn cứ,người tiếp nhận tham thoại sẽ không có cơ hội để hồi đáp một cách chính xác
(23) - Sp1: Thưa ngài, xin ngài hãy thư cho ít bữa, khi nào thư thả, tôi sẽ đi
làm và nộp sau.
- Sp2: Thôi, biết bao lần rồi! Cậu không trả, tôi sẽ đem ra tòa.
[I, tr 160]
Hành vi chủ hướng của cuộc thoại trên là hành vi van xin: ngài hãy thư
cho ít bữa Thưa ngài – cách xưng hô tôn vinh thể diện Sp2, là thành phần mở
rộng; khi nào thư thả, tôi sẽ đi làm và nộp sau là thành phần mở rộng có tính
chất nêu lý do mà Sp1 đưa ra để tìm sự cảm thông của Sp2 và mong muốnSp2 chấp nhận hành vi van xin của mình
Thành phần mở rộng là thành phần không quyết định tới tính liên kếtngữ nghĩa và liên kết mạch lạc của các tham thoại van xin trong một phát
Trang 37ngôn ngữ vi nhưng nó có vai trò lớn với việc tạo ra hiệu quả tích cực hay tiêucực cho hành vi van xin.
Chức năng chính của hành vi phụ thuộc đối với hành vi chủ hướng làchức năng củng cố, cụ thể hóa, biện minh, giải thích cho hành vi chủ hướng làvan xin
(24) - Sp1: Con xin ông ban cho con tiền công để mai con đi sớm Thầy u
con nhắn ra thế.
- Sp2: Đây, tao chỉ còn thế này, nhưng cũng vừa đủ tiền công của mày Giá còn, tao cho thêm mày một vài đồng nữa Mày thực thà, tao có lòng thương, nghe chưa?
[I, tr 352]
Trong cuộc thoại giao tiếp này, Sp1 đã đưa ra lý do: Thầy u con nhắn
ra thế, biện minh cho hành vi van xin của mình là chính đáng và cần được sự
ủng hộ của ông chủ, sau đó mới đưa ra hành động sau lời van xin của mình
nên đã tạo ra một hiệu quả giao tiếp cao, một kết qủa hồi đáp tích cực: Đây,
tao chỉ còn thế này, nhưng cũng vừa đủ tiền công của mày
2.1.2.2 Biểu thức ngữ vi thể hiện hành động van xin
Biểu thức ngữ vi van xin được tường minh hóa đặc trưng hiệu lực ở lời
bằng các IFIDs sau:
- Dùng động từ: van xin
(25) Tôi cắn rơm cắn cỏ tôi lạy cậu, cậu tha cho tôi Cậu đừng làm tôi nhục.
[I, tr 335]
(26) Thân con mắt mù chân chậm, làm ăn chả được con xin ông bà thí bỏ
cho con đồng trinh.
[I, tr 170]
- Dùng cấu trúc đặc thù có từ tình thái cuối phát ngôn, thể hiện hành
động cầu khiến, mệnh lệnh: Đg/ T + nhé! đi!
Trang 38(27) - Sp1: Mày biếu anh con ve nhé!
- Sp2: Không, của em tôi chơi đấy.
- Sp1: Khối ve trong bụi, mày bắt con khác cho em mày.
- Sp2: Bác lên mà bắt, của em tôi, tôi không cho Tôi bắt mãi mới được.
- Sp1: Mày cho tao con ấy đi Tao cho mày cái sào đã dính nhựa mít rồi.
tố và biểu thức ngữ vi thể hiện hành động van xin không đầy đủ các thành tố.
a) Dạng đầy đủ của biểu thức ngữ vi van xin có mô hình cấu trúc sau:
(29) - Tôi xin các quan cho tôi theo ra Hà Nội Tôi không thể ở làng được,
vì người ta sẽ giết báo thù tôi.
Trang 39[I, tr 154]
Ở ví dụ (29) hành động van xin được phân tích như sau:
- Tôi xin các quan cho tôi theo Hà Nội Tôi không thể ở làng được, vì
Sp1 V( van xin ) Sp2 P
người ta sẽ giết để báo thù tôi.
b) Dạng rút gọn của biểu thức ngữ vi van xin:
Trong quá trình sử dụng ngôn ngữ của các cá nhân giao tiếp, ta còn gặp
biểu thức ngữ vi van xin dạng rút gọn Dạng rút gọn của biểu thức ngữ vi van
xin được xác định căn cứ vào sự vắng mặt của một hay một vài thành tố trong
cấu trúc của biểu thức ngữ vi van xin ở dạng đầy đủ Tuy nhiên, có một yếu tố không thể vắng mặt đó là động từ ngữ vi van xin.
Sau đây là một số dạng rút gọn của biểu thức ngữ vi van xin, được thể
hiện bằng các mô hình cụ thể như sau:
Dạng 1:
- Lược bỏ thành phần P
Mô hình:
Sp1 + V(van xin) + Sp2 Trong đó: