1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BẢO ĐẢM VÀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ

102 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo Đảm Và Khuyến Khích Đầu Tư Theo Luật Đầu Tư
Tác giả Đỗ Thị Lan Hồng
Người hướng dẫn PGS, TS Tăng Văn Nghĩa
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Các thông tin chung (11)
  • 2. Những đóng góp của luận văn (11)
  • 1. Tính cấp thiết của đề tài (12)
  • 2. Tình hình nghiên cứu của đề tài (13)
    • 2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước (13)
    • 2.2. Tình hình nghiên cứu nước ngoài (0)
  • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (16)
    • 3.1. Đối tượng nghiên cứu (16)
    • 3.2. Phạm vi nghiên cứu (16)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu (16)
    • 4.1. Dữ liệu nghiên cứu (16)
    • 4.2. Phương pháp nghiên cứu (17)
  • 5. Kết cấu luận văn (18)
  • CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM VÀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ (19)
    • 1.1 Khái quát về đầu tư (19)
    • 1.2 Những vấn đề lý luận về bảo đảm đầu tư (23)
      • 1.2.1 Khái niệm bảo đảm đầu tư (23)
      • 1.2.2 Các nguyên tắc bảo đảm đầu tư (23)
      • 1.2.3. Vai trò của các biện pháp bảo đảm đầu tư (28)
    • 1.3 Những vấn đề lý luận về khuyến khích đầu tư (29)
      • 1.3.1 Khái niệm khuyến khích đầu tư và các biện pháp khuyến khích đầu tư (29)
      • 1.3.2 Phân loại các biện pháp khuyến khích đầu tư (31)
      • 1.3.3 Vai trò của các biện pháp khuyến khích đầu tư (34)
      • 1.3.4 Các yếu tố liên quan trong khuyến khích đầu tư (35)
    • 1.4 Những quy định của pháp luật về bảo đảm đầu tư và khuyến khích đầu tư theo Luật Đầu tư (37)
      • 1.4.1 Nội dung pháp luật về các biện pháp bảo đảm theo Luật Đầu tư . 26 1.4.2. Nội dung pháp luật về các biện pháp khuyến khích theo Luật Đầu tư (37)
      • 1.4.3 Bảo đảm cơ chế giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư (0)
      • 1.4.4 Các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư trong khuôn khổ một số điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia (50)
  • CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM, KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM (60)
    • 2.1 Khái quát về tình hình đầu tư tại Việt Nam (60)
      • 2.1.1 Tình hình chung về hoạt động đầu tư tại Việt Nam (0)
    • 2.2. Thực trạng thực thi pháp luật về bảo đảm đầu tư tại Việt Nam (67)
      • 2.2.1. Về bảo đảm quyền sở hữu tài sản (67)
      • 2.2.2. Về bảo đảm hoạt động đầu tư kinh doanh (68)
      • 2.2.3. Về bảo đảm việc chuyển lợi nhuận và thu nhập hợp pháp (0)
      • 2.2.4. Thực trạng thi hành pháp luật về bảo lãnh của Chính phủ đối với một số dự án quan trọng (0)
      • 2.2.5. Thực trạng thi hành pháp luật về bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư khi có thay đổi về chính sách pháp luật (0)
    • 2.3. Thực trạng thực thi pháp luật về khuyến khích đầu tư tại Việt Nam (75)
      • 2.3.1. Về các quy định ưu đãi tài chính (75)
      • 2.3.2. Về các quy định ưu đãi về chính sách sử dụng đất, mặt nước, mặt biển (78)
      • 2.3.3 Về các quy định biện pháp hỗ trợ về thủ tục hành chính (79)
    • 2.4. Đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về bảo đảm và khuyến khích đầu tư (80)
      • 2.4.1. Ưu điểm (80)
      • 2.4.2. Nhược điểm (84)
  • CHƯƠNG III. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM VÀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ VIỆT (88)
    • 3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật và định hướng hoàn thiện pháp luật về các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư (88)
      • 3.2.1. Hoàn thiện các quy định về bảo đảm và khuyến khích đầu tư (0)
      • 3.2.2. Tăng cường tính thực thi của pháp luật (94)
      • 3.2.3. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về nền kinh tế thị trường (thực chất) (0)
      • 3.2.4. Giải pháp nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư (0)
      • 3.2.5. Giải pháp nâng cao năng lực của cơ quan và cán bộ thực thi pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư (99)
  • KẾT LUẬN (100)

Nội dung

Các thông tin chung

1.1 Tên luận văn: Bảo đảm và khuyến khích đầu tư theo Luật Đầu tư

1.2 Tác giả: Đỗ Thị Lan Hồng

1.3 Chuyên ngành: Luật Kinh tế

1.5 Giáo viên hướng dẫn: PGS TS Tăng Văn Nghĩa

Những đóng góp của luận văn

Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về đầu tư, làm rõ các khái niệm như đầu tư, bảo đảm đầu tư và khuyến khích đầu tư Ngoài ra, luận văn còn tổng hợp và hệ thống các quy định pháp luật Việt Nam liên quan đến bảo đảm và khuyến khích đầu tư, đồng thời so sánh với các điều ước và hiệp định mà Việt Nam đã ký kết và tham gia.

Luận văn phân tích các quy định pháp luật liên quan đến bảo đảm và khuyến khích đầu tư, đánh giá thực trạng hoạt động đầu tư cũng như thực tiễn thi hành pháp luật trong lĩnh vực này Bài viết chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời nêu rõ các khó khăn, vướng mắc và hạn chế trong việc thực hiện bảo đảm và khuyến khích đầu tư theo Luật Đầu tư.

Bài viết phân tích và đánh giá các quy định pháp luật Việt Nam về bảo đảm và khuyến khích đầu tư, đồng thời đưa ra định hướng hoàn thiện pháp luật liên quan Tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm cải thiện cơ chế bảo đảm đầu tư tại Việt Nam, cùng với các giải pháp hoàn thiện pháp luật và thực thi pháp luật về các biện pháp khuyến khích đầu tư, nhằm thu hút đầu tư hiệu quả trong tương lai.

Tính cấp thiết của đề tài

Ngày 7/11/2006, Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, mở ra thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế với nhiều cơ hội và thách thức Đầu tư đóng vai trò quan trọng trong quá trình tái sản xuất và phát triển kinh tế, giúp giải quyết tình trạng mất cân đối giữa các vùng lãnh thổ và nâng cao đời sống Kinh nghiệm từ các nước phát triển cho thấy, tăng trưởng đầu tư là con đường thiết yếu để phát triển các khu vực công nghiệp và dịch vụ Để thu hút đầu tư hiệu quả, các quốc gia cần có biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư, đồng thời xây dựng chế độ pháp lý phù hợp với thông lệ quốc tế Việc thu hút đầu tư trở thành ưu tiên hàng đầu nhằm phát huy lợi thế quốc gia trong phát triển kinh tế, với chính sách bảo đảm đầu tư nhằm cải thiện lòng tin và tận dụng tối đa nguồn lực bên ngoài Nhà nước cũng cần cung cấp ưu đãi cho nhà đầu tư để phát triển kinh tế - xã hội.

Trong những năm gần đây, việc thực hiện pháp luật bảo đảm và khuyến khích đầu tư tại Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể, tuy nhiên, nguồn đầu tư vẫn chưa đáp ứng nhu cầu xây dựng đất nước và hội nhập quốc tế Điều này có thể do các biện pháp khuyến khích đầu tư chưa đủ hấp dẫn để thu hút nhà đầu tư nước ngoài, và vẫn còn sự phân biệt trong đối xử giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài Do đó, tác giả đã chọn đề tài “Bảo đảm và khuyến khích đầu tư theo Luật Đầu tư” cho luận văn thạc sĩ luật kinh tế của mình, nhằm làm rõ các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư, đánh giá các quy định pháp luật Việt Nam, và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật đầu tư để nâng cao hiệu quả hoạt động này.

Tình hình nghiên cứu của đề tài

Tình hình nghiên cứu trong nước

Đề tài bảo đảm và khuyến khích đầu tư theo Luật Đầu tư đang thu hút sự quan tâm lớn với nhiều nghiên cứu được công bố Một trong những công trình đáng chú ý là "Đánh giá cơ chế chính sách khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam đầu tư đổi mới công nghệ: Bằng chứng từ điều tra doanh nghiệp 2000-2011" của tác giả Hoàng Văn Cương từ Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Nghiên cứu này tập trung vào các chính sách ảnh hưởng đến việc huy động các nguồn vốn đầu tư từ nhà nước và nguồn vốn đầu tư mạo hiểm nhằm thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ.

Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị Thu Thủy nghiên cứu đề tài “Các biện pháp khuyến khích theo Luật đầu tư và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Bình.” Nghiên cứu này nhằm phân tích các biện pháp khuyến khích đầu tư theo quy định của Luật đầu tư và đánh giá hiệu quả thực tiễn tại Quảng Bình, từ đó đưa ra những khuyến nghị nhằm nâng cao thu hút đầu tư vào tỉnh.

Năm 2018, nghiên cứu đã làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn về các biện pháp khuyến khích theo Luật Đầu tư tại tỉnh Quảng Bình Dựa trên những phân tích đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật liên quan đến các biện pháp khuyến khích theo Luật Đầu tư tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Công trình nghiên cứu đăng trên Tạp chí Công Thương ngày 22/01/2018 của các tác giả Nguyễn Thị Hưng – Phạm Thị Hiền – Nguyễn Thị Thùy Linh với đề tài

Bài viết "Pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư nước ngoài của một số nước ASEAN và gợi mở cho Việt Nam" phân tích các chính sách ưu đãi đầu tư của các quốc gia ASEAN, đánh giá những điểm mạnh và điểm yếu của chúng Từ đó, bài viết rút ra những bài học pháp lý quý giá nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, góp phần thúc đẩy hiệu quả hoạt động đầu tư tại Việt Nam.

Ngoài các công trình nghiên cứu trên còn có các bài báo cáo liên quan đến đề tài này như:

Báo cáo của các chuyên gia quốc tế và Việt Nam về việc hướng dẫn thực hiện Luật Đầu tư 2014 đã tổng hợp ý kiến từ nhiều chuyên gia trong và ngoài nước Nội dung báo cáo tập trung vào các vấn đề quan trọng liên quan đến việc thi hành Luật Đầu tư, nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện và sâu sắc về những thách thức cũng như cơ hội trong quá trình thực hiện luật này.

Báo cáo nghiên cứu về pháp luật đầu tư của một số quốc gia, do Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện vào năm 2014, đã tổng quan các quy định pháp luật đầu tư của những quốc gia tiêu biểu trên thế giới Từ đó, báo cáo nhằm mục đích nghiên cứu và đề xuất hoàn thiện chính sách pháp luật đầu tư tại Việt Nam.

2.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài Đầu tư là một vấn đề quan trọng được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm và chú trọng nghiên cứu để phát triển Do đó các công trình nghiên cứu nước ngoài tương đối đa dạng, đi sâu vào nhiều khía cạnh của đầu tư Các nghiên cứu, bài viết tiêu biểu như:

Báo cáo Đầu tư Thế giới năm 2010 của Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển, mang tên "Đầu tư vào nền kinh tế thấp carbon", đánh dấu 20 năm thu hút đầu tư vào lĩnh vực này Báo cáo nêu rõ xu hướng đầu tư toàn cầu trong tương lai, đồng thời chỉ ra rằng việc vượt qua các rào cản là một thách thức lớn trong việc thu hút vốn đầu tư cho các nền kinh tế yếu kém.

Báo cáo đầu tư thế giới UNCTAD (2013) cung cấp phân tích chuyên sâu và đưa ra các lựa chọn phát triển chiến lược cho các nhà hoạch định chính sách Mục tiêu của báo cáo là tối đa hóa lợi ích và giảm thiểu rủi ro trong chuỗi đầu tư, điều này rất cần thiết để đảm bảo tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững.

Gần đây nhất là báo cáo đầu tư thế giới “UNCTAD (2018), Investment and

Báo cáo "New Industrial Policies, World Investment Report" phân tích thực trạng đầu tư xuyên biên giới vào các nền kinh tế phát triển, trong khi tăng trưởng ở các nền kinh tế đang phát triển gần như bằng không Xu hướng tiêu cực này đang gây lo ngại cho các nhà hoạch định chính sách kinh tế toàn cầu, đặc biệt là tại các quốc gia đang phát triển Trong những năm gần đây, các chính sách công nghiệp mới đã xuất hiện để đáp ứng những cơ hội và thách thức từ cuộc cách mạng công nghiệp mới Báo cáo cũng trình bày các lựa chọn công cụ chính sách đầu tư trong bối cảnh mới, góp phần quan trọng vào hoạt động đầu tư và phát triển kinh tế toàn cầu.

Các nghiên cứu về đầu tư và các biện pháp bảo đảm, khuyến khích đầu tư đã được thực hiện ở nhiều phạm vi và mức độ khác nhau, cả trong nước và quốc tế Tuy nhiên, một số nghiên cứu cũ đã trở nên không còn phù hợp với bối cảnh hiện tại Hơn nữa, nhiều công trình chỉ tập trung vào một khía cạnh cụ thể của bảo đảm hoặc khuyến khích đầu tư, trong khi một số nghiên cứu khác chỉ xem xét cả hai vấn đề này trong một lĩnh vực đầu tư cụ thể Do đó, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài này để nghiên cứu sâu hơn.

Luận văn "Bảo đảm và khuyến khích đầu tư theo Luật Đầu tư" phân tích rõ ràng hai vấn đề quan trọng: bảo đảm và khuyến khích đầu tư Bằng cách tiếp thu từ các nghiên cứu trước đây và nhận diện những hạn chế của chúng, tác giả cập nhật các quy định pháp luật hiện hành cùng với thực trạng đầu tư và thực hiện pháp luật đầu tư tại Việt Nam Mục tiêu của luận văn không chỉ là nghiên cứu đầy đủ mà còn mang tính thời sự, với những đề xuất thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư tại Việt Nam.

Tình hình nghiên cứu nước ngoài

3.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của Luật Đầu tư về hoạt động đầu tư tại Việt Nam với các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư và vai trò của nó trong hoạt động đầu tư

Về nội dung: luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật về các biện pháp bảo đảm đầu tư và khuyến khích đầu tư

Bài viết nghiên cứu các quy định pháp luật Việt Nam liên quan đến điều ước và hiệp định mà Việt Nam đã ký kết, đồng thời phân tích và đánh giá các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư Qua việc khảo sát thực trạng hoạt động đầu tư và thực thi pháp luật, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về các biện pháp này theo Luật Đầu tư trong tương lai.

Luận văn này tập trung vào việc phân tích các quy định pháp luật hiện hành, các điều ước và hiệp định mà Việt Nam đã ký kết, cũng như thực trạng hoạt động đầu tư và thực tiễn thi hành pháp luật liên quan đến các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư theo Luật Đầu tư từ năm 2016 đến nay.

4 Phương pháp nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phối hợp các phương thức như: Tổng hợp, thống kê, so sánh, phân tích,… với các nội dung chi tiết như sau:

Luận văn sử dụng dữ liệu nghiên cứu từ các quy định pháp luật còn hiệu lực, cùng với các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính mà Việt Nam đã công bố trong báo cáo tài chính và báo cáo kết quả kinh doanh giai đoạn 2017-2019.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu

Luận văn sử dụng dữ liệu nghiên cứu từ các quy định pháp luật còn hiệu lực, cùng với các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính mà Việt Nam đã công bố trong báo cáo tài chính và báo cáo kết quả kinh doanh giai đoạn 2017-2019.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn đã áp dụng các phương pháp thống kê, phân tích-tổng hợp và so sánh để làm rõ các dữ liệu nghiên cứu đã thu thập Việc lựa chọn phương pháp nghiên cứu phụ thuộc vào yêu cầu và tính chất của từng phần Một số phương pháp được sử dụng bao gồm:

Phương pháp thống kê được áp dụng rộng rãi trong chương 2 để phân tích hoạt động đầu tư tại Việt Nam Các bảng số liệu thống kê gần đây về đầu tư cung cấp cái nhìn sâu sắc về xu hướng và diễn biến của quá trình đầu tư trong nước.

Phương pháp phân tích - tổng hợp

Trong chương 2 và chương 3, tác giả sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp để tổng hợp các quy định pháp luật Việt Nam cùng với các điều ước và hiệp định quốc tế liên quan đến biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư Dựa trên dữ liệu tổng hợp, tác giả tiến hành phân tích các quy định pháp luật, đánh giá ưu nhược điểm của các quy định Việt Nam, và rút ra kinh nghiệm từ các quy định quốc tế Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật đầu tư Việt Nam, nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư và cải thiện hoạt động đầu tư.

Phương pháp so sánh – đối chiếu

Phương pháp so sánh được áp dụng trong chương 1 và chương 2 nhằm phân tích dữ liệu đầu tư tại Việt Nam trong những năm gần đây Bài viết so sánh các quy định pháp luật Việt Nam với quy định quốc tế để xác định sự tương đồng và khác biệt, từ đó rút ra kinh nghiệm cho hệ thống pháp luật đầu tư tại Việt Nam.

Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án có kết cấu ba chương:

Chương 1 : Những vấn đề lý luận về bảo đảm và khuyến khích đầu tư

Chương 2 : Thực trạng đầu tư và thực tiễn thi hành pháp luật về bảo đảm và khuyến khích đầu tư tại Việt Nam

Chương 3 : Giải pháp hoàn thiện các biện pháp bảo đảm và khuyến khích đầu tư theo Luật Đầu tư Việt Nam

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM VÀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ

Khái quát về đầu tư

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập, đầu tư ngày càng trở nên quan trọng đối với sự phát triển kinh tế quốc gia và doanh nghiệp Đầu tư không chỉ quyết định vận mệnh kinh tế của từng quốc gia mà còn ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp Thực tế cho thấy, những quốc gia có mức đầu tư thấp thường có tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm, trong khi những quốc gia có tỷ lệ đầu tư cao lại đạt được tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ Do đó, các doanh nghiệp không chú trọng đến đầu tư sẽ gặp khó khăn trong việc thích nghi và phát triển trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, dẫn đến suy yếu sản phẩm và trì trệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Hiện nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư

Trong kinh tế học, "đầu tư" được hiểu là việc sử dụng tiền để mua một đơn vị thời gian của hàng hóa chưa tiêu thụ, nhằm phục vụ cho sản xuất trong tương lai Theo tác giả James Chen, đầu tư là hành động đưa tiền vào hoạt động kinh doanh hoặc dự án, hoặc mua tài sản với mục tiêu tạo ra thu nhập hoặc tăng giá trị tài sản Định nghĩa từ điển Econterms mô tả đầu tư là việc sử dụng nguồn lực với mục đích tăng cường sản xuất hoặc thu nhập trong tương lai.

1 Theo từ điển Wikipedia, https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A7u_t%C6%B0

2 Theo JAMES CHEN , bài viết “ Investment” ngày 30/06/2019 đăng trên trang web https://www.investopedia.com/terms/i/investment.asp

3 Theo từ điển Econterms, http://econterms.com/econtent.html

Ngoài ra, khái niệm về đầu tư nói chung còn được nêu trong giáo trình như sau:

Đầu tư là việc hy sinh nguồn lực hiện tại để thực hiện các hoạt động nhằm đạt được kết quả lớn hơn trong tương lai, vượt qua giá trị của nguồn lực đã bỏ ra.

Mục đích của đầu tư là thu về lợi nhuận cao hơn so với số vốn đã bỏ ra, thể hiện tính sinh lợi của hoạt động này Chủ đầu tư là những cá nhân hoặc tổ chức sở hữu tài sản, nguồn lực như tiền, sức lao động, máy móc và thiết bị, nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh thay vì chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.

Theo Luật Đầu tư 2014, đầu tư kinh doanh được định nghĩa là hoạt động mà nhà đầu tư bỏ vốn để thực hiện kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế, góp vốn, mua cổ phần hoặc thực hiện dự án đầu tư Khái niệm này bao gồm nhiều hình thức như đầu tư theo hợp đồng và góp vốn vào tổ chức kinh tế, phản ánh sự đa dạng trong các hoạt động đầu tư tại Việt Nam.

Theo Hiệp định TPP, hoạt động và dự án đầu tư bao gồm toàn bộ tài sản do nhà đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu và quản lý, với các đặc điểm như cam kết về vốn, nguồn vốn, mức doanh thu, lợi nhuận kỳ vọng và khả năng chấp nhận rủi ro Hiệp định cũng chỉ ra các hình thức đầu tư đa dạng, bao gồm doanh nghiệp, cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các công cụ nợ, hợp đồng tương lai, quyền chọn, đầu tư chìa khóa trao tay, xây dựng, quản lý, sản xuất, nhượng quyền, chia sẻ doanh thu và quyền sở hữu trí tuệ.

4 Nguyễn Bạch Nguyêt và TS Từ Quang Phương (2007), Giáo trình “Kinh tế Đầu tư”, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân; Tr.7

5 Khoản 5, Điều 4, Luật Đầu tư 2014

Điều 9.1, Mục A, chương 9 của Hiệp định TPP quy định về quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm giấy chứng nhận, ủy quyền, giấy phép và các quyền tương tự Điều này liên quan đến tài sản hữu hình và vô hình, tài sản di động và bất động, cũng như các quyền tài sản liên quan như cho thuê, thế chấp, cầm cố và bảo lãnh.

Luật Đầu tư Việt Nam và Hiệp định TPP đều sử dụng phương pháp liệt kê để mô tả các hành động được coi là đầu tư Tuy nhiên, khái niệm đầu tư theo pháp luật Việt Nam còn hạn hẹp, chỉ bao gồm bốn nhóm hoạt động cụ thể, trong khi Hiệp định TPP lại nhìn nhận đầu tư một cách rộng rãi, bao trùm hầu hết các lĩnh vực, bao gồm sở hữu trí tuệ, quyền thế chấp, và tín chấp.

Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư, nhưng tất cả đều có điểm chung là yêu cầu vốn ban đầu và mục tiêu cuối cùng là đạt được hiệu quả cao.

Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại như tài chính, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động và tri thức để thực hiện các hoạt động nhằm thu về những kết quả nhất định trong tương lai Những kết quả này cần phải lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được Mục tiêu chính của đầu tư là tìm kiếm lợi ích cho nhà đầu tư cũng như lợi ích kinh tế - xã hội cho đất nước.

Với khái niệm trên, đầu tư có những đặc điểm chính sau đây:

Vốn đầu tư có thể bao gồm tiền mặt và các tài sản khác như máy móc, thiết bị, nhà xưởng, giá trị quyền sử dụng đất, bí quyết kỹ thuật, phát minh, sáng chế, mặt nước và các nguồn tài nguyên khác Để dễ dàng tính toán và so sánh, vốn thường được lượng hóa bằng một đơn vị tiền tệ Các nguồn vốn này có thể là vốn Nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần, cũng như vốn vay dài hạn, trung hạn và ngắn hạn.

Tính sinh lợi trong đầu tư là yếu tố quan trọng, yêu cầu đạt được lợi nhuận tài chính hoặc lợi ích kinh tế xã hội Lợi ích tài chính trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà đầu tư, trong khi lợi ích kinh tế xã hội tác động đến quyền lợi của cộng đồng và xã hội.

Tính mạo hiểm trong hoạt động đầu tư là điều không thể tránh khỏi, đặc biệt là khi thời gian đầu tư thường kéo dài từ 2 đến 50 năm, tối đa không quá 70 năm Các hoạt động ngắn hạn dưới một năm không được xem là đầu tư Do thời gian dài, đầu tư chịu sự tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, dẫn đến kết quả có thể khác xa so với dự tính ban đầu, thậm chí có thể dẫn đến lỗ Do đó, nhà đầu tư cần chấp nhận rủi ro và khả năng thất bại trước khi đưa ra quyết định đầu tư.

Hoạt động đầu tư rất đa dạng và phong phú, thể hiện qua nhiều khía cạnh như chủ thể đầu tư, hình thức và lĩnh vực đầu tư Mặc dù có sự đa dạng, hoạt động đầu tư có thể được chia thành những loại chính.

Phân loại theo chủ thể hoạt động đầu tư bao gồm: Đầu tư của Nhà nước, đầu tư của doanh nghiệp và đầu tư cá nhân

Đầu tư có thể được phân loại theo mối quan hệ quản lý của chủ đầu tư thành hai loại chính: “Đầu tư gán tiếp” và “Đầu tư trực tiếp” Trong trường hợp “Đầu tư gán tiếp”, người bỏ vốn không trực tiếp quản lý số vốn đã đầu tư và không tham gia vào quá trình điều hành Đây là hình thức mà người bỏ vốn và người sử dụng nguồn vốn là những chủ thể riêng biệt Ngược lại, “Đầu tư trực tiếp” cho phép người bỏ vốn tham gia trực tiếp vào quản lý và điều hành, với người bỏ vốn và người sử dụng vốn là cùng một chủ thể.

Những vấn đề lý luận về bảo đảm đầu tư

1.2.1 Khái niệm bảo đảm đầu tư

Bảo đảm đầu tư là một yếu tố quan trọng mà các nhà đầu tư quan tâm khi đưa ra quyết định đầu tư, giúp họ yên tâm với lợi ích được đảm bảo Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện chưa có văn bản cụ thể nào định nghĩa về bảo đảm đầu tư, mà chỉ quy định các biện pháp bảo đảm đầu tư trong các điều từ Điều 9 đến Điều 14 của Luật Đầu tư Việt Nam.

Bảo đảm đầu tư là các cam kết không cần điều kiện từ nhà nước đối với nhà đầu tư, nhằm bảo vệ an toàn pháp lý cho tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp khác của nhà đầu tư trong quá trình thực hiện hoạt động đầu tư.

Các biện pháp đầu tư là quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong quá trình hoạt động đầu tư Những biện pháp này thể hiện cam kết của nhà nước đối với nhà đầu tư về trách nhiệm tiếp nhận đầu tư, được quy định không chỉ trong pháp luật quốc gia mà còn trong các điều ước quốc tế mà nhà nước tham gia Việc bảo đảm đầu tư giúp bảo vệ quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư, cho phép doanh nghiệp hoạt động trong khuôn khổ pháp luật không cấm, từ đó tạo sự yên tâm cho nhà đầu tư Một môi trường đầu tư bình đẳng và thông thoáng có mối quan hệ chặt chẽ với các biện pháp khuyến khích đầu tư, trong đó bảo đảm đầu tư được coi là biện pháp khuyến khích ưu việt nhất.

1.2.2 Các nguyên tắc bảo đảm đầu tư

Bảo đảm đầu tư là yếu tố quyết định đến hiệu quả hoạt động đầu tư, vì vậy Việt Nam chú trọng ban hành các quy định nhằm tối ưu hóa hiệu quả này Các quy định pháp luật Việt Nam và quốc tế tuân thủ nguyên tắc cơ bản như: đảm bảo đối xử bình đẳng giữa các nhà đầu tư, công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, cho phép nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư trong các ngành nghề không bị cấm, tự chủ quyết định hoạt động đầu tư theo quy định, và tôn trọng các điều ước quốc tế liên quan đến đầu tư.

1.2.2.1 Nguyên tắc bảo đảm đối xử bình đẳng giữa các nhà đấu tư

Nguyên tắc đảm bảo đối xử bình đẳng giữa các nhà đầu tư là một trong những nguyên tắc quan trọng trong Luật Đầu tư Việt Nam 2014 Luật quy định rằng nhà nước phải đối xử bình đẳng với tất cả các nhà đầu tư, đồng thời có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho họ trong hoạt động đầu tư kinh doanh, nhằm phát triển bền vững các ngành kinh tế Điều này đảm bảo rằng các quy định pháp luật liên quan đến đầu tư đều áp dụng chung cho tất cả các nhà đầu tư, không phân biệt giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.

Nguyên tắc này không chỉ áp dụng trong pháp luật Việt Nam mà còn trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia Theo Hiệp định TPP, mỗi bên phải đối xử với nhà đầu tư của bên kia không kém thuận lợi hơn nhà đầu tư của chính mình hoặc nhà đầu tư của bên không phải thành viên hiệp định trong các tình huống tương tự Đây là nội dung của nguyên tắc tối huệ quốc, nghĩa là một nước phải dành cho nước đối tác những ưu đãi không kém những ưu đãi mà nước đó dành cho nước đối tác thứ ba Nếu một thành viên cấp ưu đãi cho một thành viên khác, thì ngay lập tức và không điều kiện, các thành viên khác cũng sẽ được hưởng ưu đãi đó.

7 Khoản 4 Điều 5, Luật Đầu tư 2014

8 Khoản 1, Điều 9.5 Hiệp định TPP

Nguyên tắc đối xử quốc gia trong Hiệp định TPP quy định rằng mỗi quốc gia phải đối xử với nhà đầu tư nước ngoài không kém thuận lợi hơn so với nhà đầu tư trong nước trong các hoàn cảnh tương tự Điều này đảm bảo sự bình đẳng giữa nhà đầu tư trong nước và quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thành lập, mua lại, mở rộng và vận hành dự án đầu tư Như vậy, một quốc gia sẽ dành cho nhà đầu tư nước ngoài những ưu đãi tương đương với những ưu đãi mà họ dành cho nhà đầu tư nội địa.

Nguyên tắc đối xử công bằng và bình đẳng giữa các nhà đầu tư là một yếu tố quan trọng trong môi trường đầu tư Khi các nhà đầu tư được đối xử công bằng, họ có thể cảm thấy an tâm hơn trong quyết định đầu tư Điều này không chỉ tạo ra một môi trường đầu tư lành mạnh mà còn đảm bảo tiềm năng và khả năng cạnh tranh trên thị trường, từ đó thúc đẩy các nhà đầu tư tiếp tục hoạt động đầu tư của mình.

1.2.2.2 Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu về tài sản

Hoạt động đầu tư gắn liền với tài sản, vốn đầu tư và thu nhập từ các hoạt động này Khi một nhà đầu tư quyết định đầu tư vào quốc gia khác, họ thường lo ngại về văn hóa, xã hội, tình hình an ninh chính trị và pháp luật của quốc gia đó Mọi nhà đầu tư đều mong muốn tài sản của mình mang lại hiệu quả và lợi nhuận, không ai muốn đối mặt với nguy cơ bị tịch thu hoặc quốc hữu hóa tài sản, cũng như không thể chuyển lợi nhuận về nước Tuy nhiên, theo cơ chế thị trường, bên cạnh lợi nhuận, nhà đầu tư cũng phải chấp nhận rủi ro, vì kinh doanh có thể không đạt kết quả, dẫn đến thua lỗ và thất thoát tài sản Ngoài ra, tài sản của nhà đầu tư có thể bị hao hụt do thua lỗ hoặc bị nhà nước trưng mua, trưng dụng trong các tình huống khẩn cấp liên quan đến quốc phòng và an ninh quốc gia.

Theo Khoản 1, Điều 9.4 của Hiệp định TPP, nhà nước tiếp nhận đầu tư cam kết công nhận và bảo vệ quyền sở hữu tài sản của các nhà đầu tư Điều này nhằm tạo sự yên tâm cho các nhà đầu tư, góp phần giảm bớt rào cản và thu hút đầu tư vào Việt Nam.

1.2.2.3 Nhà đầu tư được quyền thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề mà pháp luật không cấm

Tại Việt Nam, quyền con người, đặc biệt là quyền tự do kinh doanh và hoạt động đầu tư, được tôn trọng và bảo vệ theo Hiến pháp và pháp luật Sau khi mở cửa hội nhập quốc tế, quyền tự do kinh doanh đã được mở rộng, khẳng định đây là quyền con người cơ bản Tuy nhiên, nhà đầu tư chỉ được thực hiện các ngành nghề mà pháp luật không cấm, dẫn đến việc các ngành nghề kinh doanh bị giới hạn bởi quy định pháp luật Điều này có thể trở thành rào cản cho sự phát triển kinh tế, khi pháp luật không thể tiên đoán hết các ngành nghề mới xuất hiện trong bối cảnh kinh tế không ngừng phát triển.

Quy định cho phép các nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư trong các ngành nghề không bị cấm là một bước tiến tích cực trong pháp luật Tuy nhiên, nhà đầu tư vẫn cần tuân thủ các thủ tục và quy định pháp lý nhất định, đặc biệt là đối với những ngành nghề kinh doanh có điều kiện.

1.2.2.4 Nhà đầu tư được tự chủ quyết định hoạt động đầu tư kinh doanh theo quy định

Nhằm tạo môi trường đầu tư thuận lợi và phù hợp với xu hướng hội nhập toàn cầu, Việt Nam cam kết đảm bảo quyền tự chủ của nhà đầu tư trong hoạt động đầu tư kinh doanh Nhà đầu tư có quyền thực hiện các ngành nghề không bị pháp luật cấm, thể hiện quyền tự định đoạt của mình Khi đầu tư, nhà đầu tư phải bỏ vốn hoặc tài sản, do đó họ yêu cầu quyền quyết định đối với hoạt động đầu tư Quyền tự định đoạt này bao gồm lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư, phương thức huy động vốn, địa bàn đầu tư và quy mô Ngoài ra, nhà đầu tư có quyền đăng ký kinh doanh nhiều ngành nghề và thành lập doanh nghiệp theo quy định pháp luật Nhà nước công nhận quyền cơ bản này của nhà đầu tư là cần thiết để bảo vệ quyền lợi của họ.

1.2.2.5 Nhà nước tôn trọng và cam kết thực hiện các điều ước quốc tế liên quan đến đầu tư

Trong bối cảnh hiện nay, việc tăng cường giao lưu hợp tác giữa các quốc gia ngày càng trở nên quan trọng Việt Nam đã ký kết nhiều điều ước quốc tế đa dạng, bao gồm nhiều lĩnh vực quan trọng trong xã hội Khi tham gia ký kết các điều ước quốc tế, Việt Nam ưu tiên áp dụng các điều khoản của các điều ước này, bất kể sự khác biệt với pháp luật trong nước, trừ Hiến pháp Điều này được quy định rõ trong Luật Đầu tư 2014.

Theo quy định tại Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, nếu có sự khác biệt với Luật này, thì sẽ áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế đó Luật Điều ước quốc tế 2016 cũng có quy định tương tự.

10 Khoản 3, Điều 4 Luật Đầu tư Việt Nam 2014

Những vấn đề lý luận về khuyến khích đầu tư

Đầu tư là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển kinh tế Để đảm bảo hoạt động đầu tư hiệu quả và kích thích nền kinh tế quốc gia, cần có các biện pháp khuyến khích đầu tư phù hợp nhằm thu hút nguồn vốn vào Việt Nam Khuyến khích đầu tư là gì và cách phân biệt giữa khuyến khích đầu tư và bảo đảm đầu tư như thế nào?

1.3.1 Khái niệm khuyến khích đầu tư và các biện pháp khuyến khích đầu tư

Hiện tại, chưa có khái niệm chính thức nào về khuyến khích đầu tư Theo Diễn đàn của Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD), việc hiểu rõ về khuyến khích đầu tư là cần thiết để thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững.

Investment promotion encompasses all activities and measures designed to establish favorable conditions for foreign investment in the host country Key determinants include the policy framework for foreign investment, economic factors, and business facilitation efforts.

12Diễn đàn của Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD), “Investment promotion provisions in international investment agreements”, UNITED NATIONS New

Khuyến khích đầu tư là một công cụ và chính sách quan trọng mà Chính phủ sử dụng để thu hút và định hướng đầu tư nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể Theo York và Geneva (2008), các yếu tố quyết định kinh tế và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp vẫn chưa hoàn toàn áp dụng cho các nhà đầu tư nước ngoài Trong bối cảnh toàn cầu hiện nay, khi các quốc gia cần vốn đầu tư để duy trì và phát triển nền kinh tế, khuyến khích đầu tư càng trở nên thiết yếu và hiệu quả hơn trong việc thu hút vốn.

Các biện pháp khuyến khích đầu tư là quy định của nhà nước nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước Những biện pháp này được thiết lập dựa trên sự kết hợp lợi ích giữa nhà nước, nền kinh tế-xã hội và các nhà đầu tư Hiến pháp Việt Nam đã quy định rõ ràng rằng nhà nước khuyến khích các doanh nhân, doanh nghiệp và tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh để phát triển bền vững các ngành kinh tế và góp phần xây dựng đất nước Đồng thời, tài sản hợp pháp của các cá nhân và tổ chức đầu tư cũng được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa.

Chương 3 Luật Đầu tư 2014 cụ thể hóa các quy định khuyến khích đầu tư dựa trên Hiến pháp, bao gồm các biện pháp ưu đãi và hỗ trợ đầu tư Những chính sách này do Nhà nước ban hành nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước khi đầu tư vào Việt Nam Ưu đãi đầu tư có thể bao gồm ưu đãi về thuế và tài chính, trong khi hỗ trợ đầu tư là các biện pháp tích cực nhằm hài hòa lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng và lợi ích của nhà đầu tư.

Theo Khoản 3 Điều 51 Hiến pháp Việt Nam 2013, nhà nước có trách nhiệm hỗ trợ các nhà đầu tư, đặc biệt trong những trường hợp gặp phải bất lợi hoặc rủi ro Điều này thường áp dụng tại các địa bàn mà chính phủ khuyến khích đầu tư.

1.3.2 Phân loại các biện pháp khuyến khích đầu tư

Theo Luật Đầu tư 2014, các biện pháp khuyến khích đầu tư bao gồm ưu đãi và hỗ trợ đầu tư Nhà nước khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước được hưởng các ưu đãi nếu đầu tư vào lĩnh vực và khu vực khó khăn theo quy định Những ưu đãi và hỗ trợ này đóng vai trò chiến lược trong tăng trưởng kinh tế và có tác động tích cực đến kinh tế - xã hội Việc phân loại các biện pháp khuyến khích đầu tư có thể dựa trên các ưu đãi tài chính, chính sách sử dụng đất, mặt nước, mặt biển và hỗ trợ thủ tục hành chính.

1.3.2.1 Các ưu đãi về tài chính

Các ưu đãi về tài chính bao gồm những chính sách giảm thuế như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, và thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài Trong đó, ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp là một trong những chính sách quan trọng nhằm khuyến khích đầu tư và phát triển kinh doanh.

Một trong những yếu tố quan trọng mà nhà đầu tư quan tâm khi thực hiện dự án đầu tư là ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp Đây là công cụ mà các nhà lập pháp Việt Nam sử dụng để thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài Để được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, công ty có vốn đầu tư nước ngoài cần đáp ứng một số yêu cầu nhất định, chẳng hạn như thực hiện chế độ kế toán và nộp thuế theo kê khai Doanh nghiệp phải hoạch toán riêng phần thu nhập từ hoạt động được ưu đãi thuế và phần không được ưu đãi Đối với dự án mới, cần có Giấy chứng nhận đầu tư cấp lần đầu từ ngày 01/01/2014 và phát sinh doanh thu sau khi được cấp Giấy chứng nhận Ngoài ra, dự án đầu tư trong nước phải gắn với việc thành lập doanh nghiệp mới có vốn đầu tư dưới 15 tỷ đồng Việt Nam và không thuộc danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện.

Một số dự án đầu tư mới không đủ điều kiện nhận ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, bao gồm các trường hợp như dự án hình thành từ việc chia, tách, sáp nhập, hợp nhất hoặc chuyển đổi hình thức doanh nghiệp theo quy định pháp luật, cũng như dự án hình thành từ việc chuyển đổi chủ sở hữu Ngoài ra, cần lưu ý đến các ưu đãi về thuế xuất nhập khẩu.

Thuế nhập khẩu là loại thuế đánh vào hàng hóa có nguồn gốc từ nước ngoài trong quá trình nhập khẩu, được sử dụng như công cụ bảo hộ mậu dịch nhằm giảm nhập khẩu và khuyến khích hàng hóa trong nước Tuy nhiên, thuế xuất nhập khẩu cũng có thể làm giảm xuất khẩu do nhà nước không khuyến khích các mặt hàng sử dụng tài nguyên khan hiếm hoặc hàng hóa quan trọng cho an ninh quốc gia Những tác động này gây lo ngại cho các nhà đầu tư trong quá trình đầu tư Để khuyến khích đầu tư và xóa bỏ rào cản, nhà nước đã ban hành quy định miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa như thiết bị, máy móc, vật tư và phương tiện vận tải phục vụ cho các dự án đầu tư tại Việt Nam.

Các nhà đầu tư được hưởng nhiều ưu đãi, bao gồm miễn thuế giá trị gia tăng cho một số hàng hóa và hoạt động phục vụ đầu tư Ngoài ra, doanh nghiệp có lỗ có thể chuyển lỗ sang năm sau, và số lỗ này sẽ được trừ vào thu nhập tính thuế Thời gian chuyển lỗ tối đa là năm năm, bắt đầu từ năm tiếp theo của năm phát sinh lỗ.

1.3.2.2 Các ưu đãi về chính sách sử dụng đất, mặt nước, mặt biển

Các doanh nghiệp đầu tư vào các dự án thuộc lĩnh vực khuyến khích đầu tư sẽ được hưởng nhiều ưu đãi về sử dụng đất, như giá thuê đất và thời hạn thuê đất Đối với việc sử dụng mặt nước và mặt biển, Chính phủ Việt Nam cũng đã ban hành khung giá ổn định và các ưu đãi cụ thể, đặc biệt dành cho những dự án thuộc đối tượng khuyến khích đầu tư.

Chính sách ưu đãi về đất đai cho thuê đất và mặt nước nhằm thực hiện dự án đầu tư nghiên cứu, nhân giống, nuôi trồng dược liệu được quy định tại Khoản 1 Điều 8 Nghị định 65/2017/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 05/07/2017 Chính sách này tập trung vào việc hỗ trợ giống, vốn và công nghệ trong phát triển, nuôi trồng và khai thác dược liệu.

Những quy định của pháp luật về bảo đảm đầu tư và khuyến khích đầu tư theo Luật Đầu tư

Tại Việt Nam, quyền tự do kinh doanh được ghi nhận trong Hiến pháp 2013, khẳng định rằng “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm.” Dựa trên cơ sở thể chế hóa Hiến pháp này, Luật Đầu tư đã thiết lập các chính sách của nhà nước nhằm bảo đảm và khuyến khích đầu tư kinh doanh của cá nhân và tổ chức Luật Đầu tư quy định rõ về việc bảo đảm và khuyến khích đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh.

1.4.1 Nội dung pháp luật về các biện pháp bảo đảm theo Luật Đầu tư

1.4.1.1 Bảo đảm quyền sở hữu tài sản

Quy định pháp luật Việt Nam hiện nay chú trọng khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư Bảo đảm quyền sở hữu tài sản là một trong những nguyên tắc quan trọng trong đầu tư, giúp nhà đầu tư yên tâm thực hiện các hoạt động đầu tư tại Việt Nam.

Theo Điều 33 của Hiến pháp 2013, cá nhân và tổ chức có quyền tự do đầu tư kinh doanh trong các ngành nghề không bị pháp luật cấm, đồng thời tự chủ quyết định hoạt động đầu tư theo quy định Họ được phép tiếp cận và sử dụng nguồn vốn tín dụng, quỹ hỗ trợ, cũng như đất đai và tài nguyên khác theo luật định Nhà nước cam kết công nhận và bảo vệ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và các quyền lợi hợp pháp khác của nhà đầu tư.

Bảo đảm đầu tư là một nội dung quan trọng được nhà nước Việt Nam chú trọng từ lâu, được quy định trong Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 Luật này khẳng định rằng vốn và tài sản của các tổ chức, cá nhân nước ngoài không bị trưng dụng, tịch thu hay quốc hữu hóa Nhà đầu tư có quyền chuyển lợi nhuận, tiền cho việc cung cấp kỹ thuật, cũng như tiền gốc và lãi từ các khoản vay về nước Tuy nhiên, quy định trong Luật năm 1987 còn sơ sài và chưa lường trước hết các trường hợp có thể xảy ra trong quá trình đầu tư Đến năm 1996, Luật Đầu tư nước ngoài được sửa đổi, bổ sung để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư một cách toàn diện hơn.

Việt Nam cam kết bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp và đảm bảo lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư nước ngoài trong hoạt động chuyển giao công nghệ Nếu có sự thay đổi trong quy định pháp luật gây thiệt hại cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Nhà nước sẽ có biện pháp giải quyết thỏa đáng quyền lợi của nhà đầu tư Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 đã bổ sung quy định mới về bảo đảm quyền sở hữu công nghiệp, đánh dấu bước tiến quan trọng so với năm 1987, phù hợp với sự phát triển kinh tế và bùng nổ công nghệ hiện nay.

15 Điều 21 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987

Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 yêu cầu các nhà đầu tư nhanh chóng áp dụng công nghệ mới để nâng cao sức cạnh tranh, đồng thời bổ sung quy định về bảo đảm quyền sở hữu công nghiệp nhằm thu hút đầu tư và hội nhập quốc tế Luật cũng quy định rằng nếu có sự thay đổi pháp luật gây thiệt hại cho nhà đầu tư, nhà nước sẽ có biện pháp giải quyết thỏa đáng Thực tế cho thấy, pháp luật luôn cần điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn, tuy nhiên, việc xác định "giải quyết thỏa đáng" vẫn còn là một thách thức Để khắc phục những hạn chế trước đây, Luật Đầu tư 2014 đã được ban hành, quy định rằng nhà đầu tư sẽ được bồi thường nếu nhà nước trưng mua tài sản vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc tình trạng khẩn cấp Các biện pháp bảo đảm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của nhà đầu tư có hiệu lực ngay khi dự án đầu tư được triển khai mà không cần thủ tục hành chính nào khác, giúp tạo sự yên tâm pháp lý cho các nhà đầu tư trước nguy cơ quốc hữu hóa hay tịch thu tài sản Trừ trường hợp bất khả kháng, nhà nước sẽ thanh toán bồi thường cho nhà đầu tư, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

17 Khoản 2, Điều 9 Luật Đầu tư Việt Nam 2014

1.4.1.2 Bảo đảm hoạt động đầu tư kinh doanh

Trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện nay, nhà nước cam kết tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm thu hút đầu tư phát triển kinh tế và bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư Ngoài việc đảm bảo quyền sở hữu tài sản, nhà nước còn hỗ trợ các hoạt động đầu tư kinh doanh Pháp luật quy định một số hoạt động mà nhà đầu tư không bắt buộc phải thực hiện, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các doanh nghiệp.

Nhà nước không bắt buộc nhà đầu tư thực hiện các yêu cầu như ưu tiên mua hàng hóa, dịch vụ trong nước; xuất khẩu hàng hóa hoặc dịch vụ đạt tỷ lệ nhất định; nhập khẩu hàng hóa tương ứng với giá trị hàng hóa xuất khẩu; đạt tỷ lệ nội địa hóa cho hàng hóa sản xuất trong nước; đầu tư vào nghiên cứu và phát triển trong nước; cung cấp hàng hóa, dịch vụ tại địa điểm cụ thể; và đặt trụ sở chính theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Nhà đầu tư có quyền tự do mua sắm và sử dụng hàng hóa, dịch vụ cả trong nước và nước ngoài Quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư trong việc lựa chọn các sản phẩm và dịch vụ từ nước ngoài, mang lại lợi thế cạnh tranh.

18 Điều 10, Luật Đầu tư 2014 đối với một số mặt hàng, chất lượng sản phẩm nước ngoài hơn hẳn sản phẩm nội địa

Về xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, nhà đầu tư không phải đạt tỷ lệ nhất định Số lượng, giá trị, loại hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu hoặc sản xuất, cung ứng trong nước cũng không bị hạn chế Tuy nhiên, cần bổ sung quy định về việc không hạn chế, trừ một số mặt hàng bị cấm xuất khẩu.

Khi nhập khẩu, nhà đầu tư không bị yêu cầu nhập khẩu khối lượng hàng hóa tương ứng với số hàng hóa xuất khẩu Nếu không cân bằng được, nhà đầu tư có thể tự cân đối ngoại tệ từ nguồn xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu nhập khẩu Đối với hàng hóa sản xuất trong nước, nhà đầu tư cũng không bắt buộc phải đạt tỷ lệ nội địa hóa.

Đối với các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền của Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ, cũng như các dự án phát triển hạ tầng quan trọng, pháp luật quy định rằng Thủ tướng Chính phủ có trách nhiệm đảm bảo đáp ứng nhu cầu ngoại tệ dựa trên định hướng phát triển kinh tế - xã hội, chính sách quản lý ngoại hối và khả năng cân đối ngoại tệ trong từng thời kỳ Quy định này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm hoạt động đầu tư kinh doanh của nhà đầu tư.

1.4.1.3 Bảo đảm việc chuyển lợi nhuận và thu nhập hợp pháp

Quy định của Luật Đầu tư về bảo đảm việc chuyển lợi nhuận và thu nhập hợp pháp như sau:

Sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài có quyền chuyển ra nước ngoài các tài sản nhất định.

1 Vốn đầu tư, các khoản thanh lý đầu tư;

Tỷ lệ nội địa hóa là tỷ lệ sử dụng nguyên vật liệu và phụ tùng công nghiệp sản xuất trong nước so với hàng nhập khẩu Thông tin này được định nghĩa trên trang web Vietstock.

2 Thu nhập từ hoạt động đầu tư kinh doanh;

3 Tiền và tài sản khác thuộc sở hữu hợp pháp của nhà đầu tư” 20

Chuyển lợi nhuận ra nước ngoài là một trong những vấn đề quan trọng của các nhà đầu tư khi đầu tư vào quốc gia khác Quy định này đảm bảo rằng các nhà đầu tư nước ngoài được phép chuyển lợi nhuận hợp pháp ra nước ngoài sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính, tạo môi trường đầu tư an toàn Tài sản có thể chuyển ra nước ngoài bao gồm vốn đầu tư, khoản thanh lý, thu nhập từ hoạt động kinh doanh, và tài sản hợp pháp khác Lợi nhuận chuyển ra là lợi nhuận sau thuế, sau khi nhà đầu tư đã nộp thuế thu nhập Biện pháp này hợp lý hóa quy định chống đánh thuế hai lần đối với lợi nhuận của nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời bảo đảm quyền sở hữu tài sản hợp pháp và tăng cường khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

1.4.1.4 Bảo lãnh của Chính phủ đối với một số dự án quan trọng Điều 12, Luật Đầu tư 2014 quy định:

THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM, KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM VÀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ VIỆT

Ngày đăng: 12/07/2021, 19:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. ThS. Hoàng Văn Cương, Đánh giá cơ chế chính sách khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam đầu tư đổi mới công nghệ: Bằng chứng từ điều tra doanh nghiệp 2000-2011, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Bộ Kếhoạch và Đầu tư năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá cơ chế chính sách khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam đầu tư đổi mới công nghệ: Bằng chứng từ điều tra doanh nghiệp 2000-2011
16. ThS.Đào Thu Hà, Hoàn thiện pháp luật hỗ trợ đầu tư trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí Công Thương, ngày 17/12/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật hỗ trợ đầu tư trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
17. Nguyễn Thị Hưng – Phạm Thị Hiền – Nguyễn Thị Thùy Linh, Pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư nước ngoài của một số nước ASEAN và gợi mở cho Việt Nam, Tạp chí Công Thương, ngày 22/01/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư nước ngoài của một số nước ASEAN và gợi mở cho Việt Nam
18. Tăng Văn Nghĩa, Tuân thủ của doanh nghiệp đối với trách nhiệm sản phẩm và một số khuyến nghị cho các doanh nghiệp Việt Nam, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, Số 119 (7/2019) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuân thủ của doanh nghiệp đối với trách nhiệm sản phẩm và một số khuyến nghị cho các doanh nghiệp Việt Nam
19. Chủ biên PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt và TS. Từ Quang Phương, Giáo trình Kinh tế đầu tư, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, 2007, Tr.7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế đầu tư
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế Quốc dân
20. Lê Thị Thu Thủy, Các biện pháp khuyến khích theo Luật đầu tư và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Bình, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật – Đại học Huế, Thừa Thiên Huế năm 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp khuyến khích theo Luật đầu tư và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Bình, Luận văn Thạc sỹ Luật học
21. TS. Phạm Thị Tường Vân, Chống chuyển giá của các công ty xuyên quốc gia và giải pháp đối với Việt Nam,Tạp chí tài chính, ngày 24/06/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chống chuyển giá của các công ty xuyên quốc gia và giải pháp đối với Việt Nam
22. James chen, Investment, Investopedia, ngày 30/06/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Investment
23. United Nationconference on trade and development, Investment promotion provisions in international investment agreements, New York anh Geneva 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Investment promotion provisions in international investment agreements
24. United Nationconference on trade and development, World Investment Report (2010), Investing in a low-carbon Econom, New York anh Geneva,2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: World Investment Report (2010), Investing in a low-carbon Econom
Tác giả: United Nationconference on trade and development, World Investment Report
Năm: 2010
25. United Nationconference on trade and development, UNCTAD (2013), World Investment Report, New York and Geneva 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: UNCTAD (2013), World Investment Report
Tác giả: United Nationconference on trade and development, UNCTAD
Năm: 2013
26. United Nationconference on trade and development, UNCTAD (2018), Investment and New Industrial Policies,World Investment Report, New York and Geneva 2018;Tài liệu Internet 27. www.mpi.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: UNCTAD (2018), Investment and New Industrial Policies,World Investment Report
Tác giả: United Nationconference on trade and development, UNCTAD
Năm: 2018
6. Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 Khác
7. Thông tư 02/2017/TT-BKHĐT hướng dẫn về cơ chế phối hợp giải quyết các thủ tục đăng ký đầu tư và đăng ký doanh nghiệp đối với các nhà đầu tư nước ngoài Khác
8. Nghị định số 91/2018/NĐ-CP ngày 26/06/2018 Về cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ Khác
9. Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư Khác
10. Quyết định số 34/2015/QĐ-TTg ngày 14/08/2015 Ban hành danh mục các chương trình, dự án ưu tiên được xem xét cấp bảo lãnh chính phủ Khác
12. Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) Khác
14. Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMS); Giáo trình, luận văn, tạp chí và các bài nghiên cứu khác Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Danh mục minh họa các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại bị cấm áp dụng (TRIMS)  - BẢO ĐẢM VÀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ
Bảng 1.1 Danh mục minh họa các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại bị cấm áp dụng (TRIMS) (Trang 52)
2.1 Khái quát về tình hình đầu tư tại Việt Nam - BẢO ĐẢM VÀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ
2.1 Khái quát về tình hình đầu tư tại Việt Nam (Trang 60)
Bảng số liệu trên cho thấy: - BẢO ĐẢM VÀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ
Bảng s ố liệu trên cho thấy: (Trang 61)
Bảng 2.2: Các chương trình, dự án được ưu tiên xem xét cấp bảo lãnh C. phủ - BẢO ĐẢM VÀ KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ THEO LUẬT ĐẦU TƯ
Bảng 2.2 Các chương trình, dự án được ưu tiên xem xét cấp bảo lãnh C. phủ (Trang 73)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w