1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiểu tác giả nhà nho tài tử trong văn học việt nam nửa sau thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

96 4,6K 34
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiểu tác giả nhà nho tài tử trong văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX
Tác giả Nguyễn Thị Kim Anh
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 448 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về loại hình tác giả nhà nho và nhà nho tài tử trong văn học Việt Nam trung - cận đại Việc nghiên cứu và nhận thức tiến trình phát triển của văn học các nớc Đông á nói chung, văn học Việ

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo trờng đại học vinh

nguyễn thị kim anh

Kiểu tác giả nhà nho tài tử trong văn học việt nam

nửa sau thế kỷ xix - đầu thế kỷ xx

luận văn thạc sĩ ngữ văn

vinh - 2007

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Tác giả và loại hình tác giả văn học trung đại Việt Nam là một vấn đề

đang đợc quan tâm nghiên cứu Đặc biệt loại hình nhà nho tài tử trong văn họcViệt Nam giai đoạn chuyển tiếp từ trung đại sang hiện đại (nửa sau thế kỷ XIX -

đầu thế kỷ XX) còn chứa đựng nhiều điều mới mẻ và đòi hỏi phải đợc tìm hiểu,nghiên cứu kỹ Đề tài vì vậy mang một ý nghĩa khoa học và thực tiễn cấp thiếttrên nhiều phơng diện

1.2 Kiểu tác giả nhà nho tài tử ở giai đoạn chuyển tiếp này tỏ ra hết sức

độc đáo với những đặc điểm đặc sắc của văn học trong một bối cảnh xã hội mới

Nó đòi hỏi phải có công trình nghiên cứu, khảo sát, xác định một cách cụ thể, hệthống Nghiên cứu vấn đề này luận văn nhằm góp phần đáp ứng yêu cầu mangtính thời sự ấy

1.3 Loại hình nhà nho tài tử “cuối mùa” (giai đoạn cuối thế kỷ XIX - đầuthế kỷ XX) gồm những tác giả không chỉ giữ vị trí quan trọng trong lịch sử văn

Trang 2

học dân tộc, mà còn giữ vị trí quan trọng trong chơng trình văn học ở học đờng.

Do đó, nghiên cứu Kiểu tác giả nhà nho tài tử trong văn học Việt Nam nửa sau

thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, luận văn còn có ý nghĩa thiết thực trong vận dụng vào

giảng dạy - học tập thơ văn ở nhà trờng phổ thông

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Về loại hình tác giả nhà nho và nhà nho tài tử trong văn học Việt Nam trung - cận đại

Việc nghiên cứu và nhận thức tiến trình phát triển của văn học các nớc

Đông á nói chung, văn học Việt Nam nói riêng không thể nào thực hiện đợc nếuthiếu đi sự hiểu biết nhiều loại học thuyết khác nhau, bởi các học thuyết này gây

ra những tác động mạnh mẽ lên sự phát triển văn học Đối với Việt Nam, Nhogiáo, Đạo giáo và Phật giáo có ảnh hởng sâu sắc tới đời sống t tởng, tinh thần,

đặc biệt là văn học Hơn bất cứ học thuyết nào trong tam giáo, Nho giáo có vaitrò ảnh hởng quyết định đến lịch sử văn học Việt Nam trong thời kỳ trung đại.Loại hình tác giả nhà nho chiếm địa vị chính thống trên văn đàn Đây là đội ngũtác giả chủ lực với số lợng lớn, tác phẩm nhiều Song, do nhiều nguyên nhânkhác nhau, trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy bộ môn lịch sử văn học ViệtNam, giới nghiên cứu vẫn cha có điều kiện xác định rõ và đầy đủ vị trí, vai trò và

ảnh hởng của Nho giáo đối với lịch sử văn học dân tộc, cũng nh loại hình tác giảnhà nho Cho đến hôm nay, ở Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu

về Nho giáo Tuy nhiên, lịch sử nghiên cứu nó gián đoạn chứ không phát triểnliên tục Nếu tính riêng ở Việt Nam, việc trình bày Nho giáo một cách chính

diện, có hệ thống trớc hết phải kể đến công trình Nho giáo của Trần Trọng Kim.

Trớc cách mạng Tháng tám, một số tác giả cũng đã trình bày học thuyết này, nhPhan Bội Châu, Ngô Tất Tố… song ch song cha hoàn chỉnh, và còn nhiều hạn chế Từsau cách mạng Tháng tám đến đầu thập kỷ 80, phần nghiên cứu của tác giả Việt

Nam không nhiều Rất đáng chú ý là công trình Sự phát triển của t tởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng tám của Trần Văn Giàu ở đó, tác giả

đã trình bày Nho giáo chủ yếu ở phơng diện t tởng, chứ không chủ trơng nhấnmạnh vai trò quyết định của nó tới đời sống văn học Trong những năm gần đây,giới nghiên cứu đã có sự quan tâm cao hơn tới Nho giáo và loại hình tác giả nhànho Các tác giả Nguyễn Khắc Viện, Trần Đình Hợu, Quang Đạm từ năm 1984trở lại đây là những tác giả đã có những công trình nghiên cứu nghiêm túc, hệ

thống về Nho giáo Đặc biệt, Trần Đình Hợu với các bài viết Mấy ý kiến bàn về nghiên cứu Nho giáo, Nho giáo và văn học nghệ thuật, sách Nho giáo và văn học Việt Nam trung- cận đại, giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam 1900 – 1930 1930

đã quan tâm sâu sắc về mối quan hệ giữa Nho giáo và văn học Một số tác giảkhác trong các bài viết và các chuyên luận, giáo trình đều có đề cập tới vấn đềnày Nhng có một thực tế, nó vẫn cha đợc giải quyết triệt để

Trong các công trình nghiên cứu Nho giáo hiện đang đợc lu hành, hầu nhcác tác giả đều thừa nhận sự tồn tại của hai loại hình nhà nho: nhà nho hành đạo

và nhà nho ẩn dật Tuy nhiên, vai trò của hai loại hình nhà nho này vẫn cha đợcnghiên cứu đầy đủ, cặn kẽ Đối với loại hình nhà nho tài tử, loại hình nhà nhoxuất hiện muộn màng hơn hai loại hình nhà nho nói trên về mặt thời gian, nhnglại có vị trí hết sức quan trọng trong sự phát triển của xã hội nói chung, nghệthuật nói riêng, giới nghiên cứu đã đi vào tìm hiểu Song, đây vẫn còn là hiện t-ợng có nhiều vấn đề cần giải quyết T tởng về sự tồn tại của loại hình nhà nho tài

Trang 3

tử nh là loại hình tác giả thứ ba của văn chơng Nho giáo ở Việt Nam lần đầu tiên

đợc Trần Đình Hợu đề xuất trong phần viết về Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu, và ởmột số bài nghiên cứu khác Giáo s đã nêu ra những phẩm chất chính của ngời tàitử:

Ngời tài tử coi “tài” và “tình”, chứ không phải đạo đức, làm nên giá trịcủa con ngời Đó là chỗ để họ tự phân biệt với ngời thánh hiền và họ lấy chỗ

đó làm điều tự hào Ngời “tài tử” quan niệm “tài” nhiều cách Có thể là tàikinh luân nh Nguyễn Công Trứ Có thể là tài học vấn nh Cao Bá Quát Cóthể là tài cầm quân đánh giặc Nhng dù đã có những tài nh vậy, vẫn phải cóthêm tài văn chơng “nhả ngọc phun châu”, tài cầm kỳ thi họa, những thứnghệ thuật tài hoa, gắn bó với tình nữa, mới thành ngời tài tử [43, tr170]

Trong cuốn Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, tác giả có sự

phân biệt giữa ba loại hình nhà nho:

Xét về mặt tác giả văn học, hình nh có một sự khác biệt rõ rệt giữa ba

mẫu nhà nho: ngời hành đạo, ngời ẩn dật, và ngời tài tử Ngời hành đạo và

ngời ẩn dật là con sinh đôi, thay thế nhau xuất hiện trong những tình thếkhác nhau của xã hội nông thôn - cung đình cố hữu Còn ngời tài tử ra đờichậm, gắn với sự phát triển eo hẹp của đô thị Nhà nho tài tử đối lập tài với

đức, tình với tính, coi trọng thích thú cá nhân, đòi tự do phóng khoáng và ởng lạc thú trần tục [21, tr53,54]

h-Ông cũng đã nêu lên sự thành công ở mặt thể loại của đội ngũ nhà nho tài

tử Cuối cùng rút ra kết luận: nhìn toàn bộ sáng tác, họ không chống quan niệmvăn học Nho giáo Dần dần, khái niệm “nhà nho tài tử” cũng đợc nhiều nhà

nghiên cứu khác sử dụng Phan Ngọc trong cuốn Tìm hiểu phong cách Nguyễn

Du trong Truyện Kiều, tuy không có một giới thuyết nào về việc sử dụng khái

niệm này, nhng cũng đã đề cập đến nó Ông cho rằng vào giai đoạn văn học thế

kỷ XVIII – 1930 nửa đầu thế kỷ XIX,

T tởng thị dân đòi hởng lạc, đòi hỏi hạnh phúc, chống lại thói an bầnlạc đạo xuất hiện, và trở thành xu thế chính Các tài tử ra đời để thay thế cácquân tử, các trợng phu, là những ngời độc chiếm văn đàn trớc đây Các tài tử

ấy học đạo thánh hiền, nhng suy nghĩ theo lối thị dân [37, tr45]

Trần Đình Sử trong Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam có lớt

qua việc phân loại tác giả nhà nho: “Việc phân chia nhà nho thành các kiểu nhànho hành đạo, nhà nho ẩn dật, nhà nho tài tử có ý nghĩa để nghiên cứu loại hìnhtác giả văn học trung đại Đặc biệt nhà nho tài tử quả là một hiện tợng độc

đáo”[49, tr122] Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của những ngời đi trớc,Trần Ngọc Vơng trong các bài giảng, các báo cáo khoa học đã nhiều lần phát

triển thêm t tởng về ngời tài tử Với công trình Loại hình học tác giả văn học nhà nho tài tử và văn học Việt Nam tác giả Trần Ngọc Vơng đã trình bày một cách

có hệ thống hai loại hình nhà nho chính thống: hành đạo và ẩn dật, cũng nh vănhọc của họ Cặn kẽ hơn, tác giả đi sâu vào nghiên cứu loại hình nhà nho tài tử: sựhình thành, phát triển, sự đổi thay của hệ thống chủ đề, đề tài và hệ thống hình t-ợng; sự biến đổi của hệ thống thể loại và ngôn ngữ văn học Tuy nhiên, trongcông tình nghiên cứu ấy, vẫn còn một số vấn đề cha đợc giải quyết thấu đáo Đặcbiệt, đặc trng mỗi thời kỳ phát triển của loại hình nhà nho tài tử cha đợc phânbiệt rõ ràng

Trang 4

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều đã đề cập đến Nho giáo, vàmối quan hệ giữa nó với văn học, và kiểu tác giả nhà nho Tuy nhiên, mức độnông sâu có khác nhau Loại hình nhà nho tài tử đang còn là một hiện tợng vănhọc chứa đựng nhiều vấn đề đòi hỏi phải nghiên cứu thêm.

2.2 Kiểu tác giả nhà nho tài tử ở giai đoạn "cuối mùa" trong văn học Việt Nam

Nh luận văn đề cập, trong lịch sử văn học đã có khá nhiều công trìnhnghiên cứu về loại hình tác giả nhà nho nói chung, nhà nho tài tử nói riêng Song,cha có công trình khoa học nào thực sự tìm hiểu một cách có hệ thống các giai

đoạn phát triển của kiểu tác giả nhà nho tài tử Xuất hiện vào thế kỷ XVIII và tồntại cho đến đầu thế kỷ XX, loại hình tác giả này có những đặc trng độc đáo Mỗigiai đoạn gắn với một bối cảnh xã hội đặc thù, sáng tác của nhà nho tài tử sẽ bộc

lộ những đặc điểm riêng Vào nửa sau thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, trong chế độthực dân nửa phong kiến, nhóm nhà nho tài tử xuất hiện trở lại Kiểu tác giả nhànho tài tử ở giai đoạn chuyển tiếp này tỏ ra hết sức độc đáo với nhiều hiện tợngmới mẻ Chu Mạnh Trinh, Dơng Lâm, Dơng Khuê, Trần Tế Xơng, Tản Đà đều đ-

ợc các nhà khoa học, nhà phê bình văn học tìm hiểu, nghiên cứu trong nhiềucông trình chuyên luận, báo cáo khoa học ở mức độ khái quát hơn, Nguyễn Lộc

trong giáo trình " Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX)"

đã chia các nhà nho tài tử nửa sau thế kỷ XIX thành hai xu hớng chính Thứ nhất

là khuynh hớng văn học tố cáo hiện thực với tác giả tiêu biểu: Trần Tế Xơng.Thứ hai là khuynh hớng văn học hởng lạc thoát ly, với nhóm nhà thơ Dơng Lâm,Dơng Khuê, Chu Mạnh Trinh Tuy nhiên sự đánh giá của tác giả Nguyễn Lộc vềnhóm nhà nho tài tử này có một số điểm cha thỏa đáng Ông viết:

Trên bối cảnh chung là sự thất bại của phong trào chống Pháp và việc

đặt ách thống trị của thực dân Pháp lên đất nớc ta, các nhà thơ thuộc khuynhhớng hởng lạc thoát ly vốn là những ngời xuất thân từ tầng lớp quan lại suytàn, mang sẵn tâm lý tùy thời Họ làm quan là để có điều kiện thỏa mãncuộc sống hởng lạc cá nhân, và sáng tác cũng là một cách để thỏa mãn cuộcsống ấy Trong thơ văn của họ, thỉnh thoảng cũng có bài nói đến thời thế,ngụ một chút tâm sự, xa gần đả kích một thói xấu, hoặc đeo đuổi hình bóngcủa ngời đẹp ngày xa Nhng chủ yếu là nói về cuộc sống ăn chơi của họ ởcác nhà chứa, nhà cô đầu [26, tr604]

Đến đầu thế kỷ XX, Tản Đà đợc nghiên cứu vừa với t cách cá nhân vừa với

t cách một đại diện cuối cùng của loại hình nhà nho tài tử Ông là một điển hìnhvăn học giao thời 1900-1930 Rất nhiều công trình của các nhà nghiên cứu đã đitìm hiểu hiện tợng văn học độc đáo này Riêng Trần Ngọc Vơng dới cái nhìn loạihình đã đánh giá:

Trong môi trờng thành thị, hợp pháp, sáng tác của Tản Đà là sáng táccủa một nhà nho tài tử càng về cuối Tản Đà càng bộc lộ rõ những hạn chếcơ bản của một dòng văn học cũng bị phủ định Sáng tác của Tản Đà đã tuântheo quy luật vận động dẫn đến tàn cục của dòng văn học cũ [65, tr427]

Nh vậy, Tản Đà mang đầy đủ đặc trng, bi kịch của loại hình nhà nho tài tử

đầu thế kỷ XX Tổng quan hơn, Trần Ngọc Vơng trong công trình Loại hình học

tác giả văn học, nhà nho tài tử và văn học Việt Nam đã đề cập tới văn học của

nhà nho tài tử giai đoạn cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX Song, tác giả mới chỉdừng lại trong việc xem xét khả năng tồn tại, phản ứng của lớp nhà nho tài tử

Trang 5

"cuối mùa" ở vào hoàn cảnh xã hội mới Kết thúc phần viết của mình, Trần ngọcVơng nhận xét: "Việc duy trì mạch văn chơng cuối thế kỷ XIX với tác giả ChuMạnh Trinh, Dơng Khuê đáng đợc ghi nhận lại một cách công bằng"[64,tr192] Đến đầu thế kỷ XX, khả năng tồn tại của loại hình tác giả này đợc tácgiả nhận định:

Sự biến dạng của văn chơng tài tử trong môi trờng xã hội t sản hóa vẫnkhông giúp họ kéo dài đợc bao lăm vận mệnh của đẳng cấp mình, bởi đó là

"Cái chết đã đợc báo trớc" Với t cách một mẫu ngời trí thức truyền thống vàmột loại hình tác giả văn học, nhà nho tài tử đi dần vào chung cục [64,tr193]

Nh vậy, các công trình nghiên cứu vẫn cha đi sâu khai thác đặc trng cụ thểcủa loại hình tác giả nhà nho tài tử giai đoạn "cuối mùa" Vì thế, hiện tợng vănhọc này còn có nhiều ẩn số đòi hỏi sự khám phá

2.3 Trên cơ sở tiếp thu ý kiến của những ngời đi trớc, luận văn có thể nói là

công trình thực sự đi sâu, tập trung nghiên cứu đặc điểm kiểu tác giả nhà nho tài

tử "cuối mùa" trong văn học Việt Nam với một cái nhìn hệ thống, và với t cách làvấn đề có tính chuyên biệt

3 Đối tợng nghiên cứu và phạm vi giới hạn của đề tài

3.1 Đối tợng nghiên cứu

Đối tợng nghiên cứu của luận văn là: Kiểu tác giả nhà nho tài tử trong

văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX.

3.2 Phạm vi, giới hạn của đề tài

3.2.1 Luận văn khảo sát sáng tác của các nhà nho tài tử giai đoạn nửa sauthế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX Từ đó luận văn đi vào phân tích, luận giải, xác địnhnhững đặc điểm độc đáo mang tính loại hình trong sáng tác nghệ thuật của lớpnhà nho tài tử cuối mùa này

3.2.2 Tài liệu mà luận văn dựa vào để tìm hiểu, khảo sát chủ yếu là cáccuốn:

- Chu Mạnh Trinh, thơ và giai thoại của Lê Văn Ba, Nxb Văn hoá thông

tin Hà Nội, 1999

- Tú Xơng-tác phẩm, giai thoại do Đỗ Huy Vinh - Mai Anh Tuấn - Nguyễn

Văn Huyền su tầm, Nxb Hội văn học nghệ thuật, Hà Nam Ninh, 1986

- Tuyển tập thơ ca trù do Ngô Linh Ngọc - Ngô Văn Phú biên soạn và giới

thiệu, Nxb Văn học Hà Nội, 1987

- Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỷ XVIII - nửa đầu XIX do Huỳnh Lý chủ

biên và giới thiệu, Nxb văn học, Hà Nội, 1976

- Thơ văn yêu nớc nửa sau thế kỷ XIX do Nhiều tác giả biên soạn, Nxb văn

học Hà Nội, 1976

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Đa ra cái nhìn tổng quan về kiểu tác giả nhà nho tài tử trong văn học

Việt Nam và đóng góp của họ cho lịch sử văn học dân tộc

4.2 Khảo sát, phân tích và xác định Đặc điểm kiểu tác giả nhà nho tài tử

trong văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX trên phơng diện cảm

quan nghệ thuật và sự tự thể hiện của cái tôi tác giả

4.3 Khảo sát, phân tích và xác định Đặc điểm kiểu tác giả nhà nho tài tử

trong văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX trên phơng diện thể

loại, giọng điệu, và ngôn ngữ sáng tác

Trang 6

Cuối cùng rút ra một số kết luận về đặc điểm kiểu tác giả nhà nho tài tử

“cuối mùa” này

5 Phơng pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng các phơng phơng pháp chính: Phơng pháp phân tích tổng hợp, phơng pháp thống kê - phân loại, phơng pháp so sánh - loại hình, ph-

-ơng pháp cấu trúc - hệ thống để giải quyết vấn đề

6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn

6.1 Đóng góp

Thực hiện đề tài với những nhiệm vụ và quan điểm, phơng pháp nghiên cứutrên đây, luận văn của chúng tôi là công trình thực sự đi sâu tìm hiểu, nghiên cứuvấn đề này một cách có tính hệ thống, toàn diện Hy vọng luận văn sẽ tìm và xác

định đúng đặc trng độc đáo của kiểu tác giả nhà nho tài tử trong văn học ViệtNam nửa sau thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX

6.2 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn

đợc triển khai trong ba chơng:

Chơng 1: Nhà nho tài tử trên những chặng đờng cuối cùng của văn học nhà

nho.

Chơng 2: Cảm quan nghệ thuật và sự tự thể hiện cái tôi tác giả

Chơng 3: Thể loại, giọng điệu và ngôn ngữ sáng tác

Chơng 1 Kiểu tác giả nhà nho tài tử trên những chặng đờng cuối cùng của văn học nhà nho

1.1 Văn học nhà nho và vấn đề phân loại loại hình tác giả nhà nho trong văn học Việt Nam

1.1.1 Một số giới thuyết về phạm trù tác giả văn học và văn học nhà nho

Khái niệm tác giả văn học

Khi đề cập đến phạm trù tác giả, các nhà nghiên cứu đều nhận thấy tầmquan trọng hàng đầu của nó trong việc xác định tiến trình văn học Phạm trù tácgiả là phạm trù hạt nhân đóng vai trò trung tâm tổ chức và thống nhất các mốiquan hệ văn học Xung quanh vấn đề này đã có nhiều ý kiến tuy khác nhau nhng

đều thống nhất Các nhà nghiên cứu có uy tín, tiêu biểu nh Bakhtin,V.Vinôgrađôp, M.Khrapchencô, v.v Có những quan niệm rất xác đáng về vấn

đề tác giả ở Việt Nam, khoảng vài ba thập kỷ qua, cũng đã có một số công trìnhnghiên cứu theo hớng ấy đã chứng tỏ đợc tính thuyết phục

Về khái niệm tác giả văn học, theo cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học”:

Nhìn bề ngoài, tác giả là những ngời làm ra văn bản ngôn từ: bài thơ,bài văn, bài báo, tác phẩm văn học Về thực chất, tác giả văn học là ngờilàm ra cái mới, ngời sáng tạo ra các giá trị văn học mới Xét về mặt xã hội,tác giả văn học là ngời có ý kiến riêng về đời sống và thời cuộc Đó là ngờiphát biểu một t tởng mới, quan niệm mới, một cách hiểu mới về các hiện t-ợng đời sống, bày tỏ một lập trờng xã hội và công dân nhất định Xét về đặctrng tác giả văn học là ngời xây dựng thành công hình tợng nghệ thuật độc

đáo, sống động, có khả năng tồn tại đợc trong sự cảm thụ thích thú của ngời

Trang 7

đọc Về mặt nghề nghiệp, tác giả văn học ngời xây dựng đợc một ngôn ngữnghệ thuật mới có phong cách, giọng điệu riêng, có bộ mặt riêng trong thểloại, có hệ thống hình ảnh biểu tợng đặc trng riêng [18, tr242]

M.Bakhtin cho rằng tác giả là:

Trung tâm tổ chức nội dung - hình thức của cái nhìn nghệ thuật Thếgiới của cái nhìn nghệ thuật là thế giới đợc tổ chức, đợc chỉnh đốn, đợc hoànthành xuyên qua tính hiện hữu và ý nghĩa xung quanh một con ngời cụ thể,

nh là một trờng giá trị Chúng ta nhìn thấy xung quanh ngời ấy các yếu tốvật thể và tất cả các quan hệ - không gian, thời gian, ý nghĩa đã trở nên có ýnghĩa nghệ thuật nh thế nào Sự định hớng giá trị và sự cố kết, lèn chặt thếgiới xung quanh đã tạo nên thực tại thẩm mỹ của anh ta nhằm phân biệt vớithế giới nhận thức và đạo đức” [51, tr434]

M.Bakhtin nhận thấy rằng chức năng của ngời nghệ sỹ là tạo ra cái nhìnnghệ thuật và hình thức nghệ thuật:

Tôi tìm thấy mình trong hình thức, tìm thấy tính tích cực tạo hình thức

có giá trị sinh sản của mình trong đó, tôi tìm thấy một cách sống động sựvận động sáng tạo khách thể của mình, không chỉ trong hành vi sáng tác,biểu diễn, mà cả trong cảm thụ tác phẩm nghệ thuật [51, tr111]

Với t cách là tác giả, nghệ sỹ có một quan hệ nhất định với thế giới vật liệu

đời sống sẽ tạo thành thế giới nghệ thuật của anh ta, có thái độ nhất định đối vớingôn ngữ mà anh ta sử dụng, có thái độ với nhân vật của mình và các đặc điểmtài năng của chính mình Mỗi tác phẩm nghệ thuật sẽ in đậm dấu ấn chủ quan, cátính sáng tạo của ngời nghệ sỹ Căn cứ vào chất lợng t tởng, nghệ thuật của cáctác phẩm, ngời ta đánh giá tầm cỡ và vị trí của tác giả ấy Trong việc quyết địnhchất lợng nghệ thuật của ngời nghệ sỹ thì ý thức cá tính đóng tầm quan trọng rấtlớn Nhng nh thế không có nghĩa mỗi tác giả nh một khoảng trời riêng tách bạchnhau Giữa họ luôn tồn tại mối liên hệ trớc cùng một hiện thực cuộc sống, cùngmột nỗi lòng, một cảm quan nghệ thuật Đặc biệt là các tác giả cùng thời Cáikhác, cái riêng biệt chính ở chỗ cách họ thể hiện đề tài, chủ đề đó nh thế nào.Còn lại, dẫu sao giữa các tác giả thơ văn sẽ có những ngời cùng chung một conmắt, một tấm lòng khi nhìn về thế giới và nhìn nhận chính bản thân mình Tổnghòa tất cả những đặc điểm loại hình trong các quan hệ và thái độ đó sẽ tạo thànhmột kiểu tác giả nhất định trong lịch sử văn học thuộc một loại hình nhất định.Vấn đề tác giả và loại hình tác giả hiện nay đang đợc giới nghiên cứu quan tâm

Nó là vấn đề có ý nghĩa khoa học cấp thiết trên nhiều phơng diện

Khái niệm văn học nhà nho

Trong văn học việt Nam, tác giả với t cách là một phạm trù văn học và mangtính loại hình đậm nét từng tồn tại với những quy luật thành tạo riêng Tơng ứngvới một loại hình tác giả sẽ là một loại hình văn học Đặc biệt đối với văn họcViệt Nam trung đại, văn học nhà nho và loại hình tác giả nhà nho giữ vai trò hếtsức quan trọng Cha xa cái thời mà ngời Việt Nam coi chữ Hán là chữ ta, coi thơvăn, phú, lục mới là văn chơng Có thể nói, đối với Việt Nam, ảnh hởng của vănhóa Trung Quốc, của Nho giáo thật sâu sắc và toàn diện ở phạm vi văn học,Nho giáo có ảnh hởng lớn, quyết định đặc trng sáng tạo Nó đã tạo nên một loạihình văn học nghệ thuật, đó là văn học nhà nho Văn học nhà nho là văn học củanhững tác giả Nho gia Nho gia là những trí thức phong kiến đợc đào tạo theonho học Họ đi học, đi thi, cầu mong sự đỗ đạt để ra làm quan Các tác giả Nho

Trang 8

gia rèn luyện kỹ xảo viết văn, trau chuốt hơi thơ Đờng, giọng phú Hán, câu đối trớc hết là để thi cử Sau đó làm thơ văn để xớng họa, thù tạc, ngâm vịnh Sángtác của họ có quan hệ chặt chẽ với Nho giáo Nho giáo ảnh hởng trực tiếp đếnvăn học qua quan niệm, thế giới quan, hệ thống thể loại Vì vậy, tính quy phạm,khuôn thớc của văn học nhà nho rất cao Nó giữ vai trò quyết định tạo nên mộtphạm trù thi pháp: thi pháp văn học Việt Nam trung đại Tuy mỗi tác giả đều có

ý thức tạo nên phong cách riêng, nhng nhìn chung sáng tác của họ cha vợt rakhỏi phạm trù thi pháp ấy Văn học nhà nho và loại hình tác giả Nho gia pháttriển, tồn tại với những quy luật sáng tạo riêng Luận văn sẽ đi vào tìm hiểu vấn

đề phân loại loại hình tác giả văn học Việt Nam trung - cận đại nói chung, loạihình tác giả nhà nho nói riêng

1.1.2 Vấn đề phân loại loại hình tác giả văn học Việt Nam trung - cận đại

Trong vài thập kỷ gần đây, những cố gắng tìm kiếm các phơng pháp tiếp cận

đối tợng một cách khách quan hơn, khoa học hơn đã làm xuất hiện và phát triểnmột số định hớng mới về nghiên cứu văn học: loại hình học, thi pháp học và vănhọc so sánh Trong các công trình nghiên cứu loại hình học, cả về mặt lý thuyếtlẫn lịch sử, đã có nhiều công trình loại hình học về phong cách, loại hình học vềthể loại, loại hình học nhân vật Tuy nhiên lại rất ít ngời để ý đến một lý lẽ hiểnnhiên của sự vật: sự khác biệt giữa các trào lu, trờng phái, khuynh hớng, phongcách đến cả sự khác nhau trong hệ thống thế giới quan, nhân sinh quan của nhàvăn lại có nguồn gốc trớc hết ở sự khác biệt trong chính bản thân đội ngũ tác giả

Sự khác biệt mang tính loại hình giữa các chủ thể sáng tạo cần đợc coi làmột trong những tiêu chí định tính, và các nhà nghiên cứu, các nhà làm lịch sửvăn học buộc phải tính đến nó khi phân kỳ các tiến trình lịch sử văn học, khi xác

định các trào lu, các trờng phái, chủ nghĩa trong văn chơng [64, tr18]

Nh vậy phạm trù tác giả cũng đợc tồn tại trong tính loại hình của nó

Loại hình (Pattern) là tập hợp các sự vật, hiện tợng cùng có chung những

đặc điểm nào đó Loại hình học là khoa học nghiên cứu về loại hình Loại hìnhtrở thành khái niệm cơ bản, cơ sở của phơng pháp nghiên cứu khoa học dựa trênnhững đặc điểm cùng loại hình của đối tợng nhận thức nhằm để tập hợp hoặcphân chia chúng Trong tình hình nghiên cứu hiện nay, phơng pháp loại hình có ýnghĩa hết sức quan trọng Chính nhờ phạm trù này mà ngời nghiên cứu có thểphân loại, tập hợp các hiện tợng phức tạp của đời sống Phơng pháp này có ýnghĩa quan trọng khi ngời ta đối diện với vấn đề tơng quan giữa cái chung và cáicá biệt xuất hiện trong nghiên cứu quá trình văn học M Khrapchenkô trong

công trình nghiên cứu Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học đã

xác định mục đích của phơng pháp loại hình là tìm hiểu những nguyên tắc vànhững cơ sở cho phép nói tới tính cộng đồng nhất định về văn học thẩm mỹ, tớiviệc một hiện tợng nhất định thuộc về một kiểu, một loại hình nhất định Với vaitrò nh thế, phơng pháp loại hình không chỉ dùng cho văn học mà cả các ngànhkhoa học khác Theo Trần Đình Sử, tơng ứng với một kiểu văn học thì có mộtkiểu tác giả sáng tạo ra nó Tuy nhiên một tác giả lớn vẫn có thể sáng tác theonhiều kiểu khác nhau Vậy, kiểu tác giả sẽ đợc xác định nh thế nào? Tùy theotiêu chí loại hình cụ thể mà ngời nghiên cứu có thể phân chia hoặc khái quátthành những kiểu tác giả khác nhau Nếu xuất phát từ cái nhìn loại hình - trào lu,phơng pháp sáng tác thì có thể nghiên cứu kiểu tác giả chủ nghĩa hiện thực, lãngmạn, hiện đại Nếu xuất phát từ cái nhìn loại hình - thể loại sáng tác sẽ có loại

Trang 9

hình tác giả thơ, truyện, kịch Dựa vào lịch sử có kiểu tác giả trung đại, hiện đại.Cũng có thể xuất phát từ cái nhìn loại hình - ý thức hệ, t tởng, văn hóa v.v đểkhái quát các kiểu tác giả

Trong thời kỳ trung đại, văn học tồn tại với những đặc trng riêng Văn họctrung đại dù ở phơng Đông hay phơng Tây đều mang đậm tính quy phạm B.LRiptin từng nhận xét: “Tác giả trung đại, dù ở phơng Đông hay phơng Tây, trongmột mức độ lớn đều xây dựng tác phẩm của mình bằng những công thức tu từ vàcốt truyện có sẵn” [49, tr112] Có thể thấy, các tác giả văn học trung đại trongmức độ nhất định đều tuân theo tính quy phạm nghệ thuật của thời kỳ này Tuynhiên trong quá trình sáng tác họ vẫn luôn có ý thức thể hiện cá tính của mình,vun đắp cá tính của mình làm cho mỗi ngời tự trở thành mỗi gia

Tác giả văn học trung đại Việt Nam dĩ nhiên có mang những đặc điểm loạihình của tác giả văn học trung đại nói chung, nhng vẫn có những đặc điểm riêngbiệt Căn cứ để nhận ra kiểu tác giả văn học trung đại Việt Nam trớc hết phảixuất phát từ thực tiễn sáng tác, cũng nh các ý kiến bàn trực tiếp về vấn đề nàycủa họ Đối với tác giả văn học trung đại Việt Nam, có thể xuất phát từ hai góc

nhìn: từ góc độ loại hình - thể loại sáng tác và từ góc độ loại hình - ý thức hệ t ởng, văn hóa để xác định kiểu tác giả Khái quát này là hợp lý vì nó sát đúng với

t-thực tiễn văn học Việt Nam, và mang tính khả thi, có triển vọng để nhìn rộng raloại hình tác giả văn học trung đại của Việt Nam trong sự đối sánh với văn họcmột số nớc trong khu vực Nhìn từ góc độ loại hình - thể loại sáng tác, thấy có

hai kiểu tác giả cơ bản trong văn học trung đại Việt Nam: Kiểu tác giả thơ và kiểu tác giả văn Kiểu tác giả vận văn, biền văn hay tản văn, có thể xem nh là

dạng thức “kiêm nhiệm” của hai kiểu tác giả trên Thực ra một tác giả trung đạithờng “kiêm” rất nhiều t cách Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng kiểu tác giả thơvăn là kiểu tác giả cơ bản nhất Nhìn từ góc độ ý thức hệ t tởng, văn hóa thấy có

hai kiểu tác giả chủ yếu: kiểu tác giả Thiền gia (xuất hiện sớm nhất) và kiểu tác giả Nho gia Khoảng từ nửa sau thế kỷ XIII trở đi, nhà nho dần dần độc chiếm

văn đàn, lực lợng tác giả ngày một đông đảo lên

1.1.3 Vấn đề phân loại kiểu tác giả nhà nho trong văn học việt Nam trung - cận đại

Nếu kiểu tác giả Thiền gia đợc sinh ra từ dòng văn học Phật giáo, thì kiểutác giả Nho gia là sản phẩm của học thuyết Nho giáo Nho giáo vào Việt Nam từthời Bắc thuộc, giữ vai trò độc tôn từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX ở Việt Namcũng nh ở Trung Quốc, trong một thời gian dài Nho giáo đợc coi là ý thức hệchính thống Nó là một học thuyết đề cao ngời đi học, việc học tập, sự nghiệpgiáo dục, sùng thợng văn hiến, lễ nhạc, trân trọng thơ ca, âm nhạc Nhà nớcchuyên chế phong kiến dùng Nho giáo làm hệ t tởng chính thống, đồng thời dùngkhoa cử chọn ngời có nho học tổ chức bộ máy quan liêu ở vị trí ý thức hệ chínhthống, Nho giáo chi phối đến văn học nghệ thuật

Tác dụng chi phối của Nho giáo sâu sắc, nhiều mặt, và qua nhiều nhân

tố khác nhau Tất cả làm hình thành trong lịch sử cả vùng một loại hình văn

sĩ, văn nghệ, một loại hình văn học nghệ thuật, viết cùng những thể loại,theo cùng một quan niệm văn học, cùng những tiêu chuẩn về cái đẹp nghệthuật Nho giáo xác định cho văn học nghệ thuật một vai trò xã hội nhất

định, tạo ra trong xã hội một đời sống văn hóa nhất định, quy định hớng

Trang 10

phát triển của văn học nghệ thuật trong xã hội và vận mệnh của nó tronglịch sử [21, tr21]

Chính vì thế, từ đây hình thành nên một loại hình văn học, một lọai hình tácgiả, giữ vai trò “chính thống” gần suốt thời trung đại Đó là kiểu tác giả Nho gia.Nho giáo từ Trung Quốc vào Việt Nam từ rất sớm, nhng phải đến hàng chục thế

kỷ sau (cuối đời Trần) nó mới có ảnh hởng lớn Trớc đó là thời kỳ cực thịnh củaPhật giáo, của văn học các nhà s Kiểu tác giả nhà nho thực sự độc chiếm văn

đàn khoảng từ thế kỷ XIV đến hết thế kỷ XIX

Có thể nói tác giả Nho gia là những môn đồ của Nho giáo, đợc Nhogiáo (qua chế độ giáo dục, khoa cử gắn với Hán học, Nho học) trang bị và

đào luyện về nhiều mặt: tri thức, vũ trụ quan, nhân sinh quan, thẩm mỹquan, quan niệm văn học, thể loại văn học [12, tr36]

Đây là loại hình tác giả quan trọng nhất, giữ vai trò chủ lực trên văn đàn với

số lợng đông đảo, tác phẩm nhiều Tuy nhiên, Nho giáo không chiếm lĩnh đợctoàn bộ tâm hồn một nhà nho mà cũng không khống chế đợc toàn bộ xã hội Nhànho cũng ít ai là tín đồ thuần thành của Nho giáo Những t tởng Lão -Trang, t t-ởng Phật vẫn chiếm một góc, nhiều khi không nhỏ trong tâm hồn các nhà nho -nghệ sỹ Nói nh Biện Minh Điền: “ở đây ngoài ý thức dân tộc, vẫn thấy có sựtham gia của tinh thần Thiền và t tởng Lão - Trang, nhất là ở những giai đoạnNho gia lâm vào bế tắc, khủng hoảng” [12, tr36] Loại hình tác giả nhà nho ngoàinét chung còn có những nét riêng gắn với đặc điểm tác giả Từ kiểu tác giả Nhogia một số nhà nghiên cứu muốn phân thành ba loại: nhà nho hành đạo, nhà nho

ẩn dật và nhà nho tài tử Còn có những cách phân loại khác, nhng cách phân loạitrên dễ đợc chấp nhận hơn

Điều quan trọng là với cách phân loại này (cũng sát hợp với thực tiễnsáng tác của nhà nho Việt Nam), ngời nghiên cứu có điều kiện hơn trongnhìn nhận, khái quát những biểu hiện đa dạng, độc đáo của kiểu tác giả Nhogia Mặt khác, cũng từ đây, có thể dễ nhận rõ tính loại hình của kiểu tác giảNho gia Việt Nam hơn trong sự đối sách với kiểu tác giả Nho gia của vănhọc một số nớc trong khu vực có chịu ảnh hởng Nho giáo [12, tr37]

Việc phân chia nhà nho thành các kiểu nh trên có ý nghĩa để nghiên cứu loạihình tác giả văn học trung đại Đặc biệt nhà nho tài tử là một hiện tợng độc đáo.Tuy vậy, tình hình thực tế không đơn giản do tính chất giao thoa thể hiện ở nhiềunhà văn lớn Ranh giới giữa nhà nho hành đạo và ẩn dật không dễ phân biệt rạchròi

Từ Chu Văn An cho tới Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn

Đình Chiểu đều quan tâm thời cuộc và đều coi thờng danh lợi, muốn gần gũithiên nhiên, ca ngợi ẩn sỹ Nguyễn Khuyến quy ẩn mà không thôi quan tâmthời chính, Nguyễn Công Trứ và nhiều tác giả “tài tử” thực ra cùng loại với

đại ẩn” [51, tr443, 444]

Sự phân chia này cũng chỉ mang tính chất tơng đối

Kiểu tác giả nhà nho hành đạo

Đối với nhà nho, sau khi đỗ đạt ra thi hành đạo lý Nho gia, vấn đề xuất, xử tơng ứng với hai thái độ ứng xử hành, tàng - luôn luôn đặt ra Từ đây, ta có thểkhái quát thành hai loại nhà nho hành đạo và ẩn dật - hai loại hình đợc coi làchính thống, và có thể luôn thay đổi cho nhau, lắm khi diễn ra ngay trong cùngmột nhà nho

Trang 11

-Nhà nho hành đạo về cơ bản đợc cơ chế hóa thành bộ máy quan liêu củatriều đình Cơ sở kinh tế của loại hình nhà nho này là lơng, bổng và lộc Nhà nhohành đạo muốn thực hành những nguyên tắc của đạo lý Nho giáo, sẵn sàng dấnthân nhập cuộc thực hiện lý tởng “Trí quân trạch dân”, mong ớc một xã hộiphong kiến mẫu mực theo mô hình Nghiêu Thuấn Hình tợng tác giả hiện lêntrong sáng tác của họ luôn với t cách là con ngời hành động, thực tiễn, u thờimẫn thế, sẵn sàng xả thân thủ nghĩa Sáng tác của nhà nho hành đạo gắn liền vớiquan niệm về văn học của học thuyết Nho giáo Văn học của Nho giáo chínhthống là một thứ văn học “chí thiện”, phải hoàn toàn phù hợp với những tiêuchuẩn đạo đức, đợc đo bằng những thớc đo đạo đức Thơ văn chủ yếu để bộc lộ

“tâm”, “chí”, “đạo”

Vì nhằm mục đích giáo hóa, văn học có chức năng truyền đạt chứkhông có chức năng phát hiện, phản ánh, nhận thức Nó hớng về bắt chớc,thể hiện Đạo chứ không cố gắng về mặt tìm tòi, sáng tạo hình thức để mô tả,tái hiện thực tế Đối với thực tế nó thiên về phẩm bình, tìm ý nghĩa đạo lýhơn là băn khoăn tìm hiểu [22, tr116]

Nhà nho hành đạo, một cách tự nhiên, gắn bó mật thiết với quan niệm vănhọc đó Với họ, văn chơng dĩ nhiên là công cụ chính trị, là phơng tiện để thực thigiáo hóa Đại đa số họ là những ngời từng dày công học tập, rèn luyện kỹ xảovăn chơng, nhiều tác giả thực sự có tài năng nghệ thuật Lịch sử văn học trung

đại với hàng loạt tác giả lớn, nổi tiếng đã minh chứng điều đó Sáng tác của nhànho hành đạo mang đậm màu sắc đạo lý, mang tính quy phạm cao trên cả hai ph-

ơng diện nội dung, t tởng và hình thức, thể loại, ngôn ngữ Kiểu tác giả này cóvai trò hết sức quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc Nó góp phần quyết địnhtạo nên diện mạo văn học của một thời

Kiểu tác giả nhà nho ẩn dật

Nhà nho ẩn dật nh là một biểu hiện đối cực của loại nhà nho hành đạo Họphủ nhận việc “hành đạo” (Loại hành đạo “ngu trung”, thiếu tỉnh táo) Nếu cơ sởkinh tế của loại hình nhà nho hành đạo là bổng lộc, thì cơ sở kinh tế của nhà nho

ẩn dật là nền kinh tế tự cấp tự túc “Không xuất chính, không nhận áo mũ củatriều đình, không vớng bận nhiều với thân phận thần tử, lại thuộc về loại ngời đợctriều đình miễn mọi thứ lao dịch, tô thuế, ngời ẩn dật “cày lấy ruộng mà ăn, đàolấy giếng mà uống" [64, tr44] Lý do dẫn một nhà nho đến sự lựa chọn đời sống

ẩn dật thờng có nhiều nguyên nhân Một số lớn trong họ vốn là những ông quanbất đắc dĩ lui về ẩn dật Một số khác ngay từ đầu đã chán nản với những phức tạpcủa sự đảo lộn triều chính, không muốn vớng bận vào đời sống chính trị nênchọn lối sống ẩn mình Lý do thờng thấy nhất là: nớc loạn, hay nớc bị ngoại bangcai trị, triều đại cầm quyền bị coi là không chính thống, bị quyền thần lũng đoạn.Khi nhà nho ẩn dật đã trở nên một định hớng tồn tại độc lập, văn chơng ẩn dật trởthành bộ phận thứ hai của văn chơng Nho giáo Tác giả ẩn dật trong văn học ViệtNam có thể kể từ Huyền Quang Lý Đạo Tái, Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm,Nguyễn Hàng, Nguyễn Dữ đến Ngô Thế Lân, Nguyễn Thiếp, Nguyễn Khuyến.Khác với sáng tác của các nhà nho hành đạo, sáng tác của ngời ẩn dật không bịràng buộc vào yêu cầu giáo hóa trực tiếp Trong quan niệm về văn chơng, họ vẫnchịu sự chi phối của những quan điểm “văn dĩ tải đạo”, “thi dĩ ngôn chí” Tuynhiên, ở ngời ẩn dật, “chí” lại thờng đồng nghĩa với “bất đắc chí” Vì thế, ta mớinhìn thấy ở họ những tâm sự, xúc cảm thành thực hơn, mang sắc thái chiêm

Trang 12

nghiệm của con ngời cá nhân một cách rõ ràng hơn Nhà nho ẩn dật luôn muốngiữ mình đợc trong sạch Vì vậy, “đề cao và bảo toàn danh tiết là đặc điểm cơbản, chủ đạo trong ý thức, t tởng của tác giả ẩn dật Để thực hiện đợc điều này tr-

ớc hết họ tìm đến một môi trờng, không gian “vô trần”, cô tịch, tránh mọi sự liên

hệ của xã hội” [12, tr37] Họ coi thờng danh lợi, “quên” cả dòng thời gian thế sự

Tự nhận mình là kẻ “lời biếng, ngu dốt”, “vụng về, bất tài”, họ cho mình cáiquyền chỉ sống với thiên nhiên, cỏ cây, hoa lá, với suối đá, chim muông Ngời ẩndật thờng phóng túng hơn trong sinh hoạt, “có thể ung dung thởng thức cái đẹpcủa tạo vật, cái lạc thú bình dị của đời sống: an nhàn, bình ổn, không lo âu,không vớng bận vì bổn phận, trách nhiệm” [64, tr67] Nhng thực hiện đợc điều

đó không dễ dàng gì Thực ra, họ cũng khó tránh đợc những dăng mắc của lới

đời, không ít trờng hợp phải chấp nhận bi kịch Nhiều ngời, tuy “lánh đục vềtrong” mà vẫn luôn canh cánh một nỗi niềm u ái, vẫn trăn trở về những biến

động của cuộc đời Có thể nói, hình tợng nhà nho giữ Tiết là hình tợng đẹp nhấttrong sáng của tác giả ẩn dật Khuynh hớng chung của t tởng các nhà nho ẩn dật

là đi từ Nho sang Trang

Sự khái quát hai kiểu tác giả nh trên chỉ mang tính tơng đối Không có một

sự ngăn cách tuyệt đối giữa hai loại hình nhà nho này Ngợc lại, thờng có sự đổichỗ giữa họ Trong tâm hồn nhà nho có hai nửa: hành và tàng, trong xử sự có haikhả năng: xuất và xử Họ không nhất định gắn cuộc đời mình vào chỉ một tronghai khả năng nói trên Có thể tìm thấy rất nhiều những biểu hiện của cái tìnhhuống “lỡng nan” nh vậy trong sáng tác của họ Tuy có sự khác biệt lớn giữa haimẫu ngời cơ bản đó của Nho giáo, nhng vẫn có điểm chung nhất khiến họ đều đ-

ợc coi là mẫu ngời chính thống Cả hai mẫu nhà nho này đều cùng thừa nhận vàthực hành những nguyên lý đạo đức của Nho giáo Sáng tác của họ nhìn chungvẫn nằm trong hệ thống sáng tác của văn chơng Nho giáo

Kiểu tác giả nhà nho tài tử

Đến đầu thế kỷ XVIII, hai loại hình nhà nho hành đạo và ẩn dật đều đã đợchoàn thiện, ổn định với những chuẩn mực riêng, với những đại biểu xuất sắc Vaitrò của họ vẫn còn rất quan trọng, kéo dài đến tận nửa đầu thế kỷ XX Nhng,

từ giữa thế kỷ XVIII, đã xuất hiện đồng loạt những tên tuổi của mộtloại hình nhà nho mới, đợc đặc trng bởi những hoạt động không chính thờngtrong mối quan hệ với những tiêu chí của cái chính thống, mà những đónggóp của họ là không thể phủ nhận đợc, đến mức, nếu gạt bỏ chúng thì khôngthể hình dung đợc không chỉ đời sống tinh thần, ý thức, mà cả những biến

động kinh tế, chính trị của các thế kỷ XVIII – 1930 XIX ở Việt Nam [64,tr74]

Đó là kiểu tác giả nhà nho tài tử

Sự xuất hiện của loại hình tác giả này gắn với sự hình thành, phát triển củanhững yếu tố mới: đô thị, t tởng thị dân, con ngời phát hiện ra mình là một thựcthể tồn tại thực sự với những nhu cầu, khát vọng sống cá nhân Trong đó, môitrờng đô thị có vai trò rất quan trọng để tạo nên kiểu tác giả nhà nho tài tử Nếungời hành đạo và ngời ẩn dật là con sinh đôi, thay thế nhau trong những tình thếkhác nhau của xã hội nông thôn - cung đình cố hữu, thì ngời tài tử ra đời chậm(thế kỷ XVIII) gắn với sự phát triển eo hẹp của đô thị Môi trờng đô thị phongkiến đối với nhà nho tài tử có tầm quan trọng quyết định đối với tính chất tài tửcủa họ Thiếu đô thị, thiếu môi trờng ăn chơi phong nhã, nhà nho tài tử cũng chỉtrở lại nhà nho bình thờng Đồng thời với nó,

Trang 13

t tởng thị dân đòi hởng lạc, đòi hỏi hạnh phúc, chống lại thói an bần lạc

đạo xuất hiện, và trở thành xu thế chính Các tài tử ra đời để thay thế cácquân tử, các trợng phu, là những ngời độc chiếm văn đàn trớc đây Các tài tử

ấy học đạo thánh hiền, nhng suy nghĩ theo lối thị dân Nguyễn Du, NguyễnCông Trứ, Cao Bá Quát đều tự xng là tài tử Con ngời tài tử là điển hình mớicủa thời đại Con ngời quân tử bị chế diễu, đạo đức sống khắc kỷ phục lễ bịmạt sát Một trào lu t tởng mới manh nha trong lòng những chàng trai tài tửgiỏi nhất của thời đại [37, tr45]

Các nhà nho trong môi trờng phi cổ truyền sẽ thể hiện những sắc thái t tởng,tình cảm cũng phi cổ truyền, tạo nên trong đời sống một luồng sinh khí mới, vừathể hiện tính tất yếu của sự vận động của bản thân cuộc sống, nhng cũng vừamâu thuẫn với những xác tín, những nguyên lý ứng xử chính thống Nhà nho tài

tử trớc hết, vẫn là nhà nho kể từ nguồn gốc xuất thân, học vấn và quy trình đàotạo, lẫn hệ thống cơ bản trong nhân sinh quan và thế giới quan Là nhà nho, họcũng trải qua một quá trình học tập, tu dỡng dới “Cửa Khổng sân Trình” nh bất

cứ một tri thức nào của thời đại mình Nhng trong một môi trờng sống mới, cảmquan và nhận thức về đời sống ở họ dần dần tự phát biến đổi Họ càng ngày càng

xa rời những quy phạm, chuẩn mực khắt khe, giáo điều của đạo lý Nho giáo

Điểm khác biệt cơ bản giữa ngời tài tử với ngời hành đạo và ngời ẩn dật là ở chỗngời tài tử coi “tài” và “tình” chứ không phải đạo đức làm nên giá trị con ngời

Đây là điều khiến họ tự hào Ngời tài tử quan niệm tài theo nhiều cách Đó là tàitrị nớc, cầm quân, tài trong học vấn, đặc biệt là tài “nhả ngọc phun châu”, “cầm

kỳ thi họa” “Tài” phải gắn với “tình” nữa mới trở thành ngời tài tử Họ cũngmuốn lập công danh, nhng là để trổ tài, chứ không coi đó là mục đích cuộc đời

nh nhà nho hành đạo Ngời tài tử coi trọng thích thú cá nhân, đòi tự do, phóngkhoáng và hởng thụ lạc thú trần tục Chính họ là chủ nhân nền văn học có mầmmống chống Nho giáo, có xu hớng nhân đạo chủ nghĩa Họ bớc đầu phá hoại lễgiáo bằng những nét có trong năng lực và cá tính: “tài” và “tình” Nhng, nhìnmột cách tổng quát, nhà nho tài tử vẫn là nhà nho với nhận thức luận duy tâmchủ quan, trong nhân sinh quan vẫn bị những tiêu chuẩn cơ bản của đạo đức Nhogiáo ngự trị “Và nhìn toàn bộ sáng tác của họ ở cả chữ Hán và chữ Nôm - họkhông chống quan niệm văn học Nho giáo” [21, tr54] Nhà nho tài tử đã cónhững đóng góp độc đáo cho văn học Việt Nam trung - cận đại Vai trò của họngày càng đợc đánh giá cao, chân xác hơn trong lịch sử văn học dân tộc

1.2 Vai trò, vị thế của kiểu tác giả nhà nho tài tử trong văn học Việt Nam trung - cận đại

1.2.1 Nhà nho tài tử giữ một vị thế quan trọng với những đóng góp xuất sắc, mới mẻ về t tởng sáng tạo

ở Việt Nam, sự xuất hiện và phát triển của loại hình nhà nho tài tử gắn vớigiai đoạn phát triển cao nhất của lịch sử văn học dân tộc thời kỳ tiền t bản chủnghĩa (XVIII nửa đầu XIX) Tuy xuất hiện muộn màng hơn nhà nho hành đạo và

ẩn dật nhng loại nhà nho tài tử có vị trí hết sức đặc biệt trong sự phát triển của xãhội nói chung, của văn học nghệ thuật nói riêng ảnh hởng của loại hình nhànho này còn quan sát thấy một cách sâu sắc trong sự phát triển tiếp tục của vănhọc Việt Nam cho đến tận thời kỳ hiện đại Sự xuất hiện đông đảo của đội ngũnhà nho tài tử khiến nội dung sáng tác đợc đổi mới về chất Thành tựu quan trọng

Trang 14

nhất của văn chơng ngời tài tử là trào lu nhân đạo chủ nghĩa thế kỷ XVIII - nửa

đầu thế kỷ XIX Trớc đó, từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, văn học phát triển với cảmhứng chủ yếu là yêu nớc Hào khí Đông A, những khúc ca khải hoàn hào sảngtrong chiến thắng tạo nên đặc trng riêng của văn học thời kỳ đó Sau này, văn họcdần dần đi vào xu hớng tố cáo hiện thực Những thói h, tật xấu của xã hội đợcphản ánh vào thơ ca Song, trong một chừng mực nào đó, nó còn cha quyết liệt

đến mức phủ nhận Sang giai đoạn nửa sau thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX,khi chế độ phong kiến khủng hoảng trầm trọng, ý thức hệ phong kiến đã suy tàn,thì văn học phát triển rực rỡ với cảm hứng chủ yếu là nhân đạo Văn học lúc nàyphần lớn tập trung vào vấn đề con ngời, nhận thức con ngời, đề cao con ngời, và

đấu tranh với mọi thế lực đen tối, phản động của xã hội phong kiến để khẳng

định giá trị chân chính của con ngời Các nhà thơ, nhà văn chủ yếu đứng trên lậptrờng nhân sinh để tố cáo tất cả những cái gì là phản nhân sinh, phản tiến hoá.Trong trào lu nhân đạo chủ nghĩa ấy, các nhà nho tài tử có những đóng góp quantrọng Tiếng nói của họ, vấn đề họ đặt ra thờng mới mẻ, độc đáo và tiến bộ Loạihình nhà nho tài tử với Nguyễn Du, Hồ Xuân Hơng, Cao Bá Quát, Nguyễn CôngTrứ đã rất thẳng thắn, chân thành và mạnh mẽ khi nói về giá trị làm ngời, niềmhạnh phúc đích thực của cuộc sống trần thế Những khát vọng, tâm sự, đòi hỏi

đến mức gần nh phá phách lại lễ giáo phong kiến đã tạo cho sáng tác của các nhànho tài tử một sự đột phá về chất, một chiều sâu nhân đạo mới so với văn học tr-

ớc họ

Nhà nho tài tử xuất hiện đánh dấu sự ra đời của một loại hình tác giả mới

Họ đã tạo nên bớc thay đổi hết sức quan trọng cho sự phát triển của văn học Họ

để lại tên tuổi của mình trong lịch sử văn học với t cách là những tác giả văn họclớn Nhiều ngời trong số đó, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, công khai nói

về giá trị chủ yếu của mình nh là một văn sỹ Nhà văn tài tử tự hào về tài năngthơ ca Nguyễn Du đã từng tình nguyện “Bách niên cùng tử văn chơng lý” (Trămnăm chết nghèo giữa văn chơng), làm “Điệp tử th trung” (Con bớm chết giữatrang sách) Họ tự hãnh diện về tài “nhả ngọc phun châu”, và cũng coi đó là yếu

tố quyết định trong phẩm chất của ngời tài tử Chính ý thức đó đã tạo nên mộtkiểu nghệ sỹ mới trong văn học Việt Nam trung đại ý thức sâu sắc về phẩm chấtcá nhân, ngời tài tử có khát vọng giải phóng nhân cách, giải phóng những tìnhcảm trần thế và đòi hỏi thõa mãn những nhu cầu sống của thực tế Họ khôngmuốn sống một cuộc sống âm thầm, phẳng lặng Họ muốn đợc thể hiện hết bảnthân mình, và cũng muốn nếm trải toàn diện các lạc thú của đời sống ý thức ấy,quan niệm sống ấy đã tạo nên những cá tính độc đáo, phá cách của văn học trung

đại Việt Nam Với ý thức và khát vọng sống đợc trỗi dậy mạnh mẽ nh thế, nhànho tài tử đã tạo nên sự đổi thay rất lớn về mặt nội dung của văn học Đó là b ớcphát triển mới trong quan niệm về nghệ thuật, là sự thay đổi của hệ thống đề tài,chủ đề, hình tợng, là sự thể hiện rất rõ con ngời cá nhân, cái tôi tác giả trong thơ

Đối chiếu với loại hình nhà nho hành đạo và ẩn dật, thì sáng tác của kiểu nhà nhotài tử có sự khác biệt nhiều, mang những đặc trng đặc sắc Họ không chỉ có vaitrò quan trọng đối với văn học trung đại mà còn có ảnh hởng lớn đến văn họchiện đại Nhìn một cách tổng thể thì những chủ đề, đề tài, cả đến cảm hứng chủ

đạo và hình tợng văn học cơ bản của văn chơng ngời tài tử đều trở lại trong vănhọc mới sau 1930

1.2.2 Những cách tân về nghệ thuật thể hiện

Trang 15

Sáng tác của các nhà nho tài tử dẫu sao vẫn nằm trong hệ thống thi pháp củavăn học trung đại Với cái nhìn tổng thể, văn chơng của họ cha thoát hẳn ra cáiquy phạm chung đó Tuy nhiên, để trở thành một hiện tợng văn học mới mẻ, độc

đáo, thì văn học của loại hình nhà nho này phải có đợc điều gì khác trớc Cáikhác đợc đánh giá cao ấy là những đóng góp của họ (không chỉ ở mặt nội dung

mà cả trên mặt hình thức) Xét về mặt hình thức, tác phẩm của nhà nho tài tử đã

có những yếu tố mới đầy tính sáng tạo, thậm chí đến Tản Đà, biểu hiện “cáchtân” đă rất rõ Một nền văn học phát triển đến giai đoạn trởng thành phải đợc

đánh dấu về mặt hình thức trớc hết bởi việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc Văn họcViệt Nam trung đại sử dụng hai thứ ngôn ngữ: Hán và Nôm Chữ Nôm tuy ra đờimuộn hơn nhng nó thể hiện cao tinh thần tự hào dân tộc Các nhà nho tài tử đãdành sự u ái của mình đối với ngôn ngữ dân tộc ấy Đã lâu các nhà nho cảm thấy

sự gò bó của văn chơng đạo lý và cố gắng thoát ra khỏi những cấm kỵ của nó ởViệt Nam, khuynh hớng đó ngày càng lớn dần với những tác phẩm ca tụng tìnhyêu, ca tụng tài tình, ca tụng sự cuồng phóng ngoài lễ giáo Muốn nói những điềukhác với văn chơng thánh hiền nh vậy chỉ có thể viết bằng văn Nôm Cho nên,văn Nôm từ thế kỷ XVII - XVIII cho đến Tản Đà là miếng đất dành cho nhữngtình cảm thiết tha, cho tự do, cho cá nhân, cho tình yêu và cho cả những lời chuacay, mỉa mai, khinh bạc trớc thói đời nữa Điều đó, nằm chủ yếu ở các nhà nhotài tử Nguyễn Du, Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Công Trứ, Chu Mạnh Trinh, Trần TếXơng mang lại cho văn học Việt Nam những tác phẩm đặc sắc Đặc biệt, Tản

Đà còn sáng tác bằng cả chữ quốc ngữ Các nhà nho tài tử có vai trò rất lớntrong việc sử dụng, trau dồi ngôn ngữ dân tộc, làm cho nó gần gũi với đời sống

và ngày càng hiện đại hơn

ở một phơng diện khác, giai đoạn trởng thành của một nền văn học dân tộc

đợc ghi nhận bởi sự xuất hiện của các thể loại văn học đặc định của dân tộc đó.Các nhà nho Việt Nam tiếp thu văn học Trung Quốc khi nền văn học đó đã đạt

đến đỉnh cao có giá trị cổ điển Nó tạo nên hai mặt Mặt tích cực là tạo ra nhữngsản phẩm ở trình độ cao, với những thể văn học đã đợc thử thách, một ngôn ngữvăn học đã đợc tinh luyện Mặt khác, chính do những thuận lợi ấy, sẽ sinh ramặc cảm, tự ti hạn chế sự tìm tòi, sáng tạo bản địa Ngời nghệ sỹ bằng lòng vàtuân thủ một cách ngặt nghèo theo những khuôn khổ, quy định Trong chế độphong kiến, những cái sáng tạo, phá cách dễ bị xem là nổi loạn Thành kiến nàykìm hãm rất nhiều đến sự phát triển của văn học Song, sự xuất hiện của đội ngũnhà nho tài tử khiến cho nội dung sáng tác đợc đổi mới về chất Đồng thời cũngxuất hiện nhu cầu tạo ra những thể loại “thuần Việt”, những cái hoặc cha tồn tại,hoặc rất mờ nhạt ở các giai đoạn trớc: Ngâm khúc, truyện Nôm, thơ ca trù Tácgiả của các tác phẩm thành công nhất trong ba thể loại này đều là nhà nho tài tử

Họ mang lại luồng sinh khí mới mẻ trong đời sống văn học đã quá quen thuộc,khuôn thớc thời trung đại

Nói tóm lại, kiểu tác giả nhà nho tài tử có vai trò rất lớn đối với, văn họcViệt Nam trung đại Sự đổi mới độc đáo của họ còn đợc các tác giả văn học hiện

đại thừa kế, phát triển Nếu không nghiên cứu kỹ đội ngũ tác giả này thì chúng takhông thể hình dung đợc diện mạo văn học Việt Nam trung đại

1.3 Nhà nho tài tử trong bối cảnh giao thời, chuyển đổi giữa hai phạm trù văn học trung đại và hiện đại

Trang 16

1.3.1 Bối cảnh văn hóa, văn học Việt Nam chặng đờng cuối thế kỷ XIX

-đầu thế kỷ XX

Từ thế kỷ XVI, đặc biệt từ giữa thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX, chế độphong kiến càng ngày càng suy yếu, rệu rã, đến giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX nóthực sự lâm vào khủng hoảng, khủng hoảng một cách toàn diện Đây là chặng đ-ờng có nhiều biến động dữ dội Thực dân Pháp xâm lợc nớc ta và cuộc khángchiến chống Pháp xâm lợc của nhân dân là sự kiện trung tâm lúc này Sự kiệnthực dân Pháp xâm lợc đã gây nên một sự phân hóa lớn trong trạng thái tâm lýcác giai cấp trong xã hội, mà trớc hết là triều đình nhà Nguyễn Trong triều đìnhhình thành nhiều phe phái, có phái chủ hòa, có phái chủ chiến, có phái thì cơ hội

đợi thời Có thể nói triều đình đã bỏ rơi dân tộc, bỏ rơi nhân dân, bỏ rơi vai tròcủa nó trớc các nhiệm vụ lịch sử Cho đến hiệp ớc Patenotre 1884, triều đình nhàNguyễn đã dâng hoàn toàn đất nớc ta cho giặc Từ đây, chế độ Thực dân nửaphong kiến hình thành Đấy là một chế độ xã hội đầy rẫy xấu xa, đồi bại vớinhững lai căng, phản dân tộc, mọi giá trị đều bị đảo lộn Đối đầu với cuộc xâm l-

ợc của Thực dân Pháp, cuối cùng chỉ có nhân dân Ngọn cờ chống xâm lợc trongtay nhân dân đã có sức thu hút mạnh mẽ các văn thân, sỹ phu đứng về phía đạinghĩa dân tộc mà kháng chiến dới danh nghĩa Cần Vơng Nhng phong trào CầnVơng và cuộc khởi nghĩa Yên Thế cũng thất bại Chính quyền thực dân đã có thểyên tâm nhào nặn chính phủ Nam triều theo ý đồ sử dụng của mình Cả xã hộiViệt Nam chuyển mình một cách đau khổ và nhục nhã thành một xã hội thuộc

địa Những nhân vật đại diện cho một hình thái kinh tế – 1930 xã hội mới rồi cũngdần dần xuất hiện Các đô thị èo uột, rời rạc xa giờ trở nên nhộn nhịp, sầm uất.Trong môi trờng đô thị trở thành thành thị t bản chủ nghĩa ấy, xuất hiện hàng loạtmẫu ngời mới Và kéo theo đó, đời sống văn hóa, văn học có nhiều thay đổi Lúcnày, Nho giáo vẫn đợc coi là quốc giáo nhng vị thế của nó không còn nh trớc.Ngoài Nho giáo thì Phật giáo, Đạo giáo và nhiều tín ngỡng khác cũng rất pháttriển Thực dân Pháp vừa đánh nhau với ta, vừa bắt đầu chú ý đến những hoạt

động văn hóa ở nớc ta, một số sỹ phu cấp tiến đã đề ra những chủ trơng cải cáchxã hội Song, ý tởng đó không thể thực hiện Trong bối cảnh ấy, văn học giai

đoạn nửa cuối thế kỷ XIX vừa kế thừa truyền thống văn học của dân tộc, vừa cónhững nét độc đáo riêng Văn học nửa cuối thế kỷ XIX tất yếu có sự đổi mới vềnội dung và hình thức Có một đặc điểm cần lu ý là văn học giai đoạn này khôngphát triển theo một khuynh hớng duy nhất Trớc cuộc chiến chống thực dânPháp, cách nhìn và thái độ của các tầng lớp ngời trong xã hội không giống nhau.Tơng ứng với điều đó, văn học tất phải chia thành nhiều khuynh hớng Trong đó,văn học của nhóm các nhà nho tài tử dần dà phục hiện trở lại, nh: Dơng Lâm, D-

ơng Khuê, Chu Mạnh Trinh Sáng tác của họ, xét một cách khách quan cónhững đặc sắc đáng kể

Tiếp đó, đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp đã bình định xong nớc ta về mặtquân sự thì đã tiến hành mở rộng hoạt động về văn hóa, t tởng Các phong tràoyêu nớc, chống thực dân Pháp tìm con đờng giải phóng dân tộc vẫn tiếp tục nổ

ra, nhng đều thất bại Thực tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX không chỉ là thực

tế mất nớc, đấu tranh giành độc lập mà còn là thực tế t sản hóa, thực tế thay cũ

đổi mới mọi mặt đời sống Văn học không còn phát triển êm đềm Những biến

động của thời đại lôi kéo văn học sang nẻo đờng mới Các phong trào văn họcrầm rộ sôi động cả xã hội Nó đòi hỏi đợc đổi mới, đòi Âu hóa Trong tình hình

đó, các nhà nho cũng cố gắng để cách tân

Trang 17

Nh vậy, trong chặng đờng cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, nhóm nhà nhotài tử đã dần dà phục hiện trở lại Nhóm nhà nho tài tử này có sự vận động vớinhững đặc trng riêng Sáng tác của họ, xét đến cùng, có ý nghĩa khá đặc biệttrong bối cảnh giao thời, chuyển đổi giữa hai phạm trù văn học trung đại và hiện

điều, khuôn khổ Chính họ tạo cơ sở, nền tảng cho văn học tài tử về sau tiếp tụcphát triển Nhà nho tài tử, vào giai đoạn trớc khi Pháp xâm lợc thờng tham dựvào chính trờng theo cách dùng hoạn lộ nh phơng tiện để hiện thực hóa bản ngã,cha bao giờ nhất thể hóa với chính quyền nh nhà nho hành đạo Đến giai đoạnCần Vơng gần nh lặng tiếng im hơi Tới cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khicông cuộc bình định của thực dân Pháp đã xong thì nhóm nhà nho tài tử dần dàxuất hiện trở lại Thái độ của các giai cấp, tầng lớp ngời trớc hiện thực khônggiống nhau Trong đó, thái độ của các nhà nho tài tử lúc này cũng là một cáchứng xử

Cuối XIX đầu XX, đời sống tinh thần nói chung, đời sống nghệ thuậtnói riêng vẫn còn là mảnh đất giao tranh quyết liệt giữa các thế lực đốilập Trong ý nghĩa đó, việc duy trì mạch văn chơng cuối thế kỷ XIX vớicác tác giả Chu Mạnh Trinh, Dơng Khuê đáng đợc ghi nhận lại một cáchcông bằng [64, tr192]

Nh vậy, cuối thế kỷ XIX, xã hội vẫn còn đảm bảo những điều kiện để choloại hình nhà nho này tồn tại Chủ nghĩa t bản phản động và t tởng t sản ở một n-

ớc thuộc địa không đủ sức đem lại cho họ một lý tởng nhng lại thừa sức đem lạicho họ một môi trờng, điều kiện và phơng tiện ăn chơi Họ đi xa hơn trong việclảng tránh trách nhiệm giải quyết những vấn đề lớn lao của dân tộc một cách

đúng mức ở vào tình hình đặc biệt này, văn học nhà nho tài tử không còn khẩukhí hùng hồn Sáng tác của nhà nho tài tử hay xoay vào đề tài đặc trng vốn dànhcho họ từ thế kỷ XVIII, XIX: tình, hởng lạc Dơng Khuê, Dơng Lâm, Chu MạnhTrinh ở trong số này

Càng về cuối thế kỷ XIX cho tới đầu thế kỷ XX, xã hội ngày càng t sản hóacao độ Xã hội t sản hóa đòi hỏi ở các cá nhân hàng loạt những phẩm chất mới,không quen thuộc trong môi trờng hoạt động của nhà nho, cho dẫu đó là nhà nhotài tử Từ Trần Tế Xơng đến Tản Đà, nhà nho tài tử đã bớc hẳn vào môi trờngthành thị t sản hóa Nhng, trớc vấn đề tiến hóa của xã hội, họ không thể nhậpcuộc một cách hữu hiệu vào hớng phát triển của xã hội t sản hóa Lúc này diễn ramột nghịch lý chua xót: “Khi xã hội mới tạo ra nhiều tiền đề để thõa mãn đòi hỏigiải phóng năng lực, giải phóng tài năng cá nhân, thì cũng là lúc nhà nho tài tửcảm thấy mình trở nên lạc lõng và xa lạ” [64, tr193] Điều mà họ tự hào “tài”,

“tình” đến đây xem ra không còn hợp thời Đối diện với xã hội hiện đại hóa,

Trang 18

những phẩm chất quy mô của tài năng ngời tài tử tỏ ra không còn phù hợp,không đáp ứng những đòi hỏi của thời đại mới Văn chơng thành hàng hóa Còncái “tình” ngời tài tử đã trở nên lạc hậu, bị tình yêu theo cách hiện đại phủ địnhnhanh chóng Chính Tản Đà đã hoảng hốt thốt lên: thật là thơng luân bại lý! Mặtkhác, “ngời tài tử cùng đờng phát triển lên đã gặp phải anh tiểu t sản bế tắc, chủnghĩa cá nhân cực đoan vì thiếu ánh sáng của t tởng xã hội, cách mạng chânchính, mà nhuốm rất nhanh sắc thái suy đồi” [65, tr423] Dẫu sao, nhà nho tài tửvẫn có sự ràng buộc của con ngời chức năng dù rất vô hình nhng nghiêm ngặt.

Nó đợc d luận xã hội, môi trờng hoạt động và gia phong bảo vệ rất vững vàng

Điều đó là cái khác cơ bản nhất giữa ngời tài tử và ngời tiểu t sản Tất cả những

điều đó khiến nhà nho tài tử không thể nhập cuộc vào đời sống mới Sự biến dạngcủa văn chơng tài tử trong môi trờng xã hội t sản hóa không giúp họ kéo dài đợcbao lâu vận mệnh của giai cấp mình Loại hình nhà nho tài tử đi dần vào chungcục Xét trong tiến trình vận động toàn cục, Tản Đà là nhà nho tài tử thực sự cuốicùng có ý nghĩa kết thúc một loại hình tác giả trong văn học sử

Trong môi trờng thành thị, hợp pháp, sáng tác của Tản Đà là sáng tác củamột nhà nho tài tử, mà toàn bộ quá trình sáng tác là một quá trình trở lại: tiểu tsản hóa, t sản hóa một vài yếu tố trong thời kỳ đầu, nhng càng về cuối, Tản Đàcàng bộc lộ rõ những hạn chế cơ bản của một dòng văn học cũng bị phủ định Sáng tác của tác của Tản Đà đã tuân theo quy luật vận động dẫn đến tàn cục củadòng văn học cũ” [65, tr427] Loại hình nhà nho tài tử kết thúc vai trò trong lịch

sử văn học dân tộc “Nhng hầu hết những vấn đề mà họ đặt ra gần nh giữ nguyên

ý nghĩa thời sự, đều đòi hỏi những giải pháp mang tính xã hội rộng lớn” [64,tr193]

Nói tóm lại, kiểu tác giả nhà nho tài tử giai đoạn cuối thế kỷ XIX - đầu thế

kỷ XX có đóng góp rất lớn cho văn học dân tộc ở cả phơng diện nội dung lẫnhình thức Đặc biệt ở giữa hai nền văn học cổ điển và hiện đại, cái cời cay độccủa Tú Xơng, cái cô đơn sầu não, tình yêu vẩn vơ và giọng thơ miên man củaTản Đà là những hình thức quá độ Nó có nhiều yếu tố xa lạ với quan niệm vănhọc, quan niệm cái đẹp của Nho giáo, và gần hơn với văn học hiện đại Nhng tấtcả sự vợt rào thi pháp trung đại ấy cha đủ sức giữ loại hình tác giả này tồn tại.Văn học nhà nho tìm cách thích ứng với xã hội hiện đại nhng bất lực Vì thế, nódần đi đến tàn cục

Chơng 2 Cảm quan nghệ thuật và sự thể hiện cái tôi tác giả

2.1 Cảm quan nghệ thuật

2.1.1 Khái niệm cảm quan nghệ thuật và các phơng diện biểu hiện

Cho đến nay khái niệm cảm quan nghệ thuật vẫn cha đợc xác định đầy đủ.Xuất phát từ cách dùng khái niệm “cảm quan” của một số nhà nghiên cứu có uy tín,trên cơ sở đó, chúng tôi mong bớc đầu xác lập nội hàm của khái niệm này

Theo G.N Pospelov:

Mỗi nhà văn bao giờ cũng có thiên hớng lựa chọn và miêu tả nhữngtính cách nhất định Thiên hớng ấy hình thành không chỉ do đặc điểm kinhnghiệm sống riêng của nhà văn, do tài năng cá nhân mà trớc hết là do nhàvăn thuộc về một trào lu t tởng xã hội nào đó và do đó mà có đợc một thếgiới quan nhất định [16, tr134]

Theo ông, sự quan tâm của nhà văn về mặt này hay mặt khác của cuộc sốngkhông phải do thiện cảm của anh ta, mà là do “những đặc điểm trong cảm quan

Trang 19

về thế giới” của anh ta quy định Cảm quan đó cũng sẽ quy định cái nhìn, sự

đánh giá bằng cảm xúc khác nhau của các nhà văn khi họ cùng viết về một đối ợng Nhà nghiên cứu đã xác định vai trò cảm quan của nhà văn trong mối liên

t-hệ biện chứng với thế giới quan t tởng Cảm quan của nhà văn bắt nguồn từ thếgiới quan của anh ta, và nó chi phối mạnh mẽ anh ta trong việc lựa chọn đề tài,xác định chủ đề, và sự miêu tả, biểu hiện

ở việt Nam, ngời ta cũng nói nhiều về các loại cảm quan cụ thể: Cảm quanhiện thực, cảm quan lãng mạn, cảm quan trào phúng, cảm quan cách mạng Nhìnchung, khi tìm hiểu cảm quan của một nhà văn nào đó, các nhà nghiên cứu đều

đặt nó trong nhiều bình diện và luôn quan tâm đến sức mạnh chi phối của nó đốivới sự sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Theo Trần Đình Sử: cái nhìn nghệ thuật

là phơng diện quan trọng nhất biểu hiện cảm quan của ngời nghệ sỹ Nghiên cứu

về cái nhìn con ngời của Nguyễn Du trong “Truyện Kiều”, ông xác định: “mâuthuẫn trong thế giới quan có thể là một nhợc điểm, một hạn chế Nhng cái nhìnnghệ thuật nhiều chiều lại là một u điểm, nó cho phép thể hiện thực tại trong tất

cả các mâu thuẫn, trong tính đa thanh, phức điện của nó" [50, tr370] Cái nhìn là

phơng diện đặc biệt trong cảm quan của nhà văn Nó có quan hệ với thế giớiquan, nhng không phải thuần túy là vấn đề lập trờng, t tởng Nó là cái nhìn nghệthuật thể hiện sự kết tinh giữa t tởng và quan niệm nghệ thuật của nhà văn về conngời và cuộc đời Quan niệm nghệ thuật cũng là một phơng diện quan trọng củacảm quan nghệ thuật, và nó chi phối lớn đến tác phẩm Từ chiều sâu của nộidung t tởng, sự sâu sắc hay không trong cái nhìn đời, nhìn ngời tới việc lựa chọnhình thức nghệ thuật đều chịu sự tác động của quan niệm nghệ thuật

Có thể xác định: cảm quan của nhà văn là một vấn đề đợc biểu hiện trênnhiều phơng diện, đặc biệt ở ba phơng diện chính: quan niệm nghệ thuật, cảmhứng sáng tạo và cái nhìn về con ngời, và thế giới Trên cơ sở này, khi đi tìm hiểu

đặc điểm của kiểu tác giả nhà nho tài tử giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX - đầu thế

kỷ XX, luận văn chúng tôi xác định một trong những vấn đề quan trọng đángquan tâm hàng đầu là cảm quan nghệ thuật Theo đó, các vấn đề cụ thể: quanniệm nghệ thuật, cảm hứng sáng tạo, cái nhìn sẽ đợc trình bày nh là những nhân

tố làm nên cảm quan của loại hình tác giả nhà nho tài tử

2.1.2 Quan niệm nghệ thuật

2.1.2.1 Quan niệm nghệ thuật của lớp nhà nho tài tử trong văn học nửa sau thế kỷ XIX

Tác phẩm vẫn đợc xem xét nh là biểu hiện của một quan niệm văn học

Nh-ng quan niệm Nh-nghệ thuật khôNh-ng chỉ chi phối sáNh-ng tác mà còn chi phối cả cách ởng thức, cách đánh giá văn học Nhiều khi ngời ta từ bỏ một quan niệm này đểchấp nhận một quan niệm khác, điều đó nó đánh dấu sự vận động của đời sốngvăn học Nói tới quan niệm (con cept) là nói tới một phơng thức, một cách giảithích đối với một đối tợng, hiện tợng, quá trình nào đó, là một quan niệm cơ bản

th-đối với chúng, là t tởng chỉ đạo th-đối với một hoạt động có tính hệ thống Thuậtngữ quan niệm cũng đợc dùng để chỉ một cấu tứ chủ đạo, một nguyên tắc tạodựng trong các loại hoạt động khoa học, công nghệ, chính trị ở đây “quanniệm” đợc hiểu là cách tiếp cận đối tợng, sự cảm nhận, cảm thụ đối với đời sống.Gắn liền với điều đó còn là nguyên tắc cấu tứ, xây dựng nghệ thuật, những thủ

pháp nghệ thuật khi miêu tả, biểu hiện Theo Từ điển thuật ngữ văn học

Trang 20

Quan điểm nghệ thuật thể hiện cái giới hạn tối đa trong cách hiểu thếgiới và con ngời của một hệ thống nghệ thuật, thể hiện khả năng, phạm vi,mức độ chiếm lĩnh đời sống của nó Quan điểm nghệ thuật là hình thức bêntrong của sự chiếm lĩnh đời sống của nó, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hìnhthức nghệ thuật, nó gắn với các phạm trù phơng pháp sáng tác, phong cáchnghệ thuật và làm thành thớc đo của hình thức văn học và cơ sở của t duynghệ thuật [18, tr229, 230]

Rõ ràng, tác phẩm đợc sáng tạo nên là sản phẩm của một quan niệm thẩm

mỹ, quan niệm văn học Nó quy định cách chiếm lĩnh đời sống của tác giả.Quan niệm nghệ thuật không ổn định mà có sự phát triển Thông qua nó, ngời ta

sẽ biết đợc sự tiến hóa của văn học Đến với văn học Việt Nam, ngời nghiên cứuxác định đợc sự khác biệt về mặt quan niệm của thời trung đại và hiện đại Vănhọc trung đại chịu sự ảnh hởng mạnh mẽ của Nho giáo Theo quan niệm văn họccủa Nho giáo, văn học có nguồn gốc linh thiêng, có chức năng xã hội cao cả.Nho giáo hy vọng dùng văn chơng để giáo hóa và hoàn thiện con ngời, xã hội Văn chơng phải để giáo hóa nên có nội dung đạo lý

Không những về nội dung không đợc nói cái vô đạo, cái thiếu trangnhã mà về hình thức biểu đạt cũng phải thấm nhuần tinh thần khoan thứ,nhân nghĩa Nho giáo hớng văn học vào truyền đạt đạo lý chứ không phảitả và kể, phản ánh cái thực Cả cái bi và cái hài đều vì yêu cầu của thái độ

đúng mức mà khó tạo đợc sức mạnh nghệ thuật [21, tr52]

Tiêu chí cái đẹp ấy không chỉ chi phối ngời viết mà còn chi phối tới việctruyền bá Nhà nho chính thống đã đi theo cái hớng chung ấy Nhng đến loạihình nhà nho tài tử thì vấn đề đã khác Vốn ra đời trong một môi trờng đô thị đặcthù gắn với những đặc trng riêng, quan niệm về thẩm mỹ và văn học của họ cónhững biểu hiện xa rời với văn học chính thống Sáng tác của nhà nho tài tửkhông còn sự ràng buộc chặt chẽ dới sự quy định của Nho giáo Tác phẩm của họphóng khoáng, tự do, thoải mái hơn nên cuộc sống hiện lên một cách tự nhiên.Thế kỷ XVIII đánh dấu sự xuất hiện của đội ngũ nhà nho tài tử Đồng thời với

nó, văn học Việt Nam giai đoạn thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX có sự thay

đổi to lớn trên tất cả các bình diện: quan điểm văn học, t tởng, thẩm mỹ, hệ thốngchủ đề tài Trong lịch sử văn học Việt Nam, chỉ đến thế kỷ XIX mới có hiện t -ợng có những nhà nho coi việc sáng tác văn học là sự nghiệp chính của đời mình

Một khi ngời tài tử đã coi tài năng, trớc hết là tài năng văn học, là

th-ớc đo quan trọng, là “tiêu chí đặc trng”, thì, một cách tự nhiên, văn chơngcàng ngày càng có sức hấp dẫn mạnh mẽ và đến một thời điểm nào đó, nó sẽ

là một lĩnh vực hoạt động độc lập trong đời sống tinh thần, và sẽ “tuyển lựa”

đợc những vật “hiến sinh” cho mình” [64, tr109]

Ngời tài tử ý thức sâu sắc về tài năng văn chơng đó và nguyện sống chết vớinghề Nguyễn Du và Cao Bá Quát là những tác giả nh thế Lý tởng thẩm mỹ của

họ cũng khác trớc Cái đẹp trong quan niệm của họ không còn sự gò bó, màphóng túng, đa chiều hơn rất nhiều Đến nửa sau thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX,trong tình hình xã hội thực dân nửa phong kiến và đang ngày càng t sản hóa cao

độ, quan niệm thẩm mỹ, quan niệm văn học của đội ngũ nhà nho tài tử có những

đặc trng khác biệt Sự xuất hiện trở lại loại hình nhà nho tài tử và thái độ của họcũng là một cách ứng xử trớc thời cuộc Loại hình nhà nho tài tử giai đoạn nửasau thế kỷ XIX có thể kể đến: Dơng Khuê, Dơng Lâm, Chu Mạnh Trinh, Trần Tế

Trang 21

Xơng Tới giai đoạn đầu thế kỷ XX, tên tuổi tiêu biểu của đội ngũ tác giả này làTản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu Mỗi ngời có một cảm quan riêng Nhng tựu trunglại, xét về quan niệm nghệ thuật, kiểu nhà nho tài tử sẽ phân thành nhiều xu h-ớng, cụ thể là hai xu hớng chính.

Thứ nhất là khuynh hớng lãng mạn, thoát ly

Tiêu biểu là các tác giả: Dơng Khuê, Dơng Lâm, Chu Mạnh Trinh Nhchúng ta đã biết, thời đại Chu Mạnh Trinh đảo điên xáo trộn trong cái nhục vongquốc Đứng trớc nạn mất nớc, giới sỹ phu giữ quyền thống trị tan rã dần trong rấtnhiều hình thức khác nhau Số ngời cơng cờng nhất thì nổi lên chống Pháp nhvăn thân Phan Đình Phùng trong phong trào Cần Vơng Một số khác xuất dơng

ra nớc ngoài với hoài bão tìm đờng cứu nớc nh Phan Bội Châu với phong trào

Đông Du Một số ngời ở lại nhà nhng vẫn ngấm ngầm làm việc với nhiệm vụgiáo huấn, cảnh tỉnh quốc dân nh Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng Cònnhóm nhà nho tài tử phân hóa thành nhiều xu hớng Cái tài mà họ tâm đắc vàxem là năng lực chính của mình lúc này tỏ ra không còn hợp thời, không đủ sức

để cứu xã hội Cách ứng xử của họ chỉ là một giải pháp tình thế Sáng tác của họcho thấy sự bế tắc Chu Mạnh Trinh, Dơng Khuê, Dơng Lâm vẫn ra làm quancho triều đình nhà Nguyễn Vì những lý do riêng họ ra làm quan nhng vẫn mangtrong mình bầu tâm sự u uẩn Cái còn lại trên con đờng hoạn lộ của nhóm nhànho tài tử này là nỗi buồn thơng, ngợng ngùng Trớc hiện thực nh thế, nhóm tácgiả này tìm tới khuynh hớng lãng mạn Mỗi tác giả tìm về với một vẻ đẹp riêng,nhng tựu trung lại đều thể hiện cách sống lãng mạn, phóng khoáng của ngời tài

tử Hiện thực đen tối không phải là mảnh đất để văn chơng của họ dành nỗi niềm

u ái Mà nhóm tác giả này hớng văn chơng vào những cái đẹp của thiên nhiên,vào hình bóng các giai nhân, vào thú ăn chơi mà ngời tài tử muôn đời hằng theo

đuổi ẩn đằng sau đó thật sâu xa chính là nỗi niềm đất nớc Nguyễn Lộc trongcông trình nghiên cứu của mình, tuy có đánh giá hơi khắt khe về nhóm tác giảnày, nhng cũng đã nhận ra: “Trong thơ văn của họ cũng có bài nói đến thờithế, ngụ một chút tâm sự, xa gần đả kích một thói xấu, hoặc theo đuổi hình bóngmột ngời đẹp ngày xa” [26, tr604] Chu Mạnh Trinh là một nhà nho thạo đủ cầm,

kỳ, thi, họa, giỏi nghệ thuật kiến trúc và đặc biệt say mê cảnh đẹp

Trong những năm đang làm quan cũng nh khi đã cáo quan về nghỉ,Chu Mạnh Trinh vẫn thờng ngao du các danh lam thắng cảnh, hết nơi này

đến nơi khác, họp bạn vui chơi non nớc, đàn ca hát xớng, ngâm vịnh thơvăn Những cảng đẹp thiên nhiên nh: Hơng Tích, Sài Sơn, Tiêu Sơn đềughi dấu tích trong thi ca của ông Nhà thơ của chúng ta mỗi khi qua thămcác nơi danh thắng có liên quan với lịch sử, thờng vẫn làm thơ đề vịnh ấp ủcả một nỗi cảm hoài [48, tr25]

Trong tâm trạng chán cuộc sống xã hội xô bồ hỗn tạp, tác giả đã đi tìm vềvới cảnh đẹp thiên nhiên đất nớc Theo lẽ thờng tình, các nhà nho xa khi bất mãnvới thời cuộc thờng tìm đến làm bạn với cỏ cây sông nớc, với hạc nội, mây ngàn.Khác với nhiều nhà thơ cùng thời, cũng nh ngời xa, thơ thiên nhiên của ChuMạnh Trinh thờng gắn với đền miếu, chùa chiền, những dấu tích thần linh mànhân dân hằng ngỡng mộ Ông có khát vọng thoát ly thực tại để hớng về cõi

Tiên, Phật, thánh thần Hơng Sơn hành trình, Hơng Sơn Nhật trình, Hơng sơn phong cảnh ca là những bài thơ nh thế Bên cạnh đó, tác phẩm của ông còn hớng

về những hình bóng giai nhân ngày xa Không đâu bằng trong “Thanh Tâm tài

Trang 22

nhân thi tập ” con ngời lãng mạn tài tử họ Chu lại hiện lên rõ nét, đậm đà nh vậy.Chu Mạnh Trinh đã mạnh dạn chọn nàng Kiều làm ngời tình tri kỷ, ca tụng nàng.Với tập văn vịnh Kiều này, Chu Mạnh Trinh đã kế tục Nguyễn Du để thơng cảmngời đẹp, ghi lại cuộc đời não nuột ấy trong một lối văn chơng rất mực tài hoa.Cùng trong một xu hớng tình cảm, một quan niệm về cái đẹp, họ Chu và họNguyễn đều đã gặp nhau ở một “nòi tình”, vì mối cảm chung với Thúy Kiều, tâm

sự kẻ “một thuyền một hội” Nếu nh hiện tợng văn học Chu Mạnh Trinh đợc

đánh giá tơng đối thống nhất, thì trong việc nghiên cứu tác giả Dơng Khuê đãxuất hiện nhiều ý kiến trái ngợc nhau Có một thời, ngời ta đã hiểu sai về văn ch-

ơng cũng nh nhân cách của ông Nhng có một đặc điểm chung cần phải côngnhận là tác phẩm của ông thuộc khuynh hớng lãng mạn Cũng nh Chu MạnhTrinh, Dơng Khuê đi tìm cái đẹp ở trong thiên nhiên và ca tụng nó (tiêu biểu nh

bài Hơng sơn phong cảnh ca) Bên cạnh đó, Dơng Khuê rất say mê thú hát ả

đào Đây là một thú vui thanh nhã, qua đó nhà thơ mợn tiếng mỹ nhân để thởngthức văn chơng, mợn âm điệu để giãi bày tâm sự Ông có rất nhiều bài thơ gửitặng các cô đào, có khi tởng tợng, có khi thực: đào ái Cúc, đào Phẩm, đào Ngọ,

đào Hai, đào Oanh Những tác phẩm ấy đều bộc lộ chất phong tình, lãng mạncủa một nhà nho tài tử Cùng xu hớng với Chu Mạnh Trinh, Dơng Khuê, sáng táccủa Dơng Lâm cho thấy cảm quan lãng mạn chi phối rất rõ Thực tế cho thấy, tácphẩm của Dơng Lâm có bài thể hiện tâm sự u uất trớc hiện thực mất nớc, có bài

đầy cảm xúc khi đến với thiên nhiên Cảnh sơn thủy, chùa chiền rất hấp dẫn hồn

thơ tác giả Vịnh chùa Hơng Tích đa ngời đọc đặt chân tới xứ Phật với hàng loạt câu hỏi mà tác giả đặt ra Hay trong bài thơ Chơi thuyền trên Hát Giang, chúng

ta bắt gặp hình ảnh hai ngời bạn cùng uống rợu, ngâm thơ trên một con thuyềntrôi lờ lững trên con sông Hát Ta có cảm tởng nh đang đứng trớc một bức tranhTàu tuyệt đẹp Cảnh nên thơ song thật buồn Con ngời hiện lên vừa thanh thản,vừa có nỗi niềm Nh vậy, nhóm tác giả Chu Mạnh Trinh, Dơng Khuê, Dơng Lâm

có cùng một quan niệm thẩm mỹ Cái đẹp có tính lãng mạn đợc thể hiện bằngnhững vần thơ hào hoa, phóng khoáng, bóng bẩy Các nhà nho tài tử ý thức sâusắc về tài “nhả ngọc phun châu”, và họ nguyện hết lòng vì tài năng đó Song đểxem văn chơng thực sự là một nghề theo đúng nghĩa thì đến Tản Đà mới có Đốivới Chu Mạnh Trinh, thơ văn không phải là sự nghiệp chính của đời ông Ôngsáng tác chủ yếu do ngẫu hứng và nhằm giãi bày tâm sự, những băn khoăn, daydứt của một nhà nho cuối mùa, muốn thoát ly thực tại Dơng Khuê, Dơng Lâmcũng xem việc sáng tác nh là một thú chơi để thỏa mãn ớc nguyện, để ký thácsâu xa tâm trạng của mình thậm chí có lúc họ đều nói mình “không có thơ” trong

khi chính họ đang làm thơ: Vô thi đăng cổ các,Hữu tửu đối Trùng Dơng” (Cửu nhật – 1930 D ơng Khuê), “ Vô thi ng tiếu ngã, Cao xớng dục văn quân” (Chơi thuyền trên Hát Giang – 1930 D ơng Lâm) Tuy quan niệm văn chơng là một thú chơi song

các nhà nho tài tử này không hề dễ dãi trong lối viết Sáng tác của họ thể hiện sựtinh tế, tài hoa, trang nhã Đó là vẻ đẹp của thứ văn chơng do những con ngời cótâm huyết, có tài năng tạo ra Dơng Khuê đợc ngời đời ca tụng về sự tế nhị,phóng khoáng trong lối bộc lộ tình cảm, về kỹ thuật hành văn trác tuyệt CònChu Mạnh Trinh đợc đánh giá là đóa hoa muộn màng nhng tơi tốt trong vờn hoalãng mạn thế kỷ XIX Có thể nói, Chu Mạnh Trinh là một hiện tợng vợt rào trongquan điểm thẩm mỹ của thi pháp thuộc phạm trù văn học trung đại và ông là hiện

Trang 23

tợng ít nhiều báo hiệu chuẩn bị cho sự xuất hiện của hình tợng tác giả lãng mạntrong văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Thứ hai là khuynh hớng hiện thực

Tác giả tiêu biểu là Trần Tế Xơng Tú Xơng thuộc vào số nhà thơ lớn cuốithế kỷ XIX Xã hội Việt Nam lúc bấy giờ càng về sau càng chuyển dần sang hìnhthái xã hội thực dân nửa phong kiến ở đây bắt đầu có sự giao tranh giữa cái mới

và cái cũ, có sự “hôn phối”, ảnh hởng lẫn nhau giữa hai nền văn hóa Phơng Tây

và Phơng Đông Một sự hôn phối bát nháo tạo nên tổng thể bi hài lố bịch, đúng

nh Mác từng nói: “Giai đoạn cuối cùng của một hình thái lịch sử là tấn bi hàikịch của nó” Tú Xơng đã sáng tác trong bối cảnh lịch sử - xã hội nh vậy NếuChu Mạnh Trinh, Dơng Khuê, Dơng Lâm chủ yếu tìm đến với vẻ đẹp của thiênnhiên, đất nớc của hình bóng giai nhân, của các thú vui tiêu dao, và xem đó nhcách giải thoát, thì Tú Xơng lại đi theo hớng hiện thực Xuất phát từ quan niệmvăn chơng phải gắn với cuộc đời, cùng tấm lòng u thời mẫn thế, Tú Xơng đãquan tâm thiết tha đến cuộc sống Ông là nhà thơ của hiện thực, của sự quan tâm

đến cuộc đời, cho dù cuộc đời không có chỗ đứng cho ông Xuân Diệu từng nhậnxét thơ Tú Xơng, với đại ý là: Một giọng nói trên đờng rất mực tâm huyết, thơtâm hồn của Trần Tế Xơng đó là lòng yêu đời bị cản trở, là nỗi hoài bão bị chặtphá, đó là một con ngời làm thơ, đã nói thì muốn khạc cả tim phổi của mình vàothơ Từ tâm huyết ấy, Tú Xơng luôn đa văn chơng đi theo sát cuộc đời, nhận thức

và phản ánh nó Với một cái nhìn sắc sảo, nhạy bén, Tú Xơng đã cảm nhận đợc

sự chuyển hóa của thành phố Nam Định vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX – 1930một thành phố sớm bị thực dân hóa, hết sức nhốn nháo, lộn sòng mọi giá trị Vớicái nhìn hiện thực, ông không thể đắm mình vào cái đẹp của non sông đất nớc,của Phật, của Tiên và ngời đẹp để thoát ly, để tìm chỗ dựa Cái mà ông quan tâmtới chính là hiện thực trần trụi này Với t cách là một chủ thể sáng tạo, Trần TếXơng chủ trơng đa văn chơng đến sát với cuộc sống Là ngời kiến thiết, tổ chứcvăn bản thơ, Tú Xơng có ý thức cao về vai trò văn học, về cá tính sáng tạo vàcông việc sáng tạo của mình Ông không có một tuyên ngôn nào về quan niệmvăn chơng rõ ràng nhng ta vẫn có thể nắm bắt đợc điều đó qua thơ văn Trớc hết,qua việc ông diễu thứ văn chơng của bọn xu thời dốt nát, ta thấy đợc thái độ

nghiêm túc của Tú Xơng đối với văn chơng chân chính Chế Bác cử nhu, ông viết

“Văn chơng nào phải là đơn thuốc Chớ có khuyên xằng chết bỏ bu” Với Tú

X-ơng, bớc vào cuộc đời thì không thể không có văn chơng chữ nghĩa: “Nhập thế cục bất khả vô văn tự” Nhiều lúc, tác giả muốn nhìn lại xem tác phẩm của mình

nh thế nào Nhà thơ đã tự ngắm mình, nhận xét khả năng thơ phú của mình Rồi

để cho nhân vật “khách quan” (ngời vợ) đánh giá ( Tết dán câu đối ) Rõ ràng,

Tú Xơng đã tự khẳng định mình từ cả chủ quan lẫn khách quan Thái độ của tácgiả đối với văn chơng rất nghiêm túc Song trong tấn bi - hài kịch lịch sử ViệtNam giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX thì cái tôi sáng tạo Tú Xơng thực sự đã rơivào bi kịch Văn chơng trở thành điều vô nghĩa, mất giá trị, mờ nhạt trớc cuộc

đời Tác giả đã một mình chống chọi và có lúc chán chờng: Nghĩ việc văn chơng thôi cũng nhảm Trăm năm thân thế có ra gì”(Buồn hỏng thi) Một bản lĩnh tự tin

cao độ nh Tú Xơng giờ trở nên hoài nghi, chán nản, muốn vứt bỏ bút đi Điều đóchứng tỏ Tú Xơng thực sự rơi vào bi kịch – 1930 bi kịch của ý thức, lý tởng cao đẹp

đã đổ vỡ Tú Xơng muốn sáng tạo, song trớ trêu thay: Khi cời, khi khóc, khi than thở Muốn bỏ văn chơng học võ biền” (Thói đời) Có một điều đáng quý, tuy

Trang 24

thời đại ấy có tạo ra cho Trần Tế Xơng tâm lý chán nản, nhng bản thân ông vẫnkhông rời xa văn chơng, vẫn lấy văn chơng làm niềm an ủi, đặc biệt sử dụng nó

nh một thứ vũ khí mạnh mẽ để “đối phó” với thời thế Vào thời buổi Tú Xơngsống, sử dụng vũ khí văn chơng và tiếng cời trào phúng, ông đã phần nào đápứng đợc yêu cầu của thời đại Con đờng văn chơng là con đờng có thể góp phầntống tiễn một xã hội xấu xa vào “vơng quốc của bóng tối” Vì vậy, nắm lấy vũkhí văn học, Tú Xơng đã lựa chọn con đờng đúng đắn phù hợp với thiên chức củanhà văn chân chính Do đó, dù rơi vào bi kịch nhng cái tôi sáng tạo Tú Xơng vẫn

có thể ngạo nghễ “cời đời”, thách thức với cuộc đời

2.1.2.2 Quan niệm nghệ thuật của lớp nhà nho tài tử giai đoạn đầu thế kỷ XX

Đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam chuyển mình một cách đau đớn, nhụcnhã sang hớng t sản, một hớng t sản kém lành mạnh nhất, què quặt nhất, để lạinhững hậu quả tai hại nhất, nhng điều đó cũng lôi kéo các mặt khác phát triển.Bên cạnh những nhà nho vẫn tiếp tục làm thơ, làm phú, ngời nông dân vẫn tiếptục làm ca, vè, nền văn học cũ vẫn tồn tại khắp nớc, là sự xuất hiện một lớp nhàvăn mới, một nền văn học có tính chất khác trớc, tạo thành một cảnh tợng giaothời giữa hai nền văn học Lúc này thị hiếu công chúng văn học đổi mới Tơngứng với điều này, quan niệm văn học, t tởng thẩm mỹ của ngời sáng tác cũngphải khác hẳn trớc

Một nền văn học lấy đề tài trong cuộc sống bình thờng trong đời sốngxã hội - con ngời Có thể là nhà quyền quý, nhà t sản thuộc tầng lớp thợng lunhng đặt trong cuộc sống bình thờng của họ, một nền văn học tôn trọng sựthực (và cả cái mộng mơ) hơn đạo lý, có những tình huống thực sự đợc quansát mô tả ( hay tởng tợng thêm ), thay cho nền văn học giáo huấn, truyền

đạt, ký ngụ tâm sự, chỉ trọng đạo lý khách thể phải đợc coi trọng vănkhông còn gắn với sử, không còn gắn với triết, tách ra thành một nghệ thuật

và phải coi trọng cái đẹp Trong xã hội t sản văn nghệ sỹ sẽ thành một chứcnghiệp: viết văn bán cho công chúng Thoát khỏi sự ràng buộc của đạo lý đểnói về những con ngời thực, về cuộc sống bình thờng, kịch và tiểu thuyếtphát triển Văn học Việt Nam đi vào hớng hiện đại hóa [43, tr25]

Nh vậy, văn học đã có sự chuyển mình để thay đổi phạm trù thi pháp, thay

đổi cả một hệ thống quan niệm, t tởng, thẩm mỹ, văn học, hệ thống thể loại song, để đạt tới điều đó, nó phải có sự chuẩn bị với những cơ sở, tiền đề nhất

định Giai đoạn văn học giao thời 1900 - 1930 bắt đầu có các yếu tố hiện đại.Trong đó Tản Đà là một tác giả tiêu biểu, ngời có vai trò quan trọng đóng dấugạch nối giữa hai phạm trù thi pháp: trung đại và hiện đại

Tản Đà là đại diện cuối cùng của loại hình nhà nho tài tử trong lịch sử vănhọc Vẫn gắn với cốt cách nho gia, song ở vào một bối cảnh xã hội mới vớinhững đặc trng riêng, sáng tác của Tản Đà cho thấy đây là hiện tợng văn học độc

đáo, có nhiều đặc điểm mới mẻ Tuy ông là nhà nho nhng không viết văn nhnhững nhà nho lớp trớc Tản Đà cũng viết tiểu thuyết, viết tuồng, làm thơ nhngTản Đà cũng không sáng tác nh các văn nghệ sỹ lớp sau Sáng tác của Tản Đàcòn nhiều dấu vết của hình thức trung gian Điều này làm cho Tản Đà có vị trí

đặc biệt trong lịch sử văn học Việt Nam Nhất quán ở ông là cái tôi đa tình, lãngmạn Tản Đà tôn thờ tình yêu, ham chơi, ham rợu, thích ăn ngon Những khi thấtvọng, bế tắc, ông có t tởng ngông cuồng và yếm thế Chung quy lại, đó đều là sự

Trang 25

phản ứng lại xã hội của một cốt cách tài tử Quan niệm thẩm mỹ của Tản Đà cóphần ly tâm với quan niệm thẩm mỹ của Nho giáo chính thống Theo tác giả, cáicăn bản ở ngời tài tử là phải thoả mãn “nhân sinh quý thích chí” Ông ca ngợi thú

ăn chơi, đa hồn thơ phiêu du khắp non nớc, bớc chân cùng nớc chảy mây bay.Cách sống giang hồ phóng túng, say trong thơ rợu, những cuộc phiếm du, và gặp

gỡ trong mộng… song chtiêu biểu cho hồn thơ lãng mạn của Tản Đà Nếu Nho giáochính thống có quan niệm thẩm mỹ khô khan, cứng nhắc thì ở nhà thơ của núiTản sông Đà đã tơi mới, phong tình hơn rất nhiều Tản Đà nhìn cuộc đời dới lăngkính phong tình ân ái Vì vậy, con ngời, cảnh vật trong thơ ông hiện lên tinh tế,duyên dáng, gợi cảm Đặc biệt ở phơng diện “tình trái”, Tản Đà có quan niệmmới mẻ hơn Ngời tài tử vừa tự công khai tính đa tình, vừa xem tình yêu là mộtnhu cầu và đã mặc nhiên thừa nhận sự tồn tại của nó nh một lẽ tất nhiên Cao BáQuát “từng bứt rứt trăm đờng nghìn nỗi” vì tình, Nguyễn Công Trứ vì thích “chichi với tình” nên đã đi vào bao nhiêu trận giang sơn điên đảo, còn Tản Đà si tình

đến mức mơ tởng những cuộc hội ngộ với Tây Thi, Chiêu Quân, viết th hỏi trời

c-ới vợ Những tuyệt thế giai nhân trong quá khứ đều tề tựu đông đủ dc-ới ngòi bútTản Đà Cái tôi đa tình làm thay đổi cách nhìn về phụ nữ: ngời phụ nữ không chỉ

đợc nhìn nhận dới góc độ thuần tuý đạo đức Thứ tình yêu mà tác giả thể hiệnkhông chỉ gắn với hôn nhân, các cuộc gặp gỡ với ngời đẹp chủ yếu để tìm sự

đồng điệu, tìm bạn tri âm Có trờng hợp phần nhà nho chính thống chiếm u thế,nên trong cách nhìn cái đẹp về ngời phụ nữ Tản Đà rất khắt khe Đối với hình t-ợng Thuý Kiều ông có thái độ nh vậy Song, nhìn chung, quan niệm thẩm mỹ củaTản Đà chủ yếu gắn liền với cái nhìn phóng khoáng, phong tình của ngời tài tử.Thơ văn Tản Đà tiến gần đến hơn quan niệm của văn học hiện đại

Tản Đà không còn là một “văn nhân” kiểu xa, ông thuộc thế hệ nhà văn

đầu tiên xem việc sáng tác với ý thức để lập nghiệp văn học, chứ không phải phụthuộc vào việc thi đỗ làm quan Khi Tản Đà từ giã bút lông, đổi ra bút sắt, “mangvăn chơng đi bán phố phờng”, thì tình hình văn học Việt Nam đang lâm vào tìnhtrạng “bĩ cực” Ông bớc vào văn nghiệp không giống ai lúc đó, dùng văn chơng

để kiếm sống và lập nghiệp Nhng sống bằng nghề viết văn, “bán văn buôn chữ”,

cũng cần vốn, tốn kém mà thu không đợc nhiều lời: Bao nhiêu củi nớc mới thành văn, Đợc bán văn ra chết mấy lần , ” cho nên “Quanh năm luống những lo văn ế, Thân thế xem thua chú hát chèo (Lo văn ế).” Khác với nhiều ngời, Tản Đànói đến cảnh nghèo túng của đời viết văn, và với một cách thành thực và cay

đắng Ông nhận ra sự thực:

Văn chơng hạ giới rẻ nh bèo, Kiếm đợc đồng lãi thực rất khó.

(Hầu Trời)

Tuy rơi vào hoàn cảnh bi đát, nhng sáng tác của Tản Đà cho thấy ông là mộtngời tâm huyết với nghề, nghiêm túc trong hoạt động nghệ thuật Tản Đà cũngrất hay nói về mình, tự hào một cách không giấu giếm tài năng văn chơng Đâycũng chính là đặc trng cơ bản trong phẩm chất ngời tài tử

Trong mục Thi đàn giảng tập của An Nam tạp chí và trong tập Bình khang tân thanh, ông đem thơ mình ra giảng Ông tự phụ là tài tình, nhng

chỗ tâm đắc thì chính là tài, là nghệ thuật Ngoài chỗ hay vì bố cục, vì chọn

ý, chọn chữ, chọn âm điệu, Tản Đà còn tự hào về chỗ “Văn đã giàu thay lạilắm lối” (Hầu trời)” [21, tr389]

Trang 26

Trong cuộc sống của xã hội t sản, Tản Đà là một kẻ bất đắc chí, thất bại,thất vọng Nhng không vì thế mà ông dễ dãi trong sáng tác Tản Đà rất có ý thứccoi trọng văn nghiệp Tác giả vẫn chủ trơng văn chơng là thiên mệnh Nếu tớc đicách nói ngông nghênh, bi đát của sự nói dỗi, ta thấy rằng, Tản Đà quan niệm:Văn chơng phải đợc trả lại đúng chức năng của nó Tản Đà mong dùng văn ch-

ơng làm nên một sự nghiệp “Có bóng mây hơi nớc đến dân xã” Đã có lúc, ông

mơ một chuyến “Thiên du” Bài thơ Hầu Trời để lại cho ngời đọc ấn tợng sâu sắc

về lần gặp gỡ ấy Đêm nào cũng mơ đợc lên hầu trời, để lấy lại hứng, lấy lạithiên năng, để đợc “Trời giao nhiệm vụ và động viên, để phấn khởi hoàn thànhnhiệm vụ” Vốn là một nhà nho tài tử, nhng ở vào một bối cảnh, môi trờng xã hộimới, Tản Đà đã tiếp thu luồng sinh khí văn học mới mẻ đợc du nhập từ phơngTây Song, sáng tác của ông cũng cho thấy sự gắn bó nhất định đối với truyềnthống Giữa hai bờ cũ - mới, Tản Đà xứng đáng là đại biểu xuất sắc của giai đoạngiao thời Trần Đình Hợu đánh giá:

Những tác phẩm đầu tay của Tản Đà từ Khối tình con, Giấc mộng con,

đến Khối tình bản chính, Khối tình bản phụ đều cho ta chứng cớ về sự hấp

dẫn đó Tản Đà đã viết khác các nhà nho lớp trớc Ông đã tiếp xúc với vănhọc hiện đại, cả Tây, cả Tàu và sống ở thành phố, bắt đầu quen với cáchsống thị dân Nhng thế giới của Tản Đà nhân vật của Tản Đà thì không phảitrực tiếp đi từ cuộc sống đó Tản Đà vẫn mê nhất là Lý Bạch, vẫn quen vớimộng, vẫn thích cuộc đời của những anh hùng, hào kiệt, những tài tử, giainhân [21, tr375]

Có thể nói, Tản Đà vẫn cha thoát khỏi ràng buộc của chức năng đạo lý củaquan niệm văn học cũ Quan niệm văn học của ông biểu hiện rõ nhất trong bài

thơ Hầu Trời Tản Đà chia văn chơng của mình thành hai loại: “văn chơi” và

“văn vị đời” Văn chơi gồm tiểu thuyết và thơ Còn cái nói về t tởng, đạo lý, có

tác dụng giáo huấn: nh Đài gơng, Lên sáu, Lên tám mới là “văn vị đời”, có ích.

Văn chơi chính là tên gọi của bộ phận văn chơng viết theo bút pháp ngời tài tử.Văn lý thuyết, văn vị đời chính là bộ phận văn học viết ra theo đúng yêu cầu củaNho giáo truyền thống Nh vậy, trong quan niệm văn học, một phần nào đó Tản

Đà cũng giống các nhà nho xa Coi văn văn đời cao hơn văn chơi đã là chuyện từtrớc Thực ra, quan niệm văn học của ông cha hoàn toàn thật mới mẻ

Đa lên hàng đầu tiêu chuẩn “có ích” (Vị đời) và đồng thời ít nhiều tỏ ra

áy náy, dè dặt với cái “tình”, cái “tài” trong thơ (chơi) trớc đó, trong quanniệm văn học Tản Đà không tiến lên một bớc theo hớng nhận thức và bộc lộthực tế nh Nguyễn Công Hoan mà lùi lại dùng văn chơng để giáo hóa nh cácnhà nho lớp trớc [21, tr393, 394]

Đứng trớc thời đại mới, quan niệm văn học của Tản Đà có mở rộng chứ chathay đổi Nhng tất cả công lao của tác giả đối với văn học lại chính ở bộ phận vănchơng tài tử Với loại “văn chơi” ông đã đa cái tôi ngông nghênh của văn chơngngời tài tử ra ớm giá trớc cuộc đời, chiếm chỗ thi đàn Với “văn chơi”, cái tôi ng-

ời tài tử bắt đầu nói bằng lời than thở, bằng lời tâm tình tất cả đã tạo điều kiệncho sự ra đời của văn học tiểu t sản vào giai đoạn sau Trong loại văn này, Tản

Đà sử dụng hầu khắp tất cả các thể loại thơ ca truyền thống, cách tân trong từngthể loại

Tản Đà đến với văn học nh một cơn gió lạ Ban đầu, độc giả chào đón, hoannghênh ông Song về sau ngời ta lại bỏ rơi tác giả Cho đến lúc ông qua đời giới

Trang 27

nghiên cứu mới quay trở lại công nhận giá trị và vai trò vô cùng quan trọng củaTản Đà đối với lịch sử văn học Có thể nói, ông là tác giả tiêu biểu nhất của vănhọc giai đoạn giao thời, và cũng là ngời đóng vai trò kết thúc một mẫu hình củaKiểu tác giả nhà nho tài tử Quan niệm văn học của ông đã có sự mở rộng songvẫn không rũ bỏ đợc quan niệm của nhà nho chính thống Xét đến cùng, “quanniệm văn học và cả cách t duy nghệ thuật nhà nho của Tản Đà vẫn còn cứng nhắc

và đơn giản, vẫn cố chấp, chỉ thừa nhận những cái hay, cái đẹp nhất định” [21,tr397] Tuy nhiên, trong tình hình của sự phát triển văn học ba mơi năm đầu thế

kỷ, Tản Đà thực sự là ngời làm đợc nhiều nhất cho sự chuyển mình của văn họctrong số nhà thơ, nhà văn hợp pháp

2.1.3 Cảm hứng sáng tạo và cái nhìn về con ngời, về thế giới

2.2.3.1 Cảm hứng sáng tạo

Cảm hứng sáng tạo có vai trò rất quan trọng trong việc quyết định khuynhhớng chính của tác phẩm Nó bộc lộ cái chủ quan và nói lên lý tởng chủ yếuthuộc cảm quan nghệ thuật của tác giả Theo G.N.Pôx Pê Lôp: "Sự lý giải, đánhgiá sâu sắc và chân thực - lịch sử đối với các tính cách đợc miêu tả vốn nảy sinh

từ ý nghĩa dân tộc khách quan của các tính cách ấy là cảm hứng t tởng sáng tạocủa nhà văn và của tác phẩm của nhà văn” [16, tr141] Từ “cảm hứng” đã đợccác triết gia cổ Hy Lạp, sau này là Hê ghen và nhà phê bình văn học Bêlinxkidùng từ lâu Nó chỉ “trạng thái phấn hng cao độ của nhà văn do việc chiếm lĩnh

đợc bản chất của cuộc sống mà họ miêu tả Sự chiếm lĩnh ấy bao giờ cũng bắtnguồn từ lý tởng xã hội của nhà văn nhằm phát triển và cải tạo thực tại” [16,tr141] Cuộc sống vốn dĩ phong phú, phức tạp, đa chiều Con ngời tồn tại trong

đó với nhiều trạng thái khác nhau trớc hiện thực nh thế, cảm hứng của các tácphẩm văn học cũng không thuần nhất Cảm hứng đợc bộc lộ ở nhiều biến thểkhác nhau Nói nh G.N.PôxPêLôp:

Do những khác biệt cốt yếu của bản thân cuộc sống đợc nhận thức, cảmhứng của các tác phẩm văn học cũng bộc lộ một số biến thể Nó có thể làcảm hứng anh hùng, cảm hứng bi kịch, cảm hứng kịch tính hoặc là cảmhứng thơng cảm và cảm hứng lãng mạn, hoặc là cảm hứng châm biếm vàcảm hứng hài hớc [16, tr141, 142]

Trong thực tế, những đặc tính khác nhau của cảm hứng thờng gắn bó vớinhau, có thể chuyển hóa lẫn nhau, thâm nhập vào nhau Tuy nhiên, ngời nghệ sỹtạo nên tác phẩm ngôn từ bao giờ cũng tập trung vào một số mặt nào đấy của cáctính cách quan hệ mà họ miêu tả, tô đậm Vì vậy, một biến thể cảm hứng nào đóthờng chiếm vị trí chính trong tác phẩm Cũng có khi, “một tác phẩm đôi khithậm chí một hình tợng lại biểu hiện những đặc tính và sắc thái khác nhau củamột cảm hứng, toát ra từ tính phức tạp và đa dạng của các tính cách và quan hệ

đợc thể hiện và nhận thức trong đó” [16, tr143] Có thể thấy sáng tác của loạihình nhà nho tài tử giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đều bắt nguồn

từ một cảm hứng chung là phủ định thực tại xấu xa thời bấy giờ Song các biếnthể lại khác nhau do cách họ thể hiện Nhìn chung, thơ văn của kiểu nhà nho tài

tử này đi theo hai nguồn cảm hứng chính

Thứ nhất là cảm hứng hiện thực trào phúng, phủ định thực tại

Hiện tợng tiêu biểu nhất là Trần Tế Xơng Nhà văn Nga XSêđrin từng nói:Văn học nằm ngoài những định luật của băng hoại Chỉ mình nó không thừanhận cái chết Thơ văn của Tú Xơng là một trờng hợp nh vậy Thời Tú Xơng

Trang 28

sống, xã hội có sự đảo lộn sâu sắc Tú Xơng vừa là chứng nhân, vừa là nạn nhâncủa cuộc đổi thay này

Dĩ nhiên, thời Tú Xơng sống, cuộc đổi thay mới là giai đoạn bắt đầu.Bắt đầu nhng cũng đã rõ Tú Xơng, với tài, với tâm huyết của mình đã đóngvai trò một “nhà th ký” để nếu cha nghi chép, phản ánh đợc bao nhiêu cáimâu thuẫn cơ bản, trung tâm của thời đại thì cũng đã ghi chép, phản ánh đợcnhiều mặt của cuộc đổi thay xã hội đó bằng tài thơ xuất sắc của mình [59,tr214, 215]

Tác giả đã hoàn thành nhiệm vụ với vai trò là một nhà thơ hiện thực Trảiqua bi kịch cá nhân, cùng những thất bại cay đắng của cuộc sống riêng, và chứngkiến một xã hội lộn sòng mọi giá trị, giơng cặp mắt trông “buổi bạc tình”, hồnthơ Trần Tế Xơng xót xa, trái tim ông nh rỉ máu Thất vọng nhng không trốnchạy, Tú Xơng chủ trơng đa thơ đến thẳng với cuộc đời

Mà cuộc đời đây lại là cuộc đời vời tất cả cái sần sùi, cái xù xì của nó.Quan điểm sáng tác này đã đợc Nguyễn Trãi báo trớc chút ít, đợc Nguyễn

Du chuẩn bị một phần, đợc Xuân Hơng mở rộng, nhng phải đến Tú Xơngmới thực sự thành “đặc sản”, thành cái mốc thực sự [59, tr215]

Từ quan điểm sáng tác đó, Tú Xơng đã để lại trong văn học bức tranh thời

đại đầy sinh động Bức tranh thời đại này là bức tranh xã hội thực dân – 1930 nửaphong kiến buổi đầu vào những năm cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX Nó mớichỉ đóng khung ở thành phố Nam Định, nhng vẫn có ý nghĩa điển hình chungcho cả nớc Nguyễn Lộc đánh giá:

Tú Xơng viết về Nam Định, nhng ý nghĩa những bài thơ của ông không

bó hẹp vào một địa phơng, mà có tính cách tiêu biểu cho bức tranh chungcủa xã hội Việt Nam trong buổi giao thời, từ một xã hội phong kiến sang xãhội thực dân bán phong kiến Cái đặc sắc của ông là thông qua những bàithơ nhỏ nh những bức ký hoạ, nhà thơ làm nổi lên đợc sự chuyển hóa ấy[59, tr252]

Trong thơ ông hiện lên hình bóng những con ngời và sinh hoạt của xã hộiphong kiến cũ bị thực dân hóa, và có hình bóng những nhân vật mới, sinh hoạtmới, do xã hội thực dân đem lại Những bớc chuyển mình, sự thay đổi bảng giátrị đạo đức đợc Tú Xơng phản ánh một cách chân thực, sống động và có ýnghĩa điển hình Cách tiếp cận cuộc sống của tác giả đó là con đờng đi của chủnghĩa hiện thực Điều đặc biệt, Trần Tế Xơng đã sử dụng bút phát trào phúng đểphản ánh, tố cáo hiện thực, bóc trần cái bộ mặt giả dối, lố lăng của xã hội thựcdân nửa phong kiến Ông đợc mệnh danh là nhà thơ trào phúng bậc thầy Tuy có

kế thừa bút pháp trào phúng truyền thống, nhng với một tài năng sắc sảo, một cátính mạnh mẽ, bút pháp trào phúng của Tú Xơng có sự độc đáo riêng Trong thơ

ông, tiếng cời hiện lên là “Những tiếng cời thuần túy Việt Nam, khi thì nhẹnhàng, dí dỏm, khi thì mỉa mai chua chát, cay độc, đã văng vào mặt ai thì để lạidấu vết gột không phai, mài không nhẵn, với những tiếng cời gằn, cời ra nớc mắt,

có khi là những tiếng khóc, khóc lên tiếng cời” [59, tr296, 297] Trào lộng của

Tú Xơng thật là muôn màu vẻ Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ

XX nh một bức biếm họa lớn khiến nhà thơ nhìn vào đâu cũng thấy bật cời - nụcời thấm sâu vào mọi đối tợng, mọi ngõ ngách của cuộc sống Mọi đối tợng củaxã hội đều tề tựu trớc giọng cời của ông Tiếng cời mà Tú Xơng ném thẳng vàobọn quan chức thực dân, bọn quan lại phong kiến là tiếng cời mang ý nghĩa đả

Trang 29

kích châm biếm sâu cay Hình ảnh bọn thực dân mới thấp thoáng hiện lên nhng

đã bị tác giả bêu rếu thật thích đáng: “Lọng cắm rợp trời quan sứ đến Váy lê quét đất mụ đầm ra (Lễ xớng danh khoa Đinh Dậu) Bên cạnh đó, đời sống tinh

thần, đạo đức đầy rẫy sự xấu xa, đồi bại cũng đợc nhà thơ đả kích bằng tiếng cờicay độc Cảnh quan trờng nhốn nháo, đến chốn thâm nghiêm s sãi, việc chungchạ, dâm ô, loạn luân đều hiện lên thật buồn cời Không chỉ cời đối tợngkhách thể, mà Tú Xơng cời cả đối tợng chủ thể là bản thân mình Tác giả tự nói

về mình thật quái lạ, cứ nh muốn bôi đen kịt mình đi (Tự vịnh, Tự cời mình ).

Tiếng cời về chính bản thân mình là tiếng cời pha nớc mắt, có lúc nh tiếng cờigằn, cời phá lên có chút gì khinh bạc Tú Xơng cời bản thân mình từ sự vô tích

sự, sự ăn chơi đàn đúm, cảnh ăn bám cho đến nỗi nhà lo toan và việc thi cử trầy

trật Để rồi đến chỗ phủ định cả chính mình: Ta lên ta hỏi ông trời Trời sinh ta

ở trên đời biết chi (Hỏi ông trời) ” ở mảng thơ tự trào này hiện rõ chân dung tựhọa của Tú Xơng, thấm đẫm sự chua xót của một bi kịch Ông rất sắc sảo khiphát hiện mâu thuẫn trào phúng, từ đó làm điểm căn bản cho tiếng cời bật ra Đó

là mâu thuẫn giữa hình thức và nội dung, giữa bên ngoài với bên trong, hoặc mâuthuẫn giữa cái thật với cái giả, giữa bản chất với hiện tợng, và nhiều khi còn làmâu thuẫn giữa hình thức với hình thức để bộc lộ bản chất đối tợng Với Tú X-

ơng, thơ trào phúng đã trở thành vũ khí sắc bén để ông đả phá lại chế độ Tiếngcời vang lên bột khởi mà sắc thái cung bậc vẫn phong phú, lắm biên độ Nhữngbài thơ viết về bà Tú thì nụ cời xiết bao yêu mến; cời chuyện hỏng thi, cời thói ănchơi thì tiếng cời pha nớc mắt, có gì khinh bạc, cời cái xấu xa nhơ bẩn của cuộc

đời thì tiếng cời bốp chát, độc địa Có thể nói, Trần Tế Xơng là một cây cời, biết

kế thừa và phát triển tiếng cời dân tộc đa thanh hơn Nếu Nguyễn Khuyến điểnhình cho nhà nho mẫu mực, có nụ cời châm biếm chua cay, thâm trầm kín đáothì Tú Xơng điển hình cho nhà nho tài tử thất thế, phá phách, có tiếng cời cay

độc, sắc lạnh, hiểm ác, cời từng trận mãnh liệt, nhằm đánh thẳng vào đối tợngtheo lối “hạ gục nhanh, tiêu diệt gọn” Tuy nhiên, bút pháp trào phúng đặc sắccủa Tú Xơng luôn gắn với gốc rễ trữ tình Trữ tình càng bề thế thì chất thơ càngtỏa sáng và cái hiện thực trong thơ cũng đợc hóa sinh theo Nguyễn Tuân từngcắt nghĩa: “Sở dĩ thơ Tú Xơng không “tắt gió”, “không bay ra khói” là nhờ thơ

ông đi bằng hai chân: hiện thực và trữ tình, hiện thực và lãng mạn “Hiện thực làchân trái, lãng mạn là chân phải, cái chân phải lãng mạn đã khiến cái chân tráihiện thực để cả hai băng đợc về phía tơng lai vô tận” [7, tr40] Chính cái gốc rễtrữ tình là cái nền để thơ trào phúng Tú Xơng có sức nặng với thời gian Thựcchất, trào phúng ấy là thơ trữ tình áp dụng vào một đối tợng lố bịch và đáng ghét.Nếu Tú Xơng là ngời tiêu biểu nhất cho khuynh hớng văn học tố cáo hiệnthực giai đoạn cuối thế kỷ XIX, thì Tản Đà lại là tác giả đóng vai trò quan trọng

đối với giai đoạn văn học giao thời 1900 - 1930 Nhìn tổng quát, đây là sự tiếpnối của dòng văn học nhà nho tài tử trong bối cảnh mới Khi mới bớc chân vào

đời, Tản Đà rất hăm hở, tự tin Nhng khi trải qua bao dâu bể, nhìn lại cả cuộc đờichỉ thấy toàn mộng, thấy mình luôn lẻ loi, lạc lõng, xót xa, thất bại Trong xã hội

t sản, nhà thơ không thể nhập cuộc đợc Cuộc đời đòi hỏi ở ông nhiều cái xa lạ

mà ông không có Và các mộng tởng đẹp đẽ cứ tan vỡ dần Tản Đà tiếp tục pháttriển mạch thơ tài tử Bên cạnh yếu tố lãng mạn, thoát ly là chính, thì thơ văn của

ông còn có một mảng không kém phần quan trọng là hiện thực Vốn mang cốtcách nhà nho, Tản Đà muốn bảo vệ luân thờng đạo lý Nho giáo Nhng, trớc văn

Trang 30

minh do nhà nớc bảo hộ đa lại, thì bảng giá trị đạo đức truyền thống bị đảo lộn.

Điều này đợc Tú Xơng phản ánh bằng những vần thơ trào phúng đả kích cay

độc Tản Đà tiếp tục trăn trở, xót xa vì sự đổi thay đáng buồn ấy “Ông trách

“phụ nữ Việt Nam vứt bỏ cái chức trách với gia đình”, văn minh phơng Tây làm

hủy hoại gia đình Ông viết Đài Gơng, ca tụng những ngời đàn bà tiết liệt xa, hô

hào khôi phục nề nếp gia đình hiếu để, tam tòng tứ đức” giữ đợc ngày nào hayngày ấy” [56, tr55] Trớc cảnh “đạo nghĩa gia đình” bị suy nát, Tản Đà đã nói

một cách đau xót: Văn minh Đông á trời thu sạch.Rày lúc cơng thờng đảo ngợc ru? ” Trong xã hội đồng tiền làm chủ, ngời tài tử chịu mọi chiều khốn đốn Đồngtiền ngự trị, nó làm đảo lộn hết luân thờng đạo lý, bày ra những cảnh trớ trêu

Ông đã xót xa, mỉa mai:

Ai xui em lấy học trò?

Thấy nghiên, thấy bút, những lo mà gầy.

Sao bằng đi lấy ông Tây,

Có tiền, có bạc cho thầy mẹ tiêu.

(Phong thi)

Cũng nh Tú Xơng, trớc hiện tợng lấy Tây vì tiền, Tản Đà chế diễu không

th-ơng xót: Anh tiếc cho em phận gái má đào,Tham đồng bạc trắng, mới gán mình

vào chú Tây đen (Con cá vàng).” Tài sắc bị đem ra bán nhục nhã Ông muốn xãhội đổi thay để làm ngời tài sắc có vị trí xứng đáng Ông trách móc những ngời

tham tiền bẩn thỉu: Thối om sọt phẩm nhiều cô gánh. Tanh ngắt hơi đồng lắm cậu yêu ” Ngoài ra, trong thơ mình, Tản Đà còn phản ánh hiện thực đất nớc nô

lệ, mất tự do Ông phê phán kẻ làm tay sai cho giặc, thở than cho bức d đồ rách

Thứ hai là cảm hứng trữ tình, lãng mạn

Tiêu biểu là nhóm tác giả Chu Mạnh Trinh, Dơng Khuê, Dơng Lâm, Tản

Đà Trữ tình vốn thuộc vào đặc tính chính yếu của thơ Lãng mạn phần nào bộc

lộ cách sống, phong thái của ngời tài tử Giữ cốt cách nhà nho tài tử và phongthái một nhà thơ lãng mạn thờng có mối quan hệ với nhau

Tính chất lãng mạn là một thuộc tính thẩm mỹ biểu hiện chủ yếu ở chỗvơn lên trên thực tại và có rải rác trong lịch sử sáng tạo văn học nghệ thuật

Nó cùng với “trữ tình” là phạm trù nghệ thuật nằm trên những bình diệnkhác nhau Đối lập với “lãng mạn” là “hiện thực”, nhng đối lập với “trữtình” lại là “tự sự” Trữ tình là kết quả của việc biểu hiện xuyên thấm quacảm xúc và tâm trạng chín muồi, đậm đặc của thế giới chủ quan, do đó dễ v-

ơn lên trên thực tại Chính vì thế mà trữ tình với lãng mạn, mặc dù khácnhau, nhng thờng đi đôi với nhau [28, tr509]

Nhà thơ lãng mạn nhà thơ phóng túng, không chịu sự ràng buộc, chủ trơngvợt lên trên thực tế dựa vào trí tởng tợng và ý muốn chủ quan của mình Ngời tathờng nói phân số tợng trng cho lãng mạn là: tình cảm trên lý trí Đi sâu vào vănchơng lãng mạn, ta thờng gặp nội dung: đề cao chuyện tình ái, ca ngợi thiênnhiên và tôn giáo, chán ghét hiện tại, lẩn trốn, siêu thoát, xây dựng một thế giớikhông tởng Nguyễn Đăng Mạnh đã rất có cơ sở khi nhận thấy: “Chủ nghĩa lãngmạn hiểu theo nghĩa trên đây, đã có mầm mống ở nớc ta cuối thế kỷ XIX với thơvăn từ khúc của Chu Mạnh Trinh, Dơng Khuê, Dơng Lâm, Đào Tấn” [31, tr17].Các nhà nho tài tử giai đoạn này rất hay tìm về với những giá trị thuộc quá khứ.Hiện tại đen tối, xấu xa, bế tắc, không mang tới cho họ một lý tởng thẩm mĩ, lý t-ởng sống nào Vì thế, số tác giả này thờng quay về cái đẹp đã đợc khẳng định ở

Trang 31

ngày xa Đây là cách để họ phủ định thực tại Chu Mạnh Trinh, ngời tiêu biểunhất cho khuynh hớng lãng mạn nửa sau thế kỷ XIX, cũng từng đắm mình vàonhững vần thơ bay bổng, thoát ly thực tại để trở về với quá khứ trong những

huyền thoại, huyền tích Bài Hàm Tử quan hoài cổ” ca ngợi chiến công của

Th-ợng tớng Trần Quang Khải, đời nhà Trần:

Khóa then, nhờ đất hiểm kia.

Non sông muôn thuở khôn nhòa chiến công.

Ngang ngọn giáo, khúc ca hùng Hiên ngang nhớ thuở vẫy vùng tớng xa

Thơ nói đợc cảnh sông nớc bao la, hiểm trở Bài thơ còn tự hào về truyềnthống dân tộc, về chiến công anh hùng của tớng xa Nỗi niềm hoài cổ ấy đợc thể

hiện bằng những vần thơ trầm hùng của một ngọn bút tài hoa Bài Qua Cổ Loa

kính yết miếu Mỵ Châu lên tờng” (Quá Cổ Loa kính yết miếu Mỵ Châu miếu đề

bích) vừa nói đợc sử, đợc tích truyện, vừa ký thác đợc tâm sự của mình vào câuchuyện tình Mỵ Châu - Trọng Thuỷ Tâm trạng nhớ về quá khứ cũng đợc DơngKhuê - nhà nho tài tử xuất sắc với những bài hát nói trở thành mẫu mực - gửigắm vào sáng tác của mình Tác phẩm của ông chủ yếu gửi tặng các đào nơng.Một thời, ngời cho đó là những bài thơ thể hiện t tởng ăn chơi phóng túng, hànhlạc Song, thực ra, đối với cụ, phơng tiện có hiệu quả nhất để đi đến ngõ ngáchtâm hồn con ngời vào thời bấy giờ là lối hát ả đào, và nhân vật để cụ có thể kýthác tâm sự của mình một cách tâm đắc nhất là các cô đào Dơng Khuê rất haynhớ về khoảng thời gian đã qua:

Mời lăm năm thấm thoắt có gì xa, Ngoảnh mặt lại đã tới kỳ tơ liễu.

(Hồng Hồng, Tuyết Tuyết)

Mời lăm năm qua, nghĩ lại cuộc đời có nhiều biến động, may rủi, trong đó

có cả “cái dại” khiến tác giả phải nuối tiếc, rồi nghĩ đời nh một “giấc chiêm

bao” ở những bài “Đêm khuya chợt nhớ”, “Sáu bảy năm về trớc”, tác giả đều

thể hiện nỗi niềm hoài niệm của mình - nhớ chuyện xa, ngẫm lại hôm nay, lòngvừa tiếc nuối lại vừa buồn bã cho thực tại trớ trêu, ngợng ngùng Đến Trần Tế X-

ơng, một nhà thơ hiện thực trào phúng lớn của dân tộc, với những bài thơ thấm

đẫm cảm xúc trữ tình, đề tài hoài cổ đợc diễn tả khá rõ trong nhiều bài thơ, tiêu

biểu nh : “Sông lấp , Vị Hoàng hoài cổ ” “ ” Một khúc sông hẹp, lấp đi cũng làchuyện thờng tình Nhng việc đó lại xảy ra giữa lúc vận nớc biến thiên, lòng ngờichán ngán trớc sự đỗ vỡ mọi giá trị đẹp đẽ, nhà thơ hoài cổ, nên chỉ một việcbình thờng mà tác giả cảm thấy có ý nghĩa vô cùng Cảm hứng hoài cổ của tácgiả càng về sau càng da diết, não nề Với cảm quan hiện thực, Tú Xơng phủ nhậntriệt để xã hội đơng thời Ông dờng nh mất hết mọi niềm tin Rốt cuộc, nhà thơrơi vào bi kịch Đến đầu thế kỷ XX, giữa xã hội thực dân t sản hoá cao độ, Tản

Đà rơi vào tình trạng bế tắc, thất vọng Cả cuộc đời nhà thơ nh một giấc mộnglớn Trong đó, có giấc mơ đợc lên “Hầu trời”, có giấc mơ gặp các tiên nữ, có lúc

đợc gặp các ngời đẹp, lại có lúc là giấc mơ u hoài về quá khứ dân tộc, về nhữngliệt đại anh hùng nớc ta Mất niềm tin trong hiện tại thì Tản Đà tìm về quá khứ.Nhng, điều đó cũng không an ủi lâu dài đợc cái tôi cô đơn, sầu não Tác giả lạirơi vào trạng thái lạc lõng, bơ vơ Các nhà nho tài tử giai đoạn cuối thế kỷ XIX -

đầu thế kỷ XX đều bất mãn với thực tại Vì thế, hoài cổ là nguồn cảm hứng phổbiến Hiện thực đen tối, tơng lai mịt mờ, chỉ còn cách tìm về với truyền thống tốt

Trang 32

đẹp của đất nớc thì họ mới tìm thấy, dẫu ít ỏi, một nguồn động viên cho lý t ởngsống của mình.

Chủ nghĩa lãng mạn rất coi trọng vai trò của thiên nhiên, kêu gọi “trở về vớithiên nhiên”, xem thiên nhiên là nguồn an ủi “Dù sao, trên bình diện nghệ thuật,chủ nghĩa lãng mạn tích cực cũng xem thiên nhiên là một nơi ấp ủ tốt nhất nhữngcảm xúc trữ tình mãnh liệt của nghệ sĩ Thiên nhiên trở nên vô cùng rạng rỡ, giàuthanh sắc trong tác phẩm của họ” [28, tr520] Các nhà nho tài tử nửa sau thế kỷXIX, đầu thế kỷ XX, với cảm hứng trữ tình lãng mạn đã đi tìm vẻ đẹp của thiênnhiên Đắm mình vào đó, thởng thức, cảm nhận, ngợi ca, các bài thơ viết về thiênnhiên mang đậm màu sắc tôn giáo Thiên nhiên trong thơ họ thờng là những cảnhvật gắn với các huyền tích, huyền thoại Vì thế, chùa Hơng là nơi để các nhà thơdừng chân, phóng bút Tác giả viết hay nhất về Chùa Hơng trong giai đoạn này làChu Mạnh Trinh “Tuy là quan, tớc vị khá cao, nhng họ Chu không tỏ ra mẫncán, trái lại, ông cảm thấy mình là ngời “sinh bất phùng thời ” vẫn tiếp tụcphong cách sống phóng khoáng, lãng tử, ông mở rộng thêm bớc du ngoạn, giaotiếp” [47, tr8] Trong chuyến nhàn du của cuộc đời, Chu Mạnh Trinh đã từng đặtchân đến nhiều danh thắng, song cảnh trìu mến yêu thích nhất của thi nhân lại làcảnh Hơng Sơn, tức núi Hơng Tích thờ phật Bà Quan Âm và các La Hán, nổitiếng đất Bắc từ thế kỷ XVIII thời Lê -Trịnh Ngoài sự góp tiền để trùng tu và vẽ

đồ án kiến trúc chùa Ngoài, nhà thơ còn có nhiều sáng tác ca vịnh Hơng Sơn, tô

điểm thêm cho cảnh trí một vẻ đẹp tinh thần Trong các áng văn này, nổi danh là

các bài: Hơng Sơn phong Cảnh ca, Hơng Sơn hành trình và Hơng Sơn nhật trình,

kế tục phát triển một đề tài cũ, đề tài chùa Hơng, từng đợc các nhà văn cuối Lê

nh Trịnh Sâm, Hồ Xuân Hơng yêu mến, với một nghệ thuật tài tình Cảm hứng

tôn giáo trong các bài thơ này rất đậm Hơng Sơn nhật trình và Hơng Sơn hành trình là hai bài thơ đã ghi lại tâm trạng, cảm xúc theo thời gian và bớc chân của

thi nhân đến với Hơng Sơn Thi nhân đến với cái đẹp, đến với chốn “Non Bồng

n-ớc Nhợc” với “một thuyền đầy sách lng bầu gió trăng” Bài thơ thể hiện hình ảnhmột khách văn nhân với tâm hồn vi khoáng, với túi thơ “đủng đỉnh” chìm đắmgiữa cảnh sắc thiên nhiên Con “thuyền lan” ấy, ngời khách văn nhân ấy để lại

đằng sau tất cả những u t phiền muộn, những ham muốn trần tục, những bụi bặm

đời thờng để đến cảnh đẹp xứ Phật 108 câu thơ trong bài lục bát Hơng Sơn hành trình kể cuộc hành hơng mùa xuân tơi đẹp viếng chùa Hơng, trải qua các phong

cảnh thiên nhiên, với thắng tích tôn giáo linh kỳ, mỗi nơi mỗi lạ Trên mỗi bớcchân xê dịch, nhà thơ để lòng mình chìm đắm trong cảnh vật, và nói lên niềm l uluyến của kẻ đa tình Dới ngòi bút của ông, cái đẹp êm ả thắm xinh của tạo vậthoà lẫn với cái đẹp dịu hiền trang nghiêm của Phật giáo Và đâu đây, nh thớt tha

vẻ lu luyến phiêu diêu nửa tỉnh, nửa say của tình mộng Trang Chu, của cõi Tiên,cõi Phật:

Giữa dòng đáy nớc lồng gơng Mợn chèo ngủ phủ đa đờng Đào Nguyên.

Lạ cho vừa bén mùi thiền

Mà trăm não với nghìn phiền sạch không.

( Hơng Sơn hành trình ) Hơng Sơn phong cảnh ca là một bài thơ (hát nói) mô tả cảnh Hơng Tích

bằng một cây bút bậc thầy và một tâm hồn nghệ sĩ tài hoa Đây là bức tranh nonnớc trời mây chập chùng man mác, vấn vơng thanh âm, hình sắc Một phong

Trang 33

cảnh quyến rũ với bao nét nhạc, từ giọng đàn chim thỏ thẻ, tiếng kinh dịu dàng,

đến tiếng chày rền phá tan cơn mộng “Cũng tả cảnh chùa chiền, nhng cảnh chùatrong thơ Chu Mạnh Trinh đẹp đẽ, thơ mộng và trong trẻo hơn rất nhiều “cảnhchùa chiền” trong thơ Phạm Thái ở thế kỷ trớc Bởi vì tâm hồn và khát vọng của

họ Chu dù sao, vẫn không u uẩn, bi quan, bế tắc nh của Phạm Thái” [47, tr10]Bên cạnh vẻ đẹp mang màu sắc tôn giáo, trong thơ Chu Mạnh Trinh không thiếunhững bức tranh thiên nhiên huyền diệu, thuần khiết, hoàn toàn do sự sáng tạo

của trời đất: Đá ngũ sắc long lanh nh gấm dệt Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt” (Hơng Sơn phong cảnh ca) Thông qua những bài thơ về cảnh chùa H-

ơng, ta thấy Chu Mạnh Trinh rất lãng mạn: một cảnh thiên nhiên mỹ miều, điểmxuyết thêm ít nhiều hơng vị của tôn giáo ở đây, dờng nh có sự hoà đồng haidòng t tởng Phật - Lão Màu sắc yếm thế và vắng im của Thích ca mâu ni đã đợcmàu sắc xuất thế nồng thắm của Lão Trang xoa dịu sửa đổi làm cho khung cảnhcàng phong phú tơi xinh Phạm Văn Diêu nhận xét:

Dới tay se sẽ họ Chu, ta đã gặp một tao phùng kỳ thú giữa hai nguồntriết học cổ á Đông: Phật giáo và Lão Trang, cái mối tao phùng làm nên vẻduyên dáng và khí vị quyến rũ đặc biệt của bài thơ, có thể làm rung cảm tâmhồn chúng ta ngày nay ở giữa lòng thể kỷ máu lửa này, trong một chiềuxuân nào lạc lõng bên chùa Thiên Mụ, hay trên đỉnh Ngũ Hành Sơn gió câyrì rào, nớc chảy, mây trôi [48, tr38]

Nối tiếp đề tài Chùa Hơng, Dơng Khuê, Dơng Lâm lại có cuộc hành trìnhtới cõi phật Trớc cảnh non nớc kỳ thú ấy, hồn thơ các nhà nho tài tử rung độngmãnh liệt Dơng Khuê vẽ nên bức tranh chùa Hơng Tích đẹp một cách h huyền,mộng ảo Màu sắc tôn giáo bao trùm lên cảnh vật Tâm hồn nhà thơ nh đợc gộtrửa trở nên trong sáng hơn, thanh cao hơn theo các t tởng xuất thế của Phật giáo

và Lão giáo:

Riêng một bầu sắc, không không.

Khắp mọi vẻ kỳ kỳ, quái quái.

Thơ rằng: Đông chủ hữu linh thần bút tại,

Hoá nhi vô ý tự nhiên công”

(Hơng sơn phong cảnh ca)

Nếu Dơng Khuê phóng bút, mở rộng lòng mình để nó cuốn theo sự kỳ ảo,phiêu diêu của chốn “thần tiên” thì Dơng Lâm đặt chân tới “Đệ nhất Nam thiên”với vô vàn câu hỏi Vẫn là cảnh thiên nhiên của cõi Phật “Ra vào cõi phật, đi vềcảnh Tiên”, nhng tác giả không chủ trơng miêu tả cụ thể vẻ đẹp mang màu sắctôn giáo Điều khiến nhà thơ quan tâm là những trăn trở, thắc mắc, v ớng bậntrong lòng về giang sơn, thế sự Dờng nh Dơng Lâm muốn buộc Tiên, Phật, tạohoá phải “nhập thế” để giải đáp cho cụ những vấn đề thực tại của đất nớc:

Hỏi phật trong động sắc , không thế nào?“ ” “ ”

Hỏi thế giới cớ sao nh vậy?

Hỏi giang sơn còn mấy tang thơng?

(Vịnh chùa Hơng Tích)

Dơng Khuê cho non nớc là “kho vô tận”, lúc nào cũng thanh cao, tràn đầyniềm vui, và là “của chung của con ngời và thần tiên” Còn Dơng Lâm lại chorằng vẻ đẹp của thiên nhiên gắn liền với nỗi buồn vui, sớng khổ của con ngời

Đến đó không phải để trốn tránh, giải thoát mà vẫn luôn mang theo những nỗiniềm suy t mong đợc lý giải Chùa Hơng hiện lên trong sáng tác của Tản Đà với

Trang 34

đặc trng nổi bật là chất “tình” Tác giả đã thể hiện cảnh thiên nhiên này bằngnhững vần thơ rất dí dỏm, ngộ nghĩnh Cách diễn đạt có phần làm ta phải nhớ

đến những câu thơ của Hồ Xuân Hơng: “Nớc trong leo lẻo một dòng thông” và

“Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo” Tản Đà không nhằm khắc họa sâu vẻ đẹpcõi Tiên, cõi Phật, mà chủ yếu vẽ nên sự tơng phản, nhấn mạnh tính “phong tình”của nó Điều này là kết quả của một hồn thơ rất lãng mạn, đa tình Tác giả viết:

Chùa Hơng trời điểm lại trời tô

Một bức tranh tình trải mấy thu Nớc tuôn ngòi biếc trong trong vắt

Đá hỏm hang đen tối tối mò Chốn ấy muốn chơi còn mỏi gối Phàm trần cha biết, nhắn nhe cho.

Ngời tài tử vốn sống tự do, phóng khoáng Họ thích hởng thụ các thú vui ở

đời Qua đó, nhà nho tài tử mới bộc lộ cá tính, cái tôi ngông nghênh, ăn chơi củamình Đây là điểm khác biệt nhất giữa hình mẫu nhà nho hành đạo với nhà nhotài tử Họ luôn tỏ ra mình là ngời biết thởng thức cái đẹp, tận hởng nguồn vui màcuộc đời ban tặng Nhiều lúc, điều đó trở thành một yếu tố thuộc "chí" mà ngờitài tử hằng đeo đuổi Do vậy, phong tình và hành lạc là nguồn cảm hứng tiêubiểu, độc đáo nhất quyết định tới tính chất tác phẩm của nhóm nhà nho tài tửnày Trớc họ, Nguyễn Công Trứ, nhà nho tài tử xuất sắc của văn học giai đoạnnửa sau thế kỷ XIX, đã có " tuyên ngôn " về thú ăn chơi Ngay từ đầu, ông chủtrơng con ngời có quyền đợc hởng lạc Nguyễn Công Trứ xếp thành một mụctrong chơng trình sống lý tởng của mình Theo nhà thơ, con ngời chỉ đợc hànhlạc khi đã hoàn thành nhiệm vụ Chỉ có thể "thảnh thơi thơ túi rợu bầu", khi " nợtang bồng trang trắng vỗ tay reo " Đối với ngời xa, quan niệm hành lạc là mộtcách để tỏ với đời phẩm chất thanh cao của kẻ sĩ quân tử Nhng về sau, NguyễnCông Trứ đã đẩy quan niệm hành lạc ấy lên thành một thứ triết lý sống chi phốitất cả Nối tiếp mạch văn chơng ấy, các nhà nho tài tử giai đoạn "cuối mùa" cũngxem chuyện hành lạc gắn với chất phong tình là nguồn cảm hứng chính cho lốisống và cho việc sáng tác Với phong cách sống phóng khoáng, lãng tử, ChuMạnh Trinh thờng rong chơi, du ngoạn phong cảnh, mở rộng giao tiếp Nhữngcảnh đẹp thiên nhiên mà tác giả đã đi qua đều đợc ghi lại bằng ngòi bút tài hoa

Ba tác phẩm về chùa Hơng đã khẳng định đợc tài năng Chu Mạnh Trinh Vớilòng say mê cảnh đẹp, ông đã có những cảm nhận tinh tế và diễn tả rất hay cảnh

đẹp non sông đất nớc Cho đến hôm nay, cái vẻ lung linh, huyền ảo, mơ màngcủa xứ Phật lẫn vẻ đẹp tự nhiên của tạo hoá vẫn còn là ấn tợng sâu sắc của ngời

đọc về một chùa Hơng đợc tạo nên bằng thơ Cảnh chùa Hơng còn cho thấy hìnhbóng một ngời khách sau đó Con ngời ấy đang đắm say vào sự huyền diệu củacảnh vật “Tiếng chày kình” kéo “khách tang hải” trở về với thực tại Song “giậtmình” mà vẫn còn mơ, vẫn còn chìm vào niềm say mê khôn cùng Đây chính làhình ảnh thi nhân - tác giả Lấy thiên nhiên, việc du ngoạn làm niềm vui thú, làmcảm hứng cho thơ văn, đó là cách ứng xử của một hồn thơ lãng mạn Đồng thời,chất phong tình thấm sâu vào sáng tác của Chu Mạnh Trinh “Hồng nhan bạc

Trang 35

mệnh, tài tử đa cùng”, ngời tài tử thờng có nhiều xúc động trớc số phận của ngời

đẹp bất hạnh Chu Mạnh Trinh là nhà thơ nho tài tử, ngời nghệ sỹ tài hoa, đatình, đa cảm Tình thơng của nhà thơ đối với nàng Kiều đợc biểu hiện trong tựatập thơ “Thanh Tâm Tài Nhân thi tập”, trong hai mơi bài thơ vịnh Kiều Ôngcông khai tự giới thiệu mình vốn là “nòi tình”, thơng vay khóc mớn tất cả những

kẻ đồng thuyền đồng hội, không kể xa nay và mộng hay thực Đó là mối tìnhgiữa danh sĩ và giai nhân, mối tình “đồng điệu” Chu Mạnh Trinh đã nói lên bằngnhững lời thống thiết nhất để tởng niệm con ngời tài hoa mệnh bạc, để dõi theomột ngời yêu trong mộng tởng “Thuý Kiều” Tác giả không chỉ riêng thơng cảmngời đẹp cùng đối diện, mà đã nhỏ nớc mắt khóc thơng cho một bóng ngời xa xôinhững mấy trăm năm trớc Tình tởng mến đối với Thuý Kiều ở họ Chu càngnồng nàn đặc biệt, bỡi lẽ cũng nh nàng, “nhà thơ son trẻ chúng ta còn có baonhiêu món nợ đời tài hoa” [48, tr32] Mơ gặp ngời đẹp, khóc thơng cho số kiếpbất hạnh, cho ngời thiên cổ đó là chất phong tình của tác giả Nói tới DơngKhuê, ngời ta không khỏi liên tởng đến những thói ăn chơi phóng túng, những ttởng hành lạc, khó có thể chấp nhận đợc, nhất là vào lúc lịch sử đất nớc đang bớcvào giai đoạn “dầu sôi, lửa bỏng” Song, thực ra, Dơng Khuê vốn dĩ là nhà nhotài tử, cách sống ấy phù hợp vớ lý tởng của con ngời lãng mạn Có thể nói, thúvui cuốn hút tác giả nhất là thú hát ả đào Tác giả say mê loại hình nghệ thuật ấy,

đắm mình vào đó vừa để tìm niềm vui vừa gửi gắm tâm sự Các ả đào của D ơngKhuê là những ngời tơng đối trẻ, có phần đáng yêu Hầu nh tác giả không chêtrách cô nào mà chỉ bày tỏ với họ niềm cảm thông Đối với cụ, không có cô đầunào xấu, dù họ phải tự bán mình để mua vui cho thiên hạ bằng “rợu thánh với thơtiên” Họ là những “mảnh trăng thu trinh bạch”, những “ngời đẹp không thể nàoquên” Một số tác phẩm còn nói về duyên nợ của tác giả với đào nơng Lời lẽtrong các bài thơ rất tình tứ, tinh tế Nó nói lên đặc trng tính cách ngời tài tử, đatình, đa cảm Ngoài ra, nh bản chất của muôn đời thi sĩ, Dơng Khuê cũng thả hồn

mình theo gió trăng, thơ rợu: R “ ợu một bầu, thơ ngâm một túi,Góp gió trăng làm bạn với non sông” (Chơi trăng) Cũng nh Dơng Khuê, Dơng Lâm đã tìm đến thú

vui ca trù Đằng sau các bài hát ca trù ấy đều chứa đựng tâm sự kín đáo, nỗi niềmsâu xa trớc thời cuộc Tới hiện tợng văn học Trần Tế Xơng, thì sự ăn chơi đã đợctô đậm hơn Tú Xơng tự cho mình là biết sống hơn ngời: ăn chơi, chơi bời ngôngnghênh và đem cái đó ra mà phô trơng Ông tự vẽ mình:

Nghiện chè nghiện rợu, nghiện cả cao lâu

Hay hát hay chơi, hay nghề xuống lõng

Quanh năm phong vận, áo hàng tàu khăn nhiễu tím, ô lục soạn xanh

Ra phố nghênh ngang, quần tố nữ, bít tất tơ, giày Gia Định bóng.

(Phú hỏng khoa canh tý) Nhân vật Tú Xơng nổi tiếng là phong tình ăn chơi: “Cao lâu thờng ăn quỵt Thổ đĩ lại chơi lờng” Tác giả khoe sự ăn chơi của mình một cách có ý thức Đặc biệt ở Tự trào không còn là sự khoe khoang nữa mà nhà thơ còn kiêu hãnh với sự

ăn chơi ấy Tuy nhiên, Tú Xơng không nâng sự ăn chơi của mình thành triết lýsống, mục đích sống, cha bao giờ tỏ ra hể hả thoả mãn thực sự Giọng thơ của TúXơng trong những bài đó thờng có tính chất cời cợt, khinh bạc Sử dụng yếu tố tựtrào, ông phác hoạ một kiểu tác giả phi truyền thống, không có gì mẫu mực về

đạo đức, sinh hoạt Đó cũng là cách để phản ứng lại với hiện thực thời đại ông.Trong cuộc sống quay cuồng của xã hội t sản, Tản Đà là một kẻ không thực hiện

Trang 36

đợc lý tởng, thất bại và thất vọng Ông cảm thấy mình bơ vơ, lạc lõng trớc cuộc

đời “Cảnh ngộ của ông càng ngày càng cùng quẫn - Ngời tài tử gặp cảnh ngộcùng quẫn thờng hớng về triết học Trang Chu: Coi cuộc đời là mộng, là ảo hoá,

là bụi bặm Họ thờng ca tụng lối sống nhân sinh quý thích chí [66, tr496] Tản

Đà cũng bàn đến chuyện hành lạc, Tuy nhiên, ông không chủ trơng chơi cho quangày, cho hết cuộc đời mà ông nói cái thú ăn chơi Tản Đà nói say s a thú ăn

ngon, thú chơi xa, thú thanh sắc và ông tự hào:“Lạ chi rừng biển, thiếu gì gió trăng Thú ăn chơi cũng gọi rằng Mà xem chửa dễ ai bằng thế gian” (Thú ăn chơi) Có lúc, nhà thơ còn thách thức chơi cho thật chán, cho đời chán Đời

chán nhau rồi, tớ sẽ thôi (Còn chơi).” Ông “đã đem sự ăn chơi nhất là sự ăn làmmột thứ chủ nghĩa cho cuộc đời “Trăm năm hai chữ Tản Đà, Còn sông còn núicòn là ăn chơi”, một chủ nghĩa mà có ngời đã gọi là cái “Khoái lạc chủ nghĩa”của Tản Đà”[56, tr136] Nhà nho xa từng đem nhàn lạc vào thi văn Nhng có lẽ,cha ai ca tụng thú ăn chơi một cách say mê và tỉ mỉ nh Tản Đà, cha ai say rợu

đến nh ông muốn lôi cuốn tất cả trời đất vào một cuộc đỏ mặt lăn quay Ng ời xathờng thích hành lạc bằng thơ rợu, Tản Đà cũng tự coi mình vừa là “thi sĩ” vừa làtửu đồ Cuộc đời đáng buồn, nhng Tản Đà vẫn sống trong tâm trạng “Kháchphong lu, bậc tài danh” của thời đại trớc Đó cũng là nét đẹp trong nhân cách Tản

Đà “đời đục, tiên sinh trong, đời tối, tiên sinh sáng” (Lê Thanh) Buồn chán và

ông mơ ớc thoát lên cung trăng, làm bạn với chị Hằng Cha có ai phong tình, đatình nh Tản Đà, mơ tởng những cuộc hội ngộ với Tây Thi, Chiêu Quân, viết thơhỏi trời xin cới Hằng Nga, tơng t cả ngời tình nhân cha hề quen biết Ông nhìnthế giới qua lăng kính phong tình ân ái Chính điều này đã chi phối sức tởng tợnglàm Tản Đà thấy mọi ngời, mọi vật đều nh đang ở trong một tâm trạng yêu đơng.Cái nhìn ân ái, phong tình nh thế thể hiện sự khát khao tình cảm, mong muốn đ-

ợc sẻ chia, thấu hiểu Sự vật hiện lên với vẻ tình tứ, gợi cảm Cách nhìn đó của

Tản Đà xoá bỏ quan niệm thẩm mỹ khô khan, cứng nhắc của Nho giáo Hoa Sen

nở trớc nhất trong đầm là một dẫn chứng Theo lăng kính đạo đức, các nhà nho

chú ý ở sen hơng thơm hơn sắc đẹp Hoa sen là biểu tợng cho ngời “quân tử” với

vẻ thanh cao trong sạch, không phô phang quyến rũ Tản Đà đã phá bỏ quanniệm trên Hoa Sen không còn là ngời quân tử lặng lẽ giữ sự cao khiết mà đã

thành một “thân gái lạ” (Hoa sen nở trớc nhất trong đầm) “Nhìn thế giới theo

lăng kính ân ái phong tình không những đa ông xa rời quan điểm thẩm mỹ nhogia, mà còn đa ông tiếp thu và phát triển văn học dân gian theo một hớngmới”[56, tr44].Nh vậy, phong tình và hành lạc là những nguồn cảm hứng chínhtạo nên đặc trng riêng trong sáng tác của loại hình nhà nho tài tử cuối thế kỷ XIX

- đầu thế kỷ XX Điều này, một phần do phẩm chất, cá tính ngời tài tử quy định

Ngời tài tử không còn muốn sống cuộc sống âm thầm, phẳng lặng Họmuốn đợc thể hiện hết bản thân mình và cũng muốn nếm trải toàn diện cáclạc thú của đời sống Dễ hiểu tại sao trong văn chơng của ngời tài tử, nhữngnội dung “hành lạc” lại chiếm một vị trí đáng kể [64, tr98]

Nhà nho tài tử khi bớc vào đời thờng muốn chứng tỏ tài năng, cốt cách hơnngời của mình Nhng trong sự trói buộc, kìm hãm của chế độ phong kiến, ngờitài tử cảm thấy ngột ngạt, tù túng Họ tỏ thái độ bất mãn và chủ trơng sống tự do,phóng túng, một lối sống phá phách Xu hớng phổ biến của nhà nho tài tử khigặp cảnh ngộ bế tắc là hớng về triết lý Trang Chu, coi đời là mộng, ảo, ca tụnglối sống “nhân sinh quý thích chí” Vì vậy, chìm đắm trong mộng tởng cũng là

Trang 37

nguồn cảm hứng sáng tác khá nổi bật của loại hình tác giả nhà nho tài tử Hiện ợng tiêu biểu cho loại cảm hứng sáng tác này trong văn học nhà nho tài tử cuốithế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX là Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu Tản Đà là một nhànho tài tử thị tài và sống với nhiều ảo tởng Nhng mọi khát vọng đều bị cuộc đờichối bỏ Tản Đà đã đi từ chán đời đến nhập thế, rồi chứng kiến sự đỗ vỡ của ảo t-ởng ngây thơ của mình khi va chạm vào đời sống thực, ông lại từ thực tế chuyển

t-sang mộng mị Giấc mộng con I, Giấc mộng con II, Giấc mộng lớn là hình ảnh

cụ thể của nhà thơ trên đờng đi dần đến một lối thoát cuối cùng lãng mạn, thoát

ly "Sau khi đã trải qua mời ba năm với "bao dâu bể", ông nhìn lại cả cuộc đờithấy chỉ toàn mộng và mộng Bao nhiêu việc đã xẩy ra trong đời "chẳng có chi

là giá trị" đều chỉ đáng "góp lại canh trờng một cuộc say"" [56, tr53] Đứng trớchiện thực xã hội đen tối, đầy mâu thuẫn, tác giả đã hớng về cõi đời mộng ảo,chìm đắm trong mơ mộng triền miên

Yếu tố thoát ly trong chủ nghĩa lãng mạn Tản Đà một phần quan trọng

là dựa trên nhân sinh quan yếm thế Lão Trang, trên quan niệm "thế sự nhợc

đại mộng:, cho nên Tản Đà đã đặt tên cho tập tự truyện viết về cuộc đời

mình là Giấc mộng lớn với tên ký "ngời mộng" [66, tr384]

Nét chung của ngời tài tử là họ thờng mê đắm các tiên nữ trên trời cũng nhcác giai nhân dới trần thế, ngời đẹp giữa cuộc đời và ngời đẹp trong mộng Họsống bằng tởng tợng, bằng mộng ảo Vào những thập niên đầu của thế kỷ XX,Tản Đà đa tới cho công chúng văn học những câu thơ tuyệt mỹ với những cảnh t-

ợng không rõ rệt, những t tởng lâng lâng và cảm giác mơ mộng (Nhớ mộng) Giấc mộng con là truyện mộng Nhà thơ đặt chính mình làm nhân vật trung tâm,

và đã phiêu du khắp châu á, Âu, Mỹ, Phi để rồi lại tiếp tục hành trình lên trời.Lên trời không phải để trốn đời, để vui thú hởng lạc cõi thiên đình, mà chính là

để giãi bày tâm sự

Đúng là với Giấc mộng con, Tản Đà đã tìm cách thoát ly cuộc sống

nghèo nàn tù túng, giải thoát cho tâm hồn bằng mộng tởng, cho ớc vọng đợc

chắp cánh bay cao, nhng cũng với Giấc mộng con, Tản Đà đã có dịp phê

phán hiện thực và bày tỏ chí hớng mình [42, tr477]

Với giấc mơ lên trời gặp ngời đẹp: Tây Thi, Dơng Quý Phi, Chiêu Quân tácgiả đã thể hiện cái tôi đa tình, “ngông” và t tởng thoát ly rất rõ Song qua nhữngcuộc gặp gỡ ấy, thi nhân có thể sẻ chia, giãi bày với giai nhân xa nỗi niềm trớccảnh tình dân nớc Giữa thi nhân - ngời đẹp có mối đồng cảm sâu xa Mộng tởng

mà không hề thanh thản Nhng đó vẫn là nguồn cảm hứng nổi bật trong sáng táccủa Tản Đà

Tác giả coi đời là mộng, “các việc năm trớc tháng trớc hôm trớc đếnhôm nay đã thành không”, “mộng là cái mộng con, đời là cái mộng lớn”,nhng ông lại thấy cảnh mộng “hoảng hoảng hốt hốt, mơ mơ màng màng,

nh thực nh có, nh h nh không nh qua địa ngục, nh chơi non bồng, kỳ kỳ quáiquái, xinh xinh lạ lùng [66, tr500]

Cảnh mộng là h không, nhng lại xinh đẹp, thú vị nên dẫu có biết tất cả sẽ là

h không thì ông cũng cứ muốn trong đời hãy cứ có nhiều mộng đẹp Chán đời,mơ tởng vào những giấc mộng, có lúc tìm thấy đợc sự thanh thản trong tâm hồn.Nhng điều còn lại cuối cùng ở Tản Đà vẫn là nỗi niềm sầu não, bơ vơ Tác giảchán đời, theo triết lý Trang Chu mà vẫn không thoát tục

Trang 38

Xung quanh t tởng sáng tác của kiểu tác giả này đã có nhiều ý kiến khácnhau Một thời ngời ta đánh giá nặng nề về họ Có những nhận định cho rằng: họ

đã thoát ly thực tại, chỉ vui với việc ăn chơi, hành lạc, chỉ say mê với chữ “tình”trớc hiện thực đau buồn của đất nớc, lối sống của các tác giả này là tiêu cực.Quay lng lại với dân tộc, lảng tránh trách nhiệm trớc thời cuộc, đi theo triết lýsống Lão Trang, văn chơng của họ thể hiện sự trốn chạy của cái tôi tiêu cực Đặcbiệt Dơng Khuê, Dơng Lâm bị đánh giá rất nghiệt ngã Giới nghiên cứu đã nhìnnhận cha thoả đáng về thơ văn cũng nh t tởng của hai tác giả này Thanh Lãngnhận xét: Cũng nh anh (Dơng Khuê), Dơng Lâm mang một nhân sinh quan lãngmạn: mặc cho đời rẫy rụa rên xiết, thừa nớc mắt đâu mà thơng hão,… song ch phải để thìgiờ tận hởng những lạc thú mà đời sống đơng cống hiến cho ta, lạc thú ả đào

Điều sai lầm lớn nhất của một số tác giả văn học sử, một số nhà biên khảo trớc

đây, là đã so sánh văn chơng của Dơng Khuê và Dơng Lâm qua một số bài hát ả

đào, nhiều khi họ tự ý cắt đi đoạn đầu và đoạn cuối để đi đến kết luận: hai cụ đềumang nhân sinh quan lãng mạn tiêu cực, quay lng với vận mệnh tổ quốc Về D-

ơng Khuê, hầu hết các nhà phê bình chỉ đề cập đến quan niệm hởng lạc, xu hớngtrào phúng, hay ảnh hởng của triết lý vô vi của Lão Tử, Trang Tử, thuyết “sắc”,

“không” của nhà Phật Đặc biệt các bài hát ả đào đều đợc bình giải theo nghĩa

đen trên bề mặt chữ Dờng nh ít nhà phê bình nào tìm hiểu các tác phẩm trongtầng nghĩa sâu xa mà nhà thơ thờng gửi gắm vào đó những ngụ ý Vào thời DơngKhuê (trớc 1900), hát ả đào là một thú vui thanh nhã Nhng từ đầu thế kỷ XX,tức là sau khi Dơng Khuê qua đời, lề lối ăn chơi thay đổi, khi các ả đào đua nhau

mở các nhà hát cô đầu ở tỉnh thì tinh thần ca trù suy kém hẳn Việc hát ả đào trởthành một thú vui đồi truỵ, và cho đến nay, khi nói đến các bài hát ả đào và cáctác giả của những bài hát ấy, ngời ta không khỏi liên tởng đến những thói ăn chơiphóng túng, những t tởng hành lạc Đối với Tản Đà cũng vậy Một số nhà nghiêncứu đã quan niệm rằng chủ nghĩa lãng mạn của ông là chủ nghĩa lãng mạn thoát

ly Đó là chủ nghĩa lãng mạn tiêu cực thoát ly thực tiễn, quay lng lại cuộc sống,không muốn bận tâm trớc hiện thực xã hội đen tối, bề bộn, đầy mâu thuẫn, để h-ớng về cõi đời ảo mộng, để chìm đắm trong mơ mộng triền miên

Thực ra, những đánh giá nh thế về loại hình nhà nho tài tử cuối thế kỷ XIX

-đầu XX là không thoả đáng Họ chỉ nhấn mạnh phần tiêu cực mà không chú ý

đến những đóng góp rất quan trọng của đội ngũ tác giả này cho văn học nớc nhà,không đi tìm nguồn gốc sâu xa của vấn đề Giai đoạn lịch sử cuối thế kỷ XIX -

đầu thế kỷ XX đầy biến động, đau thơng, nhục nhã Văn học, một sản phẩm tinhthần của xã hội, tất cũng phải đi theo nhiều khuynh hớng Mỗi khuynh hớng thểhiện một cách ứng xử trớc thời cuộc Đứng trớc nạn mất nớc, giới sĩ phu cầmquyền, các nhà nho phân hoá thành các xu hớng khác nhau Những ngời có dũngkhí thì chiến đấu dũng cảm chống giặc Một số ra làm quan nhng mang tâm lýtuỳ thời Một phân số khác có nhân cách hơn, nhng thiếu bản lĩnh, bi quan vớithời cuộc, họ không tham gia chiến đấu chống giặc, cũng không cộng tác vớigiặc Họ từ quan về nhà, sống thanh bạch để giữ khí tiết Nhà nho tài tử lúc nàytìm một hớng giải thoát riêng Nh ta đã biết, nhà nho tài tử nổi bật lên với hai yếu

tố cơ bản: thị tài và đa tình Ngời tài tử không còn là tín đồ trung thành của haimô thức truyền thống: hành, tàng hay xuất, xử Cái thực sự quan trọng đối với họ

là sự cảm nhận hạnh phúc của đời sống thế tục Trong bản thân kiểu tác giả này

có quá nhiều nhu cầu, quá nhiều năng lợng sống, khát vọng sống, khát vọng

Trang 39

chinh phục Nhng khi đụng độ với chế độ chuyên chế, ngời tài tử vốn mang tâm

sự u uất ngay từ đầu thêm một lần nữa xót xa cho bản thân mình Thực tế tànnhẫn đã "dội một gáo nớc lạnh" vào ngọn lửa tình, vào những khát vọng, nhữngniềm say mê vừa mới bén Họ rơi vào bi kịch Ngời tài tử thế hệ sau đã kịp thấythân phận của những ngời "đồng chủng" của mình kết thúc một cách bi kịchnhãn tiền Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX chuyển mình mộtcách đau đớn, nhục nhã thành xã hội thuộc địa Các nhà nho cảm nhận sâu sắcnỗi đau nớc mất nhà tan Với cốt cách nho gia, họ thực sự đau lòng trớc sự đỗ vỡnhững giá trị truyền thống Đối diện với xã hội hiện đại hoá, những phẩm chấtlẫn quy mô của tài năng ngời tài tử tỏ ra không còn phù hợp Xã hội t sản vănhoá đòi hỏi ở các cá nhân hàng loạt phẩm chất mới, không quen thuộc trong môitrờng hoạt động của nhà nho, cho dẫu đó là nhà nho tài tử, Họ cảm thấy mình trởnên lạc lõng và xa lạ Xã hội mới không đem lại cho đội ngũ tác giả này một lý t-ởng nào Cái tài nhà họ tâm đắc: tài "nhả ngọc phun châu" không đủ sức khiến

họ đứng lên cầm vũ khí chống giặc Lối sống phá phách, phóng túng cũng khôngkhiến họ ẩn dật đợc Vì thế, nhà nho tài tử đã tìm đến cách phản ứng đặc thù củamình trong lối sống lãng mạn

Đại đa số ngời tài tử khi bất mãn với thời cuộc thờng hớng về triết lý sốngTrang Chu và chịu một số ảnh hởng của Phật giáo Cách sống ấy thể hiện sự bấtmãn với thực tại, là thái độ phản ứng lại xã hội xấu xa Không phải các nhà nhotài tử trốn đời, thờ ơ và quay lng với thời cuộc Mà chính cách sống, nhân cáchngời tài tử trong một hoàn cảnh bế tắc, mọi lý tởng bị phá sản đã quy định lốiứng xử ấy Thực ra, sáng tác của họ vẫn cho thấy hình ảnh một con ngời trăn trở,suy t Các tác giả thờng gửi gắm tâm sự sâu xa, kín đáo của mình vào tác phẩm.Chu Mạnh Trinh luôn sống với tâm trạng của ngời "sinh bất phùng thời" Ôngtìm đến với thiên nhiên và có khát vọng thoát ly thực tại hớng về cõi Tiên, Phật,thánh thần Đằng sau các bài thơ vịnh cảnh thiên nhiên, ca ngợi cảnh Tiên, Phật

là niềm tự hào, tình yêu của tác giả đối với giang sơn gấm vóc, với những dấutích huyền thoại tôn kính của quê hơng, đất nớc Nhà thơ mỗi khi đi qua thămcác danh thắng có liên quan với lịch sử, thờng vẫn làm thơ đề vịnh ấp ủ cả mộtnỗi cảm hoài Còn Dơng Khuê đã tìm đợc một lối thoát để dãi bày tâm sự củamình qua các nhân vật ả đào mà chẳng còn sợ tiếng thị phi Đối với nhà thơ, lốihát ả đào là phơng tiện có hiệu quả để ký thác tâm trạng thầm kín

Thật ra ngay ở những bài hát nói (ca trù) về các nhân vật cô đầu, DơngKhuê cũng ký thác tâm sự của mình về thời cuộc tơng tự nh tâm sự NguyễnKhuyến, một bạn văn thân thiết của ông Thất vọng về thời cuộc, DơngKhuê gửi vào sáng tác những phản ứng kín đáo đối với các hành động nhunhợc của triều đình, biện hộ cho thái độ thoát ly của mình [1, tr101]Trong các bài ca trù, Dơng Lâm cũng bộc lộ những trăn trở nghĩ suy Vănchơng của Dơng Lâm phảng phất một tâm sự u uất: uất hận vì mất nớc (tậpKiều), vì sự suy tàn của nền văn hoá dân tộc (Phú thị tử đệ), vì cảm thấy mìnhbất lực trớc thời cuộc (Hành Trạng và các bài ca trù) Trong các bài hát nói củatác giả, không hề thấy nhân sinh quan lãng mạn, hiểu theo nghĩa của soạn giảThanh Lãng "mặc cho đời rẫy rụa kêu xiết, thừa nớc mắt đâu mà thơng hão",cũng không có quan niệm "trốn đời" của Dơng Chu, hay t tởng tiêu dao vui thúcủa những nhà thơ Việt Nam hay Trung Hoa chịu ảnh hởng của Trang Tử Tản

Đà, đại biểu cuối cùng của loại hình nhà nho tài tử, đã bớc vào đời với bao ảo

Trang 40

t-ởng Nhng va chạm với thực tế cay nghiệt, các ảo tởng đều tan vỡ Ông rơi vàotình trạng sầu não, mộng mị "Tản Đà đúng là nhà thơ của chủ nghĩa lãng mạn,

đã đi xa hơn chủ nghĩa lãng mạn cổ điển hiền lành và đôn hậu của trí thức phongkiến, nhng cũng là kế thừa chủ nghĩa lãng mạn cổ điển" [42, tr474] Biểu hiện

thoát ly của chủ nghĩa lãng mạn Tản Đà đợc thấy ở cách đặt tên sách: Giấc mộng con, Giấc mộng lớn, Khối tình, ở cách sống đa tình và triền miên trong mơ mộng.

Ông chán đời, muốn thoát lên cõi trời kỳ ảo mông lung Tuy có yếu tố thoát lytrong t tởng,

Nhng Tản Đà căn bản là một nhà nho chủ trơng nhập thế, cho nên Tản

Đà cha đi tới chủ nghĩa lãng mạn thoát ly t sản, nói cách khác: Tản Đà bịgiằng xé giữa chán đời và gánh lãnh trách nhiệm với cuộc đời, giữa t tởngthoát ly và t tởng nhập thế và cái sau bao giờ cũng thắng, cũng giữ vai tròchủ đạo"[42, tr476]

Bên cạnh nhà thơ lãng mạn, Tản Đà còn là một cây bút hiện thực quan tâmtới những vấn đề xã hội với bới lật, lột tả cảnh nghèo nàn cơ cực bất công của ng-

ời dân lao động

Nói tóm lại, vấn đề thoát ly, hởng lạc của tác giả nhà nho tài trong văn họcnửa sau thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX phải đợc nhìn nhận lại một cách công bằng,thoả đáng hơn Xét đến cùng, lối sống ấy là sự phản ứng, chống đối lại xã hội.Phía sau các tác phẩm thơ văn của loại hình tác giả này ẩn chứa những tâm sựkín đáo, những nỗi niềm sâu xa trớc cơn vận hạn của đất nớc

2.1.3.2 Cái nhìn về con ngời và thế giới

Trong khi phản ánh đời sống, nghệ thuật thể hiện cái nhìn chủ quan củamình đối với các hiện thực, và từ đó bộc lộ ý nghĩa của đời sống "Chân lý cuộcsống trong sáng tác nghệ thuật không tồn tại bên ngoài cái nhìn nghệ thuật cótính cá nhân đối với thế giới vốn có ở từng nghệ sĩ thực thụ, không tồn tại bênngoài các đặc điểm về t duy hình tợng, bút pháp sáng tác của nghệ sỹ" [51,tr144] Nh vậy, để hiểu đợc nội dung của cuộc sống trong tác phẩm, tất yếu phảikhám phá cái nhìn nghệ thuật, cách t duy, cách cảm nhận của chính nhà văn Cácnhà nho tài tử, những ngời có chung phẩm chất, trong cùng một hoàn cảnh lịch

sử xã hội, tất yếu cái nhìn về con ngời và thế giới của họ sẽ có một số điểmchung Loại hình nhà nho tài tử giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX tồntại trong bối cảnh lịch sử "cuối mùa" Chế độ phong kiến, Nho giáo đang ở vàobuổi "hoàng hôn", tàn cục Chế độ thực dân nửa phong kiến mới hình thành Sựhôn phối bát nháo Ta - Tây không đem lại cho nhà nho chân chính một lý tởngsống tích cực nào Sự phản ứng khác nhau trớc thời cuộc, cuối cùng cũng chỉ rơivào thất bại Đặc biệt, nhà nho tài tử, ngời từng xem "tài", "tình", sự tự do, phóngtúng, sự ăn chơi nh một lý tởng sống, giờ đây rơi vào bi kịch Cái "tài" mà họ tựhào, chữ "tình" họ hằng đeo duổi, đến thời điểm nay không còn phù hợp Nó bịxã hội hiện đại hoá phủ nhận Xã hội t sản đem lại cho các tác giả nhà nho tài tửmột môi trờng sống, những điều kiện thoả mãn cho việc ăn chơi, nhng lại không

đủ sức mang lại cho họ một lý tởng sống nào Vì thế, kiểu tác giả tài tử rơi vàocảnh bế tắc, mất lý tởng Trớc cuộc đời, họ cảm thấy lạc lõng, bơ vơ, cô đơn, sầunão Gắn liền với cách cảm nhận ấy, con ngời trong thơ văn đợc xây dựng theocảm thức: con ngời bế tắc, mất lý tởng; con ngời thất vọng, tuyệt vọng; con ngờigiải thoát

Thứ nhất là hình ảnh con ngời bế tắc, mất lý tởng.

Ngày đăng: 17/12/2013, 22:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (chủ biên) – 1930 Bùi Trọng C ờng (1998), Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn họcViệt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX
Tác giả: Lại Nguyên Ân (chủ biên) – 1930 Bùi Trọng C ờng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
2. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1999
4. Lê Văn Ba (1999), Chu Mạnh Trinh – 1930 Thơ và giai thoại, Nxb Văn hoáthông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chu Mạnh Trinh "– 1930" Thơ và giai thoại
Tác giả: Lê Văn Ba
Nhà XB: Nxb Văn hoáthông tin
Năm: 1999
5. Lê Văn Ba (1996), Nhà thơ Chu Mạnh Trinh, Nxb Văn hoá - thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà thơ Chu Mạnh Trinh
Tác giả: Lê Văn Ba
Nhà XB: Nxb Văn hoá - thông tin
Năm: 1996
6. Nguyễn Phan Cảnh (1987), Ngôn ngữ thơ, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Đại học và trung họcchuyên nghiệp
Năm: 1987
7. Nguyễn Đình Chú (1986), Tú Xơng – 1930 tác phẩm, giai thoại, Nxb Hội văn học nghệ thuật, Hà Nam Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tú Xơng "– 1930" tác phẩm, giai thoại
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Nhà XB: Nxb Héi v¨nhọc nghệ thuật
Năm: 1986
8. Nguyễn Đình Chú (1998), “ Vấn đề ngã và phi ngã trong văn học Việt Nam trung – 1930 cận đại , ” Tạp chí Văn học số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề ngã và phi ngã trong văn học Việt Nam trung – 1930 cận đại
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Nhà XB: Tạp chí Văn học
Năm: 1998
9. Nguyễn Văn Dân (1995), Những vấn dề lý luận của văn học so sánh, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn dề lý luận của văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxbkhoa học xã hội
Năm: 1995
10. Nguyễn Xuân Diện (2000), Góp phần tìm hiểu lịch sử ca trù, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu lịch sử ca trù
Tác giả: Nguyễn Xuân Diện
Nhà XB: Nxb Khoahọc xã hội
Năm: 2000
11. Xuân Diệu (2001), Bình luận các nhà thơ cổ điển Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận" c"ác nhà thơ cổ điển Việt Nam
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Vănhọc
Năm: 2001
12. Biện Minh Điền (2004), “ Vấn đề tác giả và loại hình tác giả văn học trung đại Việt Nam , Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 5. ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tác giả và loại hình tác giả văn họctrung đại Việt Nam , Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 5
Tác giả: Biện Minh Điền
Năm: 2004
13. Đỗ Bằng Đoàn - Đỗ Trọng Huề (1994), Việt Nam ca trù biên khảo, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam ca trù biên khảo
Tác giả: Đỗ Bằng Đoàn - Đỗ Trọng Huề
Nhà XB: NxbThành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1994
14. Trần Văn Giàu (1996), Sự phát triển của t tởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIXđến cách mạng Tháng tám, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của t tởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX"đến cách mạng Tháng tám, tập 1
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
15. Trần Văn Giàu (1997), Sự phát triển của t tởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIXđến cách mạng Tháng tám, tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của t tởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX"đến cách mạng Tháng tám, tập 2
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
16. G.N. Pôxpêlôp (chủ biên) (1998), Dẫn luận nghiên cứu văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận nghiên cứu văn học
Tác giả: G.N. Pôxpêlôp (chủ biên)
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 1998
17. Dơng Quảng Hàm (2001), Việt Nam thi văn hợp tuyển, Nxb Hội nhà văn, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam thi văn hợp tuyển
Tác giả: Dơng Quảng Hàm
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2001
18. Lê Bá Hán – 1930 Trần Đình Sử – 1930 Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên (2000), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán – 1930 Trần Đình Sử – 1930 Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2000
19. Cao Xuân Hạo (1996), Quan điểm chủ toàn trong triết học Lão Trang và trong cấu trúc luận của phơng Tây, Tạp chí Văn học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm chủ toàn trong triết học Lão Trang vàtrong cấu trúc luận của phơng Tây", Tạp chí
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Năm: 1996
20. Hoàng Ngọc Hiến (1997), Văn học và học văn, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và học văn
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1997
21. Trần Đình Hợu (1995), Nho giáo và văn học Việt Nam trung – 1930 cận đại, Nxb Văn hoá - thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và văn học Việt Nam trung "– 1930" cận đại
Tác giả: Trần Đình Hợu
Nhà XB: Nxb Văn hoá - thông tin
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w